Nỗi Buồn Duy Nhất

Nỗi Buồn Duy Nhất

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang.

Nguyên Ngọc

Thấy tôi đã bắt đầu có vẻ chán Thái Lan, Mặc Lâm gạ gẫm:

  • Muốn chạy qua Lào chơi chút xíu không?

Tôi còn đang ngần ngừ thì Anh Vũ đã sốt sắn bàn … vô:

  • Trước khi qua Lào, phải ghé tỉnh Nakhon Phanom. Ở đây có quán tiết canh và súp đuôi bò ngon lắm.

Thế là ba thằng hăm hở (hớn hở) và hùng hổ đi ngay. Sau 12 tiếng đồng hồ gà gật trên xe, chúng tôi đến nơi khi cả thành phố này vẫn còn đang ngái ngủ. Hotel Viewkong nằm sát cạnh bờ của Cửu Long Giang, nơi dòng chẩy là biên giới thiên nhiên giữa hai nước Thái/ Lào.

Đứng trên ban công khách sạn có thể nghe được tiếng gà rộn rã, vang vọng từ bên kia sông. Xa xa là dẫy Trường Sơn lô nhô, cao ngất, in đậm dáng dị kỳ giữa nền trời vừa (mới) lờ mờ sáng.

Trường Sơn nhìn từ đất Thái. Ảnh: Mặc Lâm

Cảnh đẹp như một bức tranh làm nao lòng lữ khách nhưng tôi không được ngắm nhìn lâu vì thái độ  “nóng như hơ” của hai ông bạn đồng hành. Tắm rửa xong là họ giục giã vù ngay ra quán. Cứ y như thể là tiết canh phải được thưởng thức trước khi mặt trời mọc thì mới còn nguyên hương vị.

Chủ quán không phiền hà gì ráo khi bị gõ cửa vào sáng tinh mơ. Đã thế, ông và mấy cô con gái còn tỏ ra vô cùng thích thú khi biết khách đã vượt gần ngàn cây số đến đây chỉ vì món ăn danh tiếng của gia đình mình. Nhanh như tép, chỉ năm mười lăm phút sau họ đã dọn ra ba bát tiết canh heo (cùng đĩa lòng lợn) và một rổ rau mùi xanh ngăn ngắt.

Khác với đám rau thơm đoảng vị ở California, ngò gai Nakhon Phanom lá dầy – xanh thẫm, nhỏ nhắn, xinh sắn – và “gai” đến độ có thể làm đứt lưỡi luôn. Ngò rí thì xanh rì, ngắn ngủn, loắt choắt chỉ bằng độ cây tăm. Răm, húng quế, húng nhũi, húng cây, kinh giới, tía tô … đều bé tí ti và thơm sực nức.

Vắt mấy giọt chanh vào nửa thìa tiết, ngắt thêm nửa lá ngò gai, vài cọng ngò rí, hai ba lá húng cây húng quế… rồi bỏ tất tần tật vào mồm. Chưa nhai mà đã cảm thấy như có cả một dòng suối nhỏ – dòng suối máu huyết của quê hương – len lách qua từng kẽ răng, rồi chầm chậm thấm đậm vào hàng tỉ tế bào (khô héo) của một kẻ chung thân viễn xứ.

Cả ba chúng tôi đều chết lặng!

Đ…mẹ, nó ngon hết biết luôn, và ngon chưa từng thấy. Ngon như thể là trên đời này không còn có thứ gì ngon hơn được nữa.

Qua bát thứ hai tôi mới nhớ đến nửa chai Johnnie Walker Double Black Label vẫn còn nằm ngủ ngoan trong sắc tay. Tôi ực hai ly rồi ngưng nhưng Mặc Lâm kèo nài:

  • Thêm một ly nữa nha.
  • Thôi đủ rồi cha. Tui theo chế độ “lưỡng đảng” nên uống cả rượu lẫn bia. Để dạ uống vài lon bia Lào coi nó ra sao chớ.
  • Nhưng bữa nay phải uống ly nữa để mừng Trương Duy nhất vừa mới ra tù.

Ồ, đúng vậy! Thế là chúng tôi lại cạn mấy ly đầy, rồi đầy mấy ly cạn, và tiếp tục cạn mấy ly đầy cho đến khi trong chai chả còn còn một giọt rượu nào mới “chuyển” qua bia. Bạn có thể than phiền hàng trăm chuyện về nước Lào, cũng như nước Thái nhưng bia bốc của cả hai quốc gia này thì thiệt là không có gì để mà phải phàn nàn.

Thành phố Thakkek, Lào. Ảnh: Mặc Lâm

Tôi có cái tật xấu là “rượu vào lời ra,” và uống càng nhiều thì nói năng càng … nhạt nhẽo, và vô vị:

  • Không biết sau vụ này rồi Trương Duy Nhất còn tiếp tục viết nữa không ta?

Anh Vũ ngó bộ bất bình thấy rõ vì câu hỏi vô duyên và lảng xẹt của tôi nên nên hơi sẵng giọng:

  • Sao không?  Em đố anh tìm được một nhân vật bất đồng chính kiến nào đã tắt tiếng, sau khi ra khỏi nha tù? Nói chi là Trương Duy Nhất.

Măc Lâm trung dung và thực tế:

  • Muốn biết chắc thì mình cứ hỏi thẳng thằng chả chớ có khó khăn gì đâu.

Miệng nói tay làm, Mặc Lâm cầm điện thoại bấm nhay nháy. Cứ y như là có phép lạ, chỉ vài chục giây sau là chúng tôi nghe rõ cái giọng “hùng hổ” quen thuộc của Trương Duy Nhất:

“Tới thời hạn trả tự do thì họ phải buộc trả tự do cho tôi thôi và tôi đang muốn có một cái cảm xúc, cảm xúc mạnh nhất mà tôi mong nhất là khi Trương Duy Nhất vừa bước chân ra khỏi tù thì những thằng ích kỷ ăn tàn phá hoại đất nước những thằng đang bắt dân vô tội thì nó phải vào tù thay tôi và đó là điều tôi đang mừng thế thôi!”

….

“Tôi ngại gì? Tôi có tội đâu mà tôi ngại? Còn giả sử nó bỏ tù tôi tiếp chung thân hay tử hình đi nữa thì tôi có một câu tôi từng nói mà chắc bạn đã thuộc rồi. “Có thể cưỡng bức được hành vi chứ không cưỡng bức nỗi tư tưởng”  (thôi tôi có vé rồi tôi phải vào lên máy bay) tôi chỉ gửi lời cảm ơn tất cả các bạn …

Mặc Lâm và Anh Vũ đều thích chí cười khằng khặc. Tôi chỉ gượng gạo cười theo vì chợt cảm thấy có đôi chút lo âu (xen lẫn buồn bã) khi nhớ đến sự háo hức của Trương Duy Nhất qua một bài báo cũ (Bút Chiến Trên Mạng, Tại Sao Không?) của ông:

Chỉ riêng Hà Nội, đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng cùng nhóm “chuyên gia bút chiến.”

Phát biểu tại hội nghị công tác Tuyên giáo toàn quốc 2012 diễn ra sáng nay 9/12/2013, ông Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội nói: “Đã tổ chức đội ngũ 900 dư luận viên trên toàn thành phố nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ tuyên truyền miệng. Trong khi đó, báo chí thủ đô thực hiện ý kiến chỉ đạo về những vụ việc nhạy cảm; thành lập các tổ phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh. Tổ chức “nhóm chuyên gia” đấu tranh trực diện trên mạng internet, tham gia bút chiến trên internet…

Một thông tin khá bất ngờ, tạo cho tôi cảm giác thích thú…

Hãy công khai tranh luận một cách chính danh quân tử, thay vì sử dụng những biện pháp kỹ thuật lén lút cướp phá không khác gì bọn hacker, hoặc chụp mũ chính trị và kết án một cây bút chỉ vì những bài viết góp ý, phê bình phản biện của họ. Trước một thông tin, trước một tác phẩm, một bài viết, một cây bút, một góp bàn phản biện, chỉ được phép dùng chính phương cách truyền thông “tham chiến”, chứ không được phép dùng đến cái còng số 8, nòng súng và nhà giam…

Tiếc thay, Trương Duy Nhất đã lãnh đủ ca ba (“còng số 8, nòng súng và nhà giam”) trước khi ông có cơ hội bút chiến với đám dư luận viên của chế độ hiện hành. Tôi sợ là sẽ còn có điều đáng tiếc hơn nữa, nếu Trương Duy Nhất vẫn nghĩ rằng (nay mai) ông sẽ mở trận chiến trên mạng với cái đám bồi bút khốn nạn này.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gọi một số những người cầm bút khác là “đám bồi bút” và “bọn khốn nạn,” với niềm xác tín rằng không có hạn từ nào thích hợp hơn để gọi tụi vô học và vô lại này. Hãy cùng đọc qua “văn phong” và “ý tưởng” của vài “chuyên gia” trong  “đội ngũ đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên internet” xem họ vô liêm sỉ và sa đọa đến mức nào:

Phong Trào “Tôi Yêu Cây” Của Các Lều Dân Chủ

Sự kiện gây sự chú ý của dư luận trong nước, đặc biệt là người dân Thủ đô là Dự án Thay thế cây xanh tại Hà Nội. Không bàn đến chuyện chủ trương đúng – sai, phải – trái thế nào mà ở đây, tác giả muốn nói đến việc mượn sự việc này, đám zận chủ quậy phá, thể hiện cái mà chúng coi là “Tôi Yêu Cây”.

Đám zận chủ nhao nhác thể hiện “Tôi Yêu Cây” bằng đủ hình thức, có thể điểm lại các việc như sau:

– Zận chủ Lê Văn Dũng (facebookerLe Dung Vova), thành viên của NouFC đã giao mua trên mạng 1000 áo phông xanh để phát miễn phí cho những ai tham gia… tiền đâu ra mà hào phóng vậy Dũng Vova?

– Thắng mặt chuột (Nguyễn Lân Thắng) thì thể hiện tình yêu với cây theo cách khác, Thắng đã nhận lời để tham gia truyền thông quảng cáo cho hoạt động “buộc cây và tự trói mình” để phản đối việc chặt cây của nhóm zận chủ già tự xưng văn nghệ sỹ… không biết mỗi vụ được cát sê bao nhiêu hả Thắng mà khổ thế?

Vì sao Lập phò bị bắt?

Lập phò là con góp phần khá tởm trong việc phá nát cái tinh thần và tư duy dân chủ ở xứ này, vì đơn giản là cỏn lợi dụng nó để đánh đấm thuê đong xèng, thế thôi.

Đánh thuê không kín mõm thì bị túm, chả có dân chủ dân cheo hay chống đối gì ở đây cả, đừng hiểu lầm!

Tại sao Đinh Đăng Định sắp chết và nghèo thế.!.

Do bênh đau dạ dày (bao tử) cộng thêm tuyệt thực trong trại giam lâu ngày sinh ra ung thư?; Nếu như ông Đinh Đăng Định đang là giáo viên sẽ được đi khám bệnh định kỳ hàng năm, thì đã phát hiện bệnh sớm và được chữa kịp thời sẽ không có sự nguy kịch như hôm nay. Đấu tranh = nằm chờ chết…

Kết quả của sự ảo tưởng, chống đối nhà nước nên bản thân Đinh Đăng Định thời gian sống tính từng ngày. Hôm nay được vài nhóm người đến thăm, tung hô nhưng sau 49 ngày chết sẽ hết. Lúc đó “con bị mồ côi, nhà mất trụ cột”. Có thể cái nhà gỗ kia cũng phải bán và con thằng khác sai, vợ thằng khác xài, nhà thằng khác ở. Mai kia những những người con gái của Đinh Đăng Định sẽ ra sao?, có bị thằng khác lừa không?, lại ôm bầu thương nhớ. Ra đi có thanh thản không?

….

Bên dươi bài viết thượng dẫn là những  “nhận xét” sau của độc giả:

3 nhận xét :

Nặc danh17:59:00 18-07-2014

Lối viết quá bỉ ổi, ti tiện.

Nặc danh15:22:00 23-10-2014

Thật là ti tiện quá đi

Nặc danh00:29:00 02-05-2015

Người viết ra bài này thể hiện trình độ học vấn quá ngu si và hạn hẹp. Người này chắc tôi khẳng định chưa bao giờ được học hết cấp 3 chứ đừng nói đại học. Phí 2 phút cuộc đời để lướt qua những bài báo nhảm nhỉ như thế này.

Tôi chắc là Trương Duy Nhất sẽ buồn – và buồn lắm –  ngay sau khi ra khỏi nhà tù và biết ra rằng cái được mệnh danh là “đội ngũ chuyên gia để đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên internet chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch” (đích  thực) chỉ là thứ quân vô lại, một đám giá áo túi cơm, chứ không phải là những người cầm bút để ông có thể bút chiến với họ, như đã từng mong mỏi.

Trần Trung Đạo: Tâm bút cùng Trà Kiệu

Trần Trung Đạo: Tâm bút cùng Trà Kiệu

– Tin nổi bật, Bình Luận

Làng Phật Giáo Mã Châu, nơi tôi sinh ra, cách làng Công Giáo Trà Kiệu, nơi Th., bạn tôi, sinh ra, khoảng mười cây số và một con sông. Trong làng tôi, ngoài trừ gia đình người chú họ, sau khi đi làm ăn xa trở về làng cũ, trong hành trang của chú còn có thêm một cây Thánh Giá và bức hình Đức Mẹ, tất cả bà con còn lại đều là Phật Tử. Đoạn đường từ trạm Nam Phước lên đến quận Duy Xuyên chỉ dài hơn năm cây số nhưng đã có đến bốn ngôi chùa. Các ngôi chùa làng rất nhỏ, mái ngói cong, thường xây cạnh những cây đa già. Tuổi thơ tôi lớn lên trong một môi trường Phật Giáo và dưới bóng mát của hồn quê hương đơn sơ chất phác đó.

Phần lớn bạn học các lớp trung học đệ nhất cấp ở trường quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong đó có cả Th., và Diệp đều là người Trà Kiệu. Ba của Diệp lái xe Lam ba bánh. Cuối tuần tôi thường ra Chợ Quận đứng chờ xe của bác đi ngang là tôi đi theo lên Trà Kiệu chơi với đám bạn. Từ Mã Châu đi Trà Kiệu không xa nhưng phải qua Cầu Chìm, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang một trong những nhánh sông Thu Bồn chảy ra hướng Cửa Đại. Vì được xây quá gần với mặt nước nên mỗi khi trời mưa lớn là xảy ra cảnh nước chảy qua cầu. Đám học sinh bên kia sông buổi sáng đi bộ đến trường nhưng buổi chiều nhiều khi phải đi đò về nhà. Bên chân cầu là một chiếc lô-cốt bằng xi-măng, tàng tích của chế độ Thực Dân còn để lại và cũng là một nhắc nhở của vết thương hằn sâu trên da thịt quê hương tôi, làm nhức nhối bao nhiêu thế hệ đã qua và còn mưng mủ cho đến bây giờ.

Trà Kiệu, với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau. Trong tôi vẫn còn in lại hình ảnh những bậc tam cấp bằng đá của nhà thờ Trà Kiệu, nơi chúng tôi đã ngồi trong những buổi chiều vàng nhìn xuống xóm nhà của các bạn tôi, được dựng bên những thửa ruộng xanh bao vòng quanh chân núi.

Thế nhưng, không phải ai ở quê tôi cũng đối xử với nhau một cách vô tư, hồn nhiên và hòa đồng như tôi và đám bạn Trà Kiệu của tôi. Không ít người dân Quảng, vốn rất tự hào về truyền thống cách mạng, chống Thực Dân Pháp, Địa Linh Nhân Kiệt, Ngũ Phụng Tề Phi, thường nghĩ về Trà Kiệu như là một làng Công Giáo biệt lập. Càng tự hào với truyền thống chống Thực Dân bao nhiêu thì họ lại càng dễ có thái độ khắt khe, xa cách với đồng bào Trà Kiệu bấy nhiêu. Với những người mang nặng định kiến, hẹp hòi và bảo thủ, đồng bào Trà Kiệu, dù sống trên cùng một quê hương nhưng không cùng chung nhau trọn vẹn một chiều dài lịch sử. Sự xa cách đó không phải tự nhiên mà có, cũng không phải chỉ đơn giản là sự cách biệt lương giáo chung chung mà thôi, nhưng những chia rẽ giữa những người đã chôn khúc nhau trên cùng mảnh đất, bắt đầu bằng máu, đổ xuống trong đêm 1 tháng 9 năm 1885 và chảy dài suốt thời kỳ thực dân đầy thù hận, khổ đau, tang tóc.

Đêm đó nghĩa quân thuộc phong trào Văn Thân tỉnh Quảng Nam với khẩu hiệu Bình Tây Sát Tả đã mở liên tục các cuộc tấn công vào làng Công Giáo Trà Kiệu lúc bấy giờ đặt dưới sự lãnh đạo tinh thần của Linh Mục Bruyere, được gọi bằng tiếng Việt là Cố Nhơn, thuộc Hội Thừa Sai Pháp. Trong làng thời đó chỉ có khoảng 370 thanh niên có thể chiến đấu với vỏn vẹn 5 khẩu súng. Họ phải tự rèn gươm giáo, đúc súng đạn, dành dụm từng chút lương khô trong cuộc chiến tranh tự vệ khó khăn và quyết liệt. Sau lưng là núi, trước mặt là con đường độc nhất dẫn ra tỉnh đã bị bao vây. Họ không có đường lui và cũng không còn đường tiến. Cuộc chiến đấu của họ mang trọn vẹn ý nghĩa của “tự do tôn giáo hay là chết”.

Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu giữa người Quảng và người Quảng, giữa người Việt và người Việt, giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo và các đơn vị Văn Thân Bình Tây Sát Tả, đã gây ra rất nhiều thiệt hại, mất mát cho cả hai bên. Máu người dân Quảng đã chảy trên đồi Bửu Châu thiêng liêng, xương người dân Quảng đã phơi trên cố đô Chiêm Thành huyền bí.

Cuối tháng 9 năm 1885, sau gần một tháng tấn công không thành công, các đơn vị Văn Thân rút lui. Đồng bào Công Giáo Trà Kiệu tin rằng Đức Mẹ đã hiện ra trong những đêm 10 và 11 tháng 9 năm 1885 để che chở cho con cái của Mẹ và giúp đẩy lui quân đội của cả một phong trào Văn Thân rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đông gấp trăm lần. Từ đó, hằng năm vào ngày 31 tháng 5, ngày cuối của tháng Hoa, người dân Công Giáo Trà Kiệu tổ chức lễ cung nghinh Đức Mẹ để ghi ơn Mẹ đã cứu giúp Trà Kiệu thoát khỏi bị tận diệt.

Trong cái nhìn của riêng tôi, đồng bào Trà Kiệu thời bấy giờ không có một chọn lựa nào khác. Họ đã phải chiến đấu trong một hoàn cảnh tự vệ, không những để bảo vệ niềm tin Thiên Chúa mà còn vì mạng sống của chính họ và gia đình họ. Nhiều trong số họ đã ngã xuống cho niềm tin mà họ tôn thờ. Nếu họ thua, có thể làng Công Giáo Trà Kiệu không còn hiện diện trên bản đồ như ngày nay nữa. Niềm tin đã giúp Trà Kiệu đứng vững. Ngày 31 tháng 5, trong bình diện tôn giáo, vì thế, phải được hiểu như là ngày của Niềm Tin hơn là một chiến thắng quân sự chống lại Văn Thân. Niềm tin tôn giáo đó vô cùng cao cả và trong sáng. Đồng bào xứ Quảng thời đó đã sống có niềm tin và đã chết vì niềm tin. Những hy sinh của họ xứng đáng được kính trọng và phải được nhìn từ khía cạnh thuần túy tâm linh.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít may mắn. Rất hiếm hoi trong mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta có được một thời bình yên và ổn định đủ dài để xây dựng đất nước hay ít ra đủ kết hợp một tiềm năng, như trường hợp Nhật Bản, đủ sức chống chỏi với các áp lực từ bên ngoài. Sau suốt cả ngàn năm Bắc thuộc là Trịnh Nguyễn phân tranh. Khi cuộc nội chiến vừa yên thì các chiến hạm Pháp cũng vừa thả neo dòm ngó ngoài cửa biển. Nói ra có vẻ cải lương nhưng quả thật dân tộc Việt Nam đúng là một dân tộc đã trưởng thành trong khói lửa.

Tôn giáo tại Việt Nam đã chia xẻ trọn vẹn những bất hạnh chung của dân tộc. Phần lớn các tôn giáo lớn được truyền vào Việt Nam cùng lúc với những biến động lịch sử lớn của đất nước. Theo các quy luật kinh tế đã được các nhà kinh tế thuộc mọi trường phái thừa nhận, chủ nghĩa thực dân là một bệnh chứng tất yếu trong quá trình tiến hóa của nhân loại. Với hệ thống giáo dục lỗi thời và chính sách đối ngoại vô cùng thiếu ngôn ngoan của triều đình nhà Nguyễn cộng với các kỹ thuật chiến tranh cách biệt quá xa về kỹ thuật giữa tây phương và của các quốc gia khu vực Nam Á thời bấy giờ, dù có hay không có sự xuất hiện của Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam trong giai đoạn đó thì nước ta vẫn mất, nhà ta vẫn tan.

Chỉ tiếc là chúng ta không có những ông vua sáng suốt như Minh Trị Thiên Hoàng (1852-1912) biết nhìn xa hiểu rộng, kịp thời canh tân đất nước. Chúng ta cũng không có được những ông vua như Rama IV (1851-1868) của Thái đủ khôn ngoan để thấy được xu thế chính trị kinh tế của thời đại, ngõ hầu dung hóa các ngoại lực. Thay vào đó, các vua nhà Nguyễn đã theo đuổi chính sách bế môn tỏa cảng để rồi cuối cùng dẫn đến mất nước. Tiếng súng của Đô Đốc Perry đã đánh thức nước Nhật nhưng tiếng đại bác của viên sĩ quan Pháp, Le Lieur, bắn vào Đà Nẵng năm 1856 không lay tỉnh một triều đại ngủ quên trong cái học từ chương, thi phú cung đình. Những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều … chỉ là vài giọt nước tan loãng vào biển hủ nho phong kiến. Tương tự, những lời can gián cương trực của hai danh sĩ Quảng Nam, Phó Sứ Phạm Phú Thứ và Binh Bộ Thượng Thư Lê Đĩnh, chẳng đủ công hiệu để giết hết được loại vi trùng định kiến, hoài nghi, bảo thủ, lo sợ mất quyền, mất nước truyền trong máu từ bao đời trước.

Thế nhưng, nói như thế, cũng không có nghĩa, tôi đang trách tổ tiên ông bà chúng ta trong phong trào Văn Thân, Cần Vương kháng Pháp. Thảm cảnh, trong đó hàng vạn người Việt Nam được trang bị bằng dao mác, tầm vông, đã gục xuống như rơm rạ trước nòng đại bác thực dân, đã làm sục sôi máu hờn căm của những người dân Việt đang đau vì vận nước. Ông bà chúng ta thời đó, ngoài giặc Pháp, chẳng còn một nơi nào hay một ai để trút lòng phẩn uất, lửa căm thù của họ, khác hơn là các giáo sĩ Tây phương và những người theo đạo từ Tây phương truyền đến.

Và để nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không thể trách các vua nhà Nguyễn đã bế quan trong bốn bức tường thành. Làm sao các vị đó hiểu được những gì đang xảy ra trên thế giới và cho vận nước khi cả đời vùi mài trong tứ thư ngũ kinh. Làm sao các vị đó có được chọn lựa sáng suốt hơn khi mang trong người dòng máu sợ người ngoài như sợ thú dữ, truyền lại từ suốt ngàn năm lệ thuộc Bắc phương.

Trở lại với Trà Kiệu, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu thời bấy giờ đã dù bị bạc đãi, dù chịu đựng trấn áp nhưng đã không vì thế mà bỏ rơi đất nước. Các tín đồ Thiên Chúa Giáo Quảng Nam đã không nghe lời Giám Mục Pellerin làm nội gián cho quân của tướng Rigault De Genouilly khi viên tướng nầy đem quân đánh Đà Nẵng vào ngày 1 tháng 9 năm 1857. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Phạm Văn Sơn: “Viên Trung Tướng nầy [Rigault De Genouilly] còn thất vọng thêm ở chỗ không thấy có giáo dân nổi lên hưởng ứng nên đã kỳ kèo giám mục Pellerin vì trước đây giám mục đã đoan quyết như vậy. Lúc nầy giám mục cũng theo quân đội (Pháp) và có mặt trên chiếc tàu Némésic. Giám mục vừa xấu hổ vừa tức giận nên bỏ về ở nhà tu Pinang tại Mã Lai“.

Hẳn nhiên không phải ở đâu cũng có những người Việt Nam như thế, không phải nơi nào dân tộc ta cũng may mắn có được những người con biết làm ngơ trước vinh hoa để bảo vệ sự sống còn lâu dài của dân tộc như thế. Trong suốt 40 năm chiến đấu trong gian nan tuyệt vọng để ngăn chận bước chân của thực dân Pháp (1847-1887), bao nhiêu mẩu chuyện đầy bẽ bàng chua xót, bao nhiêu việc làm đáng trách của một số người Việt còn ghi lại trong sử sách.

Nhắc lại những điều đáng ca ngợi hay nêu lên đôi điều đáng trách đó, tôi không có ý định đào sâu những vết thương đã một thời lở lói trong lòng dân tộc. Nhưng để chúng ta cùng nhìn về quá khứ một cách khách quan, chân thành, bao dung và trân trọng, để từ đó biết tránh xa những ổ gà, những hầm hố, những vết xe đổ, trên đường đi tới một tương lai tươi sáng cho đời sau. Không ai muốn giết nhau. Không ai muốn tàn sát nhau. Định mệnh lịch sử đã bẫy dân tộc ta vào một căn hầm không lối thoát, trong đó, các thành phần dân tộc vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng, vừa là đồng lõa và nhiều khi cũng vừa là tội phạm. Đọc lại lịch sử Việt Nam các thế kỷ 17, 18 để thấy ông bà chúng ta đáng thương và tội nghiệp biết bao nhiêu. Cả dân tộc, thời bấy giờ, như một bầy cừu non, không hề chuẩn bị, trước nanh vuốt của Thực Dân Pháp.

Tôi chỉ mong có một ngày những người dân Quảng sẽ cùng về lại Trà Kiệu, cùng nhau lau sạch những bậc đá trên đồi Bửu Châu như lau đi những vết thương hằn sâu nhiều thế kỷ. Tôi vẫn mơ có một ngày cùng nhau xây lại đình làng Ngũ Xã Hoàng Châu và các làng mạc chung quanh Trà Kiệu, nơi đã từng là bãi chiến trường, là biên giới của phân ly, hoài nghi, xa cách. Trà Kiệu, Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Kỳ Lam, Giao Thủy, Đà Nẵng, Hội An….là những phần thân thể đáng yêu và bất khả phân ly của xứ Quảng. Tôi yêu Trà Kiệu như yêu chính ngôi làng Mã Châu nhỏ bé của tôi.

Chiều hôm qua, đọc bài viết công phu của linh mục Trần Quý Thiện về nhà thơ Công Giáo Hàn Mặc Tử, tôi xúc động và hãnh diện khi biết rằng mẹ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, cụ bà Nguyễn Thị Duy, sinh năm 1881, là người Trà Kiệu. Thân phụ của tác giả Đây Thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, cụ Vinh Sơn Phaolô Phạm Toản (1882-1926) vì chống Pháp phải thay đổi họ từ Phạm sang họ Nguyễn. Giọt sữa mẹ và hùng khí quê ngoại Quảng Nam đã góp phần tạo nên Hàn Mặc Tử, nhà thơ lớn của Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Chúng ta không thể sửa lại quá khứ, chúng ta không thể làm lại lịch sử, chúng ta không thể xoay ngược bánh xe thời gian, chúng ta cũng không thể nào quên đi quá khứ, nhưng xin hứa với nhau, chúng ta sẽ không sống bằng quá khứ.

Chúng ta sẽ học những bài học đắng cay của cha ông chúng ta một cách nghiêm túc, chân thành và trân trọng. Nhưng không phải học để rồi khóc than thương tiếc, mà để từ đó xây dựng một Việt Nam thương yêu, đoàn kết trong tương lai, kính Chúa nếu là con cái Chúa, kính Phật nếu là đệ tử Phật, tương kính đạo của nhau giữa những người khác đạo, và biết vượt qua mọi khó khăn để gìn giữ căn nhà chung của mẹ Việt Nam.

Các tôn giáo sẽ mãi mãi là những dòng suối của tình thương, những dòng sông của bác ái, hòa vào mạch sống chung của dân tộc, đem lại dòng sinh khí cho quê hương vốn đã bao năm chìm đắm trong hận thù tang tóc. Các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo trong Việt Nam tương lai sẽ là những cột kèo, mái vách gìn giữ cho căn nhà đạo đức Việt Nam mỗi ngày một thêm bền vững. Các ngài sẽ là những bậc thầy đáng kính dạy dỗ cho các thế hệ Việt Nam mai sau được lớn lên trong tình đồng bào ruột thịt, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.

Khoảng cách không phải một sớm một chiều mà xóa hết nhưng vẫn còn đó trong mỗi chúng ta chung một niềm hy vọng. Xin cầu nguyện.

Trần Trung Đạo

http://www.trantrungdao.com/?p=3161

CÁI NHÌN

CÁI NHÌN

Thiên Phúc

Truyện các thánh ẩn tu thời giáo hội sơ khai có một giai thoại như sau:

Một người La Mã nọ đến cắm lều giữa sa mạc và tập sống như một ẩn tu.  Ngày nọ, có một vị ẩn tu tìm đến căn lều của người La Mã để trao đổi về cuộc sống tu trì.

Vừa bước vào căn lều của người La Mã, vị ẩn tu ngạc nhiên vô cùng.  Giữa căn lều là một chiếc giường, trên đó có chăn nệm, lại có cả móc áo ở góc lều.  Nhưng điều làm cho vị ẩn tu phải sửng sốt, chính là sự hiện diện của một người giúp việc trong đó.  Người này nấu ăn, giặt giũ cho người La Mã. Người La Mã nhận ra ngay nét mặt sửng sốt của vị ẩn tu.

Sau một lúc đàm đạo về đời sống tu trì, người La Mã mới hỏi vị ẩn tu:

– Xin được phép hỏi ngài, trước khi vào tu trong sa mạc, ngài làm nghề gì?

Vị ẩn tu trả lời:

– Trước khi vào đây tôi chỉ là người chăn giữ gia súc ngoài đồng.

– Ngài có bao giờ ngủ trên chăn êm nệm ấm chưa?

– Mục tử chúng tôi thì làm gì biết đến những thứ xa xỉ ấy?

– Có ai phục dịch nấu nướng cho ngài không?

– Đã làm nghề chăn súc vật thì ăn uống là chuyện thất thường, làm gì có bếp núc và người hầu hạ.

Sau một loạt những câu hỏi như thế, người La Mã mới giải thích cho vị ẩn tu như sau:

– Tại La Mã, tôi là người có tất cả mọi sự, tôi ngủ trên một chiếc giường sang trọng chứ không phải trên cái phản tồi tàn này.  Tôi có không biết bao nhiêu kẻ hầu người hạ chứ không phải chỉ có một người đầy tớ như ngài vừa thấy.  Ngày ngày cuộc sống của tôi là yến tiệc linh đình chứ không phải chỉ có những bữa ăn bằng rau cỏ như ở đây.  Trong bữa ăn của tôi lúc nào cũng có đàn ca xướng hát, ở đây chỉ có bốn bề thinh lặng.  Đêm khuya tôi lại phải thức dậy đọc kinh cầu nguyện.  Nhưng nhờ thế mà giờ đây tôi cảm thấy khoẻ mạnh trong thân xác và bình an trong tâm hồn.

Nghe thế vị ẩn tu mới phát biểu:

– Xin lỗi ngài, vì tôi đoán xét quá nông cạn và vội vàng.  Quả thật, cuộc sống ẩn tu của ngài có giá trị hơn bội phần cuộc sống của tôi.  Đối với tôi, giữa cuộc sống của một mục tử và một ẩn tu không có khác biệt nhau bao nhiêu, không chừng cuộc sống của tôi bây giờ xem ra còn có nhiều tiện nghi hơn cuộc sống của một mục tử là khác.  Quả thật, ngài có nhiều công trạng hơn tôi.

*****************************

Mục đích thiết yếu của cuộc sống tu trì chính là đức ái.  Sống xa cách thế gian không phải là để tìm hạnh phúc riêng tư cho mình mà chính là để yêu mến Chúa, mà tình mến Chúa được cụ thể hoá trong tình yêu tha nhân.  Thiếu lòng mến đối với tha nhân thì cuộc sống tu trì không khác nào “Một toà nhà xây trên cát.”  Và bước đầu trong tình yêu đối với tha nhân chính là hoán cải cái nhìn.

Cái nhìn đối với tha nhân như Chúa Giêsu đã không ngừng nêu bật trong Tin mừng, không phải là cái nhìn của quan án, của đoán xét, của nghi kỵ, của tẩy chay mà là cái nhìn của cảm thông, của tha thứ và của tin yêu.

Qua thái độ của những người biệt phái, những người có cuộc sống đạo đức và khổ chế hơn người. Chúa Giêsu đã đưa ra một thiếu sót trầm trọng, đó là thiếu tình mến đối với tha nhân.  Thái độ đó đã được Chúa Giêsu cụ thể hoá trong cách cầu nguyện của một người biệt phái nọ.  Người này nhìn một cách khinh bỉ người thu thuế ở cuối đền thờ và ngẩng cao đầu lên để kê khai những công trạng của mình.  Chúa Giêsu kết luận rằng người này ra về không được Chúa tha thứ, bởi vì ông ta thiếu lòng mến đối với tha nhân.

*****************************

Lạy Chúa, xin ban cho con được mặc lấy tâm tình và cái nhìn của Chúa đối với tha nhân.  Trong mọi quan hệ với anh chị em, xin cho con luôn biết sống nhẫn nhục và tha thứ, cảm thông và yêu thương hết mọi người.  Amen.

Thiên Phúc

Hướng đi nào cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam?

Hướng đi nào cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-05-30

Hướng đi nào cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

wpqnpham-minh-dap_gqva622.jpg

Anh Phạm Minh Đáp (đứng) tại một lớp dạy tiếng Anh miễn phí của StandBy You trước đây.

Courtesy sbyvn.org

Your browser does not support the audio element.

Câu lạc bộ StandBy You, là trường dạy tiếng Anh hoàn toàn miễn phí dành cho các học viên nghèo, được thành lập chưa tròn một năm, nay phải tuyên bố ngừng hoạt động vì những áp lực, khó khăn từ phía chính quyền thành phố Hà Nội. Đây không phải là lần đầu tiên một tổ chức XHDS gặp phải nhiều đối kháng từ chính quyền các cấp. Điều này cũng đặt ra nhiều câu hỏi về sự tồn tại của một tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.

StandBy You, hay còn gọi là Ngôi nhà tiếng Anh của Phạm Minh Đáp được mở ra hoàn toàn do số tiền anh dành dụm được trong 6 năm bán bong bóng cùng với quan niệm “sinh viên, tuổi trẻ cần phải biết tiếng Anh để học hỏi tiến bộ của các nước văn minh”. Tấm lòng của chàng hiệu trưởng của gần 100 học viên nghèo nhận được nhiều sự ủng hộ của các bạn trẻ trong nước, trong đó có cả các bạn người nước ngoài sang Việt Nam du lịch và tình nguyện làm giáo viên giảng dạy.

Bị sách nhiễu, gây khó khăn

” Bắt đầu ngày 14 tháng 4 thì phía chính quyền bắt đầu sang có hạch sách về giấy phép hoạt động, giấy mở lớp tiếng Anh miễn phí và giấy phép của tình nguyện viên. Rồi người ta nói visa du lịch thì không được phép làm từ thiện, chỉ được phép du lịch thôi.
-Phạm Minh Đáp”

Thế nhưng, mục đích của StandBy You và cũng như thiện chí của các tình nguyện viên đã nhận phải nhiều đối kháng từ chính quyền địa phương. Phạm Minh Đáp cho biết về những khó khăn mà Ngôi nhà tiếng Anh gặp phải gần đây:

“Bắt đầu ngày 14 tháng 4 thì phía chính quyền bắt đầu sang có hạch sách về giấy phép hoạt động, giấy mở lớp tiếng Anh miễn phí và giấy phép của tình nguyện viên. Rồi người ta nói visa du lịch thì không được phép làm từ thiện, chỉ được phép du lịch thôi.”

Theo điều số 7, mục 1 của luật cấp visa vào Việt Nam (theo luật ban hành mới nhất vào tháng 1 năm 2005) thì những người vào Việt Nam với visa du lịch (tourist visa) thì không thể chuyển đổi visa đó thành visa làm việc (working visa). Nhưng không nêu rõ về trường hợp làm việc từ thiện.

Bên cạnh đó, một người không muốn nêu tên làm việc trong cơ quan nhận hồ sơ xin visa du lịch vào Việt Nam thì khẳng định “Visa du lịch vào Việt Nam có thể làm những công việc mang tính chất từ thiện.”

Không những trường học và các thành viên bị sách nhiễu, gây khó khăn buộc phải ngừng hoạt động, mà bên phía chính quyền địa phương còn tạo áp lực đến chủ nhà, buộc nơi CLB StandBy You không được tiếp tục việc giảng dạy ở nơi đang thuê.

“Bác chủ nhà điện thoại cho chúng em rằng không được phép mở lớp tiếng Anh nữa, nếu không thì họ phải cắt giấy phép kinh doanh của bác ấy.”

1418891447205_nguoitienphong1-400.jpg

Anh Phạm Minh Đáp với xe bán bong bóng của mình. Courtesy sbyvn.org

Cho đến ngày 25 tháng 5 vừa qua, các thành viên của Ngôi nhà tiếng Anh họp lại và quyết định:

“Tạm thời chúng em phải dừng các hoạt động trong ngôi nhà lại vì chúng em không còn phòng để học nữa. nhưng để tạo điều kiện cho các bạn sinh viên có cơ hội tiếp tục học nữa thì chúng em mở các lớp học ngoài công viên. ngày hôm nay là buổi học đầu tiên. Và lớp học rất là tốt.”

Cuộc nói chuyện này của chúng tôi diễn ra ngay sau  buổi học đầu tiên ngoài công viên của Ngôi nhà tiếng Anh. Đáp rất phấn khởi khi tinh thần của học viên và các tình nguyện viên không bị suy giảm.

“Hôm nay lúc 3 giờ chiều thì chúng em bắt đầu tổ chức ngoài đó. Số lượng học viên có tầm hơn 20 bạn. Học rất là tốt.”

Tuy không bị gây cản trở như những buổi học trong trường lớp, nhưng Đáp và mọi người vẫn phải gặp những trở ngại như:

“Bên phía công viên thì ủng hộ và không thấy gì hết. Vào lúc tối có một lớp ngoài công viên nữa nhưng phía công viên thì cứ hỏi giấy cho phép vào công viên và giấy cho phép thì phải xin phép trước. Văn phòng bên quản lý thì nói rằng phải xin phép. Lần sau cứ 10 người vào công viên thì phải xin phép và phải nộp khoản phí là 30 nghìn.”

Một trong những học viên của CLB Ngôi nhà tiếng Anh là Phạm Toàn, dù mới tham gia học được 4 tháng nhưng bạn cho biết sẽ làm bất cứ điều gì CLB cần để mọi người có thể tiếp tục.

“Em cũng đã nói ở trung tâm nếu có vấn đề gì cần nhờ em thì em sẽ giúp đỡ hết mình.”

Nói về cảm nhận của mình đối với StandBy You, Toàn cho biết:

” Đến đấy mình giao lưu và nói chuyện với các tình nguyện viên nước ngoài. Họ rất nhiệt tình giảng dạy. Em không hiểu sao chính quyền lại cấm đoán như thế.
-Phạm Toàn”

“Đến đấy mình giao lưu và nói chuyện với các tình nguyện viên nước ngoài. Họ rất nhiệt tình giảng dạy. Em không hiểu sao chính quyền lại cấm đoán như thế, và mình cũng rất hụt hẫng. Khi biết trung tâm bị đình chỉ thì em rất buồn và thất vọng.”

Phạm Minh Đáp cho biết tất cả những học viên đều bất ngờ và buồn.

“Từ khi thông báo thì các bạn sinh viên rất buồn, có bạn khóc và bảo rằng cứ tiếp tục đi.”

Trần Hồng Gấm, là một tình nguyện viên của Ngôi nhà tiếng Anh cho biết tình cảm gắn bó của mình:

“Em làm tình nguyện ở đây rất vui vì mọi người ở đây, thứ 1 là học tiếng Anh tạo ra 1 môi trường thân thiện, mọi người xem như là gia đình và học với nhau được rất nhiều thứ.”

“Hãy có một chiến lược!”

Ở Việt Nam hiện nay, được cho là có không dưới 10 tổ chức xã hội dân sự. Hầu như tất cả là do tự cá nhân thành lập nên và có phương cách hoạt động riêng. Người được cho là thành công vì có được hưởng ứng từ người dân cũng như các cấp chính quyền địa phương khi thành lập tổ chức xã hội dân sự mang tên Sách Cho Nông Dân, là Nguyễn Quang Thạch chia sẻ:

“ Em biết ở Viêt Nam mình nếu biết cách làm, nếu dùng sự tận tâm của mình, và vận động chính quyền, những người trong chính quyền thì vẫn làm được. tổ chức dân sự nào với mục đích nào cũng phải có một chiến lược.”

Nói thêm về ý nghĩa của cách làm, Nguyễn Quang Thạch cho biết:

“Việc bị đóng cửa, mình phải xem người giám đốc kia, người khởi sự chương trình kia họ đã đăng ký với chính quyền hay không. Nếu chưa đăng ký, chưa có tư cách pháp nhân thì người ta đến kiểm tra là chuyện đương nhiên thôi.”

Dù đăng ký hay không đăng ký, một tổ chức mang tính xã hội dân sự được quyền rộng rãi hoạt động ở Việt Nam là điều mà những người hoạt động xã hội cho rằng không dễ xảy ra. Vì thế, các nhà hoạt động xã hội cũng tự đặt câu hỏi ,trong tương lai, chắc chắn sẽ còn rất nhiều những StandBy You, Sách Cho Nông Dân… nhưng để có thể tồn tại và phát triển hay không thì dường như ngay lúc này chưa ai có được câu trả lời.

[TED Vietsub] Matthew OReilly: Tôi sắp chết phải không?

Tôi sắp chết phải không?

Nếu bạn chỉ còn vài phút để sống, cảm giác của bạn sẽ như thế nào? Bạn còn điều gì hối hận không? Bạn có muốn sống mãi trong tâm trí mọi người không? Bạn có muốn cảm thấy viên mãn vì đã sống một cuộc đời có ý nghĩa? Hay bạn sẽ sợ hãi? Matthew OReilly là người đã chứng kiến rất nhiều cái chết diễn ra trước mặt anh, và những điều anh chia sẻ có thể sẽ hoàn toàn thay đổi cuộc đời bạn

Mời xem:

httpv://www.youtube.com/watch?v=FVMyw0D3IY0

[TED Vietsub] Matthew OReilly: Tôi sắp chết phải không?

Thói quen xấu tiêm nhiễm vào huyết quản rồi

Thói quen xấu tiêm nhiễm vào huyết quản rồi

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết Từ Sài Gòn

Cứ thò tay ra là có tiền, đó là tiền hối lộ. Các cậu dù là du học sinh, dù là con ông cháu cha, dù là dân lao động đi học nghề, không ăn hối lộ được thì ăn cắp. Thói quen xấu ấy tiêm nhiễm vào huyết quản rồi, đã thành cái bệnh nan y.

Trong tuần này, hầu hết các báo ở VN và các trang mạng trên khắp các diễn đàn trong và ngoài nước đều sôi sục vì những bản tin mới nhất về chuyện du học sinh Việt Nam tại Nhật ăn cắp vặt và ăn cắp có tổ chức. Nỗi nhục không phải chỉ có người Việt Nam ở trong nước gánh chịu mà tất cả người Việt Nam có mặt trên khắp hành tinh đều cảm thấy nhục khi “phải là người Việt Nam.” Trước hết tôi thấy cần phải xác định ngay rằng, từ trước những năm 1975, du học sinh VN rất nhiều, nhưng chưa hề mang tai tiếng nào về những vụ ăn cắp như thế này. Họ chỉ mang vẻ vang về cho đất nước.

Cảnh sát thu giữ số quần áo mà nhóm người Việt đã lấy cắp tại cửa hàng Uniqlo.

Hồi đó (trước 1975) hầu hết các học sinh VN được đi du học không cần phải là con ông cháu cha, bất kỳ gia đình nào đủ sức lo cho con cái đi du học đều được chính phủ cho phép dễ dàng. Các du học sinh hầu hết theo học ở Pháp hoặc ở Anh, Mỹ. Cần phân biệt rõ “du học sinh” và tu “nghiệp sinh” vì, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê còn “du học sinh” là những người đi học văn hóa tại các trường Trung Học, Đại Học ở nước ngoài. Hầu như chưa có học sinh nào du học ở Nhật bởi thời kỳ đó Nhật Bản cũng chẳng hơn gì VN về mọi phương diện từ văn hóa đến xã hội, nếu không muốn nói là họ còn kém VN nhiều mặt bởi họ đang phải gắn bó vết thương chiến tranh tàn phá sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.
Nhưng từ đó đến nay, nước Nhật tiến bộ nhanh chóng. Trong khi người Việt vẫn nghèo đói tang thương. Từ cái nghèo đói đó nẩy sinh biết bao nhiêu tệ nạn. Nhất là nạn tham nhũng phá hoại tất cả từ văn hóa đến đạo đức. Nào là nạn buôn bán người, nạn trộm cướp, ma túy, mại dâm… kể làm sao hết. Chính vì lẽ đó nên số người xuất ngoại lao động ngày càng nhiều. Người VN bắt đầu giao thương với Nhật và du học sinh cũng được gửi sang Nhật học hành. Và sự thật là con cái đại gia thực thụ thì ít, con cái thuộc loại con ông cháu cha thì nhiều. Người dân lo kiếm ăn đã khó, lấy tiền đâu cho con đi du học. Chỉ có những người lao động muốn đổi đời chạy chọt đóng tiền cho các doanh nghiệp quốc doanh như Sovilaco hoặc Suleco được độc quyền xuất khấu lao động sang Nhật để học nghề kiếm tiền, gọi là “tu nghiệp sinh.”
Gần như tất cả các “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu). Một blogger người Việt có nickname là “Minh T,” sống tại Nhật khẳng định, “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… Gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ.”
Tôi không nói tất cả các du học sinh VN thời nay đều như thế cả, chỉ có một số cô cậu ăn chơi lạc đường vào sa ngã. Tiếc thay con số đó lại không hề ít. Và không chỉ du học sinh mà số người ăn cắp thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, kể cả người lao động và những người được gọi là có học. Xin dẫn chứng:

Mỗi ngày xảy ra 8 vụ người VN ăn cắp ở Nhật
Báo Một Thế Giới dẫn nguồn từ Viet-jo.com cho biết, tháng trước, Cơ Quan Cảnh Sát Nhật Bản đã công bố tình hình bắt giữ tội phạm nước ngoài trong năm 2014 tại nước này với tổng cộng có 15,215 trường hợp. Trong số đó các vụ liên quan đến người Việt Nam lên đến 2,488 vụ, tăng 61.6% so với năm 2013, tính ra trung bình mỗi ngày xảy ra 8 vụ trộm cắp dính đến người Việt Nam.
Cụ thể, có tổng số người nước ngoài tại Nhật bị bắt là 10,689 người, tăng 8.1% so với năm 2013. Đặc biệt, trong số người phạm tội có đến 1,548 người Việt Nam, chiếm 16.4% tổng số các trường hợp các vụ do người nước ngoài vi phạm luật pháp bị cơ quan an ninh Nhật bắt giữ, chỉ xếp sau Trung Quốc.
Điều đáng buồn là trong số các vụ án hình sự, thì người Việt đứng đầu về cả số vụ lẫn số người các tội cướp giật, ăn cắp. Số người Việt ăn cắp bị bắt giữ là 1,745 trong tổng số 6,716 người nước ngoài bị bắt. Trong các trường hợp ăn cắp do người Việt Nam thực hiện thì số vụ ăn cắp ở cửa hàng, siêu thị đặc biệt cao với 1,437 vụ, người sang Nhật học nghề chiếm 12.9%. với phần lớn tỉ lệ là du học sinh với 54.2%, tăng 1.8 lần! Những bản thông báo còn hơn chửi người Việt
Bạn đã thấy tình trạng người Việt Nam ăn cắp đồ tại Nhật lại có xu hướng gia tăng. Điều đó khiến cho hình ảnh người Việt càng thêm xấu xí trong mắt các bạn nước ngoài.
Cách đây không lâu, sáu người Việt (gồm cả nam và nữ) ăn cắp quần áo hiệu Uniqlo bị cơ quan chức năng Nhật Bản bắt giữ. Nhóm người này đã hơn 100 lần thực hiện hành vi trộm đồ. Khi điều tra về tài khoản của một phụ nữ trong nhóm, cảnh sát phát hiện nhiều giao dịch hàng hóa trị giá tới 10 triệu Yen (hơn $82,000 Mỹ kim). Họ trộm đồ từ nhiều cửa hàng ở những khu vực khác nhau và bán hàng thông qua các trang mạng xã hội.
Hẳn bạn chưa quên mới đây hình ảnh những phi công và tiếp viên Hàng Không VN buôn lậu đồ ăn cắp được nêu tên trên báo. Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang Đặng Xuân Hợp, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về Việt Nam. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Khi bị bắt phi công Đặng Xuân Hợp xấu hổ quá tự cởi áo, che mặt tránh ống kính của báo giới Nhật khi bị bắt giữ tại phi trường Fukuoka.
Theo tin mới nhất, ngày 18-5 vừa qua tại phiên tòa xét xử hai nhân viên của hãng hàng không Vietnam Airlines mang 6 kg vàng nhưng không khai báo, công tố viên Nam Hàn đã đưa ra bản án 24 tháng tù giam đối với cơ trưởng Nguyễn Văn Dũng và 12 tháng tù giam đối với tiếp viên Nguyễn Tuấn Phong.
Ngay cả một cô dẫn chương trình của Đài Truyền Hình VN, con một ông Tổng Giám Đốc thừa mứa tiền bạc cũng mắc chứng ăn cắp vặt. Một lần ở Thụy Điển và một lần ở Anh, Đại sứ quán VN phải can thiệp và cả hai lần bố cô phải gửi sang tờ giấy của bác sỹ chứng nhận bệnh tâm thần đưa ra sử dụng cô mới được thả. Câu chuyện từ năm 2001 và 2006, chuyện đã xa, giờ này chắc cô đã có tuổi và yên ấm bên chồng con nên tôi không muốn ghi rõ tên họ.
Thế nên ở nhiều nhà hàng cửa hiệu của Nhật đã dán những thông báo vô cùng nhục nhã đối với người Việt.
Bạn Kim Mạnh Hiệp (26 tuổi) – cựu du học sinh Đại học Tokyo Agriculture and Technology University, Nhật Bản cho biết, “Hiện tại, mình được biết có một vài công ty đã… cấm tuyển người Việt Nam. Một số video được các công ty này công bố có ghi lại hình ảnh người Việt ăn trộm sản phẩm. Rồi có cả những biển tiếng Việt cấm ăn vụng, uống vụng đồ trong nhà bếp để cảnh báo những bạn trẻ Việt làm trong nhà hàng Nhật nữa. Chưa kể, gần đây có một số vụ ăn cắp đồ trong siêu thị, hay bắt trộm dê của người dân, mà đài truyền hình NHK (Nhật) đã có phóng sự riêng dài hơn 20 phút.” Ngoài ra còn tấm bảng để ngay cửa ghi rõ tiếng Việt, “Tuyệt đối không được lấy ô và giầy của người khác để dùng.”
Và chắc còn nhiều nữa mà chúng ta chưa biết hết. Nếu bạn có dịp đi du lịch sang Nhật chắc bạn không dám nhận mình là người Việt Nam. Còn rất nhiều chuyện đáng nói về vấn đề này, nhưng ở đây tôi chỉ chú trọng đến vấn đề chung mới đây của cả các du học sinh và tu nghiệp sinh.

Bản thông báo mới của văn phòng trường Nhật ngữ viện nghiên cứu Tokyo

Ngày vừa qua, một bản thông báo mang tên “Thông báo đến học sinh Việt Nam về việc ăn cắp vặt” được chia sẻ trên nhiều diễn đàn giới trẻ. Theo thông báo này, văn phòng trường Nhật ngữ viện nghiên cứu Tokyo, Nhật Bản cho biết:
“Hiện nay nhiều sinh viên Việt Nam đang sinh sống tại Nhật bị cảnh sát bắt vì tội ăn cắp, bỏ trốn và không đến trường làm nhà trường rất lo lắng.
“Ở các siêu thị hoặc cửa hàng thuốc tây ở Nhật đều có camera giám sát hoặc nhân viên giám sát ăn cắp vặt.
“Gần đây, được biết có một tổ chức tội phạm liên lạc với những sinh viên đang du học tại Nhật như thế này, Hãy đi đến tiệm có bán những sản phẩm, ăn cắp rồi đưa cho người Nhật. Nếu làm vậy nợ nần ở Nhật sẽ được trả bớt.
“Khi bị bắt vì tội ăn cắp sẽ bị đưa vào tù và đưa trả về Việt Nam (cưỡng chế về nước). Trên thực tế những trường hợp như thế này đang gia tăng.
“Mặt khác, nếu bỏ trốn không đến trường thì:
“Xem như trở thành cư trú bất hợp pháp. Sinh viên nào không đến trường, nhà trường xem như sinh viên đó nghỉ học và thông báo đến Cục quản lý xuất nhập cảnh Tokyo. Nếu như thế cho dù còn thời hạn cư trú nhưng vẫn bị cảnh sát bắt.
“Về hành vi ăn cắp, nếu không đến trường, bỏ trốn thì khi đang làm việc bị cảnh sát bắt được sẽ bị trả về nước và vĩnh viễn không được đến Nhật vì hành vi của bạn đã được lưu lại.
“Nhà trường hiểu rằng các bạn sinh viên có nhiều vất vả nhưng các sinh viên đến đây với mục đích là du học sinh thì hãy cố gắng học tập tốt. Khi các bạn giỏi tiếng Nhật thì các bạn sẽ tìm được công việc tốt cho mình và chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đến với mình.
“Khi các bạn có khó khăn gì, muốn trao đổi điều gì các sinh viên hãy đến văn phòng. Các sinh viên hãy cố gắng lên!.”

Nguyên nhân vì đâu

Bạn Nguyễn Hương Giang (24 tuổi, SV năm cuối trường Asia University, Nhật Bản) cho biết, “Theo mình, có hai nguyên nhân dẫn đến việc trộm cắp này. Thứ nhất, trước khi trở thành như vậy, các bạn ấy cũng chỉ là du học sinh bình thường nhưng do hoàn cảnh cơm áo gạo tiền nên nhẹ dạ cả tin vào những lời rót tiền như rót mật và bị các tổ chức tội phạm liên hệ, dụ dỗ thực hiện hành vi trộm cắp.”
Từ những câu chuyện, hình ảnh “tố” thói “trộm cắp vặt” của du học sinh Việt tại Nhật, Nguyễn Phượng – một bạn trẻ Việt 26 tuổi đang làm việc tại Nhật nói, “Theo mình, nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ chính cách giáo dục của người Việt, từ cách hành xử đời thường.”
Ngay cả các bạn trẻ cũng đã nhận thức được nguyên nhân xảy ra những hành động xấu xa đó chính là do tuổi trẻ đã có một thời gian quen sống trong một xã hội suy đồi đạo đức, con người đối với nhau chỉ là quyền lợi cá nhân. Trước mắt là những kẻ không cần làm gì vẫn có tiền rừng bạc bể khiến thiên hạ ngây ngất. Cứ thò tay ra là có tiền, đó là tiền hối lộ. Các cậu dù là du học sinh, dù là con ông cháu cha, dù là dân lao động đi học nghề, không ăn hối lộ được thì ăn cắp. Thói quen xấu ấy tiêm nhiễm vào huyết quản rồi, đã thành cái bệnh nan y. Khi nào các cha anh sống lương thiện cho các con cháu noi theo mới có lớp người tử tế được. Còn trong tình trạng suy đồi này thì vẫn sẽ còn những tờ thông báo dán trên tường các cửa hàng cửa hiệu trên đất Nhật. Chưa biết chừng nay mai còn có những tờ thông báo như thế này ở các nước khác nữa. Cẩn thận đề phòng đi là vừa.

Văn Quang,

22 tháng 5, 2015

Sợ

Sợ

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Con người ta suốt đời quanh quẩn trong một chữ “sợ.” Câu nói này không có gì là quá đáng, nếu bạn để ý quan sát trong nhóm người trung lưu, là thị dân ở chung quanh đây thôi.

Người phụ nữ sợ già, sợ xấu nên phải lui tới thẩm mỹ viện căng da, hút mỡ bụng, nâng ngực, sửa mũi, hay trang điểm, phấn son nhuộm tóc, mang lông mi giả, phun xăm lông mày, môi; sợ chồng chê nên phải “làm đẹp vùng kín…” Cũng có những người sống bằng những nỗi sợ của người khác là ông bác sĩ thẩm mỹ, những nhà trang điểm hay cả người thợ nhuộm tóc.

Sinh ra làm người, ai cũng sợ đói khát, sợ nghèo nàn, sợ chiến tranh, sợ chết chóc, sợ chia lìa. Có ai cho mình là người hoàn toàn không biết sợ. Với cảm giác thì sợ lạnh, sợ nóng, sợ đắng, sợ chua. Với vật thể thì có người sợ rắn, sợ gián, sợ giun, sợ…vợ, với tình cảm thì sợ buồn, sợ khổ. Người ngay thẳng thì sợ lưu manh, lường gạt, kẻ gian tà thường sợ cảnh sát, quan tòa và nhà tù. Trong xã hội bất an thì sợ tù đày, giam cầm, bắt bớ. Lo cho tấm thân thì phải biết sợ để kiêng cữ ăn uống, luyện tập cơ thể; sợ miệng tiếng mang họa thì giữ ý, nhịn lời; sợ người ta chà đạp đến danh dự của mình và cả của gia tộc thì phải biết giữ gìn nhân cách.

Sự sợ hãi lớn lao nhất là sự sợ hãi trước quyền lực. Bạo quyền thường tạo sự sợ hãi để khuất phục quần chúng, đã dùng roi điện, dùi cui, cùm kẹp, lưỡi lê, súng ống, nhà tù và cả xe thiết giáp như chiến xa Liên Xô vào Budapest năm 1956 hay của Trung Quốc dàn trận tại Thiên An Môn năm 1989.

Trong một xã hội độc tài sắt máu, chỉ những người không biết sợ mới trở nên anh hùng. Họ đối diện với sự đàn áp, trả thù, đánh đập và tù đày. Họ là những người như Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vi, Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang… sống dưới chế độ Cộng Sản mà dám thách thức đấu tranh trực diện với chính quyền có đủ quyền lực trong tay.

Trong khi chúng ta, những người đang sống trên mảnh đất tự do, được pháp luật bảo vệ, không ai dò xét, đàn áp mà lại sợ hãi, ngay cả những người vỗ ngực mang tiếng đấu tranh cho những người trong nước, đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền.

Những buổi giới thiệu tác phẩm của một tác giả bình thường của hải ngoại, một tác giả chống Cộng, lại thường được chặn đường bằng những người mang danh chống Cộng. Tác giả vinh danh lá cờ vàng của tổ quốc ở trong hội trường, có đông đủ cử tọa, những người đã đóng góp công sức, xương máu và những năm tháng tù đày cho tổ quốc, thì bên ngoài cũng có những người mang lá cờ cùng màu sắc với bên trong, đang la ó, kêu gào chửi rủa, chỉ với một lý do: Họ đả đảo cái địa điểm tổ chức.

Họ dùng lá cờ và những lời mạ lỵ để hăm dọa, cản bước những người muốn đến tham dự một sinh hoạt văn học của một người quốc gia chân chính. Và chính vì lý do này, nhiều người đã …sợ.

Một ban nhạc có tiếng đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền từ nhiều năm qua, kể cả những người trong cuộc đã từng là nạn nhân của chế độ trả thù của Cộng Sản trong nước, đã chùn chân vì một lời nhắn qua của một người vô danh, đứng trong bóng tối, không biết tên, biết họ, ném đá giấu tay. Chúng hăm dọa nếu ban nhạc này đến đây, sẽ có biểu tình lớn.

Cuối cùng là… buổi sinh hoạt có tính cách văn học, nói lên tội ác Việt Cộng này không có cái ban nhạc như đã ghi trong chương trình và trong thư mời độc giả, vì người chủ trì ban nhạc …sợ! Và chỉ vì sợ một lần, chúng ta sẽ phải sợ mãi mãi, và những người hăm dọa trở thành những người đắc thắng như thực sự họ có quyền lực vậy.

Buổi sinh hoạt giới thiệu tác phẩm mới này, cuối cùng cũng quy tụ được những người, có lẽ là những người… không biết sợ. Cuộc biểu tình theo lời hăm dọa không lớn lắm, nếu thời còn bé chúng ta bắt đầu dùng 10 ngón tay của mình để tập đếm trong giờ toán học đầu tiên của mình.

Cũng có nhiều người là cấp chỉ huy một thời oanh liệt, đụng trận đối đầu với cả một trung đoàn Cộng Sản xâm lược, đã nhiều lần mang thương tích ngoài mặt trận, không hề sợ Việt Cộng vì chuyên săn lùng và giết Việt Cộng, đã chùn bước vì sợ một lời kêu… “đả đảo” vô nghĩa của một người vô danh. Những người này đã nhân danh lá cờ chính nghĩa của chúng ta để áp lực, hăm dọa những người không làm theo và dám trái ý họ.

Nhiều người cho rằng “tránh voi không xấu mặt,” nhưng càng tránh, người ta càng lấn tới, càng tránh người ta tưởng rằng họ có chính nghĩa, chính nghĩa đó có nghĩa là bắt người khác phải theo mình, ai không giống tôi, họ là kẻ thù của tôi!

Chúng ta thông cảm và hiểu nỗi áp bức của những người trong nước, đang sống dưới chế độ công an trị, phải “giả dại qua ải,” chính Nguyễn Tuân xác nhận, ông gìn giữ được suốt đời là “nhờ biết … sợ,” vậy mà cũng phải ở tù 10 năm. Nhưng chúng ta đang sống trên đất tự do, không ai có quyền dọa nạt, uy hiếp, khủng bố bằng cách gọi điện thoại, hăm he hay tập họp để la lối, xỉa xói vào mặt người khác vì những lý do rất buồn cười, khó chấp nhận. Và, vì có người sợ, nên họ tiếp tục ngang nhiên sách nhiễu người khác.

Nếu ở đây, trong cái “ghetto” với những thế lực vô minh, chỉ dùng những lời hù dọa đã làm cho chúng ta lo sợ, như sợ những bóng ma mà chịu cúi mình, thì ở trong nước ai vào tù, ra khám, tranh đấu cho điều mà chúng ta thường gọi là tự do, dân chủ và nhân quyền?

Như vậy chúng ta còn dám tranh đấu cho ai hay nhân danh ai mà tranh đấu?

Bàn Tay Nào Sắp Xếp Cho Thiện Thắng ÁC?

Bàn Tay Nào Sp Xếp Cho Thin Thng ÁC?

Le Nguyen

Liên minh thế giới tự do dân chủ gồm các nước tư bản giẫy hòai không chết do Hoa Kỳ lãnh đạo đã kết thúc hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng con đường hòa bình, không kinh qua giải pháp đối đầu quân sự, một mất một còn thật ngoạn mục – như loài người đã thấy cái cách cộng sản chủ nghĩa sụp đổ. Do đó, việc kết thúc các chế độ cộng sản, dọn dẹp vài ba xác chết cộng sản còn sót lại không nhanh gọn như mong muốn nhưng nó cũng sẽ diễn ra…chắc chắn sẽ diễn ra cùng kịch bản, cùng với cung cách kết thúc nhẹ nhàng, êm đẹp như nó từng diễn ra ở thế kỷ trước. Thời đó lúc đế chế cộng sản hùng mạnh, mọi người bình thường ai cũng đều có suy nghĩ đánh sập hệ thống phi nhân, phá vỡ thành trì nhà nước xã hội chủ nghĩa là không thể, là nhiệm vụ bất khả thi nhưng nó đã diễn ra như phép lạ, đúng với nguyên tắc, quy luật tự nhiên của thiện thắng ác, chính nghĩa cuối cùng cũng sẽ thắng gian tà.

Những năm đầu của thập niên 90S của thế kỷ trước, các nước xã hội chủ nghĩa thi nhau sụp đổ hàng loạt, lan đến tận thành trì Xô Viết, cái nôi sản sinh ra hệ thống độc tài tòan trị xã hội chủ nghĩa và những nước cộng sản chưa sụp đổ, còn trụ lại trong đó có Trung Cộng. Thật ra trước đó, Trung Cộng đã manh nha làm theo ý tưởng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng miễn là bắt được chuột” để cứu nguy nhà nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc đang chìm sâu trong lạc hậu, chậm tiến, đóí nghèo. Vì thế khi đứng trước tình thế nguy ngập của mô hình tổ chức xã hội chủ nghĩa, Trung Cộng vội vã chuyển đổi mô hình kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường theo tư bản chủ nghĩa với tên gọi xã hội chủ nghĩa mang màu sắc trung Quốc, nghĩa là làm kinh tế theo kinh tế thị trường như tư bản nhưng vẫn ôm chặt độc quyền lãnh đạo chính trị.

Trước tín hiệu thay đổi để cứu nguy chế độ của Trung Cộng, thế giới tự do hào hiệp mở cửa giao thương, làm ăn buôn bán trong tinh thần sống chung hòa bình, đôi bên cùng có lợi, với thiện chí giúp nhà nước Trung Cộng, giúp người dân Trung Hoa có đời sống sung túc, tạo ra số đông trung lưu tiếp cận nếp sống tự do, dân chủ văn minh làm động lực tác động, chuyển đổi thể chế độc tài sang dân chủ như quy luật phát triển tự nhiên của loài người có khuynh hướng hướng thiện, hướng về cái đẹp, về đời sống tốt đẹp hơn.

Thế nhưng khi Trung Quốc ăn nên làm ra, đời sống người dân có khá hơn, giàu có hơn và thành phần giàu có, thành phần trung lưu đã đủ sức làm cuộc thay đổi đất nước Trung Quốc nhưng lãnh đạo nhà nước Trung Cộng không dịch chuyển đồng bộ, không thực hiện tiến bộ về hướng tốt hơn theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử xã hội loài người đã diễn ra trong quá khứ.

Thế giới dân chủ, tự do đã lầm lẫn, đã dự đóan sai về nhà nước cộng sản Trung Quốc bởi Trung Cộng giống như Việt Cộng là một nhà nước không giống ai nên nó đã không diễn ra, không chuyển đổi mô hình tổ chức về hướng tiến bộ, tốt đẹp hơn theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử phát triển tổ chức bộ máy cai trị như xã hội loài người vốn có.

Có lẽ mọi người đều thấy cái không giống ai của Trung Cộng là khi giàu có, tiền bạc rủng rỉnh dư ăn dư để thì lộ ra bản chất nhà nước lưu manh, bá quyền qua việc tập trung ngân sách vào quốc phòng, là mua lẫn nghiên cứu, chế tạo vũ khí “khủng” hiện đại hóa quân đội và sử dụng sức mạnh kinh tế, quân sự khống chế, lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước nhỏ yếu chung quanh. Cũng như việc Trung Cộng không thể hiện là một nước lớn có trách nhiệm với nền hòa bình của thế giới mà còn tạo thêm bất ổn qua việc chủ động thay đổi hiện trạng vô nguyên tắc, tự ấn định đường biên giới trái với luật pháp quốc tế, tự vẽ lại đường biên giới luật định của các nước có chung đường biên giới đã được thế giới công nhận, thừa nhận!

Sự vô trách nhiệm không giống ai hay nói cách khác là tham vọng bá quyền không chỉ tồn tại trong tư duy của các lãnh đạo đảng nhà nước Trung Cộng mà tư duy không giống ai này còn hiện hữu trong giới trí thức, giới trung lưu trong xã hội Trung Quốc, là thành phần chủ lực, nồng cốt cho mọi cuộc thay đổi xã hội, kinh tế…kể cả thay đổi chế độ nhưng họ vẫn bình chân như vại, sống chết mặc ai và sự vô cảm, vô trách nhiệm của thành phần này hiển lộ qua các hình thái sau:

Thứ nhất là thành phần trí thức, trung lưu làm giàu qua việc đi tắt đón đầu cơ hội làm ăn với thế giới tư bản và nhờ vào môi trường giao tiếp nên biết khá rõ ưu, khuyết điểm của mô hình tự do trong các nhà nước dân chủ so với mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Đứng trước việc xấu, việc chưa tốt đó những công dân có trách nhiệm, nhất là giới trung lưu trí thức trong các nhà nước dân chủ, không phải là tất cả nhưng vẫn không hiếm người lên tiếng đấu tranh vì sự công bằng cho xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng với công dân có ưu thế như giới trí thức, doanh gia trung lưu, cả đại gia trong nước Trung Cộng, họ không đấu tranh vì xã hội công bằng, vì một đất nước tốt đẹp hơn mà luôn trong tư thế tháo chạy với tài sản kiếm được trên lưng người dân kém may mắn để xây dựng tương lai ở các nước tư bản giẫy chết, vì họ biết chắc đời sống ở đó tốt đẹp vạn lần hơn ở nước Trung Hoa cộng sản.

Thứ hai là lớp trẻ thuộc thành phần con ông cháu cha trong giới lãnh đạo cộng sản đi du học bằng học bổng trong các chương trình viện trợ hoặc tự túc ở các nước dân chủ văn minh. Thành phần du học được thế giới dân chủ tây phương kỳ vọng là những hạt nhân, là động lực cho cuộc chuyển đổi độc tài sang dân chủ qua nhiều thập kỷ đã không diễn ra như lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Dự đoán trên lý thuyết, sách vở của các lý thuyết gia tây phương đã không xảy ra với Trung Cộng, Việt Cộng bởi thành phần con ông cháu cha được ra ngoài học hỏi tổ chức khoa học của loài người văn minh tiến bộ, không góp phần tác động lên chế độ làm cuộc thay đổi mà lại sử dụng sở học, kiến thức củng cố chế độ thế tập “cha truyền con nối”, phát triển độc tài toàn trị tinh vi, độc đoán, rùng rợn hơn như mọi người thấy trong chế độ độc tài toàn trị Trung Cộng và Việt Cộng.

Nhiều thập kỷ phát triển liên tục đều đặn với những thành công nhất định về kinh tế của Trung Cộng nhờ giao thương buôn bán với các nước dân chủ giàu mạnh và tích lủy, thặng dư được nhiều ngàn tỷ đô la trong ngân hàng dự trữ trung ương, cùng với kim ngạch tổng sản lượng quốc gia (GDP) vượt mức 10 ngàn tỷ Mỹ kim tiến lên đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ khiến cho nhiều nước trong giai đọan phát triển thèm thuồng, mơ ước.

Thành công bề ngoài của Trung Cộng tạo ra ảo tưởng mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc là mô hình nhà nước lãnh đạo kinh tế xã hội hiệu quả, là mẫu mực của thế giới thời đương đại, thậm chí là còn vượt qua được khủng hoảng chu kỳ như các nước tư bản đã từng gặp phải?

Với những thành quả trên “bề nổi” của Trung Cộng đạt được trong nhiều thập kỷ thực hiện mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc khiến cho không ít bình luận gia, chuyên gia phân tích bình luận thời cuộc tiên đóan với đà phát triển, tăng trưởng đều đặn và mạnh tay bỏ vốn đầu tư vào công nghệ quốc phòng, không bao lâu nữa Trung Cộng sẽ vượt mặt siêu cường Hoa Kỳ để trở thành cường quốc số một thế giới trong tương lai?

Phải công nhận thành quả đạt được của Trung Cộng ngày nay là có sự hào phóng của các nước dân chủ văn minh, giàu mạnh góp phần và đến khi có vốn rủng rỉnh trong túi thì lãnh đạo nhà nước Trung Cộng không bày tỏ thiện chí sống chung hòa bình, chuyển đổi thể chế lại tỏ rõ ý đồ xấu như: trong nước thì tăng cường khủng bố những nhà bất đồng chính kiến, xiết chặt kiểm soát các tôn giáo ngoài nhà nước, ra tay đàn áp các dân tộc thiểu số đòi nới rộng tự do cho ngưòi dân của họ…; bên ngoài thì biểu dương lực lượng gây hấn, áp đặt chủ quyền trên biển Hoa Đông, Biển Đông, vẽ lại đường biên giới trên đất liền đã được xác lập, có quốc tế công nhận và sử dụng ưu thế kinh tế, quân sự, chính trị của nước lớn, chi phối công việc nội bộ của các nước nhỏ…

Trước sự hung hăng, tàn bạo của nhà nước côn đồ Trung Cộng trong đối nội lẫn đối ngoại khiến cho dư luận bất bình dẫn đến việc nghi ngờ thiện chí của các nước dân chủ đề cao giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền mà không có hành động kinh tế, quân sự cụ thể để trừng phạt hành động rừng rú vi phạm nhân phẩm, nhân quyền của nhà nước du côn Trung Cộng thì việc dọn dẹp tàn dư cộng sản không tiếng súng, không cần đến giải pháp quân sự là đều không thể và không ai tin là nó sẽ diễn ra!

Tuy nhiên, nếu bình tĩnh quan sát những diễn biến xảy ra gần đây liên quan đến Trung Cộng thì việc kết thúc độc tài Trung Cộng cũng chính là chấm dứt các chế độ cộng sản còn sót lại trong hòa bình, là có cơ sở bởi các nguyên nhân, yếu tố thuận lợi lẫn không thuận lợi như sau:

Một là rút kinh nghiệm từ việc hàng triệu người Việt Nam chạy nạn cộng sản lúc Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, thật sự đã là gánh nặng cho các nước dân chủ. Thử tưởng tượng nếu các nước dân chủ manh động, bất chấp luật pháp quốc tế, trang bị vũ khí cho lực lượng chống đối đấu tranh lật đổ độc tài Trung Cộng và Trung Cộng có chuyện gì không dám làm, chúng tương kế tựu kế ra tay tàn sát, tạo cớ đẩy vài chục triệu người xuống biển thì thế giới này sẽ ra sao?

Hai là những tài sản, của cải vật chất của các tham quan cộng sản ăn cắp, ăn cướp được đều chảy vào các nước tư bản giẫy chết. Thế thì cần gì phải vội kết thúc tàn dư cộng sản khi độc tài cộng sản còn sinh lợi cho họ trong lúc thời cơ chưa chín mùi, chưa đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà thuận lợi để xóa sổ cộng sản?

Ba là thế giới tự do dân chủ chưa dốc toàn lực, chỉ ngấm ngầm hỗ trợ nhỏ giọt nuôi sống các lực lượng đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền bởi phong trào dân chủ Trung Quốc có những hạn chế nhất định vì người dân Trung Hoa không rơi vào tâm thế bức bối “tự do hay là chết” và không nằm trong vị thế chông chênh không còn chỗ để lùi khi dấn thân vào con đường đấu tranh dân chủ cho tổ quốc của họ.

Bốn là hiệp ước dẫn độ tội phạm xuyên quốc gia của Trung Cộng với cảnh sát quốc tế (Interpol) đang thu hẹp khoảng trống cho tội phạm, nhất là quan chức đảng viên cộng sản xóa bỏ tư duy hạ cánh an toàn trên các nước tư bản sau khi phạm tội tham nhũng, hối lộ và trong số 100 tham quan Trung Cộng đang bị truy nã trên toàn thế giới, đã có gần phân nửa sa lưới bị dẫn độ về Trung Quốc cũng ít nhiều tác động lên tư duy “hạ cánh an toàn” đã không còn an toàn của những tên quan tham.

Năm là tranh chấp trên biển Hoa Đông với Nhật và áp đặt 80% chủ quyền tùy tiện trên Biển Đông, buộc lực lượng hải quân hùng hậu của Trung Cộng phải hiện diện, trực chiến thường trực và hải quân Trung Cộng vô tình trở thành nút chặn các lực lượng đấu tranh dân chủ lẫn người dân bị đàn áp tháo chạy chạy xuống biển vượt thoát tìm tự do khi biến động xảy ra và các biên giới đường bộ hiểm trở cùng với nhiều hiểm nguy bất tiện cho vượt biên đường bộ tìm tự do, buộc họ phải ở lại chiến đấu tới cùng.

Sáu là việc Trung Cộng công khai khối nợ khổng lồ 28 ngàn 200 tỷ Mỹ kim, tương đương với 282% tổng sản lượng của Trung Cộng (GDP). Thực tế đó giúp cho các nước cộng sản còn sót lại thôi ảo tưởng về mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, là mô hình phát triển lý tưởng và nợ khủng của Trung Quốc kết hợp với các mâu thuẩn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, giàu nghèo…tiềm ẩn trong lòng chế độ tạo thành ngòi nổ, có khả năng tác động làm sụp đổ chế độ độc tài toàn trị Trung Cộng không tiếng súng.

Với những diễn biến trong nội tình Trung Cộng hiện nay, không khó để thấy việc kết thúc chế độ cộng sản Trung Hoa cũng là việc chấm dứt tàn dư cộng sản đã đến gần. Điều thuận lợi đang diễn ra cho thời điểm này và thời gian sắp tới để kết liễu các chế độ cộng sản còn sót lại không cần sử dụng đến siêu vũ khí chiến tranh của các siêu cường. Nhân tố chính để kết thúc Trung Cộng là lực lượng đấu tranh lãnh đạo nhân dân Trung Hoa đang tiến gần đến chỗ “tự do hay là chết” và con đường để lùi của người dân trung hoa đã bị nhà cầm quyền Trung Cộng “vô tình” dần khép lại cũng là một trong nhiều nguyên nhân, động lực làm cho chế độ sụp đổ, vỡ ra từng mảng nhỏ.

Những chuyển biến đang diễn ra hiện nay rất thuận lợi để kết thúc các tàn dư cộng sản còn sót lại và những điều thuận lợi này, không hẳn do các bộ óc thông minh, thánh thiện của con người xếp đặt(?) Có thể nó diễn ra do bàn tay vô hình của đấng tối cao sắp xếp theo quy luật tự nhiên: “…thiện thắng ác…chính nghĩa thắng gian tà…”

Mười điều răn của đời sống cộng đoàn

Mười điều răn của đời sống cộng đoàn

Một: Không phàn nàn lẫn nhau. Mỗi người là quà tặng, là biểu lộ tình yêu và chăm sóc của Chúa cho nhau. Tạ ơn Cha trên trời vì đã qui tụ chúng ta lại với nhau.

Hai: Đừng quên rằng mỗi người là một dụ ngôn tình yêu và hiệp thông của Chúa Thánh Thần, để làm cho con đường dẫn tới đức tin được dễ dàng hơn cho những ai chưa biết Chúa Giêsu Kitô (chiều kích truyền giáo).

Ba: Hãy sẵn sàng từ bỏ chính mình, chấp nhận thánh giá, và vác đỡ thánh giá cho nhau, bởi vì một cộng đoàn đích thực chắc chắn có khả năng từ bỏ và chết đi cho chính mình (chiều kích khổ chế).

Bốn: Cộng đoàn vệ tinh sở tại không phải là cộng đoàn duy nhất. Mỗi thành viên đều sống thuộc về Hội Dòng (Nhà Mẹ) và luôn luôn ở trong Hội Dòng, ra khỏi nhà nhưng không bao giờ ra khỏi cộng đoàn. Mỗi người sẽ sẵn sàng để được sai đến bất cứ nhà nào của Hội Dòng hay đảm trách bất cứ sứ vụ nào Hội Dòng trao cho.

Năm: Một cộng đoàn cầu nguyện chung với nhau sẽ luôn ở lại gắn bó cùng nhau. Hãy làm cho cộng đoàn sống như “cô dâu” đích thực và luôn cầu nguyện trong sự kết hiệp mật thiết với “Chú Rể Giêsu”. Hãy làm cho cộng đoàn trở nên phản ánh đẹp đẽ của Giáo Hội cầu nguyện, cảm thấy buồn lòng vì sự vắng mặt của một thành viên nào khỏi giờ cầu nguyện của cộng đoàn, và đừng quên cầu nguyện cho người anh em vắng mặt ấy.

Sáu: Nếu là con cái của Cha trên trời, chúng ta đừng sống như những người nô lệ, trái lại phải sống với tự do của những con người của Thiên Chúa và là anh em của nhau. Không một ai có quyền bẻ gãy tình huynh đệ nền tảng ấy. Trong cộng đoàn, mỗi người nên được tự do nói và bộc lộ đúng như mình suy nghĩ. Dĩ nhiên lời nói cuối cùng và quyết định tối hậu phải thuộc về Bề Trên. Điều đó sẽ dẫn đến vâng lời đối thoại và trưởng thành trong mối hiệp thông cộng đoàn. Người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp.

Bảy: Tất cả phải tham dự vào việc quản trị cộng đoàn, chứ không phải chỉ một vài thành viên lấy mọi quyết định thay cho cả cộng đoàn. Mỗi người đều có quyền nói lên ý nghĩ và quan điểm của mình trong sự tôn trọng lẫn nhau vì ích lợi chung của cộng đoàn. Hãy thực thi tự do của con cái và ngôn sứ của Chúa, cả khi việc đó có thể làm cho bản thân phải đau khổ, miễn là nó làm gia tăng sự hiệp thông huynh đệ và phát triển cộng đoàn.

Tám: Đừng bỏ quên người nghèo, hãy mở rộng cửa nhà đón họ, biến họ thành những vị khách được ưu đãi của cộng đoàn, hãy dành cho họ một chỗ trong nhà, một chỗ nơi bàn ăn của chúng ta. Chúa Giêsu đến viếng thăm chúng ta qua họ. Chớ để bao giờ phải chịu đựng nỗi bối rối vì đã xua đuổi Chúa ẩn mình nơi người cùng khổ.

Chín: Hãy là một cộng đoàn gần gũi với dân chúng. Thường xuyên đối thoại với họ bằng cuộc sống và hành động, như Chúa Giêsu đã từng làm và ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh việc đi ra gặp gỡ. Tuy nhiên, đừng đánh mất căn tính của chúng ta khiến người ta khó chịu: “Tu gì vậy mà tu?” Hãy hòa đồng chứ không đồng hóa: Dân chúng cần đến chúng ta trong tư cách chúng ta là tu sĩ.

Mười: Hãy là một cộng đoàn vừa ở trong nhà vừa ở ngoài sứ vụ, vì cuộc sống chúng ta vừa chiêm niệm vừa hoạt động, vừa xuất thế vừa nhập thế. Hãy tránh mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa để khỏi đánh mất những đặc tính tối ưu của tinh thần hiệp thông. Đối với một tu sĩ, một việc nhỏ mọn được thực hiện trong tinh thần hiệp thông có giá trị và ý nghĩa hơn một kế hoạch lớn lao với tinh thần cá nhân chủ nghĩa. Hiệp nhất trong sứ vụ là một dấu hiệu hùng hồn của Nước Chúa. Hãy sống tinh thần Hội Dòng là một đại gia đình gồm nhiều thế hệ, luôn biết đón nhận nhau, yêu thương tha thứ, quên bỏ lỗi lầm và xây dựng cho nhau: “Dập dìu kẻ trước người sau, sức riêng một ít góp vào lợi chung”.

With Prayers and Have A Blessed Day.

Fr. Quang Minh Dong

Our Lady

Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng,

“Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng”,
Tóc chưa xanh một lần nhưng tim nghe đã thương thân.
Trong cơn gọi hồn đời nghe xa xôi lắm.
Gót chân đi chưa mòn đường tình nay đã phai dần.

(Lê Hựu Hà – Phiên Khúc Mùa Đông)

(Ga 11: 36/Mt 27: 3-5)

Trần Ngọc Mười Hai

Quan tài buồn? Đã như thế, sao Elvis Phương lại hát: “Hồn nghe thêm trống vắng”? Hát rồi, anh còn thêm lời buồn của tác giả, những là: “Gót chân đi chưa mòn đường tình, nay đã phai dần”.

Vâng. Có thể là như thế. Như thế, tức là bạn và tôi, ta đã đồng ý với ca-từ cùng ý-tứ của người viết lời và nhạc, rất Lê Hựu Hà! Như thế, lại có thể là bạn hoặc tôi, ta chưa nghe câu nào khác, cũng nói về “quan tài buồn”, như câu: “Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ!” Bần đạo đây, cũng không biết câu nào có trước câu nào sau.

Nhưng, có câu nói “trại” mà bần đạo cứ nói đi nói lại với bà chị ruột lâu nay vẫn sống ở Orange County, xứ Bông Kỳ rằng: “Chưa thấy Hoa Kỳ, chưa đổ lệ!” Tội nghiệp. Bà chị của bần đạo thuộc loại chân-phương thứ thiệt cứ tưởng người em rất hay chê Hoa kỳ của chị nên hơi buồn là vì có lần chị cứ hỏi bần-đạo rằng: có nhiều người từng đi đi/về về cũng khá nhiều, mà sao chẳng thấy ai “đổ lệ” hết vậy?

Chỉ đổ lệ xót thương cho thân phận bạn hiền của Đức Giêsu ở truyện Tân Ước cứ hiểu là: hễ thấy quan tài tức ngôi mộ của ai đó bạn bè người thân tự khắc sẽ đổ lệ hơn một lần trong đời, như sau:

“Thấy cô khóc,

và những người Do-thái đi với cô cũng khóc,

Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến.

Ngài hỏi:

“Các người để xác anh ấy ở đâu?”

Họ trả lời:

“Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giêsu liền khóc.

Người Do-thái mới nói:

“Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!”

(Ga 11: 36)

Đấy. Thấy chưa? Đức Giêsu, dù chưa thấy quan tài đựng xác Lazarô-bạn-hiền, nhưng Ngài vẫn “đổ lệ” mà khóc thương bạn. Có thể, Ngài cũng khóc và cũng thương, như ý/lời trong nhạc-bản ở bên trên, lại hát tiếp:

“Nước mắt ấy đã lau khô rồi.

Đôi môi ấy đã quen tiếng cười.

Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi.

Người tình cũ đã xa ta rồi.

Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.

Yêu đương biết nói sao cho vừa.

Cuộc tình đó để em vui đùa.

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Bần đạo đây, không mấy chắc người viết nhạc dạo ấy có nghe biết ý-từ “đổ lệ những khóc ròng” ở Tin Mừng chưa, nhưng lời lẽ anh viết không khác ý-từ của câu truyện, do mình viết.

Nhiều tác giả khác cũng nói về hiện-tượng “đổ lệ” của ai đó, khi nghe qua lời kể về tiếng khóc đã nghe thấy, dù chưa giáp mặt quan tài, hay “Bông kỳ” của bầy tôi đây, thế mới lạ. Lạ ở chỗ, như Tân Ước từng ghi-chú rất rõ, như sau:

“Bấy giờ, Giuđa, kẻ đã nộp Người,

thấy Người bị kết án thì hối hận.

Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói:

“Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.”

Nhưng họ đáp: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!”

Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ.”

(Mt 27: 3-5)

Thế nhưng, theo một số nhà chú-giải chuyên nghiên-cứu trình-thuật Tin Mừng lại cho là do cộng-đoàn mang tên Juđa Iscariốt được khai-quật vào năm 2006, đã biện-luận về ý-tứ của Lời Vàng ở trên theo cách khác:

“Lâu nay tôi vẫn ngờ-vực về tính-chất sử-học khi kể về trường-hợp Giuđa Iscariốt trong truyện Tân Ước như một kẻ “bội-phản”. Các ngờ-vực ở trên dựa vào 5 yếu-tố coi như nhu-liệu có thể định-vị được, đó là:

Thứ nhất, đọc Tân Ước nhiều lần cho thật kỹ, ta sẽ thấy rằng ký-ức về người đàn ông mang tên Giuđa hiện-diện trong nội-vi vòng-cung mật-thiết gồm các tông-đồ kề cận Đức Giêsu, lại không phải là quỉ dữ/ác thần và cũng không là kẻ bội-phản nào hết. Tin Mừng thứ tư do tác-giả Gioan ghi, đã qui-chiếu một vị tông-đồ mang tên Giuđa nào đó, chứ không phải Giuđa Iscariốt (đoạn 14 câu 22).

Còn trình-thuật do tác giả Luca ghi, thì trong danh-sách 12 tông-đồ, cộng thêm tên của ông Giuđa Iscariốt là một Giuđa nào khác được định-danh là bào-đệ của tông-đồ Giacôbê thôi (Lc 6: 16). Ông Giuđa này, thay cho ông Tađêo ghi ở danh-sách các tông-đồ do tác-giả Mác-cô thuật ở đoạn 3 câu 14-19; và tác-giả Mátthêu ghi ở đoạn 10 câu 2-4. Cộng thêm vào đó, lại cũng có thánh-thư mang danh-tánh của tác-giả Giuđa nào khác đã viết, lại được tín-hữu thời tiên-khởi đưa thêm vào bộ Tin Mừng ở Tân Ước.

Tác-giả sách này lại cũng mang tên Giuđê, tức cũng được định-vị một cách khác với danh-tánh của Giuđa; và thư này lại gọi ông là “người tôi-tớ của Đức Giêsu và bào-đệ Ngài là ông Giacôbê (Hậu)” (x. Tin Mừng Giuđê 1: 1) Như thế, tức là: các tín-hữu thời tiên-khởi cũng nhớ về một kẻ tin mang danh Giuđa hiện-diện trong nội-vi cung-vòng mật-thiết của Hội thánh vào thời đầu.

Điểm ngờ-vực thứ hai của chúng tôi, đến từ sự-thể bảo rằng: việc bội-phản Thầy mình, là do một thành-viên trong nhóm Mười Hai, nhưng lại không thấy ghi chép trong các cảo-bản do cộng-đoàn tín-hữu thời tiên-khởi cung-cấp. Danh-tánh của ông Giuđa, lần đầu tiên gặp thấy ở trình-thuật các tín-hữu của Đức Kitô do tác-giả Mác-cô được viết vào những năm đầu hồi thập-niên 80s sau Công nguyên.

Trước thời-kỳ này, ta còn có cộng-đoàn Phaolô được biết đến trong những năm tháng kéo dài từ thập-niên 50s đến năm 64, sau Công nguyên. Lại nữa, ta còn có Tin Mừng “Nguồn” với tên gọi là Quelle từng bị thất-truyền lại là nguồn-cội các trình-thuật mà hai tác-giả Mát-thêu và Luca đã rút ra từ đó rồi thêm vào các truyện kể ở trình thuật do tác-giả Mác-cô từng viết sớm hơn khi ấy.

Bản-văn truyện kể do tông-đồ Phaolô viết, ta lại thấy ý-niệm về sự “bội-phản” xuất-hiện trước cả khi Đức Giêsu bị đóng đinh và chỉ dùng như cung-cách định-vị năm tháng ngày-giờ cho bài mình viết chứ không ghi-chú nội dung chi-tiết chút gì hết. Cụm-từ ‘bội-phản’ được đề-cập trong Bữa Tiệc Ly do tông-đồ Phaolô kể, chỉ cốt để nói về chuyện khai-mạc bữa Tiệc Cuối Cùng mà thôi.

Tuy nhiên, khi ghi-chú như thế, tác-giả Phaolô lại đã đưa ra một tự-vựng từng được các dịch-giả bên tiếng Anh hồi thế kỷ thứ 7 sử-dụng và chuyển thành động-từ mang nghĩa “tạo- phản”, nhưng kỳ thực, ý của tông-đồ Phaolô chỉ muốn nói đến việc “chuyển-giao” chứ tuyệt-nhiên không mang mặc một nghĩa ‘tạo-phản’ hoặc ‘phản-tặc’ nào hết.

Cũng nên nhớ: trong toàn-bộ các cảo-bản do tông-đồ Phaolô viết, không thấy có bằng-chứng nào cho thấy rằng: ông từng biết rõ rằng: việc phản-bội ấy đã xảy ra, là do một thành-viên trong Nhóm 12 tông-đồ ra tay làm như thế. Tuy thế, bản dịch tiếng Anh khi viết các truyện kể thời sau đó lại đã chêm thêm ý-nghĩa của việc ‘giao-nộp’ vào trong đó.

Lý-do thứ ba khiến tôi ngờ-vực về tính-cách sử-học của truyện kể về ‘bội-phản’ này, là ở việc: tác-giả Mác-cô lại đã đưa vào trình-thuật do ông ghi, vào khoảng thời-gian từ năm 70 đến 75 sau Công nguyên, qua đó ông có nói rõ việc một người đồ-đệ lại đã nhúng bánh vào chung chén rượu của Đức Giêsu (Mc 14: 20).

Và rồi, tác-giả Mác-cô lại còn kể về việc ‘bội-phản’ này đã xảy ra vào giữa đêm hôm ở vườn Gethsêmani bằng một cái hôn-vào-má Ngài. Đây là lần cuối cùng, ta thấy tên của ông Giuđa được gọi là Iscariôt ở trình-thuật do tác-giả Mác-cô ghi lại.

Lý-do thứ tư khiến tôi ngờ-vực chuyện ‘bội-phản’ nói đây, được dàn-dựng theo cung-cách rất bi-ai/hoành-tráng vào giữa đêm hôm. Chuyện dàn-dựng, được lập nên theo cách rất gọn nhẹ đến độ các tác-giả Tin Mừng đều tin rằng đó là hành động đen tối nhất trong lịch-sử nhân-loại lại đã diễn ra giữa đêm tối đen như mực. Chuyện này trông giống như một nghi-thức phụng-tự nhiều hơn là sự-kiện lịch-sử.

Và lý-do khiến tôi ngờ tính-cách sử-học của bài viết, chính là tên tuổi của kẻ phản-bội được gọi là Giuđa, không là gì khác ngoài lối phát-âm bên tiếng Hy-Lạp của chữ Judah. Trong khi tên của kẻ phản-bội là tên ‘rất riêng’ tại đất nước của người Do-thái. Các lãnh-tụ đảng phái chính-thống ở nước này từng định-danh cho việc thờ-phượng do người Do-thái thực-hiện vào thời-điểm có các Tin Mừng được viết lên, về phong-trào Kitô-giáo ngày càng nổi lên quyết chống-đối mọi địch-thù của mình.

Xem thế thì, cách hay nhất để áp-đặt sự trách-móc/đổ tội cho cái chết của Đức Giêsu là trút-đổ tội này lên Do-thái-giáo ‘chính-thống’ bằng cách nối-kết việc đặt tên kẻ bội-phản với toàn-bộ đất nước Do-thái. Khi yếu-tố kết-hợp nỗ-lực đặc-biệt để miễn lỗi cho thực-dân người La Mã bằng cách mô-tả tính chân-thật của Quan Philatô bằng việc rửa tay sạch rồi nói: “Ta vô-can trong việc tắm máu người này”, thế là việc trách-móc/đổ lỗi đã được bãi bỏ.

Chính người La Mã mới là thủ-phạm giết Đức Kitô, nhưng mãi đến thập niên 80s sau Công nguyên, khi truyện-kể về Sự Thương Khó của Đức Giêsu được viết ra, thì các tác-giả Tin Mừng mới bị thúc-ép phải miễn-lỗi cho công-tố-viện người La Mã, là Quan Philatô và rồi đổ lỗi qui hết mọi tội  cho người Do-thái chính là dân-tộc giết Đức Chúa của mình. Và, đó cũng lại là lúc Giuđa bị gán cho là kẻ ‘bội-phản’ bị/được định-danh là một người trong nhóm Mười Hai từng là đối-tượng kéo dài hàng ngàn-năm sau này từ chủ-trương bài Do-thái qua hành-xử đầy tính bạo-lực bằng vào  việc giết-hại Nhân-vật trọng-đại ở Đạo Chúa.” (xem thêm Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture, HarperCollins Publishers tr. 199-204)

Lại cũng có một số học-giả chuyên-môn về Kinh Thánh lại đã xác-quyết rất không yếu mềm, rằng:

“Nhiều ngàn năm cho đến nay, các tín-hữu Đức Kitô đều vẽ lên chân-dung của Giuđa Iscariốt hệt như thể ác-thần/sự dữ đã nhập vào người ông. Lại nữa, do động-lực ghét ghen và/hoặc do Satan thúc-đẩy cách sao, ông vẫn bị coi là kẻ bội-phản, thứ người mà triết-gia Dante đặt vào tầng lớp chót cùng nằm dưới đáy hoả ngục.

Tuy nhiên, Tin Mừng của tác-giả Giuđa Iscariốt lại  cho thấy chính tông-đồ Giuđa Iscariốt mới là người cận-kề đáng tin cậy nhất trong nhóm Mười Hai. Bởi, ngang qua ông, Đức Giêsu lại đã bộc-lộ toàn-bộ huyền-nhiệm sâu-sắc nhất cho riêng ông; đồng thời, ông chính là người được Thầy Giêsu có tin-tưởng lắm mới nói trước về cuộc thống-khổ của Ngài sắp diễn ra…” (x. Elaine Pagels & Karen L. King, Reading Judas, The Gospel of Judas and the Shaping of Christianity, Penguin Book 2007 tr. 3-5tt)

Hôm nay, khi được nghe nghệ sĩ đồng thời là người viết nhạc dám hát lên những ca-từ đầy nước mắt này, bần đạo bầy tôi chỉ muốn khóc. Khóc, không vì thương quá bạn hiền của Đức Chúa là Lazarô hoặc tông-đồ Giuđa Iscariốt rất cận-kề Ngài là thế nhưng vẫn bị hiểu lầm, cho bằng còn nhiều người vẫn cứ hát và nói những tiếng giọng ỉ ôi, ôi thôi là sầu buồn.

Đời mình và đời người, quả thật vẫn có các sự/việc rất đáng khóc, nhưng sao vẫn không khóc được mà chỉ hát lên có ba lời trần tình, như sau:

“Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.

Yêu đương biết nói sao cho vừa.

Cuộc tình đó để em vui đùa.

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cũng đừng suy-tư nhiều quá để rồi lạ sẽ khóc; mà hãy cùng nhau đi vào vùng trời “truyện kể” rất dễ nể ngõ hầu nay mai mình sẽ không còn khóc nữa mà chỉ suy-tư nhiều về các sự-kiện tuy dễ-khóc nhưng không buồn, như sau:

“Con người sợ những cái gì mập mờ, không rõ ràng. Khi gặp những cái không biết rõ, họ thường hay tưởng tượng, mà xu hướng thường là nghĩ đến những cái đáng sợ nhất.
Cũng có thể do bản năng tự vệ của con người, họ nghĩ ra như vậy để cảnh báo bản thân trước mối nguy hiểm nào đó.

Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lửng đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm…có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.

Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết, hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.

Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.

Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.
Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.

Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm âm u, là hư vô, tĩnh lặng. Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm.

Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cho khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất..

Nhà chánh trị Benjamin Franklin (1706-1790) có nói một câu để đời: «Trên cõi đời nầy có hai việc không thể tránh khỏi được, đó là cái chết và thuế má.»

Nhận-định thế rồi, người kể hôm nay, lại nói tiếp đôi điều rất “vô thường” bằng một truyện kể khác, như sau:

“Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống. Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi.

Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc… làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi. Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người,biết thông cảm và tha thứ cho nhau?

Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.

Tuy biết vậy nhưng vẫn lo, vẫn sợ. Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút. Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống… Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, nào là kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục…sống v.v…

Người ta sợ chết vì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ…sống ra sao?, sợ mất đi cái tôi cùa mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v… (trích điện-thư của một bạn khác đạo từng gửi trên mạng rất ê hề, nhiều vô kể)

Biện-luận ra sao cũng đặng. Hát và nói thế nào cũng chẳng sao. Duy có điều, là: có kế hoặc hát nhiều cho lắm, ta cũng nên nhớ lại lời vàng của thánh-nhân hiền lành từng dặn dò mọi người bằng một chú thích, như sau:

“Đức Giêsu liền khóc.

Người Do-thái mới nói:

“Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!”

Có vài người trong nhóm họ nói:

“Ông ta đã mở mắt cho người mù,

lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?

(Ga 11: 354- 37) 

Có khóc được, hoặc được khóc như Đức Giêsu khi xưa hay không, thiết tưởng ta vẫn nên ca và hát ý/lời của người viết nhạc từng ê a, ca rằng:

“Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa

Yêu đương biết nói sao cho vừa

Cuộc tình đó để em vui đùa

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát xong rồi, giờ đây hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hiên ngang đứng thẳng để nghe tiếp những điều như thế diễn ra bằng các sự kiện trong đời, rất con người.

Trần Ngọc Mười Hai

Thật cũng chẳng hơn ai

Nhưng vẫn cứ phiếm để còn nhớ và thương

Những “quan tài buồn”

Thuộc tầm cỡ rất Giuđa Iscariốt.

Tình đã đến trong những ngày độc dược,

“Tình đã đến trong những ngày độc dược”,

trong những ngày rữa nát mọi tinh hoa

trong những ngày sự sống diễn ra

bằng điên dại dẫm bừa lên sự sống!…

nhìn nhau đi em để thấy những giòng xanh

hạnh phúc trần gian đang lăn từ khóe mắt.

(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá lược dịch

Nhìn nhau đi, để thấy được giòng xanh hạnh phúc. Giòng xanh hạnh phúc ấy, có lẽ ta rất dễ thấy nơi dân gian cuộc đời. Một cuộc đời luôn có Chúa, có Mình và Máu Thánh. Trình thuật hôm nay, nói về quà tặng Chúa ban nơi Mình Ngài, bàn tiệc Thánh. Tiệc lòng mến, rất agapè.

Mừng tiệc thánh agapè mỗi tuần, cộng đoàn nơi tôi ở vừa tái cấu trúc nguyện đường cho an toàn, hợp lý. Một trong những điều tôi cảm thấy lạ, là: cửa Nhà Tạm Chúa ngự được làm bằng kính, rất sáng trong. Trong đến nỗi, ánh sáng bên ngoài có thể lọt vào, để lộ hiện nguyên hình chén thánh. Và đây cũng là lần đầu, tôi cảm thấy yếu tố này đã đánh động, thu hút lòng Đạo nơi tôi và chắc cũng là của một số anh em.

Phản ứng của anh em chúng tôi cũng đa dạng, đôi lúc thật lạ lùng. Người cho rằng: làm thế không trang nghiêm, thiếu tôn kính. Kẻ bảo là: lập trường cấu trúc cũng không tệ. Tựu trung, đa số đã bày tỏ sự đồng thuận, là: hãy nên để thế. Để như thế, vì Mình Thánh Chúa là Thực phẩm nuôi sống chúng ta, mỗi ngày. Mỗi ngày, ta nhìn thấy Ngài, rất muốn sẻ san. Ngài là thực phẩm, nên cũng cần mang dáng dấp chào mời, dễ bẻ vụn và phải đổ tràn ra bên ngoài bằng yêu thương, vô bờ bến. Đó, chính là động tác Chúa thực hiện vào Tiệc Thánh, chiều Thứ Năm. Hôm trước ngày khổ nạn. Và, đó cũng là việc ta vẫn làm mỗi tuần, ngày của Chúa.

Ngày của Chúa, nhiều vị thường diễn tả việc dự Tiệc thánh như thói quen nguyện cầu, dâng tiến. Tệ hơn, có người lại coi việc cử hành Tiệc như màn độc diễn của vị chủ tế trên bàn thờ. Giáo dân  tham dự chỉ với tính cách người dự khán, thôi. Nghĩa là, chỉ đến rồi đi. Đi xem lễ. Đến nhà thờ. Nhất nhất, để thực hiện tổng cộng những sáu điều Hội thánh khuyên răn. Không đi không đến e sẽ mắc tội. Và, là tội trọng.

Vốn mang trong người phong thái ấy, nhiều người vẫn hay đến trễ, về sớm. Chỉ đứng xa hoặc loanh quanh ở ngoài, hút thuốc nói chuyện hoặc liên tưởng chuyện làm ăn nào khác. Tuyệt nhiên, không mang dáng dấp tích cực, hợp tác nơi bàn tiệc.

Tiệc Thánh, trước tiên và nhất thiết phải là động thái tích cực của cả cộng đoàn. Bởi, tự bản chất, ý nghĩa của Tiệc là như thế. Chí ít, ta tham dự Tiệc là để thật sự ăn Mình Máu Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, như được dạy. Nói cho cùng, tham dự Tiệc không là chuyện đơn độc riêng lẻ, nhưng là việc của cả cộng đoàn tình thương dự Tiệc lòng Mến rất đông. Rất tích cực.

Dự Tiệc ngày của Chúa, ta cùng nhau đến vì Thân Mình Ngài. Cùng đến, như những người thân yêu chung tình, cùng ăn cùng uống. Cùng chung sức sống. Đến để bày tỏ lòng biết ơn chân thành, đối với Ngài. Đến, vì “Thánh Thể” thật sự mang ý nghĩa một cảm tạ. Ta đến, không phải vì sợ phạm vào điều khuyên thứ ba Hội thánh luôn răn giữ. Ta đến, không vì sợ tội. Không vì sợ vi phạm giới răn Hội Thánh Chúa, khuyên giữ. Ta đến, cũng chẳng phải là giữ chỉ để giữ. Giữ vì sợ mắc tội. Giữ, nhưng không mảy may thuyết phục. Thành thử, có người cứ đến trễ và về sớm. Cũng chẳng thấy cần phải lưu lại đôi phút để hàn huyên, chia sẻ những tâm tình người đồng Đạo.

Đến dự Tiệc lòng mến, tuyệt nhiên không là đi “xem lễ”, như nhiều người lầm gọi. Bởi, đi xem là xem vị chủ tế độc diễn màn dâng tiến một mình, trên bục cao. Ngược lại, đến dự Tiệc Thánh là việc tham gia vào việc chung. Tham dự và gia nhập tiệc vui rất chung. Ăn chung uống chung, cũng một Mình Máu Rất Thánh của Chúa. Ăn và uống chung, rất công khai. Đầy hưng phấn.

Như Chúa từng bày tỏ:

Bằng vào việc này, mọi người sẽ biết các anh là môn đệ của Thầy, anh em hãy thương yêu nhau” (Yn 13: 35). Và:

“Xin cho chúng nên một để thế gian biết Cha đã gửi Con đến”

(Yn 17: 21-23)

Đến dự Tiệc, mà mang tâm trạng đơn độc lặng thinh, là chưa hiểu ý nghĩa của sự đồng tâm cộng lực,chung lòng mến. Đến dự Tiệc, là cùng mang tâm tưởng thâm sâu đượm tình mật thiết của cộng đoàn kẻ tin. Tiệc Thánh, không là thời điểm ta tác tạo nên cộng đoàn, mà thôi.

Nhưng, là thời gian giúp ta cử hành mừng kính đặc điểm cùng nhau chung phần vui hưởng của cộng đoàn. Thật đáng tiếc: hơn bốn thập niên thời hậu Công Đồng đã trôi qua, mà nhiều vị vẫn còn nhấn mạnh đến yếu tố tu đức cá thể. Chỉ nhắm mục đích tìm sự “rỗi linh hồn”, riêng mình ta thôi.

Vì thế, người dự Tiệc ngày của Chúa vẫn cứ hành xử như khách lạ, vừa đến thăm. Khách đến, thiếu vắng cả nụ cười, tối thiểu. Thiếu tình thương. Thiếu hợp tác, đùm bọc. Cả khi, lời “chúc bình an, tay nắm tay” trao cho nhau, cũng chỉ là động tác lấy lệ. Chỉ như phản xạ tự nhiên, rất quen làm. Khác hẳn tâm tình người dự tiệc mừng ngày sinh, rất thân thương.

Nói rộng hơn, dự Tiệc Thánh không chỉ đến để nhận bánh thánh hiệp thông, rất giản đơn. Mà, để chia sớt và cùng sẻ san một Bánh Thánh là Mình Ngài, một biểu-tượng. Cùng uống chén Máu cứu độ của chính Ngài. Mình và Máu Đức Chúa đã Phục sinh. Mình Thánh Chúa ta lãnh nhận, không chỉ riêng Mình Đức Kitô thôi, nhưng còn là thân mình của cả cộng đoàn, vẫn được coi như chi thể thân thương đã tháp nhập vào Thân Mình Đức Kitô, đang hiện hữu.

Qua sẻ san Mình và Máu Thánh Chúa, cộng đoàn tình thương mới nhận ra rằng: không chỉ riêng có Đức Kitô đến với ta, mà thôi. Nhưng, là cả Thân Mình Ngài có cộng chung chi thể, là cộng đoàn thân thương ta sống cùng, và sống với. Ở một số cộng đoàn, nhiều vị có thói quen bái gối trước khi đón nhận Bánh Thánh. Nếu đây là cử chỉ thông thường nhằm tỏ lòng tôn kính, tưởng cũng nên bái gối trước cộng đoàn đang xếp hàng đón nhận Thân Mình Chúa vào bên trong mọi người.

Nói tóm lại, hiệp thông nhận đón Mình Máu Chúa, không là riêng mình Đức Kitô đến với ta mà thôi. Mà còn là, cả cộng đoàn tình thương đã ở trong ta. Với ta.

Thành thử, khi nhận Bánh Hằng Sống vào lòng bàn tay và đáp lời “Amen”, ta đã nghiêm chỉnh nhận lời mời cùng nhau trở thành thân mình của Đức Chúa, ta vừa nhận. Thân Mình Ngài, đã bẻ vụn thành tình thương yêu. Máu Thắm của Ngài đã đổ tràn thành hy vọng. Nhờ đó, thế giới hôm nay được cứu thóat khỏi chính con người mình. Khỏi cái “mình” xấu xa, đớn hèn bấy lâu nay. Và từ đó, tìm được sự sống trọn vẹn nơi Đức Kitô.

Có Chúa ở với và ở cùng, khi đón Mình Máu Ngài, ta ngân vang lời thơ từ thi sĩ họ Hàn, rằng:

Ta há miệng cho Nguồn Thơm trào vọt:

Tứ thời Xuân! Tứ thời Xuân non nước!

Phút thiêng liêng nhuần gội ánh thiều quang,

Thiên hạ bình và Trời tuôn ơn phước

Như triều thiên vờn lượn khắp không gian.

Ta cao ngân giọng vô cùng thanh thoát

Khiến châu thân rung động thể tơ trăng.

(Hàn Mặc Tử – Nguồn Thơm)

Vâng, đúng thế. Nguồn Thơm đã thấm nhập vào châu thân rung động của chính ta. Của cả cộng đoàn. Và mãi mãi, ta sẽ vui vầy Tiệc Thánh. Tiệc mến yêu Mình Máu Chúa, rất agapè.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Đất Nước Nhìn Từ Lào Cai

Đất Nước Nhìn Từ Lào Cai

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Ở nơi ấy, cho đến giờ vẫn còn hàng vạn những em nhỏ vẫn còn ăn cơm độn ngô và sắn.

Bình Nguyên – Thiện nguyện viên của Chương Trình Bữa Cơm Có Thịt

Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá. (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994).

Tôi chưa bao giờ được đặt chân đến Hà Nội nên cứ băn khoăn, và nghi ngại mãi về đoạn văn thượng dẫn. Thực lòng, tôi không tin rằng có ai đủ vô tâm để “thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền” hay “đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao.”

Niềm tin mong manh của tôi, buồn thay, vừa mất sau khi nghe Tổng Công Ty Ðầu Tư Phát Triển Đường Cao Tốc Việt Nam (VEC) loan tin:

“Thời gian vừa qua, trên tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai do VEC làm chủ đầu tư, đã xảy ra hiện tượng mất trộm bu-lông … Qua kiểm tra, đơn vị quản lý vận hành (VEC O&M) phát hiện một số vụ việc vừa qua chủ yếu do các cháu nhỏ tháo trộm bu-lông, hộp đệm, trụ đỡ tôn lượn sóng …”

Mẫu tin này cũng được ghi lại trên face book với rất nhiều phản hồi. Xin ghi lại năm ba:

·  Bin Bin Đm đáng bao nhiêu mà khổ sở thế

·  Nguyên Tí Bần cùng sinh đạo tặc

·  Thanh Liêm dân ở đó đói lắm à ?

·  Quockhanh Nguyen Dung la do nhèo đói ma sinh ra vậy

·  trần phúc nguyên chắc mấy người ở đó nghèo túng quá nên mới làm liều … nghèo cũng khổ

Cứ theo Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lào Cai thì nơi đây không phải là một nơi bần cùng, hay nghèo đói:

“Trong công cuộc tái thiết cuối những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, cả Lào Cai như một công trường lớn, những công trình đồ sộ hiện hình ở những nơi trước đây là rừng núi hoang vu hay bờ lau, bãi sậy… Lào Cai đã nuôi dưỡng, tạo sức bật cho nhiều doanh nghiệp và chính họ đã đóng góp sức mình khơi dậy tiềm năng, thế mạnh trên mảnh đất này.”

Tuy thế, trong thực tế, “mảnh đất tiềm năng” (tới cỡ đó) lại không có đủ khả năng nuôi dưỡng người dân của nó. Cũng như Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, học sinh ở nhiều trường học tại Lào Cai đều “hội đủ tiêu chuẩn” để được sự yểm trợ của Chương Trình Bữa Cơm Có Thịt.

Hãy nghe chính thiện nguyện viên của chương trình nhân đạo này nói về thực trạng của tỉnh lỵ này.

– Ông Bình Nguyên:

Ở nơi ấy, cho đến giờ vẫn còn hàng vạn những em nhỏ vẫn còn ăn cơm độn ngô và sắn. Hành trình đi tìm con chữ của các em sao nhọc nhằn quá, nhất là vào những ngày mùa đông giá rét của phương Bắc vô cùng khắc nghiệt. Thật xót xa khi nhiều người dân, các em nhỏ Việt Nam miền núi lại vẫn đang thiếu những bữa cơm có thịt cá đầy đủ chất dinh dưỡng, những cái áo ấm và tấm chăn ấm.

Bữa ăn của một học sinh trường Dền Thàng, Lào Cai. Ảnh: Dân Trí

– Bà Phạm Ánh Ngọc:

Các em tại trường tiểu học Pà Chéo phần lớn đều đi chân đất và áo quần mỏng manh. Cả đoàn nhìn nhau không nói được gì, lặng lẽ quan sát. Có một điều là không phải đứa trẻ nào cũng ăn hết phần thức ăn được phát. Từ đầu bữa đến cuối, nó ăn một chút thức ăn thôi, còn lại, nó để dành một góc cặp lồng.

Thấy chúng tôi có vẻ thắc mắc, cô giáo trầm ngâm nói, nó để dành mang về nhà ăn bữa tối. Ở đây có những nhà có khi hàng mấy tháng trời không có được ăn chút thịt nào. Từ ngày được ăn bữa cơm có thịt, học sinh đi học đầy đủ hẳn. Có những đứa thường xuyên như thế, ở lớp nó không ăn tý thức ăn nào, bảo để dành mang về nhà cho mẹ, cho em. Tôi thấy tim mình thắt lại, cổ họng ứ nghẹn, sống mũi cay cay, tôi chạy ào ra ngoài, lau vội giọt nước mà có lẽ là lẫn cả mưa.

Trẻ con ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Phạm Ánh Ngọc

Tôi không tin rằng những cô cậu học sinh chịu nhịn phần thịt trong bữa ăn của mình “để dành mang về nhà cho mẹ, cho em” – sau khi tan trường – lại có thể trở thành những đứa bé trộm cắp (bù long) nếu không có sự đồng tình của bố mẹ, và sự “khuyến khích” của những người mua bán vật dụng phế thải.

Tôi cũng không tin rằng giải pháp mà VEC đề xuất (“phối hợp chặt chẽ với địa phương và trường học trên địa bàn tuyên truyền học sinh tham gia bảo vệ tài sản đường cao tốc”) sẽ mang lại kết quả mong muốn. Vấn đề e không giản dị như thế, và nó đã được nhà văn Phạm Xuân Đài đề cập đến tự lâu rồi:

Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá.

Thế xã hội đã “đối xử” ra sao khiến cho người dân Lào Cai hôm nay (rồi) cũng đã trở thành “thô bạo” y như người Hà Nội vậy?

Xin đọc qua đôi dòng tin mới đây của báo Lao Động, số ra ngày  24 tháng 4 năm 2015:

“Vụ án Vinashin được xem là trọng án kinh tế, số tiền thất thoát rất lớn, riêng tiền thi hành án lên đến 1.200 tỉ đồng. Nhưng cay đắng thay, đến nay mới thi hành án được khoảng mấy chục tỉ đồng.

Mấy chục tỉ đồng của 1.200 tỉ đồng quả là quá nhỏ, nhỏ đến mức không đáng kể. Mặc dù phiên tòa kết thúc vào năm 2012, nhưng tiền tham nhũng thất thoát vẫn chưa gom về lại cho khổ chủ là Nhà nước. Biết đến bao giờ mới thu đủ 1.200 tỉ đồng đây!

Vụ án Vinashin tuy ồn ào, dữ dội ban đầu, nhưng sẽ không mấy ai còn nhớ đến số tiền phải thu lại là bao nhiêu, nhà nước có thu được không. Rốt cuộc, hàng nghìn tỉ đồng tham nhũng coi như mất gần hết. Những kẻ tham nhũng giấu hết tiền bạc của cải cho vợ con và cho mình, chờ ngày ra tù để hưởng.

Vụ Vinashin chỉ là một trong nhiều vụ án tham nhũng được phanh phui và xử lý theo pháp luật. Các vụ án khác cũng có chung tình trạng, đó là không thu hồi được tiền tham nhũng. Tòa tuyên phạt ông Phạm Thanh Bình bồi thường 500 tỉ đồng, nhưng ông không nộp một đồng thì quả là chuyện hài hước.”

Chuyện “hài ước” hơn nữa là Nhà Nước có khả năng tận thu của cải, khiến cho hàng triệu người dân lâm vào cảnh trắng tay, qua bao đợt “đánh tư sản mại bản” (vô cùng tàn khốc) nhưng lại hoàn toàn bất lực trong việc thu hồi mấy tỉ Mỹ Kim thất thoát – dù số tiền này vẫn nằm trong tay của gia đình những phạm nhân (đang) ở trong tù.

Khi qúi quan phụ mẫu chi dân đồng lòng, và toa rập, biến những con tầu trị giá hàng chục triệu Mỹ Kim thành sắt vụn thì trách chi chuyện người dân Lào Cai gỡ (gạc) mấy con bù long đem bán làm đồng nát.

Hoạt cảnh này đã được ông Hà Sĩ Phu hình dung ra từ hơn một phần tư thế kỷ rồi: “Thấy cái ‘ông dẫn đường’ cầm doi kia tớp được cái đùi gà thì chúng tôi cũng phải lẳng lặng nhặt cho vợ con mình con tép riu, chứ ngu gì mà chịu chết đói?” Chỉ có điều là vị sĩ phu (của đất Hà Thành) đã không tưởng tượng “nổi” là mấy ông dẫn đường “tớp” toàn tiền tỉ, chứ đâu có phải mấy cái đùi gà?

Từ già đến trẻ, từ lớn tới bé, từ miền xuôi lên miền ngược – tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân – mọi người đều sẵn sàng “thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao.” Đây phải chăng là thành quả (hay hệ quả) sau ba phần tư thế kỷ xây dựng XHCN ở Việt Nam?