Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-04-30

04302015-2014-huma-riht-reporti-in-vn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, trụ sở ở bang California, Hoa Kỳ chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, trụ sở ở bang California, Hoa Kỳ chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014

RFA files

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, có trụ sở ở bang California, Mỹ, chuẩn bị công bố báo cáo về tình hình nhân quyền Việt Nam năm 2014. Hải Ninh có bài phỏng vấn với tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của mạng lưới. Mở đầu, ông Bá Tùng cho biết điểm đáng chú ý nhất trong báo cáo nhân quyền năm nay như sau:

Nguyễn Bá Tùng: Thưa quý khán thính giả, thì cũng như mọi năm, báo cáo nhân quyền tiếp theo nói lên sự vi phạm nhân quyền của nhà nước đối với người dân ở trong nước. Nhưng mà như chị cũng đã biết năm 2014 có nhiều hoạt động của giới đấu tranh nhân quyền, cho nên song song nói đến những cái vi phạm, chúng tôi còn nói đến những hoạt động của những anh chị đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước, đó là điểm đặc biệt của báo cáo năm nay. Như chị đã biết, trong năm 2013 thì vấn đề bạo hành đối với những nhà đấu tranh nhân quyền ít hơn năm 2014. Chúng tôi có thể nói rằng không có một nhà đấu tranh nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2014 khi xuất hiện mà không chịu sự hành hạ, truy đuổi và bạo hành của nhà nước. Đó là cái điểm hạn chế, cái sự gia tăng của nhà nước đối với những nhà đấu tranh nhân quyền ở trong nước. Năm 2014 có những phong trào như “nhà báo độc lập” được hình thành, rồi chiến dịch “chúng tôi muốn biết”, rồi những cái cà phê nhân quyền. Tất cả những hoạt động sôi động đó làm cho người trong nước và đặc biệt chúng tôi ở Hải ngoại cũng cảm thấy nức lòng vì chúng tôi biết rằng cái công cuộc đấu tranh ở trong nước càng ngày càng nhịp nhàng hơn, càng có tổ chức hơn.  Đó là cái câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi của chị.

Hải Ninh: Thưa ông, dường như các nhóm hoạt động nhân quyền trong nước đang ngày càng trưởng thành tuy nhiên đi kèm với nó là sự đàn áp của giới chức trong nước. Vậy mạng lưới nhân quyền có thể giúp gì cho những nhà hoạt động ở Việt Nam?

Nguyễn Bá Tùng: Các nhà đấu tranh ở trong nước khi dấn thân vào con đường nguy hiểm này thì đều đã chấp nhận những rủi ro những đau khổ của việc đấu tranh. Còn chúng tôi ở ngoài này, những người ở hải ngoại có nhiệm vụ phụ trợ, phụ trợ bằng nhiều cách. Chúng tôi có thể tiếp xúc với các giới hữu trách ở các quốc gia ở giới dân chủ, các tổ chức nhân quyền quốc tế để mà qua họ mình gây áp lực được với nhà nước Việt Nam trong vấn đề nương tay với nhà đấu tranh trong nước. Tôi nghĩ đó là những điều mình chỉ có thể làm được như vậy thôi.

Hải Ninh: Xin trở lại báo cáo năm 2014 của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam. Trong 6 năm kể từ khi ra báo cáo này, ông có thấy tình hình nhân quyền ở Việt Nam có thay đổi gì không và thay đổi theo chiều hướng nào?

” Chúng tôi có thể nói rằng không có một nhà đấu tranh nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2014 khi xuất hiện mà không chịu sự hành hạ, truy đuổi và bạo hành của nhà nước

Nguyễn Bá Tùng”

Nguyễn Bá Tùng: Nói một cách cụ thể hơn, chẳng hạn như so sánh năm 2013 và 2014 và báo cáo nhân quyền của mạng lưới nhân quyền nêu lên thì chúng tôi thấy vấn đề đàn áp nhân quyền càng tồi tệ hơn. Không phải là chúng tôi nói theo kiểu tuyên truyền mà chúng tôi có những con số. Chẳng hạn như án tử hình, số người bị kết án tử hình và chờ ngày thi hành án là 742 người, tăng hơn 58 người so với thời ký đó năm 2013. Rồi vấn đề bạo hành của công an, trong năm 2013 chúng tôi ghi nhận 13 trường hợp người dân bị chết trong đồn công an, nhưng trong năm 2014 có thêm 24 trường hợp. Rồi vấn đề đối với những nhà đấu tranh cho nhân quyền thì như tôi nói khi nãy, chúng tôi có thể nói rằng không có nhà đấu tranh nhân quyền nào ở trong nước trong năm 2014 mà không có một lần bị công an truy đuổi rồi là hành hung. Rồi vấn đề buôn người chẳng hạn, thì trong 6 tháng đầu năm năm 2014 so với 6 tháng trong năm 2013 tăng thêm 16%. Đó là số liệu của nhà nước. Thì như vậy đó là một vài con số để cho thấy rằng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2014 nó tồi tệ hơn trong năm 2013.

Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, điều hợp viên của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam

Hải Ninh: Theo như ông nói thì có vẻ như tình hình nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tăm tối. Tuy nhiên, Việt Nam đã gia nhập hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc, chẳng phải những động thái bắt bớ, đàn áp trên khiến bộ mặt của họ xấu đi hay sao?

Nguyễn Bá Tùng: Thật sự như thế này chị, không phải nhà nước không biết điều đó, vì họ biết được điều đó nên họ làm mọi cách để mà có một bộ mặt tôn trọng nhân quyền. Chẳng hạn như đối với vấn đề tù nhân, trong năm 2014 họ đã thả 12 tù chính trị, nhưng đồng thời họ đã bắt vào 55 người và kết án 44 người. Nói giống như ông Brad Adams của Human Rights Watch có nói đó, cái việc làm nhà nước giống như cái cộng quay, ra đường này vô đường khác. Rồi vấn đề cho phép tập hợp quyền biểu tình, trong lúc nhà nước muốn làm đẹp hình ảnh của mình cho những nhóm đồng tính luyến ái diễu hành trên đường phố Sài Gòn Hà Nội, nhưng đồng thời họ lại bắt bớ những người biểu tình chống đối Trung Quốc xâm lược, đòi tự do ngôn luận. Nói tóm lại là nhà nước cố gắng hết sức để chứng tỏ rằng mình tôn trọng nhân quyền với vai trò của một thành viên của hội đồng nhân quyền, nhưng đồng thời đó là những cố gắng nửa vời, không thành thực, tôi nói những điều đấy, nhà nước không thành thực trong vấn đề cải thiện vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Họ muốn giữ cái độc quyền là Đảng chính trị, muốn độc tôn vấn đề lãnh đạo chính trị, thì không có cách nào khác bằng cách bóp miệng người dân, không cho người dân nói. Để bảo đảm quyền độc tôn lãnh đạo chính trị họ phải đàn áp, đó là cái điều tất yếu.

” Các nhà đấu tranh ở trong nước khi dấn thân vào con đường nguy hiểm này thì đều đã chấp nhận những rủi ro những đau khổ của việc đấu tranh. Còn chúng tôi ở ngoài này, những người ở hải ngoại có nhiệm vụ phụ trợ, phụ trợ bằng nhiều cách

Nguyễn Bá Tùng”

Hải Ninh: Trong báo cáo, ông có đưa ra những khuyến nghị dành cho chính phủ Việt Nam. Theo ông, chính phủ Việt Nam có thể thực hiện điều nào trong danh sách khuyến nghị đó để có thể cải thiện đáng kể bộ mặt nhân quyền của Việt Nam?

Nguyễn Bá Tùng: Tôi nghĩ rằng cái tiên quyết nếu nhà nước có quyết tâm là điều 4 hiến pháp. Điều 4 hiến pháp là cái nguồn gốc của mọi sự xấu, tất nhiên là họ bảo vệ quyền lãnh đạo của Đảng, và vì muốn bảo vệ sự độc tôn lãnh đạo của Đảng và họ đã tìm mọi cách để bóp nghẹt tiếng nói của người dân, từ mọi quyền, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí, tất cả mọi thứ quyền đã được quy định trong Tuyên ngôn dân quyền họ đều bóp nghẹt, bởi vì họ muốn họ là lực lượng lãnh đạo duy nhất như hiến pháp hiện nay ở điều 4 quy định. Đó là điều mà tôi thấy đó là nguồn gốc của mọi sự việc.

Hải Ninh: Báo cáo cũng đưa ra khuyến nghị đối với thế giới và các tổ chức quan tâm. Đó là những khuyến nghị gì, thưa ông?

Nguyễn Bá Tùng: Trong khuyến nghị của bản báo cáo năm nay chúng tôi có nói đến một cái trường hợp cụ thể đối với chính quyền Hoa Kỳ chẳng hạn. Chính quyền Hoa Kỳ thì có nhiều cái đòn bẩy để cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam chẳng hạn như là hiệp ước xuyên Thái Bình Dương Mậu Dịch đó thì nếu như nhà nước Hoa Kỳ mà đặt vấn đề nhân quyền là một giá trị như truyền thống của họ, thì họ có thể ép buộc nhà nước Việt Nam tôn trọng một cách cụ thể chẳng hạn như thả tù chính trị, vấn đề quyền của người công nhân phải được ghi vào trong cái hiệp định về Mậu dịch Xuyên Thái Bình Dương. Đó là những điều mà chính phủ Hoa Kỳ có thể làm được.

Hải Ninh: Vâng, xin cảm ơn ông đã dành cho đài Á châu Tự do cuộc phỏng vấn này.

Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Viết từ Sài Gòn: Bị ăn quỵt đau vẫn phải ngậm miệng

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ, thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.

Ngày 30-4 qua rồi, “những người ở lại” như tôi và có lẽ cả những người “Sài Gòn muôn năm cũ” cũng trút được một gánh nặng. Bây giờ xin trở về với những chuyện đời thường.

Nguyên nhân nào khiến người dân không tố cáo tham nhũng

Ngày 14-4-2015 vừa qua, Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển và Hỗ Trợ Cộng Đồng (CECODES), Trung Tâm Bồi Dưỡng Cán Bộ và Nghiên Cứu Khoa Học MTTQ Việt Nam cùng Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố kết quả cuộc khảo sát chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2014 (PAPI 2014).
Theo công bố, tình hình tham nhũng vặt có chiều gia tăng. Kết quả nghiên cứu, đánh giá của người dân về tình trạng tham nhũng trong khu vực công cho thấy hiệu quả kiểm soát tham nhũng của các cấp chính quyền là “ít có chuyển biến tích cực.” Thậm chí, trong một số lĩnh vực, mức độ vòi vĩnh, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức nhà nước là “có xu hướng gia tăng.”
Thật ra tham nhũng vặt sờ ở đâu cũng thấy, từ phường xã đến huyện tỉnh đều như nhau, bất kể ở lãnh vực nào. Xin cái giấy phép con cũng phải xì tiền ra mới xong. Giấy phép kinh doanh còn khó khăn hơn nữa. Xin cái sổ đỏ, bán cái nhà, mua miếng đất cũng đều có cái giá phải trả. Nếu không thì cứ chờ vêu mặt vẫn chưa chịu ký. Điều đó như đã thành “tiền lệ,” người dân VN ai cũng biết, chẳng cần phải nghiên cứu làm chi cho mệt.
Lý giải về nguyên nhân tham nhũng vặt không suy giảm mà còn có dấu hiệu tăng, TS Đặng Hoàng Giang cho rằng phần lớn những người nhận tham nhũng không hề chịu một hậu quả nào, thậm chí họ còn coi số ít đồng nghiệp khước từ tham nhũng như những người gàn hay đạo đức giả. Mặt khác, người dân sử dụng dịch vụ công thường không đủ dũng cảm để là những người đầu tiên “bước ra ngoài cuộc chơi.” Người dân có tâm lý cam chịu vì họ nghĩ rằng cái vòng tròn khép kín này quá mạnh, họ lẻ loi và không thể nào phá được nó. Họ không tin là sẽ được bảo vệ nếu phá nó.
Có bốn nguyên nhân người dân chịu đựng tham nhũng mà không tố cáo:
– Hơn 56% cho rằng tố cáo không mang lại lợi ích gì.
– 7.7% sợ bị trả thù.
– 9% cho rằng thủ tục tố cáo rườm rà.
– 7.3% không biết tố cáo bằng cách nào.

Cảnh đón người thân tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngay từ trên máy bay, người nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền. (Hoang Dinh Nam/Getty Images)

Tham nhũng có hệ thống nên vẫn sống dai sống khỏe

Người ta nói tham nhũng nước nào cũng có, nhưng ở các nước hầu hết chỉ có những cá nhân riêng lẻ có quyền hành mới tham nhũng và được điều tra đến nơi đến chốn dù có là Tổng Thống hay Thủ Tướng cũng thế thôi, nhưng ở VN tham nhũng có hệ thống và thường được tổ chức rất bài bản khép kín. Nói cho rõ là anh tham nhũng vặt ăn được 100 đồng, phải chi “lên trên” 50 đồng (ít nhiều tùy theo chỗ nào béo bở, chỗ nào ít hơn). Đôi khi nộp lên trên rồi lại phải chia cho những ngàng ngang cấp.
Và, cái sự ăn vặt đó công khai, ai cũng biết, tai tiếng rần rần nhưng nó vẫn công khai tồn tại, sống lâu sống khỏe. Bởi họ bảo vệ nhau triệt để, các quan trên đều biết cũng cứ ngậm miệng làm thinh. Ngay cả những việc làm nhục quốc thể vẫn ngang nhiên hoành hành.
Một thí dụ như khi qua cửa khẩu vào đến VN. Ngay từ trên máy bay, những bà con từ nước ngoài về thăm nhà đã nhắc nhau “nhớ bỏ vài chục đô vào hộ chiếu cho chúng nó nhá.” Nếu không có vài chục đô, chắc chắn sẽ bị “hành” đủ thứ, đồ đạc bị lục tung, đôi khi còn bị móc va ly “chôm” vài thứ đáng tiền.

Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về

Tài khoản facebook Gigi Ngo vừa mới đăng tải dòng status của Gigi Ngo hết sức phẫn uất về sự việc đã xảy ra tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cô cho hay đã bị rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và hai chai nước hoa.. Tiếp theo, cô nàng còn bày tỏ bức xúc rằng trước đã bị trả giá 200,000 đ tiền cafe khi qua cửa hải quan. Cô viết, “(…) sân bay Tân Sơn Nhất, hành lý người ta đóng mấy lớp mà cũng cố rọc thùng rọc vali lấy thuốc bổ, vitamin và lấy hai chai nước hoa xong còn để lại cái bịt ni lông, may phước mà cái đồng hồ của Natalia Tran vẫn còn, chưa lục tiếp mấy đồng hồ của mình còn không huhuhu. Đã vậy qua hải quan còn kêu lại xin $20, mình nói không có đủ tiền cho 100k được không? Hải quan trả giá thôi cho 200k đi uống cafe. Tức trào máu, phải chi cho tiền không bị mất đồ đằng này nó giữ hành lý mình 1.5 tiếng mới cho ra. Chuyến bay này ai cũng bị rọc lấy đồ thấy mấy cô chú Việt Kiều đứng chửi: Xứ gì mà ăn cắp, ai còn dám về. Nghe nhục gì đâu.”
Ngay sau khi dòng status được đăng tải đã có hàng trăm lượt like và hàng chục lượt chia sẻ thông tin về sự việc đau lòng này. Bên cạnh những dòng comment chia buồn, thông cảm với nạn nhân, thì rất nhiều ý kiến khác cũng đồng tình rằng đã từng bị hại như nhân vật chính tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Cái cảnh chướng tai gai mắt này đã xảy ra từ bao nhiêu năm nay, tôi cũng đã đề cập đến vài lần, báo chí trong và ngoài nước cũng đã từng lên tiếng rất nhiều. Nhưng mọi chuyện vẫn đâu đóng đấy, chẳng có tí “chuyển biến” nào. Chuyện nhục quốc thể đến như thế mà không ngăn chặn được hay không muốn ngăn chặn thì nói gì đến những chuyện vặt trong nước. Người dân cứ như nằm trong cái rọ, cựa quậy chỉ có thiệt thân. Không chỉ có mấy ông có chức vụ, có quyền lực tham nhũng mà ngay cả đến anh em họ hàng nhà quan cũng tha hồ ỷ quyền cậy thế hà hiếp dân lành. Ngoài ra còn phải kể đến các tay anh chị có “số má” ở các địa phương cũng “quậy” tới bến khi móc nối với các quan chức địa phương. Đám dân lành cũng chẳng dám ho he. Nhìn qua thế thôi cũng đủ thấy người dân lương thiện phải chịu bao nhiêu tầng áp bức.
Các quan ngồi trong phòng lạnh cứ việc vẽ ra dự án trên trời cuộc đời dưới đất, không cần chú ý tới lợi ích của người dân.

Đừng nuông chiều nhà thầu Trung Quốc nữa

Một thí dụ cụ thể như các quan làm dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông. Dự án này đã gây rất nhiều tai tiếng và tai nạn. Người dân bất bình, nhà nước sốt ruột, nhưng nó vẫn ỳ ra đó, như trêu ngươi, như thách thức.
Nó ỳ ra nhưng có vẻ như càng ỳ càng lợi, vì nếu công trình kéo dài thì lại tính tiền trượt giá, nâng thêm vốn, nhà đầu tư “chết,” còn nhà thầu Trung Quốc cứ thong thả nhặt tiền. Tin mới toanh, dự án này chậm tiến độ, “đội” vốn lên $868.06 triệu USD, tăng 315,18 triệu USD so với tổng mức đầu tư ban đầu.
Làm dự án kiểu này thì quá dễ, chậm tiến độ thì tăng vốn, thiếu vốn thì vay, chỉ có chết dân. Bởi vì vay ở đâu thì cuối cùng dân cũng è cổ ra để trả cả vốn lẫn lãi. Riêng dự án này, tổng thầu là Trung Quốc, một phần vốn vay ưu đãi cũng Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc làm ăn bê bối, nhưng nói ra mắc nghẹn ở cổ, vì vốn vay lại từ phía họ. Cũng như bị đòn đau mà đành ngậm bồ hòn làm ngọt.
Không chỉ chậm tiến độ, đội vốn, gây thiệt hại về kinh tế, dự án này còn là nỗi khiếp sợ về tai nạn. Đã có nhiều tai nạn xảy ra khiến có người chết và nhiều người bị thương, đè bẹp một xe taxi chạy qua.
Tổng thầu kém thì quá rõ rồi, nhưng những người chọn nhà thầu kém phải chịu trách nhiệm. Dự án trên cao, nhưng năng lực chuyên môn thì dưới thấp. Nhận ra tổng thầu dự án đường sắt trên cao kém, không đủ năng lực thì phải thay. Nếu không thể thay tổng thầu vì vướng quá nhiều thủ tục pháp lý, ràng buộc về tài chính thì phải có biện pháp quản lý cũng như quy định về chế tài để nhà thầu thi công đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng.
Không thể nuông chiều nhà thầu Trung Quốc này thêm nữa.

Đến chuyện doanh nghiệp nước ngoài đau mà không dám kêu

Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài mò sang VN làm ăn cũng bị móc họng, nhưng có khi mất tiền mà không làm được việc, bị các quan “ăn quịt” luôn, không chịu trả lại.
Theo VNNet, cả hội trường cười rầm rầm khi ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp Chế Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI), bình luận, tỷ lệ “ăn quỵt” năm qua đã giảm bớt. Bởi, doanh nghiệp chi tiền bôi trơn nhưng không phải lúc nào cũng được việc. Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra. Ông Tuấn dùng chữ “ăn quỵt” rất bình dân và rất đúng, nghe vừa tức cười vừa xấu hổ cho dân Việt.
Ông Tuấn giải thích rõ ràng: năm 2010, chỉ có hơn 47% doanh nghiệp FDI cho biết công việc đã được giải quyết đúng sau khi họ trả các khoản chi phí không chính thức, nhưng năm 2014, tỷ lệ này là hơn 58%. Điều đó cũng có nghĩa rằng, một số lớn các doanh nghiệp FDI trước đây đã bị “mất trắng” với công chức Việt Nam (53%) một khoản tiền lớn mà không được việc gì, và giờ thì con số này giảm xuống (42%).
Tức là việc “ăn quỵt” giảm được 9%. Vẫn cón đó 42% doanh nghiệp bị ăn quỵt, bằng gần một nửa doanh nghiệp dính vào cái bẫy hổ này mà không dám kêu.
Nỗi thống khổ của doanh nghiệp FDI càng đậm nét hơn, khi nghiên cứu này chỉ ra rằng: 17.2% doanh nghiệp đã phải bôi trơn khi xin giấy phép đầu tư, 31.4% phải chi tiền hoa hồng khi đấu thầu, 66.2% đều phải đưa phong bì lúc thông quan và 22,3% doanh nghiệp FDI đã không muốn đưa ra toà án khi có tranh chấp, bởi chạy án là phổ biến.
Nếu không trả hoa hồng, 89% doanh nghiệp FDI cho biết là sẽ có chuyện bất lợi xảy ra.
Ông Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH-ĐT, nói, “Doanh nghiệp lâu nay làm ăn dựa vào quan hệ với Nhà nước. Căn bệnh thâm căn, cố đế này đã ăn vào máu người Việt cả nửa thế kỷ nay, tức 50 năm, còn chúng ta mới chỉ nhận thức được vấn đề 20 năm thôi. Cho nên, phải đổi mới tư duy.”
Kêu gào “đổi mới tư duy” mãi mà chẳng thấy “tư duy” nào giúp cho đời sống của người dân Việt khá hơn. Cứ thấy thụt lùi dần. Nay tăng giá điện, mai tăng giá nước, mốt tăng giá xăng, tháng sau thu thêm “phí” nữa là “giờ đây đã đói càng thêm đói.”
Bên lề Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Xuân, có câu chuyện kể rằng, một hãng sữa lớn của Việt Nam tổ chức một buổi hội và có mời một anh phóng viên nước ngoài tham dự. Kết thúc buổi hội, hãng này tặng cho các đại biểu một túi quà nhỏ có vài hộp sữa. Nghĩ không giá trị nhiều, anh phóng viên nọ mang về trụ sở, mở túi ra và tá hỏa phát hiện một phong bì có 200.000 đồng ($9). Rất sợ hãi, anh này vội vã quay trở lại nơi tổ chức thì đã chẳng còn ai. Sau đó, anh phải tìm đến tận trụ sở công ty sữa đó để trả bằng được cái phong bì ấy.
Với người Mỹ, việc nhận quà bằng tiền mặt là tối kỵ và nếu có quà, tổng giá trị quá $20 USD sẽ phải trả lại. Còn ở VN thì khác, nếu anh nào cho vào phong bì ít quá sẽ bị chửi, cho nhiều thì tay bắt mặt mừng cứ như bạn bè thân thiết từ khuya rồi vậy. VN thắng Mỹ là ở chỗ đó!
Văn Quang

(1 tháng 5, 2015)

PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU

PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU

LM Mark Link

Cách đây mấy năm tập san Readers Digest có thuật lại một câu chuyện cảm động về một em bé trong bệnh viện Milwaukee.  Em này bị mù, đần độn, lại còn bị liệt não nữa.  Em chỉ khá hơn loài thảo mộc một chút là biết đáp ứng lại âm thanh và sự ve vuốt mà thôi.  Cha mẹ em đã bỏ rơi em.  Nhưng bệnh viện cũng chả biết xử lý thế nào với trường hợp của em.  Thế rồi có một người nhớ đến May Lempke, bà y tá 52 tuổi sống gần đấy.  Bà nầy đã từng nuôi nấng năm đứa con của chính mình, nên bà sẽ biết cách chăm sóc cho một đứa trẻ như thế.  Họ yêu cầu bà chăm sóc đứa bé và bảo: “Thằng bé có lẽ sẽ chết yểu!”  Bà May trả lời: “Nếu tôi chăm sóc đứa bé, nó sẽ không chết yểu đâu, và tôi rất sung sướng được chăm sóc cho nó.”

Thế là bà May đặt tên cho cậu bé là Leslie.  Chăm sóc cho cậu bé quả thật không dễ dàng chút nào.  Ngày nào bà cũng phải xoa bóp toàn thân đứa bé, bà đã cầu nguyện cho nó, đã khóc vì nó, bà đã đặt đôi tay nó lên những giọt lệ của bà.  Một hôm, có người nói với bà: “Tại sao bà không gởi đứa bé ấy vào viện?  Nó chỉ làm phí cuộc đời của bà thôi?

Leslie càng lớn thì càng có nhiều vấn đề phải đặt ra cho bà May.  Bà phải giữ nó chặt vào một chiếc ghế để nó khỏi bị té xuống.  Thời gian trôi qua, năm mười, mười lăm năm.  Mãi đến khi Leslie 16 tuổi, bà May mới có thể tập cho nó đứng một mình được.  Suốt thời gian đó, bà May vẫn tiếp tục yêu thương và cầu nguyện cho cậu bé.  Ngoài ra bà còn kể cho cậu bé nghe những mẩu chuyện về Chúa Giêsu dù xem ra cậu chẳng nghe được tiếng bà.

Thế rồi một ngày nọ, bà May chợt nhận thấy Leslie dùng ngón tay của mình búng vào một sợi dây căng thẳng trên một gói đồ.  Bà tự hỏi; điều ấy có ý nghĩa gì?  Biết đâu Leslie lại nhạy cảm với âm nhạc chăng?  Và bà May bắt đầu cho Leslie nghe âm nhạc.  Bà chơi đủ loại hình âm nhạc mà bà tưởng tượng ra được với hy vọng có một loại nào đó có thể lôi cuốn cậu bé.  Cuối cùng, bà May và chồng mua được một chiếc dương cầm cũ kỹ.  Họ đặt nó vào giường ngủ của Lislie.  Bà May cầm những ngón tay của Leslie đặt vào tay bà và tập cho cậu bé biết cách nhấn phím xuống, nhưng xem ra cậu ta chả hiểu.

Thế rồi vào một đêm đông năm 1971, bà May bừng thức giấc vì nghe có tiếng đờn của ai đó đang chơi bản hoà tấu dương cầm số 1 của Tchaikovsky.  Bà lay lay chồng đánh thức ông dậy, và hỏi xem ông có quên tắt radio không.  Ông ta nói rằng không, nhưng họ quyết định tốt hơn là nên xem xét lại.  Và họ khám phá ra một điều vượt khỏi mọi giấc mơ kỳ quái nhất của họ.  Cậu Leslie đang ngồi tại chiếc dương cầm.  Cậu đang mỉm cười và chơi đàn một cách ngẫu hứng không thể nào tin được đây là sự thật!

Trước đây Leslie chưa bao giờ bước ra khỏi giường một mình.  Trước đây cậu bé chưa bao giờ tự mình ngồi vào chiếc dương cầm được, cậu cũng chưa bao giờ tự dùng tay ấn được vào phím đàn.  Thế mà bây giờ đây cậu lại đang chơi đàn tuyệt vời như thế!  Bà May vội quì gối xuống và thốt lên: “Lạy Chúa!  Con xin cảm tạ Ngài, Ngài đã không bỏ quên Leslie.”

Chẳng bao lâu, Leslie bắt đầu kiếm sống bằng cây dương cầm.  Cậu chơi được nhạc cổ điển, nhạc đồng quê miền tây, nhạc trữ tình, nhạc dạo và cả nhạc Rock nữa.  Hoàn toàn không thể nào tin nổi.  Tất cả những bài nhạc bà May đã từng chơi cho cậu nghe đều tồn trữ trong óc cậu và giờ đây tuôn trào ra trên phím dương cầm qua đôi tay cậu.  Giờ đây ở tuổi 28, Leslie bắt đầu nói chuyện.  Tuy không thể đối thoại lâu giờ.  Nhưng cậu có thể đặt câu hỏi, trả lời những câu đơn giản và phát biểu được những lời phê bình ngắn gọn.  Chẳng hạn, một buổi tối kia, đang xem một vở hài kịch trên truyền hình, cậu cảm thấy cuộc đối thoại chán ngắt, cậu bèn nói:

“Tốt hơn là chúng ta nên tắt nó đi, cả bọn chỉ toàn là lũ điên!”

Dạo này, Leslie chơi nhạc hoà tấu cho những ca đoàn nhà thờ, cho các cơ quan dân sự, cho các nạn nhân liệt não và cha mẹ họ, cậu còn xuất hiện cả trên đài truyền hình quốc gia nữa!  Các bác sĩ mô tả Leslie như là một người thông thái bị mắc một loại tâm bệnh, nghĩa là một người chậm phát triển về trí tuệ do tổn thất nơi não nhưng lại cực kỳ tài năng.  Họ không thể cắt nghĩa được hiện tượng dị thường này cho dù họ biết về nó gần 200 năm rồi.   Bà May Lempke cũng không thể cắt nghĩa được điều ấy nhưng bà biết chắc rằng nhờ tình yêu mà tài năng ấy được khai mở.

Chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện của bà May Lempke với những gì bà đã làm được cho Leslie nhờ tình thương không mệt mỏi của bà.  Nó đặc biệt thích hợp với chúng ta ngày nay vì ba lý do;

Thứ nhất, bằng một cốt chuyện gây cảm động, câu chuyện cụ thể hoá sứ điệp hàm chứa trong các bài đọc hôm nay, được gọi là giáo huấn của Đức Giêsu về việc yêu thương nhau.

Thứ hai, nó đã cụ thể hoá thành một cốt chuyện lý do tại sao chúng ta lại dành ngày hôm nay để làm Ngày Cho Mẹ, bởi vì, thông thường, các bà mẹ sống lời Đức Giêsu dạy về tình thương một cách kiên nhẫn và trung thành hơn bất cứ nhóm người nào khác.

Sau cùng, câu chuyện cũng cụ thể hoá năng lực kinh khủng của tình yêu.  Những gì mà bà May đã làm vì tình yêu cho Leslie qủa thật là lạ lùng.  Đó chính là những gì Đức Giêsu đòi hỏi phải có cho một tình yêu thương đích thực.  Đó là một phương cách để tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại này, đúng như cách Đức Giêsu đã tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại Ngài.

Qua tình yêu, Thiên Chúa đã để chúng ta tùy nghi sử dụng cái năng lực mãnh liệt nhất, trên thế gian này, đó là thứ năng lực mà mọi tiền của trên thế gian không thể mua được.  Đó là thứ năng lực mà mọi tri thức trên thế gian không thể tạo ra được.  Đó là thứ năng lực mà mọi lãnh tụ trên thế giới không thể chiếm hữu được.  Đó cũng là thứ năng lực mà mọi đạo quân trên trần thế không thể tập trung lại được.  Và kiều kỳ diệu hơn nữa, Tình yêu là năng lực mà mọi người đều có.

Bất chấp nam hay nữ

Bất kể thuộc tôn giáo nào

Bất kể thuộc quốc tịch nào

Bất kể được giáo dục theo phương pháp nào.

Tình yêu chẳng dành riêng cho người khoẻ mạnh

Cũng chẳng dành riêng cho người giàu có

Cũng chẳng dành riêng cho kẻ khôn ngoan

Cũng chẳng dành riêng cho người danh giá.

Tình yêu dành cho tất cả mọi người

Tình yêu làm cho tất cả chúng ta bình đẳng

trước mặt Thiên Chúa và bình đẳng đối với nhau.

Đây chính là Tin Mừng chứa đựng trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay.  Đây là Tin Mừng có khả năng biến đổi thế giới chúng ta một cách tuyệt hảo chẳng khác nào tình yêu của bà May Lempke đã biến đổi thế giới của Leslie.  Đây chính là Tin Mừng mà chúng ta phải rao to từ trên mái nhà và sống với nó thật trọn vẹn.

Và nếu chúng ta làm được như thế, chúng ta cũng có thể làm được những phép lạ bằng tình yêu của chúng ta ngay trong kiếp sống này y như Đức Giêsu đã làm nên những phép lạ nhờ vào tình yêu của Ngài trong thời gian Ngài sống trên dương thế.

LM Mark Link

LỜI CHÚC: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

LỜI CHÚC: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.

– Chúa ở cùng anh chị em.

Dừng lại một chút, ta thấy những nghi thức này trong thánh lễ quá kỳ diệu.

Chúa ở cùng anh chị em là gì? Tại sao linh mục cần nhận lại lời cầu chúc:

– Và ở cùng cha.

* * *

Nhiều lần, nhiều nơi, trong nhiều thánh lễ, khi nói lời cầu chúc này, theo cách thế bên ngoài, thì có linh mục không nói bằng tâm hồn. Nói qua cho xong. Vì linh mục vừa nói, nhưng không đối thoại với giáo dân, thiếu chuẩn bị nên đang bận mở sách. Hoặc vì muốn chóng xong, cắt ngắn thời gian. Không có thời gian đón nhận lời giáo dân cầu chúc: Chúa ở cùng cha. Giáo dân đáp lại cho có lệ. Những lời chúc như thế trong thánh lễ nhạt nhẽo làm sao! Khi họ không tha thiết trong lời cầu chúc, thì làm sao dám nói họ thiết tha trong mong ước Chúa thật sự đến với người họ cầu chúc. Nếu vậy, Chúa ở đâu trong mối tương quan họ với Chúa, với nhau? Thiếu tha thiết trong lời cầu chúc, thì khó mà xác định mình thiết tha Chúa đến với người mình chúc. Từ đó, làm sao định nghĩa đấy là một thánh lễ sốt sáng.

Khi họ không nhận định kỹ “Chúa ở cùng anh chị em” là gì, thì làm sao rõ “Chúa ở cùng chúng ta”, và “Chúa ở cùng tôi” quan trọng đến đâu. Họ đánh mất ý nghĩa tên gọi EMMANUEL.

EMMANUEL là tên gọi của Thiên Chúa. Bởi đó, lời cầu chúc trong thánh lễ “Chúa ở cùng anh chị em” là lời rất quan trọng. Và, thánh lễ là gì nếu chúng ta để mất vẻ đẹp: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA?

* * *

EMMANUEL

– Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 2:24).

Khởi đầu Phúc Âm, Mátthêu giới thiệu tên của Thiên Chúa là Emmanuel, nghĩa là tên gọi đó được phiên dịch ra: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và rất đẹp, hôm nay chúng ta cụ thể hóa tên gọi đó trong lời chào của thánh lễ: “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.”

Kết thúc Phúc Âm, Mátthêu để chính Ðức Kitô tự nói về mình bằng lời chấm dứt như sau: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20).

Mở đầu và kết thúc một cuốn sách là dẫn vào và đưa tới cho người đọc toàn thể cuốn sách đó nói gì. Tư tưởng trọn gói ở đây, tên gọi của Thiên Chúa là ở cùng con người.

* * *

TÌNH YÊU VÀ Ở CÙNG

Thiên Chúa không yêu thương con người bằng cách từ trên cao nhìn xuống.

Thiên Chúa không cứu chuộc con người bằng cách ở trên cao vớt con người lên.

Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Chúa ở cùng.

Trong cuộc sống nhân loại, con người thường cứu nhau bằng sức mạnh của kẻ hơn. Kẻ có sức mạnh hơn, nhìn xuống kẻ yếu. Tôi giàu có hơn, tôi giúp đỡ anh. Tôi khỏe mạnh hơn, tôi vớt anh lên.

Màu nhiệm tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Mà là một tình yêu ở cùng. Kinh Thánh chỉ định, tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng.

Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng mà không phải ở trên thương xuống?

Tại sao tình yêu lại không là nhìn xuống để vớt lên mà lại là cùng xuống để nhìn?

Người môn sinh ưu tư với những băn khoăn.

Nắng trong vườn đã ngả dạt qua bờ dậu. Ráng chiều hoàng hôn rũ xuống lòng người môn sinh trẻ đang tầm thầy học đạo. Anh đã viết về tình yêu, đã nghe về tình yêu. Nhưng tình yêu vẫn là một huyền nhiệm. Tình yêu là gì?

Người môn sinh nhớ câu chuyện xa xưa:

– Bạch thầy, chúng con không chấp nhận nó được, nó ăn cắp, nó láu cá, nó làm biếng. Xin thầy đuổi nó về.

Mấy chú đệ tử nhỏ báo cáo với thầy. Và vị thiền sư đã bảo:

– Nó không biết phải, không biết trái nên mới cần ở với thầy. . .

Phêrô cũng thế, đã có lần Ðức Kitô gọi Phêrô là Satan. Nhưng Ngài không đuổi Phêrô. Ngài bảo: “Lui lại đàng sau Thầy.” Lui lại phía sau, chứ không là đuổi đi xa. Vì Satan đang ở trong con, nên con cần ở cùng Thầy.

Ðời người là những chặng đường kiếm tìm. Huyền nhiệm cuộc sống mở ra như những cánh hoa. Một ngày không tìm kiếm là một ngày chết ủ. Cánh hoa phải mở ra, bật lên thành màu. Bấy giờ mới là cánh hoa. Cuộc sống cũng thế, những ấp ủ băn khoăn kia phải bật lên thành màu mới là cuộc sống. Và ta phải tìm kiếm. Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng? Nhất là tên gọi kia của tình yêu Thiên Chúa. Tại sao lại là Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Ðể giúp người học trò tìm kiếm. Nhà đạo sĩ hỏi người học trò:

– Ngày con đau, mẹ con không là thầy thuốc. Bà không có quyền lực cứu con khỏi bệnh. Sao bà cứ đứng bên giường nhìn con, ngay cả khi con ngủ?

– Bạch thầy, vì thương con.

– Bà có chữa con hết bệnh được không?

– Bạch thầy, không.

– Không chữa được, vậy đứng đó làm gì?

Người học trò ngập ngừng.

– Bạch thầy, vì thương con.

– Thương, nhưng không làm sao chữa bệnh cho con được. Vậy thương là gì?

Người học trò bắt đầu hiểu. Tình yêu không cứ là “doing”, mà là “being.” Nghĩa là ở cùng. Thật ra, ở cùng, không phải là không làm gì. Bởi “ở cùng – being” đúng nghĩa là sự hiện hữu trọn gói. Khi linh mục nói “Chúa ở cùng anh chị em”, mà chỉ nói vì công thức cho qua. Như thế, sẽ là có “doing” đó, nhưng vắng mặt của “being.” Khi bà mẹ nhìn con ngủ trong cơn đau. Cứ chốc chốc, bà đến bên giường nhìn con ngủ. Bà không có năng lực chữa bệnh cho con. Bà không “doing” được điều gì theo nghĩa sản xuất. Bà chỉ hiện diện trọn gói tâm hồn bà ở đó. Ðấy là chiều sâu của ngôn ngữ ở cùng, là “being.”

Trong cuộc sống, tôi cần một người nhìn tôi. Nói với tôi là cuộc sống, có họ ở cùng với tôi. Người vợ dọn cơm chiều, chỉ mong chồng về, đến bên cạnh, thầm nói rằng “anh ở cùng em.” Buổi chiều đó có thể trở thành hương hoa. Họ cần cái ở cùng này. Người ta kinh nghiệm trong cuộc sống thực như thế. Không ai chỉ hạnh phúc bởi tấm pay check, có “doing” mà không có “being”. Trong nỗi đau, con người thường kêu:

– Lạy Chúa, xin cất chén đắng này cho con.

Họ muốn Thiên Chúa “doing”. Chúa hãy lấy quyền năng mà hành động. Nếu Chúa không cất nỗi đau cho con mà chỉ “being”, nghĩa là chỉ đau với con thôi thì có ích gì. Người ta lý luận tình yêu thì phải cụ thể bằng hành động. Chúa thương tôi, Chúa phải hành động, xin hãy tặng tôi những món quà tôi xin. Tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Thay vì cứu con người khỏi chết thì lại chết với con người. Thay vì cứu con người khỏi đau thì lại đau với con người. Trong nỗi bực dọc, con người oán trách Thiên Chúa. “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! (Lc. 23:39). Con người thách thức Thiên Chúa, cứu tôi đi, nếu thực sự thương tôi. Rồi tôi sẽ tin. Ðức Kitô không lấy quyền năng để cứu những tiếng kêu này. Ngài cũng không lấy quyền năng thoát khỏi cái chết này.

Tại sao tình yêu không là cứu người mình yêu khỏi chết, mà là chết cùng?

Trước khi tiếp tục đề tài. Vị đạo sĩ nhắc người học trò về một kinh nghiệm:

– Nỗi đau là không có ai đau cùng, chứ chưa hẳn là không có ai cất cho mình nỗi đau. Làm sao con có năng lực làm cho người chết sống lại? Con không cất được nỗi đau đó. Nhưng nếu con đau cùng, “being” bên cạnh người đang đau. Thì nỗi đau kia nhẹ vơi. Làm sao trong tình yêu mà người ta nói: Anh không cất được nỗi đau của em. Rồi người đàn bà đi sanh con một mình. Người đàn ông rất thực tế. Tôi không sanh con thay vợ tôi được. Tôi không “doing” gì được. Ông ở nhà đi câu.

Hạnh phúc và đau khổ không là cứu, là cho, mà là ở cùng.

Thiên Chúa ở cùng.

Người học trò im lặng suy nghĩ. Anh lắng nghe. Trong cái tĩnh mịch, anh mơ hồ nhìn thấy từ vùng im lặng đó, bật lên màu sắc của cuộc sống. Như những cánh mỏng thức giấc dần, bật màu thành bông hoa. Vị tôn sư như sợ người học trò ngần ngại với lời mình. Ông cắt nghĩa thêm:

– Thầy giả sử một vị tổng thống quyền uy, ông chỉ gật đầu, gia nhân của ông sẽ đem những người tỵ nạn vào nước ông. Ðó là cách nhìn xuống. Ðó là cách vớt lên. Nhưng giả sử, vị tổng thống ấy nghe tin còn mấy trăm người tỵ nạn mười mấy năm bơ vơ không quê hương. Nghe tin, ông tội nghiệp. Ông bỏ văn phòng. Ông đến với người tỵ nạn. Ông hỏi người tỵ nạn làm gì kiếm sống qua ngày. Dạ thưa ngài, tôi làm nghề rửa xe. Ðể hiểu, hiểu để thương, ông tổng thống quyền uy kia, mặt mũi lấm lem, quẹt mồ hôi, tóc bù xù dính dầu nhớt xăng, cũng chầu chực rửa xe, cũng ở bến xe, cũng gặm bánh mì. Con có thể hình dung một tổng thống nào dám làm thế không?

Người học trò im lặng hơn. Trong tâm trí anh. Anh không thể hình dung có chuyện đó. Anh hiểu ý vị tôn sư đang muốn nói, Thiên Chúa đã làm như vậy. Ðó là ý nghĩa EMMANUEL, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Khi cho một món quà là cho một phần tài sản. Khi cho chính mình là cho hết. Không thể cho hết khi mình không cùng giống thân phận người đó. Bởi thế, vô cùng tuyệt vời khi Phúc Âm tường thuật về người lính canh như sau:

Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. (Mc 15: 37).

Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói:

Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15: 39).

Hai sự kiện đặc biệt trong cụm từ “Tắt Thở” mà ta phải kiếm tìm.

– Thứ nhất, lúc tạo dựng con người. Thiên Chúa thở hơi, cho Ađam sự sống. Bấy giờ Thiên Chúa chỉ cho một chút hơi thở. Nhưng ở đây, Ngài không cho một chút hơi, mà Tắt Thở. Nghĩa là cho hết không còn hơi để thở. Như thế, tên gọi EMMANUEL, càng ngày theo chiều lịch sử cứu độ càng trở nên rực rỡ. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lời tung hô ấy như ngọn pháo bông muôn màu bật tung lên trong thánh lễ.

– Sự kiện thứ hai là viên đội trưởng, lính canh nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa khi Ngài “Tắt Thở”. Tắt thở là giây phút yếu nhất của một đời người. Ðáng nhẽ ông ta phải nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong những việc quyền năng, những phép lạ lớn lao. Tại sao lại nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong giây phút yếu đuối nhất?

Vị tôn sư nói với người học trò:

– Con ạ, hình ảnh người lính canh ở đây cho chúng ta một chiều sâu thiền niệm mà không biết ngọn núi cao nào, không biết vùng thinh lặng nào mới chỉ bảo cho chúng hết ý nghĩa. Trong giây phút yếu nhất ấy của Chúa Kitô, ông ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta quá yếu đuối tâm linh nên không nhìn ra sức mạnh trong sự yếu đuối như người lính canh.

Trời đã vào khuya, hai thầy trò, vị tôn sư và người thanh niên tầm thầy học đạo như thả hồn mình về biến cố hai nghìn năm trước trước mầu nhiệm Tắt Thở của một người. Trong tâm trí anh, anh không thể nào hình dung vị tổng thống kia dám trở nên yếu đuối như một người tỵ nạn được. Anh bắt đầu hiểu hơn, vị tổng thống ấy chỉ có thể thương xót bằng từ trên nhìn xuống, bằng từ trên vớt lên. Ông ta không thể xuống để ở cùng.

Ở cùng là trở nên một thân phận. Ðấy là chiều sâu khó nhất của tình yêu. Khó nhất mà cũng đẹp nhất. Phải trở nên thân phận thì mới hiểu. Hiểu mới có thể thương. Trong ý nghĩa này, thương bao giờ cũng phải là ở cùng.

Người học trò, như vẫn ưu tư. Nếu tình yêu là ở cùng. Tại sao Ðức Kitô lại kêu lên trong giờ sau hết: “Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?”

Vị tôn sư như đọc hết ý nghĩ thầm kín của học trò mình. Ông ôn tồn bảo:

Chiều sâu của tình yêu là ở cùng. Ðêm nay trời đã vào khuya. Con về ngủ đi. Tại sao Chúa Cha không lấy quyền năng như lời Ðức Kitô cầu xin, cất chén đắng này cho con?

Tại sao Chúa Kitô như quá cô đơn vậy?

“Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?” Ðâu là ý nghĩa ở cùng?

Ðây là Tình Yêu và Quyền Năng. Chúng ta sẽ nói tới.

Trời khuya rồi. Ðêm thường nói với chúng ta nhiều ý nghĩa cuộc sống. Ðêm nói về thân phận mù lòa, vất vả đi tìm. Những giờ phút tăm tối cuộc sống, khổ làm sao. Nhưng nhờ đêm mà ta phải khắc khoải. Nhờ khắc khoải tìm kiếm mà hồn ta mới thức giấc. Và con ạ, không bao giờ đêm dài bất tận. Ngày mai có ánh bình minh.

Vị tôn sư đi về am thất. Người học trò vẫn ngồi lại. Anh đang nhìn vào cõi sáng của bóng đêm. Thứ cõi sáng và bóng đêm của riêng anh.

* * *

Từ lời cầu chúc “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.” Thánh lễ phải là mầu nhiệm diễn tả tên gọi làm người của Thiên Chúa, EMMANUEL, Chúa ở cùng chúng ta. Mỗi thánh lễ, nếu ta trân trọng trong lời chào này, thì thánh lễ quá ngọt ngào. Thánh lễ là một diễn giải tuyệt vời mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương. Chúng ta hạnh phúc nối tiếp bí tích kỳ diệu đó qua những lời chào mang cả một chiều kích thần học rất sâu:

– Chúa ở cùng anh chị em.

– Và ở cùng cha.

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.

(Trích tập suy niệm “KẺ ÐI TÌM”)

Ngọcnga và Anh chị Thụ Mai gởi

Hãy Ở Trong Thầy

“Hãy Ở Trong Thầy”

+ GM GB Bùi Tuần

Mấy ngày nay, tôi thấy cảnh đời sôi động khác thường.

Trên đường xe chạy ồn ào, Dưới sông ghe xuôi ngược vội vã. Chợ chen chúc giữa người và hoa.

Mọi nhà đều rộn ràng quét dọn, trang trí, ra vào tấp nập.

Cảnh đời bề ngoài là vui, là dọn tết. Nhưng nhìn sâu vào bên trong lòng người, tôi có cảm tưởng khác. Có những gì kín đáo chìm lặng trong cõi nội tâm bất ổn.

Chính tôi cũng vậy.

Trước một hoàn cảnh mà hạnh phúc được cảm nhận là mong manh, là xa vắng, tôi chạy lại bên Chúa Giêsu.

Tôi nghe Người nói: “Hãy ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).

Chúa nói đi nói lại với tôi lời đó.

Ðây là lời căn dặn cuối năm.

Ðây cũng là lời nhắn nhủ đầu năm.

Ðây không phải một lời chỉ giữ riêng cho tôi, mà cũng là một lời Chúa gởi riêng cho từng anh chị em.

Tôi mong chúng ta biết đón nhận lời Chúa gởi. Ðón nhận với lòng trân trọng, với tình cảm mến, với tâm hồn khát khao tìm hiểu ý Chúa.

Vậy, “hãy ở lại trong Chúa Giêsu” được hiểu thế nào?

Tôi xin gợi ý vắn gọn.

Trước hết, “ở lại trong Chúa Giêsu” là ở lại trong lời của Chúa Giêsu.

Có lần Chúa Giêsu đã phán: “Nếu các con ở lại trong lời của Thầy, thì các con sẽ là môn đệ Thầy đích thực” (Ga 8,31).

Ở lại trong lời của Chúa, là đón nhận lời Chúa, suy niệm lời Chúa để lời Chúa thấm sâu vào lòng ta. Lời Chúa sẽ gây nên những vang vọng trong hồn ta, như những khát vọng dẫn đưa ta về Nhà Chúa.

Chúng ta thừa biết, lòng trí ta mỗi ngày phải tiếp cận với từng ngàn lời nói. Trong số từng ngàn lời đó, có những lời mang sự thực, nhưng cũng có những lời giả dối, có những lời gian ác, có những lời trống rỗng. Nếu, trong cảnh hỗn độn ấy, ta vững tâm ở lại trong lời Chúa, thì lời Chúa sẽ là ánh sáng soi đường chỉ lối cho ta. Ta sẽ được Chúa chúc lành, một sự chúc lành được ban cho những ai vâng thực thi Lời Chúa.

Ngoài ra, “ở lại trong Chúa Giêsu” là ở lại trong tình thương của Người.

Người phán: “Các con hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9).

Ở lại trong tình thương của Chúa là đón nhận chính sự sống của Người. Một sự sống hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Một sự sống sản sinh nhiều hoa trái thiêng liêng. Một sự sống là tình yêu, là bình an, là khôn ngoan, là hạnh phúc.

Chúng ta không xa lạ gì với tình thương trên đời này và trong đời ta. Nó muôn mặt. Ðổi thay và bền vững. Vui và buồn. Ánh sáng và bóng tối. Êm đềm và sóng gió. Nếu, trong thực tế thực sự là như thế, thì ở lại trong tình thương của Chúa sẽ là một bến bờ ta cần gắn bó.

Sự gắn bó này phải rất thân mật, phải rất khăng khít. Về vấn đề này Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh dễ hiểu: “Thầy là cây nho, anh em là cành… Cũng như cành nho không thể tự mình sinh ra hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,1-4).

Như vậy, lời Chúa gởi chúng ta đã khá rõ. Hãy ở lại trong Lời Chúa. Hãy ở lại trong tình thương của Chúa. Ở lại là gắn bó. Ở lại là cùng phấn đấu với Chúa Giêsu, là cùng với Người vâng phục thánh ý Chúa, là cùng với Người phó thác nơi Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Tôi muốn được gởi tới anh chị em lời Chúa trên đây ngày đầu năm Giáp Thân này.

Năm nay được mở đầu bằng nhiều bất ổn. Thí dụ với những dịch gia cầm, với những biến động về giá cả, với những chứng bệnh mới, với nhiều suy thoái trong lãnh vực lương tâm.

Chúng ta chấp nhận cuộc đời với những thực tế phức tạp của nó. Nhưng, là những người có đức tin, chúng ta ưu tiên đón nhận lời Chúa. “Hãy luôn luôn ở lại trong Thầy”.

Cho dù cuộc đời có những bất ngờ đau xót đến đâu, nếu chúng ta luôn ở lại trong Chúa, Chúa sẽ là Mùa Xuân vĩnh cửu của chúng ta.

Với những tư tưởng trên đây, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị em một năm mới bình an. Một năm ta ở lại trong Chúa và Chúa ở trong ta. Một năm vì thế mà tình yêu thương và hiệp nhất giữa chúng ta sẽ toả hương thơm Tin Mừng giữa quê hương ta, tại địa phương ta.

+ GM GB Bùi Tuần

Nhớ người thương binh VNCH

Nhớ người thương binh VNCH

Nguoi-viet.com

Lê Châu
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 Tháng Tư và Ðời Tị Nạn)

LTS Người viết bài này là một cựu nữ sinh từng tham gia nhiều hoạt động xã hội từ khi còn đi học và nay tiếp tục góp sức trong các công cuộc thiện nguyện. Cô tin rằng nói về những kỷ niệm của 40 năm quốc hận, cần phải nhớ đến các thương phế binh VNCH hãy còn sống ở quê nhà.


Hai thương phế binh VNCH trong dịp nhận quà và xe lăn do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trao tặng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Nước Mỹ, tháng 4 năm 2015

Bốn mươi năm sau cuộc đổi đời, những người dân miền Nam nước Việt còn trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới đang sống lại những tháng ngày hồi tưởng.

Ai đó đang hồi tưởng về Tháng Tư Ðen, về những tháng ngày đánh tư sản, đổi tiền, kinh tế mới, về bắt bớ, lao tù và học tập cải tạo. Nhưng cũng có ai đó đang có những phút lắng lòng để nhớ đến những người thương binh VNCH, những người trai của một thời ly loạn thuở nào, họ đã không may mắn phải bỏ lại chiến trường một phần thân thể.

Họ cũng thiếu may mắn nhận sự trợ giúp của chính phủ Mỹ để ra đi. Họ vẫn còn ở lại. Họ vẫn còn phải đối diện từng ngày với khó khăn, đói nghèo và cả sự bạc đãi của nhà nước mới.

Tất cả chúng tôi, những người ngày xưa được hưởng sự yên lành trong cuộc sống và sự an bình của cuộc đời hiện tại, đều xin được nhớ về các anh.

……

Hằng năm cứ vào mùa hè, Hội HO & Cứu Trợ Thương Phế Binh Quả Phụ Tử Sĩ VNCH và Trung Tâm Asia lại tổ chức đại nhạc hội tại Nam hoặc Bắc California để quyên góp một số tiền gởi về giúp các anh thương phế binh cùng cùng các quả phụ tử sĩ của người lính VNCH. Hành động này hy vọng đã nói lên được nghĩa cử của những người xa xứ lời “Cảm Ơn Anh.”

Phải, chúng tôi nơi đây không bao giờ quên các anh, chúng tôi sẽ cố gắng và còn cố gắng nhiều hơn nữa để một phần nào đền trả món nợ ân tình mà chúng tôi đã vay nơi các anh (dù các anh chưa một lần đòi trả).

Sau cuộc đổi đời, đã tròn 40 năm, ngót hơn nửa đời người, chắc hẳn các anh buồn nhiều lắm phải không? Chắc hẳn các anh đã bao lần tự trách, rằng xã hội này, quê hương này đã quên mình rồi…! Nhưng các anh ơi làm sao mà chúng tôi quên được, những người trai trẻ ngày nào đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, các anh đã không ngần ngại bỏ lại sau lưng gia đình, mẹ già, em dại, và đôi khi phải bỏ lại cả người yêu nhỏ bé để làm tròn bổn phận người trai thời ly loạn.

Nào Quang Trung, Dục Mỹ, nào Ðồng Ðế, Chi Lăng; nào là “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”…

Các anh có còn nhớ không, những mùa Xuân tiền đồn, những người em gái hậu phương chúng tôi đã thêu cho các anh từng chiếc khăn tay nhỏ, nắn nót viết cho các anh những lá thư xuân thắm đượm ân tình hậu phương. Và rồi những giọt nước mắt ân tình đã rơi thật nhiều lúc phải chia tay các anh khi mặt trời xế bóng. Tiền đồn heo hút, hoa mai vàng nở rộ và và màu xanh bộ quân phục của các anh đã nhòe trong mắt các em rồi – Xe chạy cuốn bụi mù, bóng các anh khuất dần sau những cánh rừng xa lắc đó. Ðâu có ai quên các anh.

Ðất nước Việt Nam mình triền miên chinh chiến, các anh phải xa trường, xa lớp, xa bạn bè, xa gia đình, để trở thành người lính cầm sung bảo vệ quê hương, để canh cho giấc ngủ trẻ thơ đêm đêm khỏi phải giật mình, để cho bước chân của các em nhỏ tung tăng vui vẻ đến trường, để cho mẹ bình an ra chợ sớm và cho cha trồng xới liếp rau xanh. Công khó của các anh làm sao mà nói hết…

Chiến tranh không phải là trò đùa, nhưng chính chiến tranh lại là trò đùa khắc nghiệt nhất khi mà cùng một mẹ sinh ra; Nhưng bên này “Anh lớn lên anh đi làm lính chiến, bảo vệ xóm, bảo vệ làng, bảo vệ giậu mồng tơi” – còn bên kia “Anh lớn lên anh đi làm giải phóng, giải phóng xóm, giải phóng làng, giải phóng giậu mồng tơi”… (Trích từ bài thơ “Giậu Mồng Tơi” của tác giả Giang Hữu Tuyên)

Rồi từ nghịch lý đó mà các anh cứ phải miệt mài với đời lính chiến, trên khắp mọi nẻo đường từ Nam ra Bắc mà chúng ta đi hoài không tới. Miền Nam thanh bình với đồng lúa phì nhiêu hay miền Trung nắng gió đất cày lên sỏi đá, các anh cứ phải miệt mài bảo vệ. An Lộc, Khe Sanh, cổ thành Quảng Trị, rồi Dakto, Charlie,… các anh đã đi qua, có anh đã nằm lại mãi mãi không trở về, hoặc có khi anh trở về trên đôi nạng gỗ.

Nước mắt mẹ hiền đã khóc thật nhiều cho các đứa con mình. Có những đứa con mẹ được vuốt ve cỗ quan tài phủ lá Quốc kỳ. Có những đứa con mẹ ngóng trông hoài không thấy tăm hơi. Còn anh, nước mắt mẹ đã rớt thật nhiều nhưng nào đâu có làm an lành được vết thương nơi chiến trận của anh. Anh trở thành thương binh, người thương binh VNCH.

Ngày đó chúng tôi nhớ ơn các anh, xã hội tri ân các anh và cuộc đời vẫn âm thầm trả ơn các anh từng ngày. Thế rồi một đêm thức dậy, chúng tôi đâu rồi? Xã hội nát tan. Cuộc đời đổi chủ. Các anh với tấm thân tàn phế làm sao vào cuộc để tìm kiếm miếng ăn. Sau cuộc chiến xã hội xếp hàng với những chia ly, tan tác, đói nghèo, thì người thương binh ngày nào còn có ai lo lắng cho nữa. Mùa Xuân 1975 đã trở thành mùa hạ để cho “Quê hương đau, nắng Hạ cũng buồn.”

Giờ đây các anh phải đi hát dạo, đi bán vé số để kiếm sống qua ngày. Hằng năm nơi đất nước Hoa Kỳ trong ngày Lễ Cựu Chiến Binh, có các người lính cũ với bộ quân phục ngày nào, trên ngực áo đầy huy chương đón nhận những vòng hoa, những tràng pháo tay và những cái cúi đầu – họ luôn nở nụ cười trên môi, rạng rỡ và hãnh diện vô cùng với màu cờ sắc áo…

Nhìn thấy họ tươi cười mà lòng quặn thắt khi nghĩ về các anh. Các anh cũng là người lính cũ, nhưng sắc áo, màu cờ, đâu rồi? Không còn ai choàng vòng hoa hay dành cho anh một cái cúi đầu với lời nói Cảm Ơn Anh. Ôi nỗi buồn không tên chỉ mình anh lặng lẽ ấp ủ!

Dạo đó vào thập niên ’80, có đôi lần chúng tôi gặp hai người thương binh đi hát dạo trên đường phố Sài Gòn. Anh thương binh cụt giò đàn cho anh thương binh mù hát bài ca “Giã từ vũ khí.” Một lần hỏi thăm và được nghe tâm sự, một anh nói rằng trong xã hội mới này mặc bộ đồ lính VNCH có người không cho tiền vì họ ghét, nhưng không sao, tiền dù có ít nhưng mình vẫn mặc được sắc áo của mình ngày nào để nhớ về một thời chinh chiến. Ôi chua xót quá, cũng là ý nghĩ về màu cờ sắc áo mà sao người thương binh VNCH của tôi có tâm tình buồn bã đến thế. Ðúng là “quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.”

Các anh ơi, giờ đây sau nhiều chục năm nơi đất lạ, chúng tôi đã có điều kiện để đền trả ơn anh. Một tập thể nhỏ của Trung Tâm Asia, một bà mẹ già với mái tóc bạc phơ, đang ngồi lại để cùng với tất cả những ai có lòng – tay góp bàn tay – chúng tôi đang chắt chiu thu góp từng đồng gởi về để phần nào giúp các anh nơi quê nhà khốn khó. Quê nhà là các anh. Cõi lạ là chúng tôi và chúng ta cùng chung một nỗi buồn…

Xin các anh an tâm, hãy vui lên vào những tháng năm cuối đời.

Chúng tôi nơi đây nguyện sẽ dùng nước mắt không phải để buồn để khóc, mà để rửa sạch những vết thương long cho các anh. Chúng tôi sẽ cố gắng đền trả ơn anh. Xin gởi về các anh những ân tình thắm đậm và lời cám ơn cao trọng nhất.

Tâm tư người xa xứ

Mùa Xuân California 2015

Nếu xa nhau anh xin làm mây thu,

“Nếu xa nhau anh xin làm mây thu”,

Khóc em… dài những tháng mưa ngâu

Mưa thu buồn… buồn đời anh bấy lâu

Gió thu sầu… hát bài ca nhớ nhau”.

(Đức Huy – Nếu Xa Nhau)

(Galát 3: 26-29)

Trần Ngọc Mười Hai

Đã xa nhau rồi, sao lại hát xin làm “mây thú”, mây thu chứ? Mây thú hay mây thu rất thú vẫn vần vũ cũng đâu vừa, hỡi người viết nhạc, rất nghệ sĩ. Vâng. “Làm mây thu” ở đời người, cũng đâu là chuyện dễ. Chí ít, là “làm mây thu” rồi lại có cái thú khác làm mây mưa dây dưa nhiều chuyện để thế-trần cứ lần-chần, tức chết được.

“Mây thú” hôm nay, lại sẽ thấy nhiều điều trải dài nơi lời ca cũng âu sầu, như sau:

“Nếu xa nhau, anh xin làm dòng sông

Nhớ em nhiều những thoáng mênh mông

Khúc sông buồn… buồn trôi bao lá rong

Tiếng mây chiều lạc loài vương nhớ nhung.”

(Đức Huy – bđd)

Thì ra, “làm mây thu” là làm rất nhiều thứ, và cả những thứ/những điều khiến cho người và cho mình, như ca-từ còn xác-chứng. Xác chứng hay làm-chứng cho ai/điều gì, vẫn không là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng hôm nay, chỉ mỗi việc là: làm chứng cho Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, không thấy mệt.

Thật thế. Trong cuộc đời người, vẫn có nhiều người từng thấy chán-nản rất nhiều thứ, nên tự dưng muốn được làm “mây thu” hoặc cái thú làm mây vơ-vẩn đường bay tận chân trời, nhiều tưởng tượng. Trong số những người dễ chán nản và ngán-ngẫm đủ mọi thứ, là đám “trẻ người non dạ” cứ luôn miệng bảo: “Sao con chán mấy đồ chơi này quá, mẹ à!”; hoặc “buồn thấy mồ tổ đấy, mẹ ơi!” vv..

Trong cuộc đời trẻ tuổi, nhiều em bé vừa chơi đồ chơi mẹ mới sắm/tậu, hoặc trò chơi “games” điện-tử mới cài đặt trên ipad, media player, đã thấy buồn. Tóm lại, cuộc đời người, tiếng “chán” hoặc “buồn”, là từ-vựng thấy ở già trẻ lớn bé, ai cũng có thể nói vào lúc nào đó.

Có bé em học sinh, đang trong kỳ nghỉ học-kỳ hoặc nghỉ hè khá nhiều tuần, thế mà mới chỉ có vài ngày đã thấy chán hoặc kêu buồn rồi. Em thấy thế, là bởi lâu nay thiếu nghỉ ngơi, thư-giãn hoặc thiếu sáng-tạo trong cuộc chơi, học-hành hoặc tạo ra tư-tưởng, nên không thấy chuyện gì hấp-dẫn, hoặc thích-thú cả đến kẹo bánh/cây trái lẫn trò chơi cũ/mới ê-hề đủ loại.

Cũng có thể, em thấy chán/ngán, vì suốt ngày chỉ dán mắt vào màn hình lớn/nhỏ xem phim truyện xong lại chơi trò chơi này khác, riết rồi quá nản bèn than van: “Chẳng gì mới!” hoặc: “Ghêm gì toàn những thứ xem rồi, chán bỏ xừ!”

Những câu nói “chán/ngán” lại đã khiến bậc cha mẹ thêm lo lắng, hãi sợ. Bởi quá lo, nên có bậc mẹ cha tìm đủ mọi cách, cả việc đổ xô tìm các đồ/hàng mới cứng để mua/sắm cho bé em bớt buồn, nhưng vẫn không làm các bé hài lòng, hoặc bớt sầu.

Thành thử, kỹ-thuật cao hoặc mới mẻ, có lẽ, sẽ chỉ là giải-pháp/đáp số tạm-thời cho bài toán khó giải với người đời. Bởi thế nên, nhiều vị ở các nơi mới cố nặn óc mình ra mà tìm tòi, sáng-chế, hoặc chỉnh-sửa những gì có sẵn, đôi lúc lại đã khám-phá ra đôi điều làm mọi người phải suy-nghĩ.

Thực-tế đời người đi Đạo, cũng hệt thế. Nhiều thứ hoặc nhiều chuyện, lâu nay từng khiến người nhà Đạo suy-nghĩ rất “lung” vào mọi lúc/mọi thời, lại trở-thành vấn-đề để ta sẻ san,  tư-duy, hoặc suy-nghĩ. Một trong các vấn-đề khiến mọi người suy-tư không ít, ở nhà Đạo, là vấn đề phụ-nữ. Nói rõ hơn, là: vai-trò của nữ-phụ trong Đạo đã và đang được nhiều vị đặt lại.

Đặt lại vấn-đề trong Đạo, giống hệt người ngoài đời vẫn từng hát:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

(Đức Huy – bđd)

Người ngoài Đạo, thường hát thế là để tự an ủi mình vào lúc thấy cuộc đời mình cũng chán và nản, không ít. Thế nhưng, các đấng bậc trong Đạo lại tư-duy theo cách chững-chạc, đạo-mạo, rất bài bản như ta thường thấy ở đây đó, chốn Nước Trời.

Nuớc Trời hôm nay, lại có bậc vị-vọng trong Đạo Chúa, đã nhìn ra vấn-đề khả dĩ gây nản lòng nơi một số bạn đạo, ở đây đó. Đấng bậc nhà ta, đã hình-dung ra được vấn-đề hệ-trọng cả ở trong Kinh Sách, nên đã tỏ lộ như sau:

“Huyền-thoại Do thái xưa, được phản ánh trong sách Sáng Thế đã diễn-tả tầm hiểu của người thời đó về nhiều thứ. Chủ-đích của người ghi chép các huyền-thoại ấy, là để giải-thích thứ đó có nghĩa gì. Rõ ràng là, chỉ mỗi nam-nhân thời cổ mới dám đóng khung các huyền-thoại này và cuối cùng ghi chép lại thành sách, thành truyện. Nói thế là bởi, bậc nữ-lưu thời cổ trong xã-hội không được phép tiếp-cận quyền-lực để giải-thích về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách nữa.

Và hơn nữa, phụ-nữ được mọi người coi như không dính-dự gì vào những chuyện như thế, hoặc có dính dự cũng chẳng hiểu biết, chẳng thể-hiện được thế nào là thực-tại đời người. Vì thế nên, phụ-nữ chẳng bao giờ tạo ảnh-hưởng cách trực-tiếp lên nền văn-hoá này khác, hoặc cũng chẳng tạo bất cứ quyết-định ban đầu nào về bản-chất của bất cứ sự gì và cũng chẳng tham-gia vào bất cứ tiến-trình nào khả dĩ đưa ra một quyết-định. Thành thử, chẳng lạ gì khi các truyển kể trong Kinh Sách đều do nam-nhân viết ra hoặc định-hình cả đến sự việc nhằm giải-thích cách-thức ác-thần/sự dữ len lỏi vào công cuộc tạo-dựng của Thiên-Chúa Đấng Tác-tạo mọi sự. Và Kinh Sách làm thế, bằng việc tuyên-bố việc ấy như yếu-điểm của tạo-vật chưa thành người do Thiên-Chúa thực-hiện để đáp-ứng nhu-cầu của nam-nhân. Và người nữa đó tên là Evà.

Nói tốm lại, ở thế-giới do nam-nhân thống-trị, thì phụ-nữ bị chê-trách đủ mọi thứ kể từ ngày ấy, đến hôm nay. Chẳng hạn như: nếu người đàn ông nào lại hiếp-đáp một phụ-nữ, thì lại nói do người nữ ấy quyến-rũ anh ta bằng cách ăn mặc lố lăng, khêu gợi. Nếu nam-nhân đánh đập một nữ-phụ nào, thì lại bảo: việc ấy là do y-thị khiêu-khích anh ta nổi giận. Thậm chí, nếu nam-nhân ly-dị người nữa nào, lại đổ lỗi cho người nữ ấy sống sao đó nên nam-nhân này không còn chịu đựng nổi để chung sống nữa…

Nói tóm lại, chính người nữ đầu đời con người là Evà chính là duyên-do khiến nam-nhân đầu tiên ngã quỵ. Bà chịu trách-nhiệm trong việc dẫn nhập mọi ác thần/sự dữ, và/hoặc mọi sự ngán-ngẫm, cho gian-trần…” (x. Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture: Woman as the Source of Evil, HarperCollins Publishers 2005, tr. 87)

Sống thực đời đi Đạo, các đấng bậc vị vọng là những người thấy được điều chán/ngán, còn gọi là ác-thần/sự dữ cũng hơi lạ ở Kinh Sách. Còn, người thường đi Đạo sống thực cuộc đời lý-tưởng sẽ ra sao? Hãy nghe đấng bậc có nhiều năm kinh-nghiệm giảng dạy về niềm tin và mục vụ tại trường Đạo ở Melbourne, Úc Châu lại có giòng chảy như sau:

“Mới đây, tôi có sinh-hoạt với một nhóm người trẻ để giúp các em hiểu thêm về căn-tính linh-đạo của họ. Thật ra, cũng chỉ như chuyện xếp hình kiểu Nhật Bản gọi là Origami, mà thôi.

Ý tôi muốn nói là: ta chỉ cần làm mỗi việc như xếp mẩu giấy vụn theo chiều dọc thành hai cột, cũng đơn-giản…. nghĩa là, chỉ việc đưa vào cột dọc này các ơn phúc Trời ban cho con người, tức: các huệ-lộc áp-dụng cho mỗi người và mọi người. Nay, cũng chỉ nên ghi-nhận xem ân-phúc nào được Chúa đem đến cho cuộc sống của mình, chứ không ai khác ngoài mình ra.

Nghĩ thế rồi, tôi bèn bắt đầu làm công việc ấy cách đây 3 ngày và dưới đây là một vài mảnh vụn từ đó nảy ra:

  1. Sáng thứ Hai. Bé trai đầu tiên tôi gặp ở trường học tôi vẫn dạy, có nói với tôi rằng: “Thấy thày lại đến như thế này, thật rất tốt.” Thế tức là, tôi có được nghị-lực làm việc để bớt thấy chán nản trong cả tuần lễ, là do em bé này chúc mừng tôi.

  1. Trưa thứ Hai hôm ấy. Cùng với 4 em học sinh đi đến trung-tâm giúp người vô gia-cư có thức ăn vào buổi sáng, tôi có dịp chuyện gẫu với một nhân-viên thiện-nguyện mà tôi chưa từng gặp mặt. Bà này trạc 6o, thất-nghiệp suốt 18 tháng trời, tức là bà từng trải-nghiệm một thời-gian dài rất chán-ngán. Bà có nhiều bằng cao-học hoặc phó tiến-sĩ gì đó, lại có kinh-nghiệm quản-trị xí-nghiệp rất nhiều năm.

Thế nhưng, công-việc lại không mấy thích-hợp với một người giỏi dang, thiện chí đầy mình. Dù sao thì, hôm ấy, bà đã tập thể-dục chuẩn bị sạch sẽ để gặp mặt những người lê lết ngoài đường phố, rất hôi bẩn. Tôi xúc-động khi thấy phụ-nữ như bà có tinh-thần cao, lại quyết tâm làm những việc rất cần cho người sống lề đường/xó chợ, dù bà vẫn ưa-thích văn-chương nghệ-thuật hơn thứ gì khác. Tôi phấn khởi không ít, và biết ơn các nữ-phụ như bà dám bỏ tất cả ra chỉ để lân-la/gần gũi những con người rất chán đời, nhưng vẫn trân-trọng cử-chỉ đẹp do bà thực-hiện.

Điều hay hơn, là bà chẳng bao giờ tỏ ra là kẻ cả, trịch-thượng và đó là ân-phúc tôi có được vào ngày hôm ấy.

  1. Trưa thứ Ba. Hôm nay, tôi được tin người bạn rất thân đã hưu-dưỡng từ lâu, vẫn tạm-trú ở khu dưỡng bệnh dành cho những người bị ung-thư giai-đoạn cuối. Công việc thường ngày của ông, là giúp các bệnh-nhân đồng cảnh-ngộ viết lên chuyện đời của mỗi người, để họ san sẻ với bạn bè/người thân, trước khi quá vãng. Ông thấy: phần đông những người sắp lìa đời, vẫn muốn để lại các câutruyện đời đủ mọi loại, không có được cơ-hội như mình, hoặc đôi lúc chỉ cần viết ra vài ba giòng chữ trước khi chết, cũng được. Ông đã trở thành một thứ không phải “con ma viết lách” mà là “thần-nhân viết truyện”. Và hôm ấy, tôi lại được chúc phúc vì đã quen biết ông.

  1. Chiều thứ Ba. Tôi vừa được một bạn già khác là linh-mục vừa mới gọi cho biết ông đã có báo cáo thật tuyệt-vời. Nghe chữ tuyệt-vời tôi cứ ngỡ rằng đó là báo-cáo học-trình của ai đó, thì ra là “báo cáo về bệnh-tình của ông, do bác-sĩ trao cho ông. Mấy lâu nay ông bị ung-thư đến giai-đoạn rất nặng, suốt những năm gần đây. Thế nên, chính ra đây phải là tin buồn mới  đúng.

  1. Sáng thứ Tư. Một đồng-nghiệp rất thân của tôi, có lần nói là: anh rất thích nhất câu thơ của Shakespeare để cho nhân vật Polonius nói với Laertes trong “Hamlet”, rằng: Bạn bè ông, nếu họ thử đủ mọi cách khác nhau mà không thuận được gì, thì hãy túm lấy họ bằng móc mắt đem vào hồn là xong… Nghe thế, tôi lại cảm thấy mình được chúc phúc vì có bạn bè thân quen mình có thể túm lấy mà đưa vào hồn mình.

  1. Chiều thứ Tư. Một em học sinh của tôi từ Phi Châu trở lại trường, sau khi nhận thanh-tẩy trong nước, có nói: việc quan-trọng đối với em là về để thấy được mọi người còn sống sót, chứ không phải để nhìn tận mặt sự đói nghèo là thế nào. Em còn nói về châu Phi, như sau: “Đến đó quý đã thấy lạ kỳ rồi, khi rời khỏi nơi đó, lại vẫn thấy kỳ lạ như lúc đến, nhưng ở mức độ còn cao hơn.” Điều này, là loại chóp đỉnh băng đá tảng trôi trên biển mà thôi. Nhưng, cũng có thể là tôi vẫn cần miếng đá ấy mỗi ngày cho mình. Bởi, cuộc sống không chỉ là những sự việc và sự kiện xếp thành nhiều lớp trồi lên trên mà là để cho chúng không bị xếp lớp, mà thôi.” (x. Michael McGirr, Origami Blessings, The Majellan 10/2013-12/2013, tr. 15-16)

Đời người chỉ như băng tảng xếp lớp, mà thôi. Ôi! Còn gì chí lý bằng. Thế tức là, trong chuổi ngày dài cuộc đời, có lớp xếp hướng lên cao, có lớp lại chìm xuống để trôi tan cùng giòng nước. Bạn bè Đấng bậc mô-phạm trường lớp thuờng nghĩ thế. Chứ còn, nghệ-sĩ ở đời thường lại nghĩ khác, nên cứ hát những lời, như:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

À thì ra, “Biết bao giờ đời anh thôi dở dang” thật cũng chán. Thấy chán, là bởi anh thật chẳng biết “bao giờ tình yêu thôi lỡ làng”.

À ra thế. Tất cả, chỉ vì tình yêu mà thôi. Yêu người, yêu vật yêu cả trò chơi, đồ hàng lại thiếu mất tình-yêu, làm sao khá.

Tất cả vì Tình-yêu. Bởi, có tình yêu, là có tất cả. Cho đời mình. Chỉ Tình-yêu, mới làm cho mình/cho người sống cuộc đời đáng sống. Chỉ Tình-yêu, mới là lý-tưởng cuộc sống, không thấy chán. Và, Tình-yêu lại là và vẫn là ý của Đấng Thánh Nhân Hiền, từng dạy dỗ, bảo ban như sau:

“Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy

để thuộc về Đức Kitô,

đều mặc lấy Đức Kitô.

Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp,

nô lệ hay tự do,

đàn ông hay đàn bà;

nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô.

Mà nếu anh em thuộc về Đức Kitô,

thì anh em là dòng dõi ông Ápraham,

những người thừa kế theo lời hứa.”

(Galat 3: 26-29)

Và, một khi đã ở cùng và ở với “Thiên-Chúa-chính-là-Tình-Yêu” rồi, mỗi người và mọi người sẽ thấy đời mình nhẹ nhàng, thư-giãn, rất đáng sống. Sống thảnh-thơi, như lời đấng bậc hiền-triết từng răn dạy người đời bằng câu truyện kể để lại đời như sau:

“Có một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học cầu mong kiếm được con đường giải thoát. Nhà triết học chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:

-Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.

Người này bắt đầu làm theo, còn bậc hiền-riết bước nhanh đến mút đường. Được một lúc, người kia mới đến được chỗ đó. Bậc hiền-triết hỏi anh thấy thế nào. Người kia nói:

-Tôi thấy càng lúc càng nặng.

Đây chính là nguyên-nhân giải thích tại sao anh thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Bậc hiền-triết nói:

-Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi bước đi trên đường đời anh ta đều nhặt thứ gì đó từ thế giới này để bỏ vào sọt, nên càng đi càng cảm thấy mệt.

Người kia lại hỏi:

-Có cách nào giảm bớt gánh nặng này không ?

Bậc hiền-triết hỏi ngược lại anh:

-Vậy anh có đồng ý vứt bỏ một trong các thứ như công việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không? Người kia nghe xong im lặng. Bậc hiền-triết bèn nói tiếp:

-Nếu thấy khó có thể vứt bỏ đi, thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa, mà nên nghĩ đến niềm vui nó mang lại. Cái sọt của mỗi người chúng ta không những chứa đựng ân-huệ Trời ban, mà nó còn gồm cả trách nhiệm và nghĩa vụ nữa. Khi anh thấy nặng nề, anh cũng đừng vội buồn, có thể cái sọt của người khác còn to hơn, nặng hơn của anh nhiều. Nếu nghĩ như thế, chẳng phải sọt của anh sẽ bớt được nỗi buồn, hay sao?” Trong đời, có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày vẫn “hành hạ” ta, nếu ta cứ “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng, nhiều lúc ta cũng quên một điều khá quan trọng, là cuộc sống có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Một mặt được phơi bày và một mặt vẫn ẩn khuất. Nếu ta chỉ thấy mỗi mặt nổi của sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ có kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồn, vội vui.

Ở đời, cái vừa ý ta thì ít, còn cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều lúc ta dễ “chán đời” ! Làm sao “yêu đời” được, khi nhìn chung quanh, ta thấy toàn những điều làm ta mệt mỏi, cô đơn, nặng nhọc?

Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy sự việc nào xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng với người khác, nó lại là chuyện “bình thường”, có khi còn mang ý nghĩa tích cực nữa.

Vậy nên, gánh nặng cuộc đời còn tùy ta nhìn nó từ góc cạnh nào. Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, thì làm sao có được niềm vui vừa ý, chắc chắn quang gánh cuộc đời càng nặng trĩu. Chính vì tha nhân, vì người thân yêu, và vì tình người đồng loại, mà gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì ta cứ tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra, chúng biến-hóa một cách nhiệm mầu thành nụ cười hạnh phúc.” (truyện kể do St gửi lên mạng)

Truyện kể thế rồi, nay để-nghị bạn/đề-nghị tôi, ta hãy hiên ngang hát tiếp câu ca người nghệ-sĩ viết cho đời trươi lên. Hát rằng:

“Cùng tháng năm mây thu trôi lững thững cuối trời

Biết bao giờ thôi phiêu lãng giữa tháng mưa ngâu,

Em có nghe chăng bài tình ca?

Hôm nào… anh đã hát cho em

Trời đã sang đông, thôi anh làm im vắng

những đêm dài mơ ước gió trăng

Biết bao giờ tình yêu thôi lỡ làng

Biết bao giờ đời anh thôi dở dang”.

(Đức Huy – bđd)

Vâng. “Trời đã sang đông thôi anh làm im vắng” để “những đêm dài mơ ước với gió trăng”… Vâng. Hãy cứ mơ ước rằng đêm dài cuộc đời mình sẽ không còn “tình yêu lỡ làng”, đời anh, đời em sẽ thôi không còn dở dang nữa. Và khi đó, ta sẽ yên hàn vui hưởng cuộc đời rất thương yêu, có Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu luôn ở cùng, sẽ nâng đỡ ta và mọi người suốt một đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn tin tưởng

Và hy vọng

Mãi như thế.

Suốt đời mình.

Đất Nước Nhìn Từ Long An

Đất Nước Nhìn Từ Long An

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 

Họ dốt về chuyện quản lý đất nước, quản trị điều hành. Còn chuyện trấn áp kiểm soát thì họ khá lắm.

Đoan Trang

Cuối năm 2012, nhà báo Huy Đức cho ra mắt bộ sách Bên Thắng Cuộc. Ông dành chương cuối (chương XXII) để viết về thế hệ của những đảng viên cộng sản – hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – với ít nhiều kỳ vọng, cùng …dè dặt:

Cho dù trong Bộ chính trị khoá X (2006-2011) vẫn có những người trưởng thành qua chiến tranh, họ bắt đầu thuộc thế hệ “làm cán bộ” chứ không còn là thế hệ của những “nhà cách mạng”. Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Hơn hai năm sau, sau “khi cuốn sách này ra đời,” vào hôm 14 tháng 4 năm 2015, xẩy ra việc  “Dân Oan Long An NBình Hàn GĐá, Tạt Axit Làm BThương Lực Lượng Cưỡng Chế Thu Hồi Đất.” Hôm sau nữa, vào ngày 15: Bình Thuận: Dân Chặn Xe Trên Quốc Lộ 1 Và Đụng ĐVới Cảnh Sát Cơ Động.”

Về sự kiện thứ hai, blogger Trương Huy San đã có lời bàn:

“Nếu có một cơ hội để đối thoại, người dân Tuy Phong, chắc chắn, sẽ không lựa chọn giải pháp cứng rắn như họ đang làm.”

Cũng như người dân ở Tuy Phong (Bình Thuận) dân oan ở Thạnh Hóa (Long An) đã không có cơ hội nào để đối thoại với chính quyền địa phương, hay trung ương, nên họ lựa “chọn giải pháp cứng rắn” là “tạt axit làm bị thương lực lưỡng cưỡng chế và thu hồi đất.”

Ảnh lấy từ: RFA

Sự việc, tất nhiên, không xẩy ra trong một sớm một chiều –  theo lời người trong cuộc:

“Chúng tôi đi khiếu kiện khắp nơi nhưng không ai giải quyết, từ tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa cho đến tòa án nhân dân tỉnh Long An để được bồi thường giá đất thực tế cho chúng tôi. Họ bồi thường cho chúng tôi với giá chỉ 300.000 đồng/m2 nhưng họ lại bán cho chúng tôi ở vị trí liền kề lên tới 25 triệu/m2. Từ chỗ đó chúng tôi nhận 300.000 đồng không thể mua được ở đâu.

Chúng tôi đã bị tòa án nhân dân huyện và tỉnh đã bác bỏ yêu cầu khởi kiện, vì vậy chúng tôi đã gởi đơn lên tòa án nhân dân tối cao đồng thời làm đơn tố cáo ra trung ương. Từ năm 2012 cho đến nay thì vẫn chưa được cơ quan nhà nước nào giải quyết thỏa đáng cho chúng tôi.”

Ủa, vậy chớ “từ năm 2012” đến nay đại biểu Quốc Hội đơn vị Long An ở đâu và làm gì? Câu hỏi tương tự cũng xin đặt ra cho qúi vị đại biểu Quốc Hội ở Từ Sơn (Bắc Ninh), Văn Giang (Hưng Yên), Dương Nội (Hà Đông), Cồn Dầu Đà Nẵng …  và tất cả những nơi mà đất đai của dân chúng đã (hay sẽ) bị thu hồi hay cưỡng chế.

 

Nguồn: Dân Luận

Người dân không biết (hay không thiết) kêu cứu? Câu trả lời có thể tìm được qua phóng ảnh của một “tờ báo tin,” gửi từ văn phòng của đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc:

 

Nội dung và hình thức của lá thư “báo tin” này khiến người ta có cảm tưởng như là nó đã được gửi từ một cái bưu trạm – nơi một huyện lỵ xa xôi hẻo lánh nào đó – bởi một anh bưu tá, chứ không phải từ văn phòng của một vị Đại Biểu Quốc Hội (“năng nổ”) cỡ như ông Dương Trung Quốc.

Ngoài Quốc Hội, nước CHXHCNVN còn có Mặt Trận Tổ Quốc với đủ thứ cơ quan, ban ngành, đoàn thể và hội hè…  Họ đều hiện diện – vào hôm 13 tháng 4 năm 2015, hôm đọc lệnh cưỡng chế đất đai Thuận Hoá – và đều cúi đầu im lặng, khi bị người dân chất vấn về vai trò của đại diện M.T.T.Q. trong vụ cướp (ngày) này. Nhìn thấy những gương mặt sượng sùng và ngượng ngùng của ông hội trưởng nông dân, bà hội trưởng phụ nữ thị trấn Long An… (qua youtube) thiên hạ mới hiểu tại sao có những lời chế diễu cay độc, về cái định chế hữu danh vô thực này:

Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi! (Vũ Biện Điền. Phiên Bản Tình Yêu, Vol. II. Fall Church,Virginia: Tiếng Quê Hương, 2012.)

 

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh A.P Chú thích: VOA

Cùng với Quốc Hội và M.T.T.Q, “Việt Nam có hơn 700 tờ báo.” Tất cả đều đứng “xếp chặt hàng ngũ” sau lưng Nhà Nước, và sẵn sàng “ngậm máu” hay “bốc lửa bỏ tay người.”

Dù không ông/ bà phóng viên nào ai có mặt tại hiện trường, và cũng không ai đến tận địa điểm cưỡng chế khi vụ việc đã xẩy ra, tất cả các cơ quan truyền thông của chính phủ vẫn cứ đồng loạt (tỉnh táo) loan tin:

Sáng 14/4/2015, đoàn cưỡng chế của huyện Thạnh Hóa tiến hành cưỡng chế một số hộ dân không chấp hành quyết định giao đất để thi công công trình bờ kè sông Vàm Cỏ Tây đi ngang qua thị trấn Thạnh Hóa…

Đúng 9h cùng ngày, Đoàn cưỡng chế phân công Tổ vận động tiếp cận các hộ dân trên để vận động trước khi tổ chức cưỡng chế thì các đối tượng có thái độ hung hăng, thách thức, không chịu hợp tác, đồng thời sử dụng axit, dao, kéo tấn công lực lượng cưỡng chế. Do diễn biến tình hình nhanh và các đối tượng không chấp hành quyết định nên lực lượng chức năng đã áp sát, khống chế 14 đối tượng và áp giải về Công an huyện để điều tra, làm rõ.

Và sự việc đã được “làm rõ,” với tội trạng hẳn hoi, chỉ sau một buổi “họp liên ngành” ngắn ngủì:

Sau khi sự việc xảy ra, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành họp liên ngành để đánh giá mức độ, tính chất của vụ việc và xác định hành vi vi phạm của các đối tượng; xác định 7/14 đối tượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng …

Sự kiện này khiến tôi nhớ đến tiếng thở dài (não nề) của ông Hà Sĩ Phu, hồi năm 1995:

Anh có mọi quyền lực trong tay, anh muốn nói gì, nói cả ngày cũng được, thì anh có nhường một tờ báo, một diễn đàn cho những người khác trình bày tiếng nói của họ hay không?
Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bày đặt cái gì cũng được, thì anh có dành cho
Nhân dân một Hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của Dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy sang phụ trách luôn “Hội đồng Nhân dân” cho nhất quán?

Người dân Long An còn biết “đối thoại” cách nào, hay cầu cạnh đến ai ngoài bình gió đá và acid?

Hãy nhìn lại những kỳ vọng (dè dặt) của nhà báo huy Đức, vài năm về trước:

Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phương thức nắm giữ quyền bính tuyệt đối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ có thể trao cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Vẫn còn quá sớm để nói về họ. Khi cuốn sách này ra đời, họ vẫn đang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và đất nước.

Bây giờ thì có thể “nói về họ” mà không sợ là “quá sớm” nữa:

Nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia được đặt lên hàng đầu, họ đã không kiên trì với cái chủ trương (lớn) là phải thác bauxite Tây Nguyên bằng mọi giá – kể cả cái giá mà “nhân dân” sẽ phải trả cho những thiệt hại về môi sinh, cũng như tài chính trong tương lai gần!

Nếu họ cho người dân quyền sở hữu đất đai, lấy đa sở hữu thay cho sở hữu toàn dân thì đâu có tiếng súng nổ ở Hải Phòng, có kẻ phải khỏa thân giữ đất ở Cần Thơ, và có chuyện tạt acid vào đoàn cưỡng chế ở Long An.

Nếu chọn phương thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ đạo thay vì lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo thì đâu có những con tầu rỉ xét Vinashin, và cơ hội để biến vài tỉ Mỹ Kim thành sắt vụn, cùng với những lời hứa hẹn giáo dở và  trơ tráo – kiểu như: “Năm 2015 sẽ có một Vinashin mới.”

Nếu có khả năng nắm bắt các giá trị của thời đại và có khát vọng làm cho người dân được ngẩng cao đầu, họ hoàn toàn có cơ hội chính trị để đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới thì họ đâu có hèn nhược tới cỡ phải cố bám vào một chính sách “ngoại giao viển vông” (“vừa hợp tác vừa đấu tranh”) với “mười sáu chữ vàng,” và cũng đâu đốn mạt tới độ “ăn của dân không từ một cái gì.”

Họ – nói cho nó rõ – chính là những kẻ nội thù đã đưa cả dân  Việt đi hết từ tai hoạ này, sang tai ương khác. Tuy thế, vào ngày 18 tháng 4 năm 2015 vừa qua, vẫn có thư của “những người bức xúc về vận nước, chân thành gửi đến Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,” với ít nhiều kỳ vọng, cùngmấy lời tâm huyết đề nghị được xem xét… hoặc biết chớp lấy thời cơ, đưa dân tộc đi tới, hay lại để vuột mất cơ hội, khiến đất nước bị chìm sâu vào sự lệ thuộc, tiếp tục chịu sức ép nặng nề của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thời Tập Cận Bình.”

Bốn mươi hai vị “bức xúc về vận nước” ký tên dưới bức thư thượng dẫn đều là những nhân vật tăm tiếng, có thể coi là thành phần tinh hoa của xã hội Việt Nam hiện nay. Khi mà giới người này vẫn chưa nhận diện được kẻ thù của dân tộc, vẫn tiếp tục gửi “đề nghị,” với hy vọng “được” chúng “xem xét” thì đất nước –  tất nhiên –  còn lắm gian truân.

CHÚA PHỤC SINH và quà tặng ĐỜI SỐNG MỚI.

CHÚA PHỤC SINH và quà tặng ĐỜI SỐNG MỚI.

(phần hai)

Phan Sinh Trần.

Xin tái ngộ các bạn trong câu chuyện mạn đàm về ánh sáng của Chúa Phục Sinh làm mới đời sống chúng mình.

Vào ngày 28 tháng 3 năm 2015 tôi có cơ hội đến tham dự tĩnh tâm do Cha Giu se Nguyễn Thiện Lãm, Cha Mark Goring , và các sơ đến từ Ấn độ và Mexico tại trung tâm Canh Tân Đặc Sủng của giáo phận. Ngay từ đầu, bầu khí ca ngợi Chúa là trung tâm của ngày tĩnh nguyện. Các vị diễn giả bừng sáng trong sự tươi vui, họ hăng hái  làm chứng về một Chúa Giê Su vẫn đang sống, đang chữa  lành cùng với tác động của Thần Khí diệu kỳ của Ngài là Chúa Thánh Linh. Trong phần làm chứng cho Chúa, thì điều đã gây ấn tượng cho tôi là lời chứng của Anh Jonathan, 27 tuổi, người Mexico.

Trước hết Jonathan kể về cuộc đời của Anh, sinh ra trong một gia đình Công Giáo tốt lành, sốt sắng. Từ lúc còn bé, theo Bố Mẹ Anh Chị Em đi lễ, đi nhà thờ. Anh đã tham dự các nghi thức, các Thánh lễ trong đạo cách thường xuyên. Anh còn nhớ, có một tuần thánh nọ anh được chính Đức Giám Mục rửa chân cho trong Ngày lễ thứ năm, kỷ niệm bữa tiệc ly dù khi đó Anh chỉ có 7-8 tuổi. Đức Giám Mục , Các Cha thường đến thăm viếng và dùng cơm chung với gia đình, đàm đạo với Ông Bà , Bố Mẹ , cả gia đình của Anh rất là tâm đắc. Nói chung là mọi cơ hội để cho Anh được đến với Chúa và gần gũi Giáo Hội đều có đủ, dồi dào.

Theo Đạo qua các nghi thức, nhiều lần, nhiều năm, vào thời thơ ấu đã không làm cho Anh được rửa tội lại trong sức sống mới của Chúa Phục Sinh, theo năm tháng Anh lớn lên và xa cách Đạo, Anh nói:

–       Tôi ham thích tụ họp tán gẫu với bạn bè hơn là quan tâm tới Chúa và các lý thuyết trừu tượng của Ngài.

Khi đã thành một sinh viên thì cách sinh hoạt trong Đại Học có chung một mẫu số, Thày và trò đều phê phán, một cách nào đó đặt dấu hỏi vào các niềm tin không có căn cứ Khoa học, các hình thức tôn giáo ít nhiều mang tính cổ xưa thiếu các hào nhoáng của văn minh vật chất, thiếu các tiện nghi của kỹ thuật. Phần Anh thì cho rằng, mình có thể sống thiếu tôn giáo nhưng không thể nào thiếu các liên lạc nhanh nhạy của Cell phone, không thể sống mà thiếu tin tức đến từ máy tính bảng ipad, cả các bạn của Anh cũng cho rằng cuộc đời sẽ vô cùng nhàm chán nếu không có các sự hào hứng của các trò chơi từ máy vi tính, các trò game trực tuyến. Cuộc sống của Anh không thể thiếu ăn diện, xe cộ, bồ bịch nhât là sau khi đã tốt nghiệp và làm việc đại diện thương mãi cho một hãng nọ.

Cũng không biết từ lúc nào, có lẽ là đã dăm bẩy năm nay, Anh xa cách và ghét cay ghét đắng tôn giáo, anh thường đăng trên Internet các nhận định về “mấy người theo tôn giáo điên khùng” mỗi khi biết được các hoạt động của tôn giáo chống lại “đồng tính luyến ái”, chống “phá thai”, các kêu gọi về “luân lý”, về tu đức. Bất kỳ điều gì gợi lên tính tôn giáo là anh tránh xa vì không chịu nổi “mấy người theo tôn giáo điên khùng” Tuy nhiên cũng đã có một luật trừ đó là Anh có một vài người thanh niên hang xóm, mấy người này hay đi nhà Thờ và có đời sống rất vui vẻ, hòa nhã với mọi người trong xóm. Họ hay năn nỉ Anh đi tham dự thử một buổi sinh hoạt ca nhạc trong một buổi lễ nào đó tại trung tâm Canh Tân đặc sủng. Họ cứ năn nỉ, gợi ý mãi, làm anh bực mình thật là “mấy người theo tôn giáo điên khùng”. Anh hỏi, ca hát bao lâu, lễ kéo dài bao lâu, họ dám can đảm trả lời , chỉ có cỡ hai tiếng mà thôi, nghe xong, lập tức Anh dẫy nẩy lên :

–       Trời ơi, kéo dài tới hai thế kỷ hả? làm sao mà chịu được !

Trong đầu Anh chợt nổi lên sự suy nghĩ cau có “mấy người theo tôn giáo điên khùng”.

Ngày qua tháng lại, mấy người hàng xóm của Anh vẫn vui vẻ quá, họ rất hào hứng về các buổi Ca Ngợi của Nhà thờ và cứ mời anh đến coi thử cho biết. Phần nào có sự tò mò, nhất là cũng cảm thấy người hang xóm này thật là đáng mến Anh ậm ử rằng sẽ đi thử cho biết, anh không quên thòng theo một điều kiện là sẽ ra về sớm nếu cảm thấy quá nhàm chán. .

Lần tham dự đầu trong Thánh Lễ Ca Ngợi tại trung tâm Canh Tân Đặc Sủng anh thấy cũng không đến nỗi nhàm chán như mình nghĩ và có thể tham dự cho đến hết. Thánh lễ không đến nỗi kéo dài quá xá và rồi Anh cũng muốn đến tham dự thêm một lần nữa xem sao.

Lần tham dự thứ hai, đặc biệt có bạn gái  đi cùng Jonathan, phần Ca Ngợi Chúa cũng hơi hào hứng và vui nhộn,  khi Cha Mark mời những ai muốn có đời sống mới trong Chúa Phục Sinh tiên lên gần Cung Thánh  để Cha cầu nguyện cho. Khi đó, Jonathan đang quì ở ghế, Anh cảm thấy có một sự thôi thúc về tâm lý , anh cảm thấy cần đi lên để khám phá Chúa mặc dù Anh thấy rất là quê độ với Cô Bạn Gái vốn rất thường nghe anh phê phán về “mấy người theo tôn giáo điên khùng”. Ngần ngừ một lúc, thì anh đi đến quyết định, quay qua cô bạn Jonathan nói:

–       Anh muốn đi lên đó.

Cô bạn gái trố mắt ngạc nhiên, không biết đang có chuyện gì xảy ra cho người bạn vô thần của cô, nhưng cô im lặng, không phản đối để tùy ý bạn của mình. Khi anh bước đi trên lối hành lang, qua hai dãy ghế ở bên cạnh lối đi, Anh ngoái lại, thì ô kìa, Bạn Gái Anh cũng đi lên theo, Cô ở ngay sau lưng. Chuyện xay ra là vừa ngay khi Cha Mark vẫn còn đang giỏ tay cầu nguyện với Chúa,  Anh đang sắp vượt qua hàng ghế cuối cùng ngay sát cung thánh thì nước mắt ở đâu cứ tuôn ra dàn dụa, chúng nhiều đến mức Anh không còn thấy đường đi nên cứ phải liên tục chùi đi, thật là mắc cỡ và kỳ cục quá sức, cô Bạn Anh thấy thế vội nắm tay và thốt lên “Có sao không, có ổn không Anh?” Lòng Anh lúc đó rất bình thường, anh nói “Không có gì, Anh cũng ổn mà” Tuy nhiên, nước mắt còn tuôn dàn dụa hơn nữa, mặt anh đỏ và hơi sung vì khóc nhiều. Anh hiệp ý với Cha, Anh thưa với Chúa:

–       Nếu Chúa có thực thì con xin mời Chúa đến với con,  Con xin Chúa tha thứ mọi xúc phạm, phỉ báng và tội lỗi con đã phạm xin tha thứ và làm cho con được tái sinh làm con Chúa Cha mãi mãi. xin đổ đầy Thánh Thần cho con và cho con một đời sống mới.

Điều đã xảy ra ngay vào lúc đó là tôi đã được một khoảnh khắc nghỉ ngời trong Chúa, hai chân tôi bủn rủn, cặp chân mềm ra như bún, tôi ngả ra và được đỡ nằm trên sàn nhà, ngay vào lúc đó tôi đã có một niềm vui và bình an không thể nào diễn tả bao phủ tôi, ngay vào lúc đó tâm hồn tôi đã thay đổi với cảm giác nhẹ nhàng thư thái của một người mới tắm xong và cảm thây mọi sự đều  mới mẻ và tươi mát.

Chính Lời Chúa Giê Su đã cho biết :” Tự lòng Ngài có những sông tuôn chảy nước sinh sống. Ðiều ấy, Ngài nói về Thấn khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy” (Gioan 7: 37-39)

Đó là những gì xảy ra cách nay 6 tháng, còn bây giờ thì sao ? Này tôi đây, một Jonathan như các Bạn thấy, say sưa tham dự Thánh Lễ, giống như một người bị đói ăn đã lâu nay ăn trả bữa, tôi luôn tìm cách sắp xếp giờ giấc để tham dự thánh lễ ở Trung tâm này, ở mọi nơi. Có một cái gì thu hút tôi vào Thánh lễ nơi mà tôi có niềm vui và sự bình an. Lễ xong, tôi lại tìm cách ở lại mong được giúp ích cho Nhóm cách này, cách khác, làm những việc mà trước kia tôi hay thắc mắc là việc của “mấy người theo tôn giáo điên khùng”. Cũng có khi những đám mây mờ hồ nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa quay trở lại nhưng mà như mây trời chúng đến rồi đi, khi tôi cầu nguyện với Chúa trong Thánh Lễ thì nó phải tan biến. Ánh sáng chói chan của Mặt Tròi Chân lý Chúa làm tan biến mây mờ ngay tức khắc.

Anh Jonathan tâm sự rằng sự hiểu biết về Chúa của anh còn rất là hạn chế, gần như  số không dù anh rất giỏi chuyện đời như buôn bán, câu dụ khách hàng mua nhiều hàng của mình, … Anh chia xẻ: “nhu cầu cần kíp là tôi cần tiếp tục tham gia học lớp Kinh Thánh để biết về Chúa Giê Su và tìm hiểu Chúa ngày đêm qua Lời Chúa. Tôi muốn và cần cầu nguyện với Chúa nhờ Lòi của Ngài đẻ tiếp tục đâm rễ sâu và lơn lên trong Đức Tin”

Thưa Bạn, điều thú vị là anh Jonathan rất tự hào về các khám phá của mình, khi có dịp gặp lại các bạn vô thần cũ, bị họ trêu ghẹo mỉa mai. Anh cười, xác nhận: “vâng, tôi là một người theo Chúa đến cùng, mời các bạn khám phá Thiên Chúa xem có thật hay không, tôi không thể nào không tin Chúa qua các trải nghiệm của tôi, trong Khoa Học bạn đau có thấy hình dáng của điện lực nhưng mà qua năng lực mạnh mẽ của nó, ai cũng tin là có điện phải không ? Tôi cũng vậy, khi có kinh nghiệm về Chúa rồi thì rất khó mà không tin Chúa vì năng lực của Chúa là rất thực, rồi anh có dịp thao thao bất tuyệt làm chứng cho Chúa. Trên facebook của Anh , đăng bài làm chứng của anh với xác nhận nay Jonathan thuộc nhóm “mấy người theo tôn giáo điên khùng”.

Tới đây thì điều có thể là, Bạn sẽ hỏi tôi rằng thế còn Cha Mark thì sao? Trường hợp đến với Chúa của Ngài khác với Jonathan như thế nào?

Vâng, Bạn sẽ rất ngạc nhiên vì qua lời chứng của Cha Mark thì khi đến lứa tuổi nổi loạn, Ngài cũng chả hơn gì anh Jonathan, Khi còn là một thiếu niên Ngài cho rằng chẳng có lý gì để tin vào chuyện thần tiên về Chúa và Đức Mẹ có lẽ họ chỉ có trong trí tưởng tượng của con nít thơ ngây. Khi tất cả các bạn cùng thời đại, bạn trang lứa đều bỏ qua đức Tin và say sưa về việc thử khám phá và sống với nhục dục, tìm cách làm tình vói bạn khác phái. Ngài bị lôi kéo, có lúc cũng muốn đi theo khuynh hương tội lỗi chung của thời đại cho đến khi Ngài xin Chúa làm chủ đời mình. Ở 13 tuổi, Ngài chân thành cầu nguyện rằng nếu Chúa có thực thì tỏ ra cho con biết, sau vài lần cầu nguyện như thế thì Ngài được ơn bằng an và không bị cám dỗ muốn phạm tội. Điều đôc đáo là đã có sự bảo vệ của Mẹ Maria ôm ấp Ngài tư lúc 13 tuổi tới nay trong thanh sạch nhất là Mẹ luôn có cách dẫn Ngài đến với Chúa Giê Su.

Năm 16 tuổi, qua Nhóm Thánh Linh Ngài xin Chúa làm chủ đời mình, và xin đầu phục một mình Chúa, xin dâng cho Chúa tất cả những gì mà Ngài có được, từ đó trở đi đời sống mới đã đến và thế là từ năm 16 tuổi cho đến giờ, được 35 tuổi, chưa có một ngày mà Ngài bị nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, chưa có một ngày Ngài không được sự thánh khiết và yêu thương của Chúa bao phủ. Thật là tuyệt diệu đời sống mới mà Chúa Phục Sinh ban cho con cái Chúa. Còn những ai đón nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa, ấy là cho những kẻ tin vào Danh Ngài. (Gioan1:12)

Xin bạn nghe lời làm chứng của Cha, qua youtube nối kết sau đây:

http://play.tojsiab.com/M0Jfc19ZS2Y4MkUz

Để kết luận bài này, chúng mình cùng ghi khắc lời dặn dò của Chúa Giê Su kính yêu vì rất có thể là ngay hôm nay vào giờ này Chúa cũng đang muốn, đang mong chờ Bạn đến và ban cho Bạn một đời sống mới khi bạn quyết tâm đi theo Chúa một cách dứt khoát và trọn vẹn :

…Ðức Yêsu đáp lại:

“Quả thật, quả thật, tôi bảo ông,

ai không sinh ra bởi Nước và Thần khí,

thì không thể vào được Nước Thiên Chúa.

6 Sự gì sinh ra bởi xác thịt là xác thịt, và sự gì sinh ra bởi Thần khí là Thần khí.

(Gioan 3:8)

–       Lậy Chúa, giờ này xin Chúa tiếp nhận con người tội lỗi của con vì con muốn đầu phục Chúa trọn vẹn.

–       Xin ban cho con đời sống mới làm con Chúa, xin ban Thần Khí Chúa sống trong con, làm nên tạo thành mới hoàn toàn sống theo Chúa và chỉ có Chúa mà thôi .

Phan Sinh Trần.

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

CHÍNH NGÀI ĐÃ DẪN CON ĐI

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

Một cô bé bảy tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau, đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

– Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

-. Em trai cháu bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

– Ở đây không bán phép màu, cháu à. – Người bán thuốc nở nụ cười tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

– Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

– Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. “Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được giải phẫu, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.”

– Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau, đứa bé đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Kính thưa quí ông bà anh chị em. Nếu mỗI ngườI ngồI ngẫm nghĩ lạI cuộc đờI của mình, mỗI ngườI sẽ cảm thấy rõ ràng: chúng ta còn sống và được như ngày hôm nay, thật sự phảI nói là một Phép Mầu. Và đây cũng chính là điều tôi muốn chia sẻ vớI quí ông bà anh chị em trong thánh lễ hôm nay.

Nhiều ngườI nghĩ rằng chúng tôi những linh mục là những con người tài ba đức độ nên mới được Thiên Chúa tuyển chọn. Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ vì mình tài ba đức độ mà được Thiên Chúa tuyển chọn. Không, không phảI thế. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi và chọn tôi không phảI vì tôi trổi vượt hơn những người khác. Tình yêu Thiên Chúa trên tôi không căn cứ vào công trình của tôi. Đó là một tình yêu hoàn toàn nhưng không, một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vì nếu tình yêu ấy căn cứ vào tài đức của tôi, khi tài đức tôi không còn nữa thì tình yêu ấy cũng sẽ biến mất. Nhưng khi tình yêu ấy căn cứ trên cái nhưng không, tình yêu ấy không thể bị tiêu diệt và tôi sẽ không bao giờ mất nó vì nó không đến do một công trình nào của tôi mà là một món quà nhưng không của Thiên Chúa.

NgồI ngẫm nghĩ lại, tôi thấy việc Chúa làm thật là mầu nhiệm. Lớp chúng tôi khi mớI vào tiểu chủng viện là 65. Nhưng cuối cùng chịu chức chỉ còn 4. Một ở Úc, 2 đang ở Việt Nam, và tôi đang ở đây. Nhiều anh trong lớp tôi rất là thông minh tài giỏI, lanh lẹ. Nhưng thường  những chú bé thong minh lanh lẹ thì cũng hay tinh nghịch nên đã bị nhà trường cho về. Chính vì thế, thiểu số còn lạI không hẳn là những ngườI thông minh lanh lẹ hơn những ngườI kia, mà có thể nói là khù khờ hơn.

Một điều rõ ràng hơn nữa là sau biến cố 30/4/75. Tất cả các chủng viện đều đóng cữa. Để tồn tạI chúng tôi phảI sống thành những nhóm nhỏ, từ những sinh viên trắng trẻo đẹp trai của đạI chủng viện ngày nào, bỗng chốc trở thành những anh chàng nhà quê lem luốt, đen điểu, xấu xí, ngày ngày chỉ biết lam lụ để sản xuất. Nhóm chúng tôi đi làm muốI, mỗI ngày phảI ra đồng làm việc từ 7:30 sáng đến 6 giờ tối. Sau 10 năm trờI lam lụ vất vả, tôi cảm thấy hoàn toàn kiệt sức từ tinh thần lẫn thể chất. Chính vì thế tôi đã quyết dịnh ra đi.

Và tôi đã khám phá ra điều nầy: khi Thiên Chúa đóng cữa trước thì Ngài mở lối sau. Trước kia tôi không bao giờ dám nghĩ đến chuyện vượt biên vì sợ cảnh ngục tù và chết chóc. Nhưng rồI bị đưa đẩy vào bước đường cùng, tôi không còn chút sợ hãi nữa, sẵn sàng chấp nhận: một là chết hai là vinh quang, không chấp nhận cảnh nô lệ, nên tôi đã ra đi. Hai lần đầu thất bạI nhưng may mắn không bị bắt. Lần thứ ba thì thành công nhưng rồI lạI gặp giông to bão tố. May mắn là được tàu hảI quân Mỹ vớt, nếu không chúng tôi cũng đã trở thành những miếng mồI ngon cho cá biển. Vì thế càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy như có một phép màu nào đó đã che chở phù hộ để mình vẫn còn sống đến ngày hôm nay.

Xa hơn tí nữa, mọI ngườI đều nghĩ rằng đất lành chim đậu và đất Mỹ sẽ là chỗ dừng chân lý tưởng. Nhưng rồI trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng xảy ra dường như có một bàn tay vô hình nào đó muốn an bài, muốn dẫn dắt để đưa tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi đi. Trong lúccòn đang phân vân ngẫm nghĩ thì tôi đọc phảI một câu chuyện rất cảm động nầy:

Năm 1962, chiếc phi cơ của hãng Panam Mỹ chở mấy trăm ngườI, trong đó có một số giám mục Mỹ từ NewYork đến Rôma để họp công đồng chung Vaticanô II. Trong chuyến bay có 2 cô tiếp viên hàng không, một trong hai cô có nét đẹp  tuyệt vời. Trên chuyến bay, có một cụ già đã lưu ý đặc biệt đến sắc đẹp của cô. Cụ vừa nhìn ngắm vừa ngẫm nghĩ môt cái gì đó khác thường. Thế rồI khi phi cơ hạ cánh, mọI ngườI chuẩn bị xuống phi cơ thì cụ già đó vẫn cứ ngồI yên. MọI ngườI lần lượt bước ra khỏI phi cơ, cụ là ngườI cuốI cùng rờI chỗ. Và trước khi giã từ, ngườI ta thấy cụ  đưa miệng ghé vào tai cô tiếp viên xinh đẹp kia nói nhỏ một câu gì không ai biết được. Chúng ta có biết cụ già ấy là ai không? Đó là đức giám mục Fulton Sheen, tổng giám mục NewYork., một nhà hùng biện nổI tiếng nước Mỹ. Bốn tháng sau, khi khóa một công đồng chung vaticano kết thúc, các giám mục được về nước nghỉ. Một hôm, nghe tiếng chuông reo, ngài ra mở cữa,  cô tiếp viên nói: Thưa đức cha, đức cha có còn nhớ con không? Tôi còn nhớ lắm. Cô là tiếp viên trên chiếc hàng không đưa chúng tôi đến Roma. Đức cha có còn nhớ đã nói gì vớI con không? Tôi đã nói: có khi nào cô đã cảm tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban cho cô sắc đẹp tuyệt vờI ấy không? Thưa đức cha, chính vì câu hỏI đó mà hôm nay con đến hầu chuyện đức cha. Đức cha thử nghĩ con phảI làm gì để tạ ơn Chúa? Ngài ngẫm nghĩ trong chốc lát, sau đó đưa cô đến bản đồ thế giớI, vừa chỉ vừa nói: đây là Việt Nam, đây là Sài Gòn, và đây là DiLinh. Cha vừa mớI được một tin từ Việt nam: đó là đức cha Jean Casssaigne, một ngườI Pháp đang làm tổng giám mục Sàigòn, đã xin từ chức để đi  phục vụ một trạI phong cùi ở miền núi DiLinh. Vậy con có muốn  hy sinh một thờI gian, đem tiếng nói dịu dàng, nụ cườI hồn nhiên, duyên sắc mặn mà của con để an ủI họ không? Nghe đến đó, mặt cô tiếp viên tái dần đi. Cô đứng lặng yên trong mấy phút. Đột nhiên cô cúi đầu tạm biệt không nói một lời. Câu chuyện tưởng chừng như kết thúc, rồI bỗng nhiên một ngày kia tiếng chuông điện vang, ngài ra mở cữa, vớI nụ cườI tươi, cô tiếp viên thưa vớI ngài: Thưa đức cha, bây giờ thì con đã sẵn sàng để đi VN. Xin đức cha giúp con để liên lạc. Và ngài rất hài lòng giúp đỡ. Rồi năm 1963, đài phát thanh cũng như báo chí ở Sài Gòn loan tin: Một nữ tiếp viên rất xinh đẹp của hãng hàng không Panam tình nguyện đến DiLinh, Lâm Đồng để sống vớI những ngườI phong cùi trong 6 tháng. Nhưng rồI sau 6 tháng, cô đã tình nguyện ở lạI phục vụ những bệnh nhân nầy suốt đờI của cô. Cô xin gia nhập dòng nữ Phan xicô. Sau những năm vào nhà tập, cô đã trở thành bà sơ Phanxico vớI danh xưng sr. Louise Bannet. Ngày sơ nầy khấn lần đầu, rất nhiều ngườI đã đến tham dự  lễ khấn để chúc mừng, chia vui, và khích lệ sơ. Sau đó sơ đã phục vụ rất tận tình trong niềm vui của một cuộc đờI tận hiến. Nhưng rồI biến cố tháng tư năm 1975 xảy ra, sơ bị cộng sản trục xuất. Sơ rất đau buồn rờI khỏI VN và những bệnh nhân ở đó. Sơ trở về Mỹ một thờI gian và sau đó  đi Phi Châu  phục vụ trạI cùi ở Tahiti cho đến khi chết. Năm 1982 sơ chết vì bệnh ung thư giữa sự thương tiếc của mọI bệnh nhân. Sơ Louise Bannet đã hy sinh tất cả cuộc đờI để mang lạI niềm vui và sự an ủI lớn lao cho những con ngườI bệnh tật đầy đau khổ.

Quả thật, đây là một trong những tấm gương sáng chói của các nhà truyền giáo đã thu hút đờI tôi và đã làm tôi suy nghĩ: Họ là ai? Sao họ anh hùng thế? Không, họ không là những anh hùng. Họ cũng không là những nhà xuất chúng. Không là những nhà thông thái. Họ chỉ là những con ngườI âm thầm vô danh đã dám hy sinh cả một cuộc đờI cho công việc truyền giáo. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI rủI ro, tai họa. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI gian lao thử thách. Họ sẵn sàng chấp nhận mọI thương đau bệnh tật. Dẫu âm thầm vô danh nhưng họ là những chiến sĩ rất hào hùng, hào hùng trong hy sinh, hào hùng trong chiến đấu, hào hùng trong cuộc sống. PhảI nói: Họ khác vớI những con ngườI tầm thường như chúng ta. Họ có cái gì cao thượng. Họ có cái gì cao quí. Họ có cái gì cao đẹp khiến mình phảI ngưỡng phục, phảI học hỏI cho dẫu biết rằng suốt đờI mình không thể nào làm được những điều như họ, nhưng mình vẫn muốn bắt chước, muốn đi theo con đường họ đang đi. Chính vì thế tôi đã nốI gót theo họ.

Và  sau 25 năm trên bước đường truyền giáo tôi cảm thấy rõ điều nầy: đờI truyền giáo quả thật có đầy những gian lao vất vả nhưng cũng có nhiều yên ủI lớn lao, có những mồ hôi rướm máu, nhưng cũng có những hoa trái khích lệ. Và càng ngẫm nghĩ tôi càng cảm thấy thâm tín điều nầy: Không phảI con đã chọn Cha, nhưng chính Cha đã chọn con và đã dẫn con đi qua những con đường mà Ngài muốn con phải đi.

Thật vậy, 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện vượt biên. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện xuất ngoại. 30 năm trước không bao giờ tôi dám nghĩ đến chuyện đi du học, và càng không bao giờ nghĩ đến chuyện đi truyền giáo ở một đất nuớc xa xôi nào đó. Nhưng rồI chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn vớI chương trình của con ngườI. Chính Ngài đã an bài mọI sự và đã hướng dẫn tôi đi vào con đường mà Ngài muốn tôi phảI đi.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy dâng lờI cầu nguyện cách riêng cho những nhà truyền giáo, xin Chúa luôn nâng đỡ họ và đồng hành vớI họ trên mọI bước đường họ đang đi. Đặc biệt hôm nay trong thánh lễ nầy, xin anh chị em hãy cùng tôi dâng lên Thiên Chúa những lờI cảm tạ chân thành vì muôn hồng ân Ngài đã ban xuống cho tôi trong suốt 25 năm qua trênbước đường truyền giáo. Và cũng xin tiếp tục cầu nguyện và nâng đỡ tôi trên quãng đường đờI còn lạI để tôi luôn giữ được sự bình an và lòng hăng say phục vụ cho cánh đồng truyền giáo mà Chúa muốn tôi ra đi để phục vụ cho nước Ngài.

Cali. ngày 6/7/2014.

Tác giả: Lm. Lê Văn Quảng Psy.D.

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

BẠN NÓI… CHÚA NÓI…

Bạn nói: “Điều đó không thể được”

Chúa nói: Mọi sự đều có thể.  (Luca 18, 27)

Bạn nói: “Tôi mệt quá rồi”

Chúa nói: Ta sẽ cho con nghỉ ngơi.  (Mátthêu 11, 28-30)

Bạn nói: “Chẳng ai thực lòng yêu tôi”
Chúa nói: Ta yêu con.  (Gioan 3, 1 6 & Gioan 3, 34 )

Bạn nói: “Tôi không thể tiếp tục”

Chúa nói: Ơn Ta đủ cho con.  (II Côrintô 12, 9 & Tv 91,15)

Bạn nói: “Tôi không thể hình dung ra điều gì”

Chúa nói: Ta sẽ dẫn dắt con từng bước.  (Châm ngôn 3, 5- 6)

Bạn nói: “Tôi không thể làm được điều đó”
Chúa nói: Con có thể làm được mọi chuyện.  (Philípphê 4, 13)

Bạn nói: “Tôi không thể”

Chúa nói: Ta có thể.  (II Côrintô 9, 8)

Bạn nói: “Không bõ công”

Chúa nói: Thực đáng công.  (Rôma 8, 28 )

Bạn nói: “Tôi không thể tha thứ cho tôi”

Chúa nói: Ta tha cho con.  (I Gioan 1, 9 & Rôma 8, 1)

Bạn nói: “Tôi không thể lo liệu được”

Chúa nói: Ta sẽ cung cấp cho con mọi nhu cầu.  (Philípphê 4, 19)

Bạn nói: “Tôi sợ”

Chúa nói: Ta không cho con tinh thần sợ hãi.  (II Timôthê 1, 7)

Bạn nói: “Tôi luôn lo lắng và  nản lòng”

Chúa nói: Hãy ký  thác mọi lo âu cho Ta.  (I Phêrô 5, 7)

Bạn nói: “Tôi không đủ thông thái”

Chúa nói: Ta cho con khôn ngoan.  (I Côrintô 1, 30)

Bạn nói: “Tôi cảm thấy đơn độc”

Chúa nói: Ta không bao giờ bỏ con hoặc quên con.  (Do thái 13, 5)

(Dịch từ một món qùa “souvenir” được tặng trong chuyến

đến Phi Luật Tân chào đón Đức Giáo Hoàng Phanxicô 14-19/01/2015)
Jos. Nguyễn Hùng Cường

——————-

YOU SAY… GOD SAYS…

You say: “It’s impossible”
God says: All things are possible (Luke 18:27)

You say: “I’m too tired”
God says: I will give you rest (Mat.11:28-30)

You say: “Nobody really loves me”
God says: I love you (John 3:16 & John 3:34)

You say: “I can’t go on”
God says: My grace is sufficient (II Corinthians 12:9 & Psalm 91:15)

You say: “I can’t figure things out”
God says: I will direct your steps (Proverbs 3:5-6)

You say: “I can’t do it”
God says: You can do all things (Philippians 4:13)

You say: “I’m not able”
God says: I am able (II Corinthians 9:8)

You say: “It’s not worth it”
God says: It will be worth it (Roman 8:2)

You say: “I can’t forgive myself”
God says: I Forgive you (I John 1:9 & Romans 8:1)

You say: “I can’t manage”
God says: I will supply all your needs (Philippians 4:19)

You say: “I’m afraid”
God says: I have not given you a spirit of fear (II Timothy 1:7)

You say: “I’m always worried and frustrated”
God says: Cast all your cares on ME (I Peter 5:7)

You say: “I’m not smart enough”
God says: I give you wisdom(I Corinthians 1:30)

You say: “I feel all alone”
God says: I will never leave you or forsake you (Hebrews 13:5)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam’

‘ 30/4 – Ngày phán xét của Việt Nam

Hải Long Gửi tới BBC từ Hà Nội

Cha tôi sinh ra trên đất Thái. Năm ông 5 tuổi, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nội tôi bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và đem các con trở về cố quốc.

Năm 16 tuổi, như hàng triệu thanh niên miền Bắc khác, ông bỏ học, khai thêm tuổi và xin vào quân ngũ.

Ông đã may mắn khỏe mạnh và lành lặn bước qua những cuộc chiến tàn khốc nhất, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. May mắn hơn rất, rất nhiều những đồng đội của ông.

Thời của cha tôi, miền Bắc XHCN là một xã hội khép kín. Hệ thống tuyên truyền đồ sộ của Đảng Cộng sản đã rất thành công trong việc tuyên truyền, lồng ghép giữa chủ nghĩa cộng sản, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Câu nói của TS.Goebbels: “Sự thật là cái không phải sự thật được nhắc đi nhắc lại nhiều lần” được áp dụng triệt để trong xã hội đó.

Mỗi tân binh, như cha tôi, được xem đi xem lại những bộ phim chiến tranh tuyên truyền về tội ác của Mỹ – Ngụy. Từng mảnh xác người chết bởi bom đạn của B52. Những ngôi nhà tan nát. Những em thơ ánh mắt ngơ ngác. Những thiếu phụ đầu chít khăn tang, khuôn mặt hốc hác. Những người mẹ già với đôi mắt sâu thăm thẳm.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Những “nhà văn”, “nhà thơ” con cưng của chế độ như Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Anh Đức cũng đã góp phần quan trọng trong việc đưa những người trai trẻ ấy ra chiến trường, và cả triệu người đã không bao giờ quay lại.

Anh Đức nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết “Hòn Đất”.

Cuốn tiểu thuyết viết về những người du kích miền Nam đầy anh dũng, những gia đình miền Nam một lòng hướng về phía “Đảng” và “Bác Hồ” và những người lính Việt Nam Cộng hòa hiện lên như hiện thân của ác quỷ, ăn thịt, moi gan, uống máu, hãm hiếp dân thường… Một người miền Nam tập kết ra Bắc và viết như thế, trong một xã hội khép kín và thiếu thông tin như thế, ai mà không tin?

Và thế là hàng triệu thanh niên miền Bắc đã lên đường ra chiến trường. Họ đã sống, đã chiến đấu và đã chết với niềm tin sắt son rằng mình đang “giải phóng” miền Nam khỏi những kẻ ngoại bang xâm lược, như những cuộc chiến chống xâm lược suốt ngàn năm qua của dân tộc Việt.

Sau cái ngày 30/04 đó, lần đầu tiên cha tôi tiếp xúc trực tiếp với những người lính phía bên kia (những người mà sau này ông thường kể với tôi, họ cũng là người lính và họ cũng chiến đấu dũng cảm như chúng ta ở phía bên này).

Cha tôi được giao nhiệm vụ trong một trại học tập cải tạo của các viên chức và sỹ quan Việt Nam Cộng hòa.

Không như những gì mà ông được tuyên truyền, những người phía bên kia mà ông tiếp xúc đều là những người nhã nhặn, lịch sự và có trình độ văn hóa cao. Đó là lần đầu tiên, ông nhận thấy có điều gì đó không đúng.

Ngược lại, cha tôi bắt đầu nhìn thấy mặt trái của những người cộng sản. Ông đã nhìn thấy những sỹ quan Bắc Việt tìm cách moi tiền từ những tù binh phía bên kia và gia đình của họ.

Ông cũng đã chứng kiến những vụ đánh đập ngược đãi với những người lính gan dạ và dũng cảm, những người có cùng dân tộc, cùng màu da, cùng ngôn ngữ nhưng không cùng lý tưởng.

Và ông thường kể với tôi điều ông ân hận nhất, một người đồng đội của ông cố tình thả cho tù nhân chạy rồi đuổi theo bắn chết. Đôi mắt của người chết vẫn ám ảnh cha tôi đến bây giờ. Người đồng đội đó của ông sau này cũng bị đột tử, và cha tôi thường nói với tôi, đó là “nhân quả”.

Một sự kiện nữa cũng đã làm thay đổi những suy nghĩ của cha tôi. Đó là phía Bắc, người anh em cộng sản trở mặt. Những người bạn và cả những người đồng chí của ông bị trục xuất về Trung Quốc, đôi khi chỉ vì trót mang cái họ giống với họ của người Hoa.

Tình anh em, tình đồng chí sao mà mong manh thế? Khi cần thì anh em tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, khi không cần nữa thì lập tức thành “Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc” và sẵn sàng trút súng đạn điên cuồng vào nhau?

Sau cuộc chiến khốc liệt ở biên giới, cha tôi lặng lẽ giải ngũ, đốt hết huy chương và bằng khen, sống một cuộc sống dân sự bình thường, mặc cho những đồng đội của ông, sau khi học thêm vài ba lớp chính trị, trở thành cấp tướng, cấp tá… Ông không bao giờ muốn nhắc lại về những ký ức chiến tranh khốc liệt nữa.

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày gì? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra mình đã bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.

Còn nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày gì? Thì tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hãy gọi 30/04 là ngày phán xét.

Ngày phán xét những kẻ đã đẩy dân tộc vào cuộc chiến huyết nhục tương tàn.

Ngày phán xét những lãnh đạo miền Bắc thời điểm đó, những kẻ đã trực tiếp đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lên giàn hỏa thiêu, vì một thứ lý thuyết không tưởng, mơ hồ và thiếu thực tế.

Ngày phán xét cho những kẻ tự khoác lên mình chiếc áo nhà văn, nhà thơ, cổ động người ta lao vào chỗ chết, lao vào những cuộc chém giết với lòng căm thù không giới hạn.

Còn thống nhất ư? Hòa giải ư? Làm sao có thể thống nhất và hòa giải khi những kẻ thủ ác còn chưa bị trừng phạt? Lịch sử rồi sẽ phải ghi chép lại một cách công bằng và khách quan. Tội ác rồi sẽ bị trừng phạt, chỉ là sớm hay muộn!

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia.

Mong các bạn hiểu rằng, cha tôi và các đồng đội của ông và các bạn cũng đều chỉ là nạn nhân của cuộc chiến phi nhân này. Nói cho cùng thì tất cả chúng ta đều là những kẻ thua cuộc.