Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người” (Bài 2)

II – Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng

Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề  “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”.

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” ( a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội  (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo,  nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire ( bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát  mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là :  Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B –  Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông  đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng”          ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 :  Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

THÁNG HOA ĐỨC MẸ

THÁNG HOA ĐC MẸ

Lm. Đoàn Quang, CMC

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.

Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời.  Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài “Đây Tháng Hoa” của nhạc sĩ Duy Tân với điệu 2/4 nhịp nhàng:

“Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà.  Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc.  Hương sắc bay tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc.  Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhòa.

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần.  Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng.  Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời.  Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về.  Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi.  Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ.  Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời”.

Nếu có ai tự hỏi:  Tháng Hoa có từ đời nào?  Do ai khởi xướng?  Gốc tích như thế này:  Vào những thế kỉ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.  Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên.  Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh.”  Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.  Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh.  Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ.  Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ.  Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công.  Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

– Đức Giáo hoàng Piô 12, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

– Đức giáo hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết:“Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ.  Đó là dịp để “bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236).

Một câu truyện cũ đáng ta suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình , nhưng chồng cứng lòng mãi.  Năm ấy đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Cha Vianey là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người tặng là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10).

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn… chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa?  Vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng lắm lắm.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênado diễn tả văn vẻ hơn: “Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã.  Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ.  Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng.  Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ”.

Lm. Đoàn Quang, CMC
NS.TTDM tháng 5-08 trg 4

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

Linh Tiến Khải

Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta bước vào trong tình yêu của gia đình, duy trì cuộc sống hạnh phúc và bình an trong gia đình và trong xã hội, vì chúng giúp tránh các rạn nứt có thể trở thành các hố sâu ngăn cách. Vì thế đừng bao giờ kết thúc ngày sống trong gia đình mà không làm hòa với nhau.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hàng tuần hôm 13-5-2015.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã khai triển đề tài Gia đình và ba lời nói viết trên cửa: Xin phép, cám ơn và xin lỗi. ĐTC nói:

Bài giáo lý hôm nay giống như cửa vào của một loạt các suy tư về cuộc sống gia đình, cuộc sống thực tế của nó với các thời điểm và các biến cố. Trên cánh cửa này có viết ba từ: “Có đuợc phép không?”, “cám ơn”, “xin lỗi”. Thật thế các từ này mở ra con đường giúp sống hạnh phúc trong gia đình. …

Chúng là các từ đơn sơ, nhưng thực thi chúng thì lại không đơn sơ như thế! Chúng gói ghém một sức mạnh lớn: sức mạnh gìn giữ gia đình cả qua hàng ngàn khó khăn và thử thách; trái lại việc thiếu chúng, từ từ mở ra các nứt rạn có thể làm cho nó sụp đổ.

Chúng ta thưòng coi các từ đó như các từ của “nền giáo dục tốt”. Đúng nền giáo dục tốt quan trọng. Một Giám Mục lớn là thánh Phanxicô de Sales, thường nói: “nền giáo dục tốt là một nửa sự thánh thiện”. Tuy nhiên hãy chú ý trong lịch sử chúng ta cũng nhận ra một khuynh hướng hình thức của các cung cách hành xử có thể trở thành mặt nạ che dấu sự khô cằn của tâm hồn và sự thờ ơ đối với tha nhân. Người ta thường nói: ”Đàng sau các cung cách tốt ẩn dấu các thói quen xấu”. Cả tôn giáo cũng không thoát khỏi nguy cơ này, khiến cho việc tuân giữ hình thức rơi vào tinh thần thế tục. Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu đưa ra các cung cách tốt và trích dẫn cả Thánh Kinh nữa. Xem ra nó là một thần học gia. Kiểu của nó bề ngoài đúng đắn, nhưng ý hưóng của nó là nhằm làm sai lệch sự thật của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta trái lại hiểu nền giáo dục tốt trong các phạm trù đích thực, nơi kiểu của các tương quan tốt đâm rễ sâu trong tình yêu sự thiện và trong sự tôn trọng tha nhân. Gia đình sống nhờ sự tinh tế ấy của tình yêu thương nhau.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC khai triển từng từ một. Trước hết là “xin phép” hay hỏi “Có được phép không?” Khi chúng ta lo lắng xin một cách lễ phép, cả khi chúng ta nghĩ rẳng có thể yêu sách, là chúng ta đặt một sự bảo vệ đích thật cho tinh thần sống chung trong hôn nhân và gia đình. Bước vào trong cuộc sống của người khác, cả khi nó là một phần cuộc sống của chúng ta, đòi hỏi sự tế nhị của một thái độ không xâm lăng, canh tân lòng tin tưởng và sự kính trọng. Chuyện riêng không cho phép coi mọi sự là tự nhiên. Và tình yêu càng thân tình và sâu xa bao nhiêu lại càng đòi hỏi việc tôn trọng sự tự do và khả năng chờ đợi người khác mở cửa tâm lòng họ bấy nhiêu. Liên quan tới điểm này chúng ta hãy nhớ lời Chúa Giêsu nói trong sách Khải Huyền: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20). Cả Chúa cũng xin phép để vào! Chúng ta đừng quên điều đó.

Từ thứ hai là “cám ơn”. Vài lần người ta nghĩ rằng chúng ta đang trở thành một nền văn minh của các cung cách hành xử xấu và các lời nói xấu, làm như thể chúng là dấu chỉ của sự thoát ly. Nhiều lần chúng ta cũng nghe nói công khai như thế. Sự tử tế và khả năng cám ơn được xem như một dấu chỉ của sự yếu đuối, có khi lại dấy lên ngờ vực. Phải chống lại khuynh hướng này ngay rong gia đình. Chúng ta phải đòi hỏi đối với việc giáo dục sống biết ơn, nhớ ơn: phẩm giá con người và công bằng xã hội đều đi qua đó. Nếu cuộc sống gia đình lơ là lối sống này, cả cuộc sống xã hội cũng sẽ mất nó. Thế rồi, đối với một tín hữu lòng biết ơn là trung tâm của đức tin: một kitô hữu không biết cám ơn là một người đã quên đi tiếng nói của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhớ câu Chúa Giêsu hỏi khi chữa mười người phong cùi và thấy chỉ có một người trong bọn họ trở lại cám ơn (x. Lc 17,18).

Lời thứ ba là « xin lỗi ». Đây là lời khó nói, chắn chắn rồi nhưng cần thiết. Khi thiếu nó, các nứt rạn nhỏ trở thành lớn hơn – cả khi không muốn – cho tới khi trở thành các hố sâu. Không phải vô tình trong lời kinh Lậy Cha Chúa Giêsu dậy chúng ta tìm thấy kiểu nói này: « Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con » (Mt 6,12). Thừa nhận dã thiếu sót và ước ao trả lại những gì đã bị lấy mất – tôn trọng, chân thành, yêu thương – khiến đáng được tha thứ. Và như thế là chúng ta ngăn chặn nhiễm trùng. …

Nếu chúng ta không có khả năng xin lỗi, thì có nghĩa là chúng ta cũng không có khả năng tha thứ. Trong gia đình nơi người ta không xin lỗi thì bắt đầu thiếu dưỡng khí, nước tù đọng. Biết bao nhiêu vết thương đối với lòng yêu mến, biết bao nhiêu xâu xé trong các gia đình bắt đầu với sự mất đi lời nói qúy báu này « Xin lỗi ». Trong cuộc sống hôn nhân người ta cãi nhau biết bao nhiêu lần… có khi điã chén bay nữa, nhưng tôi xin cho anh chị em một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc ngày sống mà không làm hòa với nhau. Và để làm điều đó thì chỉ cần một cử chỉ bé nhỏ, một cái vuốt ve…

Ba lời chìa khóa này của gia đình là những lời đơn sơ và có lẽ ban đầu chúng khiên cho chúng ta cười. Nhưng khi chúng ta quên chúng, thì không có gì để mà cười, có đúng thế không ? Có lẽ nên giáo dục của chúng ta bỏ bê chúng quá. Xin Chúa giúp chúng ta đặt để chúng trở lại vào đúng chỗ, trong con tim chúng ta, trong nhà chúng ta và trong cả cuộc sống chung xã hội nữa.

ĐTC dã chào các đoàn hành hương đến từ các nưóc Bắc Mỹ và Âu châu, cũng như các đoàn hành hương đến từ Đài Loan, Camerun, Mêhicô, Honduras, Argentina, Brasil. Ngài đặc biệt chào các thành viên Hội Tương trợ truyền giáo quốc tế Pháp hoạt động trong lãnh vực y tế và cổ võ truyên giáo trong các giáo phận và dòng tu.

Chào các đoàn hành hượng nói tiếng Bồ Đào Nha ĐTC nói 13 tháng 5 là lễ Đức Mẹ Fatima. Ngài xin tín hữu gia tăng các cử chỉ hằng ngày tôn sùng Mẹ và noi gương Mẹ và hãy tín thác cho Mẹ mọi sự để trở thành dụng cụ lòng thương xót và hiền dịu của Thiên Chúa đối với các thành phần khác trong gia đình cũng như bạn bè thân hữu. ĐTC mời đức ông người Bồ Đào Nha đọc một kinh Kính Mừng bằng tiếng Bồ kính Đức Mẹ.

Ngài cũng chào các trẻ em Ba Lan mới rước lễ lần đầu và chúc các em càng ngày càng yêu Chúa Giêsu hơn, tín thác nơi Chúa và sống thân tình với Chúa.

Trong các nhóm tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào các linh mục sinh viên trường Thánh Phaolô của Bộ Truyền giáo đã xong chương trình học và chuẩn bị về nước làm việc. Ngài khích lệ các vị đừng bao giờ đánh mất đi lòng hăng say truyền giáo.

Chào giới trẻ người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC khuyên mọi người vun trồng lòng tôn sùng Mẹ Maria, siêng năng lần hạt mỗi ngày và cảm thấy Mẹ luôn gần gũi đặc biệt trong những lúc khó khăn.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh ĐTC ban cho mọi nguời.

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI CAO

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI CAO

Tác giả: Huệ Minh

Lễ Thăng Thiên Năm B

Cv 1, 1-11; Ep 1, 17-23; Mc 16, 15-20

Mở lại những trang thơ của nhà thơ Hàn Mạc Tử, ta bắt gặp bài thơ : “Những giọt lệ”:

Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi!

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si??

Họ đã xa rồi không níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa….

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Tâm tình sao mà da diết quá !

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Người đi thì mặc kệ người đi chứ có mắc mớ gì đến ta, dính dáng gì đến ta mà hồn ta bỗng dại khờ ?

Nói như thế, ắt hẳn không thỏa đáng bởi lẽ là con người, bên cạnh lý trí, con người còn có những cảm xúc, tình cảm hết sức đặc biệt. Nhất là với những người thân quen, những ai đã hơn một lần gặp gỡ, hơn một lần sống chung, làm việc chung. Đặc biệt với người mà mình thương mến, khi xa cách sẽ có một cảm xúc khó tả và thật khôn lường.

Với những lẽ như vậy, ta hiểu được phần nào tâm trạng của các môn đệ khi xa cách Thầy mình. Khi chứng kiến cảnh Thầy lên trời, lòng cứ lâng lâng, cứ bâng khuâng nhìn mãi. Đang lâng lâng, đang bâng khuâng đó thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”.

Tiếc thương cũng rồi ! Đành thôi đã lên trời ! Còn đâu, ước mơ gì cũng thế !

Nếu ta là các môn đệ, ta cũng tiếc nuối, cũng nhớ nhung, cũng bâng khuâng nuối tiếc vì sự ra đi của Thầy Chí Thánh.

Nhìn vào cuộc đời các môn đệ, ta bắt gặp được những tình cảm hết sức tự nhiên, rất thật của con người. Các môn đệ tiếc nuối đó, đau đớn đó nhưng rồi nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nhờ Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu hứa sẽ gửi đến đã đồng hành, đã cùng hoạt động nơi các ông. Các môn đệ tưởng chừng như mất phương hướng, tưởng chừng như buông xuôi đó nhưng lại mãnh mẽ lên đường để loan tin mừng Phục Sinh cũng như loan tin rằng Chúa đã lên trời để gọi là dọn chỗ cho những ai muốn đi theo Ngài.

Biến cố lên trời thật sự là một biến cố mất mát dưới cái nhìn của trần gian, dưới cái nhìn của tình cảm con người nhưng việc Chúa Giêsu lên Trời “có lợi hơn cho anh em” như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ. Hẳn nhiên không ở lại mãi ở dưới đất với các môn đệ được. Và nếu cứ ở mãi dưới cái cõi nhân gian này thì cũng chẳng có gì để bàn, để nói cả.

Đọc và suy mầu nhiệm thứ hai trong mầu nhiệm Mân Côi mùa Mừng như thế này : Thứ hai thì gẫm Đức Chúa Giêsu lên Trời, ta hãy xin ái mộ những sự trên Trời ! Lời gẫm, lời xin ấy xem ra đơn giản nhưng thật sự là khó bởi lẽ ái mộ thì ai cũng có thể ái mộ bằng lời nói, bằng cái miệng của mình nhưng để sống mầu nhiệm Nước Trời không phải là chuyện giản đơn.

Thật khó khi ta sống trong cái thân phận làm người mà Chúa lại mời gọi ta hướng lòng về Trời cao mà Trời cao đó chưa ai thấy, chưa ai nếm, chưa ai biết cả. Có chăng chỉ biết qua lời mà Thiên Chúa nói nơi Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa, là Con Một của Thiên Chúa mà thôi.

Lời của Chúa Giêsu, sứ mạng của Chúa Giêsu khép lại ở trần gian nhưng đã mở ra một cửa ngõ khác là cửa ngõ về trời. Như Chúa Giêsu đã hứa là Chúa đi và dọn chỗ cho chúng ta. Chính vì vậy, ta lại hoàn toàn tin tưởng và lại ngong ngóng hướng về Trời cao, nơi Chúa đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Quả thật là khó khi ta sống trong cái thân xác này mà lại đòi hỏi lòng hướng về Trời. Quá khó để sống tâm tình đó vì lẽ trong ta mãi mãi có sự giằng co của sự thiện và sự ác, giằng co của cái bám víu vào thực tại trần gian và cái làm cho ta bay bổng lên cùng Thiên Chúa.

Ta thấy, như cánh diều biếc, càng nhẹ nhõm thì càng dễ vút lên trời. Ngược lại, con diều nặng nề sẽ không dễ dàng hay dù có lên trời đi chăng nữa cũng sẽ chòng chành và sẽ dễ rớt.

Nghĩ về con diều, nhớ về con diều để ta nhìn đến phận người của chúng ta. Cuộc đời của chúng ta cũng như những cánh diều biếc như vậy. Càng nhẹ nhõm, càng thanh thoát thì ta càng dễ đến gần Chúa và ở bên Chúa hơn.

Nhìn vào cuộc sống, đôi khi ta mãi mê thế sự trần gian nhưng ta quên điều chắc chắn của đời người đó chính là ai ai trong chúng ta không thể nào thoát ra khỏi cái chết. Chính cái chết đã bắt buộc ta phải bỏ lại những cái gì mà ta từng trân quý, ta từng ấp ủ trong đời, ngay cả người mà ta gọi là cha, là mẹ, là vợ, là chồng, là con cái … những người thân thương. Yêu lắm, thương lắm, nhớ lắm nhưng buộc lòng ta phải để lại chứ không ai có thể mang theo được. Và, dù người còn lại có yêu ta cỡ nào đi chăng nữa cũng không thể nào đi theo ta hay níu kéo ta được.

Thực tế là ta phải khép cuộc đời ta ở trần gian này tùy theo thánh ý Chúa cho ta sống bao nhiêu năm trên trần gian. Khi ta khép cuộc đời ở trần gian này ta bước qua ngưỡng cửa khác, ngưỡng cửa mới đó chính là ngưỡng cửa Nước Trời.

Nước Trời thật ra cũng dễ vào nhưng cũng rất ư là khó vào bởi lẽ Chúa Giêsu đã hơn một lần nói cho ta biết là phải vào cửa hẹp mới vào được Nước Trời, phải bỏ của cải thế gian, phải làm tôi Thiên Chúa, phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nước Trời.

Ngày hôm nay, mừng kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu lên Trời, ta không được dừng lại ở cái nhìn của trần gian, của con người xác thịt nhưng ta xin Chúa cho lòng ta hướng lên Trời thật sự. Lòng hướng lên Trời thật sự khi và chỉ khi ta bỏ bớt những đam mê của trần gian, những quyến rũ của trần gian.

Vẫn là con người mong manh mỏng dòn và yếu đuối, chính vì thế ta lại càng cần xin ơn Chúa hơn nữa để ta bỏ đi những gì là dính bén vào đời ta làm cho ta nặng nề và khó siêu thoát. Xin Chúa thêm ơn cho ta để dù sống trong cuộc đời này nhưng lòng ta luôn hướng về Quê Trời nơi quê hương đích thực của mỗi người chúng ta.

Huệ Minh

Quan chức Mỹ kêu gọi VN thả tù nhân chính trị

Quan chức Mỹ kêu gọi VN thả tù nhân chính trị

Ông Tom Malinowski nói nhân quyền tác động đến tiến trình đàm phán TPP

Một quan chức Hoa Kỳ thúc giục Việt Nam có những hành động thiết thực nhằm cải thiện hồ sơ nhân quyền trong những tuần tới, bao gồm việc trả tự do cho các tù nhân chính trị.

“Rõ ràng đây là một thời điểm quan trọng trong quan hệ giữa hai nước và nhân quyền là một trong những mục tiêu mà chúng tôi đang nỗ lực đạt được,” Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Tom Malinowski, được hãng thông tấn AFP dẫn lời nói hôm thứ Sáu.

Ông Malinowski vừa hoàn tất chuyến thăm Việt Nam kéo dài một tuần, nơi ông đã có cuộc gặp với các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam cũng như các nhóm xã hội dân sự, trong đó có các lãnh đạo tôn giáo.

Việt Nam đã có “một số tiến bộ mong manh” về vấn đề nhân quyền, nhưng “chúng tôi hoàn toàn không ảo tưởng” trước thách thức hiện nay, ông nhấn mạnh.

“Việt Nam vẫn là quốc gia độc đảng và tội phạm hóa mọi hình thức bất đồng chính kiến,” ông nói với báo giới.

Tuy nhiên ông cho rằng hiệp định thương mại bao gồm 40% nền kinh tế toàn cầu là “đòn bẩy quan trọng mà chúng tôi có thể sử dụng để khuyến khích Việt Nam đi theo hướng cởi mở hơn’.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với sự tham gia của 12 quốc gia, vẫn đang trong quá trình đàm phán.

‘Không được bước lùi’

Tôi đã để lại cho chính phủ Việt Nam một thông điệp rõ ràng, rằng cách họ giải quyết những vấn đề này, đặc biệt là trong những tuần tới, sẽ có tác động rất lớn đối với tiến trình đàm phán TPPTrợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Tom Malinowski “Rõ ràng là đang có một cuộc tranh luận sâu rộng bên trong xã hội Việt Nam cũng như chính phủ Việt Nam về lộ trình của đất nước”.

“Đó là cuộc tranh luận về việc có nên và làm sao để xây dựng một hệ thống chính trị cởi mở và ít cứng nhắc hơn,” ông nói.

“Tôi đã để lại cho chính phủ Việt Nam một thông điệp rõ ràng, rằng cách họ giải quyết những vấn đề này, đặc biệt là trong những tuần tới, sẽ có tác động rất lớn đối với tiến trình đàm phán TPP”.

Việc tham gia đàm phán TPP đã khiến chính quyền Việt Nam phải “hạn chế” bắt giữ và buộc tội các nhà bất đồng, ông Malinowski nói.

Hiện vẫn chưa có nhà bất đồng chính kiến nào bị buộc tội trong năm nay, so với 61 trường hợp trong năm 2013 và 29 trường hợp hồi năm ngoái.

Washington cũng đang thúc giục Hà Nội trả tự do cho 100 tù nhân chính trị còn lại.

Tuy nhiên ông Malinowski nói vẫn còn nhiều trường hợp các nhà bất đồng chính kiến bị đe dọa, bắt giữ hoặc đánh đập.

Ông cho biết đã trình bày với giới chức Việt Nam lập trường của Washington rằng “không được bước lùi về phía sau”.

Việc gia nhập TPP cũng sẽ yêu cầu Việt Nam cho phép thành lập công đoàn độc lập, điều mà nước này đang cấm đoán.

Hôm thứ Năm, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật đàm phán nhanh, cho phép Tổng thống Barack Obama xúc tiến đàm phán TPP.

Tuy nhiên, dự luật này vẫn phải được thông qua tại Hạ viện.

Hãy Ðếm Những Vì Sao!

Hãy Ðếm Những Vì Sao!

Đức Ông Peter Nguyễn Văn Tài

Trong cuốn truyện thuộc loại tự thuật, một người cha ghi lại câu chuyện và những ý nghĩ sau đây:

Một đêm kia, trong lúc đang đọc báo, tôi nghe đứa con gái bé nhỏ của tôi bảo: “Bố ơi, con sẽ đếm xem trên trời có mấy ngôi sao”.

Sau đó, tôi nghe giọng nói êm đềm, dễ mến của con tôi bắt đầu đếm: 1, 2, 3, 4… rồi tôi chú tâm vào việc đọc báo, không còn để ý đến những tiếng đếm của nó nữa.  Ðến khi đọc xong bài báo, tôi chú ý lắng tai và nghe tiếng đứa con gái tôi vẫn tiếp tục đếm: 223, 224.

Ðếm đến đây nó ngừng lại quay sang tôi bảo: “Bố ơi, con không dè trên trời có nhiều sao đến thế”.

Nghe con bình luận như trên, tôi chợt nhớ: Thỉnh thoảng tôi cũng thầm nói với Chúa: “Chúa ơi, để con thử đếm xem con đã nhận lãnh bao nhiêu ơn lành Chúa ban”. Và càng đếm hình như trái tim tôi càng cảm thấy thổn thức, không phải vì âu sầu nhưng vì bị nhiều hồng ân đè nặng.

Và tôi cũng thường bật lên lời bình luận như đứa con gái của tôi: “Lạy Chúa, con không dè đời con có nhiều ơn Chúa đến thế!”

Một trang nhật ký kia cũng mang một nội dung tương tự như những tư tưởng trên: Nếu có ai đưa tôi một đĩa đầy cát và bảo tôi tìm những mảnh sắt bé nhỏ nằm lẫn lộn trên cát, thì với đôi mắt và những ngón tay, tôi khó có lòng tìm ra được những mảnh sắt ấy. Nhưng với một thỏi nam châm tôi có thể dễ dàng và mau lẹ hút ra những vụn sắt nhỏ li ti trộn lẫn trong cát.

Một trái tim vô ơn có thể so sánh với đôi mắt trần, và những ngón tay vụng về của tôi mò mẫm trên đống cát, không tìm ra những ơn lành Thiên Chúa ban.

Nhưng với một trái tim biết ơn, có thể so sánh với một thỏi nam châm, tôi có thể lướt nhanh qua mỗi giây phút của một ngày sống và khám phá ra nhiều hồng ân của Thiên Chúa, với một sự khác biệt là những mảnh sắt nhỏ trong đống cát của Thiên Chúa là những vật quý giá hơn vàng.

Nhiều người sống hời hợt nên thấy cuộc đời cũng như những biến cố xảy ra hằng ngày và những cảnh vật chung quanh mang toàn đen tối và vô giá trị như đất cát.  Nhưng với những người sống có chiều sâu, các biến cố, những vật chung quanh, dầu tầm thường nhỏ bé đến đâu cũng là dịp để họ suy niệm và dâng lời cảm tạ:

* Một nụ hoa hồng chớm nở, những tia nắng trinh nguyên của một buổi sáng đẹp trời,

* Một cái bắt tay thông cảm,

* Một cử chỉ tha thứ,

* Một sự giúp đỡ nho nhỏ……

Đức Ông Peter Nguyễn Văn Tài

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Tác Giả: Đoàn Thanh Liêm |

Câu chuyện của sư phụ Karl Popper và môn đệ George Soros

Năm 1996, tôi đến định cư tại California, thì được anh bạn Đỗ Quý Toàn tức là nhà báo Ngô Nhân Dụng mách bảo cho biết là : “Anh cần tìm đọc về tư tưởng của Karl Popper là một vị đại sư vốn từng dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn, mà ở Việt nam trước năm 1975 ít người được biết đến, kể cả các giáo sư về môn triết học tại các đại học ở Saigon”. Nghe theo lời khuyên của anh bạn, tôi đã đi tìm cuốn sách nổi danh “ The Open Society and its enemies” xuất bản lần đầu tiên tại Anh quốc năm 1945 của tác giả này. Và sau đó tìm đọc thêm nhiều tài liệu khác liên hệ đến đề tài do giáo sư Popper nêu ra, nhất là về nhà tài chánh khét tiếng George Soros là một môn sinh của sư phụ K Popper. Các tài liệu này đã soi sáng rất nhiều cho tôi trong quá trình nghiên cứu về Xã hội Dân sự trong nhiều năm gần đây. Sau trên 10 năm theo dõi và nghiền ngẫm, tôi xin trình bày một số điều tôi đã học hỏi được từ nơi hai nhân vật nổi danh này.

Để cho bài viết được sáng sủa gọn gàng, tôi xin giới thiêu về thân thế và sự nghiệp của mỗi vị trước (bài 1). Và tiếp theo sẽ thảo luận về chủ trương đường lối của hai nhân vật này (bài 2- 3).

Bài 1 – Karl Popper & George Soros

Thân thế và Sự nghiệp

A / Karl Raimund Popper (1902- 1994)

Karl Popper sinh trưởng tại Vienna thủ đô của Áo quốc. Vào tuổi 30, ông thường sinh hoạt với các nhà tư tưởng theo trường phái Vienna về triết học và xã hội học. Nhưng vào năm 1937, vì bất đồng với chế độ độc tài Đức quốc xã, ông đã phải rời quê hương để sang dậy về môn triết học tại trường Đại học Tân Tây Lan. Và sau đó, khi chiến tranh chấm dứt ông lại qua Anh quốc dậy học tại trường đại học nổi danh thế giới “ London School of Economics “ (LSE) trong một thời gian khá dài trước khi về nghỉ hưu.

Giáo sư là người đương thời với nhiều nhân vật nổi danh trong giới học thuật và tư tưởng của thế giới như Andre Malraux, Jean Paul Sartre, Raymond Aron ở Pháp, Gunnar Myrdal ở Thụy Điển, Friedrick Hayek ở Áo quốc. Và đặc biệt ông sống rất thọ, tới tuổi 92. Các sách của ông viết về triết học, đặc biệt là cuốn “ The Open Society and its enemies” đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi trong học giới. Năm 1982, vào lúc ông bước vào tuổi bát tuần, các học giả đã hợp với nhau để cùng viết chung một cuốn sách nhan đề là : “In pursuit of Truth” do Paul Levinson biên tập gồm những bài tiểu luận về “Triết học của K. Popper (Essays on the Philosophy of K. Popper on the occasion of his 80th Birthday).

Vào năm 1965, vị giáo sư còn được Nữ hoàng Anh quốc phong tước hiệu “Hiệp sĩ nước Anh” (Knight of England), nên người ta thường xưng tụng gọi ông là Sir Karl Raimund Popper. Ông còn được một môn sinh cũng rất nổi danh là nhà tài chánh George Soros vinh danh là sư phụ của mình bằng cách đặt tên cho cơ sở hoạt động xã hội của ông là “Open Society Institute” có trụ sở chính tại New York. Từ ngữ “Open Society” này nhằm ứng dụng chủ trương của K Popper như được trình bày trong cuốn sách thời danh nói trên. Ta sẽ bàn về nội dung cuốn sách này trong một bài tiếp theo.

Nhân tiện, xin liệt kê một số đầu sách quan trọng của giáo sư Karl Popper như dưới đây theo thứ tự thời gian xuất bản :

The Logic of Scientific Discovery (1934), bản dịch tiếng Anh 1959

The Open Society and its enemies (1945)

Utopia and Violence (1947)

On Freedom (1958)

Conjectures and Refutations : The Growth of Scientific Knowledge (1963)

Unended Quest : An Intellectual Autobiography (1976)

In Search of a Better World (1994)

Hình như chưa có mấy cuốn trong số sách trên đây mà đã được dịch sang tiếng Việt.

B/ George Soros (1930)

George Soros sinh trưởng trong một gia đình Do thái tại Budapest thủ phủ của nước Hungary, vào năm 1930. Trong thời kỳ Đức quốc xã xâm chiếm nước Đông Âu này và tiến hành cuộc tàn sát người Do Thái từ năm 1943, thì George thoát nạn vì nhờ được một gia đình người Hung chính hiệu nhận làm con nuôi. Sau chiến tranh, ông tìm cách đào thoát khỏi khu vực do Hồng quân Liên Xô chiếm đóng để sang phương Tây và đến được nước Anh vào năm 1947. Tại đây, George theo học và tốt nghiệp vào năm 1952 ở trường London School of Economics. George rất tâm đắc với chủ trương về “Xã hội Mở” (Open Society) của giáo sư Karl Popper. Và sau này khi đã rất thành công về tài chánh rồi, thì G Soros đã công khai tôn vinh giáo sư Karl Popper là vị sư phụ đáng kính của mình, bằng cách đặt tên cho Quỹ Từ Thiện cũng như cơ sở hoạt động xã hội của mình là “Open Society Foundation” và “Open Society Institute” (OSI).

Theo sự xếp hạng của tạp chí tài chánh Forbes, thì G Soros được coi là người giàu có thứ 80 trên thế giới với tài sản vào khoảng 8.5 tỷ mỹ kim (8,500 triệu). Ông chuyên môn kinh doanh trên thị trường tài chánh và chứng khoán và bằng những thủ thuật mạnh dạn khôn khéo đến độ phiêu lưu liều lĩnh nên có năm ông kiếm được một số lời khổng lồ hàng ngàn triệu dollar. Tính ra ông đã kiếm được đến 11 tỷ dollar (11,000 triệu) trong thời gian có mười mấy năm hoạt động sôi nổi trên thị trường tài chánh. Báo chí đặt cho ông cái danh hiệu “người bẻ gẫy Ngân hàng Anh quốc” (the man who broke the Bank of England) trong Ngày thứ Tư đen tối năm 1992 (Black Wednesday, September 16, 1992). Và riêng trong mỗi một vụ mạo hiểm này thôi, thì Soros đã kiếm được một số lời lên đến 1.1 tỷ dollar!

Hồi năm 1997, nhân cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu, G Soros bị Thủ tướng Mahathir của Mã lai tố cáo đích danh là một thủ phạm đã gây ra sự việc tồi tệ đó thông qua những vụ “sử dụng tài sản của mình để trừng phạt khối ASEAN vì đã nhận nước Myanmar vào làm thành viên”. Ông Thủ tướng này còn gọi Soros là một người đần độn(moron). Người Thái lan còn gọi Soros là “ tên tội phạm trong cuộc chiến tranh kinh tế, chuyên hút máu người dân (an economic war criminal who sucks the blood from the people).

Nhưng Soros lại rất nổi danh khắp thế giới, đặc biệt là tại nước Nga và cả khu vực Đông Âu, vì đã góp một phần rất quan trọng vào sự phục hồi chế độ dân chủ ở các nước “cựu cộng sản “ này. Cụ thể như ngay từ đầu thập niên 1980, ông đã yểm trợ rất mạnh cho phong trào “Đoàn kết” ở Ba lan, cho Nhóm “Hiến chương 77” ở Tiệp khắc, cho nhà bác học đối lập thời danh ở Liên Xô là Andrei Sakharov v.v…Chi tiết về các hoạt động này rất nhiều, sẽ được trình bày đày đủ hơn trong một bài sau. Mỗi năm quỹ của Soros đã chi ra đến 500 triệu dollar cho các dự án trên khắp thế giới, đặc biệt tại Đông Âu

G Soros lại còn gây sôi nổi trong dư luận vào năm 2004, khi ông bỏ ra một số tiền khá lớn đến trên 15,000,000 dollar để nhằm hạ bệ Tổng Thống George W Bush trong cuộc bàu cử năm đó.

Ngoài ra ông còn viết nhiều bài báo và cả mấy cuốn sách về kinh tế tài chánh trên quy mô toàn cầu. Thật là con người đa tài, đa dạng, nhiều tiền lắm bạc mà cũng thật là đa đoan nữa.

Trong bài tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một” về cả hai phương diện lý thuyết và thực hành của cặp sư phụ Karl Popper và môn sinh G eorge Soros này. Xin độc giả đón đọc nhé.

Bài 2 – Luận điểm của Karl Popper

Công trình nghiên cứu về triết học của giáo sư Karl Popper trong suốt cuộc đời lâu dài vừa miệt mài nghiên cứu giảng dậy, vừa bền bỉ biên soạn sáng tác của ông thật là phong phú vĩ đại. Chuyên môn của ông là lãnh vực triết lý của khoa học (philosophy of science). Và ông đã dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn (LSE) suốt 23 năm với chức danh chính thức là vị Giáo sư về môn Luận lý và Phương pháp Khoa học (Professor of Logic and Scientific Method). Việc giới thiệu cho đày đủ công trình triết học đồ sộ đó rõ ràng là vượt ra ngoài khả năng rất hạn hẹp của người viết bài này. Do đó, như trong nhan đề của bài viết, tôi chỉ xin giới hạn việc giới thiệu về cái chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một”, mà vị đại sư đã trình bày rất khúc chiết tại nhiều trang rải rác trong cuốn sách thời danh “The Open Society and its enemies” (Xã hội Mở và những kẻ thù của nó) được xuất bản lần đầu tiên năm 1945 tại Anh quốc, rồi sau đó lại được tái bản nhiều lần và phổ biến rộng rãi tại Hoa kỳ, cũng như tại khắp nơi trên thế giới qua các bản dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nữa.

Và trong một bài tiếp theo (bài 3), người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về sự ứng dụng chủ trương này, thông qua chương trình hoạt động văn hóa xã hội và từ thiện nhân đạo có tầm vóc toàn cầu của George Soros là một môn đệ kiệt xuất của giáo sư.

1 – Giới thiệu sơ lược về cuốn sách “ Xã hội Mở và những kẻ thù của nó”

Cuốn sách này được nhiều học giả đánh giá là một công trình quan trọng nhất nghiên cứu về môn xã hội học đương đại, một thứ tác phẩm “kinh điển” (a classic). Vị đại sư Bertrand Russell thì ca ngợi tác phẩm như là một bênh đỡ vững mạnh và sâu sắc cho nền Dân chủ (a vigorous and profound defence of Democracy). Quả thật, Popper đã vận dụng triệt để cái vốn kiến thức uyên bác, vững vàng trong lãnh vực triết lý khoa học cuả mình để tìm cho ra được một lối thoát về chính trị xã hội cho thế giới lúc đó đang bị kềm kẹp khốn khổ dưới chế độ độc tài tàn bạo Đức quốc xã. Và rồi qua cuốn sách thời danh này, Popper đã được đánh giá cao là một triết gia về chính trị và xã hội nưã (political and social philosopher).

Sách dài tổng cộng trên 700 trang được phân bố trong 2 tập, với tổng cộng 25 chương, mà 10 chương đầu được dành để phân tích và bác bỏ các luận điểm của đại triết gia Plato là một thứ ‘núi Thái sơn” của nền triết học Tây phương và cả của kho tàng triết học của nhân loại nữa. Còn các chương tiếp theo, thì tác giả dành để phê phán Marx và Hegel. Mặc dầu rất kính phục vị đại sư Plato, Karl Popper vẫn thẳng thừng phê phán quan điểm của triết gia này đến nơi đến chốn, đặc biệt về quan điểm có tính chất “ không tưởng” (utopian social engineering) của Plato trong việc điều hành và lãnh đạo xã hội. Popper rất kiên quyết, triệt để chống lại cái lý luận của Plato khi chủ trương rằng “ quyền lợi cuả nhà nước được đặt trên quyền lợi cuả cá nhân “ và “cần phải dành quyền cai trị cho nhà độc tài sáng suốt, một thứ “vua kiêm triết gia” (philosopher-king).

Dĩ nhiên là Popper cũng nặng nề phê phán chê trách quan điểm của Hegel đặc biệt là thuyết “định mệnh lịch sử” (historical determinism). Nói vắn tắt là : Popper hoàn toàn bác bỏ cái chủ trương “kế hoạch hóa toàn diện” (Total Planning) của Plato và Hegel, Marx, mà thay vào đó bằng chủ trương “Xây dựng Xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Chủ trương này sẽ được bàn thảo phân tích chi tiết rành rọt hơn trong phần sau của bài viết này.

Ta nên chú ý đến thời gian và bối cảnh lúc tác giả viết cuốn sách này. Đó là từ năm 1938 đến 1943, lúc chế độ phát xít Hitler đang chiến thắng ròn rã ở khắp Âu châu, kể cả tại nước Nga. Tình hình bi thảm này trên khắp Âu châu đã khiến cho Popper phải ngày đêm lăn xả vào việc truy tìm tận gốc rễ đã phát sinh ra chế độ độc tài chuyên chế toàn trị. Vì thế mà ông đã “rất nặng lời trong việc phê phán Plato, Hegel” là những bậc thức giả được tác giả coi như chủ xướng cổ võ cho hệ thống “xã hội khép kín” (closed society) do chế độ độc tài gây dựng và duy trì. Vào thời đó, chưa có cuộc chiến tranh lạnh như trong giai đoạn sau này, kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Nên trong cuốn sách này, Popper đã” rất nhẹ tay ” đối với Karl Marx, và cũng lại không hề đả động gì đến chế độ độc tài cộng sản sắt máu cuả Stalin.

Ngày nay vào đầu thế kỷ XXI, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga và Đông Âu để nhường chỗ cho một thể chế dân chủ thông thoáng cởi mở hơn, cùng với sự thăng tiến về nhân phẩm và nhân quyền thông qua sự phục hồi và phát triển cuả xã hội dân sự, thì lời kêu gọi “xây dựng một xã hội cởi mở”, mà Popper đã mạnh dạn gióng lên từ 60-70 năm trước, lại càng có tính cách thực tiễn thời sự và được sự hưởng ứng cuả số đông quần chúng cũng như tầng lớp trí thức khắp nơi trên thế giới.

Tóm tắt lại, cuốn sách “The Open Society” cuả Karl Popper đã góp phần gây ra được một nguồn cảm hứng nồng nhiệt, phấn khởi cho công cuộc tìm kiếm một thể chế chính trị xã hội nhân bản, văn minh tiến bộ xứng hợp với điạ vị cao quý cuả con người trong một thế giới đang mỗi ngày càng phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng toàn diện và toàn cầu hiện nay vậy.

2 – Thảo luận về vấn đề “ Xây dựng xã hội từng mảnh một”.

Luận điểm cốt lõi của Popper có thể tóm gọn lại như sau : Công việc chính yếu của bất kỳ một xã hội con người nào thì cũng chỉ là phải “giải quyết vấn đề” xảy đến cho xã hội đó (problem solving). Mà phương pháp khoa học có hiệu quả nhất là sử dụng “ giải pháp thử nghiệm” (trial solution). Giải pháp thử nghiệm như vậy đòi hỏi một sự “phê phán, kiểm tra thường xuyên” và tìm cách” loại bỏ những sai lầm” (error elimination). Nhờ quá trình hoạt động nghiêm túc như vậy, mà lần hồi con người tìm ra được giải pháp tối ưu cho các vấn đề nhân sinh (optima solution).

Popper xác định : “Trong thực tế chưa hề có một mô hình mẫu mực nào cho việc “xây dựng xã hội đại quy mô” (large-scale engineering). Đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những nghệ sĩ, của loại người “không tưởng” (utopian). Mà cũng không hề có một thứ “ lý thuyết định mệnh lịch sử “ nào đã được chứng minh có giá trị chính xác tuyệt đối, như mấy nhà “tiên tri” thường rêu rao…” Lời phát biểu chắc nịch của ông được nhiều người nhắc đến, đó là : “ Thay vì đứng ra như là vị tiên tri, chúng ta phải là người tạo ra số phận cho chính mình” (Instead of posing as prophets, we must become makers of our fate).

Popper đi đến một kết luận dứt khoát là : “Chỉ có một xã hội dân chủ, cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những phê phán, chỉ trích những sai lầm và có tinh thần phục thiện để mà điều chỉnh sửa chữa những bất cập đó, thì xã hội mới có cơ được lần hồi cải thiện. Ông nêu rõ là không thể có một “mẫu thiết kế” (blueprint) có sẵn cho bất kỳ một quốc gia nào, như các nhà độc tài thường hay áp đặt bắt buộc thần dân trong nước phải răm rắp tuân theo, mà không hề được nêu lên ý kiến phê phán thế này, thế nọ. Ông còn nói rõ hơn : Vì chúng ta không có cách nào đem lại hạnh phúc tối đa cho người dân được ( maximize happiness), nên chúng ta chỉ còn có mỗi một cách là “giảm đến mức tối thiểu sự đau khổ của quần chúng” (minimize suffering). Phương thức “ Xây dựng Xã hội từng mảnh một” chính là giải pháp tối ưu mà chúng ta có thể thực hiện được, hầu giải quyết thỏa đáng cho những vấn đề mỗi ngày một thêm phức tạp khó khăn của xã hội ngày nay vậy.

Chủ trương “Piecemeal Social Engineering “ này làm chúng ta nhớ đến quan điểm của kinh tế gia E F Schumacher trong cuốn sách nổi danh “Small is Beautiful” xuất bản hồi thập niên 1970, cũng bắt đầu tại nước Anh. Người viết đã có dịp giới thiệu tư tưởng của Schumacher từ hồi đầu năm 2009 vừa qua. Rõ ràng là quan điểm của triết gia Karl Popper có nhiều điểm tương đồng với chủ trương của kinh tế gia Fritz Schumacher, dù hai người theo đuổi hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau, với phương pháp lý luận cũng khác nhau.

Ta hãy nghe thêm lời biện giải chi tiết hơn của Popper : “ Phương pháp “từng mảnh một cho phép ta thực hiện liên tiếp nhiều thực nghiệm và những điều chỉnh liên tục (repeated experiments and continuous adjustments). Điều này có nghĩa là ta đem phương pháp khoa học vào trong lãnh vực chính trị, bởi vì toàn thể bí quyết của phương pháp khoa học thì chính là sự sẵn sàng học hỏi được từ những sai lầm” (a readiness to learn from mistakes).Thí dụ cụ thể như mô hình của từng định chế như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hay tòa án hòa giải, cải cách giáo dục, cải tổ thuế khóa… thì cũng đơn giản thôi. Nếu những cái đó có sai sót, thì sự thiệt hại gây ra cũng chẳng có gì trầm trọng lắm, mà việc điều chỉnh sửa sai lại cũng sẽ chẳng quá khó khăn. Bởi lẽ những thử nghiệm “từng mảnh một” như vậy, thì không làm đảo lộn tòan thể trật tự của tất cả xã hội, như trong một thứ “cách mạng đai quy mô và triệt để” mà nhà lãnh đạo độc tài chuyên chế thường gây ra.

Có thể nói lập trường” công kích chống lại độc tài chuyên chế toàn trị” (anti-totalitarian thrust) như thế của Popper rất ăn khớp với tư tưởng của các tác giả nổi danh đương thời sau thế chiến thứ hai, điển hình như Friedrick Hayek với tác phẩm “The Road to Serfdom” (Con đường dẫn tới Nô lệ), như Ludwig von Mises với tác phẩm “ Omnipotent Government “ (Chính quyền Vạn năng). Trào lưu tư tưởng này đã ngăn cản, kềm bớt chủ trương của trường phái phát sinh từ vị đại sư John Maynard Keynes cũng của nước Anh, vốn cổ võ sự can thiệp mạnh mẽ quá trớn của chánh quyền trong việc điều hành nền kinh tế tại các quốc gia vốn đã có truyền thống dân chủ vững chắc lâu năm như ở Âu Mỹ.

Trước tình trạng sôi động, cuồng tín quá khích về tôn giáo ngày nay tại nhiều nơi trên thế giới, cũng như chủ trương hạn chế quyền tự do và tiếng nói của các cá nhân do chính quyền Tổng thống George W Bush theo đuổi gần đây ngay tại chính nước Mỹ, thì chủ trương kêu gọi “liên tục cải thiện xã hội từng mảnh một”, do Karl Popper khởi xướng từ trên 60 năm nay, càng có tác dụng thúc đảy mọi công dân trong khu vực xã hội dân sự phải tích cực năng động và sáng tạo hơn nữa, để tự cứu lấy mình và cứu vãn toàn thể xã hội đang có nguy cơ khủng hoảng suy thoái rất ư là trầm trọng hiện nay vậy./

Bài 3 – George Soros và công cuộc Xây dựng Xã hội Mở Toàn cầu

(The Global Open Society)

Năm 2010 này George Soros đã bước vào tuổi 80. Ông quả là một con người ngoại hạng, đa tài, đa năng, lại nhiều tiền lắm bạc, mà lại cũng rất ư là đa đoan năng nổ. Đã có rất nhiều sách báo viết về ông, khen ngợi ca tụng cũng có, mà chê bai chỉ trích cũng nhiều. Ngay cái chuyện làm ăn kinh doanh kiếm tiền của ông trên thị trường tài chánh và chứng khoán với món tiền kếch xù thu nhập được đến cả hàng chục ngàn triệu dollar qua mấy chục năm kinh doanh của ông, thì đã là đề tài cho báo chí và công luận khắp thế giới bàn tán từ bao nhiêu năm tháng nay rồi. Ông lại còn xông xáo tham gia vào bao nhiêu chuyện chính trị, ngoại giao này nọ, mặc dầu không hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền nước Mỹ. Ông còn hay viết báo, viết sách bàn luận về chuyện kinh tế tài chánh có tầm quan trọng toàn cầu. Cũng như ưa thích nghiên cứu đàm đạo về chuyện triết lý cao siêu nữa.

Nhưng bài viết này lại không bàn về những chuyện rất hấp dẫn đó, mà chủ tâm của người viết là muốn giới thiệu với bạn đọc các hoạt động của George Soros để nhằm xây dựng một Xã hội Mở trên phạm vi toàn cầu, theo đường hướng của vị sư phụ nổi danh Karl Popper, mà ông có dịp được thụ giáo với trong thời gian theo học tại trường Kinh tế Luân đôn hồi cuối thâp niên 1940 qua đầu thập niên 1950, lúc vào tuổi 20.

Soros khởi sự tham gia công tác thúc đảy sự phát triển “các xã hội mở” ngay từ cuối thập niên 1970. Điển hình là từ năm 1979, ông đã cấp ngân khỏan để giúp các sinh viên da đen theo học tại đại học Cape Town ở Nam Phi, vì hồi đó người dân ở nước này vẫn còn bị nạn kỳ thị chủng tộc (Apartheid) hoành hành.Tiếp theo ông lập một sáng hội (foundation) tại Hungary nhằm yểm trợ về văn hóa, giáo dục và thúc đảy tiến trình chuyển biến dân chủ cho quốc gia là quê hương bản quán của mình. Tại đây, một trong những dự án độc đáo nhất là ông đã nhập cảng vào trong nước rất nhiều máy photocopy, để giúp giới tranh đấu dân chủ phổ biến tin tức và in ấn những tài liệu bị chánh quyền cộng sản cấm đoán. Soros cũng tìm cách khôn khéo gửi khá nhiều tiền giúp phong trào Đòan kết đang hoạt động bí mật ở Balan, cũng như cho Nhóm Hiến chương 77 ở Tiệp khắc. Và đặc biệt là yểm trợ nhà bác học – đối kháng hàng đầu ở Liên Xô là Andrei Sakharov.

Năm 1982, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 80 của giáo sư Karl Popper, Soros đã đặt tên cho tổ chức từ thiện của mình là “Open Society Foundation” để vinh danh vị sư phụ quý mến của ông. Và ông bắt đầu cấp học bổng cho các sinh viên du học từ Đông Âu. Phấn khởi trước sự thành công của các dự án này, Soros thành lập thêm nhiều dự án khác nhằm giúp đỡ việc tự do phổ biến thông tin tại những quốc gia trong khối cộng sản. Ông còn yểm trợ những chương trình giáo dục qua radio tại Mông cổ. Và sau này đóng góp đến cả 100 triệu dollar để cung cấp dịch vụ internet cho các đại học cấp miền ở nước Nga.

Nói chung những hoạt động nhân đạo từ thiện của Soros thì đều kết hợp với nguyên tắc cốt lõi của sự cổ võ xây dựng cho xã hội mở. Như vậy, nên ông đã không chịu để cho các loại hoạt động này lại bị ràng buộc hay bị hạn chế bởi một chánh quyền nào, hoặc một định chế quốc tế nào. Trong thập niên 1980,Soros tài trợ cho các nhà kinh tế trẻ tuổi tại một “think tank” ở Trung quốc qua trao đổi với một đại học chuyên về môn kinh doanh tại Budapest. Soros còn giúp thiết lập quỹ trợ cấp việc cổ võ cho xã hội dân sự và tính minh bạch tại Trung quốc. Năm 1991, Soros góp phần thành lập Đại học Trung Âu tại Budapest (Central European University), chuyên dậy bậc cao học trong lãnh vực phát triển xã hội và chính trị. Tính ra ông đã dành riêng cho đại học này đến số tiền tổng cộng lên đến trên 500 triệu dollar. Ông cũng đã bỏ ra 50 triệu dollar để cứu trợ các nạn nhân trong cuộc chiến ở Bosnia. Và cũng chi ra 50 triệu dollar khác để yểm trợ dự án Millenium Villages cho các làng nghèo túng hẻo lánh ở Phi châu nữa. Thật không thể nào kê khai cho hết được những ngân khoản do G Soros cấp phát cho các dự án xã hội- văn hoá- giáo dục rải rác khắp nơi trên thế giới được, nhất là tại các quốc gia cưụ cộng sản ở Đông Âu và cả nước Nga.Tính gộp lại, trong mấy chục năm liên tục tham gia công việc từ thiện nhân đạo và xây dựng “Xã hội Mở”, George Soros đã chi ra đến 6 tỷ dollar cho các dự án khắp thế giới.

Sau này, kể từ ngày thiết lập OSI tức là Viện Xã hội Mở vào năm 1993 (Open Society Institute), thì Soros đã lần hồi hệ thống hoá các chương trình hoạt động cho có quy củ lớp lang nhịp nhàng ăn khớp với nhau. Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu chi tiết về sinh hoạt cuả tổ chức OSI này.

Viện Xã hội Mở (The Open Society Institute = OSI)

Là con người thực dụng, Soros không bao giờ chấp nhận cái lối điều hành theo kiểu hành chánh quan liêu thư lại nơi các cơ quan nhà nước, mà người Âu Mỹ gọi là “bureaucracy” (guồng máy thư lại). Vì thế ban đầu văn phòng do ông điều khiển để phụ trách công việc từ thiện nhân đạo, thì gần như rất “tuỳ hứng, không hề có sự kỷ cương gò bó” gì cả. Nhưng sau này, lúc công việc quá nhiều với sự cộng tác cuả những nhân vật kiệt xuất từ khắp các nơi trên thế giới, thì bó buộc Soros phải thay đổi cái lề lối quản lý và điều hành “tuỳ hứng, lỏng lẻo” này. Đó là vào đầu thập niên 1990, khi ông đã thiết lập được nhiều cơ sở gọi là “sáng hội tại từng quốc gia” (national foundation) với nhân viên phụ trách điều hành hoàn toàn là người điạ phương với thẩm quyền và sáng kiến riêng cuả họ, kể cả với danh xưng khác với tổ chức “Open Society” cuả ông, thì tại cơ quan trung ương đầu não cuả OSI đặt tại New York đã bắt đầu phát triển thành một bộ phận “ phối hợp các hoạt động cuả các national foundation” này. Hoạt động của OSI mỗi ngày một mở rộng, mà hiện nay đã gồm các “đối tác” (partner) ở trên 30 quốc gia, phần lớn là trong các nước Đông Âu và các nước tách ra từ Liên Xô kể từ đầu thập niên 1990, khi hệ thống cộng sản sụp đổ tan rã.

Hoạt động của OSI rất là đa dạng, phong phú vì được phát xuất từ sáng kiến rất cụ thể và độc đáo của bao nhiêu nhân vật xuất chúng của các quốc gia sở tại, mà lại rất ư là khác biệt nhau về truyền thống văn hóa lịch sử, cũng như tôn giáo. Tất cả chỉ có chung một mẫu số, đó là : Cùng nhắm vào công cuộc xây dựng và phát triển “Xã hội mở” dựa trên cơ sở dân chủ, khai phóng và nhân bản theo tinh thần tiến bộ, bất bạo động đã được giáo sư Karl Popper khai mở cổ võ mạnh mẽ từ 70 năm trước như được ghi trong tác phẩm “The Open Society and its enemies”, cuốn sách này vừa mới được giới thiệu trong bài 2 trước bài viết này. Vì thế, ta có thể nói : George Soros là một nhân vật tiên phong của phong trào kiến tạo “một Xã hội Mở trên quy mô toàn cầu” (the pioneer of the Global Open Society). Hay nói khác đi, Soros là tiêu biểu của một thứ “kiến trúc sư của Xã hội Dân sự Toàn cầu” (an architect of the Global Civil Society), mà đang nỗ lực cổ võ phát động cho “Phong trào Xã hội mới” của thế kỷ XXI hiện nay vậy (The New Social Movement).

Quý bạn đọc có thể mở website của “Open Society Institute”, thì sẽ tìm được vô vàn thông tin chi tiết và cập nhật hóa thường ngày về sinh hoạt của cả một hệ thống các foundation tại tất cả các quốc gia liên hệ. Điển hình như vừa đây, sau trận động đất kinh hoàng ở Haiti vào đầu năm 2010 này, thì OSI đã khẩn cấp chi ra ngay 4 triệu US dollar, phân phối cho 4 tổ chức nhân đạo như Medecins Sans Frontieres, Save The Children, Catholic Relief Services, CARE đẻ tham gia cứu trợ giúp đỡ các nạn nhân. Và trước đây Soros cũng đã chi ra 50 triệu để giúp riêng cho dân chúng tại thành phố thủ đô Port-au Prince của Haiti nữa.

Người viết bài này đã có dịp đến viếng thăm trụ sở cuả OSI tại trung tâm khu Manhattan ở New York vào muà hè năm 2008. Nhờ sự giới thiệu cuả chị luật sư Dinah Pokempner thuộc tổ chức Human Rights Watch, nên tôi đã được hai chuyên viên cuả OSI phụ trách về Đông Âu và Nga tiếp đón rất thân tình chu đáo. Đó là vì tôi cần tham khảo kinh nghiệm thực tiễn cuả OSI hoạt động tại Đông Âu, để bổ túc cho sự nghiên cứu cuả tôi về “Sự phục hồi Xã hội Dân sự tại Đông Âu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989”. Tôi cần kinh nghiệm chuyên môn cuả OSI (technical expertise), chứ không phải đến trụ sở này để xin ngân khoản trợ cấp cuả họ (grant) cho việc nghiên cưú dài ngày này nói trên. Và họ tỏ ra thật hoan hỉ, phấn khởi khi nghe tôi trình bày rằng : Người Việt nam cũng như người Trung hoa, người Triều tiên chúng tôi ở Á châu hiện còn đang phải sống dưới ách độc tài chuyên chế cộng sản, thì rất mong rút được bài học hưũ ich cuả các quốc gia cựu cộng sản như ở Nga và Đông Âu, để còn chuẩn bị cho giai đoản “hậu cộng sản” (post-communist) sắp tới trong tương lai không bao xa cho đất nước chúng tôi nưã đấy.

Niềm say mê khác nữa của George Soros.

Như đã trình bày trước đây, Soros là người đa tài, đa dạng đa đoan, nên ông tham gia vào nhiều loại công việc trong những lãnh vực rất khác biệt nhau. Là người có trí thông minh vượt trội, lại trải qua nhiều nỗi truân chuyên của gia đình gốc Do thái dưới thời tàn bạo của phát xit Đức quốc xã, và sau này của chế độ cộng sản, nên Soros có được cái tầm nhìn và suy nghĩ toàn cầu (global vision /thinking). Nhưng Soros lại có cả tham vọng về thứ “ hoạt động tòan cầu “ (global action) nữa, chứ không như người ta thường tình chỉ có thể hành động hạn chế tại địa phương nhỏ bé “trong tầm tay” của mỗi cá nhân mà thôi (Act locally). Cái chí lớn “muốn xẻ núi lấp song” như thế đã thôi thúc ông lăn xả vào trong nhiều loại hoạt động, mà vì nhờ có phương tiện tài chánh dồi dào Soros dễ tạo được môi trường, để cùng chung với các bạn hữu thân thiết đưa ra thực hiện các sáng kiến độc đáo và mạnh dạn của mình. Có lần ông tâm sự với bạn : “Tôi không hề muốn thiên hạ chỉ coi tôi như là một nhà tỷ phú nhiều tiền lắm bạc, mà rộng tay ban phát ân huệ cho người này người khác như là một vị ân nhân theo cái ‘lối cha chú” (paternalism). Vì thế, tôi miệt mài tìm kiếm học hỏi thêm về triết học, về kinh tế tài chánh, về xã hội học v.v…” Chính cái tinh thần “cầu tiến” này đã khiến cho Soros thâu lượm được một số vốn kiến thức rất vững chắc, để theo kịp được với nhịp độ văn minh tiến bộ của thời đại.

Các ký giả quen biết theo dõi đường đi nước bước của Soros trong nhiều năm, thì đều nhận ra cái sự biến chuyển trong nhận thức mỗi ngày một thêm phong phú, sung mãn và vững chãi hơn. Trước đây, giới chính trị ngoại giao cấp cao các nước văn minh thường đánh giá thấp mấy nhà tài phiệt, mà họ coi như là loại “trọc phú” với trình độ văn hóa thấp kém. Nhưng từ ngày Soros được gán cho cái danh hiệu “ con người đã bẻ gãy Ngân hàng Anh quốc” vào ngày Thứ tư Đen 16 September 1992, thì người ta không thể xem thường con người này được nữa. Do vậy mà lần hồi Soros đã có thể tiếp cận được với các nhân vật quan trọng cuả thế giới trong mọi lãnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo để trao đổi kinh nghiệm và bàn thảo về đường lối hoạt động có tầm vóc toàn cầu. Cứ như vậy, cái vòng quen biết thân tình cuả George Soros mỗi ngày càng mở rộng, bành trướng mãi ra, và tầm vóc hoạt động mỗi ngày một phát triển rất ư là hiệu quả và bao quát.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi ra đây một số sách có tính cách tiêu biểu do chính Soros biên soạn và phổ biến cho công chúng trong thời gian gần đây :

*The Crisis of Global Capitalism : Open Society Endangered (1998)

*Open Society : Reforming Global Capitalism (2000)

*The Buble of American Supremacy : Correcting the Misuse of American Power (2003)

*The Age of Fallibility : Consequences of the War on Terror (2006)

*The New Paradigm for Financial Markets : The Credit Crisis of 2008 and What It Means (2008).

Ngoài ra Soros còn thường xuyên viết rất nhiều bài báo phổ biến trên diễn đàn các tờ báo lớn ở Mỹ và cả ở Âu châu nưã. Điển hình như 2 bài báo này :

*Europe as a Prototype for a Global Open Society (Nov. 20, 2006),

*Op-Ed : A New Bargain for UN Reform (May 4, 2006).

George Soros còn nhận được nhiều cấp bằng danh dự từ các đại học danh tiếng trên thế giới, cụ thể như Oxford, Yale, Budapest University. Đặc biệt vào năm 1995, đại học Bologna ở Ý Đại Lợi đã cấp cho Soros bằng danh dự cao nhất “the Laurea Honoris Causa” vinh danh những nỗ lục cuả G Soros nhằm cổ võ các “Xã hội Mở” trên toàn thế giới.

Về cuộc sống gia đình riêng tư, thì báo chí ghi nhận : Soros có hai đời vợ và có tất cả 5 người con nay đều đã trưởng thành. Cả hai bà vợ đều đã ly dị, và hiện nay không còn người đàn bà nào mà còn sống chung với ông nưã./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Mục sư Rick Warren và sự Nhập cuộc của tín đồ tôn giáo.

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Tại nước Mỹ kể từ sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, thì có nhiều vị mục sư nổi danh với ảnh hưởng rất lớn lôi cuốn được số đông quần chúng khắp nước Mỹ và cả ở ngoại quốc nữa. Trong số này, phải kể đến mục sư Billy Graham, mục sư Martin Luther King và mục sư Rick Warren.

Billy Graham sinh năm 1918 là một vị giảng thuyết lôi cuốn đến hàng trăm triệu người khắp nước Mỹ và cả trên thế giới. Luther King là vị lãnh đạo kiệt xuất của phong trào tranh đấu dân quyền  (civil rights movement) của người Mỹ gốc Phi châu trong các thập niên 1950-60. Rick Warren là một tác giả cuốn sách “The Purpose Driven Life” (Cuộc sống có mục đích) bán chạy nhất, đến trên 30 triệu cuốn trong vòng có 6-7 năm.

Trong bài này, tôi xin viết về mục sư Rick Warren là người trẻ tuổi nhất, sinh năm 1954 tại San Jose và là người sáng lập nhà thờ Saddleback Valley Community Church tọa lạc tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam, miền Nam California liền sát với khu Little Saigon của người Việt chúng ta. Trong bài sau, tôi sẽ viết riêng về mục sư Billy Graham. Còn về mục sư Luther King, thì đã có quá nhiều người biết đến rồi, nên tôi thiết nghĩ khỏi cần viết gì thêm về ông nữa.

1 / Tóm lược tiểu sử của Rick Warren.

Rick Warren là con của một vị mục sư và chính bản thân ông cũng đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Cứu thế theo truyền thống của phái Tin Lành Southern Baptist. Ông tốt nghiệp bậc cử nhân tại California Baptist University ở Riverside, bậc cao học về Thần học tại Southwestern Baptist Theological Seminary ở Fort Worth, Texas và bậc tiến sĩ về mục vụ tại Fuller Theological Seminary ở Pasadena, California.

Ông thừa nhận mục sư Billy Graham, giáo sư Peter Drucker và mục sư Jimmy Warren người cha của ông là những vị trong số những cố vấn đáng tin cậy nhất của mình (mentor).

Năm 1975, sau khi được truyền chức mục sư, Rick Warren làm lễ thành hôn với Kay Lewis sinh trưởng ở San Diego trong một gia đình có người cha cũng là một vị mục sư. Hai ông bà có 3 người con hiện đều đã trưởng thành và 4 cháu nội ngoại. Cả hai người cùng hợp tác trong việc truyền đạo và phát triển cộng đoàn tín hữu từ con số vài trăm người lúc mới thành lập tại Saddeback trong thành phố Lake Forest vào năm 1980 lên đến con số trên 20,000 tín hữu vào năm 2005. Với số tín đồ thường xuyên tham dự thánh lễ và các sinh họat rất đa dạng hàng tuần đông đảo như vậy, Saddleback Valley Community Church đã trở thành một “Megachurch” đứng hàng thứ 8 trong số trên 1,200 “đại giáo đoàn” của toàn nước Mỹ hiện nay. Megachurch là một hiện tượng tiêu biểu cho phong trào phát triển tôn giáo rất mạnh mẽ, lôi cuốn được hàng triệu tín đồ của các giáo hội Tin lành trong vòng 50 năm qua tại nước Mỹ và cả tại Đại Hàn.

Song song với việc phát triển cơ sở mục vụ này, Rick còn đóng góp rất tích cực vào việc đào tạo, hướng dẫn cho trên 400,000 mục sư và giới chức lãnh đạo hội thánh trên toàn thế giới, dựa theo tinh thần đã được phác họa trong cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được bán rất chạy, với nhan đề là “The Purpose Driven Church”.

Rick Warren lại còn nổi danh hơn nữa với cuốn sách được xếp vào loại bán chạy nhất (bestseller), mà hiện đã lên đến 30 triệu cuốn, đó là cuốn sách có nhan đề “The Purpose Driven Life”. Người viết sẽ giới thiệu chi tiết hơn về hai cuốn sách này trong một dịp khác.

Với số lợi tức thu nhập thật lớn lao do việc bán sách, vào năm 2005 Rick Warren đã hoàn lại cho nhà thờ toàn bộ số lương bổng  ông nhận được trong 25 năm với cương vị một mục sư. Và còn hơn thế nữa, ông tiếp tục đóng góp cho nhà thờ 90% số lợi tức thâu nhập của mình, thay vì số 10% mà người tín đồ thường đóng góp vào công quỹ của hội thánh, được gọi là “tithe” (thập phân).Và ông bà tiếp tục sống thanh đạm trong căn nhà nhỏ bé, với cái xe cũ kỹ, chứ không hề có một biểu hiện xa hoa nào của một gia đình triệu phú thường tình.

Nhưng điều đáng ghi nhận hơn cả về vị mục sư danh tiếng này, chính là việc ông đã tổ chức cho các tín đồ và các bạn hữu thân tín của mình tham gia dấn thân nhập cuộc với các dự án hết sức lớn lao về xã hội, y tế, giáo dục và phát triển có tầm vóc toàn cầu. Ta sẽ xem xét công việc này trong các mục tiếp theo đây.

2 / Sự gắn bó với Phi châu : Khởi sự ở Rwanda.

Sau mấy năm chuẩn bị, Rick Warren đã bắt đầu một loạt chương trình hành động của “đại giáo đoàn Saddenback” được mệnh danh là PEACE plan tại nước Rwanda là nơi có cuộc diệt chủng kinh hoàng vào năm 1994, tàn sát đến gấn một triệu sinh mạng trong một quốc gia với dân số chỉ có 9 triệu người. Chữ PEACE này ngoài ý nghĩa là Hòa bình, lại chính là chữ viết tắt của khẩu hiệu gồm 5 mục : Promote Reconciliation, Equip servant-leaders, Assist the poor, Care for the sick, Educate the next generation (Phát triển công cuộc Hòa giải, Trang bị cho người lãnh đạo-phục vụ, Giúp đỡ người nghèo khó, Chăm sóc người bệnh tật, Giáo dục thế hệ tương lai).

Vào năm 2005, tức là 11 năm sau vụ diệt chủng, Rwanda vẫn còn là một quốc gia vào loại nghèo nhất trên thế giới với 90% dân chúng có thu nhập chưa tới 2 dollars mỗi ngày. Ngay từ lúc đặt chân tới đây, Warren liền phát động ngay một chương trình hành động cấp thời gồm nhiều phương diện y tế, xã hội, giáo dục và nhất là cả kinh tế. Ông dẫn các giám đốc xí nghiệp, các doanh gia từ trong số các thành viên của cộng đoàn Saddenback đến tiếp súc và làm việc với giới doanh nghiệp và nhân viên chánh phủ Rwanda để tìm cách xây dựng nền kinh tế của xứ sở này. Họ chú trọng vào công việc đào tạo huấn luyện cho các nhà doanh nghiệp nhỏ tại các làng quê hẻo lánh, cho đến cả việc yểm trợ các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở rất lớn lên đến nhiều triệu dollar. Điển hình như  dự án xây dựng đường sắt dài 720 miles nối liền Rwanda với Tanzania và Burundi, chi phí lên đến 2.5 tỷ mỹ kim vừa do 3 nước đó ký kết vào tháng Tư năm 2009.

Rick Warren rõ ràng là có tầm nhìn xa và có uy tín để kết hợp được cả giới lãnh đạo chánh quyền, giới doanh nghiệp tư nhân, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo ở hạ tầng cơ sở tại những xóm làng hẻo lành, để cùng nhau thực hiện được rất nhiều dự án cụ thể về y tế đại chúng, từ việc lo chăm sóc cho hàng vạn người mắc bệnh HIV/AIDS, cho bao nhiêu trẻ mồ côi cha mẹ đã chết vì căn bệnh hiểm nghèo này, cho đến việc cấp vốn cho các gia đình nghèo túng để giúp họ phương tiện tự lực mưu sinh, để khỏi phải lệ thuộc mãi vào sự bố thí của người khác.

Phái đòan do Rick Warren hướng dẫn đã được chính Tổng thống Rwanda là Paul Kagame và tòan thể chánh phủ tín nhiệm và hợp tác rất chặt chẽ; nhờ vậy mà sau mấy năm làm việc chung với nhau, thì quốc gia này đã gặt hái được những thành quả rất đáng khích lệ về nhiều mặt kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, ngọai giao.

3 / Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một nguồn tiềm năng vô biên.

Trong nhiều dịp được mời tham gia các diễn đàn quốc tế như ở New York, Washington DC, ở Davos Thụy sĩ v.v…, Rick Warren đã luôn luôn trình bày rất thẳng thắn đại để như thế này :  “Trên thế giới ngày nay, chúng ta có đến trên 2 tỷ người tín đồ Thiên chúa giáo gồm Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, trên 1.5 tỷ người tín đồ Ấn độ giáo và Phật giáo và trên 1 tỷ người tín đồ Hồi giáo. Khối quần chúng tín đồ lớn lao như thế đó là một nguồn tài nguyên vô biên, mà cho đến nay chưa được mấy ai trong các tổ chức quốc tế chú trọng đúng mức để động viên thuyết phục họ cùng bắt tay dấn thân vào việc giải quyết những khó khăn bế tắc trầm trọng có tầm vóc tòan cầu. Riêng cá nhân tôi là một mục sư Thiên chúa giáo, thì với khả năng hạn hẹp của mình, tôi đã cùng với các tín đồ của nhà thờ Saddenback phát động kế hoạch PEACE để góp phần vào công cuộc phục vụ bà con đang gặp khó khăn ở nhiều nơi, cụ thể như ở Rwanda. Và tôi cũng ước mong quý vị tất cả nên chú ý đến cái khối tiềm năng vĩ đại này, hầu đề ra được những giải pháp tốt đẹp cho thế giới chúng ta đang gặp bao nhiêu bế tắc khủng hỏang ngày nay…”

Dịp khác, ông còn gợi ra hình ảnh tôn giáo là cái chân thứ ba để cùng hợp với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân để tạo được thế đứng vững chắc cho tòan bộ chiếc ghế của thế giới ngày nay. Với uy tín sẵn có, Warren có dịp thường xuyên trao đổi và hợp tác với các nhân vật có tầm vóc họat động rộng rãi tòan cầu, điển hình như cựu Tổng thống Bill Clinton, cựu Thủ tướng Tony Blair …

Trong mùa tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, Warren đã mời được cả hai ứng cử viên John McCain và Barak Obama cùng đến Saddenback để trình bày với cử tri về lập trường của mỗi người trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Và mục sư Warren lại còn được mời đọc lời kinh cầu nguyện trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama tại thủ đô Washington vào đầu năm 2009.

Tạp chí US News and World Report xếp hạng Rick Warren là một trong “25 vị lãnh đạo hàng đầu của nước Mỹ” vào năm 2005. Tạp chí Time thì gọi ông là một trong “15 nhà lãnh đạo thế giới đáng kể nhất trong năm 2004” và cũng là một trong “100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới” vào năm 2005. Còn báo Newsweek trong năm 2006, thì gọi ông là một trong “15 nhân vật đã làm cho nước Mỹ trở thành vĩ đại”.

Tuy được tung hô khen tặng như vậy, Warren vẫn luôn giữ được sự khiêm cung đạo hạnh của một tu sĩ. Ông thường xuyên cầu nguyện và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào sự dẫn dắt của Thiên chúa trên bước đường phục vụ tha nhân. Niềm xác tín và lòng nhiệt thành của ông đối với sứ mệnh rao giảng lời Chúa như vậy đã lôi cuốn, thuyết phục được hàng triệu tín đồ cũng như các mục sư khác cùng nhau dấn thân nhập cuộc vào những chương trình cụ thể, thiết thực nhằm chống lại nạn nghèo đói và bệnh tật, mở mang về giáo dục cho lớp người bị gạt ra ngòai lề xã hội và bảo vệ môi sinh trên phạm vi tòan cầu.

Tư tưởng cũng như hành động của mục sư Rick Warren quả thật là rất gần gũi với lập trường của Hội đồng Giám mục Công giáo Châu Mỹ La tinh (CELAM) đã được xác định từ lâu, đó là “Sự Chọn lựa của Giáo hội đối với Người Nghèo khổ” ( Church’s Option for the Poor) vậy./

California đầu tháng Mười 2010

Đòan Thanh Liêm

Cuộc chiến chống tham nhũng ở VN ‘phá sản hoàn toàn’

Cuộc chiến chống tham nhũng ở VN ‘phá sản hoàn toàn’

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên

VOA Tiếng Việt

14.05.2015

Một nhà báo từng nắm giữ chức vụ quan trọng đã nhận định như vậy với VOA Việt Ngữ, sau khi cựu tổng biên tập báo Người cao tuổi bị khởi tố về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 Bộ luật hình sự.

Báo chí trong nước đưa tin, ông Hoa bị cơ quan điều tra cáo buộc “đã có hành vi viết, duyệt cho đăng trên báo Người cao tuổi một số bài báo có nội dung sai sự thật, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của một số tổ chức, công dân”.

Người ta không tin vào chuyện đảng cộng sản đứng ra phát động chống tham nhũng, chống lại các cán bộ, đảng viên của mình, bởi vì phần lớn, chính do mấy ông nhận xét, đều tham nhũng hết.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, nguyên thư ký tòa soạn báo Thanh Niên, cho VOA Việt Ngữ biết rằng dư luận đang “xôn xao về chuyện này”.

“Dư luận phản ứng rất mạnh về việc khởi tố ông bởi vì ông Kim Quốc Hoa là một trong những tổng biên tập đã dũng cảm chiến đấu chống lại tệ nạn tham nhũng, do đích thân ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư phát động. Ông Hoa là người hưởng ứng chuyện này nhưng giờ lại bị cách chức và khởi tố. Đây là  một đòn giáng vào chuyện chống tham nhũng mà chính đảng phát động. Ông Kim Quốc Hoa khi đăng một loạt những bài báo các quan chức về hưu, các quan chức đầu tỉnh mà có tài sản lớn, thì đã được sự đồng tình của dư luận. Nhưng mà bây giờ ông bị khởi tố, thì xem như chuyện chống tham nhũng phá sản hoàn toàn. Người ta không tin vào chuyện đảng cộng sản đứng ra phát động chống tham nhũng, chống lại các cán bộ, đảng viên của mình, bởi vì phần lớn, chính do mấy ông nhận xét, đều tham nhũng hết. Dư luận bên ngoài đang xôn xao về chuyện này”.

Trước khi quyết định khởi tố được đưa ra ngay tại nhà riêng của ông Hoa hôm 12/5, hồi tháng Hai, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức cuộc họp báo sau khi kết thúc thanh tra đột xuất báo Người Cao Tuổi.

Bộ này sau đó ra thông báo việc đề nghị cách chức Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa và chuyển hồ sơ sang sang Bộ Công an điều tra, xử lý đối với “11 bài viết có dấu hiệu tội phạm.”

Truyền thông trong nước đưa tin, một trong các bài báo này có tựa đề “Chống tham nhũng: khi trao “vũ khí” cho bọn biến chất” bị cáo buộc đã “cắt xén câu nói của Tổng bí thư [Nguyễn Phú Trọng], dẫn đến sai sự thật, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của Ðảng và cá nhân Tổng bí thư, gây tâm lý hoang mang, suy giảm niềm tin trong cán bộ, đảng viên”.

Sau kết luật của Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Người cao tuổi đã cho đăng một bài viết “phản pháo” về “nhiều sai phạm nghiêm trọng của đoàn thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông”.

Về việc sử dụng điều 258 từng áp dụng cho nhiều nhà bất đồng chính kiến đối với ông Hoa, blogger Huỳnh Ngọc Chênh nhận định đây là điều “rất lạ”.

Cựu nhà báo này nói:

“Cái điều 258 là cái điều anh em chúng tôi cực lực phản đối. Những người tiến bộ trong nước, anh em trí thức và các lực lượng của các phong trào cực lực phản đối, và đã có nhiều kiến nghị để đòi xóa bỏ điều 258 này. Cái này nó ảnh hưởng tới hoạt động dân chủ của người dân, những quyền tự do dân chủ mà hiến pháp đã ghi như tự do làm báo, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do tất cả, nhưng mà lại đưa ra điều 258, điều nói là lợi dụng quyền tự do thì không hiểu là lợi dụng cái chỗ nào để mà làm hại nhà nước. Đó là cái điều rất mơ hồ, và có thể bắt được bất kỳ ai, nhất là lực lượng trên báo lề dân, tức là báo “lề trái”. Còn với báo “lề đảng”, báo chí nhà nước, thì đây hình như là ông tổng biên tập đầu tiên bị khởi tố theo điều này. Đây là chuyện rất lạ và người ta không hiểu vì sao lại như vậy”.

Trong khi đó, hôm qua, Ủy ban Bảo vệ Ký giả quốc tế lên tiếng nói rằng các cáo buộc nhắm vào ông Hoa “đánh dấu xu hướng sử dụng luật lệ để chà đạp các nhà báo điều tra vấn đề tham nhũng nhạy cảm ở Việt Nam”.

Tổ chức này cũng kêu gọi Hà Nội “hủy bỏ các cáo cáo buộc sai trái và cho phép truyền thông đóng vai trò kiểm tra mà không lo sợ bị trả thù”.

Trong những năm gần đây, Người Cao Tuổi đã đăng những bài viết nêu ra tình trạng tham ô trong chính quyền. Một số bài báo cáo buộc các cựu quan chức cấp cao có dính líu trong những vụ bê bối tham nhũng.

Kết quả chung cho nhà báo chống tham nhũng

Kết quả chung cho nhà báo chống tham nhũng

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-05-14

05142015-the-common-anti-corrp-journa.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Báo Công An đưa tin khởi tố ông Kim Quốc Hoa nguyên tổng biên tập (TBT) báo Người Cao Tuổi

Báo Công An đưa tin khởi tố ông Kim Quốc Hoa nguyên tổng biên tập (TBT) báo Người Cao Tuổi

Sáng ngày 12 tháng 5 Cơ quan An ninh điều tra  thuộc Bộ Công an đã tống đạt Quyết định khởi tố bị can với ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập báo Người cao tuổi để điều tra theo điều 258 Bộ luật Hình sự. Dư luận từ bấy lâu vẫn xem ông Kim Quốc Hoa bị tước quyền TBT tờ báo vì đã dũng cảm tố cáo tham nhũng trong tất cả các ban ngành của Việt Nam, kể cả công an qua bài phóng sự “Bàn về thị trường sao và vạch”. Mặc Lâm phỏng vấn nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Trần Quang Thành. Thưa ông chúng tôi được biết ông từng làm việc và chia sẻ rất nhiểu kinh nghiệm chống tham nhũng với nhà báo Kim Quốc Hoa, ông nghĩ sao khi nghe tin ông Hoa bị quy kết vào điều 258?

Nhà báo Trần Quang Thành: Tôi khẳng định rằng anh Kim Quốc Hoa là người rất cương trực đấu tranh chống tham nhũng. Tôi và anh đã làm việc với nhau rất nhiều năm cho nên chúng tôi biết rất rõ nhau. Tôi biết anh là người cương trực thẳng thắn. Từ ngày anh còn là TBT ở các tờ báo khác cho tới tờ cuối cùng là Người Cao tuổi lúc nào anh ấy cũng cổ vũ những bài vở chống tham nhũng. Chính hồi đó anh cũng cổ vũ tôi rất nhiều khi nêu vụ của tôi trên báo Xây dựng lúc đó. Rất nhiều lần anh đấu tranh phanh phui vụ việc bao che tham nhũng để hại tôi và các đường giây công an nhưng cuối cùng cũng thất bại.

Mặc Lâm: Ông vừa cho biết là ông Kim Quốc Hoa đã liên tục bênh vực ông trong các ông vụ chống tham nhũng, ông có thể cho biết thêm chi tiết những vụ này như thế nào không?

Nhà báo Trần Quang Thành: Khởi đầu vụ chống tham nhũng của tôi tại ngay cơ quan phát thanh truyền hình là nó tham nhũng tiền lấy của dân để mua các thiết bị làm truyền hình. Khi phát hiện ra vụ này công an họ đã bao che cho nên tuy kết luận vụ việc là nghiêm trọng nhưng họ bao che họ không xét xử.

Vụ thứ hai là vụ các quan chức đã lợi dụng đường hàng không và bưu điện để buôn thuốc là lậu. Một số thương nhân buôn thuốc là lậu trong đó có cả công an. Khi tôi phát hiện ra đường giây này tôi có viết một bài đăng trên đài Tiếng nói Việt Nam nói về đường giây buôn bán thuốc lá qua biên giới qua đường hàng không, bưu điện. Khi bài báo này phát lên thì công an họ đến họ xin tài liệu. Lúc đầu tôi không cho vì tôi rất không tin họ. Sau đó có ý kiến của những người lãnh đạo cấp cao thì tôi dã phải đưa tài liệu cho họ. Chỉ mấy ngày thì họ phá được vụ án trong đó dính líu đến các nhân vật trong ngành công an.

” Nguyễn Đức Nhanh lúc đó là Đại tá Trưởng phòng CSĐT của CA Hà nội và Vũ Đình Hoành là phó giám đốc CA Hà nội thì chính là những người liên quan vụ án này, liên quan tới đường giây này cho nên bao che cho nhau, cho đối tượng này biết tôi là người phát hiện cho nên nó đã dùng acit nó hại tôi

Nhà báo Trần Quang Thành”

Khi phát hiện vụ án này thì tôi biết là đã nguy hiểm rồi. Tôi bị đe dọa sẽ bị hãm hại. Tên đầu sỏ vụ án lại được chính công an bao che cho nó trốn thoát. Nguyễn Đức Nhanh lúc đó là Đại tá Trưởng phòng cảnh sát điều tra của Công an Hà nội và Vũ Đình Hoành là phó giám đốc công an Hà nội thì chính là những người liên quan vụ án này, liên quan tới đường giây này cho nên bao che cho nhau, cho đối tượng này biết tôi là người phát hiện cho nên nó đã dùng acit nó hại tôi.

Nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng

Nhà báo Trần Quang Thành là người từng làm việc chung với ông Kim Quốc Hoa và cũng là nhà báo vì chống tham nhũng đã bị tạt acit đến mang thương tật trầm trọng

Sau đó chính nó lại bao che cho tội phạm. Nó không điều tra gì cả nhưng nó lại nói là điều tra. Trong gần một năm nằm điều trị khi ra viện tôi hỏi Giám đốc công an Hà nội lúc đó là Phạm Chuyên và ông Nguyễn Văn Tình đều xác nhận với tôi vào ngày múng 4 tháng 7 năm 1991là không có báo cáo nào về vụ án nhà báo Trần Quang Thành bị tạt acit cả. Tôi hỏi ông Phạm Kim Long lúc đó là Thứ trưởng bộ công an, là Bộ nội vụ cũ, thì ông cũng nói là ông không biết gì cả trong khi đó họ báo với tôi chính ông Long là người chỉ đạo trực tiếp với Bộ công an làm cái vụ này.

” Tôi nghĩ rằng các vụ án về tham nhũng, buôn lậu nó dính tới ngành công an rất nhiều, rất nghiêm trọng. Nó bao che cho nhau cho nên nó làm đủ mọi cái ám hại các nhà báo

Nhà báo Trần Quang Thành”

Tôi nghĩ rằng các vụ án về tham nhũng, buôn lậu nó dính tới ngành công an rất nhiều, rất nghiêm trọng. Nó bao che cho nhau cho nên nó làm đủ mọi cái ám hại các nhà báo. Đối với tôi, tôi nghĩ rằng làm nhà báo mà chống tham nhũng thì không bị đi tù như vụ PMU 18 thì cũng bị ám hại như tôi là bị tạt acit. Chống tham nhũng trong xã hội Việt Nam rất khó và rất nguy hiểm vì ngành công an là nơi bao che cho tội phạm rất nhiều. Trong nhiều vụ án thì chính công an đứng sau lưng cho nên rất khó mà an toàn cho các nhà báo.

Mặc Lâm: Ông vừa cho rằng công an Hà Nội đã trực tiếp dính vào việc của ông, còn những vụ khác thì sao ạ? Là nhà báo theo dõi và viết phóng sự điều tra nhiều vụ tham nhũng ông có kinh nghiệm gì về việc này?

Nhà báo Trần Quang Thành: Bây giờ ờ trong các ngành kinh tế công an là một siêu bộ. Mỗi một bộ đều có một Cục để mà theo dõi cho nên bây giờ số cổ phần cổ phiếu trong các doanh nghiệp trong các tập đoàn họ không phải là không có. Ông to có cổ phiếu lớn còn ông nhỏ có cổ phiều nhỏ cho nên nó giây mơ rễ má quyền lợi kinh tế nó dính liền rất nhiều với nhau.

Tôi lấy vì dụ như vụ của tôi khi phát hiện vụ tham nhũng của đài phát thanh truyền hình, Bộ công an bắt anh giám đốc công ty vật tư của đài phát thanh truyển hình Vĩnh Long đã đinh di lý anh ta vể Sài Gòn thì chính công an tỉnh Vĩnh Long lại làm đơn ra Hà Nội xin hoãn án cho anh ta vì anh ta dính vào một vụ trọng án khác giúp cho công an điều tra vụ Khmer thế là anh ta được tại ngoại và cuối cùng số tiền trong vụ án ấy là 20 ngàn đô la biến đi đâu cũng không ai biết còn anh ta trắng án không ai xử cả.

” Cho nên tôi nghĩ rằng những người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ được bảo vệ cả tại vì tất cả cơ quan từ cao nhất trở xuống họ đều bao che cho tham nhũng thì làm sao bảo vệ được?

Nhà báo Trần Quang Thành”

Mặc Lâm: Chúng tôi cũng được biết có hai vụ tham nhũng một vụ là nhà báo Hoàng Linh phanh phui tham nhũng của Tổng cục Hải quan và vụ kia là ông Nguyễn Tăng Thắng ở UBND tỉnh Bình Thuận. Ông có chi tiết gì về hai vụ này không thưa ông?

Nhà báo Trần Quang Thành: Ông Hoàng Linh là Tổng biên tập của báo Diễn đàn Doanh nghiệp, phát hiện ra vụ đường giây mua bán tàu cao tốc tuần tra trên biển là một vụ buôn lậu. Tàu này nó mua của Ba Lan, do Tổng cục Hải quan đi mua nhưng mà họ đã ăn chênh lệch giá rất nhiều tới mấy chục ngàn đô la. Khi bài báo đăng lên thì áp lực của Hải quan là bắt phải hạ bài xuống vì lộ bí mật quốc gia. Ông không chịu hạ và tiếp tục tố giác. Cuối cùng vụ án khui ra đúng sự thật, có sự tham nhũng ăn trên chênh lệch giá của bên hải quan để tham nhũng. Ông Hoàng Linh bị Bộ công an khởi tố về tội làm lộ bí mật quốc gia. Khi ra tòa người ta giam ông ấy bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày thì họ xét xử và kết án đúng số ngày ông ấy đã bị giam giữ. Nó lợi dụng chức quyền đến như vậy.

Còn ông Nguyễn Tăng Thắng ở tỉnh Bình Thuận là người có công lớn vì đã phát hiện ra các lãnh đạo của tỉnh Bình Thuận đã chiếm rừng Tánh Linh, chia sẻ cho nhau để phá rừng đầu nguồn. Cuối cùng ông bị khai trừ khỏi đảng. Ông kiên quyết bán hết nhà cửa để mua máy quay phim máy chụp ảnh để ông làm tài liệu và cuối cùng thì ông đã thắng. Bí thư, Chủ tịch bị kỷ luật có người đã đi tù, lúc đó ông Nguyễn Tăng Thắng người ta đề nghị phải được anh hùng, thế nhưng có được đâu? bây giờ ông sống và trốn chui trốn nhủi ở đâu không ai biết. Sau vụ đó ông mất tích luôn bây giờ không ai biết ông ở đâu cả.

Cho nên tôi nghĩ rằng những người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ được bảo vệ cả tại vì tất cả cơ quan từ cao nhất trở xuống họ đều bao che cho tham nhũng thì làm sao bảo vệ được?

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Trần Quang Thành.

Cuộn chỉ thời gian (Tạp ghi Huy Phương)

Cuộn chỉ thời gian (Tạp ghi Huy Phương)

Tạp ghi Huy Phương

“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,

Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”

(Kahlil Gibran)

Chuyện gì nhắc chúng ta biết rằng một ngày đã qua: Tiếng đồng hồ báo thức mỗi buổi sáng hay khi chúng ta mở vòi nước để làm vệ sinh khi ra khỏi giường? Chuyện gì nhắc chúng ta một tuần lễ đã qua: Sáng Thứ Bảy này dậy trễ hay có hẹn đưa gia đình đi chơi cuối tuần?

Chuyện gì nhắc chúng ta hai tuần đã qua: Ðến kỳ lãnh check lương hay ngày rằm hay mồng một ăn chay? Chuyện gì nhắc chúng ta một tháng đã qua: Trả các thứ bill nhà, bill điện, bill nước? Chuyện gì nhắc chúng ta sáu tháng đã qua: Vặn đồng hồ lui hay tới một giờ? Chuyện gì nhắc một năm đã trôi qua: Phải chăng là những khúc ca Giáng Sinh rộn ràng và các thương xá giăng đèn kết hoa, và với người Việt là hoa cúc, hoa mai, bánh chưng, bánh tét và những bài hát về Mùa Xuân đã trở lại?

Trọn một năm rồi, hôm nay tôi trở lại văn phòng dịch vụ khai thuế mà cảm thấy như mới đến đây hôm qua, cũng anh chàng khai thuế vui tính, những chồng hồ sơ ngổn ngang, trên vách chiếc đồng hồ tròn chậm rãi đếm giây… Cách đây một năm tôi đã ngồi trên chiếc ghế này, hôm nay tôi lại đến đây. Mùa khai thuế đã tới. Một năm nữa đã qua. Ði khai thuế mỗi năm hẳn lòng ta chẳng có cảm xúc gì, nhưng bạn cứ tưởng tượng, nào ngày con cháu chúng ta tốt nghiệp, nào ngày tan trường, ngày tựu trường, Mùa Thu lá rụng, rồi Mùa Ðông tuyết rơi.

Không những một giờ, một ngày qua rất nhanh, mà một năm, mười năm cũng như phút chốc. Phương Ðông nói: “Thời gian như bóng câu qua cửa sổ” (câu quang quá khích). Ca dao Việt Nam lại nói: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa -Nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai!” Thời gian có những bước đi cố định của nó, nhưng qua chủ quan, nhanh chậm hay dài ngắn lại “tùy người đối diện”, dù Lamartine đã thốt nên lời: “Thời gian ơi, xin hãy ngừng cánh bay.” (Ô temps, suspends ton vol!), cũng như chúng ta vẫn thường than vãn: “Ngày vui qua mau!” Trái lại, Kim Trọng tương tư Thúy Kiều thì một ngày cũng dài bằng ba năm: “Sầu đong càng lắc càng đầy- Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!” Người bị gông cùm, lao lý thì “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.” Phải chăng vì: “Người vui thì than đêm ngắn- Kẻ buồn lại hận canh dài.” Những ngày ở trong tù 35 năm về trước, hằng ngày phải lao động khổ sai vất vả, chúng tôi thấy ngày quá dài, chỉ mong đến lúc có tiếng kẻng “thu dụng cụ” để ra về, kiếm chén khoai lửng dạ và ngã tấm thân gầy guộc mệt nhoài trên chiếc chõng tre. Ðêm là lúc tự do, riêng rẽ một mình thì quá ngắn, vì người tù cảm thấy sợ hãi khi nghe tiếng kẻng đánh thức mỗi buổi sớm mai để thức dậy trước một ngày nữa, vất vả và vô vọng.

Bây giờ đến lúc tóc đã hoa râm, ngoảnh mặt nhìn lại: “Hồng Hồng! Tuyết Tuyết! Mới ngày nào còn chữa biết chi chi!” (Nguyễn Công Trứ), con cháu ngày nào, còn bồng bế nay đã trưởng thành, nghĩ lại “đời người như giấc mộng.” Nghĩ lại, thời hoa niên, rồi chiến tranh, tù đày, lưu lạc quê người cũng qua nhanh. Bây giờ không còn nói chuyện một ngày qua, một tuần qua, một tháng qua, mà nói chuyện mười năm, ba mươi năm, sáu mươi năm qua. Nhìn lại quá khứ, hình như chúng ta đều mang trong lòng nỗi tiếc nuối hơn là vui mừng vì chúng ta đã làm được điều gì đó trong những ngày tháng cũ.

Ai cũng nói được câu “dĩ vãng là lịch sử,” là những điều đã qua, nhưng tất cả văn thơ, âm nhạc đều khóc lóc, thương tiếc những ngày tháng cũ. Người thì xin đi lại từ đầu, người thì gọi ngày xưa là hoa bướm… Hiện tại là món quà Trời cho (Present) nhưng ít ai biết giá trị mà nâng niu nó, để khi nó đã trở thành dĩ vãng mới buồn bã khóc than. Phật Pháp cũng có nói đến: “Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hãy sống tĩnh thức trong giờ phút hiện tại!”

Ðể biết giá trị của thời gian, phương Tây nói:

“Ðể biết giá trị của một năm, hãy hỏi một sinh viên vừa thi trượt năm cuối.

Ðể biết giá trị của một tháng hãy hỏi một người mẹ sanh non.

Ðể biết giá trị của một tuần hãy hỏi chủ bút của một tuần báo.

Ðể biết giá trị của một giờ, hãy hỏi những người yêu đang chờ đợi gặp nhau.

Ðể biết giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa lỡ chuyến tàu.

Ðể biết giá trị của một giây, hãy hỏi người vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Ðể biết giá trị của một phần nghìn giây hãy hỏi người vừa nhận huy chương bạc trong cuộc thi Olympic.”

Thời gian đi những bước đều đặn, như tiếng đồng hồ kêu “tic-toc” nhịp từng giây, nó chẳng bao giờ có thể chạy nhanh hơn theo ý ta, hay chậm lại để chờ đợi ai. Trong những chuyện cổ tích của Ðông Âu, ông Tiên cho mỗi con người một “cuộn chỉ thời gian”, chiều dài của cuộn chỉ là chiều dài của mỗi đời người. Ai thấy đời khổ đau thì cứ kéo vội sợi chỉ đi nhanh, ai muốn hưởng hạnh phúc thì kéo cuộn chỉ chậm lại.

Này người bạn già của tôi ơi! Khổ đau hay hạnh phúc, bạn đã kéo “cuộn chỉ đời” bạn, nhanh hay chậm, thì chúng ta chỉ còn lại mươi vòng chỉ nữa thôi. Vì thời gian vẫn trôi đi, nên chúng ta không thể dừng lại, mà vẫn phải tiếp tục kéo sợi chỉ ra khỏi cái lõi của nó, cho đến lúc thở ra hơi thở… cuối cùng. Liệu trong mươi vòng chỉ còn lại này, chúng ta có thể làm gì để bù đắp cho gần cả một “cuộn chỉ đời” dài dằng dặc của những ngày tháng đã qua từ bao lâu nay không?