30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

30/04/75, nếu Hà nội thua cuộc

Huỳnh Ngọc Chênh

Nguyễn Văn Trần

30-04-2015

Vài lời về ngày 30/04

Năm nay, 30/04 tới với người Việt nam hải ngoại sôi nổi hơn hẳn các năm trước. Đài TV, phát thanh, báo chí giấy và mạng đồng loạt nhắc tới dưới nhiều gốc cạnh khác nhau. Với lý do 40 năm? Nhưng con số 40 năm được ghi đậm nét.

Phải chăng những người nặng nợ với 30/04 nay đã thấy già yếu, không dám nghĩ tới năm mất nước thứ 50? Các thế hệ sau có nghĩ tới 30/04 cũng không được trọn vẹn như họ. Hay lại nghĩ khác hơn hoặc không nghĩ tới.

Nhắc tới 30/04, người nói tháng 4 đen, kẻ chọn quốc hận. Với họ, dứt khoát không ai có quyền quên hay bôi bác ý nghĩa của ngày 30/04, tuy cách nay đã 40 năm. Vì nó thiêng liêng. Nó là cả nước Việt nam của những người mất nước. Nó là linh hồn của hằng triệu người hi sanh trên chiến trường, mất mát trên đường tìm tự do, … Người Do thái có shoah hay holocauste thì người việt nam mất nước có ngày 30/04 . Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ, người Do thái vẫn nhắc nhở nhau shoah để giữ gìn ký ức tập thể và tìm thủ phạm để truy tố.

Cá nhơn mất ký ức, lịch sử mất nước sẽ phai nhạt.

Quốc hận là tiếng được nhiều người chọn để cho ngày 30/04 có nội dung lịch sử của nó. Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh, « hận » có nghĩa là oán giận. Như « hận nhập cốt tủy » là oán giận thấu đến xương, đến tủy.

Còn Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý Chủ biên, Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam ở Hà nội xuất bản năm1999, định nghĩa hận là lòng câm giận sâu sắc với kẻ hại mình. Như hận thù, câm hận.

Nghĩa thứ hai, hận là buồn dây dứt vì không làm được như mong muốn. Hận vì thua mất, …
Qua định nghĩa trên đây, Quốc hận là người dân cả nước oán giận, câm giận sâu sắc những kẻ hại mình làm nước mất, nhà tan …Sau 40 năm, quốc hận nếu có dịu đi thì trở thành nổi buồn ray rứt của những người Việt nam mất nước mà vẫn không thực hiện được điều như lòng mong muốn …

Nhìn nước Việt nam ngày nay, người nặng lòng thương nước có thấy oán hận không?

Việt nam qua những con số

Ngoài những thảm nạn xã hội do chế độ gây ra, nội tình việt nam bất ổn vì độc tài làm lòng dân câm hận, đối ngoại, chẳng những lệ thuộc Tàu mà còn mất lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu. Thực tế Việt nam ngày nay được thế giới nhìn qua những con số thống kê:

“Về dân số, Việt nam đứng thứ 13 của quốc gia đông dân, thứ 61 về diện tích đất đai, thứ 33 quốc gia có bở biển dài, 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng, thứ 5/20 quốc gia sản xuất lúa gạo.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý quá tồi.

Về giáo dục, theo chỉ số Human Development, Việt nam đứng thứ 121/187, về trí tuệ, thứ 108/130, về ô nhiểm, thứ 102/193, về thu nhập tính theo đầu người, thứ 123/180, về tham nhũng, theo Transparency International, thứ 116/177, về tự do ngôn luận, thứ 174/180, về phẩm chất đời sống của người dân, được 22.58 điểm, thứ 72/76, về y tế, thứ 160/190.

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác ? Chỉ có cái đảng cộng sản ở Hà nội có thể trả lời vì cái đảng này cai trị toàn diện và triệt để xứ Vìệt nam từ 40 năm nay, sau khi cướp được trọn vẹn chánh quyền . Nhưng trả lời được chỉ khi nào đảng cộng sản dám tháo gở bộ máy độc tài kìm kẹp xã hội và nhứt là thoát khỏi vòng vô minh về tiền bạc.
Nhà cầm quyền ở Việt nam vẫn đổ lỗi cho tình trạng đất nước tụt hậu là do chiến tranh tàn phá nhưng không nói ai làm chiến tranh và làm chiến tranh cho ai ?

Cùng chịu hậu quả chiến tranh, trong lịch sử phục hồi và phát triển đất nước, có hai nước Đức và Nhựt là hai trường hợp điển hình cần học hỏi.

A / Trường hợp nước Đức

1Dưới chế độ Quân quản

Thế chiến kết thúc, các cường quốc Huê kỳ, Anh và Pháp chiếm phía Tây Đức quyết định đưa cho Tây Đức một bản hiến pháp để tổ chức chánh quyền và xã hội tái thiết đất nước. Tháng 7/1948, Ban Quân quản chuyển cho các vị Tổng trưởng-Chủ tịch Tiểu bang (Ministre-Président s des Lander) những tài liệu nêu lên những yếu tố then chốt để soạn thảo bản hiến pháp, gọi là những tài liệu Francfort.

Người Đức tiếp nhận không mặc cảm. Họ xem xét và đúc kết lại thành bản hiến pháp của Tây Đức, chấp thuận và ban hành ngày 8 tháng 5/1949, dưới tên gọi “ Luật Căn bản ” vì họ muốn dành “ Hiến pháp ” cho nước Đức thống nhứt . Đến khi nước Đức thống nhứt ngày 3 tháng 10/1990, “ Luật Căn bản ” vẫn tiếp tục áp dụng và trở thành Hiến pháp, với vài tu chính.

Bản văn thể hiện ý muốn sâu xa của nhơn dân Đức rút ra bài học thất bại của Cộng hòa Weimar và chống lại chế độ quốc xã, quyết tâm bảo vệ những quyền tự do căn bản. Về điểm này, sự bảo đảm các quyền tự do căn bản không phải ghi ở phần tiền văn như hiến pháp của Cộng hòa Pháp hay ở phụ lục (Bill of Rights) như hiến pháp Huê kỳ, mà ghi nguyên vẹn ngay trong thân bản hiến pháp.

Hơn nữa, mọi sửa đổi luật căn bản qui định những nguyên tắc về phẩm giá con người, về quyền phản kháng bảo vệ chủ quyền quốc gia, về tổn thương đến tự do dân chủ, đều bị ngăn cấm. Nhờ đó mà tinh thần dân tộc Đức mạnh, toàn dân đoàn kết phát huy nội lực phát triển đất nước.

2- Hậu quả chiến tranh

Ngày 8 tháng 5/1945, thế chiến kết thúc, nước Đức bị tàn phá sạch. Người ta nói nước Đức trở về thời điểm Zéro (0) hay “nước Đức của Năm 0”, để mô tả tình trạng cực kỳ thảm hại hoặc ý muốn nêu lên khái niệm Đức phải bắt đầu lại làm một cuộc hành trình mới xây dựng xứ sở từ đầu.

Dân Đức hằng chục triệu người sống trong khốn cùng, không có chổ ở, không có thực phẩm, phải đi về nhà quê tìm lương thực. Quân nhơn rả ngũ, tù nhơn ra về, Đông Đức trục xuất nhiều người Đức qua Tây Đức, tất cả làm cho cái ăn, cái mặc, chổ ở càng thêm khốn đốn . Sau chiến tranh, có 12 triệu người cần nhà ở.

Đồng Minh cung cấp thực phẩn tính 1800 calories /người/ngày. Nhà thờ cho thêm nhưng vẫn không đủ.

Ở Hội nghị Postdam, Đồng Minh quyết định tháo gở 1800 cơ xưởng chiến tranh của Đức, thu hồi vật liệu như phần đền bù chiến tranh . Mỹ và Anh giới hạn việc tháo gở, muốn giử lại để củng cố nền kinh tế Đức.

Năm 1947, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Ông George C. Marshall, đề nghị « European Recovery Program”, quen gọi là “Plan Marshall”. Chương trình này nhằm giúp tái thiết Âu châu, đồng thời cũng nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản. Có 16 nước tham gia nhưng vài nước

Đông Âu từ chối vì bị Liên-xô ngăn cản. Mỹ chi phí tất cả 12 tỷ đô-la, dành cho Tây Đức 1, 5 tỷ.
Đông Đức tái thiết chậm hơn Tây Đức. Để đền bù chiến tranh, Đức phải trả cho Liên-xô 20 tỷ đô-la, đó là lý do làm cho tình hình tái thiết cho tới năm 1948 chưa được cải thiện.

Tiếp theo, Liên-xô tái thiết Đông Đức theo mô hình kinh tế liên-xô. Chấm dứt chế độ tự do và kinh tế thị trường. Nhà nước tịch thâu những cơ xưởng lớn bìến thành xí nghiệp nhà nước hoặc công ty quốc doanh, chỉ chừa lại xí nghiệp nhỏ thủ công và nhà hàng ăn còn tư nhơn. Đến năm 1950, nhà nước đưa những cơ sở nông nghiệp nhỏ vào hợp tác xã. Chánh sách tập thể hóa và kế hoặch hóa sản xuất của Staline từ đây tiêu diệt những sản xuất nhỏ tư nhơn.

Sự tái thiết Đông Đức vì đó không hiệu quả làm dân chúng bất mản. Năm 1953, được tin Staline chết, 60 000 thợ thuyền xuống đường đòi hủy bỏ chế độ sản xuất tập thể, bầu cử tự do, … bị xe tăng liên-xô đàn áp đẩm máu.

Staline đề nghị 2 nước Đức thiết lập quân đội quốc gia để quân đồng minh sẽ rút về trong vòng một năm nhưng Thủ tướng Đức Adenauer và Đồng Minh từ chối vì thấy đó chỉ là thủ đoạn nhằm cộng sản hóa trọn vẹn nước Đức.

3 – Thu hồi độc lập

Nhận thấy Tây Đức bảo đảm được tính dân chủ cho chế độ, Mỹ, Anh và Pháp đồng ý khôi phục chủ quyền cho Thủ tướng Adenauer, ngưng tháo gở cơ sở kỷ nghệ, giúp tân trang để phục hồi kinh tế mau chóng.

Thủ tướng Adenauer mở rộng quan hệ ngoại giao với Âu châu, Tây Đức trở thành hội viên của nhiều tổ chức quốc tế, chấm dứt qui chế bị chiếm đóng năm 1955. Ông đưa ra ý kiến thống nhứt chánh trị Âu châu được các chánh khách lớn như Churchill, Schuman, Alcide De Gasperi hưởng ứng và các dân tộc âu châu nên hợp tác nhau chặt chẻ hơn. Hội đồng Âu châu ra đời với 10 nước tham dự, Adenauer đặc trách bảo vệ nhơn quyền và dân chủ, cả văn hóa và xã hội. Tổng trưởng Ngoại giao Pháp, Ông Schuman, đề nghị đặt sự sản xuất than và thép của Pháp và Đức dưới một thẩm quyền chung, đồng thời thành lập một tổ chức cho nhiều quốc gia âu châu tham gia. Cộng đồng Âu châu ngày nay ra đời từ đây.

Xã hội Tây Đức do kinh nghìệm đau thương qua chế độ quốc xã và chiến tranh đổ nát từ từ chuyển mình vững chắc theo dân chủ tự do dưới sự lãnh đạo khéo léo của Thủ tướng Adenauer.
Kinh tế Tây Đức phát triển như một phép lạ cho tới năm 1973 gặp cuộc khủng hoảng dầu hỏa. Tình hình gay gắt thêm do cạnh tranh giữa Âu châu và Á châu khi kinh tế các nước bắt đầu đi vào hướng toàn cầu hóa.

Đồng thời, về mặt xã hội, dân chúng mở ra những cuộc thảo luận về tương lai của Nhà nước Phúc lợi (Etat-Providence). Văn hóa xã hội thay đổi, tinh thần con người phóng khoáng, bắt đầu thị trường tiêu thụ mở rộng, …

4 – Tái thiết

Năm 1957, Liên-xô phóng vệ tinh spoutnik làm cho Tây phương lo sợ lúc nào đó có thể bị Liên-xô tấn công nhưng Tây Đức lo sợ hơn về mặt kỷ thuật sẽ bị phía Đông Âu qua mặt. Năm 1964, Tây Đức mở rộng giáo dục đến các cắp vừa lo đào tạo những thế hệ tương lai nhằm canh tân kỷ thuật và kỷ nghệ Tây Đức.

Sự đóng góp rất quan trọng của nền giáo dục Đức cho chương trình hậu chiến nhờ nó mang đậm chất “ Nhân bản – Trải nghiệm – Thực tế ”, lấy “ người học làm trung tâm” nhằm cân bằng và phát triển được ba yếu tố cần thiết để trẻ bước vào xã hội sau này là : Tính cách cá nhân (tính cách, thái độ, các mối quan hệ, nhân cách), tính chuyên nghiệp (tri thức, khả năng tư duy) và tính thực tiễn (cách thức vận dụng, khả năng sáng tạo).

Nhờ những đổi mới này mà Tây Đức phát triển mạnh, nhanh về kinh tế và xã hội. Cùng lúc, việc mở rộng giáo dục cũng giúp đông đảo tuổi trẻ vào đại học. Khi ra trường, chúng nó tủa ra khắp nơi làm việc để giúp xã hội phát triển đồng bộ. Tiếp theo, số thanh niên học xong trung học và giáo chức gia tăng nhờ chánh phủ từ 1963 tới 1975 đầu tư vào giáo dục 46, 5 tỷ đức mã, ưu tiên xây dựng nhiểu Đại Học mới ở nhiều nơi.

Phải nói trong những năm 60, xã hội tây đức chuyển biến vô cùng tích cực, lấy những giá trị qui chiếu mới tập trung về cá nhơn, như sự thành công của cá nhơn và sự tiêu thụ. Những thay đổi này, trước tiên, nhờ ở tình hình kinh tế phát triển tối ưu, và cũng nhờ ở xã hội tây-đức ngã theo hướng mỹ hóa mà vẫn giữ được sự đồng bộ trên cả nước. Phẩm chất đời sống cải thiện đề cao giá trị cá nhơn. Năm 1968, những thay đổi này dồn dặp hơn do thế hệ sinh viên mới tiến lên. Xã hội Tây-Đức chuyển mình đổi mới sâu xa nhưng vẫn còn vài mặt giử truyền thống và bảo thủ.
Nước Đức chuyển mình thay đổi do sự xuất hiện một xã hội tiêu thụ. Có hiện tượng mới này vì kinh tế phát triển, đưa xã hội từ tình trạng thiếu thốn mọi thứ tới có đầy đủ mọi thứ, từ nghèo khổ qua mọi người có ăn, có để. Lúc đó, kinh tề tăng trưởng từ 5 tói 7%, lương bổng tăng, điều kiện làm việc được cải thiện rất nhiều, 40 giờ / tuần, nghỉ có lương từ 3 tuần lên 5 tuần / năm.
Người dân Đức vừa có tiền, vừa có thì giờ để tiêu xài.

5 – Thống nhứt trong hòa bình

Từ năm 1969, Thủ tướng Tây-Đức Willy Brandt thực hiện một chánh sách nhằm tiến tới làm cho 2 nước Đức gần lại nhau hơn . Năm 1972, một hiệp ước căn bản được hai bên Đông-Tây ký kết cho phép trao đổi đại diện ngoại giao và năm sau gia nhập Liên Hiệp Quốc (Đông Đức có 16,5 triêu dân, 10 triêu mỹ kim xuất cảng ; Tây-Đức có 56, 5 triệu dân và 75 trìệu mỹ kim xuất cảng). Hai nước Đức vẫn riêng biệt cho tới khi bức tường Bá-linh sụp đổ năm 1989, chắm dứt chiến tranh lạnh, kết thúc số phận cộng sản liên-xô và đông âu. Vào mùa thu năm 1990, ngày 3 tháng 10, hai nước đức thống nhứt, Đông Đức về với Tây Đức để ngày nay có một nước Đức dân chủ, tự do và cường quốc âu châu.

Tưởng cần nhắc lại vài điểm quan trọng để thấy nước đức quả thật là một tấm gương tái thiết và phát triển thành công. Chế độ giáo dục và đào tạo của Đức dạy trẻ con học hỏi hiểu biết thật sự, làm việc đạt kết quả hoàn hảo. Công nhơn đoàn kết bảo vệ quyền lợi công nhơn nhưng vẫn không quên quyền lợi chủ nhơn. Không có tinh thần xung đột giai cấp, theo khái niệm mác-xít, công nhơn bị chủ nhơn bốc lột nên phải giết chủ nhơn như ở Pháp. Một trường hợp đáng ghi nhớ . Cách nay ít lâu, hảng xe Volkwagen bị lỗ, chủ nhơn hợp với nghiệp đoàn công nhơn thông báo sẽ phải giảm bớt công nhơn để giải quyết tình trạng tài chánh xí nghiệp. Nghiệp đoàn quyết định công nhơn chấp thuận giảm lương 15% để tránh một số công nhơn bị nghỉ việc. Từ đó, Volkwagen ổn định sản xuất và giử được thị trường.

Vế chánh quyền hiện tại, Bà Thủ tướng Merkel, gốc Đông Đức củ, tiết gìảm chi phí tối đa cho ngân sách quốc gia, làm việc tân tâm, tận lực cho nước Đức nhưng lại sống vô cùng đơn giản . Chánh phủ của bà chỉ có 8 Tổng Bộ trưởng và tất cả 300 nhơn viên các loại, các cấp, quản lý nước Đức gần 90 trìêu dân . Công xa của Thủ tướng phủ chỉ có 37 chiếc. Cũng như những cộng sự viên, bà ở căn nhà (appartement) của bà, trả điện, nước và các chi phí khác bằng tiền lương 15 830e/ tháng của bà. Khi di chuyển xa, tất cả đi xe lửa hay máy bay của hàng không Đức.
Đất nước giàu mạnh và ổn định chỉ khi nào người dân biết thương nước, chánh quyền có khả năng, lương thiện, đầy tâm huyết.

B / Trường hợp Nhựt bổn

1 – Thời gian chiếm đóng và khởi điểm tái thiết

Trong Đệ II Thế chiến, chỉ có nước Nhựt bị 2 trái bom nguyên tử và thất trận. Tổng thống Harry Tryman của Mỹ đã quyết định dùng bom nguyên tử sau khi nghe Thủ tướng Nhựt, Ông Kantaro Suzuki, tuyên bố ở buổi họp báo là « không biết tối hậu thư ở Potdam là gì cả » (đòi Nhựt đầu hàng vô điều kiện vì Đồng Minh sửa soạn chiến thắng).

Ngày 14 tháng 8/1945, Hoàng Đế Showa (Hirihito), sau khi xem xét sự tổn thất do hai trái bom gây ra và Liên-xô đang chiếm Manchukuo, tuyên bố đầu hàng.

Tướng Douglas Mac Arthur của Mỹ lảnh nhiệm vụ chiếm đóng nước Nhựt bại trận thể thảm, có những thành phố đổ nát tới 40%. Ông yêu cầu đừng đưa ông Vua và Hoàng gia ra trước Tòa án Quốc tế Nhơn quyền Tokyo. Nhà vua chấp nhận những điều khoản của bản tuyên bố Potdam với điều kiện ông vẫn giử những đặc quyền của nhà vua.

Mỹ chiếm nước Nhựt từ 1945 tới 1952. Thời gian này, Mỹ cải tổ sâu xa nước Nhựt về mặt chánh trị, thanh lọc (200 000 người bị thanh lọc) và dân chủ hóa, về mặt văn hóa-xã hội, cải tổ hệ thống Thần đạo Quốc giáo dạy ngưòi dân tuyệt đối tuân phục nhà vua mà trở về như một tín ngưởng bình thường, xóa bỏ hệ thống quí tộc và về kinh tế, phá bỏ những phe cánh tài phiệt để nhằm phá vở chế độ dân tộc cực đoan và quân phiệt Showa, lấy chế độ dân chủ làm nền tảng.

Quân quản Mỹ đưa cho Nhựt một bản hiến pháp theo mô hình dân chủ tây phương, xét lại vai trò nhà vua không còn nắm giử quyền chỉ huy tối cáo lực lượng quân sự cũng như mọi quyền chánh trị, mà chỉ là tiêu biểu cho sự thống nhứt quốc gia, vỉnh viển từ bỏ chiến tranh, giải thể quân đội hoàng gia, …

Quyền lực quốc gia từ nay do luỡng viện Quốc hội nắm giử. Phụ nữ có quyền bầu cử. Thiết lập quyền tự do báo chí, xóa bỏ công an chánh trị, xóa bỏ giai cấp quí tộc, ngoại trừ hoàng gia nhưng chỉ tính con cháu trai của nhà vua mà thôi.

Mỹ xóa bỏ phe phái tài phiệt nhưng cải tổ trở thành những tập đoàn kỷ nghệ mới và lớn để phát triển kinh tế Nhựt.

Trong thời gian bị chiếm đóng, Nhựt bắt đầu một sự thay đổi văn hóa quan trọng do lính mỹ đem lại như âm nhạc, ẩm thực, y phục, thời trang phụ nữ, …

2 – Khôi phục nền độc lập

Ngày 8 tháng 9 / 1951, Nhựt ký kết tại San Francisco Hiệp ước chấm dứt chiến tranh Thái Bình dương và tổ chức nền hòa bình giữa Nhựt và đa số các nước Đồng Minh, trừ Liên-xô, Tàu, Ấn độ, … . Hiệp ước đồng thời chấm dứt tình trạng nước Nhựt bị chiếm đóng, ngoại trừ Okinawa còn Mỹ cai quản để ngăn ngừa hiểm họa cộng sản bành trướng. Một Hiệp ước thứ hai qui định Nhựt, về an ninh, phụ thuộc vào Mỹ và Mỹ có quyền đơn phương quyết định về quân số Mỹ trên đất Nhựt.

Sau chiến tranh Triều tiên, Nhựt nắm giữ vai trò chiến lược trong chiến tranh lạnh. Năm 1960, nhờ tài ngoại giao khéo léo, Nhựt ký kết một Hiệp ước mới với Mỹ qui định lại tương quan quân bình về qưân sự giữa hai nước. Mỹ cần tham khảo Chánh phủ Nhựt để quân đội Mỹ đồn trú trên đất nhựt hoặc đưa võ khí nguyên tử vào lảnh thổ nhựt. Mỹ và Nhựt duy trì những đặc quyền giữa hai nước.

Tiếp theo, Nhựt tiến tới quan hệ song phương với những nước Á châu-Thái Bình dương như Đài-loan, Liên-xô, …

Sau cùng, ngày 18 tháng 12 / 1956, Nhựt gia nhập Liên Hiệp Quốc.

3 – Vươn mình lên cao

Vào đầu thập niên 50, cán cân thương mải của Nhựt bị thâm thụt: 407 triêu đô-la năm 1953 và qua năm sau, 794 đô-la. Nhờ chiến tranh Triều tiên làm thay đổi kinh tế nước Nhựt. Quân đội Mỹ đặt hàng các xí nghiệp nhựt giúp Nhựt thu nhiều ngoại tệ, lên tới 1, 32 tỹ đô-la vào cuối năm 1959 và Nhựt chỉ còn mất 140 trìêu đô-la cho cán cân ngoại thương . Ngoài ra, Nhựt còn học được ở Mỹ cách sản xuất lớn và kiểm soát phẩm chất hàng hóa. Người công nhơn nhựt được đánh giá và đề cao qua khả năng sản xuất và tinh thần tôn ti trật tự, trong một xã hội kết hợp chặc chẽ.

Sự thay đổi văn hóa còn thể hiện rỏ qua đám cưới của Thái tử Akihito với con gái của một nhà kỷ nghệ gốc thứ dân. Phe bảo thủ phản đối nhưng dân chúng ủng hộ vì cho đây là một biểu tượng đổi mới và dân chủ hóa thật sự nước Nhựt. Trên khoản đường dài 8, 8 km, có nửa triệu người đứng chào mừng hôn lễ.

Năm 1965, Nhựt ký Hiệp ước với Nam hàn, nước bị Nhựt chiếm đóng, để bình thường hóa bang giao giữa hai nước.

Và lúc này, kinh tề Nhựt cũng bắt đầu phát triển mạnh, sản lượng quốc gia tăng 11, 5 % năm. Năm 1968, sản lượng nội địa của Nhựt đạt được 150 tỷ đô-la, vượt qua Đức.

Đồng yen bám chặc đồng đô-la từ năm 1949, 1 đô-la bằng 360 yens, nhưng tới năm 1971, tiền mỹ thả nổi vì bỏ bản vị vàng, đồng yen bắt đầu cao giá.

Khi chiến tranh việt nam kết thúc, Nhựt tăng cường quan hệ ngoại giao và thương mại với các nuớc Đông-Nam Á.

Kinh tế nhựt tăng trưởng, một phần, cũng nhờ dân số tăng do người Nhựt ở hải ngoại thời Nhựt chiếm đóng hồi hương và mặt khác, mức sanh đẻ từ sau 1945 cũng gia tăng.

Suốt trong ba thập niên 1960, 1970, 1980, kinh tề nhựt phát triển ngoạn mục. Từ năm 1968, Nhựt trở thành cường quốc thứ nhì thế giới. Từ những năm 1980, sự tăng trưởng và đổi mới phưong pháp làm việc của Nhựt ảnh hưởng rất mạnh đến các nước Đông-Nam Á làm cho các nước này cũng lần lượt phát triển.

Kết luận

Điều đáng ghi nhận khi xem lại trường hợp 2 nước Đức và Nhựt bắt đầu tái thiết xứ sở là cả hai đều biết mình thua trận. Những anh hùng dân tộc làm chiến tranh bành trướng bị đưa ra xét xử trước Tòa án Nhơn quyền quốc tế Nurenberg và Tokyo. Là một nổi nhục lớn! Nhưng họ vẫn có niềm tự hào dân tộc, yêu nước thật sự, sáng suốt chọn bạn, lấy việc tài thiết đất nước từ hoang tàn đổ nát làm mục tiêu tối thượng.

Hai ông Adenauer và Yoshida, là người có thực tài và đạo đức, chấp nhận hợp tác thật lòng với Huê kỳ, kẻ đã đánh bại mình, không chút mặc cảm. Cả hai ông đã khéo léo, chỉ vài năm sau, cởi bỏ « chế độ bị chiếm đóng » để trở thành nước độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và cường quốc ở Âu châu và Á châu.

Hai người đã học được tư tưởng của người xưa « Nhập nô, xuất chủ » !

Về phía Huê kỳ, Huê kỳ đã dự bị chiến thắng nên đã chuẩn bị chương trình hậu chiến cho hai nước bại trận. Ngoài việc giúp tái thiết và phát triển đất nước, Huê kỳ đặt trọng tâm trong quan hệ ứng xử, xóa bỏ mặc cảm kẻ thua cuộc, xóa bỏ trách nhiệm ở hai nước đã gây ra chiến tranh đau thương cho cả thế giới.

Riêng Nhựt chủ tâm dạy trẻ con nhựt bài học quí giá về đức khiêm tốn « Nước Nhựt nghèo, không có tài nguyên, thiên tai dồn dập, dân Nhựt không anh hùng vì thua trận. Tương lai nước Nhựt là ở lớp trẻ ».

Phải chi, ngày 30/04, Hà nội bại trận và học được ở người Nhựt và cả người Đức bài học kẻ thua cuộc thì Việt nam ngày nay chắc chắn không đội sổ về các mặt ổn định và phát triển đất nước hậu chiến!

Việt nam phải chịu bất hạnh vì hoàn cảnh lịch sử đất nước đã lỡ tạo ra cộng sản tuy đây là điều chẳng có ai mong muốn.

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG TRONG MỘT TẤM ẢNH và HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC

Trần Quí Cao

Xin mời độc giả cùng xem lại tấm ảnh nổi tiếng năm châu bốn biển: tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập, tấm ảnh đã trở thành niềm hãnh diện của đảng Cộng Sản Việt Nam, thành biểu trưng cho chiến thắng chung cuộc của quân miền Bắc tiến vào hang ổ cuối cùng của chế độ miền Nam. Đối với một số khá đông người miền Nam, tấm ảnh là biểu trưng của sự chấm dứt cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ không hề muốn kéo dài bởi vì người nào ngã xuống cũng chung dòng máu đỏ da vàng, cùng là con chung của một mẹ Việt Nam.

Buổi sáng ngày 30/4/1975 đó, một anh thanh niên của chế độ miền Nam, trong khi tìm người thân giữa Sài Gòn náo loạn, bị kẹt lại trên đường Công Lý, gần góc đường Hồng Thập Tự, tình cờ thấy những chiếc xe tăng của miền Bắc tiến về dinh Độc Lập.

Lúc đó, trên thực tế, chế độ miền Nam đã đầu hàng. Tổng thống miền Nam đã ra lệnh quân đội miền Nam không chống cự. Sài Gòn trơ trọi giữa 5 cánh quân tiến công đã áp sát. Cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn chờ những người anh em miền Bắc vào để bàn giao chính quyền. Chiếc xe tăng hùng dũng của đội quân chiến thắng đang thẳng tiến. Bỗng nó dừng lại. Anh thanh niên ngạc nhiên, chăm chú quan sát.

Từ trên xe tăng, một chiến sĩ nhảy xuống. Hai cánh cổng được từ từ khép lại. Chiếc xe tăng lùi ra xa, rồi lao tới húc đổ chiếc cổng sắt.

Vốn được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa tôn trọng con người, tôn trọng tính trung thực, cảnh tượng trước mắt khiến người thanh niên thoáng linh cảm một bất an mơ hồ. Linh cảm ấy tan biến đi trong những ngày náo động tiếp theo của miền Nam chiến bại được quân quản tương đối yên ổn, và do đó đất nước đang hi vọng bừng khởi sau hòa bình và thống nhất…

Than ôi, rồi thời cuộc cũng cho thấy các bất an mà anh thanh niên kia linh cảm dần dần xuất hiện. Nhiều sự việc xa lạ với văn hóa miền Nam và cả với văn hóa dân tộc liên tiếp xảy ra, và nhanh chóng sau đó chế độ mới đã dùng thủ thuật lật lọng lùa các viên chức hành chánh và các sĩ quan quân đội của chế độ cũ vào trại học tập cải tạo, các trại mà cho dù có trang điểm bằng ngôn từ hoa mỹ tới đâu đi nữa, thì cũng là các trại tù nơi những người học tập bị đày ải nghiệt ngã cả về thể xác lẫn tinh thần nhiều năm sau. Sự việc này góp phần khoét rất sâu hận thù trong lòng dân tộc lẽ ra phải được hóa giải từ lâu rồi.

Từ đó, vào dịp lễ 30/4 mỗi năm, hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập lại trở về trong anh thanh niên cùng với những thước phim đã in sâu trong hồi ức về cảnh tượng buổi sáng tháng tư năm xưa. Tấm ảnh là biểu trưng của chiến thắng, và cũng là biểu trưng của tính chất bộ máy cầm quyền của đảng CSVN.

Nếu bộ máy đó trân quí hòa bình, thì khi đối phương đã buông súng, họ phải vui mừng, hòa nhã, bao dung, trân trọng đối phương để nuôi dưỡng tinh thần hòa giải, dập tắt hận thù tạo nền hòa bình muôn thủa…

Nếu bộ máy đó thực lòng yêu thương đồng bào miền Nam, thì họ đã vui mừng chạy đến cầm tay những người anh em miền Nam, mừng ngày sum họp…

Nếu bộ máy đó biết quí giá trị của lòng tôn trọng con người, biết quí nếp sống văn minh, lịch sự, thì họ đã xuống xe, báo cho chủ nhà ra đón vào một cách hòa bình và nhã nhặn…

Thì như vậy, tấm hình mừng ngày chiến thắng có thể là tấm hình của viên tướng tiền phương, hay của người chỉ huy toán quân đang tiến vào chào đón vị tổng thống tại chỗ. Một nụ cười rạng rỡ, một cái bắt tay an ủi thật chân thành trong niềm xúc động anh em từ nay tàn cuộc can qua, sum họp một nhà…

Quí độc giả thử tưởng tượng, một tấm hình như vậy, mỗi năm xuất hiện trên các nẻo đường Tổ Quốc chào đón toàn thể dân chúng cùng nhau mừng ngày Thống Nhất, thì thật là một biểu trưng đẹp biết bao cho tâm tình hòa giải hòa hợp!

Rấc đáng tiếc, ngày 30/4/1975 đã không có một cử chỉ đẹp như thế để bây giờ dân tộc có những tấm ảnh xúc động tâm tư như thế. Chỉ có tấm ảnh chiếc xe tăng húc đổ cổng nhà người anh em chiến bại. Tấm ảnh mang lồ lộ trên bề mặt và trong chiều sâu của nó các giá trị sống và tác phong sống khác hẳn.

Phải chăng tác phong đó cho biết bộ máy này đã quen đạp đổ, tàn phá, san bằng…? Đã quen khuất phục người khác bằng cách vung dao búa, lên cò súng, bắt người ta quì xuống thay vì chào hỏi, thảo luận, mời người ta ngồi chung bàn? Đã quen xem anh em miền Nam là kẻ thù cần triệt hạ, là những kẻ phản động xấu xa cần được cải tạo để trở lại kiếp sống con người?

Thực ra, từ khi Mỹ chơi ván cờ lớn, bắt tay với Trung Cộng, miền Nam ở vào thế bất lợi. Tuy nhiên, nếu quân dân miền Nam cũng cực đoan hận thù như đảng CSVN, nếu họ biết trước sau ngày giải phóng sẽ có những chính sách Học Tập Cải Tạo, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kinh Tế mới, Phân Biệt Đối Xử trong tuyển sinh… thì họ đã dốc sức tử chiến và chưa chắc miền Bắc vào được Sài Gòn! Có vào được thì đường vào cũng phải lát bằng xương máu, và đội quân thắng trận cũng chỉ chiếm được miền Nam với các thành phố hoang tàn, đổ nát!

Theo nhiều tài liệu, quân đội miền Nam lúc đó thiếu vũ khí, đạn dược, thiếu chiến lược cả sự chỉ huy quân sự hữu hiệu. Đội quân đó, sau trận chiến Ban Mê Thuộc, đang ở thế hạ phong.

Tuy nhiên, việc một đội quân lớn, đông người và tinh nhuệ, chấp nhận buông vũ khí sớm như vậy sớm như vậy không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc các thành phố lớn và tân tiến được bảo quản nguyên vẹn để bàn giao cho đội quân thắng trận không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Việc dân chúng rất nhanh chóng tỏ thái độ thân mật với đội quân thắng trận tiến vào thành không phải có điểm xuất phát của tình đồng bào hay sao?

Những anh bộ đội lớ ngớ bước vào thành phố hoa lệ có thể cảm nhận tình đồng bào. Rất tiếc là những người lãnh đạo cuộc chiến, khác với chiến binh của họ, không cảm được và không nhận ra tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt đã chấm dứt.

Họ chỉ thấy đám dân miền Nam thua trận này đang xu nịnh họ.

Họ chỉ thấy trong đám dân miền Nam thua trận này đầy rẫy các thế lực thù địch nguy hiểm cho ý đồ thống trị của họ. Gián điệp nhé, quân đội cũ tạm nép mình chờ ngày phục hận nhé, các người hiểu biết có thể tiêm các tri thức và tư tưởng về chế độ tự do, về các giá trị sống của miền Nam nhé. Và họ sợ nhất là qua đám dân miền Nam các bộ đội của họ sẽ biết về cuộc sống thật của miền Nam khác với điều đảng CSVN đã tuyên truyền hàng chục năm nay…

Trong não trạng đó, những chính sách triệt hạ miền Nam được liên tiếp tung ra. Sau khi giành thắng lợi quân sự rồi thì phải đánh gục cái miền Nam trù phú thịnh vượng này, đánh cho bẹp tinh thần trung thực, nghĩa khí, tự do, dân chủ, tôn trọng con người của miền Nam. Đánh cho các giá trị sống đó, vốn khác biệt căn bản với các giá trị sống của xã hội cộng sản chủ nghĩa, không thể ngóc đầu lên được nữa.

Chính quyền CSVN không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó chính là nền móng tối cần thiết và rất vững chắc cho sự hòa hợp hòa giải dân tộc mà họ, với tư cách là nhà cầm quyền của toàn bộ nước Việt Nam thống nhất, có trách nhiệm phải thực hiện. Họ không biết rằng các giá trị mà họ cố tình đánh cho chết đó là các giá trị sống của xã hội văn minh hiện đại.

Cho nên, tới ngày họ tưng bừng kĩ niệm 40 năm ngày họ chiến thắng, đất nước vẫn chia rẽ tột cùng, thù hận trong lòng dân tộc còn cao hơn những ngày đất nước chưa hòa bình. Việt Nam càng lún sâu vào hố thẳm của suy thoái về kinh tế và giá trị sống nếu so với những ngày đất nước chưa phát khởi cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước. Và nguy cơ lọt vào vòng nô thuộc thảm khốc của nước Tàu ngàn năm nuôi dã tâm xâm lược là vô cùng nguy cấp.

Trước các hiện trạng của đất nước như vậy, nhiều thành phần dân chúng thấy rõ muốn đất nước thoát khỏi bế tắc phải tạo sự đồng tâm của đa số dân chúng. Đó cũng là một cách nói cho sự hòa hợp hòa giải của dân tộc. Một dân tộc mà trong đó các thành phần bình đẳng với nhau, cùng là những người chủ đất nước, có giá trị, quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, và cùng góp sức chung tay xây dựng tương lai của Tổ Quốc chung.

Ngày 30/4 lần thứ 40 sau năm 1975 vẫn thấy hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập xuát hiện khắp nơi. Vẫn nghe vang dội điệp khúc mừng chiến thắng át tình tự dân tộc sum vầy, vẫn thấy đảng CSVN quyết tâm lãnh đạo toàn diện thay cho các bước tiến về hướng dân chủ tự do, vẫn thấy truyền hình chiếu các thước phim hừng hừng căm thù đế quốc Mỹ mà không nhắc gì tới Trung Quốc đang xâm lăng tổ quốc với chiến tranh biên giới, chiếm cứ biển đảo và xây dựng các căn cứ quân sự uy hiếp Việt Nam…

40 năm xưa, không có được tấm ảnh đẹp đã đành. 40 năm sau, sao vẫn tự hào với tấm ảnh không đẹp của ngày xưa?

40 năm xưa, không cảm nhận được tình đồng bào đang vui mừng vì cuộc chiến nồi da xáo thịt vừa chấm dứt, đã đành. 40 năm sau, sao vẫn không cảm nhận được hiện trạng suy thoái nhiều mặt của đất nước trong không khí hận thù, đàn áp, mặc cảm, khinh bỉ, bất hợp tác với nhau trong lòng dân tộc Việt Nam?

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm

Thái Văn Cầu Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

  • 29 tháng 4 2015

BBC

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu 40 năm ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, thống nhất đất nước, từ Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau.

Trong hơn một tháng qua, có nhiều bài viết, bài phỏng vấn, từ nhiều phía, về sự kiện này. Có bài so sánh Việt Nam với Đức hay với Triều Tiên, nước đã hay đang bị chia cắt, so sánh Việt Nam Cộng hoà với Hàn Quốc, Singapore, Thailand, nước có nền kinh tế tương đương nhau, trong cuối thập niên 1960-đầu thập niên 1970. Có bài trở lại đề tài ý nghĩa của ngày 30 tháng 4: “giải phóng” hay “quốc hận”?

Mục đích của bài này là nhằm nhận định khó khăn, thử thách của Việt Nam, và đóng góp ý kiến vào một quá trình cần thiết để vượt qua.

Con người

Do con người thuộc vốn quý nhất của một nước, không thể không xét khác biệt trong cái giá cho sự thống nhất giữa Đức và Việt Nam: gần 1.500 mạng người Đức, hơn 2.000.000 mạng người Việt Nam. Sau khi thống nhất, không như ở Đức, hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng hoà, bao gồm hàng chục ngàn chuyên gia, bị tập trung vào trại học tập cải tạo hay bị sa thải; hàng chục ngàn người chết trong trại học tập. Do chính sách đối xử phân biệt, khoảng 2.000.000 người Việt Nam phải rời nước, đi định cư ở nước khác; khoảng 200.000 người chết khi vượt biên.

Do không có hệ thống tam quyền phân lập, quyền làm người liên tục bị vi phạm, bất chấp quy định trong cam kết quốc tế và trong Hiến pháp Việt Nam. Trong 3 năm gần đây, có 260 người chết khi bị công an tạm giữ; chưa tới 20 trường hợp làm người chết được đưa ra luật pháp xét xử.

Giáo dục

Đối diện với nền giáo dục hình thức, lạc hậu, yếu kém, hàng trăm hội nghị, hội thảo về cải cách giáo dục không tìm được lối ra vì cốt lõi của vấn đề bị né tránh: giáo dục là nhằm đào tạo những thế hệ có tư duy độc lập, trên cơ sở tôn trọng sự thật, tôn trọng phản biện; giáo dục là để phục vụ con người, không phục vụ một tầng lớp, một hệ tư tưởng nào. Ở thời điểm năm 2013, Việt Nam có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ trong dân số 90 triệu người, tỉ lệ tiến sĩ, thạc sĩ cao nhất khu vực Đông Nam Á, nhưng có con số nghiên cứu khoa học công bố trên tập san quốc tế thấp nhất khu vực.

Kinh tế

Sau 40 năm hoà bình, sau 20 năm bình thường hoá quan hệ với Mỹ, nước có nền kinh tế và công nghiệp hàng đầu thế giới, kinh tế Việt Nam còn bấp bênh, công nghiệp phát triển kém cỏi. Trong giai đoạn 2001-2014, nợ công tăng từ 12% đến trên 65% GDP, quá ngưỡng an toàn, trong khi năng suất lao động giảm từ 4,1% xuống 3,2%, thấp nhất khu vực; trong giai đoạn 2008-2011, chênh lệch giàu nghèo tăng từ 8,9 lần đến 9,2 lần; trong giai đoạn 2012-2014, theo báo cáo quốc tế, chỉ số tham nhũng tăng từ 116/177 đến 119/175.

Đạo đức-văn hoá

Nền giáo dục không lành mạnh, hệ thống luật pháp không nghiêm minh, dẫn đến một xã hội băng hoại, suy đồi. Một lãnh đạo Việt Nam, ông Mai Chí Thọ, năm 2000, bày tỏ buồn đau trước mức độ tội ác trong xã hội; ông cho rằng “me Tây”, “me Mỹ” trước 1975 vẫn biết xem nặng giá trị đạo lý hơn một số người sau 1975. Với tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tăng nhanh, riêng năm 2014, Việt Nam có 150.000 trường hợp nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, cao nhất khu vực.

An ninh quốc phòng – Biển Đông

Không phải “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ”, mà Trung Quốc là nước, trong 60 năm nay, chiếm giữ một phần lãnh thổ Việt Nam ở biên giới cực Bắc, ở Hoàng Sa-Trường Sa.

Từ năm 2000, hàng năm Trung Quốc ngang nhiên cấm đánh cá ba tháng trong vùng biển Việt Nam; Trung Quốc đang tích cực xây dựng cấu trúc quân sự, đảo nhân tạo ở Hoàng Sa-Truờng Sa, làm bàn đạp tấn công Việt Nam khi cần thiết. Sự thiếu quyết tâm của Việt Nam trong sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc khiến Trung Quốc không ngừng leo thang hoạt động phi pháp và khiến khả năng chiếm giữ tạm thời thành chiếm giữ vĩnh viễn của Trung Quốc ở Hoàng Sa-Trường Sa gia tăng.

Trong hơn 20 năm, FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam chỉ chiếm 1,5% tổng vốn FDI nhưng Trung Quốc nắm 90% tổng thầu EPC ở những công trình trọng yếu như điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất, v.v. Do cam kết trong Thông cáo chung Việt-Trung năm 2001, Việt Nam cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên, bất chấp hiểm nguy cho an ninh quốc phòng, môi sinh môi trường, v.v., bất chấp phản đối của chuyên gia, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người có liên hệ với nghiên cứu khai thác bauxite trong thập niên 1980.

Nan đề của dân tộc và vai trò của tuổi trẻ

Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử?

Thực trạng và trường hợp điển hình đề cập ở trên cho thấy, ở thời điểm 40 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đang đối diện với khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử. Để khắc phục cần công sức và trí tuệ của toàn dân.

Trong 40 năm nay, mọi quyết định về chính sách, quốc sách cho Việt Nam, nằm trong tay một thiểu số lãnh đạo, không đến từ chọn lựa của công dân, thông qua bầu cử tự do và công bằng. Thực trạng hiện có là hệ quả tất yếu của lãnh đạo chủ trương đặt quyền lợi phe nhóm lên trên quyền lợi đất nước. Sự sinh tồn của dân tộc không cho phép thực trạng này kéo dài lâu hơn nữa.

Tuổi trẻ là người lãnh đạo tương lai của đất nước. Họ có đặc tính mà những lớp tuổi khác khó thể sánh bằng: năng lực, nhiệt tình và sáng tạo. Đồng thời, tuổi trẻ sẽ là người gánh chịu toàn bộ hậu quả, một khi họ thụ động, tiêu cực, theo chủ nghĩa “mặc kệ nó”, trước mọi nan đề hôm nay.

Trong khi thử thách, khó khăn là nhiều, thuận lợi dành cho tuổi trẻ không ít. Việt Nam là nước trẻ, với hơn 60% dân số sinh sau 1975. Trong cách mạng thông tin, thống kê năm 2014 cho thấy khoảng 75% thành phần trẻ sử dụng internet mỗi ngày. Đặc tính riêng và thông tin đa chiều tạo thêm sức mạnh cho tuổi trẻ.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ.

Trong hơn một tháng qua, có rất nhiều bài viết về cuộc chiến tranh tàn khốc giữa những người chung giòng máu, về những biến chuyển từ 1975. Bên cạnh lắng nghe, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến của người khác, tuổi trẻ Việt Nam nên hướng về phía trước, xác định ngày 30 tháng 4 năm 2015 là ngày đầu tiên trên chặng đường 10 năm.

Đây là chặng đường mà tuổi trẻ mạnh dạn phát huy vai trò tiên phong của mình, kết hợp sử dụng phương tiện tiên tiến trong thời đại tin học, với quyết tâm thúc đẩy thay đổi tận gốc rễ. Tuổi trẻ cùng các thế hệ khác, trong và ngoài chính quyền, trong và ngoài đảng, giành lại quyền làm chủ, quyền quyết định vận mệnh đất nước, quyền chọn lựa lãnh đạo có tâm, có tầm, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, thông qua bầu cử tự do và công bằng, kiên quyết thực hiện những quyền tự do như báo chí, đi lại, hội họp, phát biểu, v.v., quy định trong Hiến pháp và trong cam kết quốc tế.

Chặng đường 10 năm tới dứt khoát không là sự lập lại giai đoạn tệ hại nào trong 40 năm qua. Chặng đường 10 năm tới là quá trình nhận thức rõ bạn và thù của đất nước, nhận thức rõ không gông cùm vô hình hay nỗi sợ hãi nào ngăn được bước chân của tuổi trẻ Việt Nam.

Nó phải là chặng đường mà ở đích đến, thời điểm 50 năm thống nhất đất nước, Việt Nam là của 90 triệu người, của toàn dân tộc, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, năm 2007, nói, “Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.

Nỗi ám ảnh lý lịch

Nỗi ám ảnh lý lịch

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-04-29

Nỗi ám ảnh lý lịch

h1133-600.jpg

Panô tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 tại Sài Gòn hôm 11/4/2015

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Dựa trên nguyên tắc đấu tranh giai cấp, các chế độ cộng sản triệt để áp dụng nguyên tắc đào tạo và tuyển dụng một người dựa trên lý lịch của người đó.

Điều này cũng được triệt để áp dụng tại miền Nam Việt Nam sau năm 1975, ít nhất cho đến giai đoạn Việt Nam cải cách kinh tế vào năm 1986. Sau đây là một vài ghi nhận về chính sách này của nhà cầm quyền Việt Nam trong việc tuyển sinh đại học sau khi chiến tranh kết thúc, cũng như câu chuyện của một số nhân chứng. Bài do Kính Hòa trình bày.

Mười bốn loại lý lịch

Ông Nguyễn Đình Nguyên hiện là một chuyên gia về bệnh loãng xương tại Australia, đã từng học đại học tại Việt Nam vào những năm 1980 nhớ lại:

Trước khi bước vào kỳ thi đại học thì chúng tôi phải bước qua một kỳ khai lý lịch. Nếu tôi nhớ không lầm thì lý lịch của chúng tôi được xếp từ 1 cho đến 13. Chúng tôi cũng có nghe tới 14 nhưng tôi chưa thấy bạn nào bị như vậy. Tôi được xếp hạng thứ thứ 11 tức là gia đình (mà họ gọi là) ngụy quân, ngụy quyền ở cấp bậc nhỏ. Loại 12 thì họ gọi là có nợ máu với nhân dân, tức là đi quân đội và dường như là xếp từ thiếu úy trở lên. Loại 13 là những sĩ quan cao cấp, hay là sĩ quan công giáo, tôi cũng không biết tại sao.”

Không phải ai cũng biết là mình bị xếp loại lý lịch như thế nào như ông Nguyễn Đình Nguyên. Ông Nguyễn Thanh Liêm thi đại học vào năm 1978 nói:

Thưa anh bản thân tôi không biết họ sắp xếp như thế nào, bởi vì tất cả đều diễn ra ngầm, không có một chủ trương, một chính sách nào đưa ra rằng con cái của những người thuộc chế độ cũ bị đối xử không giống như những người khác.”

” …tôi không biết họ sắp xếp như thế nào, bởi vì tất cả đều diễn ra ngầm, không có một chủ trương, một chính sách nào đưa ra rằng con cái của những người thuộc chế độ cũ bị đối xử không giống như những người khác.
– Ông Nguyễn Thanh Liêm”

Trong thời gian từ năm 1975 cho đến khi Việt Nam thực hiện việc cải cách kinh tế vào năm 1986, hồ sơ dự thi đại học của tất cả học sinh được nộp lên một cơ quan gọi là Ban tuyển sinh tỉnh hay thành phố. Nhưng theo một chuyên viên xin được gấu tên hiện làm trong ngành giáo dục tại Việt Nam, thì cơ quan này chỉ là nơi làm công việc hành chánh của Bộ giáo dục. Theo chuyên gia này thì nơi quyết định số phận của các thí sinh là chính quyền địa phương. Ông nói về những người có lý lịch được xếp vào loại xấu

Người ta đã xếp loại trước và người ta đã chuyển cái loại lý lịch đó cho các Ủy ban quân quản, hay ủy ban nhân dân từ cấp phường trở lên. Nghĩa là đối với số đó thì anh có thi, có đậu đại học, thì cái giấy đậu đại học cũng không tới được gia đình anh. Như vậy người dân bình thường người ta không biết đâu. Hay bên ngành giáo dục, người ta chỉ chấm thi thôi, còn chuyện em đó tại sao đậu mà không đi học thì theo kinh nghiệm 40 năm làm trong ngành giáo dục thì tôi biết là bên ngành giáo dục không có quyền biết cái đấy.”

Với hệ thống phân loại đến 14 cấp lý lịch như vậy, trình độ của các sinh viên trúng tuyển rất chênh lệch nhau. Ông Nguyễn Đình Nguyên cho biết là vào năm 1984, điểm của cấp lý lịch thứ 11 như ông vào Đại học Tây Nguyên là 15/30, nhưng trong lớp có cả những bạn học chỉ đạt có 3 điểm.

Không những bị hạn chế ở cánh cửa bước vào đại học, các sinh viên có lý lịch gọi là xấu cũng sẽ không được đi nước ngoài để du học. Ông Nguyễn Đình Nguyên nói:

Chúng tôi không có cơ hội nào để đi du học nước ngoài ở loại lý lịch 11, chúng tôi chỉ có đậu và trượt, dù ở số điểm rất cao chứ không có cơ hội nào xuất ngoại để du học cả.”

Tương lai không ở Việt  Nam

Con cái của những người có quan hệ với chế độ Việt  Nam cộng hòa phải đạt được điểm số rất cao để vào đại học, hơn nữa họ còn phải tránh những trường được coi là có giá vào những năm ấy, ví dụ như các trường Y khoa, Dược khoa, Bách khoa.

Cha ông Nguyễn Thanh Liêm là cựu Thiếu tá quân đội Việt Nam cộng hòa bị đi tù 15 năm sau năm 1975. Ông Liêm vẫn cố gắng vào được đại học, nhưng bỏ dở giữa chừng để vượt biên ra nước ngoài. Ông giải thích lý do của quyết định đó:

Gia đình thấy rằng không có một tương lai nào để đi lên. Sống thì lúc nào cũng sợ bị bắt bớ, bị đưa đi kinh tế mới. Gia đình quyết định là chỉ có con đường vượt biên đi ra nước ngoài thì mới có tương lai hơn. Gia đình sắp xếp đi vì không tin là có thể sống trong một chế độ như vậy.”

Người chuyên viên giấu tên trong ngành giáo dục mà chúng tôi tiếp chuyện cũng đồng ý điều đó. Ông cho biết thêm:

Vượt biên là cái lối thoát của những người không đậu đại học mặt dầu họ đủ điểm hay là thừa điểm để vào đại học. Về mặt công bằng tôi cho là một chuyện oan trái, tôi dùng chữ oan trái này là đúng đó vì anh em tụi tôi cũng buồn là vì nếu những người đó cũng được vào đại học, thì về mặt khoa học, về mặt cống hiến có khi họ tốt hơn những người như bọn tôi, vì đầu óc họ rất tốt.”

” Mình thấy đơn giản là cái quyền của con người, quyền được đi học, được làm việc, nó bị xâm phạm một cách ngu xuẫn và tàn nhẫn quá. Tôi không muốn cho con tôi ở vào trường hợp đó nữa.
– Ông Lê Dũng “

Ông Nguyễn Thanh Liêm và gia đình sang được đến Mỹ. Ông Liêm hiện là kỹ sư điện làm việc trong nhà máy bảo trì các loại máy bay chiến lược của Mỹ tại tiểu bang Oklahoma.

Đối với những người được chấp nhận vào đại học trong những năm 1970, 1980, con đường tương lai khó khăn của họ chưa chấm dứt, vì họ vẫn phải mang một lý lịch gọi là xấu sau khi ra trường. Ông Lê Dũng hiện sống tại Austin, Texas kể lại:

Sau 30/4 thì tôi vào lớp bảy. Thật sự thì từ lớp bảy đến lớp 12 tôi không thấy áp lực lắm. Cái thứ hai nữa là mình bị tẩy não rằng nhà mình là có tội với nhân dân, thành ra cho sống là may lắm rồi, không cảm thấy phàn nàn gì cả. Được đi học là mừng lắm. Áp lực sau khi được đi học nó qua đi. Đến khi ra trường thì nó quay trở lại. Khi lang thang thì mấy người bạn trước khóa, bên đại học bách khoa hay kinh tế, người ta biết mình người ta kéo qua, nhưng ai cũng ngại khi thấy cái lý lịch của mình.”

Cha ông Lê Dũng là một Thiếu Úy Tâm lý chiến trong binh chủng nhảy dù của quân lực Việt  Nam cộng hòa. Ông bị đi tù năm 1975 và mất trong tù 3 năm sau đó trong một cái chết mà nhiều người trong gia đình cho là khuất tất.

Ông Lê Dũng cũng là thí sinh đạt điểm cao thứ nhì trong kỳ thi tuyển vào Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1981. Sau khi ra trường ông làm nghề dạy kèm trong hai năm, rồi sau đó được một nhóm đầu tư người Việt tại Đức tuyển vào làm việc trong một nhà máy in hiện đại vào năm 1988, là thời điểm mà Việt  Nam bắt đầu mở cửa cải cách kinh tế. Nhưng ngay trong cả thời kỳ đó, người có lý lịch như ông Dũng nếu muốn đi nước ngoài phải được sự chấp thuận của Ban tổ chức thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

Trong một lần dự hội nghị về Toán và Vật lý lý thuyết tại thành phố Trieste ở Ý, ông được một Giáo sư thu xếp cho một học bổng tại Mỹ. Sau khi hoàn tất việc học tại Mỹ, ông quyết định ở lại. Ông giải thích quyết định này.

Tôi nghĩ rằng bố tôi chiến đấu cho một cái mà ông tin vào đó thì ông không có tội. Người ta tin vào những điều khác nhau, cho nên ông không có tội. Giả sử bố tôi có tội đi nữa thì mắc mớ gì đến tôi. Mình thấy đơn giản là cái quyền của con người, quyền được đi học, được làm việc, nó bị xâm phạm một cách ngu xuẩn và tàn nhẫn quá. Tôi không muốn cho con tôi ở vào trường hợp đó nữa.”

Ông Lê Dũng hiện là Tiến sĩ Toán và dạy tại Đại học Texas ở Austin. Kết thúc buổi nói chuyện với chúng tôi ông nói rằng việc phân biệt lý lịch của những người cộng sản đã làm cho họ không thể có được những nguồn lực mới, và sẽ dẫn đến kết quả giống như một sự suy thoái về di truyền.

Ông Nguyễn Thanh Liêm nhắc lại chuyện lúc cha ông đi tù vì là sĩ quan quân đội Việt Nam cộng hòa nhưng ông vẫn được chính quyền địa phương tại Sài gòn cho đi học, từ đó ông nói rằng ông vẫn hy vọng là trong hàng ngũ cán bộ cộng sản vẫn còn có những người mà ông gọi là tốt.

40 Năm vươn lên từ nước mắt

40 Năm vươn lên từ nước mắt

Nguoi-viet.com

WESTMINSTER (NV) – Đó là tựa đề bộ phim do Trần Nhật Phong, một ký giả ở miền Nam California, tổng hợp và thực hiện. Phim do ABNC LLC sản xuất và được trình chiếu trên các hệ thống truyền thông của người Việt hải ngoại.

httpv://www.youtube.com/watch?t=150&v=leYnP4xA3EE

Bấm vào để xem phim

Bộ phim dài hơn 95 phút ghi lại hành trình 40 năm của cộng đồng người Viêt hải ngoại, vươn lên từ nước mắt, vươn lên từ khổ đau, vươn lên từ mất mát.

40 năm trước họ rời Việt Nam bằng hay bàn tay trắng, và rồi 40 năm sau vươn lên bằng chính khát vọng của mình.

Từ những bãi đất trống, vườn dâu, vườn cam bãi rác, họ xây dựng  thành những khu thương mại sầm uất, những ngôi chùa nguy nga, những nhà thờ tráng lệ.

40 năm hình thành một xã hội cộng đồng trong xã hội rộng lớn của Hoa kỳ, họ vẫn không ngừng tranh đấu, không ngừng làm việc, để thế hệ sau có thể hãnh diện rằng, ông cha họ đã có công xây dựng mảnh đất ly hương trở thành vùng đất hứa, vùng đất mà họ khẳng định là “quê hương”. (KN)

Ở LẠI TRONG THẦY

Ở LẠI TRONG THẦY

Thế giới hôm nay tiến bộ nhanh chóng về nhiều mặt: nghiên cứu sự sống trên sao Hỏa, nối mạng Internet, thành công trong phương pháp sinh sản vô tính…  Tưởng như chẳng có gì con người không làm được.  Nhưng thế giới vẫn lo âu vì chất thải ở khắp nơi, môi trường sống bị hư hoại, chênh lệch giữa giàu nghèo, nạn tham nhũng ở châu Á, sự hư hỏng của các bạn trẻ.  Cái vòng luẩn quẩn: ma túy, tình dục, AIDS, tội phạm dẫn đến các chết bi đát cho nhiều thanh thiếu niên.

Con người đủ thông minh để tạo ra sản phẩm nhưng lại không đủ bản lãnh để làm chủ chúng, nên chúng quay trở lại làm chủ con người.

Khoa học vừa giải quyết, vừa gây thêm rắc rối.  Con người hôm nay bơ vơ, loay hoay, không cứu nổi mình.  Thế giới bế tắc, cần đến ơn cứu độ.

Đoạn Tin Mừng mời ta nhìn lại sự cằn cỗi của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới.

Đức Giêsu phục sinh như cây nho, các Kitô hữu là cành.  Cây và cành có cùng một sự sống, cùng một dòng nhựa.  Sự sống từ cây, làm cho cành sinh trái.  Cụm từ sinh hoa trái được nhắc đến 6 lần.  Cụm từ ở lại trong Thầy được nhắc đến 5 lần.

Không ở lại trong Thầy thì không thể sinh hoa trái.

Cứ nhìn hoa trái thì biết mức đo “Gắn bó” của cành.  Có cành chỉ vờ gắn liền với cây nên không có trái.  Có cành đã sinh trái, nhưng cần sinh hoa trái hơn (c.2), sinh hoa trái nhiều (c.8), sinh hoa trái bền vững (c.16).

Chúng ta vẫn chưa sinh trái như lòng Chúa mong vì chúng ta không chịu để Ngài cắt tỉa.

Vinh quang của Thiên Chúa là chúng ta sinh nhiều hoa trái.  Thất bại của Thiên Chúa là sự cằn cỗi của con người.

Hoa trái là ước mơ của người trồng nho, và cũng là sự triển nở của cây và cành nho.

Chẳng hề có sự xung đột giữa vinh quang Thiên Chúa và vinh quang đúng nghĩa của con người.  Chỉ trong Chúa, con người mới thực sự triển nở, hạnh phúc.  Một sự độc lập khờ khạo sẽ dẫn đến héo khô.

Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em.  Một lời mời gọi gần như là một lời nài van.

Sự ở lại chỉ hoàn hảo khi có đủ hai chiều.

Con người mãi mãi có tự do khước từ nguồn sống.

Ở lại trong Chúa không phải là lối nói văn chương.

Để ở lại cần phải trả giá.

Muốn được hưởng nguồn sống của Đấng Phục Sinh, ta cũng phải chia sẻ thập giá của Ngài.

Chính Đức Giêsu cũng được cắt tỉa qua khổ đau và cái chết.

Hãy đón lấy sự sống của Chúa Phục Sinh, như dòng nhựa nguyên tươi mới.  Hãy đóng góp những hoa trái tốt lành cho nhân loại, để nhân loại nhận ra Cây Nho thật là Đức Kitô, và Người Trồng Nho là chính Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, sống cho Chúa thật là điều khó.

Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.

Chúa đòi con cho Chúa tất cả, để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa. – Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa, để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa. – Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà, để cây đời con sinh thêm hoa trái. – Chúa cương quyết chinh phục con, cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu.  Amen!

Trích trong “Manna”

Bốn tháng và 40 năm

Bốn tháng và 40 năm

Nguoi-viet.com

Uyên Vũ
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Đời Tị Nạn)

Thật khó tưởng tượng tôi đang ở Hoa Kỳ, một đất nước văn minh và hùng mạnh nhất thế giới. Vâng, trước đây 4 tháng dù có cố hình dung đến đâu tôi vẫn không thể tưởng tượng mình sẽ đến được đất nước này.

Bốn tháng trời quá ngắn ngủi để một công dân của một đất nước thuộc hạng nghèo nàn nhất thế giới đến định cư và hòa nhập vào xã hội hiện đại tột bậc này.

30 Tháng Tư, thoáng chốc đã 40 năm. (Hình: Getty Images)

Tị nạn nơi xứ sở mới được 4 tháng, trước mắt tôi còn rất nhiều bỡ ngỡ và thách thức nhưng cũng thật an lành. Giờ đây tôi vẫn e dè nhìn những hàng xe nghìn nghịt, nối đuôi nhau chạy vùn vụt trên các freeway ngang dọc khắp nơi. Và đôi khi chợt bâng khuâng khi thơ thẩn trong công viên xanh bát ngát để nhớ về những ngày Tháng Tư kinh hoàng năm xưa nơi quê nhà.

Tháng Tư năm nay với tôi đã không còn những cú điện thoại nặc danh răn đe, không còn tiếng đập cửa đêm khuya, cũng chẳng còn những bóng người lô nhô ngồi canh nơi đầu hẻm. Không còn trò ép xe trên đường phố, không còn những cặp mắt gắn chặt sau gáy mỗi khi ra khỏi nhà…

Tháng Tư California, tiết mùa Xuân hơi se lạnh với những hàng cây “phượng tím” trổ rực rỡ trên những con đường vắng ở Fountain Valley, xác hoa phủ đầy vỉa hè, nhuộm tím cả vạt cỏ bên đường. Và ở cảng San Diego, chiếc hàng không mẫu hạm USS Midway vẫn sừng sững soi bóng dưới mặt nước, nơi ấy cũng lưu giữ ký ức của cuộc chiến Việt Nam 40 năm trước.

Vậy mà đã 40 năm trôi qua, một quãng thời gian thật dài cho đời người. Khoảng thời gian ấy đủ để một đứa trẻ vừa lớn biến thành một gã trung niên râu tóc đã nhuốm màu chiều.

Bốn mươi năm trước, tôi là thằng bé 15 tuổi lang thang lếch thếch ôm bọc quần áo theo đoàn người di tản lúc may mắn thì bám càng xe vận tải, khi không may thì cứ chạy bộ. Từ Bảo Lộc lên Đà Lạt, xuống Phan Rang, ra Cam Ranh, Nha Trang rồi lộn ngược trở vào Phan Thiết, Bình Tuy… Thức ăn là những gói cơm sấy, cá khô mà các anh lính vừa san sẻ hoặc rau trái bứt tạm bên đường. Đêm ngủ dưới gầm xe hay chui vào mái hiên trường học, nhà thờ. Tiếng trọng pháo xen lẫn tiếng bom mìn không cản nổi giấc ngủ của thằng bé đã mệt nhoài.

Dòng người dài dằng dặc, nháo nhác chạy xuôi về hướng nam, xuôi về Sài Gòn. Chạy, chạy mải miết càng xa càng tốt khỏi những đoàn xe tăng T54 nghiền nát phố thị, làng mạc. Chạy càng xa càng tốt khỏi đoàn cộng quân dép râu với sao vàng gắn trên mũ cối. Hàng triệu con người suốt từ các tỉnh miền Trung vào đến Xuân Lộc cứ thế gồng gánh, tay xách nách mang đổ về xuôi Nam, gạo được đổ đầy vào chiếc quần dài, cột túm lại khoác lên vai và gạo vương vãi bên bờ đường khi cơ thể gục ngã. Khắp nơi là hoảng loạn thất thần, khắp nơi là nhà cửa, xe cộ cháy rừng rực. Tiếng trẻ con khóc thét, tiếng kêu gọi thất thần xen lẫn tiếng rít súng đạn. Và thây người bê bết máu nằm ngổn ngang bên xác trâu bò. Có những bà mẹ ôm xác con khóc không ra tiếng, có những cụ già, trẻ thơ gục xuống bên đường vì đói khát, vì không còn chạy nổi. Người ta đã dùng bất cứ phương tiện gì từ xe bò đến xe lam, từ xe đạp đến ghe chài để càng nhanh càng tốt tránh xa lửa đạn.

Lọt xuống chiếc ghe chài chở khẳm từ bến Bình Tuy về Long Hải, tôi tưởng mình đã chìm xuống biển khi nhiều lần sóng nhô lên như muốn nhấn chiếc ghe nặng nề xuống biển sâu. Những thân mình ướt lướt thướt nằm chen sát chật cứng bên nhau trong lòng ghe… Chỉ biết lầm rầm đọc kinh và van trời vái phật cho đến bến an bình. Thằng bé là tôi năm xưa đã không lê nổi chân khi về đến bãi Long Hải, toàn bộ cơ thể đã kiệt sức rã rời, có lẽ tôi đã phải chạy hàng ngàn cây số trong đói khát và sợ hãi…

Chiến sự cứ dồn dập sát bên những đoàn người di tản để rồi những hình ảnh, những thước phim ấy loan về Sài Gòn càng làm Tháng Tư thêm nóng bỏng ngột ngạt. Tháng Tư năm ấy trời vẫn chưa chuyển qua mùa mưa.

Và rồi tiếng bom đã vang ngay trong Dinh Độc Lập, tiếng trọng pháo đã chụp xuống đầu dân Sài Gòn. Lúc ấy tôi đã tìm được gia đình và lại tiếp tục tìm chỗ ẩn trú đạn bom. Ác nghiệt thay, nơi gia đình tôi nương náu lại là một tu viện ở Phú Nhuận sát bên cạnh Bộ Tổng Tham Mưu. Đạn pháo kích của cộng quân đã rơi giữa sân trường học, đã làm sập mái nhà bếp tu viện và cái chết đã gần ngay gang tấc.

Những xác người quấn chiếu vội vàng đặt lên sạp bán rau giữa phố thị. Những đoàn người lại đổ xô đến sân bay, ra bãi biển tìm một lối thoát. Cuối Tháng Tư, khi tiếng xích sắt của chiến xa T54 đã nghiến trên đại lộ Hồng Thập Tự, Thống Nhất, khi tận mắt nhìn thấy tên Việt Cộng đang trèo lên đỉnh Chateau d’eau trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu để cắm lá cờ xanh đỏ và bên tai là tiếng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì tất cả đã đổ sụp trong lòng tôi.

Tất cả những gì thằng bé là tôi đã chứng kiến vào Tháng Tư đen tối ấy chắc chắn không thể phai mờ.

Nhưng, những ngày tháng về sau cũng chẳng kém phần đen tối. Thằng bé 15 tuổi ngày ấy đã phải vào rừng kiếm củi, phải đi đào mương giữa nắng hạn theo những kế hoạch “thủy lợi” ngu xuẩn. Tôi đã phải rời mái trường trung học để vào khu kinh tế mới. Đêm đêm dưới ánh đèn dầu leo lét, hàng trăm con người đói lả phải cúi đầu nghe bọn “cách mạng 30 Tháng Tư” ra rả răn đe. Những bát cơm đầy bo bo không thể nuốt trôi nhưng vẫn phải cắm đầu cuốc đất cho “đúng kế hoạch.” Sách vở chữ nghĩa đã thành xa xỉ phẩm khi bày tay, bàn chân còn không kịp rửa, một mình trong căn chòi tranh giữa rừng. Cha thì đi “học tập,” mẹ chạy chợ nuôi đàn con. Đứa em gái 9 tuổi cầm tem phiếu đi mua dầu lửa thì bị xe cán bộ đụng chết, tiền bồi thường là 2 bao xi măng nên ngôi mộ của bé méo xẹo bởi xây bằng tay người anh vụng về.

Bốn mươi năm. Cứ Tháng Tư lại nghe chiếc loa của nhà cầm quyền ra rả lập lại những khúc tụng ca chiến thắng và phố phường, làng mạc ngập một màu cờ đỏ như máu dân lành. Cứ Tháng Tư nỗi đau như càng xoáy thêm vào vết thương cũ để lại nhớ về những ngày ấy, để cay đắng nhìn “thành quả” của nhà cầm quyền, và để ngậm ngùi tưởng tiếc những người đã ra đi.

Tháng Tư năm nay, Sài Gòn vẫn chưa vào mùa mưa, cơn sốt hầm hập mang màu đỏ rực vẫn phủ lên đầu xã hội. Những vụ bắt giữ vẫn tiếp tục, những bản án vô lý cứ tuyên bố và các lệnh cấm đang ban ra, mối đe dọa với các bạn tôi nơi ấy vẫn còn nguyên. Lẽ nào 40 năm sau, cuộc chiến còn đang tiếp diễn?

San Diego, Tháng Tư 2015

Cái gọi là ‘giải phóng’ khoét sâu thêm sự tổn thương

Cái gọi là ‘giải phóng’ khoét sâu thêm sự tổn thương

Nguoi-viet.com

Bùi Nhật/Người Việt

SÀI GÒN (NV) Những ngày đầu của năm 2015, người Sài Gòn, sau hơn ba mươi năm mới thấy lại cái gọi là màu cờ xanh đỏ sao vàng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (GPMNVN) trên một số phố trung tâm Sài Gòn. Cái cờ từng một thời ám ảnh người dân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), nay được lộ diện dưới dạng cờ đèn, loại đèn màu chớp nhái rẻ tiền sản xuất từ Trung Quốc.

Góc đường Lê Lợi-Pasteur bị đóng khiến nhiều người không biết đi đường nào. (Hình: Bùi Nhật/Người Việt)
Người Sài Gòn lúc đó ngờ ngợ tự hỏi. Phải chăng để chuẩn bị cái gọi là lễ 40 năm ngày “giải phóng” miền Nam, những người Cộng Sản muốn cho sống lại cái xác Mặt Trận Giải Phóng để thực hiện mưu đồ chính trị cấp tiến nào đó trước nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc.

Người am tường lịch sử chế độ thì cười mỉa mai cho rằng: Chớ có ngây thơ, đến cỡ tướng Việt Cộng như Trần Văn Trà, Trần Độ hay ông cán bộ cấp cao Nguyễn Hộ còn bị Cộng Sản Bắc Việt thanh trừng thẳng tay nữa là.

Không khác với mọi năm, những này cuối tháng tư thời tiết Sài Gòn đang là đình điểm của nóng bức. Giữa lúc nắng cháy da, khó thở thì chế độ lại phủ một rừng cờ đỏ, khẩu hiệu đỏ lên thành phố.

Khi nói về “nét mới” trong việc phủ cờ đỏ này thì nhiều gia đình lại rủa thầm khi bị bắt đóng tiền để làm cái thứ cột cờ đồng phục treo ngay trước cửa nhà mình và kéo dài trên các phố.

Một người bán thức ăn cho cá ở quận Tân Bình nói. “Họ vét tiền thuế làm đại lễ còn chưa đủ sao mà còn bắt dân đóng tiền cắm cái que sắt làm cột cờ, đến mấy con cá kiểng trong hồ nhà tôi cũng chói mắt.”

Nhưng tin tức từ việc lương dân Long An, Bình Thuận nổi dậy tràn ngập trên các trang mạng đã làm người Sài Gòn phần nào vơi bức bối.

Hỏi chuyện một ông bán cháo lòng trên vỉa hè, ông khoảng 60 tuổi, nói. “Tôi có coi trên ‘dô tút,’ ban đầu thấy cảnh dân rượt công an trang bị súng đạn đầy mình ai cũng sướng hả hê, nhưng rồi nghĩ mà thương vì mình biết tụi nó sẽ bắt nguội không sót một ai.”

“Hồi trước tôi có đi lính VNCH, ở sư đoàn 7, khi Việt cộng vô mình lủi thủi về nhà, buồn cũng không dám nói ra chỉ nghĩ về hai tiếng hòa bình để an ủi, bây giờ thấy tụi nó tàn ác với dân nghèo quá mà thêm hận.”

“Chết đứng” vì đóng đường

Sáng ngày Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015, cả khu trung tâm Sài Gòn đều bị phong tỏa để phục vụ cho cái gọi là tổng duyệt cho “ đại lễ kỷ niệm 40 năm mừng giải phóng.”

Toàn khu vực quanh Dinh Độc Lập bị đóng đường khiến hàng ngàn người dân
khổ sở trong dịp nhà cầm quyền kỷ niệm 40 năm “giải phóng.” (Hình: Bùi Nhật/Người Việt)

Ai cũng biết suốt từ tháng cuối năm 2014, các tuyến đường như Nguyễn Huệ, Lê Lợi… đã đốn hạ cây xanh, đào hầm xe điện ngầm, xây mới tượng đài ông Hồ… đã khiến các phố mặt tiền đẹp nhất, kinh doanh sầm uất nhất của Sài Gòn tê liệt, nay lại thêm thảm trạng bao vây, cấm đường suốt những tuyến phố chính như Lê Thánh Tôn, Paster, Đồng Khởi, Nguyễn Du, Xô Viết Nghệ Tĩnh…

“Chết đứng.” Đó là cụ từ mà giới kinh doanh lớn, các công ty cả ngoại lẫn nội cũng như những người bám vỉa hè mua bán kiếm sống qua ngày đã thốt lên.

Không ai biết Vương Cung Thánh Đường có phải hủy bỏ các khóa lễ ngày Chủ Nhật hay không, nhưng người ta biết chắc là sẽ không có mấy người dân chịu đưa con vượt các chốt đầy các binh chủng cảnh sát, các lực lượng quân sự và bán quân sự để đến vui chơi ở công viên Tao Đàn, Sở Thú…

Trò chuyện qua điện thoại với chủ quán cà phê ở đường Điện Biên Phủ, anh này nói. “Họ không cấm đường chỗ tôi, nhà nước cho cán bộ công nhân viên nghỉ năm ngày nhưng tôi tình nguyện nghỉ thêm đủ chục ngày, chớ kiểu ăn mừng rậm rật súng đạn này thì ai cũng muốn pha cà phê ở nhà để uống, ra đường ra quán vừa ớn lại vừa chán.”

Dù tiền thuế thu không thiếu ngày nào nhưng chính quyền độc tài của thành phố này không một lời xin lỗi về chuyện gây phiền toái và làm ảnh hưởng đến sự kiếm sống lương thiện của họ. Nhưng lớn hơn, chính sự khinh dân và đẩy lên tới đỉnh hoành tráng cái gọi là “đại lễ mừng 40 năm giải phóng…” đã trùm lại bầu không khí sợ hãi, chán ghét chế độ sau biến cố 1975 lên từng người Sài Gòn và cả miền Nam.

Sự lố bịch kéo dài

Thế thì người miền Bắc nhập cư sau 1975 và những thế hệ sinh sau năm 1975 nghĩ gì. Một nhà thơ có tiếng ở Hà Nội, một cựu binh VC, đang có mặt ở Sài Gòn để làm chương trình truyền hình đã nói riêng với bạn bè rằng, “Tôi là người lính sống sót ở cổ thành Quảng Trị, nói thật, với mọi người lính của hai phía ngày này là ngày sống sót, chớ năm nào cũng ca ngợi là ngày ‘chiến thắng, giải phóng’ ngay từ đầu đã lố bịch, mà sao cứ kéo dài mãi sự lố bịch đó nhỉ?”

Khác với những năm đầu sau biến cố 1975, việc chế độ độc tài sau 40 năm cứ ngang nhiên, bất chấp sự tổn thương vì chiến tranh của cả dân tộc để làm đại lễ “chiến thắng” mừng “ngày giải phóng Sài Gòn, miền Nam” đã phần nào cho thấy bản chất kiêu binh và dối trá.

Một nhà nhiếp ảnh, thuộc thế hệ 8x đã nói. “Hồi đi học phổ thông, cứ phải hát, ‘Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng’ ban đầu thì có chút cảm xúc sau thì tụi cháu hát như cái máy, mấy năm gần đây nhờ có Facebook nên biết nhiều sự thật, cái đáng biết nhất là cha ông của cháu không phải là lính ngụy như họ tuyên truyền và biết mình đâu có liên hệ gì đến ngày ‘chiến thắng’ này, đám con cháu các cán bộ tham nhũng giàu có ăn mừng là đúng còn tụi cháu được mấy ngày nghỉ là biến khỏi Sài Gòn.”

Các cuộc biểu tình của lương dân chống đốn hạ cây xanh ở Hà Nội, chống nhà máy điện gây ô nhiễm ở Bình Thuận… ngay trong những ngày tháng tư đen, được nhiều người Sài Gòn đón nhận như một tin lành và chính tin tức đó đã mở ra ý thức về những cuộc đấu tranh để quyền con người được tồn tại và vạch ra một giới tuyến xác định: Một đằng là những người Cộng Sản đang không ngừng tô son trét phấn cho việc chiến thắng chính dân tộc mình, cũng như đang ra sức đàn áp để có thêm ”vinh quang” khi tấn công các tầng lớp người dân đòi quyền sống ; một phía là các lương dân khắp đất nước đang thắp lửa đấu tranh để tìm con đường sống trước chế độ độc tài.

Thật hy vọng khi nghe người Hà Nội nói. “Đừng đùa, Chúng tôi bảo vệ cây xanh là làm cách mạng đấy.” Trong khi người Bình Thuận nói, “Chúng tôi sẽ liều chết với cái nhà máy nhiệt điện khốn nạn này.” Nội dung đấu tranh từ các cộng đồng các dân oan bị áp bức cưỡng đoạt đất đai, nhà cửa đã chuyển sang giới trung lưu đấu tranh vì môi sinh môi trường sống đang bị chế độ tham nhũng hủy hoại là một bước tiến dài khiến người bi quan nhất cũng cảm thấy vui mừng.

Một trí thức cao tuổi, lớp người Bắc di cư 1954 nói. “Đến những năm gần đây, ngày càng rõ cái mốc ngày 30 tháng 4, 1975 chính là ngày mất nước vào tay Trung Quốc.”

Bốn mươi năm của một chế độ độc tài, thời gian đủ dài để trôi tróc dần son phấn dối trá và phơi trần bản chất tham nhũng, bán nước. Dù cái gọi là đại lễ mừng chiến thắng này có rùm beng bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không dấu được sự trơ trẽn, thế tự cô lập và bị cô lập của đảng đã hết sạch những chiêu trò chính trị và đang phơi ra trước mắt dân tộc bộ mặt tập đoàn bạo quyền và tham nhũng.

Giới trẻ nghĩ gì về hoạt động kỷ niệm ngày 30/4

Giới trẻ nghĩ gì về hoạt động kỷ niệm ngày 30/4

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-04-28

04282015-30-4-n-young-people.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra bạo hơn vào dịp cận 30 tháng 4.

Tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra bạo hơn vào dịp cận 30 tháng 4.

Nhóm TT từ VN/RFA

Sáng 26/4, hàng nghìn người tham gia lễ diễu binh tổng duyệt chào mừng ngày 30/4 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Biến cố của cuộc chiến tranh xảy ra 40 năm trước đã đưa Đảng Cộng sản lên nắm quyền tại Việt Nam và một bộ phận người Việt phải đi di tản. Giới trẻ nghĩ gì về những hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày 30/4 này.

Dự kiến, có khoảng 10.000 người sẽ tham dự lễ mít tinh kỷ niệm ngày 30/4 tại Sài Gòn trong tuần này. Trong buổi lễ tổng duyệt sáng chủ nhật ngày 26/4, người ta thấy từng đoàn quân diễu hành qua khu vực trung tâm ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Một nhóm diễu hành còn tái hiện hình ảnh Bà Trưng cưỡi voi, trong đó, voi được làm bằng một giá sắt có bốn bánh xe. Một số người trên mạng xã hội Facebook đùa rằng việc thay voi thật bằng voi “dởm” là một sáng kiến rất tuyệt vời trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn.

Những hoạt động rầm rộ chuẩn bị cho ngày 40 năm kỷ niệm chấm dứt chiến tranh đã gây xáo trộn đời sống của người dân thành phố do nhà tổ chức cấm xe lưu thông trong khu vực trung tâm. Blogger Mẹ Nấm cho biết:

“Mọi người đều cảm thấy mệt mỏi vì việc chặn đường để kỷ niệm lễ 30/4 làm ảnh hưởng và xáo trộn. Một anh bạn nhà văn của mình rất hiền, rất vui vẻ mà còn phải chửi thề khi đứng trong đám đông và chứng kiến một gia đình có con đi cấp cứu ở bệnh viện nhi đồng mà không thể băng qua dòng cấm xe để tới bệnh viện nhi đồng.

Cái việc chặn xe đặc biệt ở khu vực quận nhất ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của người dân. Cho nên hầu như mọi người, cả những người chưa bao giờ thấy bày tỏ thái độ về chính trị, cũng thấy rất phiền toái. Một số lại nói rất thẳng thắn rằng sao bọn họ không tự tổ chức lễ kỷ niệm với nhau lại làm ảnh hưởng tới đời sống người dân như thế.”

“ Một gia đình có con đi cấp cứu ở bệnh viện nhi đồng mà không thể băng qua dòng cấm xe để tới bệnh viện nhi đồng. Cái việc chặn xe đặc biệt ở khu vực quận nhất ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của người dân. Cho nên hầu như mọi người, cả những người chưa bao giờ thấy bày tỏ thái độ về chính trị, cũng thấy rất phiền toái

Blogger Mẹ Nấm”

“Tôi không kỷ niệm ngày 30/4”

Một bạn trẻ tên là Phan Long ở Tây Nguyên nói với chúng tôi qua Facebook, rằng những hoạt động trên là “lố bịch”.

Long cho rằng đó là ngày khởi đầu của việc niềm nam rơi vào tăm tối, vì sau đó theo bạn Long, mới thực khủng khiếp. Bạn lấy ví dụ chẳng hạn như việc chính quyền mới đánh tư sản mại bản, hay việc hàng trăm người Việt Nam buộc phải di tản, trở thành thuyền nhân, có người thì làm mồi cho cá mập.

Blogger Mẹ Nấm cũng gọi đây là một hoạt động kỷ niệm rầm rộn ở Sài Gòn là một “trò lố”.

“Những người biết suy nghĩ và tiếp nhận đủ thông tin, không ai coi đây là dịp ăn mừng hay coi đây là dịp chiến thắng hết. Vì dân tộc Việt Nam đã quá đủ đau khổ rồi và dân tộc này đang tụt hậu so với các nước ASEAN chứ không nói gì đến thế giới.”

Trên mạng xã hội Facebook, một số các bạn trẻ đã thay đổi hình đại diện thành một hình ảnh có dòng chữ: Tôi không kỷ niệm ngày 30/4. Đi kèm theo đó là hình vẽ một chiếc xe tăng.

Blogger Mẹ Nấm cho biết ý tưởng này xuất phát từ một nhóm nhỏ trên Facebook và dần lan ra cộng đồng mạng:

Đường Cách Mạng Tháng Tám kẹt xe cả cây số vào hôm 26.4.2015 (TTVN/RFA)

Đường Cách Mạng Tháng Tám kẹt xe cả cây số vào hôm 26.4.2015 (TTVN/RFA)

“Bọn mình đọc và chứng kiến khá nhiều bài viết và lời kêu gọi về lễ kỷ niệm 30/4. Thực sự ở ngoài nó làm rất rầm rộ, treo cờ và giăng đèn ở khắp nơi, cũng như các chương trình nghỉ khá dài và cộng thêm các chương trình ca nhạc và lễ hội khá lớn trong dịp 30/4.

Một nhóm anh em nói rằng đã đến lúc mình có thái độ rằng tôi không muốn tổ chức lễ này, tôi không muốn ăn mừng lễ này. Mặc dù mình không là người nắm cái quyền chủ động kỷ niệm lễ chỉ có thể thể hiện bằng cách là tôi không kỷ niệm 30/4 theo cái cách mà những người lãnh đạo đang làm.”

Bạn Phạm Nam Hưng, ở Sài Gòn, cho biết bạn cũng thay đổi hình đại diện theo nhóm bạn của mình. Hưng nói:

“Ngày trước em nằm trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hồi còn là sinh viên. Sau đó, em tìm hiểu lịch sử thì ngày này không đáng để kỷ niệm. Ngày 30/4 là ngày chúng ta đã mất một chế độ tự do, ngày đó đồng bào ta đổ máu và nhiều người phải đi tị nạn.”

Năm nào, Việt Nam cũng kỷ niệm ngày 30/4, được gọi là ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Năm nay có lẽ được cho là năm kỷ niệm hoành tráng nhất và Sài Gòn là nơi ăn mừng rầm rộ nhất. Ở các thành phố khác, dù lễ kỷ niệm vẫn diễn ra nhưng không lớn như Sài Gòn.

“ Ngày trước em nằm trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hồi còn là sinh viên. Sau đó, em tìm hiểu lịch sử thì ngày này không đáng để kỷ niệm. Ngày 30/4 là ngày chúng ta đã mất một chế độ tự do, ngày đó đồng bào ta đổ máu và nhiều người phải đi tị nạn

Phạm Nam Hưng”

Trong dịp 30/4 này, chính phủ cho phép các cơ quan nhà nước nghỉ lễ dài 6 ngày. Đối với một bộ phận giới trẻ không quan tâm nhiều tới chính trị, đây chỉ là dịp lễ ăn chơi.

Thanh, 24 tuổi, làm việc cho một công ty về hình ảnh, cho biết thường thì dịp 30/4 là dịp cả công ty của bạn cùng nhau đi nghỉ. Năm nay, bạn cùng công ty đi biển ở thành phố Nam Định.

Thanh cũng chỉ nghe nói đến những hoạt động kỷ niệm ở Sài Gòn và cho rằng đây là một dịp quan trọng vì nó giúp thống nhất hai miền nam bắc.

Bạn Hải Long, ở Phú Yên, không tham gia phong trào thay đổi ảnh đại diện trên Facebook, tuy nhiên, cũng có chung quan điểm về việc không nên có kỷ niệm ngày 30/4.

Ở thành phố Phú Yên, bạn Hải Long cho biết, chính quyền đã kỷ niệm ngày theo bạn nói là ngày giải phóng vào hôm 1/4.

Bạn Long cho rằng hoạt động này quá tốn kém tiền thuế của người dân và không cần thiết. Hơn nữa, nó lại đi ngược lại với quan điểm của chính phủ về hoà hợp, hoà giải dân tộc. Long cho biết:

“Trên phương diện ngoại giao, người ta luôn nói rằng họ muốn hoà giải và kêu gọi kiều bào về nước về làm ăn, rồi với những người thuyền nhân xưa, chính quyền kêu gọi người ta quay về, quên đi chuyện cũ. Tuy nhiên, họ luôn luôn nói về chiến thắng thì không thể nào thực tâm muốn hoà giải được.”

Theo kế hoạch, lễ mít tinh kỷ niệm ngày 30/4 sẽ bắt đầu vào lúc 7 giờ sáng.

Hà Nội hãy biết yêu những gì mình có

Hà Nội hãy biết yêu những gì mình có

Đoan Trang

Tôi yêu màu lá xanh mướt của mùa xuân. Nổi trong đám lá xà cừ xanh thẫm, đôi khi lại có màu xanh nõn nà của lá bồ đề, lá sấu. Và khi xuân sang, buổi sáng sớm bước ra đường, lẫn trong khói bụi ô nhiễm, vẫn thấy một mùi thơm mát mà tôi gọi là mùi “hoa cỏ mùa xuân”.

Tôi yêu sắc đỏ rực trời của hoa phượng. Đôi khi tình cờ nhớ đến những ngày ở nước Mỹ, tôi nhớ xứ Cali cũng có hoa phượng, nhưng là phượng tím, jacaranda. Có những đoạn đường, hai bên một màu tím ngát, hoa nhiều hơn lá. Phượng tím cũng đẹp lắm. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn yêu cái màu cháy đỏ nao lòng của phượng hồng Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… những thành phố của Việt Nam mà tôi đã đi qua. Nhớ đến phượng là nhớ đến những câu hát xao xuyến: “Phượng hay bâng khuâng, tưởng chừng như cô đơn”, “xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn, phượng ơi”.

Tôi yêu tiếng ve ngập tràn những con đường lớn, phố nhỏ, những ngõ vắng xôn xao ở Hà Nội. Tôi nhớ những ngày đầu hè rực nắng, tháng 4-5, của một năm nào đó xa xưa lắm rồi, tôi đi lang thang trong một vườn cây đầy nắng ở khu Quảng Bá, Hồ Tây, chìm trong tiếng ve và mơ màng câu hát “rừng chiều nghe lao xao, tiếng lá non gọi gió”.

Hà Nội, trong tim tôi, luôn gắn với cây cỏ, trời mây và thời tiết. Dù có đi đến nơi nào trên thế giới này – Los Angeles rực nắng, Stockholms cổ kính với những mái nhà tròn màu hồng, Budapest và những bức tượng đồng xanh thẫm, v.v. – tôi vẫn luôn nhớ đến Hà Nội và vô vàn hình ảnh thời thơ ấu: những nhà cửa xam xám với cửa sổ xanh xanh, cũ kỹ, bờ tường sứt sẹo, những cây bàng đỏ ối, những ô vườn rập rờn hoa bướm tím hồng, hoa mào gà tía… Tôi nhớ những cây xà cừ râm ran tiếng ve mỗi độ tháng 4, tháng 5 về, và đặc biệt, cứ vào mùa cuối xuân, xà cừ lại rụng lá. Lá xà cừ vàng thắm, bay rợp trời, đẹp như mùa thu Tây phương vậy, dù chẳng có rừng phong…

Chẳng bao giờ tôi chịu nổi cái ý nghĩ một mai đây, Hà Nội sẽ “hiện đại hóa” thành một đô thị như Bangkok hay Manila, toàn màu bê tông và xi măng trắng, nằm trần trùng trục dưới cái nắng nhiệt đới oi ả của Đông Nam Á. Không. Không có bất kỳ một đại dự án, một chủ trương, chính sách, một công trình nào, của bất kỳ kẻ nào, có thể biện hộ cho việc chặt hạ cây xanh ở Hà Nội được. Năm 2009, Giáo sư Mike Douglas (ĐH Hawaii, Mỹ), tại một hội thảo quốc tế ở Hà Nội về “thành phố đáng sống”, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những không gian có giá trị trong đời sống xã hội đô thị như quảng trường, công viên, chợ họp ngoài trời/chợ truyền thống, đường phố và vỉa hè, v.v. những không gian mà ở đó con người gặp gỡ nhau không phải chỉ để mua bán mà để chào hỏi và chuyện trò với nhau.

Ông cho rằng: “Các thành phố hiện nay đang mất đi những không gian công cộng và không gian dân sự, nơi người dân có thể đến và sử dụng mà không cần dành toàn bộ thời gian của mình cho các quan hệ thương mại hay trao đổi hàng hóa, và cũng không gặp trở ngại về những điều họ nói với nhau”.

Và Hà Nội, trong đánh giá của ông Mike Douglas, là một thành phố may mắn còn giữ được những không gian ấy. Chỉ ở Hà Nội, ta mới thấy có chợ cóc, có những hiệu cắt tóc vỉa hè, những quán café dưới bóng cây xanh, nơi người ta ngồi chen chúc, xúm xít, vai kề vai lưng kề lưng, để trò chuyện và “chém gió”. Nghĩa là vẫn còn những không gian công cộng rất đặc thù. Chúng ta không bắt gặp những nơi như thế ở các đô thị “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” như Bangkok hay Manila, thậm chí Los Angeles, Washington DC. Ở đó, chỉ có các quán café máy lạnh, kiểu như Starbucks, McDonalds’, người ta mua mang theo hoặc ghé vào uống một lát rồi đi, chẳng thể nào có thứ văn hóa “trà đá café vỉa hè” như Việt Nam.

Không, không thể để Hà Nội, Sài Gòn, hay bất cứ một thành phố nào ở Việt Nam trở thành thành phố bê tông được, nhất là khi những chính sách phá hoại ấy chỉ do một thiểu số dấm dúi làm ra với nhau, sau đó, khi bị công luận lên tiếng, lại tìm cách câu giờ để bao che cho nhau, đợi đến lúc công luận dần lắng xuống rồi mọi chuyện sẽ “cứt trâu hóa bùn”, như truyền thống lâu nay của lãnh đạo Việt Nam. Truyền thống ấy tạo thành những công thức: “Cần một giải pháp đồng bộ”, dịch sang tiếng Việt nghĩa là “không làm gì cả”. “Sẽ xử lý quyết liệt”, nghĩa là “chẳng ai làm sao cả”, cùng lắm thì một thằng đánh máy nào đó bị xử lý, một đồng chí trưởng/phó phòng nào đó bị kỷ luật Đảng mà thôi.

Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng… rất có thể sẽ chẳng bao giờ trở thành những thành phố hoa lệ hàng đầu thế giới. Nhưng không được như thế thì càng phải biết quý, biết giữ lấy cái gì mình có: hoa cỏ, cây xanh, hồ nước, không gian công cộng… Cũng như chính quyền Hà Nội phải biết yêu và giữ lấy những người dân đã có ý thức cộng đồng, đã xót xa từng cây xà cừ bị chặt bỏ, đã xuống đường giơ cao khẩu hiệu bảo vệ cây xanh, yêu cầu minh bạch, phản đối bạo lực… mà vẫn cố gắng ôn hòa, đi trên vỉa hè, nhặt rác, chịu đựng công an, và không giẫm lên cỏ. Không dễ có những người dân như thế trong một xã hội như Việt Nam đâu.

Và, có lẽ nào chúng ta cứ để một thiểu số bất tài vô hạnh ra những quyết định mang tính chất phá hoại – mà không chỉ phá chúng ta, còn gây hại cho nhiều thế hệ sau này nữa? Điều đáng sợ nhất là, khi lầm lỗi, khi làm sai, khi phạm tội ác mà không phải chịu trách nhiệm gì, kẻ sai, kẻ ác sẽ không có lý do gì để dừng lại.

clip_image002

Một đường phố ở thủ đô Washington D.C.

Đ.T.

Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2015/04/ha-noi-hay-biet-yeu-nhung-gi-minh-co.html

Lãnh đạo Hà Nội chính thức tỏ thái độ đối với việc bảo vệ cây xanh

Lãnh đạo Hà Nội chính thức tỏ thái độ đối với việc bảo vệ cây xanh

nguyentuongthuy

Sau khi việc chặt bừa bãi mang tính tàn sát cây xanh ở Hà Nội bị phát lộ, đã có 4 cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh vào các ngày 22/3 và 29/3, 12/4 và 19/4/2015. Bốn cuộc tuần hành này về cơ bản diễn ra khá suôn sẻ, trừ vụ bắt Trịnh Việt Dũng và 4 người khác ngay sau buổi tuần hành ngày 12/4. Ngoài ra, còn có cuộc đạp xe vì cây xanh ngày 5/4/2015. Tuy nhiên việc tuần hành bảo vệ cây xanh có những dấu hiệu sẽ bị đàn áp ở việc cuộc đạp xe ngày 5/4 bị chia cắt từ Hồ Tây không thể về Hồ Hoàn Kiếm và việc Trịnh Anh Tuấn bị đánh dã man ngày 22/4.

Đến cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh ngày hôm qua 26/4 thì nhà cầm quyền Hà Nội đã ra tay đàn áp quyết liệt. Điều này cho thấy giới lãnh đạo Hà Nội đã chính thức tỏ thái độ về việc bảo vệ cây xanh Hà Nội

Đó là kiểu thi hành pháp luật quái gở ở Việt Nam, đến lúc thấy cần đàn áp thì đàn áp, chẳng có một cơ sở pháp luật nào. Vẫn là bài cổ điển: xe loa ra rả yêu cầu giải tán, cảnh sát, trật tự đô thị, an ninh ngăn chặn, chia cắt, bắt người còn xe bus được điều đến chở người bị bắt để giải tán.

Cẩm nang đàn áp tụ tập đông người: vẫn là Nghị định 38

Nghị định 38/2005/CP ngày 18-3-2005 cấm tụ tập từ 5 người trở lên. Đây là qui định bất khả thi nếu chưa nói đó là văn bản vi hiến. Nghị định này lần đầu tiên được mang ra áp dụng từ cuộc biểu tình ngày 24/7/2011 để cấm các cuộc biểu tình chống Trung Cộng. Và lần này, cái cớ để giải tán cuộc tuần hành cũng không có điều gì khác ngoài qui định cấm tụ tập đông người.

Vấn đề đặt ra là ở Hà Nội cũng như là các tỉnh, những cuộc tụ tập trên 5 người diễn ra hàng triệu mỗi ngày, liệu có giải tán được tất cả không. Buổi sáng dân ven hồ ra tập thể dục có cấm được không? Một gia đình từ 5 người trở lên đi với nhau cũng phải xin phép chăng?

Nhiều người bảo: Tôi ra đây một mình, chỗ nào thích thì đứng, thích đi thì đi, chẳng tụ tập với ai cả nên chẳng biết giải tán như thế nào và giải tán với ai.

Những câu hỏi ấy thắc mắc với công an nhưng đều không có câu câu trả lời. Họ không trả lời nổi nên việc cấm tụ tập từ 5 người trở lên rõ ràng là bất khả thi. Tuy nhiên, nhà cầm quyền muốn giải tán chẳng còn vin được vào văn bản qui phạm pháp luật nào khác.

Tôi bảo mấy cậu công an: “Này, ở Vườn hoa Lý Thái Tổ hôm nay tụ tập đông người lắm, gấp mấy chục lần ở đây, đến đó mà dẹp”. Có cậu im, cũng có cậu nói cùn: cứ biết gặp đâu là dẹp đó. Mọi người lại mách thêm mấy cán bộ công an khác, có tay bí quá nổi khùng lên.

Đi xuôi không được, đi ngược không được nhưng lại yêu cầu … giải tán:

Ở Vườn Hoa Lý Thái Tổ hôm nay diễn ra một cuộc tập nào đó, có tới gần 1 nghìn người, nghe nói giải việt dã gì đó. Nhưng mọi người đều có mặt ở Đài phun nước (Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).

Nòng cốt của cuộc tuần hành hôm nay là dàn 10 chị em phụ nữ mặc áo dài thật đẹp.

Ảnh facebook Tuyen Chi Nguyen

Lần này chỉ khoảng 40, 50 người tham gia tuần hành nhưng đám nhân viên cộng lực chủ yếu để mắt vào số chị em phụ nữ này. Như những lần đàn áp biểu tình chống Trung Cộng trước đây, chính quyền, công an chẳng có lý lẽ gì, chỉ biết huy động cơ bắp, làm náo loạn cả Bờ Hồ đang yên lành của người dân thủ đô..

Những tiếng quát tháo, ra lệnh, tiếng rít lên của còi, của loa điện, tiếng cự lại của người tuần hành inh ỏi cả Bờ Hồ. Người tuần hành phớt lờ những lệnh vô lý của công an.

Một người hỏi cậu công an:

– Thế nào là tuần hành trái phép?

Cậu ta bảo: “Cứ tụ tập trên 5 người là trái pháp luật.

Tôi hỏi:

– Thế khi đảng csvn tụ tập mấy triệu quân để chiếm miền Nam thì có trái pháp luật không?

Khi JB Nguyễn Hữu Vinh bị chõ loa điện vào mặt yêu cầu giải tán. Anh bảo: “Mồm ông thối hoắc mà cứ chõ vào mặt người ta mà nói, ai mà ngửi được. Ông về đánh răng đi”

Muốn quát tháo gì thì quát, doàn người cứ đi trong trật tự. Đi đến đâu, công an tất tả vượt lên chặn trước, bắt quay lại. Đoàn người quay lại, họ lại vượt lên chặn, lại bắt quay lại. Thật không hiểu nổi bọn này thế nào nữa. Hỏi, vậy thì đi đâu? Chẳng đứa nào trả lời, chỉ thấy hô hét, giải tán, giải tán. Giải tán mà đi xuôi không được, đi ngược không được thì giải tán thế nào?

Mỗi khi bị chặn, đoàn tuần hành dồn vào một chỗ, hát to những bài hát. Bài hát được sử dụng nhiều nhất là “Dậy mà đi”

httpv://www.youtube.com/watch?v=AydrBDAg-IQ

Dậy mà đi (clip NTT)

Đàn áp

Giằng co được khoảng 30 phút thì một chiếc xe bus trờ tới, cho thấy sắp bắt người. Khoảng vài phút sau, màn bắt bớ diễn ra. Tất cả áo dài nằm hết ra vỉa hè, tất nhiên, với những cái đầu rỗng nhưng khỏe về cơ bắp, chúng vẫn cưỡng bức được chị em lên xe. Chúng bắt đi 16 người tất cả, kể cả một em bé 4 tuổi. Lần này, chúng không đưa lên trại Lộc Hà nữa mà đưa sang quận Long Biên. Rất nhiều anh em đã sang Long Biên đòi người. Những lần trước bắt chúng tôi sang trại Lộc Hà, thường là đến chiều tối, chúng mới thả ra hết nhưng lần này chúng thả sớm hơn, vào khoảng 3 giờ chiều.

Đàn áp tuần hành. Ảnh fb Hoang Bui

httpv://www.youtube.com/watch?v=k8bs8IMJO98

Công an bắt người (clip NTT)

Cản trở không cho về:

Sau khi bắt người, còn lại vài chục người ngồi, người đứng nói chuyện với nhau, chụp ảnh. Họ lại đến bắt giải tán. Chẳng có lý do gì giải tán chúng tôi. Chúng tôi vừa cãi cự, vừa ngồi ỳ ra đấy. Không làm gì được, họ bỏ đi. Nhưng đến khi chúng tôi di chuyển về hướng Vườn hoa Lý Thái Tổ thì mấy tay, vẻ là sếp, hốt hoảng gọi quân chạy theo. Có lẽ trong số nhận viên làm nhiệm vụ ở đấy, cũng có người chẳng thiết gì cái trò làm dụng công vụ mà họ phải thường xuyên chứng kiến. Tay chỉ huy gọi lạc giọng:

-Các “đồng chí” đâu cả rồi, nhanh lên chứ, để thế này à?

Chúng tôi có làm gì đâu. Chúng tôi đang đi về phía gửi xe.

Thế nhưng họ cứ dàn hàng ngang chặn đầu không cho đi, bắt quay lại. Chắc là sợ chúng tôi tuần hành tiếp. Mà quay lại thì chúng tôi vẫn đi như thế. Mọi người nhau nhao phản đối còn bọn mấy cậu công an chỉ biết kiên quyết chặn lại, chịu cho mọi người mắng mỏ vì biết trả lời sao. Mặc cho họ dàn hàng chặn, chúng tôi cứ vượt lên. Qua 4, 5 lần như thế thì họ chặn được, vì lúc này họ đã tăng cường thêm quân.

Tôi chỉ vào phố Lê Lai đã gần ngay đó, bảo:

-Tôi gửi xe ở Lê Lai. Bây giờ tôi đến lấy xe để về. Các cậu bảo quay lại thì lấy xe thế nào? Ấy vậy mà chúng cứ khăng khăng bắt quay lại. Thật là quái dị. Tôi bực mình kéo bà xã xuống lòng đường băng sang bên kia. Mấy đứa còn chạy theo định bắt tôi lại không cho về nữa cơ chứ.

Qua cách làm việc của công an nhằm giải tán tuần hành cho thấy, chính quyền và công an Hà Nội đã rất lúng túng khi thực hiện ý đồ của họ

Chắc chắn nếu không có sự gây rối của công an thì Bờ Hồ hôm nay sẽ đẹp hơn bởi các tà áo dài bày tỏ tình yêu đối với cây xanh Hà Nội một cách ôn hòa và trật tự

httpv://www.youtube.com/watch?v=14G0o_KvRVE

Công an cản trở quyền đi lại của công dân (clip fb Rita Nguyen)

Không thể cấm được tình yêu cây xanh của người Hà Nội.

Bị bắt vào đồn. Ảnh fb Tuyen Chi Nguyen

Đòi người trước đồn CA Long Biên. Ảnh fb Nguyễn Lân Thắng

Vin vào việc cấm tụ tập đông người, vu cáo cho những người tuần hành ôn hòa gây rối trật tự công cộng, mục đích của nhà cầm quyền Hà Nội là nhằm giải tán cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh. Bằng chứng cho thấy hàng ngày, rất đông người có mặt từng cụm, từng đoàn ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm mà họ không cho là tụ tập đông người. Thái độ của lãnh đạo Hà Nội đã rõ. Họ còn nợ dân, nợ các nhà báo rất nhiều câu hỏi xung quanh việc hạ sát cây xanh. Còn quá nhiều điều vẫn nằm trong vòng bí mật mà dân thì đòi minh bạch.

Ngược lại, với những người bảo vệ cây xanh hà Nội thì chỉ khi nào, nhà cầm quyền Hà Nội đình chỉ việc chặt cây chứ không phải chỉ là tạm dừng và phải minh bạch vụ chặt 6700 cây thì mới thôi phản đối.

Hà Nội 26/4/2015

NTT

P/s: Một số hình ảnh ghi chú chung chung do chưa rõ. Thành thật xin lỗi tác giả.

Phụ lục: .Danh sách bị bắt về đồn công an:

1. Nguyễn Thúy Hạnh (FB Hạnh Liberty)

2. Trần Thị Nga (FB Thuy Nga)

3. Phạm Đoan Trang (FB Doan Trang)

4. Nguyễn Lê Hùng (FB Le Hung)

5. Trương Văn Dũng (FB Truong van Dung)

6. Một người tên Trang

7. Tuyet Anh Jethwa

8. Trần Thị Hài

9. Maria Thuý Nguyễn và 3 con gái

10. Hoàng Trương Phước

11. Nguyễn Thị Gam

12. Nguyễn Thị Hướng

13. FB Thảo Gạo

14. Lê Thị Thanh Hương

15. Nguyễn Thị Phương Anh

16. Bé Đoàn Vĩnh Phúc 4 tuổi

Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-04-28

Quân nhân Mỹ gốc Việt chia sẻ nhân ngày 30/4

Hoa-Ai-620.jpg

Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và phóng viên Hòa Ái chụp tại RFA tháng 4/2015

RFA photo

Your browser does not support the audio element.

Trong số gần 3000 quân nhân Mỹ gốc Việt hiện nay thì có khoảng 300-400 người trong số họ thuộc thế hệ 1.5, là những người được sinh ra ở VN trong thời gian chiến tranh nhưng lại sinh trưởng ở Hoa Kỳ. Nhân 40 năm ngày chiến tranh VN kết thúc, Hòa Ái có cuộc trao đổi với cựu Trung tá Bộ binh Ross Nguyễn Cao Nguyên để nghe chia sẻ về cuộc đời của ông luôn gắn liền với 2 chữ “chiến tranh”.

Hòa Ái: Hòa Ái xin phép được chào cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên.

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cám ơn cô Hòa Ái. Nhân dịp này Cao Nguyên xin kính chào quý khán thính giả đài ACTD.

Hòa Ái: Xin phép được hỏi cựu Trung tá vào thời điểm hiện nay tưởng niệm biến cố 30/4, hồi ức của ông về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh VN thì là ông nhớ lại là những hình ảnh gì?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Thời gian thấm thoát đi quá mau. Cô Hòa Ái cũng biết, thấm thoát thế mà đã 40 năm rồi. Gia đình của Nguyên được may mắn đi vào ngày 27/4/1975 trên chiếc C141, tàu bay cuối cùng của Mỹ. Ngày hôm đó, một điều mà Nguyên nhớ mãi đến nay là khi gia đình đã được xong giấy tờ của Quân lực Hoa Kỳ, ngồi trong xe buýt chạy ra cuối phi đạo Tân Sơn Nhất đợi tàu bay C141 tới.

Nguyên còn nhớ ngày Chủ Nhật, 27/4 này, lúc đó Nguyên được 16 tuổi. Nguyên thấy một số binh sĩ nhảy dù của Quân lực VNCH, có thể kêu là một đại đội Nhảy dù trấn đóng để bảo vệ Tân Sơn Nhất. Họ đứng nhìn từ phía sau hàng rào (fence) nhưng không ai la hét hay chửi bới gì hết. Tất cả những người đứng đó với một cặp mắt mà đối với Nguyên là một cặp mắt vừa buồn, vừa giận và có một vẻ gì đó hơi khinh bỉ.

Đó là niềm nhớ mãi mãi ở trong lòng của Nguyên. Đối với Nguyên, Nhảy dù là một binh chủng rất là dữ dội của Quân lực VNCH, hãy còn trật tự, hãy còn giữ đầy đủ cái tư cách của một người lính đứng nhìn những người đã bỏ nước mà đi.

Đối với Nguyên đó là điều rất là buồn trong lòng của mình tại mình biết mình bỏ người ta đi nhưng đó là một cái chuyện không thể nào đoán được.

Hòa Ái: Thưa ông, theo những chia sẻ của ông thì những hình ảnh trong ký ức đọng lại trong lòng ông có ít nhiều tác động đến quyết định trong việc chọn lựa cuộc đời binh nghiệp cho mình hay không?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Cô Hòa Ái phải biết, càng lớn tuổi chừng nào thì Cao Nguyên càng tin vào số mệnh chừng đó. Khi tôi khoảng chừng 12 tuổi thì đã nhất định đi theo bước chân của ba.

Ba của tôi là ông Nguyễn Đình Bản, Đại tá khóa 5 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1974, Nguyên nói với bố là “khi con thi xong tú tài thì con sẽ xin vào trường Võ Bị”. Năm 1975 mất nước mà khi mất nước rồi mình qua bên Mỹ thì ai cũng biết mình phải lo cuộc sống ở Hoa Kỳ nên chuyện vào trong quân đội bị chìm vào dĩ vãng. Nhưng đến năm 1983, khi Nguyên ra trường đại học rồi thì cảm thấy những điều mình đã trải qua từ năm 75 đến năm 83 có vẻ không đúng cái mộng mà mình muốn làm.

11025647_10203103439741974_9177133296691183971_n-400.jpg

Cựu Trung tá Ross Nguyễn Cao Nguyên và con trai.

Một hôm (trong công việc làm) được gửi đến Fort Sill, một căn cứ pháo binh của Hoa Kỳ ở Oklahoma thì Nguyên thấy mấy anh Thiếu úy đi qua đi lại rồi Nguyên tự hỏi là “không biết đời lính như thế nào”. Nguyên mới về kí giấy xin đi vào trong quân đội thì được Bộ binh nhận. Thấm thoát 28 năm sau, bây giờ con trai cũng ở trong quân đội Mỹ nên gia đình của Nguyên được 3 đời trong quân đội, rất là hãnh diện.

Hòa Ái: Ký ức tuổi thơ ở VN của ông gắn liền với chiến tranh dưới lăng kính của một cậu thanh niên vừa mới lớn; và trong cuộc đời binh nghiệp, ông từng có mặt ở nhiều chiến trường trên thế giới, nhân sinh quan của ông về chiến tranh có khác biệt so với hồi xưa không?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Rất là khác biệt. Cô nói rất đúng! Sau 1 năm đóng ở Iraq, phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ thì Nguyên đã thấy được rằng chiến tranh đối với Nguyên là một phương tiện cuối cùng. Khi mình không còn phương tiện nào khác nữa mà khi đi đến chiến tranh rồi thì cô biết chiến tranh rất là tàn khốc, người chết, người bị thương, nhà tan cửa nát, gia đình ly tán…

Cho nên đối với Nguyên nếu có cuộc cách mạng nào (revolution) hay việc gì đó thì trước nhất là phải hòa bình (peaceful). Muốn thay đổi thì tự thay đổi chứ không cần đụng đến chiến tranh. Khi đưa đến chiến tranh rồi thì khó lắm, cũng như trường hợp bên nước Syria bây giờ, hơn 4 triệu người dân Syria bị tan nát cho nên những người mặc quân phục rất sợ chiến tranh.

Không phải sợ là vì không đủ sức làm mà sợ là vì khi đưa đến chiến tranh rồi thì phải có đánh nhau và giết nhau. Vì đánh nhau, giết nhau và ghét nhau phải đến 3-4 đời người mới trở lại được hòa ái và thương yêu nhau nên Nguyên sợ chiến tranh lắm.

Hòa Ái: Có vẻ như mâu thuẫn khi ông chia sẻ chọn cuộc đời binh nghiệp nhưng lại sợ chiến tranh. Hiện nay, Hòa Ái cũng ghi nhận được một số những người trẻ ở VN thì họ vẫn không có thiện cảm với quân nhân Mỹ. Theo như lịch sử họ học ngày xưa “Mỹ là kẻ thù của VN”. Bây giờ vẫn còn một số người vẫn cho rằng lính Mỹ là lính đánh thuê. Nếu như có cơ hội nói chuyện với họ thì ông sẽ nói gì?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Nguyên sẽ nói rằng lính Mỹ thật ra không phải là những người lính đánh thuê. Các bạn phải hiểu rằng nước Mỹ bây giờ vẫn là một cường quốc, vẫn là một nước giàu nhất trên thế giới mà khi mình đã giàu như vậy thì mình phải bằng mọi cách chia sẻ sự văn minh, sự tiến bộ, sự tự do dân chủ cho tất cả các nước mà mình có thể tiếp xúc được.

Không phải là mình đàn áp hoặc bắt người ta phải theo mình nhưng mà vì tự do và dân chủ, nước Mỹ đã trở thành một cường quốc như thế này. Một con người không thể nào bị đàn áp bởi tất cả chế độ nào hết. Chuyện Mỹ đi đánh là tại vì Mỹ đã thấy những người dân ở những nước bị đàn áp thật là khổ và thật là vô nhân đạo thì họ sẽ bằng mọi cách cố gắng để giúp những người dân đó. Như Nguyên đã nói, khi đã đụng đến chiến tranh thì Mỹ đánh là phải đánh cho cùng. Vì thế hiện giờ có nhiều chuyện rất là lủng củng trong chính quyền của Mỹ, nhưng tấm lòng của người Mỹ lúc nào cũng là tốt.

Hòa Ái: Câu hỏi cuối cùng là hiện nay có lẽ ông cũng biết VN có tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Tình hình càng ngày càng leo thang. Mặc dù VN luôn chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, trước những hành động hung hăng của Trung Quốc bây giờ, nhiều chuyên gia phân tích rằng biện pháp quân sự cũng không loại trừ. Ông nghĩ sao nếu trong trường hợp xấu nhất có xảy ra chiến tranh ở Biển Đông, liệu những cựu quân nhân Mỹ gốc Việt như ông sẽ có những đóng góp nào để bảo toàn lãnh thổ cho đất mẹ?

Ông Nguyễn Cao Nguyên: Chuyện đó thì những người quân nhân Mỹ gốc Việt chúng tôi đã giơ tay tuyên thệ là phục vụ cho quân lực Hoa Kỳ. Cô cũng biết Hoa Kỳ hiện giờ đã bằng mọi cách trở về VN, không những về sinh hoạt kinh tế mà đến cả quân sự nữa. Không dám nói là vì sự đàn áp của Trung cộng nhưng mà ảnh hưởng của Trung cộng hiện giờ rất là mạnh trong vùng ĐNA, nhất là vùng của VN.

Sớm muộn gì nếu Trung cộng muốn bành trướng áp lực của họ bằng mọi cách chính trị hoặc là quân sự xuống ĐNA thì dĩ nhiên Hoa Kỳ không thể nào để chuyện đó xảy ra vì vùng đó rất là quan trọng về đường hải lộ. Nếu có chiến tranh xảy ra với Trung cộng thì chúng tôi, những quân nhân Mỹ gốc Việt, cũng phải tình nguyện hoặc bổ nhiệm đi vào những đơn vị đó và phải đánh. Nhưng theo cái kinh nghiệm của Nguyên với sự học hỏi của Nguyên là chiến tranh ở vùng ĐNA sẽ không đi tới tại vì ảnh hưởng về kinh tế, về xã hội của Trung cộng và nước Mỹ đã dính liền với nhau rất là nhiều, đưa đến chiến tranh thì rất là khó. Thể nào cũng đưa ra giải pháp yên ổn (tiếng Mỹ gọi là “peaceful solution”) nhưng với một điều kiện là quân đội Hoa Kỳ phải có mặt ở đó. Bây giờ Nguyên cũng thấy chính phủ VN và chính phủ Hoa Kỳ đã từ từ bắt tay lại, hợp tác với nhau rất là nhiều.

Hòa Ái: Xin được cảm ơn ông dành thời gian chia sẻ với quý khán thính giả của đài.