Mother’s Day và ước mơ Được Làm Mẹ

Mother’s Day và ước mơ Được Làm Mẹ

Nguoi-viet.com

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Hôm nay Ngày Lễ Mẹ. Từ hai ngày trước, chị N.H, chủ nhân một tiệm bánh Pháp ở Houston, đã phải thức suốt đêm ngoài tiệm, để làm kịp những chiếc bánh đẹp mắt nhất cho những đứa con đến mua về tặng cho các bà mẹ.

“Tôi chúc họ Happy Mother’s Day. Họ cũng chúc lại tôi như thế. Nhưng họ đâu biết, trong tôi tràn ngập một nỗi bùi ngùi. Tôi là một phụ nữ. Tôi là một người vợ. Tôi cũng muốn làm một người mẹ. Nhưng có lẽ cả đời này tôi sẽ không bao giờ nghe được hai tiếng gọi ‘Mẹ ơi’.” Giọng người phụ nữ như lạc vào chốn nào.

Khao khát đó của chị N.H, cũng như của bao người phụ nữ đang hiếm muộn hay từng trải qua thời gian đau khổ trước khi được ôm trong tay một đứa con của chính mình, càng trở nên tha thiết vô cùng ở thời khắc này.

Mặc cảm ‘không có con’

Đài Trang, y tá làm việc ở Kaiser, cùng hai con có được do thụ tinh trong ống nghiệm:

“Có con có sự lo, có sự cực, nhưng niềm vui con cái mang lại không có tiền bạc nào mua được hết.” (Hình: Đài Trang cung cấp)

Mặc dù đã hơn 13 năm buông xuôi hành trình đi tìm cho mình một đứa con, vậy mà đến thời điểm này, cảm giác “đau đớn, thiếu thốn” của người đàn bà chưa một lần được làm mẹ trong chị N.H vẫn như nguyên vẹn.

Lập gia đình năm 38 tuổi với một người mà chị chọn lựa thật kỹ để “người ấy có thể không là một người chồng tốt nhưng chắc chắn sẽ là một người cha tốt,” nhưng chị N.H lại không thể ngờ đường con cái của mình lại quá gian nan.

“Tôi lập gia đình là vì tôi muốn có con. Ngay từ lúc mới lớn, tôi đã muốn có con. Tôi muốn cho con mình tất cả những gì mình từng thiếu thốn trong đời.” Ước mơ giản dị tưởng chừng như sẽ là một tất nhiên với bất kỳ người phụ nữ nào, lại bỗng trở nên quá tầm tay với đối với chị N.H.

Năm năm liên tiếp sau khi lập gia đình là 5 năm chị N.H như bị chìm trong sự khủng hoảng bởi nỗi khao khát có một đứa con không thành hiện thực. Để rồi khi chấp nhận đầu hàng, từ năm 2002, đến giờ, chị vẫn ngậm ngùi “Tôi chưa từng nghĩ sanh con để sau này nó nuôi mình, mà sanh con là để được thương yêu, chăm sóc nó, để cho nó tất cả những gì mình thiếu thốn thuở nhỏ, và để được thấy mình là đàn bà, là người mẹ. Nhưng tôi không có được. Buồn lắm.”

Khác với chị N.H, Kiều Oanh lập gia đình năm 2002, khi cô 28 tuổi, và có bầu ngay lập tức. Tuy nhiên, thời gian đó vừa muốn đeo đuổi tiếp chương trình học cao học, vừa gặp khó khăn trong công việc nên Oanh chọn giải pháp không sanh con, bởi “tôi nghĩ mình còn trẻ chờ vài ba năm nữa ổn định rồi sanh cũng không sao.”

Tuy nhiên, đến lúc sẵn sàng cho việc có thêm một thành viên mới trong gia đình thì “không thấy gì hết.” Chờ đợi hoài không có bầu, Oanh đi bác sĩ thì biết mình bị “tắt vòi trứng.”

Sau sáu tháng chữa trị, Oanh đón nhận tin vui. Nhưng. Cuộc đời luôn có những chữ “nhưng” nghiệt ngã. Oanh bị thai ngoài tử cung. Kết thúc một tháng nằm bệnh viện với hai lần giải phẫu, hai tuần tiêm hóa chất, Oanh trở về nhà, chờ đợi.

Dẫu vậy, cảm giác có một sinh linh mới tượng hình trong cơ thể mình đã không quay trở lại với Kiều Oanh.

“Gia đình chồng mong tôi có con, nhưng mà họ cũng không tỏ ý trách móc gì, trừ ba chồng tôi. Ông nói thẳng hoặc là tôi ly dị để chồng tôi đi lấy vợ khác, hoặc tôi phải để chồng có con bên ngoài.” Oanh kể.

Với chị Khanh Charles, đang làm việc như một chuyên viên thẩm mỹ ở Orange County, thì việc mong muốn có một đứa con ở tuổi 47-48 là “để thể hiện tình cảm trân quý những gì mà người chồng sau đã lo lắng cho mấy mẹ con tôi suốt những năm qua. Tôi muốn ảnh vui, muốn mẹ ảnh vui.”

Vẫn là một suy nghĩ đầy tính nhân bản của một người phụ nữ. Không chỉ cảm kích những ân tình mà người chồng sau mang lại cho mình, chị Khanh còn nhìn thấy cả nỗi khao khát con của người chồng đã ngoài 50, và nỗi mong đợi cháu của bà nội đã bước gần đến tuổi 90.

“Chồng tôi chỉ có hai mẹ con, ba ảnh mất khi ảnh lên hai tuổi, mẹ ảnh ở vậy nuôi ảnh ăn học. Năm 75 hai mẹ con đi sang đây, đến giờ vẫn không hề có một ruột rà thân thích nào hết. Cho nên việc trông ngóng có một thế hệ thứ ba trong gia đình ảnh lại là một áp lực rất lớn với tôi.” Chị Khanh tâm sự.

Những tưởng đã trải qua ba lần sanh nở tự nhiên với người chồng trước, thì cũng không gặp bất kỳ trở ngại nào ở lần này. Thế nhưng, chữ “không ngờ” có chừa một ai. Chị Khanh cũng mất năm năm đeo đuổi với bao nỗi lo chất chồng để đạt được ước mơ sanh cho chồng sau một đứa con.

Còn Đài Trang, một y tá đang làm việc ở Kaiser, đã gần như rơi vào cơn trầm cảm khi phát hiện ra mình bị chứng bệnh đa nang buồng trứng (PCOS – Polycystic Ovary Syndrome) trong quá trình đi tìm hiểu lý do vì sao mình lại không thể có bầu.

Bởi lẽ, với căn bệnh đó, ngoài chuyện không thể thụ thai bình thường, nó còn là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường, ung thư, các tai biến… trong khi “từ nhỏ tới lớn, lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ mình sẽ là mẹ của ba đứa con. Mà chưa bao giờ trong đầu nghĩ đó sẽ là con ruột hay con nuôi, chỉ biết là có ba đứa.”

Sau thời gian khủng hoảng với việc lên cân, từ cô gái mảnh khảnh 90 pounds, chỉ trong hai năm, Trang nặng hơn 140 pounds, và đau khổ, khóc lóc, tự nhốt mình trong chính mình, không muốn trò chuyện với bất kỳ ai, Trang bắt đầu đối diện với sự thật:“Bệnh mình, mình không chữa thì ai giúp mình?”

Trang bắt đầu hành trình đi tìm cho mình những đứa con trong giấc mơ ngày nào…

Chị Khanh Charles cùng chồng và con gái Kiera Khanh Nguyễn:

“Tôi và ông xã quá khổ mới có Kiera nên đứa con này thực sự là vô giá.” (Hình: Khanh Charles cung cấp)

Tìm con’ – đoạn trường ai có qua cầu mới hay

Biết mình không thể có con bình thường, nhiều người khuyên Trang tìm con nuôi.

“Tôi cũng sẵn sàng cho chuyện tìm con nuôi nhưng đồng thời vẫn muốn được sanh con, muốn có một đứa con mang dòng máu của chính mình.” Trang giãi bày.

Tuy nhiên, với chứng bệnh đa nang buồng trứng, Trang chỉ còn một chọn lựa duy nhất để có con, đó là thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization – IVF).

Với phụ nữ hiếm muộn hay gặp khó khăn trong việc mang thai, ngoài việc cần phải có tiền để có con bằng cách này hay cách khác, thì sức ép tinh thần mang lại từ nỗi lo, sự khắc khoải, buồn phiền lại nặng nề hơn bao giờ hết. Đài Trang không là ngoại lệ.

Dành dụm, chắt chiu để có đủ số tiền làm IVF lần thứ nhất. Thất bại. Lần thứ hai. Lại thất bại.

“Mỗi lần làm đau lắm, nhất là khi bác sĩ đưa dụng cụ vào lấy trứng ra rất là đau. Đau nhưng ba ngày sau mình phải khỏe để bác sĩ đặt bọc trứng đã bơm tinh trùng vào. Không khỏe cũng phải khỏe, nếu mình nghĩ cơ thể mình yếu thì làm sao có bầu được.” Trang nói về ý chí làm mọi cách để có con.

Đó là chưa kể có lúc cơ thể quá nhạy cảm với những “vật lạ” từ ngoài đưa vào, cô còn bị sưng, bị phù phải vào bệnh viện. Nhưng vì nỗi khao khát có con, cô bất chấp hết. Chỉ biết “mỗi lần không thành công, thai không đậu là mỗi lần buồn, khóc quá trời.”

Nhưng sau cùng, Trang được đền bồi cho tất cả những gì mình cố gắng. Dù rằng “hai tuần sau khi biết là thai đậu, thì cũng là lúc bắt đầu ói mửa như điên. Trong suốt thời gian mang bầu cho đến khi sanh được đứa con đầu tiên, tôi phải nghỉ làm hẳn, vì ói kinh khủng lắm, từ lúc có bầu cho đến gần tháng thứ bảy. Vừa ngưng ói ba tuần thì sanh non.”

“Nhưng có con rồi thì mình thấy tất cả những gì mình trải qua đều là xứng đáng hết, tất cả đều không còn quan trọng gì nữa hết.” Trang nói bằng giọng mãn nguyện sau quá trình gần 5 năm mới có được mụn con đầu.

Tương tự như Đài Trang là trường hợp chị Khanh Charles. “Không một ai trong gia đình tôi lẫn bạn bè tán thành việc tôi mang thai sanh con ở tuổi 47-48, ngoại trừ chồng tôi, lúc đó ảnh 53 tuổi.”

Sau năm năm làm đủ mọi cách, “ai chỉ gì làm đó nhưng đều thất bại”, chị Khanh chọn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, dù bác sĩ nói cơ hội thành công ở những người lớn tuổi như chị chỉ từ 15 đến 20%. “Vừa làm vừa cầu nguyện và may mắn sao ngay trong lần đầu tiên là được luôn.”

Biết tin thai đậu, là suốt 3-4 tháng liền chị Khanh chỉ nằm một chỗ, chích thuốc liên tục. Bên cạnh nỗi lo của một người lớn tuổi mang thai, người mẹ này lại bị hiện tượng “thai bám cổ tử cung”, nguy cơ sẩy thai rất dễ dàng. Nỗi lo chồng chất nỗi lo.

Không chỉ vậy, trong “quyết định sống còn” này, chị Khanh lại từ chối hết mọi cuộc xét nghiệm để xem bào thai có bị các dị tật hay bệnh hiểm nghèo gì không.

Chị bảo, “Nếu xét nghiệm mà biết nó bị hội chứng ‘Down’ thì sao? Bỏ à? Tôi không nghĩ vậy. Vả lại, tôi tin rằng không một ai trong gia đình mình bị thì sẽ không có chuyện gì xảy ra.” Người mẹ mang tâm trạng lo lắng triền miên đó cho đến ngày cô con gái chào đời, “làm thay đổi hết cuộc đời” chị.

Dẫu gian nan, mòn mỏi, và số tiền bỏ ra không nhỏ nhưng sau cùng Đài Trang hay chị Khanh Charles đều đã có thể được ôm ấp, được chăm sóc, được yêu thương đứa con của mình. Trong khi niềm hạnh phúc đó với Kiều Oanh hay chị N.H vẫn đang ở xa tầm tay với.

Khao khát được nghe một lần “Mẹ ơi”

Kiều Oanh chọn cách thích nghi với cuộc sống không con, “về già mình sẽ vào viện dưỡng lão.”

Trong hình, Kiều Oanh và đứa cháu cô nuôi nấng như con. (Hình: Kiều Oanh cung cấp)

Kiều Oanh, hai năm sau khi chữa trị thai ngoài tử cung, vẫn không mang bầu. Cô tích cóp tiền làm thụ tinh trong ống nghiệm. Thất bại lần đầu. Hai năm sau, lại chắt mót với sự phụ giúp thêm của gia đình, cô làm lần thứ hai. Vẫn thất bại.

“Tôi rất buồn vì miệng lưỡi thế gian. Họ chỉ biết gặp mình và hỏi ‘sao không đẻ con đi’ mà không hiểu được tâm trạng mình là gì.” Oanh tâm sự.

Không có đủ tài chánh để tiếp tục theo đuổi ước vọng này, Oanh chỉ biết chọn cách thích nghi với cuộc sống không con, “về già mình sẽ vào viện dưỡng lão,” dù rằng “Tôi nghĩ được làm mẹ là một cảm giác tuyệt vời, và tôi vẫn luôn mong muốn điều đó.” Oanh ray rứt.

Chị N.H thì truân chuyên hơn trong hành trình đi tìm giọng nói của trẻ thơ.

Biết rằng trứng mình không đủ khỏe để làm thụ tinh trong ống nghiệm, chị N.H tâm sự với em gái ruột của mình, để xin trứng vì “dù sao đó cũng là dòng máu chị em mình.” Người em đồng ý cho trứng để bơm tinh trùng của chồng chị N.H vào, sau đó sẽ đưa vào cơ thể chị N.H. Chị N.H sẽ là người mang thai.

Mọi sự chuẩn bị đâu vào đó thì, đùng một cái, “bên gia đình chồng cô em gái không đồng ý, ông Cha ở nhà thờ cũng cho rằng làm như vậy là vi phạm quy tắc một vợ một chồng.”

Khát vọng được làm mẹ đưa chị N.H đi đến một quyết định táo bạo: đăng báo tìm người cho trứng!

Chị kể, “Chỉ có duy nhất một cô gọi điện thoại lại cho tôi. Cổ đồng ý cho, dĩ nhiên, tôi sẽ có tiền bồi dưỡng cho cổ.”

Thế nhưng. Lại là “nhưng.”

“Lý do để tôi không thể nhận trứng của cô gái đó là vì cổ cho biết đã từng cho người khác trứng của cổ rồi.” Chị nói.

“Như vậy, làm sao biết được sau này, con tôi và con của ai đó cũng mang trứng của cổ lớn lên, gặp nhau, yêu nhau, thì đó có phải là anh/chị em cùng mẹ lấy nhau không?” Suy nghĩ đó khiến chị N.H rùng mình, và từ chối cơ hội có thể được làm mẹ.

Vẫn chưa bỏ cuộc. Chị N.H về Việt Nam tìm kiếm sự giúp đỡ. Chị cũng tìm được một cô gái ở quê đồng ý cho trứng và mang thai giúp chị, bởi “sau bao nhiêu lần điều trị bướu, trong người tôi có quá nhiều ‘tì vết’ nên thai không thể nào bám được.” Chồng chị N.H, một người đàn ông gốc Pháp, dù cũng quá mệt mỏi với hành trình tìm con cho vợ, nhưng vẫn theo chị về Sài Gòn để gặp bác sĩ trong hy vọng phương pháp thụ thai trong ống nghiệm sẽ thành công khi có người cho trứng và mang thai giúp.

Mọi việc sẵn sàng, thì, chị N.H đụng phải những rắc rối về thủ tục pháp lý. Làm sao chứng minh được đứa bé đó là con của mình, mình là cha mẹ nó, để mang nó ra khỏi Việt Nam rồi nhập cảnh vào Mỹ?

Thế là, thêm một lần bỏ cuộc.

Trở lại Mỹ, chị N.H chỉ còn biết bám vào cơ hội cuối cùng: tìm xin con nuôi.

Chị N.H đã thức suốt đêm ngoài tiệm để làm kịp những chiếc bánh đẹp mắt nhất nhân ngày Lễ Mẹ,

“nhưng có lẽ cả đời này tôi sẽ không bao giờ nghe được hai tiếng gọi ‘Mẹ ơi’.” (Hình: N.H cung cấp)

“Đứng ngoài nhìn vào thấy gì cũng dễ, nhưng bước chân vào mới thấy cam go ra sao. Xin con nuôi ở Mỹ không dễ dàng một chút nào hết. Chi phí để xin một đứa con nuôi ở đây nhiều kinh khủng. Ngoài việc họ kiểm tra lý lịch ‘cả 3 đời’ của cả hai vợ chồng, họ còn xem thu nhập có đủ không, nhà cửa ra làm sao, bắt buộc phải có phòng riêng cho đứa bé… Nhiêu khê lắm! Tôi thấy mình không đáp ứng đủ các điều kiện để xin con nuôi ở Mỹ nên đành phải từ bỏ.” Chị N.H nói bằng giọng không thể buồn hơn.

Sau 6 năm kiên trì đeo đuổi đủ mọi cách, đến năm 2002, chị N.H chấp nhận bỏ cuộc.

“Thấy nhà người ta có con cái, tôi thích lắm, nhưng cũng buồn lắm.” Chị nén tiếng thở dài.

Thiêng chức làm Mẹ – không gì đánh đổi

May mắn có được đứa con như mơ ước, giọng chị Khanh dường như vẫn còn rạng rỡ nỗi hân hoan, “Tôi và ông xã quá khổ mới có nó nên đứa con này thực sự là vô giá. Bé Kiera ra đời làm thay đổi hết cuộc đời tôi. Khó khăn qua đi, mẹ chồng cũng vui với mình, chồng cũng thương mình hơn, tất cả vì đứa con này.”

Đài Trang thì kể, “Có con thật là cực nhưng mình có niềm vui khác. Mỗi ngày thức dậy chỉ muốn thấy con, đi làm cực khổ về chỉ muốn chơi với con thôi. Tôi đi làm y tá, làm thêm được biết bao nhiêu tiền, nhưng tôi không quan tâm, hết giờ tôi chỉ muốn về nhà gặp con mình mà thôi. Có con có sự lo, có sự cực, nhưng niềm vui con cái mang lại không có tiền bạc nào mua được hết.”

“Lúc trước buồn, tôi có thể đi shopping mua cái bóp L.V, vui được một ngày, một tuần, hai tuần, nhưng mà có con niềm vui đó không thể diễn tả được. Nó thiêng liêng lắm. Như con gái tôi được 2 tuổi, nó biết mình yếu, nên đi đâu nó cũng lấy cái nón cho mình, nắm tay mình, sự ân cần quan tâm đó không có tiền bạc nào mua được hết. Những điều đó sẽ làm mình nhớ cả đời, chứ mua cái bóp mình có nhớ cả đời đâu.” Giọng người mẹ đong đầy hạnh phúc.

Sau khi có được đứa con trai thứ nhất, Trang đã có thêm đứa con gái thứ hai. Và hiện tại, cô lại chuẩn bị thụ tinh trong ống nghiệm lần ba cho trọn vẹn giấc mơ có ba đứa con ngày nào.

Riêng với chị N.H và Kiều Oanh, điều họ nuối tiếc nhất khi không thực hiện được thiêng chức của người mẹ là ở chỗ: không có người kế thừa lại những di sản mà họ muốn trao.

“Di sản không phải là tài sản vật chất. Mà đó là những gì tốt đẹp nhất mình chắt chiu muốn để lại cho con mình, nếu có.” Oanh giải thích.

“Với những gì mình đã trải nghiệm, mình mong muốn có con để bù đắp, để cho nó những gì mình từng mơ ước, từng thiếu thốn. Nhưng mình muốn mà trời không muốn, biết làm sao đây.” Nỗi niềm của người phụ nữ đang chuẩn bị bắt tay làm tiếp những chiếc bánh thật đẹp cho khách hàng nhân ngày Lễ Mẹ, nghe thênh thang trong đêm…

Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com

TBT Nguyễn Phú Trọng đang ‘yếu thế’?

TBT Nguyễn Phú Trọng đang ‘yếu thế’?

Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng

Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng trong cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri ở Hà Nội hôm 09/5/2015.

Phát biểu khi tiếp xúc cử tri cuối tuần này của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng cho thấy ông đang yếu thế, theo nhà quan sát từ Canada.

Hôm 09/5/2015, truyền thông Việt Nam trích dẫn lời của ông Nguyễn Phú Trọng tại một cuộc tiếp xúc cử tri ở Quận Ba Đình, Hà Nội, trong đó ông Trọng nói:

“Ngăn kẻ cơ hội vào Trung ương không đơn giản” và “Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?”.

” Một điều nữa chứng minh rằng Đảng cộng sản Việt Nam và phe cánh của Đảng đã bị thua rất là nặng so với phe cánh của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Luật sư Vũ Đức Khanh”

Bình luận về các phát ngôn này, hôm thứ Bảy từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh, Giáo sư Luật học tại Đại học Ottawa cho rằng đây là cách nói của ‘người yếu thế’.

Nhà quan sát cho rằng tương quan lực lượng trong nội bộ Đảng Cộng sản trước kỳ Đại hội Đảng lần thứ 12 hiện đang cho thấy ông Tổng Bí thư và ‘phe cánh’ của ông ‘suy yếu’ và ‘kém thế’ so với ông Thủ tướng chính phủ và ‘phe quyền lực’ của Thủ tướng.

Ông Khanh nói:

“Một điều nữa chứng minh rằng Đảng cộng sản Việt Nam và phe cánh của Đảng đã bị thua rất là nặng so với phe cánh của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

“Chương trình cải cách của ông Nguyễn Tấn Dũng theo tôi được biết sẽ không còn sử dụng cơ chế ‘Tam đầu chế’, tức là một bên là Chính phủ, một bên là Đảng, một bên là Quốc hội.

“Tôi nghĩ rằng trong giai đoạn mới sẽ gom về một mối. Tức là ông Nguyễn Tấn Dũng có tham vọng trở thành Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam, kèm thêm một chức vụ có thể nắm luôn cả Chủ tịch Nước.”

‘Kẻ thua cuộc’

Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng chỉ những người ‘thua cuộc’ mới hay ‘nói nhiều’ và ‘nói lớn lên’, đồng thời cho từ sâu xa, các phát biểu nói trên, mặc dù không tường minh ‘nhắm vào đối tượng nào’ cho thấy ông Trọng có thể lo lắng về vị thế đang lên của Thủ tướng đương kim.

Ông Khanh nói:

“Trong bất cứ một cuộc đấu, cạnh tranh nào cũng có người thắng và kẻ thua, những phát biểu của ông (Nguyễn Phú Trọng) chỉ thể hiện lên được là nhóm của ông ta ở trong vị trí đang thua.

“Nên những người thua cuộc thì thường hay la, hay la làng lên, hay la lớn tiếng này kia về những tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ.

“Nhưng chúng ta quan sát kỹ bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 11 vừa qua, thì chúng ta thấy rằng những tiêu chuẩn đó cũng quá mập mờ, chồng chéo nhau, cái này dính vào cái kia, rất là phức tạp.

“Nhưng tựu chung, như thế nào là thì gọi là người cơ hội chủ nghĩa, thì vấn đề đó ông Trọng và những người theo quan điểm của ông ấy cần phải nêu rõ ra. Cái khái niệm như thế nào gọi là người cơ hội chủ nghĩa?”

” Trở lại Hội nghị Trung ương 9, Hội nghị Trung ương 10, thì chúng ta thấy rằng ngay cả Hội nghị Trung ương 9 cũng không có chỉ rõ là ‘đồng chí X’ là ai? Nếu như mà thực sự bên phía Đảng đã mạnh, thì chúng ta đã biết rằng ‘đồng chí X’ là ai rồi

Luật sư Vũ Đức Khanh”

Nhà quan sát cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới việc thâu tóm một lúc hai ghế quyền lực là ‘Tổng bí thư’ và ‘Chủ tịch nước’ và do đó đã đang có những động thái vận động mà rõ rệt nhất là bài diễn văn hôm 30/4/2015 vừa qua.

Theo nhà luật học, trong bài diễn văn này, ông Dũng đã nhắm vào việc lôi kéo những người ‘ở phe đảng’ và ra chỉ dấu với họ rằng: “nếu các anh không đi với tôi, thì các anh sẽ thành người thua cuộc”.

Theo ông Vũ Đức Khanh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa bao giờ rõ ràng khi nói về những thành phần được gọi là “kẻ cơ hội” và nhà quan sát nói nếu phe đảng ‘đã mạnh’ hơn các phe khác, thì trong các kỳ Hội nghị trước, các đảng viên, cử tri và quần chúng đã biết được, chẳng hạn như, “Đồng chí X” là ai.

Luật sư nói thêm: “Nếu chúng ta trở lại Hội nghị Trung ương 9, Hội nghị Trung ương 10, thì chúng ta thấy rằng ngay cả Hội nghị Trung ương 9 cũng không có chỉ rõ là ‘đồng chí X’ là ai?

“Nếu như mà thực sự bên phía Đảng đã mạnh, thì chúng ta đã biết rằng ‘đồng chí X’ là ai rồi.”

Gần đây, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những thông điệp nhắm tới vai trò của quân đội, trong đó ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh ‘không được phi chính trị hóa quân đội’ và ‘quân đội phải trung thành với Đảng Cộng sản.”

Trong khi đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11, những người chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng đã đặt ra vấn đề về “tiêu chuẩn” nhân sự lãnh đạo Đảng, trong đó nhấn mạnh “chọn lãnh đạo không tham vọng quyền lực”, một khái niệm mà tới nay dường như chưa được rõ nội hàm và đối tượng nhắm tới lắm, theo giới quan sát.

BỐN MƯƠI NĂM và câu chuyện đổi đời

BỐN MƯƠI NĂM và câu chuyện đổi đời

Huy Phương

quangtri1972-1

Huy Phương

“Trời còn khi nắng khi mưa
Ngày còn khi sớm khi trưa, nữa người!”

(Ca Dao)

Ông sĩ quan cao cấp sang đây quá chậm trong khi những người đi trước đã ổn định cuộc sống. Trong những ngày tháng chờ đợi, một hạ sĩ quan của ông ngày trước, bây giờ là một chủ tiệm phở khá đắt khách, ngỏ ý giúp ông việc làm trong tiệm của anh. Anh không thể biếu người chỉ huy cũ của mình một số tiền, nhưng có thể giúp ông một số thu nhập hằng tháng. Nhưng ông này thẳng thắn từ chối, và nói với những người quen là: “Tao mà đi làm công cho thằng lính hồi xưa của tao hay sao?”
Ông tổng giám đốc một cơ quan ngày trước sang định cư tại đất này, chán ngán vì cảnh đời vân cẩu, bể dâu, theo ông, những “thằng” ngày xưa không đáng làm tài xế cho ông, qua Mỹ trước ông, nay nhà cao, xe đẹp, có cuộc sống thong dong, trong khi ông không kiếm nỗi được việc làm năm đồng bạc một giờ. Ông sinh ra bi quan, hận đời, chưa già mà tóc đã bạc phơ, sống cuộc đời khép kín, không muốn giao du với ai.

Nhiều cấp chỉ huy hành chánh và quân sự ngày trước, sang đây ngậm ngùi làm nghề cắt cỏ, thợ sơn, lau nhà, gác cổng…, nhưng cũng không thiếu những “lính trơn” qua đến vùng đất hứa thành công vượt bực.
Có những người vui vẻ nhận một cuộc sống thay đổi. Một bác sĩ quân y, rất giỏi giải phẫu, sau khi chịu cảnh tù đày, đến Mỹ chậm trễ, không có cơ hội học lại nghề cũ, ông phải vào shop may. Bàn tay ông trước kia thành thạo việc mổ xẻ, cắt khâu cho thương binh từ mặt trận về, thì bây giờ hai bàn tay ấy, suốt nhiều năm cắt chỉ, đóng khuy, không hề mang một chút mặc cảm. Một vị hiệu trưởng một trường trung học, sang đây làm nghề giao pizza suốt 13 năm, lái xe suốt mấy chục nghìn dặm đường, nhận những đồng tiền tip của thiên hạ để nuôi con và có đủ phương tiện bảo lãnh hai con đã lập gia đình trước lúc ông được đến Mỹ. Một vị giáo sư Thanh tra Trung học, phụ tá của một Phụ Tá Tổng Trưởng Giáo Dục, quên quá khứ để làm lại cuộc đời trên đất Mỹ, từ những nghề vẫn được xem là “thấp kém” như y công trong bệnh viện (CNA-Certified Nursing Assistant,) giữ trẻ em (babysitter), thợ làm bánh bông lan để sống còn và có cơ hội để lo cho các con còn ở Việt Nam sang đoàn tụ với cha mẹ.

Những người thành công ở hải ngoại thường là những người quên quá khứ của mình, sẵn sàng làm lại cuộc đời. Một quân nhân trước đây mang cấp bậc trung sĩ, di tản vào những ngày cuối cùng trong cuộc chiến, sang đây đã chịu khó cắp sách đến trường và bây giờ là một luật sư khá nổi tiếng. Để làm gương cho con cháu và tuổi trẻ Việt Nam ở Mỹ, ông Nguyễn Ngọc Sẳng, một người tù sau khi ra khỏi tại tập trung, phải đi làm những nghề mà xã hội vẫn xem thường như đi bán vé số ở bến xe và quán nhậu, xách nước ngọt cho du khách tắm ở Vũng Tàu, đã phấn đấu khi đến Mỹ, lấy bằng Tiến Sĩ Giáo Dục khi ông đã 63 tuổi. Xuất thân là nghề “nhà binh”, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Giáp Nguyễn Hữu Lý đã nhận bằng Cao Học Văn Chương tại Dallas năm 73 tuổi. Nguyên Thượng Nghị Sĩ VNCH, ông Lê Tấn Bửu bị tù tập trung 13 năm, đến Mỹ năm ông đã 70 tuổi, đáng ra là tuổi dưỡng già, ông đã trở lại làm sinh viên và tốt nghiệp Tiến Sĩ năm 81 tuổi.

Nếu có một sự so sánh giữa hai cảnh đời trôi nổi, thì người bi quan than thở cho số phận, chức tước, địa vị, của cải, bổng lộc không còn, còn người lạc quan lấy hoàn cảnh của họ sau năm 1975, sau khi đi tù về hay những ngày đói khổ ở Việt Nam để nói những lời tri ân với cuộc sống mới. Ông Nguyễn Thanh Ty, một cựu tù nhân chính trị, đã nói:
“Nếu không có nước Mỹ thì có lẽ thằng con trai tôi, giờ này đang ôm bình cà rem đi bán ở Chợ Đầm, Nha Trang. (cháu đã đỗ kỹ sư sau khi cha định cư ở Mỹ)

Ông H.O. Nguyễn Ngọc Trạng thì tâm sự: “Nếu không có cuộc đổi đời này, thì thằng con bị tâm thần của tôi chắc phải đi ăn xin ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ và thân tôi còn đạp xe ôm ở bến Bắc Mỹ Thuận cho đến khi ngã xuống vì kiệt lực.”

Trong chiến tranh có rất nhiều cảnh đổi đời trái ngược. Có người giàu có bạc triệu, ngày 30 tháng 4-1975, bỏ nước ra đi chỉ với hai bàn tay trắng. Cũng có người nghèo khó, vượt biển ra hải ngoại, ngày nay đã trở thành triệu phú ở hải ngoại. Xuất thân con nhà nhèo, thuở nhỏ phải đi chăn trâu, vào trường tiểu học không có được một cái giấy khai sinh, ngày nay, Hồ Văn Trung là Chủ tịch Tập đoàn Trangs Group sản xuất thực phẩm, có trụ sở và chi nhánh khắp nơi trên thế giới như: Úc, Mỹ, Anh, Việt Nam, Châu Phi…

Thế gian vẫn thường quan niệm: “Con Vua thì lại làm Vua, con Sãi ở chùa thì quét lá đa!” nhưng chiến tranh và loạn lạc sinh ra chuyện đổi đời. Ngày nay con Vua phải đi bán chợ Trời (trường hợp Mệ Bảo Ân con Vua Bảo Đại sau năm 75,) con thầy Chùa thời buổi “mạt pháp”, trong tay có hàng triệu đô la là chuyện thường tình.
Nếu có kẻ bất tài, vô học mà may mắn leo lên chức vụ cao, người đời gọi cảnh này là “chó nhẩy bàn độc!”. Ngày nay, trên quê hương đổi đời có bao nhiêu loại “nhảy bàn độc!” Y tá chích thuốc, du kích khiêng cáng lên ghế Tể Tướng, thiến heo, thợ mộc đóng hòm cũng có ngày lên ngôi Hoàng Đế. Đến như Nikita Khrushchev, thuở nhỏ phải đi chăn lợn, có thể lên đến chức Tổng bí thư của Liên Bang Xô Viết. Có những chuyện đổi đời nhờ công lao khó nhọc, tinh thần cầu tiến nhưng cũng có những trường hợp “đổi đời” như chuyện “chó ngáp phải ruồi” mà người đời thường hay mai mỉa.
Nếu nói “xỏ xiên” chuyện đời đổi, thì không ai bằng ngòi bút Trần Tế Xương: “Công đức tu hành Sư có lọng, xu hào đủng đỉnh Mán ngồi xe!”

Người đời thường an ủi, cho rằng những chuyện thăng trầm, “lên voi xuống chó” đều do định mệnh, số phận đã an bài cho mỗi người. Nhưng câu chuyện 40 năm từ ngày người Việt Nam bỏ nước ra đi, và ngay cả những người của chế độ Cộng Sản trong nước đã có những cuộc đổi đời khốc liệt.
Nhưng “đổi đời” không phải là một định luật. Có những ông bác sĩ sau năm 1975 sang đây vẫn là bác sĩ, kỹ sư vẫn là kỹ sư (nhất là ngành công chánh), có ông quyền thế tham nhũng chạy trước mang theo cả bọc vàng, vẫn có vài căn nhà, mấy tiệm ăn hay mở đôi ba cái 7-11 cũng là chuyện thường tình.
Nhưng phần lớn, biến cố 30 tháng 4-1975 rõ ràng là “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông!”
Dân gian dã có câu “không có ai giàu ba họ, mà cũng chẳng có ai khó ba đời!”
Không cứ ở đời con Vua, số phận “đẻ bọc điều” thì lại làm Vua, còn dân đen “sinh ra dưới một vì sao xấu” suốt đời phải chịu số phận hẩm hiu.

Chấp nhận và an vui. Không phấn đấu được thì cho là số phận an bài, số phận có thể thay đổi được sự sống chết, sự giàu nghèo, may rủi, nhưng số phận không thay đổi được nhân cách, sự suy nghĩ và cái nhìn của con người đối với cuộc sống này. May mắn đổi đời giàu có, không trả thù dĩ vãng, kiêu ngạo vênh váo thì chẳng may sa chân chịu số phận thấp hèn, có gì đâu mà mặc cảm, tủi thân.
Vậy thì anh cũng đừng buồn, ngày nay anh không còn quyền cao, chức trọng hay không có tiền của trong tay, chuyện là anh có còn là người tử tế cho người ta thương yêu kính nể anh không?

Huy Phương

Đôi lời trong thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục.

Đôi lời trong thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục.

Tác giả bài viết: ĐGM. GB Bùi Tuần

Thánh lễ kỷ niệm 40 năm Giám mục của tôi hôm nay là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho tôi.

1-

*Hồng Ân lớn lao, vì qua Lễ Thụ Phong Giám Mục trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi nhận ra sự Chúa sai tôi vào lịch sử Việt Nam, ngay trong giờ phút Quê hương bước sang một giai đoạn mới, là một ơn đặc biệt.
*Hồng ân lớn lao, vì khi nhận ra sự trùng hợp lịch sử đó là do ý Chúa, tôi đã cùng với nhiều người, góp phần vào việc xây dựng sự hòa hợp, sự yêu thương trên Quê hương Việt Nam yêu dấu.
Hôm nay, mừng 40 năm hồng ân được Chúa sai đi, tôi xin nói ba lời: Xin cảm tạ, xin tha thứ và xin cầu nguyện.
2.
Trước hết, xin hết lòng cảm tạ Chúa vì muôn ơn Chúa ban cho tôi trong suốt 40 năm qua. Ơn mà tôi coi là quý giá nhất, đó là ơn biết lo nhận ra ý Chúa và biết lo thực thi ý Chúa trong một giai đoạn lịch sử đầy chuyển biến phức tạp.
3.
Thực vậy, giai đoạn lịch sử 40 năm qua đã có nhiều chuyển biến phức tạp, trong xã hội, trong Giáo Hội, và trong chính bản thân tôi.
Chúa dạy tôi là không nên và không thể tránh được những chuyển biến phức tạp đó, nhưng hãy nhìn chúng như một thực tế mà Chúa sai tôi vào, để sống mầu nhiệm nhập thể.
4.
Ý Chúa mà tôi nhận ra là: Sống trong một thực tế phức tạp như thế, tôi phải chú ý rất nhiều đến việc đào tạo mình. Chúa soi sáng cho tôi điều đó, bằng những lo âu rất nóng, Chúa đốt lên trong tôi.
Ý Chúa còn là: Tôi phải đào tạo mình nhờ động lực nội tâm luôn khao khát thuộc về Chúa, luôn thao thức được là người trung tín trong ơn gọi được sai đi.
Ý Chúa còn là: Sự đào tạo mình nhờ động lực nội tâm như thế sẽ phải thường xuyên gặp gỡ Chúa, luôn coi ơn thánh là ưu tiên hàng đầu, luôn kiên trì phấn đấu từ bỏ mình. Tất cả ý Chúa trên đây ví như ngọn lửa nung nấu lòng tôi.
5.
Tôi đã lo nhận ra ý Chúa.
Tôi đã lo cố gắng thực thi ý Chúa. Những lo lắng đó thực là ơn Chúa. Xin tạ ơn Chúa. Nhiều người tại Việt Nam đã làm gương cho tôi về sự nhận ra ý Chúa và thực thi ý Chúa như vậy.
6.
Gương sáng gần gũi nhất của tôi là Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ.
Trong suốt mấy chục năm sống thầm lặng, Đức Cha Cố Micae luôn là con người cầu nguyện, hãm mình và đọc các tài liệu tu đức. Ngài hay nói: “Phải tận dụng mọi thời giờ để lập công đền tội, xin Chúa cứu các linh hồn”. Tôi coi nếp sống đạo đức như thế của Đức Cha Cố Micae là một gương sáng về đào tạo chính mình trong tình hình mới.
Từ đó tôi nhận ra rằng: Đào tạo chính mình như vậy là chuẩn bị cho mình một nền nhân bản chắc về nhân ái, một nền văn hoá rộng về yêu thương, một nền tu đức sâu về bác ái, để dễ làm chứng cho tình yêu Chúa trong lịch sử phức tạp hiện nay. Những chứng nhân như thế có thể ví như những hạt lúa tốt gieo vào lòng đất Quê Hương Việt Nam này. Họ sẽ âm thầm liên kết các bàn tay hợp tác. Họ sẽ âm thầm nối kết các trái tim tình nghĩa. Tất cả sẽ đều vì lợi ích chung của Nước Chúa
7.
Tôi thường sợ mình không tự đào tạo mình đủ và đúng theo thánh ý Chúa. Biết sợ như vậy là một ơn Chúa. Nên tôi hết lòng cảm tạ Chúa về ơn biết sợ đó.
8.
Cùng với lời cảm tạ trên đây, tôi xin phép nói lên lời xin tha thứ.
Tôi xin hết lòng khẩn nài ơn tha thứ, vì suốt 40 năm qua, tôi đã lỗi phận rất nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những thiếu sót.
9.
Lãnh vực, mà tôi xin Chúa tha thứ nhiều hơn hết, chính là lãnh vực tha thứ. Nghĩa là: Tôi đã không biết lãnh nhận sự tha thứ và tôi đã không biết cho đi sự tha thứ.
Thực vậy, trong tình yêu, việc tha thứ là rất quan trọng. Thế mà, 40 năm làm chứng cho tình yêu Chúa, biết bao lần tôi đã không coi trọng những tha thứ được dành cho tôi, từ Chúa, từ Hội Thánh, từ Quê Hương, từ các tôn giáo bạn, từ những người nghèo, từ chính cộng đoàn của tôi. Hơn thế nữa, 40 năm qua, để làm chứng cho tình yêu Chúa, bao lần tôi đã không cho đi sự tha thứ, cho dù sự tha thứ đó chỉ là lẽ công bằng.
10.
Không biết đón nhận sự tha thứ và không biết cho đi sự tha thứ, những hiện tượng đó đang có chiều hướng gia tăng. Có thể tôi cũng đang phần nào rơi vào cảnh đáng buồn đó. Do vậy, tôi đặc biệt xin Chúa tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm thiếu sót trong lãnh vực tha thứ. Tôi cũng xin gởi lời xin tha thứ đó tới Hội Thánh của tôi, Quê Hương của tôi, cộng đoàn của tôi.
11.
Thú thực là: Tha thứ là việc không dễ chút nào. Chính vì nó rất khó, nên tôi hết lòng xin Chúa thương ban ơn giúp sức cho chúng ta, nhất là trong một tình hình mà niềm tin vào con người đang giảm sút trầm trọng.
12.
Những lời xin cảm tạ và xin tha thứ trên đây sẽ được kết thúc bằng lời xin cầu nguyện. Tôi xin các Đức Cha và tất cả anh chị em cầu nguyện nhiều cho tôi. Tôi yếu đuối lắm về mọi mặt. Xin anh chị em hãy coi tôi như một bức thư nhỏ Chúa gửi cho anh chị em. Bức thư nhỏ này chỉ mang một lời kêu gọi thân thương, đó là “Chúa Giêsu vẫn là Đấng hiền lành, khiêm nhường, giàu lòng thương xót. Người là Đấng cứu độ. Hãy tin cậy phó thác nơi Người”. Vậy, tôi xin phó thác cho Chúa Giêsu mọi lo lắng của tôi về bản thân, về Hội Thánh, về Quê Hương, về mọi người thân.
Xin khiêm nhường phó thác cho Chúa tương lai của chúng ta, một tương lai sẽ có nhiều khó khăn và nhiều bất ngờ đáng sợ, nhưng cũng có nhiều hy vọng lớn lao mang ơn cứu độ.

Xin Chúa thương xót chúng con. Amen.

Long Xuyên, ngày 30.4.2015.

Tác giả bài viết: ĐGM. GB Bùi Tuần

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Chút Lính Miền Nam

Chút Lính Miền Nam

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Lê Phú Khải

Bạn tôi, tất cả, đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều … cố “tật!” Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn tự lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin “trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp” rằng :

  • Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!
  • Sao vậy cà?
  • Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm

Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam ?

Trần Hoài Thư (“Ta Lính Miền Nam”)

Nguồn ảnh:internet

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám… Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

– Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

– Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này…  Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ…  Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực…

Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi…

Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… (Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).

Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu – theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người…”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và  nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn…

Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm…

Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: “ổng đi chưa?”, cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú … Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn …

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xẩy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu.  Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật –  cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng 5 năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 vừa qua, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội.

Các bạn trẻ mặc áo thun đen có biểu tượng QLVNCH. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng

Hai tuần sau, sáng 27/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao?  Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành sử một cách đê tiện, và tiểu tâm đế́n thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Năm tháng đi qua

Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra

Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy

Trừ những thằng bán nước – đi đêm

Lê Phú Khải

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao?

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-05-08

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10120669.jpg

Sinh viên làm lễ Tốt nghiệp đại học tại Văn Miếu, Hà Nội hôm 18/11/2014

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT của VN vừa công bố số liệu cử nhân thất nghiệp tăng gấp đôi trong vòng 4 năm qua. Hiện trạng cử nhân thất nghiệp được cho là đang ở mức báo động. Nguyên nhân của hiện trạng này là gì?

Tại phiên giải trình Chính phủ hôm 24/4 /15, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận báo cáo số liệu thống kê trong giai đoạn 4 năm từ 2011đến 2014 mặc dù chỉ tiêu tuyển sinh Đại học (ĐH) và Cao đẳng (CĐ) hệ chính quy giảm trung bình năm ở mức 2,5%, hệ vừa học vừa làm giảm bình quân 18%/năm nhưng số lao động trình độ ĐH-CĐ thất nghiệp từ năm 2010 đến cuối năm 2014 lại tăng cao đến mức 103%.

Qua trao đổi với nhiều cử nhân ở VN với tấm bằng tốt nghiệp ĐH-CĐ, họ tự tin bước vào đời để làm việc và cống hiến. Tuy nhiên theo họ, nguyên nhân khiến tỉ lệ thất nghiệp trong 4 năm qua tăng gấp đôi là vì nguồn cung ứng lao động có trình độ cử nhân nhiều hơn nhu cầu tuyển dụng của xã hội. Nhiều người trong số họ phải làm việc không liên quan đến chuyên môn thậm chí chấp nhận các công việc lao động phổ thông.

Ngoài ra còn một nguyên nhân mà đa số những cử nhân đài RFA tiếp xúc được chia sẻ thất nghiệp là vì không có đủ tiền để xin việc hoặc một mối quan hệ quen biết chứ không phải tấm bằng ĐH hay CĐ là điều kiện ưu tiên. Một giáo viên không muốn nêu tên cho biết mỗi khi trường có chỉ tiêu thì người bình thường không thể xin việc được dù trường tổ chức thi tuyển giáo viên biên chế. Giáo viên này nói:

“Tùy từng trường từ 100 đến 200 triệu hay nhiều hơn. Ở trường nào thì Chủ tịch Hội đồng coi thi trường đấy thường là Hiệu trưởng là người ra giá. Mối quan hệ thì sẽ được đặt lên hàng đầu. Thi cử cũng chỉ lòe nhau thôi nên tiền quyết định hết. Không kể bằng giỏi, thạc sĩ hay tiến sĩ thi cũng không vào được”.

Sau khi giải quyết được khoản tiền chạy việc hay có mối quan hệ quen biết và có được việc làm rồi, những nhân viên mới cũng không dễ gì bảo đảm công việc đó.

” Tùy từng trường từ 100 đến 200 triệu hay nhiều hơn. Ở trường nào thì Chủ tịch Hội đồng coi thi trường đấy thường là Hiệu trưởng là người ra giá. Mối quan hệ thì sẽ được đặt lên hàng đầu.
– Một giáo viên “

Một tân cử nhân ở Sài Gòn vừa tốt nghiệp Đại học Ngân hàng và gia đình đã hỗ trợ 450 triệu đồng để xin vào làm việc trong 1 ngân hàng nhưng sau 3 tháng đành phải tự xin thôi việc. Lý do vì ngân hàng đặt chỉ tiêu hàng tháng phải cho khách hàng vay trên 300 triệu và một nhân viên mới làm việc không thể nào đáp ứng được chỉ tiêu này. Cô tân cử nhân phân trần:

“Đối với khách hàng doanh nghiệp thì số tiền lại nhỏ so với nhu cầu nên người ta không vay mặc dù đủ điều kiện để vay. Còn đối với các khách hàng cá nhân thì số tiền đó có thể người ta muốn vay nhưng lại không đủ điều kiện vì điều kiện đưa ra khá là khó khăn, có rất nhiều chi tiết, điều kiện cao so với khả năng của một khách hàng cá nhân muốn vay tiền. Dù một ngày như vậy em có thể gọi đến hàng trăm cuộc gọi, 2-3 trăm cuộc gọi là bình thường nhưng hầu như không thể nào cho vay được vì người có tiền thì không muốn vay còn người muốn vay thì lại không đủ điều kiện”.

Tìm hiểu nguyên nhân vì sao các cử nhân tốt nghiệp ĐH-CĐ khi ra trường thường không thích ứng được với yêu cầu tuyển dụng và gặp nhiều trở ngại khi đi làm việc, Chuyên gia về quản trị Duy Lê cho rằng Giáo trình ở các trường ĐH-CĐ không phù hợp với thực tiễn, thậm chí dù có những trường giảng dạy giáo trình của các trường đại học Anh, Mỹ như Oxford hay Stanford nhưng không thể áp dụng vào môi trường làm việc của VN. Ông Duy Lê nhấn mạnh yếu tố vô cùng quan trọng là các cử nhân không có kỹ năng thực hành xã hội. Ông Duy Lê phân tích:

“Có 2 phần: một là dạy kiến thức và hai là dạy về kỹ năng. Hiện nay các trường đa phần tập trung vào dạy kiến thức mà kỹ năng thì không chắc họ làm tốt. Hiện có một số trường năng động có mở một số lớp về ‘kỹ năng cần thiết’ (source skills) nhưng lại cục bộ do người của trường dạy mà những người này chẳng bao giờ ra môi trường thực tiễn bên ngoài. Kiến thức thì có thể mời thạc sĩ, tiến sĩ về trường dạy nhưng ‘kỹ năng mềm’ thì có thể mời các anh chị có kinh nghiệm lâu năm trong các công ty về để chia sẻ, cùng làm việc thì mới phù hợp hơn. Còn nhà trường tìm giáo viên nào đó từ trường Đại học Sư phạm học tâm lý về dạy về ‘kỹ năng cần thiết’ là không đúng. Những ‘kỹ năng cần thiết’ là nhữngkinh nghiệm mà những người có trải nghiệm trong công việc họ có khả năng đã làm và thành công thì họ đến chỉ cho sinh viên”.

Các chuyên gia về quản trị và chuyên gia giáo dục đánh giá từ bao lâu nay tình trạng không có sự nối kết giữa trường học và công ty vẫn không được cải thiện. Nhiều chuyên gia chia sẻ họ được các trường ĐH-CĐ mời đến các cuộc hội thảo để đóng góp ý kiến cải tổ quá trình giảng dạy có hiệu quả hơn nhưng đâu rồi lại vào đấy, hầu như không có sự biến chuyển nào. Nhà trường thì cứ dạy theo chương trình của trường mà không áp dụng vào nhu cầu cần thiết tuyển dụng của doanh nghiệp.

Trong khi đó, qua phiên giải trình mới nhất hồi cuối tháng 4, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận nêu lên nguyên nhân đáng chú ý là do học phí thấp dẫn đến nhiều hệ lụy trong quá trình đầu tư, đào tạo khiến tình trạng cử nhân thất nghiệp ngày càng gia tăng. Những người quan tâm đến lần giải trình này của người đứng đầu ngành giáo dục VN thì lại cho rằng Bộ GD-ĐT thật sự sai lầm khi cấp phép mở trường đại học tràn lan, chất lượng thả nổi. Dư luận đặt ra câu hỏi cho ông Phạm Vũ Luận có dám cam kết tỉ lệ cử nhân thất nghiệp sẽ giảm đáng kể một khi học phí gia tăng hay không?

Trong lúc toàn xã hội chờ đợi một giải pháp tầm vĩ mô cải cách nền giáo dục ở VN thì các cử nhân né tránh tình trạng thất nghiệp bằng giải pháp tiếp tục trở lại trường, học cao học, tìm kiếm tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ.

Hiện nay, VN được xếp vào danh sách quốc gia có nhiều tiến sĩ trong khu vực nhưng chưa có con số thống kê cụ thể nào cho biết bao nhiêu phần trăm trong gần 25 ngàn tiến sĩ chỉ là “tiến sĩ giấy” mà thôi.

Blogger Điếu Cày: Tự do báo chí ở VN không thể cản trở

Blogger Điếu Cày: Tự do báo chí ở VN không thể cản trở

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tiếp các nhà báo bị đàn áp tại Tòa Bạch Ốc hôm 1 tháng 5, blogger Điếu Cày ngồi bên phải Tổng thống Obama

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tiếp các nhà báo bị đàn áp tại Tòa Bạch Ốc hôm 1 tháng 5, blogger Điếu Cày ngồi bên phải Tổng thống Obama

Trà Mi-VOA

09.05.2015

Ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay 3/5 ghi dấu một sự kiện đáng chú ý đối với nền tự do báo chí Việt Nam khi một blogger bị Hà Nội xem là phản động và cầm tù hơn 6 năm trước khi trục xuất thẳng từ nhà giam sang Hoa Kỳ được Tổng thống Mỹ mời đến Tòa Bạch Ốc để thảo luận về thực trạng tự do ngôn luận, tự do thông tin tại Việt Nam.

” Vi 3 nhà báo được la chn t danh sách trên 30 nhà báo đ được gp Tng thng hôm y là mt ch du ca chính quyn Tng thng Obama cho thy nn t do báo chí Vit Nam rt ti t.

Điếu Cày “

Đây là lần thứ nhì blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), một trong những người đi đầu phong trào dân báo Việt Nam, được Tổng thống Barack Obama vinh danh nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới sau khi được nhà lãnh đạo Mỹ nhắc tên cách đây 3 năm khi ông còn ngồi sau song sắt nhà tù.

Sáng lập viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do nói cuộc gặp với Tổng thống Barack Obama diễn ra chỉ vài ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền thường niên Việt-Mỹ (7/5) cho thấy tình trạng nhân quyền ở Việt Nam tồi tệ ra sao và Hoa Kỳ quan tâm đến thực trạng này đến mức nào trong mối bang giao Việt-Mỹ.

Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, tiếng nói tiên phong tranh đấu cho tự do báo chí tại Việt Nam và là tác giả của các bài viết về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo cũng như phản đối Trung Quốc xâm lược chủ quyền Việt Nam cũng khẳng định rằng ‘tự do báo chí ở Việt Nam là không thể cản trở,’ đồng thời kêu gọi Hà Nội ‘không nên tiếp tục tuyên truyền gây thêm hận thù với người dân’ sau 40 năm chiến tranh kết thúc.

Trà Mi: Một cựu tù nhân lương tâm Việt Nam được Tổng thống Mỹ vinh danh 2 lần, anh có cảm nghĩ thế nào?

Blogger Điếu Cày: Đây là điều rất vinh dự đối với tôi, tôi rất cảm động. Gặp Tổng thống lần này, tôi đã gửi lời tri ân sâu sắc đến Tổng thống và chính phủ Mỹ đã giúp đỡ tôi có được tự do hôm nay. Trong cuộc gặp, tôi đã trình bày đầy đủ các vấn đề về tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam, và vấn đề tù nhân lương tâm. Tôi đã nhắc tới một danh sách các bạn bè cần Tổng thống quan tâm, giúp đỡ. Tôi nói với Tổng thống đôi khi những sự lên tiếng không đem lại tự do ngay tức khắc cho tù nhân lương tâm nhưng đem lại sức mạnh cho họ đứng vững trong các nhà tù, để họ hiểu rằng họ không đơn độc.

” Nhân quyn ca các nước không th khác nhau. Vì vy, h phi sa đi nhng điu lut bt công và xây dng mt xã hi văn minh, tiến b. H không nên tiếp tc tuyên truyn gây thêm hn thù vi người dân”

Trà Mi: Còn những ưu tiên mong muốn hàng đầu của anh gửi gắm qua cuộc gặp lần này ra sao?

Blogger Điếu Cày: Tất cả những điều tôi nói đều nhằm vào các điều luật của Việt Nam vì nếu không thay đổi các luật mơ hồ cho phép chính quyền bắt giữ bất kỳ ai có chính kiến khác thì việc đàn áp, bắt bớ sẽ còn tiếp diễn. Điều quan trọng nhất chúng tôi muốn là Mỹ phải gây sức ép với chính phủ Việt Nam, phải gắn nhân quyền vào các cam kết về kinh tế như TPP. Việt Nam phải từ bỏ các điều luật mơ hồ như 258, 88, 79; bãi bỏ Thông tư 37 của Bộ Công an; và sửa đổi Luật thi hành án hình sự. Tất cả quyền của tù nhân được ghi trong Luật này đã bị Thông tư 37 tước đoạt hết. Họ giam giữ tù nhân với chế độ rất khắc nghiệt, làm cho các tù nhân lương tâm thời gian gần đây liên tục tuyệt thực để phản đối.

Trà Mi: Ngoài đối thoại với nhà cầm quyền Việt Nam về vấn đề nhân quyền hằng năm, Mỹ cũng muốn lắng nghe trực tiếp từ những người đã kinh qua các kinh nghiệm từ Việt Nam. Hành động của nhà lãnh đạo Mỹ đối với anh, một nhân vật bị Việt Nam xem là phản động, theo anh, có thông điệp thế nào?

Blogger Điếu Cày: Với 3 nhà báo được lựa chọn từ danh sách trên 30 nhà báo để được gặp Tổng thống hôm ấy là một chỉ dấu của chính quyển Tổng thống Obama cho thấy nền tự do báo chí ở Việt Nam rất tồi tệ.

Trà Mi: Gặp Tổng thống lần này không chỉ là dịp để trình bày mà còn là cơ hội để thể hiện. Anh muốn thể hiện điều gì với nhà cầm quyền Việt Nam và người dân Việt Nam qua cơ hội này?

Blogger Điếu Cày: Tôi muốn nói với bạn bè còn trong nước rằng chúng tôi tuy ra ngoài này nhưng không quên họ, chúng tôi vẫn tiếp tục đấu tranh cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong nước. Anh em Câu lạc bộ nhà báo tự do chúng tôi vẫn tiếp tục chung tay để làm những công việc đó.

Trà Mi: Đó là thông điệp anh muốn gửi tới những người có cùng suy nghĩ với mình. Còn với những người khác suy nghĩ với anh, chẳng hạn như nhà cầm quyền Việt Nam, anh muốn gửi thông điệp gì tới họ qua sự xuất hiện lần này bên cạnh Tổng thống Obama?

Blogger Điếu Cày: Tôi nghĩ chính quyền Việt Nam sau 40 năm chiến tranh và giờ đây đã bang giao với Mỹ, nên xem xét lại thái độ của mình hành xử trong cộng đồng quốc tế, một xã hội loài người đang tiến tới các chuẩn mực nhân quyền phổ quát chung cho cả nhân loại. Nhân quyền của các nước không thể khác nhau. Vì vậy, họ phải sửa đổi những điều luật bất công và xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ. Họ không nên tiếp tục tuyên truyền gây thêm hận thù với người dân.

“… thông tư 37 ca B Công an, mt văn bn được giu kín và được s dng đ tước đot các quyn mà tù nhân được hưởng trong Lut Thi hành án hình s. Ln này, Hoa Kỳ s làm rõ, h không mun chính quyn Vit Nam s dng các điu lut không được công b đ đàn áp tù nhân...”

Trà Mi: Nhìn lại tự do báo chí ở Việt Nam 10 năm trước với thời điểm này, anh nhận xét thế nào?

Blogger Điếu Cày: Tôi thấy có những tiến triển rất mạnh về số người tham gia mạng truyền thông xã hội ngày càng mạnh mẽ. Các thông tin nhà nước muốn bưng bít không thể bưng bít được nữa. Sự phản biện trên các phương tiện truyền thông tự do giờ đã rất mạnh mẽ. Trong tương lai, việc cản trở thông tin là không thể. Hiện nay Việt Nam có 20 triệu trang Facebook. Chỉ cần 1% trong số đó dùng Facebook của mình như một trang báo nhỏ độc lập thì chúng ta có biết bao nhiêu tờ báo nhỏ độc lập. Trong tương lai, sẽ không gì ngăn cản nổi truyền thông internet và tự do báo chí ở Việt Nam là không thể cản trở được.

Trà Mi: Với tư cách một nhà báo độc lập của Việt Nam được thế giới biết tiếng, anh sẽ đóng góp cho tiến trình đó ra sao một cách cụ thể và hiệu quả nhất?

Blogger Điếu Cày: Khi còn trong nước, chúng tôi thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, thành lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do vì những quyền đó. Sau thời gian hoạt động, tôi nhận ra rằng khi các blogger cùng lên tiếng, sẽ tạo ra một mạng lưới truyền thông rất mạnh. Vì vậy, chúng tôi phát động phong trào dân báo từ 1/1/2008: Mỗi blogger hãy là một nhà báo công dân. Phong trào dân báo đã đem lại hiệu quả nhất định. Hiện nay người dân Việt Nam sử dụng blog để cất lên tiếng nói ngày càng nhiều. Mặc dù chúng tôi bị đàn áp, nhưng đã đóng góp được phần nhỏ bé vào phong trào dân báo đó. Trang Danlambao với lượng truy cập rất cao cũng cho thấy sự thành công của mạng lưới báo công dân, hoặc anh em blogger cũng đã lập ra Mạng lưới blogger Việt Nam. Đó là những chỉ dấu của một phong trào dân báo đã bước lên một bước cao. Chúng tôi và Câu lạc bộ nhà báo tự do cũng vinh dự là đóng góp được một phần vào đó.

Trà Mi: Anh từng chia sẻ ước muốn làm cầu nối giúp mở rộng mạng lưới truyền thông độc lập trong-ngoài. Những khó khăn nhất đối với kế hoạch đó tới thời điểm này là gì?

Blogger Điếu Cày: Vì tôi mới ở tù ra, anh em chúng tôi cũng không có kinh phí hoạt động, phải đi khắp nơi để vận động đóng góp. Chúng tôi cũng xây dựng các hồ sơ về các tù nhân lương tâm để lên tiếng bảo vệ họ.

Trà Mi: Điếu Cày sau song sắt nhà tù cách đây 3 năm được Tổng thống Mỹ nhắc tới nhân ngày Tự do báo chí thế giới và hiện nay bên cạnh Tổng thống Mỹ khác nhau thế nào?

Blogger Điếu Cày: Tôi vẫn là Điếu Cày như cũ, chỉ khác là trách nhiệm giờ nặng nề hơn rất nhiều, chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa để đáp ứng mong mỏi của mọi người.

Trà Mi: Nếu có cơ hội chia sẻ với những người khao khát tự do báo chí trong nước, anh sẽ ưu tiên chia sẻ điều gì với họ và anh cần họ chia sẻ điều gì với anh?

Blogger Điếu Cày: Tôi muốn các bạn đoàn kết hơn nữa để chúng ta hướng tới một nền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho Việt Nam. Các bạn chính là liên kết những cầu nối với nhau để tạo nên những mạng lưới truyền thông mạnh mẽ. Còn chúng tôi ngoài này sẽ cố gắng giúp các bạn, tìm mọi cách thúc đẩy quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong nước, lên tiếng bảo vệ các bạn khi các bạn bị tù đày, sẽ chuyển tải thông điệp các bạn muốn chuyển tới quốc tế. Tôi mong muốn cộng đồng, tất cả những người quan tâm đến nhân quyền Việt Nam cố gắng chung tay giúp đỡ, đặc biệt trong việc ký thỉnh nguyện thư gửi lên Liên hiệp quốc sắp tới, đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải sửa đổi những điều luật về nhân quyền. Trong những ngày diễn ra đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, tôi biết rằng chính phủ Hoa Kỳ lần này cũng rất quan tâm đến thông tư 37 của Bộ Công an, một văn bản được giấu kín và được sử dụng để tước đoạt các quyền mà tù nhân được hưởng trong Luật Thi hành án hình sự. Lần này, Hoa Kỳ sẽ làm rõ, họ không muốn chính quyền Việt Nam sử dụng các điều luật không được công bố để đàn áp tù nhân như vậy. Tôi hy vọng các bạn tù của tôi trong nước nghe được những tin này sẽ biết rằng chúng tôi không quên họ, chúng tôi vẫn đang tiếp tục đấu tranh cho các bạn ấy.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn anh đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Học giả = làm ruộng

Học giả = làm ruộng

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nguyễn Đổng Chi là một học giả nổi tiếng. Mới đọc bên fb của Hoàng Oanh thấy người ta tổ chức hội thảo 100 năm ngày sinh của ông, và cái hình chụp lại tờ “Giấy thông hành” cấp cho ông vào ngày 24/5/1955 (tức thời Cải cách ruộng đất) rất thú vị. Tờ giấy ghi nghề nghiệp của ông là “làm ruộng”, nhưng phía dưới ghi mục đích của chuyến đi là “gặp Ban nghiên cứu Văn Sử Địa”. Vui thật! Một anh nông dân mà có việc gì phải đi gặp một cơ quan nghiên cứu, mà còn nghiên cứu văn sử địa!

Tờ giấy thông hành là một chứng từ cho một thời tăm tối. Thời đó, dĩ nhiên những người như cụ Nguyễn Đổng Chi được xem là thành phần trí thức, tức là nằm trong nhóm bị “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cho nên, ông quan chức công an Hà Tĩnh mới thương tình cho ông cái nghề rất hiền lành là “làm ruộng” cho an toàn trên đường đi từ Hà Tĩnh ra Hà Nội.

Tôi không rõ có bao nhiêu bạn trẻ ngày nay còn nhớ — hay thậm chí biết — đến Nguyễn Đổng Chi, chứ những người thuộc thệ hệ tôi lớn lên ở miền Nam trước 1975 thì ông là học giả rất nổi tiếng. Gia đình tôi có một bộ sách do Ba tôi sưu tầm. Bộ sách gồm nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Hán Sở Tranh Hùng, v.v.. Đặc biệt là cuốn Kho Tàng Truyện Cổ Tích của Nguyễn Đổng Chi. Có thể nói tôi lớn lên với những truyện trong cuốn đó. Ngày ngày đi học về, tôi ngấu nghiến đọc những truyện trong đó và tha hồ .. tưởng tượng. Ôi, một thời thiếu niên thật thần tiên với những truyện con sam, sự tích cái chổi, ông bình vôi, cái chân con chó, v.v. Văn chương giản dị, nhân cách hoá sự vật làm cho mình rất gần với sự vật, cộng với minh hoạ (chỉ vẽ tay) làm cho cuốn sách là một cuốn không thể thiếu được trong tủ sách gia đình.

Ấy thế mà sau này tôi được biết ông cụ này cũng bị lọt vào dòng xoáy của cơn lốc “Nhân văn giai phẩm”. Dưới áp lực của đảng, ông viết bài chỉ trích và vu khống cụ Phan Khôi, một học giả nổi tiếng khác. Nhưng cụ Đổng Chi là người đàng hoàng và nhà văn hoá lớn, nên ông có chối lại cho con trai (tức là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) giải oan cho cụ.

Nhưng qua buổi hội thảo kỉ niệm ngày sinh của ông, chúng ta mới biết “người ta” vẫn còn rất dè dặt với các học giả đương thời. Theo Hoàng Oanh kể lại thì hội thảo không phải suôn sẻ như chúng ta nghĩ. Oanh viết:

“Để hội thảo có thể tiến hành được thì Ban tổ chức (Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM, Nhà xb Trẻ, Tập đoàn truyền thông Thanh Niên) không được đăng tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc vào kỷ yếu hội thảo, không được mời nhà văn Nguyên Ngọc; ông con Nguyễn Huệ Chi không được phát biểu cám ơn và những người tham dự hội thảo mà phải giao cho cô út, muốn trao đổi với các ý kiến tham luận thì đứng dưới hội trường chứ không được lên bục diễn giả, và nhiều chuyện khác …”

Hoàng Oanh nói là “chuyện bên lề”, nhưng tôi thì thấy đó là chuyện quan trọng. Quan trọng là vì những câu chuyện như thế nói lên một sự thật là có những thế lực vô hình cố tình gây cản trở cho tự do học thuật. Và, thế lực này không từ bỏ một tiểu tiết nào, cho dù là rất hèn, để đạt được mục tiêu của họ. Do đó, tôi cũng rất ngạc nhiên như Hoàng Oanh là “Nền tự do như vậy mà lại đi ‘giải phóng’ một nơi tự do khác”. Thế mới có ông nhạc sĩ nào đó sáng tác bài “Anh giải phóng tôi, hay tôi giải phóng anh”.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Thêm một chứng từ không hay

Thêm một chứng từ không hay

GS Nguyễn Văn Tuấn

Chúng ta, người Việt, gọi tên Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này thì ai cũng biết. Nhưng bạn nghĩ sao nếu chính phủ VN gọi theo người Tàu là “Tây Sa” và “Nam Sa”? Ấy thế mà đó là cách gọi trên giấy trắng mực đen của Bộ Ngoại giao VNDCCH!

Tôi mới đọc trên fb của bác Hoàng Dzũng viết về một tài liệu được trưng bài trong buổi hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh của học giả – nhà văn Nguyễn Đổng Chi. Tài liệu là một văn bản của Bộ Ngoại giao VNDCCH gửi cho học giả Nguyễn Đổng Chi vào ngày 22/1/1974. Nhưng cái tên trong văn bản đó mới là đáng nói. Nguyên văn như sau:

“BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số LS/BG Độc lập Tự do Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1974

Kính gửi: Đ/c Giám đốc Thư viện nhà nước
Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội
Đ/c Cục trưởng Cục Lưu trữ
Đ/c Viện trưởng Viện Sử học

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây sa và Nam sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng. Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm vấn đề này.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
Thứ trưởng
Hoàng Văn Tiến”

Để đặt cái công văn này trong bối cảnh, chúng ta cần phải nhớ rằng Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ VNCH vào ngày 19/1/1974. Trận hải chiến đó (do VNCH nổ súng trước) làm cho 75 lính hải quân hi sinh.

Ba ngày sau, Bộ Ngoại giao VNDCCH mới gửi công văn này đến học giả Nguyễn Đổng Chi để … “sưu tầm tài liệu” trình Thủ tướng. Nói cách khác, VNDCCH có vẻ chẳng biết chủ quyền hai quần đảo đó là thuộc Việt Nam! Chuyện khó tin nhưng có thật. Chuyện càng khó tin khi Bộ Ngoại giao VNDCCH mà dùng danh xưng của Tàu cộng để chỉ 2 quần đảo của Việt Nam! Nhưng nhìn chung, cái công văn đó cho thấy khi Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, phía VNDCCH … không biết nói gì. Nói cách khác, họ mù mờ về sự thật lịch sử.

Trước đây, tôi vẫn bán tín bán nghi khi Tàu cộng chúng rêu rao rằng VNDCCH từng tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Tàu. Chúng tung tài liệu nói rằng “Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: ‘Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc’” (1). Tuyên bố này có thật, vì cuốn sách “Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận.

Trong một bài viết mới đây, Gs Vũ Cao Đàm (ĐHQG Hà Nội) có nói đến quan điểm của ông Lê Duẩn lúc Tàu cộng đám chiếm Hoàng Sa từ VNCH như sau:

“Còn khi Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa thì mấy ông tuyên huấn của Bác Duẩn lại báo tin mừng cho chúng tôi biết, là ‘bạn’ đã giúp ta lấy lại Hoàng Sa ‘từ tay quân ngụy’. […] Hỏi quân ngụy là ai mà dám chiếm đóng Hoàng Sa, thì mới tá hỏa ra là bọn họ cũng là người Việt Nam, đang cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo của nước ta” (2).

Câu chuyện trên đây do bác Vũ Cao Đàm kể lại, cùng với chứng từ “Tây Sa, Nam Sa” của Bộ Ngoại giao VNDCCH, và phát biểu của ông Ung Văn Khiêm tiết lộ một cách khá nhất quán rằng thời đó mấy quan chức và lãnh đạo cao cấp ngoài Bắc rất mơ hồ về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Do đó, ngày nay khi những người nối nghiệp họ phải gặp khó khăn lớn khi đương đầu với những chứng từ do chính họ sản sinh.

___

(1) Miền Bắc có tuyên bố Hoàng Sa của TQ? (BBC).

(2) Bác Trọng làm theo lời dạy của Bác Hồ hay lời dạy của các bác khác? (BVN/ Ba Sàm).

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

____

Lam Điền

Công văn Mật ở hội thảo Nguyễn Đổng Chi

08-05-2015

Hôm qua hội thảo 100 năm ngày sinh Nguyễn Đổng Chi. Ngoài phần tham luận của học giới các chuyên ngành, phía gia đình đem đến một triển lãm nho nhỏ, bao gồm hình chụp các tư liệu, bản thảo, giấy tờ công tác hồi GS Nguyễn Đổng Chi còn sinh thời và còn làm việc.

Trong số hình ảnh triển lãm ấy có 1 bản công văn của Bộ Ngoại giao, chữ đánh máy, có đóng dấu Mật và Hỏa tốc, đề ngày 22-1-1974, gửi cho các nơi như này: – Đ/c Giám đốc Thư viện Nhà nước; Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội; Đ/c Cục trưởng cục Lưu trữ; Đ/c Viện trưởng Viện Sử học.

Nội dung là:

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày Tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng.

Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm về vấn đề này.

Công văn có dấu Bộ Ngoại giao, chữ ký của Thứ trưởng Hoàng Văn Tiến.

Ngoài ra, bên cạnh còn có bút tích ghi bằng mực màu đen: Đề nghị anh Chi tích cực thực hiện giúp. Chữ ký bên dưới đọc có lẽ là “Văn Tạo”.

Đây là công văn ra đời 3 ngày sau khi Hoàng Sa bị Trung Quốc tiến chiếm (19-1-1974). Nội dung thể hiện không khí gấp gáp của Chính phủ thông qua ý muốn của Thủ tướng cần có tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên đã chỉ thị các cơ quan liên quan tìm ngay trong mấy ngày tết.

Ảnh chụp công văn này khi đưa triển lãm được chú thích là: “Chỉ thị mật của Bộ Ngoại giao yêu cầu khảo sát tài liệu về Hoàng Sa và Trường Sa trong những ngày tết năm 1974”.

Vấn đề là, mình chưa tra ra được vào thời điểm công văn này phát ra, thì GS Nguyễn Đổng Chi giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì cụ thể. Tương tự, mình cũng chưa biết vào lúc đó GS Văn Tạo giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì. Nhiều khả năng bút phê kia là của Văn Tạo, nếu vậy, công văn này từ chỗ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đến chỗ GS Văn Tạo, rồi mới đến GS Nguyễn Đổng Chi. Và quan trọng hơn, kết quả của chuyến làm việc gấp rút trong mấy ngày tết 1974 ấy là gì? Rồi sau đó Chính phủ đã làm gì tiếp theo.

Tuy nhiên, cách dùng chữ Tây Sa và Nam Sa trong công văn này gợi cho mình một ý muốn tìm hiểu là cụm từ Hoàng Sa, Trường Sa xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản hành chính của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là vào lúc nào, ở đâu?

TÌNH MẪU TỬ

TÌNH MẪU TỬ

(Nhân ngày HIỀN MẪU xin gởi truyện ngắn này,  khi đọc coi có cầm được nước mắt không?)

–   Anh về ngay đi, em hết chịu nổi rồi, mẹ anh phiền thật.

–   Uhm, mẹ anh phiền thật, bây giờ anh đang có cuộc họp quan trọng, tối về anh sẽ giải quyết nha em.

Tiếng đầu dây bên kia dập máy nghe có vẻ rất tức tối, anh buông thõng người ra sau ghế, ở bên kia cô nhìn ra phía cửa như đang cố nuốt trôi một cái gì đó vào mình.

–   Anh nhìn đi, đó, đây này, hôm nay em sắp, ngày mai em xếp, cứ một người dọn, một người lại bày ra như vậy, ai mà chịu nổi.  Em sắp điên rồi đây.  Cô vò đầu trong 1 trạng thái vô cùng tức giận, anh lại gần cô, lấy tay xoa xoa hai bờ vai gầy gầy, cô hất chúng ra.

–  Em vào đây – Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay cô kéo vào phòng, khép hờ cửa, anh lấy xuống một chiếc hộp được đặt trên nóc tủ, lấy tay phủi nhẹ, anh nhìn cô mỉm cười.

–  Mẹ phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé, còn bây giờ để anh cho em biết mẹ chúng ta phiền đến mức nào.

Anh mở chiếc hộp ra, bên trong là một xấp hình, anh lấy ra một tấm đã cũ, nhưng chẳng hề dính tí bụi nào, cô tò mò nhìn vào tấm ảnh.

–   Em thấy không, đây là tấm hình mà Dì anh đã chụp lúc anh sinh ra, Dì kể vì mẹ yếu nên sinh lâu lắm, mà sinh lâu chắc là đau lâu em nhỉ, mà mẹ phiền thật, cứ la hét ầm ĩ cả lên, ai mà chẳng sinh.  Dì còn nói, mẹ yếu lắm, nếu cứ cố sinh thì sẽ nguy hiểm cho người mẹ, bác sĩ đã nói như vậy rồi vậy mà mẹ vẫn cố cãi: “Không, con tôi phải ra đời, tôi phải sinh,” mẹ anh phiền thật đó.

Cô nhìn tấm hình, bàn tay cô nhẹ bổng, rồi cô nhìn anh, trong mắt anh chứa một điều gì đó rất lạ.  Anh cẩn thận bỏ tấm hình đó qua một bên, lấy một tấm khác cho cô xem.

–   Em nhìn nè, đây là bức ảnh chụp lần đầu tiên anh bú mẹ, anh chẳng thấy ai phiền như mẹ cả.  Bà nội, bà ngoại nói cả rồi, mẹ yếu, không đủ sữa để cho anh, uống sữa bình đi, ở đó mà dưỡng sức, nhưng một hai cứ khư khư giữ anh vào lòng “Không, con con nhẹ cân, phải bú sữa mẹ mới tốt.”  Ai nói gì cũng cãi em nhỉ, nếu không anh được uống sữa bình rồi, sữa bình phải ngon hơn chứ, mẹ anh phiền thật.

Bàn tay cô run run, cô thấy ánh mắt của người mẹ trong bức ảnh ánh lên vẻ rất hạnh phúc, hai bàn tay cô ta cứ giữ chặt đứa bé.  Cô nhìn anh không nói gì cả.

–   Còn nữa đây này – Anh lại lôi ra một tấm khác nhìn vào đó.

–   Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, con nít hơn một năm ai chẳng chập chững biết đi, mẹ cứ làm như chỉ có con mẹ mới làm được điều đó không bằng.  Ba kể mẹ cứ gặp ai là cũng hí hởn khoe “Thằng cu Tin nhà tôi đi được rồi, nó biết đi rồi đó.”  Bộ mẹ không thấy phiền hay sao em nhỉ? – Bờ môi cô như muốn nói một cái gì đó nhưng cổ họng thì ứ nghẹn lại, bức ảnh đứa trẻ con chập chững đi về phía mẹ trong tấm hình, cô nhìn mãi.  Ba còn kể, từ ngày anh bắt đầu bi bô tập nói rồi gọi được tiếng mẹ là nguyên những ngày sau là một chuỗi điệp khúc” Cu Tin gọi mẹ đi, gọi mẹ đi cu Tin,” mẹ phiền quá đi mẹ à, anh mỉm cười xoa nhẹ vào bức ảnh, mắt anh đang long lanh thì phải.

–   Đây nữa, đây nữa này – Anh lôi ra nguyên một xấp, nhiều lắm, rất nhiều ảnh – Em thấy mẹ anh phiền ghê chưa, chụp làm gì mà lắm ảnh vậy không biết, lần đầu tiên anh vào mẫu giáo, có phiếu bé ngoan, rồi tiểu học, trung học, nhận bằng khen, em coi đi, đủ trò trên đời, coi hình của anh có mà đến tết mới xong, anh phì cười, “mẹ anh phiền nhỉ?”

Cô nhìn anh, anh không cười nữa, anh cầm một tấm hình lên nhìn vào đó rất lâu, cô thấy nó, một tấm hình rất đẹp, anh rất đẹp trong bộ áo tốt nghiệp cử nhân, anh lúc đó trông điển trai quá, cao ráo, nhưng…

–   Em có thấy không?  Tóc mẹ anh đó, rối em nhỉ?  Còn áo quần nữa này, cũ mèm…-  Cô nghe thấy giọng anh trở nên khác đi, không đều đều như lúc ban đầu nữa, đứt quãng.  Cô nắm lấy tay anh.

–   Năm 15 tuổi, ba bỏ mẹ con anh lại, rồi lúc đó, mọi thứ trong nhà trở nên không có điểm tựa, anh đi học, mẹ bắt anh phải học…  Em không biết đâu, anh xin nghỉ nhưng mẹ không cho, phiền như vậy chứ.   Mẹ cứ sáng sớm đi phụ quán cơm cho người ta, trưa ăn một chén cơm thừa trong quán để dư tiền cho anh học thêm ngoại ngữ, rồi chiều đến chạy đi giặt đồ cho những bà mẹ không phiền khác, để họ đi mua sắm, cà phê, giải trí…-  Giọng anh lạc hẳn – Còn nữa em ạ, tối đến mẹ lại tiếp tục đi làm lao công đường phố, sáng sớm mới về chợp mắt được một tí thôi, vậy đó…  Em thấy mẹ anh khỏe không?

“Tách”, một giọt nước rơi xuống trên tấm hình, mắt cô cũng nhòe đi, khác thật, một bà mẹ trẻ với gương mặt xinh đẹp lúc đứa con mới bi bô tập nói, và cũng với gương mặt phúc hậu đó nhưng giờ làn da đã nhăn đi, khuôn mặt gầy hẳn khi đứng cạnh cậu con trai lúc chuẩn bị ra trường.

–   Anh à – Bàn tay cô nắm lấy bàn tay run run của anh.

–   Em có thấy tay mẹ rất yếu không, anh chẳng bao giờ kể em nghe nhỉ.  Khi năm tuổi, anh đùa nghịch chạy nhảy lung tung, lúc đuổi bắt cùng cô nhóc hàng xóm anh đã trượt chân ngã từ cầu thang xuống. Lúc đó, anh chẳng thấy đau một chút nào cả, chỉ nghe một tiếng kêu rất thân quen, em có đoán được không, anh đang nằm trên một thân thể rất quen…mẹ anh đó. – Cô sững người lại, nước mắt cô trào ra, rơi xuống ướt đẫm tay anh.

–   Em à, mẹ anh phiền vậy đó, phiền từ khi anh chuẩn bị lọt lòng cho đến khi anh gần đón đứa con đầu tiên của mình, chưa hết đâu, mẹ sẽ còn phiền cả đời em ạ, bây giờ lớn rồi mẹ vẫn cứ lẽo đẽo theo anh dặn đủ thứ em không thấy sao, cơm phải ăn ba chén, đi xe phải chậm thôi, đừng có mà thức khuya quá. Mẹ anh phiền thật, ngày mai mình đưa mẹ đến viện dưỡng lão em nhé.

“Anh”, cô ôm chặt lấy anh, cô òa khóc nức nở, “em xin lỗi”, anh ôm lấy cô vỗ về, vỗ về như ngày xưa anh vẫn thường được làm như vậy.

“Choang” – Anh và cô chạy nhanh xuống bếp.

–   Mẹ xin lỗi, mẹ nghe con thèm chè hạt sen nên mẹ đi nấu, nhưng…  Giọng mẹ run run không dám nhìn về phía trước, cúi người nhặt những mảnh vỡ vừa rơi.

–   Mẹ à – Cô chạy đến nắm lấy bàn tay xương xương của mẹ – Từ nay mẹ đừng phiền nữa nhé, để con phiền mẹ cho – Cô ôm chặt mẹ, nước mắt thấm đẫm vai áo mẹ, mẹ nhìn anh, anh nhìn cô trong lòng của mẹ.

“Mẹ đã không sinh lầm con và con cũng đã không chọn nhầm dâu cho mẹ, phải không ạ?”

Lung Việt (T.H)

Hàng loạt đòi hỏi gay gắt phải trả tự do cho Tạ Phong Tần

Hàng loạt đòi hỏi gay gắt phải trả tự do cho Tạ Phong Tần

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-05-07

05072015-intensiv-req-to-relea-ta-p-tan.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch "Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

RFA files

Trong ngày Tự do báo chí Thế giới Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã yêu cầu đích danh chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho bà Tạ Phong Tần, một nhà báo độc lập, một blogger có nhiều bài viết phân tích và chỉ trích chính phủ Việt Nam, đang bị giam giữ với bản án 10 năm tù giam. Mặc Lâm có thêm chi tiết về vấn đề này.

Bộ Ngoại giao Hoa kỳ lên tiếng

Mới đây, trong một thông báo từ Bộ Ngoại giao Hoa kỳ, phát ngôn viên Jeff Rathke đã có những phát biểu ngắn nhưng đầy đủ ý nghĩa như sau:

“Bà Tạ Phong Tần người nhận giải thưởng Phụ nữ Can đảm Quốc tế vào năm 2013 hiện đang bị 10 năm tù giam vì đã viết blog chỉ trích nhà nước và đảng Cộng sản. Bà là người đầu tiên trong số những blogger viết bài bình luận các sự kiện chính trị, những chủ đề mà bao lâu nay vẫn bị giới hạn bởi nhà cầm quyền. Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam ngay lập tức trả tự do cho Tạ Phong Tần và đồng thời cho phép người dân Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách tự do cả trên mạng lẫn trong đời sống.”

” Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam ngay lập tức trả tự do cho Tạ Phong Tần và đồng thời cho phép người dân Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách tự do cả trên mạng lẫn trong đời sống

Jeff Rathke Bộ ngoại giao Hoa Kỳ”

Thông điệp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chưa nhận được bất cứ phản hồi nào từ Hà Nội như thường lệ có lẽ do Việt Nam đang lo trình bày vấn đề nhân quyền trong cuộc Đối thoại nhân quyền với phái đoàn đến từ Washington DC và dù muốn hay không trong lần đối thoại này chắc chắn cái tên Tạ Phong Tần sẽ được mang ra bàn thảo.

Tạ Phong Tần được giới quan sát nhân quyền biết tới do những hoạt động trình bày quan điểm cũng như tố cáo những sai trái của chính quyền qua ngòi viết. Từng là một sĩ quan công an bà biết mọi mánh khóe của công an trong các vụ tham nhũng móc ngoặc hay bắt giam tra tấn người vô cớ. Những bài viết sống động của bà trên trang blog riêng có tên “Công lý và sự thật” đã làm an ninh mạng chú ý và sau cùng cáo buộc bà chống phá nhà nước với những tư tưởng sai trái.

Tháng 9 năm 2011 Tạ Phong Tần bị bắt về tội tuyên truyền chống nhà nước chung với nhà báo tự do Điều Cày Nguyễn Văn Hải và Anh Ba Saigon. Ngày 24 tháng 9 năm 2012 bà bị án tù 10 năm và bị giải giao qua nhiều nhà tù từ Nam ra Bắc. Nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, một đồng đội của Tạ Phong Tần trong cùng vụ án cho biết:

-Tôi biết Tạ Phong Tần khi cô ấy đến tham dự phiên tòa xử tôi kiện công an phường Bến Thành tại tòa dân sự thành phố Sài Gòn. Trong khi gặp nhau tại phiên tòa đó thì cô ấy có mời tôi đến thăm văn phòng cô ấy làm việc và từ ngày đó chúng tôi quen biết với nhau trong nhóm Câu lạc bộ nhà báo tự do (CLBNBTD) Khi câu lạc bộ thành lập thì trên trang blog của câu lạc bộ chia sẻ về các cách thức tham gia, thực hiện. Những hoạt động của CLBNBTD, những vần đề liên quan đến pháp lý khi thành lập câu lạc bộ thì Tần là một trong những người đã đóng góp rất nhiều thông tin trên đó. Chính vì vậy chúng tôi có mối liên hệ trước khi mà Tần tham gia viết bài trên trang CLBNBTD.

Mẹ tự thiêu để phản đối

Ngày 30 tháng 7, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ở phía trước của cơ quan chính phủ tỉnh Bạc Liêu để phản đối các cáo buộc đối với con gái của mình.

Bà Dương Thị Tân một người từng có thời gian dài sống và chia sẻ với Tạ Phong Tần cho biết suy nghĩ của bà về người phụ nữ bất khuất này:

Bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ngày 30 tháng 7, 2012

Bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tần đã tự thiêu ngày 30 tháng 7, 2012

” Lúc em vô tới em báo mẹ chết thì chỉ nói “tao biết rồi”, em hỏi ủa sao chị biết thì chỉ nói “bọn nó nói cho tao hay”. Bọn nó đã chuyền cái thông tin đó vô cho chỉ biết trước rồi cho nên khi chị biết thông tin do em nói thì chỉ có khóc thôi

Cô Tạ Minh Tú”

-Khi mà tôi biết cô Tạ Phong Tần là lúc mà cô ấy bị truy đuổi rất là gắt gao vì tham gia Câu lạc bộ nhà báo tự do cũng như những bài mà cô viết trên báo phản ảnh mặt trái những tiêu cực của xã hội. Bị người ta truy sát bị người ta đuổi và gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt đời sống cũng như nơi cư trú. Tôi biết rất rõ về cô ấy khi đã ở nhà tôi trong khoảng thời gian gần hai năm. Không còn nơi chốn nào để đi kể cả người dì ruột hay một người bạn rất thân vì áp lực mà quay ra không cưu mang nữa.

Tôi nghĩ rằng những việc cô ấy làm thì rất là rõ. Đầu tiên là tham gia vào Câu lạc bộ nhà báo tự do phản ảnh những mặt trái của xã hội, những tiêu cực của ngành công an những lộng quyền, những mặt xấu nói chung cô ấy đã mất việc làm bị thu hồi giấy tờ tùy thân và sau đó là đi tù.

Tôi nghĩ rằng trong thời gian cô đi tù thì mọi người rất là nhớ rõ một biến cố đau lòng là người mẹ thân yêu của cô ấy đau lòng vì những cái mà người ta làm với con mình không chịu được bà đã bức xúc tự thiêu. Sau đó thì người ta còn những thủ đoạn rất đê tiện c3n trở tất cả những sự giúp đỡ của mọi người đến với gia đình. Giả vờ làm động thái là hoãn phiên tòa lại để cô ấy được về tiễn mẹ lần cuối nhưng mà rồi rốt cuộc cũng không có chuyện đấy xảy ra.

Cô Tạ Minh Tú, em ruột của Tạ Phong Tần kể lại chi tiết khi cô cho chị mình biết tin mẹ tự thiêu trong nhà giam:

-Lúc em vô tới em báo mẹ chết thì chỉ nói “tao biết rồi”, em hỏi ủa sao chị biết thì chỉ nói “bọn nó nói cho tao hay”. Bọn nó đã chuyền cái thông tin đó vô cho chỉ biết trước rồi cho nên khi chị biết thông tin do em nói thì chỉ có khóc thôi chứ còn lúc đó chỉ không có gì bất ngờ hết.

” Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí”, Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới sau đó một cuộc vận động cùng khắp đang mở ra nhằm yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho bà”

Tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế nhắc nhở

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới sau đó một cuộc vận động cùng khắp đang mở ra nhằm yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do vô điều kiện cho bà.

Trong lúc ấy từ trại giam số 5 Nghệ An  người tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đang phải chiến đấu với ban quản lý trại giam vì những phân biệt đối xử với bà. Cô Tạ Minh Tú cho biết tình trạng bị giam giữ mới nhất của chị mình:

-Bọn cộng sản ngược đãi và không cho chỉ ra ngoài chúng đóng cửa suốt. KHông được ra ngoài làm gì hết cũng không được giao lưu tuyệt đối bị nhốt suốt luôn trong cái phòng đó cho nên chỉ tuyệt thực 3 ngày không ăn bọn họ mới thả cho chỉ từ thứ Hai cho tới thứ Sáu đi ra ngoài phòng giam nhưng cũng không được giao lưu với ai và cách ly luôn. Tới thứ Bảy, Chủ nhật thì nhốt thẳng trong tù luôn không được ra ngoài. Với sức khỏe bây giờ chỉ có mấy chứng bệnh như sốt, viêm họng,  huyết áp cho nên khi tuyệt thực mấy ngày không uống thuôc nên sức khỏe rất kém.

Bà Dương Thị Tân cũng từng theo chân Tạ Phong Tần qua nhiều trại giam chia sẻ:

-Tôi cũng đã từng đồng hành với em của cô Tần đi nhiều trại giam như trại Bố Lá trại Chí Hòa hay trại số 5 Nghệ An đã chứng kiến những việc mà người ta làm với cô ấy bằng cách biệt giam hay đối xử phân biệt. Nòi chung là một người đang từ khỏe mạnh cao lớn nhưng rồi gầy ốm bệnh tật như hiện nay.

Ngày 7 tháng 5, tại cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ tại Hà Nội do trợ lý Ngoại trưởng Tom Malinowski chủ trì chắc chắn rằng hồ sơ Tạ Phong Tần sẽ được mở ra với những câu hỏi mà phía Việt Nam đã gần như hoàn toàn biết trước.

Hiếm có một tù nhân lương tâm nào được Hoa Kỳ và các tổ chức nhân quyền quốc tế đồng loạt lên tiếng cùng lúc như trường hợp của bà Tạ Phong Tần. Ngoại trưởng Hoa Kỳ là người nhấn mạnh đến việc phải trả tự do cho bà trong khi những tổ chức khác vinh danh bà như một khuôn mặt bất khuất, một ngòi viết ngay thẳng và nhất là sự can đảm hiếm có của một phụ nữ dấn thân vì công lý và sự thật.

Chương Trình Phát Triển Quận 8: Thể Nghiệm Xã Hội Dân Sự

Chương Trình Phát Triển Quận 8: Thể Nghiệm Xã Hội Dân Sự

Đoàn Thanh Liêm

Share on facebook

Chương trình Phát triển Quận 8 Sài gòn khởi sự từ tháng 8 năm 1965 và qua năm sau 1966, thì được mở rộng sang hai quận 6 và 7 lân cận. Về căn bản, đó là một Chương trình Phát triển Cộng đồng do các anh chị em thanh niên tự nguyện hợp chung với nhau để vận động bà con ở địa phương cùng bắt tay vào những công tác nhằm cải thiện môi trường sinh sống tại khu vực kém may mắn nhất của thành phố. Đây là nơi có rất đông bà con từ các miền quê mất an ninh đưa gia đình về tá túc cư ngụ trong những khu nhà ổ chuột thiếu thốn mọi tiện nghi tối thiểu về nhiều mặt gia cư, cơ sở hạ tầng cũng như vệ sinh công cộng…

Nói chung, thì đây là lối làm việc theo cái khẩu hiệu quen thuộc của giới chuyên môn làm công tác xã hội xưa nay, đó là: “Giúp dân để người dân tự giúp lấy mình” (Help people to help themselves). Như vậy, vai trò chính yếu của người cán bộ xã hội là tự nguyện làm chất men, chất xúc tác nhằm khơi động quần chúng nhân dân ý thức và cảm nhận được nhu cầu cải tiến xã hội (felt needs) – để rồi từ đó mà họ kêu gọi động viên lẫn nhau người góp công, kẻ góp của để cùng bắt tay tham gia thực hiện những công tác cụ thể thiết thực như chỉnh trang gia cư, sửa sang xóm ngõ, đặt đường cống thóat nước, xây dựng trường học, trạm y tế, chợ búa v.v…

Trong những bài viết trước đây, tôi đã có dịp trình bày về những kết quả thành tích trên nhiều phương diện của Chương trình Phát triển này rồi. Vì thế, thiết nghĩ khỏi cần nhắc lại các chi tiết cụ thể đó ở đây nữa. Thay vào đó, tôi muốn xem xét vấn đề chúng ta có thể áp dụng những kinh nghiệm thực tiễn của Chương trình đó như thế nào trong giai đọan phát triển và xây dựng Xã hội Dân sự hiện nay vào đầu thế kỷ XXI tại nước ta. Đây là một đề tài mà bà con nhất là giới trẻ ở trong nước đang bàn thảo trao đổi rộng rãi sôi nổi và xướng xuất ra những họat động cụ thể nhằm cải thiện môi trường sinh họat văn hóa xã hội của tòan thể dân tộc.

I – Công tác xã hội là để phục vụ đồng bào: Đó là lý tưởng có sức lôi cuốn quy tụ được giới thanh niên mọi nơi, mọi lúc.

Ngay từ những năm 1950 trong chế độ tương đối tự do dân chủ thông thóang tại miền Nam, các đòan thể hiệp hội của giới thanh thiếu niên đều được tự do tổ chức các hình thức sinh họat tập thể – như cắm trại, hội thảo, trình diễn văn nghệ và đặc biệt là thực hiện những công tác cụ thể để phục vụ đồng bào ở địa phương. Các sinh họat lành mạnh này thường là những công việc nhỏ bé phù hợp với khả năng hạn chế của giới trẻ, điển hình như sửa sang đường xá, dọn vệ sinh nơi ngõ hẻm, sửa chữa lớp học, đóng bàn ghế, tổ chức sinh họat vui chơi giải trí cho các em nhỏ trong lối xóm v.v… Xin liệt kê một số họat động điển hình của giới trẻ hồi giữa thập niên 1960 đó như sau:

1 – Vào năm 1964 đã có tổ chức gọi là “Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội” lôi cuốn được nhiều học sinh cỡ tuổi 15 – 17 trở lên tham gia vào những họat động lành mạnh được gọi chung là “công tác xã hội” nhằm giúp ích một cách cụ thể cho nhu cầu cấp bách của mỗi địa phương do chính các em chọn lựa cùng nhau đến sinh họat tại đó. Cũng vào năm 1964 này, thì tổ chức Đòan Thanh niên Chí nguyện (NVY = National Voluntary Youth) đã gửi nhiều tóan công tác đến làm việc ở một số làng xã tại nông thôn về các mặt phát triển canh nông, mở mang giáo dục, cải thiện mội trường v.v…

2 – Tới cuối năm 1964, vì có nạn bão lụt tàn phá nhiều tỉnh miền Trung như Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, nên các bạn thanh niên cùng hợp tác với nhau để thành lập Ủy Ban Phối Hợp Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Miền Trung và cử nhiều đòan công tác đến tận các địa phương bị tàn phá để giúp đỡ các nạn nhân – cụ thể là giúp phân phối thực phẩm cứu trợ, sửa sang lại nhà cửa, trường học, đường xá v.v… Đây có thể coi là lần đầu tiên mà có một họat động xã hội nhân đạo có quy mô tòan quốc lôi cuốn được rất nhiều thanh niên, sinh viên và học sinh tham gia trong thời gian kéo dài đến 3 – 4 tháng.

3 – Rồi tiếp theo là Chương trình Công tác Hè năm 1965 lôi cuốn được đông đảo giới học sinh, sinh viên ở Sài gòn cũng như ở nhiều tỉnh thành khắp miền Nam tham gia sinh họat cắm trại, trình diễn văn nghệ, thực hiện một số công tác xã hội nhân đạo nhằm phục vụ bà con đồng bào tại các địa phương, Và cũng từ kinh nghiệm của Chương trình Hè này mà ít năm sau lại có một chương trình do Bộ Giáo Dục yểm trợ gọi là “Chương trình Phát triển Sinh họat Học đường” được gọi vắn tắt là CPS.

4 – Cũng vào năm 1965 đó, thì xuất hiện Chương trình Phát triển Quận 8 Sài gòn (CPT.Q8) như đã giới thiệu ở trên. Điểm khác biệt của Chương trình này là họat động lâu dài nhiều năm tháng tại một địa phương nhỏ bé tại vài ba quận trong thành phố. Nhờ vậy mà Chương trình này đã gây ra được một thứ tác động sâu sắc và lâu bền đối với các tầng lớp quần chúng ở địa phương. Ta sẽ phân tích chi tiết cặn kẽ hơn về khía cạnh ảnh hưởng đó trong phần tiếp theo sau.

II – Vai trò làm Đối tác của Xã hội Dân sự đối với Chính quyền Nhà nước.

Tất cả những tổ chức của giới thanh niên, sinh viên, học sinh mà có những họat động xã hội nói trên, thì đều có ba tính chất căn bản là: tự nguyện, bất vụ lợi và phi chánh phủ (voluntary, non-profit, non-governmental). Vì thế mà các tổ chức đó đều hội đủ các tiêu chuẩn để được xếp vào khu vực Xã hội Dân sự – mà điển hình nhất là tổ chức Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, các tổ chức từ thiện nhân đạo do các tôn giáo thành lập và bảo trợ v.v… Và khi các đòan thể, hiệp hội đó đứng ra thực hiện những công tác xã hội từ thiện nhân đạo tại nhiều nơi, thì họ đóng vai trò làm “Đối tác” (Counterpart) đối với Chánh quyền Nhà nước – tức là cùng hợp tác với Chánh quyền trong việc thực hiện những dịch vụ công ích (public services) để phục vụ quần chúng nhân dân.

Trường hợp của Chương trình Phát triển Quận 8 cũng vậy. Đó là một chương trình họat động (action program) hòan tòan tự nguyện do một nhóm thanh niên đề ra và được Chánh quyền chấp thuận và yểm trợ về ngân khỏan chi tiêu cũng như vật liệu xây cất do cơ quan USAID (Viện Trợ Mỹ) cung ứng. Chứ đó không phải là một bộ phận cơ sở do Chánh quyền thành lập và bổ nhiệm cán bộ công chức đứng ra phụ trách điều hành. Nói cho rõ hơn, thì về mặt cơ bản Chương trình này ra đời hòan tòan là do sáng kiến tư nhân của nhóm chủ trương – mà được vị Thủ tướng hồi đó là Tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp thuận và giao cho Bộ Thanh niên và Tòa Đô chánh là hai cơ quan nhận trách nhiệm bảo trợ, cố vấn và giúp đỡ về mặt này mặt nọ.

Rõ ràng ở đây có sự cam kết hợp tác giữa Chánh quyền với nhóm thanh niên chủ trương trong việc thực hiện một chương trình công tác dài hạn nhằm phục vụ đồng bào tại một khu vực nghèo túng, kém phát triển nhất trong thành phố Sài gòn vào thời gian ấy.

Nhờ sự mềm mỏng nhã nhặn trong những cuộc tiếp súc vận động quần chúng địa phương tham gia công tác phát triển, nên Chương trình đã lôi cuốn thuyết phục được các thân hào nhân sĩ cùng hợp tác trong việc thực hiện nhiều công trình chỉnh trang xây dựng có quy mô lớn – nhờ sự đóng góp nhiệt tình của số đông bà con sinh sống trong các khóm hẻm. Do vậy mà trong có 6 năm họat động (1965 – 1971), Chương trình Phát triển đã hòan thành được cả trăm dự án lớn nhỏ mà có ích lợi thiết thực và lâu bền cho khối quần chúng nhân dân sở tại.

Và theo sự đánh giá khách quan của giới báo chí quốc tế vào các năm 1968 – 1971, thì Chương trình Phát triển các Quận 6,7,8 Sài gòn được coi là một trong những thành công ngọan mục nhất của giới thanh niên vào thời kỳ mà cuộc chiến tranh đang ở giai đọan tàn khốc bi thương nhất.

III – Vai trò làm “Đối trọng” của Xã hội Dân sự đối với Chánh quyền.

Trong một xã hội dân chủ, thì người công dân nào cũng có những quyền tự do căn bản – mà điển hình nhất là quyền tự do tư tưởng, tự do hội họp, lập hội, tự do ngôn luận v.v… Và Xã hội Dân sự thì có thể đóng vai trò làm “Đối trọng” (Counterbalance) đối với Chính quyền Nhà nước – thêm vào với vai trò làm “Đối tác” (Counterpart) như đã nói ở mục trên.

Tại Mỹ, người ta còn gọi đó là chủ trương “Checks and Balances” (Kiểm sóat và Quân bình) – tức là cá nhân mỗi người dân hay các tổ chức thuộc XHDS đều có quyền tham gia việc giám sát, theo dõi, kiểm sóat những hoạt động của Chánh quyền và nhờ vậy mà duy trì được sự Quân bình trong xã hội – không để cho Chánh quyền tự tung tự tác như trong một chế độ độc tài tòan trị của người cộng sản (totalitarian dictatorship).

Tại miền Nam Việt Nam hồi trước năm 1975, thì mặc dầu vẫn còn nhiều mặt hạn chế về chính trị do hòan cảnh chiến tranh gây ra, ta vẫn có thể thấy là người dân có quyền lên tiếng công khai tố cáo những sai trái bất cập của nhà cầm quyền. Họ thể hiện quyền này thông qua cơ quan truyền thông báo chí, thông qua các đại diện dân cử như Dân biểu, Nghị sĩ, kể cả thông qua Tòa án. Xin trưng dẫn một trường hợp điển hình khá là tiêu biểu sau đây:

* Vụ án “Ông Già Nông dân Lê Văn Duyên” ở Bến Tranh, Mỹ Tho.

Ông Lê Văn Duyên là một người nông dân cương trực sinh sống tại quận Bến Tranh tỉnh Mỹ Tho. Nhận thấy chính quyền địa phương làm nhiều điều sai trái, khuất tắt, nên ông đã gửi đơn khiếu nại tới nhiều cơ quan trung ương ở Sài gòn như Phủ Phó Tổng Thống, Quốc Hội, Giám Sát Viện và dĩ nhiên là cả các tờ báo nữa. Vì thế mà ông bị sát hại ngay tại nhà trong một đêm tối vào năm 1973. Dân chúng lối xóm phát hiện đây là hành động do viên Quận trưởng dàn dựng để trả thù và diệt trừ người đã dám đứng đơn tố cáo ông ta.

Vụ việc được báo chí phanh phui và nhất là được vị Dân biểu đại diện dân chúng ở địa phương đứng ra tố cáo trước công luận cũng như trước nhiều cơ quan chính quyền. Và vị Thẩm phán tại Tòa án Sơ thẩm Mỹ Tho là Dự thẩm Nguyễn Văn Thành đã ra lệnh bắt giữ nghi can là Trung tá Ngô Văn Thi Quận trưởng Quận Bến Tranh để tiến hành cuộc thẩm vấn điều tra theo đúng thủ tục tố tụng hình sự.

Trong vụ này, ta nhận thấy vai trò tích cực của công luận và báo chí, và nhất là sự năng nổ của vị Dân biểu địa phương là Lê Tấn Trạng đã tạo được một áp lực đối với nhà cầm quyền là phải đưa vụ án mạng ra xét xử trước Tòa án. Thứ đến là vị Thẩm phán đã thể hiện rõ ràng tính độc lập của ngành Tư pháp đối với ngành Hành pháp qua quyết định cho bắt giữ chính viên Quận trưởng đương nhiệm. Vụ này nêu rõ tính công minh chính trực của vị Thẩm phán đã không hề vị nể né tránh trách nhiệm của mình trước áp lực của các cấp chính quyền nhằm bao che cho Trung tá Thi. Cụ thể ông Ngô Văn Thi là anh em cột chèo với Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi là vị Tư lệnh Quân Đòan IV đày quyền uy thế lực ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào lúc đó.

Nạn nhân Lê Văn Duyên lại còn được sự kính phục mến chuộng của dân chúng địa phương, nên họ đã cùng nhau góp tiền bạc công sức để xây dựng một miếu thờ người Anh hùng Nông dân này tại Bến Tranh ngay sát quốc lộ số 4 gần Ngã Ba Trung Lương nữa.

IV – Để tóm lược lại: Phẩm Giá Con Người là điều quan trọng nhất.

Những sự việc được kể ra ở trên, thì hầu hết đều đã xảy ra từ nửa thế kỷ trước. Đó là do hành động cụ thể của lớp người thuộc thế hệ chúng tôi mà lúc đó mới ở vào tuổi 20 – 30. Đến nay vào năm 2014, thì nhiều người đã ra đi từ giã cõi đời này rồi. Số còn lại, thì đã ở vào lứa tuổi cao niên 70 – 80, chúng tôi chẳng còn tham vọng có thể làm điều gì quan trọng lớn lao cho dân tộc, cho đất nước được nữa. Mà chỉ mong cho thế hệ con cháu mình được sống trong một xã hội đày tinh thần nhân bản nhân ái – mà mọi người đều yêu thương quý mến bao bọc liên đới bền chặt với nhau.

Trong mấy năm gần đây, lớp người trẻ cỡ 20 – 30 tuổi đã thật hăng say nô nức gắn bó liên kết với nhau để “đòi quyền được biết” về những điều liên quan đến sự sống còn của dân tộc. Điển hình như đòi hỏi giới lãnh đạo cộng sản phải công khai hóa những điều mà họ đã ký‎ kết từ năm 1990 tại Thành Đô ở tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc với giới lãnh đạo xứ này. Và nhất là đã can đảm đứng ra bênh vực khối Dân Oan là các nạn nhân khốn khổ – đã bị mất nhà, mất đất về tay những nhóm quyền lợi tham lam vô độ và tàn ác ngoan cố hết mức.

Đó là những dấu hiệu đáng mừng của sự trỗi dậy của một thành phần tiến bộ và dũng cảm của dân tộc – mà hiện đang cố gắng xây dựng một Xã hội Dân sự vững mạnh hầu có đủ sức mạnh đối kháng được với mưu đồ đen tối lươn lẹo dối trá và tàn ác vô nhân đạo của những kẻ tham quyền cố vị, chỉ biết khư khư bảo vệ các đặc quyền đặc lợi riêng cho phe nhóm, băng đảng của riêng mình. Qua Hội nghị Thành Đô năm 1990, rõ ràng là những lãnh tụ cộng sản như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh đã thi hành chủ trương “Thà mất Nước, chứ không thà mất Đảng”. Họ hạ mình đi lạy lục xin xỏ quan thầy ở Bắc kinh vốn xưa nay là kẻ thù ngàn đời của dân tộc chúng ta – để được bảo đảm giữ vững được cái ngai vàng của mình, bất chấp sự mất đất mất biển về tay kẻ bá quyền bành trướng Trung quốc.

Và lúc này các bạn trẻ đang cương quyết đòi hỏi đảng cộng sản phải bạch hóa cái vụ ký kết bậy bạ sai trái đó với phía Trung quốc. Làm như vậy, các bạn đích thực rất xứng đáng với cái danh hiệu “Hậu sinh khả úy” vậy.

Xin được ngả mũ chào thế hệ thanh niên Việt nam của thế kỷ XXI.

Lớp người cao tuổi chúng tôi thật phấn khởi trước khí thế hăng say nô nức của các bạn trong công cuộc bảo vệ phẩm giá và công lý cho từng con người Việt nam và tiếp tục giữ vững được cái truyền thống anh hùng bất khuất từ ngàn xưa của cha ông chúng ta vậy./

Costa Mesa, California, Tháng Chín 2014

Đoàn Thanh Liêm