Có những thứ còn quý hơn cả 100 đô

Có những thứ còn quý hơn cả 100 đô

Trong căn phòng khách ấm cúng, hai cha con ngồi xem tivi. Cô bé nhìn người cha và thỏ thẻ hỏi:

– Cha ơi, cho con xin phép hỏi cha một câu nhé?

– Vậy con muốn hỏi cha điều gì?

– Cha đi làm được lãnh bao nhiêu tiền một giờ vậy?

– Là chuyện của người lớn, con không được phép hỏi cha về điều này. Tại sao con lại hỏi cha như vậy?

– Con chỉ muốn biết thôi. Cha nói cho con biết đi cha.

– Nếu như con muốn biết, cha làm 100 đô một giờ.

– Ồ vậy hả cha.

Cô bé nhìn cha trong giây lát và hỏi tiếp.

– Cha có thể cho con mượn 50 đô được không cha?

Người cha nghiêm nét mặt trả lời.

– Nếu như con hỏi cha mượn tiền với lý do để mua những thứ đồ chơi phí phạm mà con thích, thì con hãy đứng lên ngay đi về phòng của mình và lên giường ngủ cho cha. Con hãy tự suy nghĩ lại, trong khi cha làm việc vất vả hằng ngày lo cho con ăn học để cho con có những suy nghĩ quá ích kỷ vậy được sao?

Cô bé không biết nói gì hơn, lặng lẽ đứng dậy đi về phòng của mình và đóng cửa lại. Người cha vẫn ngồi trên chiếc ghế với nét mặt tức giận về câu hỏi của con gái.

– Con bé sao lại dám cả gan hỏi thế lại còn mượn tiền.

Một lúc sau, người cha nguôi giận và suy nghĩ lại.

– Có thể vì cái gì đó mà con gái mình cần số tiền 50 đô để mua?… Thật ra từ trước đến giờ ít khi nào con bé hỏi và xin tiền như vậy?

Người cha đứng dậy đi lại phòng của con gái và mở cửa ra. Người cha lên tiếng hỏi.

– Con đã ngủ chưa?

– Dạ con chưa ngủ.

– Cha xin lỗi con. Lúc nãy cha hơi nóng và không phải với con. Hôm nay cha làm việc mệt mỏi nên cha đã trút hết mọi bực bội lên con. Đây là 50 đô lúc nãy con đã hỏi cha.

Con bé nhanh nhẹn ngồi chồm dậy nhìn cha mỉm cười và nói.

– Con cám ơn cha rất nhiều.

Sau đó cô bé với tới chiếc gối của mình và lấy ra cái túi nhỏ chứa một ít tiền không được xếp ngay ngắn

Cô bé nhìn cha và bắt đầu đếm tiền. Người cha nghiêm nét mặt lại và hỏi khi nhìn thấy con gái mình đã có tiền.

– Tại sao con muốn thêm tiền trong khi con đã có sẵn tiền vậy?

– Thưa cha, tại vì con không có đủ, nhưng bây giờ thì Con đã có đủ số tiền rồi cha à.

Cô bé nói tiếp.

– Cha ơi. Bây giờ con đã có đủ 100 đô. Con có thể mua một tiếng đồng hồ của cha được không? Ngày mai cha hãy về sớm nhé cha. Con rất mong muốn được ăn tối cùng cha.

Người cha xúc động ôm con gái vào lòng và mong con hãy tha thứ cho mình.

Đây là một lời nhắn nhủ những ai luôn bận rộn với công việc hằng ngày trong cuộc sống. Chúng ta không nên để thời gian trôi đi trên đầu ngón tay của mình vì công việc, mà quên đi thời gian dành cho những người thật sự quan tâm, thương yêu và gần gũi bên cạnh mình.

Chúng ta hãy nhớ chia sẻ thời gian trị giá 100 đô của mình với những người yêu thương mình và mình yêu thương.

Nếu như ngày mai bạn chết đi. Công ty bạn làm việc sẽ dễ dàng tìm một nhân viên mới để thay thế vào vị trí của bạn. Nhưng gia đình, người thân và bạn bè sẽ cảm thấy sự ra đi của bạn sẽ là một mất mát rất lớn không tìm lại được.

Chúng ta đã dành quá nhiều thời gian cho công việc lao vào kiếm tiền để sinh sống, đã vô tình quên đi những thời gian qúy giá hơn 100 đô dành cho gia đình và người thân.

ST

Trung Quốc mời quan chức Việt Nam sang thảo luận gì?

Trung Quốc mời quan chức Việt Nam sang thảo luận gì?

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong một cuộc họp về vấn đề Biển Đông tại Hà Nội ngày 18/6/2014.

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong một cuộc họp về vấn đề Biển Đông tại Hà Nội ngày 18/6/2014.

VOA Tiếng Việt

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì đã mời Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Bắc Kinh để đồng chủ trì cuộc họp lần thứ 8 của Ban Chỉ đạo hợp tác song phương, kéo dài trong hai ngày, từ 17 tới 19/6.

Các thông tin ngắn ngủi trên báo chí nhà nước của cả hai phía hôm qua không cho biết là đôi bên sẽ thảo luận các vấn đề cụ thể gì.

Nhà nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, ông Dương Danh Dy, nhận định với VOA Việt Ngữ về cuộc gặp song phương này:

“Nó là cái thường lệ của hai bên. Đến hẹn thì họ lại gặp nhau thôi. Họ bàn với nhau xem kế hoạch năm sau làm cái gì và kiểm điểm năm vừa rồi làm được những cái gì. Cái này cũng không phải là vấn đề quan trọng. Phải nói thẳng là ủy ban này không quản vấn đề quan trọng.”

Phiên họp sẽ diễn ra một ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố sẽ sớm kết thúc việc bồi đắp, xây đảo nhân tạo trên các bãi đá ở quần đảo Trường Sa theo đúng như kế hoạch đã định.

” Không khí hiện nay căng thẳng rồi. Hai bên, nhất là phía Việt Nam, cố tránh, không làm cho vấn đề căng thẳng thêm. Tình hình lúc này căng cũng chẳng giải quyết được gì cả. Những điều gì cần nói với họ mà được phép của Bộ Chính trị thì ông Bình Minh sẽ nói. Quyết định là ở bên này, chứ không phải ông Bình Minh.

Nhà nghiên cứu về quan hệ Việt-Trung Dương Danh Dy nhận xét.”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng cho biết như vậy hôm nay tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh, nhưng không cho biết thời gian cụ thể.

Ngoài ra, ông Lục cũng không cho hay là dự án nào trên 7 bãi đá mà Trung Quốc đang tiến hành cải tạo sẽ hoàn thành trong thời gian tới.

Trước đó, một thông cáo đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói sẽ tiến hành xây các cơ sở phục vụ cho cả mục đích quân sự lẫn dân sự.

Chưa rõ là Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh có nêu vấn đề xây đảo nhân tạo của Trung Quốc trong cuộc họp với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì hay không. Ngoài ra, không rõ là ông Minh có gặp quan chức cấp cao nào khác của Trung Quốc hay không.

Về nghị trình thảo luận giữa hai bên lần này, cựu quan chức ngoại giao Việt Nam Dương Danh Dy nói:

“Không khí hiện nay căng thẳng rồi. Hai bên, nhất là phía Việt Nam, cố tránh, không làm cho vấn đề căng thẳng thêm. Tình hình lúc này căng cũng chẳng giải quyết được gì cả. Những điều gì cần nói với họ mà được phép của Bộ Chính trị thì ông Bình Minh sẽ nói. Quyết định là ở bên này, chứ không phải ông Bình Minh.”

” Trung Quốc nói một đằng, làm một nẻo, và bây giờ nó có nói thì cũng thế thôi. Mình phản đối về ngoại giao như thế nhưng Trung Quốc nó có nói hay không nói cũng vậy thôi. Chẳng có tác dụng gì cả. Nói cho có thôi chứ, còn đối với Trung Quốc, có là cái gì đối với nó đâu mà. Nó coi trời bằng vung ấy mà. Anh hỏi Trung Quốc ấy

Ông Phan Huy Hoàng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi nói.”

Trong khi đó, một số nhà quan sát nhận định với VOA Việt Ngữ rằng những diễn biến gần đây trên biển Đông, nhất là việc một số ngư dân ở tỉnh Quảng Ngãi tố cáo Trung Quốc tấn công tàu cá của họ, sẽ làm phức tạp thêm cuộc gặp giữa ông Minh và ông Dương Khiết Trì.

Ông Phan Huy Hoàng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi, cho VOA Việt Ngữ biết về vụ tố cáo tàu Trung Quốc “rượt đuổi, phun vòi rồng, tấn công và cướp ngư cụ” hôm 7 và 10/6:

“Tôi đã thông báo cho Hội nghề cá của trung ương. Người ta đã có gửi văn bản lên chính phủ báo cáo, phản đối. Trung Quốc nó nói một đằng, làm một nẻo, và bây giờ nó có nói thì cũng thế thôi. Mình phản đối về ngoại giao như thế nhưng thằng Trung Quốc nó có nói hay không nói cũng vậy thôi. Chẳng có tác dụng gì cả. Nói cho có thôi chứ, còn đối với Trung Quốc, có là cái gì đối với nó đâu mà. Nó coi trời bằng vung ấy mà. Anh hỏi Trung Quốc ấy. Đừng hỏi tôi.”

Hiện cũng chưa rõ Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam có nêu hai vụ việc xảy ra chỉ cách nhau có vài ngày này hay không.

Cuộc họp lần cuối cùng của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương diễn ra hồi tháng Mười năm ngoái tại Hà Nội, và đại diện phái đoàn của hai nước cũng là ông Minh và ông Dương.

Đó là lần thứ hai Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc tới Việt Nam sau chuyến công du hồi tháng Sáu, khi căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm vì gian khoan dầu Hải Dương 981.

Các bức ảnh chụp tại cuộc gặp mà giới quan sát nói diễn ra vào thời điểm nhạy cảm đó cho thấy Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thể hiện sự bất bình ra mặt với quan chức nước láng giềng phương bắc.

Lời tạ ơn con dâng lên Chúa

Lời tạ ơn con dâng lên Chúa

Ad Gentes

Lời tạ ơn con dâng lên Chúa khi nắng hồng vừa mới lên khi hoàng hôn đang xuống dần. Vì ngàn hồng ân như muôn lớp sóng Chúa tuôn đổ xuống trên con, tháng năm dài mãi miên man …

Làm sao không tạ ơn được khi giờ này còn đủ sức để gõ trên bàn phím những dòng chữ dâng lời tạ ơn Chúa. Tạ ơn thật nhiều kẻo lỡ ngày sau khi không còn khả năng cầm phím hay không còn trí nhớ nữa thì thật uổng phí cho cuộc đời.

Chúa ban cho sống đến ngày hôm nay cũng chẳng dám gọi là đủ, là vắn hay là dài bởi lẽ giản đơn tất cả dài, vắn, đủ … đó đều nằm trong lòng bàn tay Thiên Chúa.

Như một cha Phanxico Salesio vừa mới qua đời ở cái tuổi còn tràn đầy sinh khí, sinh lực để chuẩn bị xây dựng mới ngôi đền thờ dành cho Thiên Chúa mà lại phải dừng lại.

Hay như một cha đáng kính ở giáo phận Đà Lạt sống cuộc đời bình dị khó thấy đã bị cuốn theo dòng nước lũ khi đang khơi dòng nước dữ tràn về.

Lạy Chúa, con như người thợ dệt
đang mãi dệt đời mình,
bỗng nhiên bị tay Chúa
cắt đứt ngay hàng chỉ !

Các cha đó cũng như nhiều người khác hoàn toàn không biết ngày hôm đó chính là ngày định mệnh mà Chúa đã khép cuộc đời của các đấng đó lại.

Và vì thế, mỗi ngày còn thức dậy, mỗi ngày còn sức khỏe  để đứng giữa bàn thờ để dâng Lễ Tế tạ ơn cũng là điều chính đáng để tạ ơn rồi. Và, hơn nữa, chuỗi đời khá dài của ngày bước lên bàn Thánh mà Chúa trao ban tưởng nghĩ rất nên tạ ơn Chúa.

Rất nên tạ ơn và tạ ơn cả ngàn lần, cả vạn lần với những người đồng môn, cùng trang lứa, cùng chí hướng ơn gọi nữa là khác. Đơn giản là họ cũng mừng kỷ niệm như mình nhưng họ mừng trong hân hoan, trong thành công, trong thánh đức, trong thành đạt, trong bằng cấp … Ngược lại, mình lại mừng trong âm thầm, trong cô tịch và trong lặng lẽ.

Chính những ngày cô tịch và lặng lẽ, Chúa lại cho mình có cơ hội nhìn lại mình một cách rõ nét hơn, một cách xác thực hơn, một cách chính xác hơn. Trong lặng thầm đó, mính lại càng ý thức cái thân phận mỏng dòn đầy yếu đuối cũng như cảm nghiệm sâu sắc hơn cái tâm sự của Thánh Phaolô : Những ân huệ Chúa ban lại chứa đựng trong những bình sành lọ đất !

Đúng như vậy, mình nghĩ mãi mà nghĩ cũng chẳng ta tại sao Chúa lại ban bí tích cao trọng cho một con người tội lỗi mà phải nói luôn là không ai tội lỗi hơn. Trong sâu lắng một mình tôi vẫn thường hỏi Chúa : Tại sao Chúa lại chọn con?  Chúa biết con xấu đến mức nào mà Chúa ? Chúa biết con tội lỗi đến mức nào mà Chúa ? Tại sao Chúa lại chọn con ?

Từng bước từng bước đường đời, tôi lại nhận ra rằng quả là Chúa điên chứ không phải tôi điên. Tôi đâu có chọn Chúa ! Chúa chọn tôi mà ! Chúa biết tôi xấu xí mà sao lại còn chọn tôi ? Phải chăng là Chúa điên ?

Đúng thật ! Người khôn ngoan, người đạo đức Chúa lại không chọn.

Những ngày này, những ngày hồng phúc lại về, về để nhớ kỷ niệm điên của Chúa và nghĩ về Chúa “điên” khi yêu tôi nên tôi càng phải tạ ơn Chúa nhiều hơn nữa.

Mà thật ! Nếu Chúa không yêu tôi Chúa đâu dựng nên tôi, Chúa không can đảm chọn tôi.

Có những lúc mơ mơ màng màng để tranh cãi với Chúa khi nói chuyện với Chúa. Tức tối vì quá tội lỗi như thế này mà Chúa vẫn cứ yêu thương tôi nên tôi bảo : “Chúa điên”. Khi tôi cãi như thế thì tôi lại nghe Chúa nói lại : “Tỉnh ai mà yêu cái thằng tội lỗi và xấu xí như mày”

Thôi thì, tôi tự nhủ, Chúa điên nên đã yêu tôi và tôi lại càng phải cảm ơn cái “điên”  mà Chúa đã dành cho tôi trong nhiều năm tháng vừa qua và những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Tạ ơn Chúa mà quên đi những người “điên” rất gần gũi tôi yêu thương tôi cũng là điều thiếu sót.

Nghĩ đi nghĩ lại cũng buồn cười ! Bao nhiêu người tốt, bao nhiêu bạn bè tốt lại không chơi, không thương, không yêu, không nâng đỡ mà lại thương yêu nâng đỡ một kẻ xấu xí xù xì như tôi.

Có người âm thầm bằng lời cầu nguyện, có người sẽ chia khi tôi gặp hoạn nạn tai ương, có người lo phù trợ sức khỏe, có người âm thâm lam lũ để sẻ chia từng bước từng bước đường đời tận hiến.

Những ngày này, những ngày kỷ niệm hồng phúc lãnh sứ vụ linh mục này không biết nói gì hơn là tạ ơn Chúa, tạ ơn tất cả mọi người cũng như cúi đầu xin lỗi Chúa và những người tôi đã làm tổn thương.

Xin Chúa cũng như những người “điên” đã như Chúa “điên” khi yêu tôi tiếp tục yêu thương, đồng hành, nâng đỡ tôi trên nẻo đường mục vụ mà Chúa trao phó cho tôi trên bước đường loan báo Tin Mừng mà Chúa yêu thương đặt để cho tôi.

Hẳn nhiên, trong từng lời kinh, từng Thánh Lễ misa  mỗi ngày, dù muốn dù không, dù nhắc hay không nhắc nhưng những ai thân quen, những ai đi qua đời tôi và những ai “điên” yêu thương tôi đều bị tôi dừng lại sau lời kinh Tiền Tụng để xin Chúa tuôn đổ muôn ơn lành xuống trên từng người, từng người đã, đang và sẽ nâng đỡ tôi trong cuộc sống.

Tưởng Niệm 85 năm Ngày Tang Yên Bái

85 năm Ngày Tang Yên Bái: Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

Nước Việt Phương Nam

Trần Trung Đạo

15-06-2015

Tưởng Niệm 85 năm Ngày Tang Yên Bái

H1

Vào khoảng thời gian này 85 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Trong hồi ký Từ Yên Bái Đến Côn Lôn, Nguyễn Hải Hàm tức Ký Thân, người bị kết án tử hình sau Khởi Nghĩa Yên Bái nhưng sau giảm xuống chung thân nơi Côn Đảo, kể lại lời của vị Linh mục chứng kiến giờ phút cuối cùng của 13 Anh hùng Yên Bái: “Ông Học thật tốt. Ông không hề tỏ ra một cử chỉ hay lời nói nào buồn trách Cha như những người kia. Trái lại ông Học nói chuyện với Cha tự nhiên, bình thản như ngày thường …Quá vui tính…12 anh kia bị chém trước rồi sau mới là anh Học…Anh Học trước khi lên đoạn đầu đài hô lớn câu Việt Nam Vạn Tuế, và khi hô lớn xong đầu cũng lọt vào thùng mạt cưa bên cạnh. Anh nào cũng hô Việt Nam Vạn Tuế, có anh thì hô Việt Nam Muôn Năm… Nhưng đau lòng nhất là có một vài anh chưa hô hết câu đầu đã rơi xuống thùng mạt cưa”.

Mười ba liệt sĩ lên máy chém thực dân sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930: Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Ðào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Ðức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Ðỗ Văn Sứ, Bùi Văn Cửu và Nguyễn Như Liên.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Ông Khổng Tử trong cái bóng Thiên An Môn

Ông Khổng Tử trong cái bóng Thiên An Môn

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-15

06152015-confucius-in-shdw-of-tienanmen.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Bức tượng đồng của Khổng Tử ở phía trước của Bảo tàng quốc gia của Trung Quốc trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, Trung Quốc, khánh thành ngày 11 tháng 1 năm 2011

Bức tượng đồng của Khổng Tử ở phía trước của Bảo tàng quốc gia của Trung Quốc trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, Trung Quốc, khánh thành ngày 11 tháng 1 năm 2011

AFP

Bài hát vang dội trên thành Bắc Kinh

Mùa Xuân năm 1989

Và đó là bài hát của tự do

Thiên An Môn

Những câu thơ trên là lời một bài hát trong những ngày thượng tuần tháng sáu của 26 năm về trước, sau khi xe tăng của quân đội giải phóng nhân dân Trung quốc tràn vào quảng trường Thiên An Môn, xéo nát hàng ngàn sinh viên đấu tranh cho một nước Trung Hoa tự do.

Cuộc thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn gần như được truyền hình trực tiếp từ ống kính của nhiều nhà báo quốc tế có mặt ở Bắc Kinh lúc đó. Nó cũng là cuộc thảm sát thực hiện bởi chính người Trung quốc trên đồng bào của mình.

Nhớ về Thiên An Môn, blogger Hoàng Ngọc Tuấn giới thiệu bài viết về thi sĩ Liệu Diệc Vũ, người Trung quốc, cất lên lời thảng thốt qua bài thơ Thảm sát, ngay sau khi ông được tin dữ từ Bắc Kinh.

Một cuộc thảm sát đang xảy ra

Trên quốc gia không tưởng này

……

Bị đánh gục bởi đạo quân hàng ngàn tên

là những người tay không tấc sắt

Blogger Hoàng Ngọc Tuấn giới thiệu cho người đọc cuộc đời gian truân của người thi sĩ, từ nhà tù của đảng cộng sản Trung quốc cho đến những ngày vất vưởng trên đường phố Thành Đô quê hương ông, vì bài thơ Thảm sát. Một cuộc đời hầu như bị lãng quên trên chính quê hương của mình.

” Sự kiện Thiên An Môn cho tôi sự hy vọng lẫn nỗi thất vọng. Sự hy vọng là trong một chế độ toàn trị đến mức như ở Trung quốc những người sinh viên vẫn sẳn sàng đứng lên đòi tự do dân chủ. Còn sự thất vọng là nó bị đàn áp trong bể máu

Nguyễn Anh Tuấn”

Không chỉ có cuộc đời thi sĩ bị lãng quên mà ngay cả biến cố Thiên An Môn xem chừng cũng bị lãng quên tại Trung quốc sau một phần tư thế kỷ, một điều trớ trêu đối với một dân tộc từng viết nên những bộ sử trường thiên. Sở dĩ có điều đó là do những nổ lực viết lịch sử theo cách của những người cầm quyền hiện nay tại Trung quốc. Trong bài Nhân dân bao giờ cũng vĩ đại hơn nhà cầm quyền, blogger Tuấn Khanh viết rằng trong tài liệu chính thức dùng để giảng dạy lịch sử tại Trung quốc, giai đoạn Thiên An Môn được ghi nhận với vỏn vẹn một dòng rằng đó là một giai đoạn bất ổn. Và ngay cả những người Trung quốc đang sống ở nước ngoài cũng bị ám ảnh một nỗi lo sợ không dám lên tiếng về Thiên An Môn. Trong một thư kiến nghị gửi nhà nước Trung quốc yêu cầu minh bạch hóa sự kiện Thiên An Môn do các sinh viên Trung quốc ở hải ngoại chủ xướng, chỉ có 11 người ký tên.

Nhìn Thiên An Môn từ Việt nam, tác giả Trọng Thành đặt câu hỏi cho một số trí thức Việt nam về cái nhìn của người Việt nam cũng như những hồi ức về sự kiện này.

Giáo sư Nguyễn Huy Quí, Viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Quốc, trả lời rằng không có ai ở Việt nam nghiên cứu câu chuyện thảm khốc đó, và một trong những nguyên nhân có thể là do sự nhạy cảm trong quan hệ với Trung quốc.

Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai lại tiết lộ rằng ông biết là vào tháng sáu năm 1989 ấy có nhiều nhà lãnh đạo Việt nam đồng tình với giải pháp bạo lực của đảng cộng sản Trung quốc, trong đó có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, gương mặt một thời được coi là khởi đầu cho cải tổ kinh tế xã hội Việt nam vào năm 1986.

Ảnh tư liệu về vụ thảm sát khủng khiếp khi xe tăng tiến vào Quảng trường Thiên An Môn

Ảnh tư liệu về vụ thảm sát khủng khiếp khi xe tăng tiến vào Quảng trường Thiên An Môn

Nhưng những người Việt nam trẻ tuổi dấn thân cho công cuộc dân chủ hóa Việt nam lại biết nhiều về Thiên An Môn. Trong một lần trao đổi với chúng tôi cựu sinh viên Nguyễn Anh Tuấn nói rằng:

Sự kiện Thiên An Môn cho tôi sự hy vọng lẫn nỗi thất vọng. Sự hy vọng là trong một chế độ toàn trị đến mức như ở Trung quốc những người sinh viên vẫn sẳn sàng đứng lên đòi tự do dân chủ. Còn sự thất vọng là nó bị đàn áp trong bể máu.

Còn nếu đặt trong sự so sánh tương quan giữa Việt nam và Trung quốc đều có cùng chế độ toàn trị và đàn áp giống nhau thì người Trung quốc dù sao cũng có một thế hệ sinh viên để tự hào. Hôm qua khi xem lại các bức ảnh ông Lý Bằng tiếp các lãnh tụ sinh viên thì thấy thái độ của họ rất là tự tin trước một người ở đỉnh cao quyền lực.

Nguyễn Anh Tuấn cũng nói rằng anh cảm thấy buồn lòng vì những người dấn thân vì phong trào dân chủ ở Việt nam còn quá ít ỏi.

” Ngày nay toàn cầu hóa, hội nhập chính là áp lực mạnh từ mọi phía khiến các xã hội toàn trị bị vỡ ra nhanh hơn. Đành rằng với người lãnh đạo thông minh, có viễn kiến và bản lĩnh thì việc cải cách Thể chế đúng lúc, đúng hướng sẽ cứu vãn sự sụp đổ

Nhà Khoa học Tô Văn Trường”

Chế độ hiện hành, Khổng Tử và Mác lê

Một trong những người ít ỏi đó là blogger nhà báo Đoan Trang nhắc mọi người rằng ngày 5/6 ở Việt nam có thể xem như một ngày lịch sử, vì đó là ngày hàng ngàn sinh viên Việt nam xuống đường chống Trung quốc xâm lược. Ngày 5/6 năm nay, Đoan Trang cùng những người đồng chí hướng viết bản hiến chương 2015 kêu gọi những người dấn thân cho một nước Việt nam dân chủ hợp sức tương trợ nhau trên con đường sắp tới. Cô viết rằng:

Hiến chương 2015 là tuyên bố đoàn kết của những người yêu nước, những người đấu tranh vì dân chủ-nhân quyền ở Việt Nam. Hiến chương cũng là lời thách thức và tuyên bố không cúi đầu gửi đến chính quyền công an trị với lực lượng “còn Đảng còn mình” – vốn vẫn bất chấp cả công lý, nhân quyền lẫn luật pháp để bảo vệ chế độ.

Chế độ mà Đoan Trang nhắc tới trong lời tuyên bố của cô là một chế độ có nền tảng là chủ nghĩa Mác Lê Nin mà Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng là một trở ngại lớn nhất cho Việt nam, là nguyên nhân lớn nhất làm cho con người và xã hội Việt nam hôm nay suy đồi. Ông viết những ý tưởng đó trong bài phản biện nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, khi ông Nhàn cho rằng nguyên nhân của sự suy đồi hôm nay vốn từ chiến tranh mà ra.

Nhà Khoa học Tô Văn Trường bình luận tiếp về chế độ đó:

Các chế độ toàn trị đó rất dẻo dai, tồn tại hàng ngàn năm và chỉ bị sụp đổ hoặc buộc phải thay đổi, biến báo để thích nghi khi bị sức ép từ bên ngoài hệ thống toàn trị khép kín đó. Ngày nay toàn cầu hóa, hội nhập chính là áp lực mạnh từ mọi phía khiến các xã hội toàn trị bị vỡ ra nhanh hơn. Đành rằng với người lãnh đạo thông minh, có viễn kiến và bản lĩnh thì việc cải cách Thể chế đúng lúc, đúng hướng sẽ cứu vãn sự sụp đổ, thế nhưng ở Việt Nam hiện nay dường như điều này chưa thấy xuất hiện.

Khi nói về cải cách người ta sẽ nhớ ngay đến bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó ban tuyên giáo trung ương của đảng cộng sản. Ông Hoàng viết về sự nguy hiểm của hiện tượng nhóm lợi ích, của chủ nghĩa tư bản thân hữu, như là một căn bệnh ung thư sẽ có nguy cơ làm sụp đổ không những đảng cầm quyền mà cả xã hội.

Blogger Trần Minh Khôi bình luận bài viết của ông Hoàng rằng đã là ung thư thì không có thuốc chữa.

Có thể là những người cộng sản Việt nam hy vọng chữa căn bệnh ung thư xã hội ấy bằng những lời kêu gọi thi hành đạo đức, như trường hợp từ chức của ông bí thư thành ủy Hội An Nguyễn Sự vừa qua. Ông Sự nổi tiếng như một người thanh liêm, có uy tín trong nhân dân.

Trên trang Luật Học, Nguyễn Anh Tuấn nhận xét về câu chuyện của ông Nguyễn Sự:

” Lịch sử rồi sẽ sáng tỏ, bất luận là bao lâu. Lịch sử sẽ chứng minh nhân dân mãi mãi vĩ đại hơn chế độ cầm quyền. Dù cho sự tuyên truyền thổi phồng và che đậy của chế độ Cộng sản có dày công thế nào, cũng như có khác biệt Triều Tiên, Lào hay Việt Nam cũng vậy, chỉ có thất bại với thời gian

Tuấn Khanh”

Diễn ngôn nhân danh ‘nhân dân’ như trên cùng với sự phổ biến của quan niệm quan-dân trong những thảo luận công cộng của chúng ta chứng tỏ khuôn khổ Nho gia, vốn từng đặt nền tảng cho cả ngàn năm khoa cử quan trường Việt Nam, vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa chính trị đương thời. Trong cái văn hóa chính trị đó, người dân được coi như một khối thống nhất chỉ có một quan điểm mà mất đi vẻ đa dạng phong phú về góc nhìn mà họ vốn có; trong khi những người nắm giữ quyền lực vẫn chưa được nhìn nhận như đang hành nghề chính trị chuyên nghiệp mà vẫn còn phảng phất bóng dáng quan quyền khanh tướng với những chuẩn mực khe khắt về đạo đức – dĩ nhiên không xấu, chỉ là chưa đủ, cho một thời đại đòi hỏi mỗi vị trí đều phải được chuyên nghiệp hóa như hiện nay.

Nhà nho vốn là học trò tin thần của Khổng tử, khuôn khổ Nho gia mà Nguyễn Anh Tuấn đề cập cũng là ý của tác giả Bảo Thư bình luận về Khổng tử trên trang blog của nhà văn Nguyễn Xuân diện:

Tư tưởng của Khổng Tử cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường, chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn… Những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở thành thày dạy đạo đức.

Lời bình này được đưa ra trong không khí tranh cãi không những trên blog mà còn cả trên báo chí chính thống của nhà nước về việc tỉnh Vĩnh Phúc xuất 300 tỉ đồng tiền công quĩ để lập Văn miếu thờ Khổng tử.

Không ít người so sánh những lời thuyết giáo về đạo đức và tôn ti trật tự của họ Khổng cũng không xa lắm những mực thước về dân chủ tập trung của Lenin mà những người cộng sản dùng cho công cuộc đấu tranh giai cấp thành lập một xã hội mới không giai cấp như họ hình dung.

Một cuộc đấu tranh mà Milovan Djilas, người từng là nhân vật số hai của đảng cộng sản Nam Tư, nhận định là lại đưa đến sự thống trị của một giai cấp mới là giai cấp cộng sản.

Mấy mươi năm sau Djilas, blogger Tuấn Khanh viết bài Ngồi nhớ ân cần. Ông nhận thấy rằng trong xã hội Việt nam ngày nay do những người cộng sản cầm chịch, sự ân cần đáng quí của người Việt nam đã mất đi, và sự chói lọi của những số liệu phát triển lại đi kèm với những khoảng tối đen mù lòa.

Và cuối cùng để tưởng niệm Thiên An Môn, Tuấn Khanh viết rằng:

Lịch sử rồi sẽ sáng tỏ, bất luận là bao lâu. Lịch sử sẽ chứng minh nhân dân mãi mãi vĩ đại hơn chế độ cầm quyền. Dù cho sự tuyên truyền thổi phồng và che đậy của chế độ Cộng sản có dày công thế nào, cũng như có khác biệt Triều Tiên, Lào hay Việt Nam cũng vậy, chỉ có thất bại với thời gian.

CHÚT CẢM NGHIỆM TUỔI VỀ CHIỀU

CHÚT CẢM NGHIỆM TUỔI VỀ CHIỀU

Micae Bùi Thành Châu

Khi đã bước chân vào trần gian, không ai không thoát khỏi cái định luật của con người: sinh – lão – bệnh – tử.

Cái cửa tử là cái cửa chắc chắn nhất mà ai trong chúng ta dù muốn dù không, dù sớm dù muộn đều phải bước qua.  Nhưng, bước qua như thế nào và bước qua đi về đâu mới là chuyện quan trọng.

Thật ra mà nói, ai cũng mong cho mình sống lâu; thế nhưng chuyện sinh tử là chuyện của Thiên Chúa. Sống ngày nào trên trần gian chính là quà tặng mà Thiên Chúa trao ban cho con người.  Con người không ai có quyền định đoạt được thời gian sống của mình.

Có những người đang dệt ước mơ đời mình nhưng bỗng chốc lại ra đi.

“Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình”
(Tv 103, 15-16)

Hay là:

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt
đang mãi dệt đời mình,
bỗng nhiên bị bàn tay Chúa
cắt đứt ngang hàng chỉ” (Is 38,12).

Nhiều biến cố, nhiều sự kiện diễn ra hằng ngày bên đời ta để ta thấy điều đó rõ hơn ai hết.  Và, khi nhìn lại đời sống của mình, mỗi ngày còn thức giấc là mỗi ngày tạ ơn cũng như xin Chúa gìn giữ ta trong quãng đời còn lại:

“Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,
ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90, 12).

Nhiều lần nhiều lúc cũng vui vẻ với bạn bè, choáng váng với những hào nhoáng chóng qua… đến khi chợt tỉnh giấc nhận ra rằng tuổi của mình đã xế chiều.

Những ngày tháng xế chiều này, Chúa cho tôi thời gian nhìn lại con người tội lỗi của mình.  Thật sự mà nói là quá tội lỗi trong một thời gian quá dài.  Chẳng dám ví đời mình như Thánh Augustino nhưng quả thật, tội lỗi của tôi sao chồng chất.

Tỉnh ra mới thấy mình đã đi sai đường Chúa dạy.  Chính trong cái giật mình đó, tôi lại chìm đắm trong cầu nguyện, trong lời kinh, đặc biệt Kinh Mân Côi.

Đến với Kinh Mân Côi, tôi tìm được sự bình an cũng như chuyển những ơn lành mà Chúa và Mẹ hứa dành cho các linh hồn đã ra đi.

Những năm dài lăn lộn với thương trường mà như người ta nói còn hơn cả chiến trường nữa.  Ở đó, người ta tranh giành và sẵn sàng đánh đổi tất cả để đi tìm cái lợi cho mình.  Vì nguồn lợi cho mình, người ta có khi tán tận lương tâm của mình.

Tạ ơn Chúa đã cho tôi thấy và tôi dừng.

Có thể người này người kia sẽ bảo tôi bất bình thường, tôi chơi nổi, tôi đánh bóng tên tuổi của tôi khi tôi viết ra đây những cảm nghĩ của mình.  Có thể khi suy nghĩ này đến với quý vị tôi sẽ bị chỉ trích, lên án và sẽ được những thúng… gạch đá…  Chẳng sao cả, có gạch đá để chuyển đến những nơi nghèo cần xây nhà tình nghĩa.

Tuổi đang dần chiều, nhìn lại và tôi cảm thấy thấm với tâm tư của anh chàng nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt!

Thật sự là như thế, đôi khi ta cứ mãi loanh quanh đi tìm cái gì đó cho mình là danh, là tiền, là quyền, là địa vị…  Thế nhưng, tất cả những thứ mà người ta mãi đi tìm đó sẽ là con số không thật khổng lồ khi con người ta nhắm mắt xuôi tay.

Những câu chuyện thật mà tôi cũng như nhiều người đã đọc như mẩu chuyện “Bao nhiêu tấc đất cho vừa” đã để lại trong tôi nhiều suy nghĩ.   Con người ta mải miết tham miếng đất như anh chàng trong câu chuyện đó để mãi đi tìm, tìm cho bằng nhiều nhưng khi chiều đến do tham quá không nghỉ ngơi ăn uống nên khi lấy được miếng đất thật to thì cũng là lúc mà anh ta kiệt sức.  Cuối cùng, những người hầu của ông địa chủ bán đất cho anh ta chỉ còn có việc duy nhất là chôn anh ta.

Chuyện là ông địa chủ bán đất cho anh với giá 1 đồng bạc.  Chủ nói là anh cứ đi từ sáng cho đến chiều, đến khi nào mệt nghỉ thì số đất mà anh đi qua sẽ thuộc về anh.  Vì tham lam nên bỏ ăn, bỏ uống, bỏ nghỉ để chạy cho thật nhiều, để mảnh đất mình mua được dài nhất.  Thế nhưng, vì tham quá nên đã chết sau khi chạy con đường dài không ngơi nghỉ.

Bài học thực tiễn trong cuộc đời chúng ta đó!  Có khi cứ mải miết đi tìm và đi tìm cho thật nhiều để rồi không bao giờ thấy mình đủ.

Ngày hôm nay không phải là ở cái thời bao cấp nữa, không phải cái thời đói kém nữa để rồi phải dùng cái từ chạy ăn chạy mặc.  Ngày hôm nay không ai còn chết vì thiếu ăn thiếu mặc nữa mà chết vì ăn nhiều quá và chết vì tốn nhiều tiền cho chuyện mặc của mình quá.

Và vì thế, tôi có cái cảm giác là cuộc sống của những người lớn tuổi như tôi đây nên chăng phải cảm thấy mình đủ.  Khi cảm thấy đủ mình sẽ được bình an và sẽ dành nhiều thời gian hơn nữa để kết hợp mật thiết với Chúa, để dọn lòng thanh thản ra trình diện trước mặt Chúa.

Có một chuyện mà tôi cảm thấy nực cười đó là ông bà và cha mẹ quá khéo lo cho con cháu đến độ con cháu bực mình.  Hay là lo cho chúng cho đã để rồi nhận lại thái độ lạnh lùng bất hiếu.  Sau đó, lại oán trách chúng bởi lẽ suy nghĩ giữa hai thế hệ khác nhau.

Cứ như phương Tây, 18 tuổi đủ trưởng thành và ta cho nó tự lập.  Có chăng ta đứng sau lưng để dõi theo và nhắc nhở.  Phần của ta, ta cứ lo phần của ta để sao ta có thời gian nhiều để cầu nguyện, để gắn bó với Chúa.

Có nhiều bậc cha mẹ đổ lỗi vì lo cho con cái đến độ không có thời gian dành cho Chúa!  Nhưng thử hỏi có cha mẹ nào lột da để sống đời bên cạnh lo cho con cái đâu?  Cuối cùng, đời cũng chẳng ra đời mà đạo cũng chẳng giữ cho suông vì cứ viện lý do này lý do nọ.

Tôi trộm nghĩ tuổi già là cái tuổi đẹp để ta có nhiều thời gian gần Chúa hơn, và khi gần Chúa, ta sẽ thấy mình thật thư thái, bình an và có thời gian nhiều để cầu nguyện cho con cháu nữa.

Vấn đề chính tôi cảm và tôi chia sẻ ở đây đó là thời gian dành cho Chúa ở cái độ tuổi về chiều.  Đôi khi vì lý do nào đó ta cứ biện minh là lo cho con cho cháu đến độ không còn thời gian.  Hay là lo cho cơm áo gạo tiền đến độ không còn giờ cho Chúa nữa.

Nếu suy nghĩ như thế và hành xử như thế, ta nên nhìn lại để quân bình đời sống tâm linh và đời sống thể xác của ta.  Có khi mãi cứ chăm chút vào thể xác mà quên đi phần hồn của ta là điều quan trọng hơn cả.

Chính vì lẽ đó nên ở cái tuổi về chiều, xin mọi người hãy nhìn lại cuộc đời của mình, xin nhìn lại phần tâm linh mà suốt thời gian còn trẻ mình đã quên phần nuôi dưỡng.

Cuộc đời qua đi quá vội và rất vội!  Xin hãy dành nhiều thời gian cho Chúa bằng kinh nguyện và những hy sinh.  Sống như thế, khi Chúa gọi ta về, lòng ta sẽ nhẹ nhàng và thanh thản, và khi đó ta vui vẻ hát rằng: “Khi Chúa thương gọi tôi về, hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ, miệng tôi nức vui tiếng cười, lưỡi tôi ngàn lời ca hát, ngàn dân tung hô tôi thật vinh phúc”.

Micae Bùi Thành Châu

Thảm họa Bắc thuộc: Phim Tài liệu

Thảm họa Bắc thuộc: Phim Tài liệu

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-15

06152015-kowt-to-the-north.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc

Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc

Files photos

Một nhóm làm phim tại hải ngoại vừa cho ra đời một bộ phim tài liệu mang tựa đề Thảm họa bắc thuộc, nói về quan hệ Việt nam Trung quốc. Sau đây là trao đổi giữa Kính Hòa và ông Chu Lynh, một trong những người thực hiện bộ phim về việc xây dựng bộ phim cũng như nội dung của nó. Ông Chu Lynh cho biết:

Ông Chu Lynh: Cuốn phim Thảm họa bắc thuộc đã được thực hiện trong hơn hai năm, với cái nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc. Sau đó chúng tôi có nói tới, đề cập tới một phần khá quan trọng, đó là những ngọn lửa Việt xuất phát từ trong quá khứ của lịch sử Việt nam cho đến ngày hôm nay. Những người trong nước, đặc biệt là giới trẻ, tổ chức thành những đoàn thể để mà lên tiếng về cái thảm họa bắc thuộc ngày hôm nay. Và sau cùng là chúng tôi cũng gửi đi một thông điệp, thông điệp này trước tiên là của tiền nhân, kế tiếp là của những nạn nhân trong thảm kịch bắc thuộc.

Kính Hòa: Hiện nay Việt nam là một quốc gia độc lập, thế thì cái đe dọa là như thế nào để Việt nam lệ thuộc Trung Hoa như ông vừa nói, thì ông có thể nói rõ hơn không?

Ông Chu Lynh: Chuyện Bắc thuộc không phải chỉ có bây giờ mà nó xuất phát từ trong quá khứ. Nhưng mà người Tàu không làm gì được nước Việt nam, bởi vì lúc đó triều đình với dân là một để chống lại quân xâm lăng từ phía bắc. Nhưng ngày hôm nay, triều đình tức là cộng sản Việt nam không đứng về phía dân chúng, tức là không đứng về phía dân tộc, cho nên người dân rất khó lòng chống lại người Tàu. Ngược lại thì cộng sản Việt nam đã toa rập, thần phục, tiếp tay cho người Tàu để mở cửa, từ biên giới cho đến các lĩnh vực khác, để người Tàu chiếm các cuộc đấu thầu, những cuộc đấu thầu có tính chiến lược về kinh tế và quốc phòng đều lần lượt nằm trong tay người Tàu. Chúng tôi không đi vào chi tiết vì trong cuốn phim có nõi rõ những lãnh vực đó.

” Nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc

Ông Chu Lynh”

Chúng tôi nghĩ rằng nếu mà ngày nay, cộng sản Việt nam trở về với dân tộc và đứng về phía dân chúng, thì chúng tôi nghĩ sẽ không có thảm họa bắc thuộc.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lynh, đây là một bộ phim tài liệu, vậy thì ông có thể cho biết những nguồn tài liệu nào đã được sử dụng và những nhân vật nào xuất hiện trong phim?

Ông Chu Lynh: Tài liệu về thảm họa bắc thuộc trôi nổi trên Internet rất là nhiều. Mà nếu mình lấy tài liệu trên Internet thì phải nói là rất khó khăn vì có quá nhiều tài liệu. Có nhiều bài báo có tính cách nghiên cứu, mà nhận định cũng không thuần nhất, thì cái nhiệm vụ của chúng tôi khi làm phim tài liệu là lọc và hệ thống hóa tất cả những dữ diệu trong quá khứ, và hiện tại. Chúng tôi lọc ra và chọn những tài liệu. Cộng với một số nhà nghiên cứu có uy tín ở hải ngoại, đồng thời chúng tôi cũng có phỏng vấn một số người trong nước.

Đặc biệt chúng tôi có mời ba nhân vật ngoại quốc là đạo diễn David Setter, ông là đạo diễn của bộ phim The age of Delirium, hình như dịch ra là Thời đại mê sảng. Giáo sư Stephen Young, ông là Giáo sư tại trường Đại học Hamline, Minnesota. Và sau cùng là Giáo sư Carlyle Thayer là chuyên viên về Đông Nam Á, rất nổi tiếng chuyên về bình luận vấn đề thời sự của Đông Nam Á. Nói tóm lại chúng tôi phỏng vấn 21 người.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lyng, trờ về với cái vấn đề bắc thuộc, có vẻ như người ta nói một trong những nguyên nhân của nó là do sự đồng ý thức hệ giữa hai đảng đang cầm quyền ở Trung quốc và Việt nam, có phải đó là nguyên nhân mà nhóm làm phim cho rằng dẫn tới thảm họa bắc thuộc của dân tộc Việt nam hay không?

Ông Chu Lyng: Trong cuộc phỏng vấn, Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc. Cộng sản Việt nam đâu có ngờ rằng bây giờ là quyền lợi của Trung quốc. Khi nhận ra bây giờ đã quá muộn rồi, cái ý thức hệ bây giờ không còn nữa.

Kính Hòa: Dạ thưa ông, người ta cũng hay nói rằng là Việt nam đang thực hiện một chính sách gọi là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Và dường như là họ cũng có những nổ lực như là mua sắm vũ khí, đôi khi họ cũng lên tiếng mạnh mẽ chống lại Trung quốc. Thì liệu khi nói rằng họ sẽ dẫn tới thảm họa bắc thuộc thì có quá đáng hay không?

” Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc

Ông Chu Lynh “

Ông Chu Lynh: Chúng tôi không phải là những bình luận gia về thời cuộc, tuy nhiên nói về phương diện tài liệu, thì nếu bây giờ cộng sản Việt nam sắm tàu bè thì theo chúng tôi cũng là một cái điều cần, nhưng những cái lực lượng đó chưa chắc đối lại nổi với Trung quốc. Cái vấn đề bây giờ là nội lực của mình là chính chứ không phải là những vũ khí đó. Những vũ khí đó nếu đi kèm với nội lực, cộng sản Việt nam nếu khía thác được cái tinh thần dân tộc của mình, cái độc lập. Viện trợ của các nước chỉ là phần nhỏ.

Nếu nói là đu dây thì theo tôi nghĩ cộng sản Việt nam họ không có đủ khả năng để đu dây. Bởi vì đu dây là đu dây đường dài, chứ còn họ đu dây trong một thời gian thì người ta thấy cái sự man trá của họ.

Kính Hòa: Trước khi dừng lời, ông còn có ý nào nữa không về bộ phim này để nói với quí khán thính giả?

Ông Chu Lynh: Dạ thưa đó là một điều chưa được đề cập đến, hoặc đề cập đến mà quá sơ sài. Nếu ông Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ James Zumwalt có nói về biến cố đá Garma, ông nói rằng đó là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến, nhưng có một tổn thất lớn nhất là dân chúng tại biên giới sáu tỉnh phía bắc. Đây cũng là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến. Người dân Việt nam trong nước hay ngoài nước nên chú ý tới cái điều này. Chúng tôi nghĩ là nếu ở trong nước có những nhà báo độc lập, những nhà làm phim độc lập, chứ không phải của nhà nước, làm một cuốn phim, một phóng sự, một bài viết về tình tại biên giới, về cái thảm kịch của họ, từ chiến tranh 1979 cho đến giờ, thì chúng tôi nghĩ là rất hữu ích cho đất nước.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Cám ơn nhà báo Mặc Lâm đã thực hiện một cuộc phỏng vấn rất hay. Cám ơn Thiếu tướng Lê Văn Cương đã phát biểu rất thẳng thắn và chí lý. Tôi cũng đã viết rõ: “Việt Nam không liên minh với nước này để chống nước khác, nhưng Việt Nam cần có đồng minh trong cuộc chiến để tự vệ”.

Tôi rất tiếc trong lần gặp Thiếu tướng Lê Văn Cương ở một hội nghị Việt-Mỹ tại Đại học Johns Hopkins sau khi hai nước thiết lập quan hệ bình thường, tôi đã không có dịp trao đổi riêng với ông. Có lẽ vào thời điểm đó, hai bên còn có sự nghi ngại về quan điểm và thái độ đối với nhau.

Bài trả lời phỏng vấn của Thiếu Tướng Cương cần phổ biến thật rộng rãi ở trong nước. Cũng cần được dịch ra Anh văn để gửi cho các Đại sứ quán ngoại quốc và truyền thông quốc tế.

Lê Xuân Khoa

Có những chân lý đơn giản, hiển nhiên, bàng bạc trong tâm trí nhiều người từ lâu, nhưng khi được một nhân vật tầm cỡ nào đấy nói lên thì bỗng  nhiên trở thành chân lý phổ biến, có sức lan tỏa lớn. Thiếu tướng Lê Văn Cương đã làm được một điều như vậy đúng vào những ngày cuối tháng Giêng năm 2015 này. Ông nói đại ý: Liên minh với Mỹ là yêu cầu lịch sử của Việt Nam, không phải để tấn công một nước nào khác mà để chống lại sự xâm lược của kẻ thù truyền kiếp Trung Quốc. Thật rõ ràng, giản dị, như hai với hai là bốn, và đúng là chân lý được bảo đảm bằng vàng, bởi người nói là một nhà chiến lược quân sự uy tín, từng nghiên cứu Trung Quốc trong rất nhiều thập niên. Theo quan sát của chúng tôi, từ lâu ông cũng là người đã thoát khỏi quan điểm “đu dây” nhập nhằng cố hữu của Đảng Cộng sản.

Cám ơn Giáo sư Lê Xuân Khoa đã có nhã ý nhắc chúng tôi đăng lại bài phỏng vấn đã cũ này, với lý do đã là chân lý thì không bao giờ cũ. Nói chính xác hơn, thực tiễn nóng bỏng ở Biển Đông trong những tháng vừa qua, không khí tranh luận ở một số hội nghị bàn tròn quốc tế gần đây, cũng như việc mời đón ngọt nhạt và ký kết xỏ xiên của Tập Cận Bình đối với TBT ĐCS Việt Nam trước khi ông này đi Mỹ, cho thấy chân lý mà Thiếu tướng Lê Văn Cương đã vạch ra, đang thực sự trở thành  ý chí mạnh mẽ của người dân Việt.

Bauxite Việt Nam



Báo chí TQ có hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ. RFA/Google map

Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc Kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây. Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP.HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.
Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga, Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.
Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả, chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì dấn tới.
Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tĩnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.
Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều thứ ba tôi muốn nói là không có gì mới.
Điều thứ tư là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.
Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!
Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải chín trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng chín trăm ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.
Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải… anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà… cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.
Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của Việt Nam thôi.
Ý chí người dân quy tụ chín mươi triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như chín mươi triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.
Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.
Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn Độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.
Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.
Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không giấu giếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.
Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.
M.L
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/fight-cn-wt-pwr-of-wills-01292015052321.html

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Năm 2015 này đánh dấu 70 năm kể từ Việt nam dành lại được nền tự chủ độc lập thóat khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau biến cố đảo chính vào ngày 9 Tháng Ba, 1945 (1945 – 2015). Nhưng đến ngày 19 Tháng Tám năm đó, thì người Việt Minh Cộng Sản lại tổ chức một “cuộc cướp chính quyền” và tuyên bố ngày đó là khởi sự cho “Cách Mạng Mùa Thu” ở nước ta – theo khuôn khổ “Cách Mạng Tháng Mười” của Liên Xô bắt đầu vào năm 1917.

Sau 70 năm, thời gian đã đủ nguôi ngoai lắng đọng để cho người Việt chúng ta có thể bình tâm luận định về biến cố lịch sử đày dãy những tang thương thống khổ – với biết bao nhiêu máu và nước mắt của hàng triệu người lương dân vô tội đã đổ ra tại khắp nơi trên quê hương đất nước mình.

Nói chung, thì cũng chỉ vì cái chủ trương cuồng tín quá khích gọi là “bạo lực cách mạng”, “chuyên chính vô sản” mà người cộng sản du nhập từ Liên Xô và Trung Cộng vào đất nước ta ngay từ năm 1945, nên mới xảy ra bao nhiêu cuộc thảm sát hàng lọat những người quốc gia yêu nước mà người cộng sản gán cho đủ các thứ nhãn hiệu xấu xa như : “ quân ngụy”, “việt gian”, “phản quốc”, “phản động”, “lưu manh”,“tay sai ngọai bang” v.v… Để rồi họ ra tay truy lùng, trừ diệt khủng bố cực kỳ dã man tàn bạo, không mảy may xót xa thương tiếc đối với người anh em cùng một nòi giống da vàng máu đỏ như chính mình.

Bài viết này nhằm ghi lại những cuộc thảm sát rùng rợn đó và tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của những hành vi cực kỳ tàn ác man rợ do người cộng sản cố tình gây ra ngay kể từ lúc họ mới nắm được chính quyền trong tay kể từ năm 1945 cho đến ngày nay. Xin trình bày một số vụ thảm sát điển hình theo thứ tự thời gian xảy ra lần lượt tại khắp các miền Trung, Nam, Bắc.

I-Những cuộc khủng bố tàn sát man rợ do người cộng sản gây ra tại khắp các nơi trong nước.

1-Vụ thảm sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

Ngay sau khi Việt Minh Cộng Sản chiếm được chính quyền trong tay vào Tháng Tám, 1945, thì tại nhiều làng xã thuộc các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành trong tỉnh Quảng Ngãi đã đồng lọat xảy ra các cuộc tàn sát tập thể (mass killing) tổng cộng lên đến gần 3,000 tín đồ Cao Đài. Có vùng người dân “bị giết hết cả già trẻ lớn bé mà mồ chôn tập thể cùng khắp các miền quê…” Sự việc này đã được Giáo Hữu Ngọc Sách Thanh tại Hoa Kỳ trình bày chi tiết trước Ủy Hội Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc gần đây vào Tháng Tư, 1999.

Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài có bảng liệt kê danh tánh các nạn nhân lên đến con số 2,791 người. Và trong tài liệu nghiên cứu có nhan đề là “Colonial Caodaists” do sử gia Janet Hoskins biên sọan, thì cũng ghi nhận con số 2,791 nạn nhân này. Danh sách này cũng được ghi nơi Đài Tưởng Niệm thiết lập từ năm 1956 tại Quảng Ngãi – mà sau năm 1975 chính quyền cộng sản đã cho triệt hạ phá bỏ hết tất cả mọi dấu tích đi.

Người đồ tể khét tiếng trong vụ thảm sát này có tên là Đặng Bửu sau này giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Chính Trị Nguyễn Ái Quốc ở Hà nội.

So với cuộc thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, thì cuộc tàn sát này tại Quảng Ngãi năm 1945 cũng thật là khủng khiếp ghê rợn không kém – nhưng mà nó lại ít được công chúng ở miền Nam trước năm 1975 biết đến. Nhưng có dấu hiệu lạc quan là gần đây giới học giả quốc tế cũng đã có điều kiện tìm hiểu nhiều về vụ thảm sát năm 1945 này.

Nhân tiện, cũng xin ghi thêm là nhà ái quốc Tạ Thu Thâu cũng đã bị Cộng Sản giết hại tại Quảng Ngãi hồi mùa thu năm 1945, vào lúc ông trên đường trở lại miền Nam sau cuộc viếng thăm miền Bắc vài tháng trước đó.

2-Những vụ khủng bố tiêu diệt người quốc gia yêu nước tại miền Nam trong thời gian từ 1945 đến 1947.

Tại miền Nam vào năm 1945, thì tuy không có vụ tàn sáp tập thể có quy mô lớn như tại Quảng Ngãi, nhưng lại có vô số những cuộc ám sát khủng bố giết hại những người quốc gia yêu nước do cán bộ cộng sản theo khunh hướng Đệ Tam Quốc Tế gây ra. Và tổng số các nạn nhân bị giết hại trong các năm 1945, 1946 và 1947 có thể lên đến hàng nhiều ngàn người.

Cụ thể là những nhân vật trí thức có tên tuổi thuộc khuynh hướng Đệ Tứ Quốc Tế (thường được gọi là Trotskystes) thì đều bị giết hại như: Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm v.v… Còn phải kể đến những vị lãnh đạo chính trị nổi tiếng cũng đều bị Cộng Sản chém giết, điển hình như nhân sĩ Bùi Quang Chiêu, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáo. v.v…

Tệ hại nhất là vụ sát hại Giáo Chủ Hùynh Phú Sổ người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo ở miền đồng băng sông Mekong – do người Cộng Sản thực hiện vào Tháng Tư, 1947. Sự việc động trời này đã gây ra mối hận thù dai dẳng kinh khiếp cho hàng triệu tín đồ Hòa Hảo tại khắp miền Nam.

Đối với các tín đồ Cao Đài tại miền Đông Nam Bộ cũng vậy, cán bộ Cộng Sản cũng ra tay tàn sát đến cả hàng ngàn nạn nhân nữa.

Chỉ riêng có một ngày 13 Tháng Mười, 1947, thì đã có đến con số 300 nạn nhân bị Việt Minh Cộng Sản ra tay sát hại tại khu vực Hóc Môn, Thủ Đức chỉ cách thành phố Sài Gòn có chừng vài chục cây số mà thôi.

Người chủ chốt phát động các cuộc tàn sát này chính là Tướng Nguyễn Bình (tên thật là Nguyễn Phương Thảo) do Trung Ương ở Hà Nội phái vào miền Nam để phụ trách điều hành guồng máy chính trị và quân sự tại đây.

3-Những vụ sát hại các thành viên ưu tú của các đảng Đại Việt, Duy Dân và Quốc Dân Đảng ở miền Bắc.

Tại miền Bắc, thì các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Duy Dân, Quốc Dân Đảng đều lần lượt bị người Cộng Sản dùng mọi thủ đọan tàn bạo thâm độc mà tiêu diệt cho bằng hết. Điển hình là các lãnh tụ nổi danh như Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông A của Duy Dân và vô số những đảng viên ưu tú khác của Quốc Dân Đảng cũng đều bị ám hại bằng cách thủ tiêu hay giam giữ ngặt nghèo trong các trại tù đến nỗi phải bỏ xác nơi xa xôi hẻo lánh – mà thân nhân không hề được thông báo để lo việc ma chay chôn cất và cúng giỗ. Có thể nói tổng số nạn nhân bị sát hại như vậy ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1945 đến 1954 phải lên đến con số nhiều ngàn người.

Xin ghi lại vài trường hợp bị bắt giam rồi bị sát hại rất thương tâm của mấy nhân vật rất nổi tiếng như sau:

A-Nhà văn Khái Hưng.

Khái Hưng là một nhà văn nổi tiếng từ thập niên 1930 trong Nhóm Tự Lực Văn Đòan do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng. Vào năm 1940, Khái Hưng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt đi an trí tại vùng quê xa Hà nội. Năm 1947, ông đang ở nhà nhạc phụ trong huyện Trực Ninh, Nam Định, thì bị công an Việt Minh đến bắt đi và sát hại rồi vất xác xuống dòng sông Ninh Cơ chỗ gần bến đò Cựa Gà.

B-Bộ trưởng Chu Bá Phượng.

Ông Chu Bá Phượng sinh năm 1908 tại Bắc Giang là một kỹ sư đã từng tham gia vào công trình thiết lập đường xe lửa Đông Dương vào hồi thập niên 1930. Ông còn là một người trong thành phần lãnh đạo nòng cốt của Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông Chu Bá Phượng giữ chức bộ trưởng Kinh Tế trong Chính Phủ Liên Hiệp trong đó có ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch, ông Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng Ngọai Giao. Cuối năm 1946, vì các nhân vật quốc gia như Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều đào thóat ra nước ngòai, nên chỉ còn có một mình ông Chu Bá Phượng bị kẹt lại và phải đi theo văn phòng chính phủ di tản lên chiến khu ở Việt Bắc.

Không bao lâu sau, ông Phượng bị đem đi quản chế ngặt nghèo tại vùng Hà Giang, Sơn La. Và từ cuối năm 1960, thì gia đình ông ở Hà Nội không hề nhận được bất kỳ tin tức nào của ông nữa. Mấy chục năm sau vào đầu thập niên 1990, con cháu mới nhờ người sử dụng ngọai cảm mà tìm được hài cốt của ông tại nơi rừng núi hoang vắng vùng Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc và cải táng đem về quê nhà ở miền xuôi.

Giám đốc công an ở miền Bắc thời đó chính là ông Lê Giản, ông này phải chịu trách nhiệm nghiêm trọng về các cuộc đàn áp và giết chóc này.

II-Tìm hiểu nguyên do tại sao người cộng sản lại gây ra những vụ tàn sát với quy mô rộng lớn khủng khiếp như thế?

Trước khi đi sâu vào vấn đề, ta cần phải tĩnh trí để nhận định tình hình xã hội chính trị thực tế ở nước ta vào thời kỳ trước năm 1945 đại khái như thế này:

1-Không hề có sự ân óan thù hận nào giữa người cộng sản với người không Cộng Sản cả. Bởi lẽ vào lúc đó, tất cả hai nhóm đều là những người yêu nước và cùng hành động giống nhau là chống thực dân Pháp. Như vậy là tất cả đều ở cùng chung một phe để đối nghịch chống lại cái ách đô hộ của người Pháp để cùng dành lại nền độc lập tự chủ cho người Việt Nam. Và cả hai nhóm đều bị chính quyền Pháp đàn áp, bị bắt giam chung với nhau trong cùng một nhà tù nữa. Vì cùng có tinh thần yêu nước như nhau, lại cùng là nạn nhân khốn khổ vì sự tàn ác của đế quốc thực dân, cho nên giữa người cộng sản và không cộng sản lúc đó lại có sự thương yêu đùm bọc liên đới gắn bó chặt chẽ với nhau nữa.

Điều này khác hẳn với hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở bên Trung Quốc, vì hai phe đánh phá giành giật, giết chóc lẫn nhau suốt trong mấy chục năm kể từ cuối thập niên 1920 cho đến năm 1949, thì phe Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo mới tòan thắng và buộc phe Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu phải rút lui qua đảo Đài Loan. Từ đó mà phe Cộng Sản thắng trận phát động chiến dịch trả thù những người thua trận nào mà còn bị kẹt lại ở nội địa Trung Quốc. Tình trạng này chỉ xảy ra tại Việt Nam năm 1975 sau khi quân đội Cộng Sản từ miền Bắc xâm chiếm được tòan thể lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

2-Ấy thế mà tại sao vào năm 1945, khi có chính quyền nắm trong tay được rồi, thì người Cộng Sản lại ra tay tận diệt người quốc gia một cách tàn bạo man rợ đến thế?

Câu trả lời cho vấn nạn này có thể thật ngắn gọn như sau: Đó là do họ áp dụng triệt để cái chủ trương “Bạo Lực Cách Mạng” (the Revolutionary Violence) mà họ học tập được từ Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Comintern do Liên Xô lãnh đạo.

Ngay từ thập niên 1920 cho đến năm 1945, thì đã có đến hàng trăm cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam được đào tạo rất bài bản tại Trường Đông Phương tại Moscow do Comintern điều hành. Tại đây, họ được học rất kỹ về kỹ thuật gọi là “agitprop = agitation – propaganda” – tức là tổ chức vận động quần chúng, tuyên truyền và đặc biệt về phương thức gây bạo lọan để tạo thời cơ cướp chính quyền. Họ cũng học được kỹ thuật xây dựng guồng máy công an mật vụ theo mô hình của Liên Xô để kềm kẹp dân chúng một khi họ đã nắm giữ được chính quyền.

Nói vắn tắt là Cộng Sản Việt Nam được Comintern đào tạo hương dẫn rất kỹ về mọi thủ đọan tinh vi để thiết lập được một chế độ độc tài chuyên chính vô sản (proletarian dictatorship). Do đó mà họ đã không từ bỏ bất kỳ một thủ đọan tàn ác vô nhân đạo nào – miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đảng Cộng Sản là nắm vững được chính quyền trong gọng kềm sắt thép của mình.

Trái lại, các đảng phái quốc gia khác, thì không hề có được sự huấn luyện đào tạo hay sự yểm trợ vật chất tinh thần nào từ phía ngọai quốc tương tự như của Comintern cấp phát dồi dào cho đảng cộng sản Việt Nam.

Do đó mà từ năm 1945, Cộng Sản đã mặc sức tung hòanh ở Việt Nam với đủ mọi thứ đòn phép thâm độc và quỷ quyệt để vô hiệu hóa và tiêu diệt được mọi sức đối kháng của các đảng phái quốc gia hay của các tổ chức tôn giáo.

III-Tóm lược

Ta có thể tóm lược bài viết này bằng mấy nét chính yếu như sau:

1-Trước năm 1945, những người yêu nước dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, thì đều cùng theo đuổi một mục tiêu là đánh đổ chế độ thực dân Pháp để giành lại nền độc lập cho Việt Nam.

Thế nhưng, từ khi người Cộng Sản nắm giữ được quyền hành trong tay, thì ngay tức khắc họ ra tay tiêu diệt những người yêu nước khác để dành độc quyền riêng cho mình trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế cũng như văn hóa tinh thần. Đó là một thứ độc tài chuyên chế tòan trị (totalitarian dictatorship).

Hâu quả tai hại trầm trọng nhất của chủ trương này là đã phá hoại tận gốc rễ cái nền nếp nhân bản, nhân ái truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.

2-Dĩ nhiên là trong cái xã hội do thực dân, phong kiến tạo lập ra, thì có đầy rẫy những bất công áp bức. Nhưng vì người Cộng Sản đã cuồng tín du nhập cái chủ trương “hận thù giai cấp”, “bạo lực cách mạng” của Liên Xô và Trung Quốc vào đất nước ta, cho nên mới gây ra không biết bao nhiêu tang thương khổ nhục chết chóc cho tòan thể dân tộc ròng rã suốt 70 năm qua.

Như cha ông chúng ta từ xưa vẫn cảnh báo rằng “Lấy óan báo óan, óan ấy chập chùng”. Thì rõ ràng từ năm 1945 đến nay, đảng Cộng Sản đã liên tiếp gây ra biết bao nhiêu điều oan trái, khốn khổ cho cả hàng mấy chục triêu gia đình lương dân vô tội. Đó là một cái tội tày đình mà “Trời không dung, Đất không tha” cho người Cộng Sản vẫn còn cực kỳ ngoan cố mãi được.

3-Bài viết này là một lời nhắc nhở cho giới lãnh đạo chóp bu Cộng Sản ở Hà Nội phải biết phục thiện và thành khẩn công khai nhận lỗi của mình trước tòan thể dân tộc và dám có can đảm nói lên sự xám hối ăn năn về các tội ác man rợ kinh khủng như thế.

Có làm được như vậy, thì họ mới xứng đáng đón nhận được sự khoan dung tha thứ của đại khối dân tộc Việt Nam vậy./

Westminster California, Tháng Sáu 2015

Tài liệu tham khảo

Bài viết này được xây dựng trên những chứng từ của một số gia đình nạn nhân bị cộng sản sát hại với sự tham khảo từ một số bài nghiên cứu nghiêm túc mới đây của các chuyên gia sử học quốc tế. Cụ thể xin được trưng dẫn ra như sau đây :

1-Nhiều thư của ông Chu Bá Phượng viết về cho con vào cuối thập niên 1950 lúc ông bị quản chế tại Việt bắc. Búc thư sau cùng viết vào cuối năm 1960, sau đó thì biệt tăm luôn.

2-Thông tin do gia đình cụ Lê Quang Sách cung cấp. Cụ Sách năm nay đã 88 tuổi, cụ là người thóat chết trong vụ thảm sát gần 3,000 tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

3-Về các tư liệu lấy từ Internet, thì đặc biệt có các tài liệu sau đây:

A-Vụ tàn sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945 (tiếng Việt). Do tổ chức của Giáo Hội Cao Đài phổ biến trên Trang Nhà “Hành Trình về Chân Lí Đạo” vào ngày 21/3/2015.

B-“Caught between Propaganda and History” by Shawn McHale, 2014. Tài liệu dài 10 trang là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” được đăng trong Tủ sách “Cold War International History Project”

C-“Autopsy of a Massacre” – “On a Political Purge in the Early Days of the Indochina War” (Nam Bộ 1947)  by Francois Guillemot, 2010. Tài liệu này dài 40 trang là một bài nghiên cứu rất công phu về sự khủng bố và tàn sát vì lí do chính trị ở miền Nam được đăng trong European Journal of Asian Studies.

D-“The Viet Minh Elimination of National Parties and Groups (1945-47)” by Human Rights Watch, April 23, 2013. Tài liệu dài 17 trang viết chi tiết về việc Việt minh tiêu diệt các đảng phái chính trị tại miền Nam trong giai đọan 1945 – 1947./

Đoàn Thanh Liêm

Sau cái chết sẽ là gì?

Sau cái chết sẽ là gì?

Mo Costandi

BBC

“Cái này phải bẻ mạnh một chút nữa mới gỡ ra được,” Holly Williams, một người làm dịch vụ tang lễ nói trong lúc cô cố gắng duỗi các ngón tay, cùi chỏ và cổ tay của John.

“Thường thì công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn nếu thi thể còn mới”.

Sinh ra trong một gia đình kinh doanh dịch vụ tang lễ ở phía bắc Texas, Williams, 28 tuổi, tính đến nay đã xử lý khoảng 1.000 thi thể.

Công việc của cô bao gồm việc đưa các thi thể từ khu vực Dallas-Forth Worth về nơi chuẩn bị cho tang lễ.

“Hầu hết những người chúng tôi mang về là từ các nhà dưỡng lão, nhưng cũng có người chết do bị bắn hay tai nạn giao thông,” cô nói.

“Đôi khi có người đã chết nhiều ngày hoặc nhiều tuần mới được phát hiện ra và thi thể của họ đã bắt đầu bị phân huỷ, khiến công việc của tôi trở nên khó khăn hơn”.

John đã chết khoảng 4 giờ trước khi thi thể của ông được đưa đến nhà tang lễ.

Khi còn sống, ông làm việc tại một mỏ dầu và là người khá khỏe mạnh. Ông bỏ thuốc lá từ hàng chục năm trước và cũng ít uống rượu. Thế nhưng cơn đau tim vào một buổi sáng tháng Giêng đã khiến John ngã quỵ và qua đời ở tuổi 57.

Giờ đây, nằm trên chiếc bàn sắt của Williams, thi thể của John đã chuyển lạnh và ngả màu tím-xám, dấu hiệu cho thấy quá trình phân huỷ đã bắt đầu.

Tự phân hủy

Thế nhưng cơ thể của người chết không ‘hoàn toàn chết’ mà vẫn chứa nhiều sự sống ngay trong quá trình phân huỷ.

Nhiều nhà khoa học xem thi thể là một hệ sinh thái xuất hiện ngay sau khi chết và chuyển hoá qua nhiều giai đoạn sau khi quá trình phân huỷ bắt đầu.

Quá trình phân huỷ bắt đầu chỉ vài phút sau khi chết, bắt đầu bằng giai đoạn ‘tự phân’.

Ngay sau khi tim ngừng đập, các tế bào sẽ không còn được cung cấp oxygen. Enzyme bắt đầu tiêu hoá màng tế bào và rò rỉ ra ngoài trong lúc các tế bào bị tan rã.

Điều này thường bắt đầu đầu tiên ở gan, vốn giàu enzyme, và ở não, nơi có tỷ lệ nước cao. Dần dần, tất cả các mô đều bị tiêu huỷ theo cách này.

Các tế bào máu bị tổn thương sẽ bắt đầu trào ra khỏi cách mạch máu bị vỡ và khiến da đổi màu.

Nhiệt độ cơ thể cũng bắt đầu giảm cho đến khi bằng với nhiệt độ xung quanh. Sau đó, xác bắt đầu cứng dần, bắt đầu từ mí mắt, hàm, cơ cổ, cho đến tay chân.

Ở người sống, thành phần tế bào cơ có thể co duỗi nhờ hoạt động của hai loại protein có cấu tạo dạng sợi là actin và myosin, vốn di chuyển sát nhau.

Sau khi chết, các tế bào này bị mất nguồn cung cấp năng lượng và ngưng hoạt động khiến các cơ bị cứng lại, còn các khớp xương không duỗi gập được nữa.

Trong giai đoạn đầu, hệ sinh thái xác chết thường chỉ bao gồm vi khuẩn sinh sống trên và trong cơ thể.

Cơ thể chúng ta chứa một lượng lớn vi khuẩn, từ bề mặt cơ thể cho đến nội tạng. Tuy nhiên nơi chứa nhiều vi khuẩn nhất là ruột, nơi sống của hàng nghìn tỷ vi khuẩn thuộc hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn họ khác nhau.

Hệ miễn dịch ngưng hoạt động

Tháng Tám 2014, Gulnaz Javan, một nhà khoa học pháp y từ Đại học Bang Alabama tại Montgomery đã cùng các đồng nghiệp công bố kết quả nghiên cứu về cái mà họ đặt tên là ‘thanatomicrobiome’ (bắt nguồn từ từ thanatos, tức ‘cái chết’ trong tiếng Hy Lạp).

“Nhiều mẫu nghiên cứu của chúng tôi đến từ các vụ hình sự,” Javan nói. “Nhiều người chết vì tự vẫn, bị mưu sát, dùng ma tuý quá liều hoặc tai nạn giao thông, và tôi đã lấy mẫu mô từ đó. Do vấn đề đạo đức nên chúng tôi cần được sự đồng ý khi lấy các mẫu mô đó.”

Hầu hết nội tạng đều được bảo vệ trước vi khuẩn khi chúng ta còn sống.

Tuy nhiên ngay sau khi chết, hệ thống miễn dịch ngưng hoặc động, khiến vi khuẩn tự do lan ra khắp cơ thể.

Vi khuẩn làm haemoglobin trong máu chuyển thành sulfhaemoglobin (Hình: Science Photo Library)

Vi khuẩn thường bắt đầu lan ra từ ruột, tại các đoạn tiếp giáp giữa ruột non và ruột già.

Không bị kiềm chế, chúng bắt đầu đánh chén ruột trước, từ trong ra ngoài, sau đó đến các mao quản của hệ tiêu hoá và các hạch bạch cầu, lan sang gan và lá lách, rồi từ đó lên tới tim và não.

Javan và nhóm của bà đã lấy mẫu xét nghiệm từ gan, lá lách, não, tim và máu từ 11 thi thể của những người đã chết từ 20 – 240 tiếng đồng hồ. Nhóm nghiên cứu sử dụng hai công nghệ xét nghiệm DNA tối tân khác nhau, kết hợp với các thông tin sinh học để phân tích và so sánh thành phần vi khuẩn trong mỗi mẫu phẩm

Các mẫu xét nghiệm lấy từ các bộ phận cơ thể khác nhau của cùng một thi thể rất giống nhau, trong khi các nội tạng giống nhau từ nhiều thi thể lại rất khác nhau.

Điều này có thể là do cấu tạo khác biệt của các quần thể vi khuẩn trong từng thi thể, hoặc do thời gian chết khác nhau.

Một nghiên cứu từng chỉ ra rằng dù các quần thể vi khuẩn trải qua nhiều thay đổi sau cái chết, sự thay đổi này là khá đồng đều, giúp các nhà nghiên cứu có thể ước tính khá chính xác được thời gian chết từ ba ngày đến 2 tháng.

Nghiên cứu của Javan cũng cho thấy các vi khuẩn tràn vào gan 20 giờ sau khi chết và chúng cần khoảng 58 giờ để lan ra khắp các nội tạng.

Như vậy, sau khi chúng ta chết, vi khuẩn sẽ lan ra khắp cơ thể một cách hệ thống, và các bác sỹ pháp y có thể dựa vào thời gian vi khuẩn lan từ nội tạng này sang nội tạng khác để ước tính thời gian chết.

“Sau cái chết, cấu tạo các quần thể vi khuẩn thay đổi,” Javan nói.

“Vi khuẩn lan sang tim, lên não và cuối cùng mới đến các cơ quan sinh sản”.

Có một điều rõ ràng là các nhóm thành phần vi khuẩn khác nhau thì liên quan đến các giai đoạn phân hủy khác nhau.

Hoạt động của vi khuẩn thay đổi hàng giờ trong xác chết (Hình: Getty Images)

Phân huỷ tự nhiên

Đối với hầu hết chúng ta, hình ảnh thi thể là một điều đáng sợ. Nhưng đối với các thành viên tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp y Ứng dụng ở đông nam Texas, việc tiếp xúc với tử thi là chuyện thường nhật.

Đi vào hoạt động từ năm 2009, trung tâm này nằm tại một khu rừng thuộc sở hữu của Đại học Sam Houston State (SHSU).

Vào cuối năm 2011, các nhà nghiên cứu từ SHSU là Sibyl Bucheli và Aeron Lynne đã cùng các đồng nghiệp đã mang hai thi thể đến đây và quan sát sự phân huỷ trong môi trường tự nhiên.

Sau khi quá trình tự phân bắt đầu và vi khuẩn đã lan ra khắp nội tạng, xác bắt đầu bị thối rữa.

Các mô mềm bắt đầu chuyển hoá thành khí, chất lỏng và muối.

Quá trình thối rữa bắt đầu ngay trong thời gian đầu, nhưng thực sự rõ rệt khi vi khuẩn kỵ khí tham gia hoạt động.

Việc thối rữa liên quan tới sự chuyển vai trò hoạt động từ các loài vi khuẩn ưa khí, vốn cần oxygen để sống, sang các loài kỵ khí, vốn không cần đến oxygen.

Chúng ăn các mô cơ thể, làm lên men chất đường rồi từ đó sinh ra khí methane, hydrogen sulphide và ammonia tích tụ trong cơ thể, làm trương phồng khoang bùng và đôi khi cả các bộ phận cơ thể khác.

Điều này khiến cơ thể bị chuyển màu rõ rệt hơn.

Trong lúc các tế bào máu tiếp tục rò rỉ ra từ các mạch máu đã tan rã, các vi khuẩn kỵ khí tiếp tục biến các phân tử haemoglobin, vốn từng đưa oxygen đi khắp cơ thể, thành sulfhaemoglobin.

Sự hiện hữu của loại phân tử này trong cơ thể khiến màu da thi thể chuyển sang màu xanh đen đặc trưng cho thấy việc phân hủy đang diễn ra.

Ký sinh trùng

Các loại khí tiếp tục tích tụ trong cơ thể, gây phồng rộp bề mặt da.Tiếp đến sẽ là giai đoạn từng mảng da lớn bong ra, chỉ còn dính hờ vào cơ thể đang phân rã.

Cuối cùng các lượng khí và các lớp mô đã chảy nước thoát ra khỏi cơ thể, mà thường là qua đường hậu môn và các lỗ tự nhiên khác cùng các vết da rách trên cơ thể. Đôi khi áp suất quá lớn khiến khoang bụng phình to tới mức nổ toác ra.

Việc sưng phồng lên thường được coi là dấu hiệu cho thấy quá trình chuyển từ giai đoạn đầu sang giai đoạn sau của quá trình phân hủy, và một nghiên cứu khác gần đây cho thấy việc chuyển biến này được xác định bằng việc thay đổi trong thành phần vi khuẩn trong xác chết.

Cơ thể trong quá trình phân huỷ trở thành hệ sinh thái của vi khuẩn, côn trùng và các loài ăn xác.

Hai loài thường gắn với quá trình phân huỷ là ruồi nhặng.

Ruồi nhặng phát hiện ra mùi thi thể bằng ăng-ten trên đầu, sau đó hạ cánh xuống thi thể và đẻ trứng và các khe hở.

Mỗi con ruồi có khả năng đẻ 250 trứng, và trứng sẽ nở thành giòi trong vòng 24 tiếng.

Giòi bò nhung nhúc làm nhiệt độ bên trong xác chết tăng cao (Hình: Science Photo Library)

Những con giòi này ăn xác và trở nên lớn hơn, cho đến khi chúng đủ sức chui ra khỏi cơ thể và phát triển thành ruồi.

Quy trình này tiếp tục cho đến khi chúng không còn gì để ăn.

Nếu hội tụ đủ các điều kiện cần thiết, một thi thể phân huỷ sẽ có một số lượng lớn giòi bên trong.

Các ‘đàn giòi’ tỏa nhiều nhiệt, khiến nhiệt độ bên trong cơ thể lên 10 độ C.

Nếu như chim cánh cụt thường xuyên di chuyển để giữ ấm thì những con giòi này lại di chuyển liên tục để hạ nhiệt.

Sự hiện diện của ruồi thu hút các loài săn mồi khác như bọ cánh cứng, kiến, nhện, vốn ăn trứng ruồi và ấu trùng. Kền kền và các loài ăn xác khác cũng có thể bị lôi cuốn.

Nếu không có các loài ăn xác, những đàn giòi này sẽ ăn hết các mô mềm rất nhanh.

Nhà khoa học Carl Linnaeus ghi lại trong một nghiên cứu năm 1767: “Ba con ruồi có thể tiêu thụ hết xác chết của một con ngựa nhanh không kém gì một con sư tử”.

Có thể dùng thiết bị bay phía trên phân tích đất để phát hiện ra thi thể bị chôn vùi bên dưới (Hình: Getty Images)

Đất màu mỡ

Xác chết bị phân huỷ giúp làm thay đổi thành phần hoá học của phần đất bên dưới, tạo nên những thay đổi có thể duy trì trong nhiều năm.

Những phần còn lại trong cơ thể mang lại chất dinh dưỡng cho đất, và sự di chuyển của giòi giúp mang phần năng lượng bên trong lan ra một môi trường rộng hơn.

Toàn bộ quy trình này tạo nên một ‘đảo thi thể phân huỷ’ – một khu vực đất đai màu mỡ.

Theo một ước tính, trung bình, một cơ thể người có 50-75% là nước và mỗi kg xác khô thải ra 32g nitrogen, 10g phosphorous, 4g potassium và 1g magnesium ra đất.

Các loài giun đất và các loài thực vật nhờ đó trở nên khoẻ mạnh hơn.

Những nghiên cứu về những thay đổi đối với môi trường xung quanh có thể giúp các nhà điều tra lần ra những thi thể bị chôn trong các vụ án mạng.

Việc nghiên cứu lớp đất quanh mộ cũng giúp ước tính tốt hơn thời gian chết.

Một nghiên cứu hồi năm 2008 chỉ ra rằng chất khoáng vô cơ phosphorous rỉ từ cơ thể vào trong đất ở mức cao nhất vào 40 ngày sau khi chết, trong khi đối với nitrogen là 72-100 ngày.

Hiểu biết rõ hơn về những quy trình này sẽ giúp các nhà nghiên cứu pháp y một ngày nào đó ước tính chính xác hơn thời gian một thi thể được chôn cất trong một ngôi mộ bí mật.

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Chẳng lẽ cứ luôn mãi là “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới?

Lang Thang Internet


Linh Tiến Khải

Từ mấy tuần qua tin tức về tình hình tại Biển Đông xem ra dồn dập và nóng bỏng, lôi kéo sự chú ý của các phương tiện truyền thông quốc tế.

Hôm mùng 2 tháng 6 vừa qua nhật báo Shimbun của Nhật Bản có đăng bài bình luận bàn về tình hình Biển Đông, và đưa ra ra câu hỏi: liệu tổng thống Barack Obama có thực sự muốn cản ngăn hành động cướp biển phi pháp của nhà nước Bắc Kinh hay không, và nếu có thì tới mức độ nào. Trong các tháng qua toàn thế giới đều chứng kiến thái độ ngoan cố, lì lợm, vô liêm sỉ của Nhà nước cộng sản Trung Quốc, ngang nhiên ngồi xổm trên luật pháp quốc tế, và công khai ăn cướp biển đảo của các nước vùng Đông Nam Á. Nó cho thấy Nhà nước Bắc Kinh càng ngày càng cương quyết nhận vơ Biển Đông là của mình, và đặt chủ quyền trên Biển Đông, bằng cách gấp rút xây các căn cứ và sân bay quân sự trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khác đã cướp được của Việt Nam, với sự đồng loã phản quốc bán nước của Nhà nước cộng sản Hà Nội. Với các hoạt động gấp rút ấy quân cướp Trung Cộng muốn đặt thế giới trước những sự kiện đã rồi. Nhưng việc xây 7 đảo nhân tạo trái phép ấy trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã gây ra làn sóng tranh luận trên chính trường Hoa Kỳ cũng như trong nội bộ quân đội nước này. Ngay từ năm ngoái Hải quân Mỹ đã kêu gọi chính quyền Washington nhanh chóng đưa máy bay và tầu chiến vào khu vực các đảo bị Bắc Kinh chiếm đoạt phi pháp.

Từ tháng 5 vừa qua quân đội Hoa Kỳ đã bắt đầu cho máy bay do thám và tàu chiến hiện đại thực hiện các vụ trinh sát, giữ gìn tự do hàng hải ở Biển Đông. Và trong các ngày từ 17 đến 21 tháng 5 vùa qua Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương đã tổ chức một cuộc diễn tập tác chiến đổ bộ tại Hawaii với sự tham dự quan sát của các giới chức quân đội cao cấp của 20 quốc gia. Ngày 27 tháng 5 Tân chỉ huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, đô đốc Harry Harris gọi các yêu sách của Trung Quốc là “lố bịch”. Phát biểu trong buổi lễ nhận chức ngày 27 tháng 5 đô đốc Harris nói: “Hoa Kỳ sẽ tái lập thế cân bằng ở Thái Bình Dương. Lực luợng kết hợp của chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ với các đồng minh và bạn bè ở khu vực. Nếu được yêu cầu chúng tôi sẽ chiến đấu ngay buổi tối hôm nay để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện diện và phát biểu trong buổi lễ ông Ashton Carter, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, nhắc lại lập trường của Mỹ là phản đối bất kỳ hành động quân sự nào của Trung Quốc trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ông nói: trước tiên chúng tôi muốn giải quyết các tranh chấp trong hòa bình và yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay việc cải tạo đất ở Biển Đông dựa trên các yêu sách của họ. Thứ hai, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục bay, di chuyển và khai triển hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như đã từng làm trên toàn thế giới này. Cuối cùng, với các hành động của mình Trung Quốc đang đứng ngoài hai tiêu chuẩn quốc tế, đó là đe đọa an ninh khu vực Á châu Thái Bình Dương và vi phạm nguyên tắc “tiếp cận không cưỡng chế” mà các nước trong khu vực đang theo đuổi.”

Hoa Kỳ cũng tuyên bố rằng nếu Trung Cộng không dừng hoạt động xây đảo nhân tạo phi pháp, thì chính quyền Mỹ sẽ đưa tầu chiến vào khu vực 12 hải lý của các đảo đá, mà Trung Quốc chiếm đoạt trái phép.

Mới đây nhất ngày mùng 2 tháng 6 vừa qua trong buổi đón tiếp và trao đổi với các đại diện giới trẻ hoạt động xã hội Đông Nam Á thuộc tổ chức “Chương trình thân hữu các sáng kiến của giới trẻ lãnh đạo Đông Nam Á” tại tòa Bạch Ốc, tổng thống Barack Obama kêu gọi Nhà nước cộng sản Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, và ngưng ngay các hành động “thúc cùi chỏ”, ăn hiếp các quốc gia láng giềng để bành trướng thế lực tại Biển Đông. Nếu Trung Quốc không từ bỏ kiểu hành động này, dùng sức mạnh của một nước lớn để tranh giành chủ quyền và dựa vào lực lượng hải quân thay vì pháp luật, thì nền kinh tế Á châu sẽ không còn thịnh vượng nữa.

Trước mắt, Hoa Kỳ đưa ra chiến lược “Cost Imposing” kết hợp các biện pháp ngoại giao, quân sự và tuyên truyền tạo dư luận quốc tế bằng cách liên tục công bố các hình ảnh Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở Biền Đông để buộc Trung Quốc phải trả giá mắc mỏ cho các tham vọng của mình. Đồng thời chính quyền Whasington cũng thắt chặt các mối quan hệ với các đồng minh châu Á Thái Bình Dương và các nước Đông Nam Á, gia tăng năng lực phòng vệ biển đảo, và mong Lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia nhiệm vụ tuần tra ở Biển Đông.

Dọc dài lịch sử suốt 70 năm của mình Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ biết xung phong làm “quân tốt thí” cho Liên Xô và Trung Cộng, hết hy sinh xương máu của nhân dân, rồi lại ký kết các công hàm bán nước cho Trung Quốc. Năm 1975 tập đoàn cộng sản Hà Nội đã rước 10 sư đoàn tầu cộng vào Bắc Việt để dồn quân tiến chiếm miền Nam. Sau đó vơ vét tất cả nhũng gì có thể vơ vét được để trả nợ cho Bắc Kinh. Giờ đây, bốn mươi năm sau khi đặt ách thống trị độc tài sắt máu trên cả nước, và để vuột mất bao nhiêu dịp may thoát ách nô lệ, chẳng lẽ đảng cộng sản Viêt Nam cứ luôn mãi ngu đần cúi đầu làm “quân tốt thí” trên bàn cờ thế giới hay sao?

http://vi.radiovaticana.va/news/2015/06/05/chẳng_lẽ_cứ_luôn_mãi_là_quân_tốt_thí_trên_bàn_cờ_thế_giới/1149347

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,

“Em ra đi mùa thu! mùa thu không trở lại”,
“em ra đi mùa thu sương mờ giăng âm u

em ra đi mùa thu mùa thu không còn nữa
đếm lá úa mùa thu đo sầu ngập tim tôi.”

(Phạm Trọng Cầu – Mùa Thu Không Trở Lại)

Trần Ngọc Mười Hai

(Rm 12: 9-13)

Có trở lại hay không, thì thu mùa vẫn luôn là Mùa Thu, mùa của những úa vàng màu lá rất tình-tự. Tình-tự của thu mùa/mùa Thu lại dễ thấy, dễ bắt gặp ở câu ca tiếp theo đó, hát thế này:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ
buồn này ai có mua?
Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,
ngập giòng nước sông Seine,
mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Ấy chết! sao lại “nghe chơi vơi não-nề”, rồi lại thấy những là “sương rơi che phố mờ”, “chia-ly”, “nghe rơi bao lá vàng”, “ngập giòng nước song Seine.” Ôi thôi! Là, thi-ca ngập tràn giòng chảy rất êm đềm để tôi, để bạn, để chúng ta không còn quên lãng những ngày “mùa Thu không trở lại”, được nữa rồi.

Thế đó, là những cảm-xúc, cảm-quan và cảm-nhận ở đời người, nơi thi-ca giòng chảy rất đời thường. Và dưới đây, lại là những xúc-cảm, xúc-động cùng chất xúc-tác ở giòng đời người đi Đạo, nay đã thấy. Thấy, như người viết trên truyền-thông/báo-chí, rất như sau:

“Rất ư là thường tình, chuyện bảo rằng: tôi hay có cái cảm-giác cần chuyển-tải khắp chốn/miền lời xin lỗi gửi đến với mọi người, cả khi lý-lẽ tôi đưa ra vẫn rất thừa, tuy đúng đắn. Đôi lúc, tôi cũng tỏ ra cứng-rắn với chính mình sau nhiều khoảnh-khắc thấy mình quá nhạy-cảm. Nên, tôi thích để lại một số ấn-tượng để mọi người thấy tôi là người có lý-trí chứ không chỉ mỗi xúc cảm tràn đầy mà thôi… Tuy thế, tôi vẫn thấy cảm-xúc vẫn là điều tốt đẹp cho mọi người. Nay, xin có đôi phút để ‘sáng-tỏ’ vấn-đề.

Trước nhất, chả khi nào tôi coi cảm-xúc là những gì bết bát, dù lý-lẽ hay lý-sự bao giờ cũng chễm-chệ ở trên. Thứ đến, đây không là cảm-tưởng của giới phụ-nữ khi nghĩ rằng nam-giới vẫn hay làm bọn tôi cảm thấy xấu-xa tệ-bạc đầy xúc-động và vì thế mới thấy rằng “đàn ông thường ở trên cơ bọn nữ tớ phận hèn này!” Điều đó không có nghĩa vơ đũa cả nắm bảo rằng: vốn dĩ là nữ-giới nên chúng tôi có làm thế nào đi nữa cũng vẫn bị mang tiếng là tạo vật lằng-nhằng đầy cảm-xúc. Nhưng, dù sao bọn tôi cũng nhận ra rằng: khi ta kiểm-soát được mọi cảm-xúc không để chúng khống-chế trên ta, thì khi đó ta sẽ hoàn toàn mạnh-khoẻ, bình thường dễ tạo cuộc sống cho chính mình. Và, đó cũng là thành-phần cấu-tạo nữ-tính theo sinh-lý với tất cả mọi chi-tiết về sinh-lý làm mục-tiêu….

Nói tóm lại, xúc-cảm dù mang tính nhiều xúc-động đi nữa, vẫn là dấu-hiệu của sự mạnh-khoẻ chứ không phải đau/yếu bao giờ hết…” (x. Tamara Rajakariar, Women and their feelings, MercatorNet 4/3/2015)

Vâng. Thế đó, là một quan-niệm ở đời. Với mọi người trong đời. Một đời người lại vẫn có những câu ca được người nghệ-sĩ diễn-tả bằng giòng chảy thi-tứ rất tiếp-tục, rằng:

“Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Cả thi-nhân lẫn nhạc-sĩ, có thể “không bao giờ quên” được những cảm xúc lê thê, sầu buồn nhất là vào lúc thấy rõ rằng: “Hôm em ra đi mùa thu”, thì đó là lúc tôi và anh đều sẽ “đếm lá úa sầu lên”, để rồi “bao giờ cho tôi quên.”

Ở nhà Đạo, đôi lúc cũng thấy rằàng: người đi Đạo và giữ Đạo đôi lúc cũng hay quên rất nhiều chuyện, như chuyện chính-yếu trong đời, được Đức Giáo Tông nhắc nhở ở lời nhắn nhủ vào hôm ấy, như sau:

 

“Gặp gỡ người cao niên, ốm yếu, bệnh-tật, Đức Giáo Tông có nhắc nhở rằng: người đau/yếu vẫn cứ theo chân Đức Giêsu Kitô khi Ngài vác thập-giá nặng, không như giới chức và giáo-dân ở một số cộng-đoàn giáo-xứ thường hay quên lãng, chẳng ai biết đến.

Hướng về những người trẻ có mặt hôm ấy, Đức Giáo Tông Phanxicô có nói rằng: tất cả chúng ta là tội-nhân vẫn được gọi mời “hãy vùng đứng lên với ân-huệ Chúa ban cho” cả sau khi ta gục ngã trong lỗi phạm. Và, điều quan-trọng là: Niềm vui, không thể mua bán ngoài phố chợ, nhưng là quà tặng từ Chúa Thánh Thần mình nhận được khi nguyện-cầu trong thinh-lặng….” (x. Bản tin trên The Catholic Weekley ngày 10/5/2015, tr. 7 có đầu đề là: Joy is a Gift of the Holy Spirit: Pope)

Thế đó, còn là cảm-xúc, cảm-tính lẫn cảm-tình cần có đối với mọi người, già/trẻ, lớn/bé, gái/trai cả ở trong Đạo lẫn ngoài đời. Một đời người, vẫn có đủ hỷ nộ ái ố, rất thất tình. Nhưng, cảm gì thì cảm, vẫn là những cảm-thông ta có với dân-gian mọi thời.

Với con dân trong Đạo, có thứ cảm-nhận mà người thường ở huyện hay lẫn lộn, chí ít khi đọc truyện kể hoặc suy-tư/nhận-định về các sự-kiện Đức Giêsu từng diễn-lộ với mọi người. Một cảm-nhận thường sai sót nhiều nhất, là khi người đọc trình-thuật, lại hiểu theo ý rất khác hẳn. Đó là điều, được đấng bậc thày dạy ở đại-học De Paul bên Mỹ, lại đã phân-định, như sau:

“Nên nhớ rằng: những điều ta định ra được ở một số trình-thuật Tin Mừng, thường có sự khác-biệt khi nhận-định về lòng tin. Những điều như thế lại thấy áp-dụng ở đây, ngang qua xác-định về sự khác-biệt giữa tính huyền-diệu và phép lạ hoặc sự lạ. Tính huyền-diệu/tuyệt vời, là điều gì đó tôi hoặc chúng ta không có giải-thích thoả-đáng nào, vào lúc ấy.

Trên thế-gian, vẫn có muôn vàn huyền-diệu/tuyệt-vời xảy ra ở quanh ta, khiến ta dễ dàng chấp-nhận mà không thắc-mắc gì hết.

Tôi không tin, là ta sống trong vũ-trụ khép kín trong đó ta hiểu hết mọi sự/mọi việc cách trọn-vẹn. Cả khi ta hiểu hoặc biết thế-giới, cách trọn-hảo thế nào đi nữa, đó vẫn là hiểu hoặc biết của riêng ta mà thôi. Bởi thế nên, tôi kỳ vọng sẽ tìm ra được muôn vàn sự việc mà tôi không hiểu rõ hoặc giải-thích được. Nhiều chương-trình truyền-hình vẫn thích gọi đó là bí-nhiệm hoặc bí-ẩn. Và, những gì tôi gọi là huyền-diệu/tuyệt-vời hoặc khúc-mắc/rắc rối, có những hiện-hữu trên đời theo cách khách-quan, chính là sự huyền-diệu, tức sự-việc đưa ta cảm-kích đến độ ưa-thích, là bởi vì ta không có giải-thích nào thoả-đáng về nó hết.

Khi mọi người tuyên-bố gọi sự huyền-diệu là sự lạ hay ‘phép lạ’, là họ đã có động-thái xuất tự lòng tin của họ mà ra. Và, họ tuyên-bố điều đó là cho chính họ, mà thôi. Thiên-Chúa vẫn hành-động cách trực-tiếp, ngay tức khắc trong hoàn-cảnh này, Ngài vẫn can-thiệp chuyện bình-thường ở ngoài đời cách đều-đặn, hoặc theo tiến-trình tự-nhiên để tạo sự huyền-diệu/lạ lùng ấy. Thế thì, bằng vào định-nghĩa về động-thái của lòng tin, tức động-tác diễn-giải cách cơ-bản vượt mọi bằng-chứng hoặc chẳng có chứng-cớ gì hết, cũng vậy.

Thành ra, không thể có cái-gọi-là ‘sự lạ’ hay ‘phép lạ’ một cách khách-quan được, trừ phi ta sống trong một thứ vũ-trụ tuyệt-đối khép kín, mà tất cả mọi tiến-trình và luật-lệ ta đều nắm vững. Khi ấy, mọi chuyện ta không thể giải-thích nổi sẽ là ‘phép lạ’ hoặc ‘sự lạ’, tức thứ xâm nhập của thế-lực siêu-nhiêu đi vào hệ-thống khép kín của thế-giới tự-nhiên. (xem John Dominic Crossan, Who is Jesus, Westminster John Knox Press 1996 p. 74-77)

Hiểu thế rồi, nay ta hãy mạnh-dạn đi vào vườn trình-thuật Tân Ước, để rồi sẽ bắt gặp giòng tư-tưởng chính-đáng những dặn rằng:

“Anh em hãy gớm ghét điều dữ,

tha thiết với điều lành;

thương mến nhau với tình huynh đệ,

coi người khác trọng hơn mình;

nhiệt thành, không trễ nải;

lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa.

Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng,

cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,

và chuyên cần cầu nguyện.

Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh

đang lâm cảnh thiếu thốn,

và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.”

(Rm 12: 9-13)

Suy thế rồi, nay ta hãy cùng nhau đi vào vùng trời truyện kể để thư-giãn. Thư và giãn,  bằng những lời lẽ rất “buông lỏng” để thể-hiện như lời dặn dò của ai đó, trong đời rằng:

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật: “CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

Đúng thế. Sống trong đời, với mọi người, chỉ để yêu và để thương hết mọi người. Dù, người ấy đã ra đi như người nghệ-sĩ từng hát nhiều vào hôm trước, bằng những câu như:

“Ngày em đi, nghe chơi vơi não nề

qua vườn Luxembourg sương rơi che phố mờ

buồn này ai có mua?

Từ chia ly, nghe rơi bao lá vàng,

ngập giòng nước sông Seine,

mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên.

Hôm em ra đi mùa thu

mùa thu không trở lại

lá úa khóc người đi

sương mờ dâng lên mi

em ra đi mùa thu

mùa lá rơi ngập ngừng

đếm lá úa sầu lên

bao giờ cho tôi quên.”

(Phạm Trọng Cầu – bđd)

Vâng. Đúng là như vậy. Như vậy, tức: ngày hôm nay, nếu em hoặc anh có “ra đi mùa thu” đi nữa, thì tôi đây vẫn vui tươi chứ không sầu buồn, dù hay quên.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã ra đi

Và còn đi, đi mãi

Vào nhiều mùa thu hơn nữa.