Chia sẻ về chiến dịch vận động tự do tôn giáo và nhân quyền cho VN

Chia sẻ về chiến dịch vận động tự do tôn giáo và nhân quyền cho VN

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-06-20

cao-dai-622

Phóng viên Hòa Ái (bìa phải) trao đổi cùng ông Lê Phú Hữu, đến từ bang Texas và cô Đinh Ngọc Tuyết, đến từ bang Kentucky tại trụ sở RFA hôm 19/6/2015.

RFA

Cuộc tổng vận động cho VN diễn ra tại thủ đô Washington DC từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 6. Vào sáng thứ Sáu, 19 tháng 6, tại văn phòng đài ACTD, Hòa Ái được dịp đón tiếp và trao đổi với 2 trong số hàng trăm người Việt quy tụ về đây trong lần vận động này, đó là ông Lê Phú Hữu, đến từ bang Texas và cô Đinh Ngọc Tuyết, đến từ bang Kentucky.

Tự do tôn giáo là điều kiện trong Hiệp định TPP

Hòa Ái: Xin phép được chào ông Lê Phú Hữu và cô Đinh Ngọc Tuyết. Trước tiên, câu hỏi xin dành cho cô Ngọc Tuyết, được biết cô là một trong những người về thủ đô Washington DC hàng năm để vận động cho VN thì kết quả của cuộc vận động lần này có sự khác biệt so với những lần trước như thế nào, thưa cô?

” Tôi thấy trong lần vận động này đồng bào của mình rất có ý thức về Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP. Ở Hạ Viện và Thượng Viện lúc nào họ cũng nhắc đến vấn đề đó.
-Đinh Ngọc Tuyết”

Đinh Ngọc Tuyết: Tôi thấy trong lần vận động này đồng bào của mình rất có ý thức về Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP. Ở Hạ Viện và Thượng Viện lúc nào họ cũng nhắc đến vấn đề đó. Khi tất cả các phái đoàn đến nói chuyện với các vị Dân biểu và các vị Thượng Nghị sĩ thì họ đã biết nhiều về vấn đề TPP và TPA, nhất là ngày hôm qua họ đã bỏ phiếu để thông qua TPA. Đây là luật để trao quyền cho Tổng thống có thể đàm phán nhanh. Điều Ngọc Tuyết thấy có một  kết quả khả quan vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Quốc hội Hoa Kỳ mà chúng ta có thể cài vào được một tu chính án do Thượng Nghị sĩ James Lankford của bang Oklahoma. Do một số anh em, nhất là anh Phạm Hữu Quang đã dẫn đầu 1 phái đoàn người Việt tại Oklahoma làm việc rất sát với vị Thượng Nghị sĩ này và Thượng Nghị sĩ này đã đưa được vào chính thức tu chính án để chúng ta để chúng ta có thể chắc chắn rằng tự do tôn giáo phải là một là 1 điều kiện tiên quyết trong Hiệp định TPP.

Tình hình đạo sự chưa được tiến bộ

Hòa Ái: Thưa ông Lê Phú Hữu, Hòa Ái được biết lịch trịch chiều nay ông cùng nhiều người Việt khác đến gặp Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế cũng như Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì chiều hôm nay, ông sẽ trình bày với họ điều gì?

Lê Phú Hữu: Kính thưa quý khan thính giả đài ACTD, năm nay sẽ nhắc nhở lại và lưu ý những hiện tượng mặc dù có sự nhắc nhở của LHQ, của Hoa Kỳ nhưng VN vẫn còn vi phạm. Chẳng hạn như trong cuộc sinh hoạt tôn giáo tháng 4 vừa rồi thì Hội đồng Chưởng quản, công cụ của Đảng Cộng sản đã dung phương pháp đàn áp đối với những người đấu tranh đòi quyền độc lập, bảo tồn chánh pháp chuyên chính của đạo. Đó là mục đích của chúng tôi sẽ thông báo cho toàn thể nhơn sanh cũng như khán thính giả của đài ACTD trên thế giới biết được tình hình đạo sự chưa được tiến bộ.

Hòa Ái: Được biết ông cũng là một trong những người tham gia nhiều lần trong những cuộc vận động cho VN trong các năm qua, ông nhận thấy chính giới Hoa Kỳ có lắng nghe tiếng nói của cộng đồng VN hay không?

” Mục đích của chúng tôi sẽ thông báo cho toàn thể nhơn sanh cũng như khán thính giả của đài ACTD trên thế giới biết được tình hình đạo sự chưa được tiến bộ.
-Lê Phú Hữu”

Lê Phú Hữu: Qua quá trình trước năm 2012 chúng tôi cũng đã từng đến Washington DC để đi đấu tranh. Tuy nhiên sau thời gian từ năm 2012 có một sự phối hợp giữa tôn giáo nói chung và Cao Đài nói riêng đối với BPSOS thì chúng tôi thấy có một sự tiến bộ về nhân lựu tuổi trẻ và kết quả của cuộc vận động ảnh hưởng đến Quốc hội cũng như Bộ Ngoại Giao, bên Hành Pháp. Đó là điều chúng tôi rất vui mừng, nhất là tuổi trẻ càng ngày càng tích cực đóng góp vào vận mạng để mang lại sự tụ do, độc lập và nhân quyền, tín ngưỡng cho VN.

Hòa Ái: Thưa cô Ngọc Tuyết, như ông Lê Phú Hữu nhấn mạnh đến giới trẻ, chắc là cô thuộc thế hệ 1.5, xin cô chia sẻ vì sao riêng bản thân cô cũng như những người trẻ lại nhiệt tình để tham gia vào các cuộc vận động cho VN như vậy?

Đinh Ngọc Tuyết: Tôi nghĩ rằng 40 năm đã trôi qua và thế hệ thứ nhất là thế hệ của cha mẹ và ông bà của mình đã tới ngày lớn tuổi. 40 năm nay đất nước chìm ngập trong sự đàn áp của Đảng CSVN và tôi thấy đất nước VN đi xuống, đạo đức suy đồi. Chính vì thế tuổi trẻ ngày hôm nay, nhất là thế hệ trẻ 1.5, thế hệ của Ngọc Tuyết đây, có thể là thế hệ gạch nối giữa thế hệ cha ông thứ nhất và thế hệ sinh sinh trưởng ở Mỹ, thế hệ thứ 2 như thế hệ con của Ngọc Tuyết. Thế hệ thứ 2 rất giỏi về tiếng Anh và họ tham gia nhiều vào dòng chính của Mỹ nhưng sự nối kết của họ với nguồn gốc VN và với người VN của mình thì chưa được liên kết mạnh.

Cho nên trách nhiệm của thế hệ 1.5 là làm cầu nối. Vì thế hệ 1.5 có thể nói thông thạo cả 2 thứ tiếng, tiếng Việt và tiếng Anh, có thể giúp nối được nhịp cầu để tre già măng mọc. Thế hệ thứ nhất đã lớn tuổi, họ có những kinh nghiệm có thể truyền lại nhưng họ không còn sự nhiệt huyết và năng lực để tiếp tục làm việc thì thế hệ 1.5 sẽ tiếp tục gánh vác những trách nhiệm đó và truyền lại những kinh nghiệm quý báu từ thế hệ thứ nhất và từ đó hình thành 1 cộng đồng làm việc chung với nhau để giúp thay đổi tiến trình, mang lại tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và quyền làm người, quyền con người và nhất là đem luồn gió tự do dân chủ về cho đất nước VN, nơi đồng bào chúng ta đang còn sống rất đau khổ dưới chế độ Cộng sản.

Hòa Ái: Xin cảm ơn thời gian của 2 vị đã đến đài và chia sẻ cùng với quý khán thính giả của đài ACTD.

httpv://www.youtube.com/watch?v=ihbfobvBF9Q#t=291

Căn Hầm Bí Mật

Căn Hầm Bí Mật

Một người hà tiện, bủn xỉn kia có thói quen giữ tất cả vàng bạc và những vật quý giá trong một chiếc hầm bí mật tự tay ông ta lén lút xây cất dưới nền nhà.

Một ngày kia, như thường lệ, ông ta lẻn xuống hầm để ngắm những vật quý, nâng niu những thỏi vàng và những dây chuyền, những cà rá nạm kim cương, hột xoàn to bằng những hạt đậu.  Rủi thay, vì vô ý gài cửa không kỹ, nên bộ phận bí mật vụt bật lên đóng sầm chiếc cửa cực kỳ kiên cố lại, chắn lối ra duy nhất.

Dĩ nhiên không ai trong nhà biết về chiếc hầm bí mật.  Vì thế, mọi người đã bỏ cuộc sau khi lục lạo tìm kiếm ông ta mọi nơi trong nhà cũng như mọi gốc cây, bụi kiểng ngoài vườn.

Sau một thời gian dài chờ đợi nhưng không nghe thấy tăm hơi của ông ta ở đâu, người ta quyết định bán căn nhà.

Người chủ nhà mới có ý định sửa chữa lại một vài căn phòng của ngôi nhà và trong khi các người thợ nề đập một bức tường, người ta khám phá ra cánh cửa bí mật ăn thông xuống chiếc hầm.  Khi những ngọn nến được thắp lên, người ta không khỏi sợ hãi thấy bộ xương của một người đang ngồi bên cạnh một chiếc bàn con với một số vàng bạc, kim cương bị quăng tung tóe xung quanh.

Có dấu hiệu cho thấy là thậm chí người chết đã phải ăn một cây nến trước khi bị chết đói.

“Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion, khốn cho các ngươi là những người tự cho mình là an toàn trên núi Samaria”.

Lời chúc dữ những người giàu có bất nhân và kiêu căng trên của tiên tri Amos cũng như những lời Chúa Giêsu chúc dữ những kẻ giàu trong Tin Mừng không phải là những lời lên án tiền bạc và của cải cách chung.

Nhưng đây là những lời nói lên sự nguy hiểm của quan niệm kiêu hãnh, của tính tự cao, tự đại và nhất là thái độ và nếp sống ích kỷ, dửng dưng không để ý đến những người nghèo khổ đang sống bên cạnh.  Ðây là thái độ và nếp sống thường thấy nơi những người giàu có.

Mahatma Gandhi, người đã đưa dân tộc Ấn Ðộ đến nền độc lập khỏi ách thống trị của Anh quốc đã tuyên bố một tư tưởng cách mạng có thể đổi mới xã hội:

“Trong hoàn cảnh đói khổ của những người đồng bào, đồng chủng, nếu ta giữ một vật gì mà ta không cần dùng đến ngay bây giờ thì đó là những của chúng ta ăn cắp”.

Sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, tinh thần liên đới và sự sẵn sàng chia sẻ cơm ăn áo mặc cho những người cần đến là những ngọn đuốc sáng, là những đức tính giúp người Kitô chúng ta đóng trọn vai trò men trong bột ở giữa xã hội chúng ta đang sống.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.”

(Nguyễn Đình Toàn – Quê Hương Thu Nhỏ)

(Thư Galát 2: 15-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Vâng. Câu hát nghe rất quen quen. “Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ” đã cất lên trong buổi “Hát Cho Nhau Nghe” với chủ-đề “Những Nẻo Đường Việt Năm thực-hiện vào năm 2013. Câu hát ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay. Như sau này.

Hôm nay, lại vẫn thấy những chuyện tình xảy ra như câu hát thêm ở bên dưới:

Đêm có mây sầu đưa.

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài.

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu.

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro.

Như quê hương mình thu nhỏ.

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Vâng. Nợ trần đã trả xong. Nhưng, nợ đời vẫn có đó. Nợ ở đời, vẫn cứ hay, cứ tưởng mình đã mất, như câu người nghệ sĩ còn hát tiếp:

“Từ khi ta bước đi mới hay mình đã mất,

Trông ra nơi nào cũng như quê hương lượn quanh.

Một cơn gió lướt qua cũng nghe lòng tha thiết.

Tưởng một mùi hương nơi vườn cũ bay theo mình.

Và tiếng ai gọi ai.

Vọng mãi trong hồn tôi.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

“Tiếng ai gọi ai trong hồn tôi”, là như thế. Tiếng tôi gọi tôi ở một nơi, mọi chỗ lại có thể rất khác. Khác, như lời kể của một người, rất sau đây:

“Các Giám mục và toàn thể tín-hữu Công giáo cùng một “ràn chiên” với các ngài, nay vẫn được gọi mời “làm chứng nhân vui vẻ cho Đức Chúa đã Phục sinh-Trỗi dậy, ngõ hầu tất cả sẽ chuyển-tải niềm vui và hy-vọng đến với mọi người…

Đó là ưu-tư thấy rõ nơi lời phát-biểu của Đức Giáo Tông Phanxicô từng trần-tình với hàng Giáo-phẩm người Ý-Đại-Lợi vào hôm trước, tức ngày 18 đến 21/5/2015 ở Vaticăng.

Hôm ấy, Đức Giáo Tông còn nói thêm rằng:

Thật đáng buồn, khi tôi gặp vị giám-mục nọ, linh-mục kia hoặc tu-sĩ ấy như bị trời giáng, không động-lực hoặc mệt-mỏi. Mệt và mỏi, như thể con giếng khô ở đó chúng-dân không thể tìm thấy nước để uống vào cho đỡ cơn khát.

Và, Đức Giáo Tông Phanxicô còn kể cho các Giám-mục mình gặp để bảo rằng: trong hai năm ngài làm Giáo-Hoàng có hàng ngàn cuộc gặp gỡ với đủ người Công-giáo thuộc đủ mọi hạng, ngài đã nhận ra là bà con trong Đạo đã mất dần tính tập-thể hoặc gọi là sự hiệp-thông chân-chất giữa các giám-mục và giữa giám-mục với linh-mục tại nhiều phần đất khác nhau trên thế-giới.

Ngài có nói: một dấu-hiệu thấy rõ về việc ấy, là các vị nay để mất thói quen xét lại xem mình có thực-hiện tốt các dự-án đặt ra không, và việc thực-thi ấy có mang lại kết quả khá hiệu-nghiệm hay không và mình đón-nhận các dự-án ấy như thế nào.

Ngài cón bảo: Hội-thánh đã mất điểm tốt, tỉ dụ như: khi ai đó tổ-chức buổi hội-thảo hoặc sự-kiện nào đó, có để ý đến các tiếng-giọng thông thường ở bên dưới hay không, có làm ngưng-trệ cộng-đoàn mình chung sống không, có đáp-ứng cách bình-đẳng với các chọn-lựa, lập-trường và con người khác nhau thay vì chỉ cho phép chính mình thực-thi đến với các chân-trời mà Thánh Thần Chúa sai phái mình đi đến không.

Và, ngài cũng nói: Giống như Đức Kitô, các giám-mục không được tỏ ra “rụt rè hoặc không thích-đáng để lên án hoặc đánh-bại một não-trạng phổ-biến cách rộng rãi các hành-vi tham-nhũng cách công-khai hoặc trong chỗ riêng-tư khiến các gia-đình bình thường, giới trẻ, người hồi-hưu, cũng như đám người nghèo khổ bị đẩy lùi khỏi xã hội ngày càng trở nên nghèo và khổ hơn.

Đức Giáo Tông lại đã thúc-giục các giám-mục hãy ra đi mà đến với người của Chúa ngõ hầu bênh-vực họ khỏi mọi “cuộc đô-hộ ý-thức-hệ” lâu nay đã lấy mất đi lý-lịch và phẩm cách con người…

Đức Giáo Tông lại cũng nói với hàng giám-mục người Ý rằng: quá nhiều hội-đồng Giám-mục xem ra đã tảng-lờ thực-tại cụ-thể về dân con của các ngài khi viết ra những gì được coi như lời giảng dạy và hướng-dẫn mục-vụ cần có.” (xem Cindy Wooden, Call it as you see it, leave laity to do their job, Pope tells bishops, The Catholic Weekly 24/5/2015, tr. 29)

Lời mời gọi từ Đấng Chủ-quản ở trên cao tít, mãi tận thủ-đô của Giáo-hội, nếu diễn-tả cách bài bản bằng nhạc đời, lại thấy hơi giòng-giống giòng nhạc ở trên từng hát mãi:

“Ôi tiếng chuông chùa nào xa vói.

Thèm miếng khoai ngày đói.

Hỏi áo xưa mòn vai.

Và từng đêm nghe gió lay.

Khi nao ta về tới.

Soi trong gương sầu ấy.

Có còn ta nữa hay là ai”.

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Mời hay gọi, có lẽ cùng một nghĩa. Ới gọi hay kêu mời, nào có khác chi một ý khác, khi Đức Giáo Tông, một lần nữa, lại lên tiếng ở buổi gặp gỡ Hiệp-hội các công nhân người Ý đồng thời là tín-hữu Đức Kitô của Hiệp-Hội, những nhủ rằng:

“Lên tiếng trong dịp này, ĐTC nhắc đến những thách đố đang đề ra cho Hiệp hội Kitô các công nhân Italia, đặc biệt là tình trạng gia tăng mau lẹ và rộng lớn những chênh lệch trong xã hội, kèm theo những hiện tượng như công ăn việc làm bấp bênh, làm lậu, và sức ép của các tổ chức bất lương, khiến cho nhiều người trẻ thiếu công ăn việc làm, phẩm giá của họ bị thương tổn, ngăn cản họ thực hiện cuộc sống nhân bản viên mãn. Ngài cũng mạnh mẽ phê bình sự kiện ở Italia có tới 40% người trẻ dưới 25 tuổi không có công ăn việc làm.

Trong bối cảnh đó, ĐTC nhấn mạnh đến 4 đặc điểm mà lao công cần phải có. Trước tiên là lao công tự do, qua đó con người tiếp tục công trình của Đấng Tạo Hóa. ”Đáng tiếc là ngày nay nhiều khi lao công phải chịu những đàn áp từ nhiều phía, của người đè người, của các tổ chức biến con người thành nô lệ, áp bức người nghèo, đặc biệt là nhiều trẻ em và phụ nữ.”

Tiếp đến là lao công sáng tạo, giúp con người diễn tả trong tự do và sáng tạo một số hình thức xí nghiệp, lao động hợp tác trong tinh thần cộng đoàn.

ĐTC nói: ”Không thể chặt đôi cánh của những người, đặc biệt là người trẻ, có bao nhiêu điều để cống hiến nhờ trí thông minh và khả năng của họ. Cần phải giải thoát họ khỏi những gánh nặng đè nén và cản trở họ đi vào thế giới lao động với trọn quyền lợi càng sớm càng tốt”.

Đặc điểm thứ 3 ĐTC nhấn mạnh, đó là lao công tham gia, giúp con người luôn nhìn thấy nơi mục đích của lao công khuôn mặt của tha nhân và sự cộng tác với người khác trong tinh thần trách nhiệm.

Ngài nói: “Nơi nào vì quan niệm duy kinh tế, người ta nghĩ đến con người một cách ích kỷ và coi tha nhân như những phương tiện thay vì như mục đích, thì lao công mất đi ý nghĩa nguyên thủy là tiếp tục công trình của Thiên Chúa, hướng đến toàn thể nhân loại”.

Sau cùng là lao công liên đới. ĐTC nói với các thành viên hiệp hội Kitô công nhân Italia rằng: ”Mỗi ngày anh chị em gặp những người bị mất công ăn việc làm, hoặc đang phải tìm việc.. Cần mang lại cho họ một câu trả lời. Trước tiên là tỏ ra gần gũi và liên đới với họ. Bao nhiêu chi hội của anh chị em có thể là những nơi tiếp đón và gặp gỡ cũng như giúp đỡ những người ấy”.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ các thành viên Hiệp Hội Kitô công nhân Italia luôn lấy nguồn hứng và sự hướng-dẫn từ đạo lý Kitô, trong niềm trung thành liên lỷ với Chúa Giêsu Kitô, với Lời Chúa và học hỏi áp dụng Giáo huấn xã hội Công Giáo, để đối phó với những thách đố mới ngày nay (SD 23-5-2015). (Xem Trần Đức Anh OP, dịch bản tin trên VietCatholcis News hôm 23/5/15 dưới đầu đề: “Đức Thánh Cha tố-giác tệ-nạn trong lãnh-vực lao-động).

À thì ra, tệ nạn xã-hội không chỉ thấy trong lãnh-vực lao-động ở Ý-Đại-Lợi mà thôi, nhưng còn  ở nhiều nơi khác, kể cả Giáo-hội Công-giáo vẫn tự-hào rằng mình không thấy có tệ-nạn nào trong các hàng ngũ trên/dưới.

Thôi thì, gọi đó là gì cũng đặng. Miễn là tôi và bạn, ta vẫn hiên ngang mở tai nghe những lời dặn dò hôm trước có đấng thánh hiền lành từng bảo ban, như sau:

“Chúng ta bẩm sinh là người Do-thái

chứ không phải hạng người tội lỗi xuất thân từ dân ngoại.

Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính

không phải nhờ làm những gì Luật dạy,

nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô,

nên chúng ta cũng tin vào Đức Kitô Giêsu,

để được nên công chính,

nhờ tin vào Đức Kitô,

chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.”

(Thư Galát 2: 15-16)

Vâng. Đúng là như thế. Tệ-nạn ở đâu đó, có bao giờ công-nhận mình là tệ-nạn. Chí ít, là ở nhà thờ, nhà Đạo rất chính-chuyên. Tệ-nạn, nhiều khi chỉ là sự ỷ y mình là người công-chính từng tin vào Đức Kitô rất Công-chính và từng nhờ cậy vào Lề-luật do thế-quyền hay thần-quyền ban ra.

Thật ra thì, gọi bằng tự-vựng “tệ-nạn” cũng hơi quá đối với thần-quyền. Thế nhưng, theo ý của đấng thánh-hiền từ-nhân thì không thế. Hiền-nhân rất thánh ở thế-quyền hay thần-quyền là người nắm được chân-lý, nằm bên ngoài luật-lệ, dù ta gọi đó là luật Đạo hay luật đời.

Chỉ là chân-lý, như người kể ở bên dưới, một lần nữa, lại minh-định bằng những lời kể như sau:

“Dưới đây là 9 câu nói rất hay về chân lý của cuộc sống:

1. Trên đường đời, ta sẽ gặp những người đối xử tệ với mình. Không ai có bổn phận phải đối xử tốt với ta, trừ bố mẹ. Đối với những người đối xử tử tế với con, hãy trân trọng và biết ơn, nhưng cũng hãy đề phòng họ. Họ có thể đối tốt với ta vì mục đích nào đó. Hãy tìm hiểu động cơ thực sự. Đừng vội kết luận một người là tốt chỉ đơn giản vì họ ưu ái ta.

2. Không ai là không thể thay thế. Không có thứ gì  trên thế  giới này ta phải bám chặt lấy hay cố sở hữu bằng mọi giá. Nếu ta hiểu điều  này, thì về sau, dù mất bất cứ điều gì trong đời, ta vẫn có thể đứng vững.

3. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Đừng phí thời gian và năng lượng vào những người, việc, thứ không cần thiết. Nếu ta làm vậy, sau này ta sẽ nhận ra rằng ta đã lãng phí tất cả những ngày tháng qua.

4. Không có gì trên thế giới là mãi mãi, kể cả tình yêu. Tình cảm có thể thay đổi theo thời gian. Nếu một ngày nào đó ta mất đi người mà ta từng yêu tha thiết, hãy nhẫn nại. Đừng cố níu kéo những gì đã mất hay phóng đại cảm xúc của mình. Thời gian sẽ làm dịu nỗi đau. Thời gian sẽ hàn gắn tất cả.

5. Không phải tất cả những người thành công đều học hành đến nơi đến chốn, nhưng điều này không có nghĩa là ta có thể bỏ bê việc học của mình. Kiến thức ta có được là tài sản lớn nhất của ta.

6. Bố mẹ không mong đợi ta sẽ chăm lo cho bố mẹ khi các ngài về già. Cũng vậy, bố mẹ không có trách nhiệm phải bao bọc con khi con đã trưởng thành. Con có thể đi xe bus hay lái xe Benz đắt tiền. Tương tự, ta có thể ăn mì gói hay bào ngư. Lựa chọn đó thực sự do ta.

7. Ta có thể đối xử tốt với người ta nhưng đừng hy vọng họ đáp lại ta như vậy. Nếu ta không thể nhìn thấu điều này, về sau ta sẽ chỉ có thêm nhiều đau khổ, thất vọng.

8. Rất nhiều người mua vé số suốt nhiều năm nhưng cuối cùng họ vẫn trắng tay, nghèo đói. Để thành công hay giàu có, ta đều phải nỗ lực hết mình. Có một điều đơn giản cần nhớ là: Trên thế giới này không có gì miễn phí.

9. Chúng ta ở bên nhau như một gia đình chỉ trong cuộc đời này thôi, dù ta thích hay không. Vì thế, hãy trân trọng và nâng niu khi chúng ta bên nhau, chia sẻ, gắn bó. Dù muốn hay không, chúng ta sẽ không thể gặp nhau ở kiếp sau…” (Tsuki – Tổng hợp)

Nghe kể rồi, sao bạn và tôi, ta không hiên-ngang ngước mặt về phía trước hiên-ngang cả những lời dù không vui khi nghe thấy. Bởi, làm sao vui khi tâm-hồn mình còn vướng-vấn rất nhiều thứ. Cả những thứ và những sự diễn ra không theo ý mình muốn.

Vậy thì, tôi và bạn, ta cứ hiên ngang mà hát mãi những câu rằng:

“Rồi mai đây có khi em quay về nơi cũ”,

Mang trong tim mình những ước mơ đã nhoà xưa.

Làm sao khi tóc ta thay màu lòng ta vẫn

Tìm lại được ra bao hình bóng đã phai mờ.

Đêm có mây sầu đưa,

Trăng giấu đi tuổi thơ.

Ven con sông dài,

Quê ta thiu ngủ.

Đêm nào đó ta đứng trông xa ngọn đèn lu,

Thắp trong sương mù dáng ai ngồi co ro .

Như quê hương mình thu nhỏ,

để người viễn xứ mang cho vừa.

Ngày đau thương kia ta còn nhìn thấy mình.

Trong tấm gương đầy nước mắt (í)

Trăm muôn lời than rồi khăn tang và tiếng thét.

Với bao nhiêu đời dở dang.

Người chờ người đi.

Đã như nhang tàn.

Người bỏ người thôi.

Khác chi nợ nần.

Đã trả xong.

Rũ sạch trơn.”

(Nguyễn Đình Toàn – bđd)

Hát thế rồi, ta lại sẽ mạnh mẽ bước về chốn cũ, ở nơi đó vẫn có bạn hiền còn đứng chờ những người như ta, đang miên-man tìm kiếm “Quê hương thu nhỏ” là Nước Trời ở đây. Bây giờ. Theo quan-niệm rất Đạo của Đạo mình.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày lại cứ thấy

Quê hương thu nhỏ

Nằm mãi trong lòng mình

Rất giống mình.

Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Tin Mừng (Mc 5: 21-43)

Đức Giêsu xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giêsu, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giêsu, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. Vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi? ” Các môn đệ thưa: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: Ai đã sờ vào tôi?” Đức Giêsu ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giêsu còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phêrô, ông Giacôbê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Talithakum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Đức Giêsu nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

“Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng,

Để cho hồn đỡ bớt nỗi bi thương.
Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng,
Hồn đi rồi, không nhập xác thê lương.

(dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mc 5: 21-43

Mai Tá, lược dịch

Khạc hồn ra khỏi miệng”, là tâm trạng của nhà thơ, nay rất khổ. Nỗi xác đành câm tiếng, là tình huống người nhà Đạo, vẫn thương tâm. Chúa thương tâm cả nhà thơ lẫn người đời, như có nói ở trình thuật.

Trình thật thánh Mác-cô hôm nay, lại đã ghi về niềm thương tâm Chúa phú ban cho con ông trưởng hội đường và cho cả người đàn bà, bị băng huyết. Những 12 năm. Và thánh Mác-cô nói “bà đã bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đến tán gia bại sản…mà tiền mất tật mang” (Mc 5: 21). Và, đã cả gan sờ vào gấu áo Ngài, và được khỏi.

Vào khi ấy, Đức Giêsu quay lại hỏi: “Ai đã sờ vào áo của tôi?” Hỏi như thế, Ngài biết uy lực thần thiêng vừa ra khỏi mình Ngài. Đây là điều, khiến môn đệ Chúa cứ thắc mắc với tranh luận. Ngay lúc ấy, người nữ phụ đã bước ra, mà nhận lỗi. Vì bà quá hoảng sợ. Chính ra, bà cũng không nên len lỏi vào chốn ấy, vì ô uế? Và đó là lý do mà bà chẳng dám đến, ngay phút đầu. Đây cũng là nỗi hoảng sợ của các bệnh nhân Siđa của thời đại. Một hoảng sợ, không tên tuổi, không lý do.

Từ lúc ấy, bí mật của bà bị lộ ra cho mọi người thấy. Điều này càng khiến bà hốt hoảng hơn nữa. Thế nhưng, bằng một cử chỉ khác thường, bà tiến về phía trước, phủ phục trước mặt Chúa, và nói hết sự thật với Ngài. Về phía Đức Giêsu, Ngài không mảy may nổi nóng hoặc giận dữ, nhưng nhẹ nhàng nói: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bình an và khỏi hẳn bệnh.” (Mc 5: 34)

Bằng việc chữa lành, Đức Chúa của sự sống và sự sống lại, đã đưa bà về lại với sự vẹn toàn của cuộc sống. Bà không chỉ được chữa lành khỏi tật bệnh thể xác thôi; nhưng, còn trở về với tháp nhập cùng xã hội nơi bà sống. Bà đã kiện toàn con người mình, theo mọi ý nghĩa. Qua tư cách cá nhân lẫn cộng đoàn. Nhưng, chính niềm tin sâu sắc vào Chúa, qua cử chỉ “sờ gấu áo Ngài”, là yếu tố chính tạo sự chữa lành.

Với câu truyện đầu ở trình thuật, Đức Giêsu đích thật là Đấng chữa lành mọi tật/bệnh. Nhưng mọi người không kỳ vọng là Ngài sẽ cho người chết được hồi sinh. Nhưng, Ngài vẫn cứ nhấn mạnh đến những câu khiến mọi người cần ghi nhớ trong đời: “Đừng sợ!”, được nhắc đi nhắc lại, trong Kinh thánh, những 399 lần.

Ở trình thuật, Đức Giêsu chỉ cho phép có 3 tông đồ, thành phần cốt lõi là Phêrô, Giacôbê và Gioan, được đi theo. Chúa muốn các Ngài nhận thấy những gì xảy ra; nhưng Ngài không muốn thoả mãn tính tò mò của đám người dễ bị kích động.

Khi mọi người kéo đến nhà bệnh nhân, lại nghe có tiếng ai oán, cùng khóc than. Ngài bèn bảo: “Sao lại náo động và than khóc đến như thế? Đứa bé có chết đâu, nó chỉ ngủ.” (Mc 5: 39) Thế là, họ cười nhạo Ngài. Nhạo và cười, vì chỉ cần nhìn thoáng, họ cũng biết ai chết, ai còn sống. Mọi người còn biết: nếu không có Chúa ở đó, cô kia chắc đã bị chôn rồi.

Chúa vào nhà người lạ, chỉ có cha mẹ cô bé và 3 môn đồ thân cận. Ngài cầm tay có bé lên rồi nói: “Này cô bé. Thầy truyền cho con hãy trỗi dậy!” (Mc 5: 41). Đứa bé lập tức trỗi dậy và đi lại như người bình thường, không có gì xảy ra. Động từ “trỗi dậy” ở đây, gợi cho người nghe nhớ về tình huống sống lại. Tình huống, Đức Giêsu cũng đã “trỗi dậy”, từ cõi chết.

Đây là cách thức thánh sử Mác-cô diễn tả sự việc rõ ràng và dứt khoát hơn thánh Tin Mừng của Gio-an: “Ta là sự sống lại và là sự sống!”. Dù bị hôn mê hay đã chết, cô bé vẫn được tái tạo vẹn toàn về với cuộc sống. Và Đức Giêsu được bộc lộ cho biết Ngài là Chúa của sự sống. Chính vì thế, những ai chứng kiến việc xẩy ra, đều đã “kinh ngạc sững sờ.”

Sững sờ đến độ, Chúa phải nhắc họ cho cô bé ăn. Điều này nói lên chỉ một phần của con người Đức Chúa. Bởi, Ngài là Đấng chỉ biết lo cho người khác. Chăm nom đùm bọc người khác, mà thôi. Với người khác, có thể sẽ xảy ra chuyện là: sẽ ngủ quên trên chiến thắng, những muốn được  bái phục. Nhưng ở đây, Chúa tập trung lo cho nhu cầu của trẻ nhỏ, thôi. Cả hai truyện trong cùng một trình thuật, cho thấy Đức Giêsu là nguồn mạch sự sống và chữa lành.

Bài đọc 1, Sách Khôn ngoan nói rõ: “Thiên Chúa chẳng vui gì, khi sinh mạng tiêu vong.” (Kn 1: 13). Và các đoạn khác còn nói tiếp: “Người đã sáng tạo muôn loài thọ tạo trên thế giời, đều hữu ích cho sinh linh.”(Kn 1: 14). Và điểm quan trọng khác, sách này cũng nói: ta được dựng nên theo hình ảnh bản tính của Thiên Chúa. Chính đây là mục tiêu của sự sống trong chúng ta là: để hiểu biết, yêu thương và san sẻ cuộc sống với Ngài mãi mãi không ngưng.

Quả thật, bằng cách này cách khác, tất cả chúng ta đều cần được Chúa chữa lành. Chữa tật bệnh, cho lành mạnh, sự toàn vẹn, lành thánh bên tiếng Anh, là những cụm từ được đan kết, nối với nhau. Khi nguyện cầu, ta xin cho được lành mạnh để có sức khoẻ, trong mọi địa hạt của cuộc đời chứ không chỉ lành và mạnh, nơi thể xác thôi.

Sự thể đem đến cho ta toàn vẹn sức khoẻ lành mạnh, là cốt trở thành con người vẹn toàn. Vẹn toàn, trong đó mỗi phần trong ta –từ tâm linh, trí tuệ, xã hội, tâm lý, cho chí thể xác—đều hoạt động theo chức năng của nó. Hoạt động trong hài hoà cả ở bên trong, với thế giới bên ngoài. Với cả môi trường chung quanh, người và vật.

Bài đọc 2, thánh Phaolô cũng có nói đến sự toàn vẹn này, khi thánh nhân nhắc nhở giáo đoàn Côrinthô về Đức Giêsu: “Ngài vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo, vì anh em. Để anh em nên giàu có, từ cái nghèo của Ngài” (2Cr 8: 9). Chúa chịu mình trần trên thập giá, là để đổ tràn tình yêu xuống cho ta. Ngài ban sự sống của Ngài, để ta được sống. Và vì thế, Ngài sẽ sống mãn đời. Và nhờ đó, ta trở nên giàu sang phú quý.

Thánh Phaolô lấy đó làm mẫu mực, để giáo dân ở Côrinthô biết mà sẻ san bất cứ thứ gì làm được cho những người anh người chị nghèo khó hơn họ, trong Hội thánh. Có điều là, cả vào khi ta san sẻ cho người khác, không phải là được kỳ vọng cho đi những nhu cầu mà ta cần có cho chính mình, nhưng là những gì ta có dư. Và khi ta san sẻ của thặng dư cho người đang có nhu cầu nhiều hơn, ta sẽ hy vọng được đối xử cùng một cách như thế  những khi ta cần.

Xử sự theo cách này, cuộc sống sẽ quân bình hơn. Và, thánh Phaolô đã trích dẫn Kinh sách Cựu Ước nói rằng: ai tích tụ nhiều sẽ chẳng có được bao nhiêu, nhưng ai tích luỹ ít, cũng sẽ không thiếu hụt.

Đây chính là mẫu mực của cuộc sống cộng đoàn, trong xã hội. Xã hội Cộng sản đáng lý ra đã phải làm như thế. Nhưng ngày nay, chỉ còn mỗi cộng đoàn dòng tu mới đích thực biến phương cách sống ấy thành hiện thực. Phương cách ấy, là “làm theo khả năng, nhưng hưởng theo nhu cầu.”

Thành phần của việc chữa lành trong toàn bộ cộng đoàn ta sống, là sự toàn vẹn dựa trên sự thật, tình yêu, lòng xót thương và ý nghĩa công bằng đích thực cho mọi người. Và đây chính là sự thánh thiêng, bởi lẽ Thiên Chúa Đấng Thánh Thiêng là thành phần vẹn toàn của sự trọn vẹn. Ngài được biết với Danh hiệu Đấng tạo Dựng, Gìn Giữ và Cùng Đích của tất cả những gì ta phải là và có thể trở thành. Là, tất cả chúng ta đã, đang và sẽ trở thành, như thế.

Vào buổi tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao Đức Giêsu, Đức Chúa của sự sống giúp ta đạt đến mức độ ấy. Mức độ của sự lành mạnh, toàn vẹn và thánh thiêng, ta vẫn được mời gọi để đạt đến.   

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá, lược dịch

Chiến Hữu

Chiến Hữu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Trung úy Đỗ Lệnh Dũng

Tưởng gì chớ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống.  Bạn cùng khoá độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình, nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát – và giữa lúc thập tử nhất sinh – vẫn “tuyên bố” một câu (ngon lành) dữ vậy.  Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi – với bất cứ ai.  Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, cho nó đã miệng, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác.  Cách hành xử của ông cũng khác.  Bảnh hơn thấy rõ. Coi:

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài.  Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân – sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung –  đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.

Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người – toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch – nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Tháng 6, 1965: Đồng Xoài, Vietnam. Nguồn: AP/Horst Faas

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc nói với mọi người:

Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh!  Ngay sau đó, ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân (một tên gọi khác, mỹ miều hơn, của Đồng Xoài) rồi bị đưa từ Nam ra Bắc –  theo đường mòn Hồ Chí Minh – để … học tập cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, Đỗ Lệnh Dũng lại được chuyển trại từ Bắc vào Nam (chắc) cho dễ thăm nuôi.

Cuộc đời rõ ràng (và hoàn toàn) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được ghi lại bởi nhà văn Lê Thiệp bằng một cuốn sách, dầy đến bốn trăm trang, lấy tên của chính ông làm tựa. Tác phẩm này được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương viết lời giới thiệu như sau:

“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội. Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.”

“Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và lúc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần.  Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …”

“Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.”

Cuốn Đỗ Lệnh Dũng đã được ra mắt tại thành phố San Jose, California.  Hôm đó, tôi được hân hạnh nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái – chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân – người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này bị tràn ngập bởi địch quân.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong thời gian qua, một số những người lính năm xưa – đang tản mát khắp năm Châu – đã tìm lại được nhau.  Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị hiện (cũng) đang có mặt trong buổi ra mắt sách.

Ảnh: NXB Tiếng Quê Hương

Tôi ngồi ở cuối hội trường, không nhìn được rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều ngấn lệ.  Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân được đến một nơi an bình nên cảm thông (thấm thía) tình cảm xúc động này.

Trong giây phút đó chắc chắn mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế.  Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức giấc. Tôi vẫn luôn thức giấc vào giấc đó.  Và đó cũng là lúc mà tôi hay lò dò trở về … chốn cũ!  Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới.  Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống mộng mị –  theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt.  Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ khô của Đồi Cù, cùng với hàng trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo, tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai mì – bao quanh trại cải tạo Tân Rai –  ở Blao.  Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.  Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội, chỉ vừa mới biết sơ, qua một bài báo ngắn – của ký giả Bùi Bảo Trúc:

“Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ.  Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc.  Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con.  Ông không còn chân tay.  Hai chân bị cụt trên đầu gối.  Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.”

“Trong hình có ghi tên ông.  Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn.  Năm sinh được ghi là 1952.  Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.  Đơn vị cuối của ông là Trung Đoàn 49, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.  Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất.  Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn.  Ông không còn chân tay.  Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.”

“Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay.  Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông.  Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân.  Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa.  Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.”

Thương binh Nguyễn Văn Thìn. Nguồn: OntheNet

Người bạn đồng đội luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.”  Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật!  Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây khá lâu, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Độ một tháng sau, có độc giả báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa.  Ông bạn của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Có đêm thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà trước đây tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

“Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa.  Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

“Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo.  Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …”

“ Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây.  Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội. Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay.  Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây…  Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấy tôi mà khóc.”

“ Vợ anh cũng khóc.  Tôi cũng khóc.  Người chạy xe ôm cũng khóc theo…  Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.  Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc… “(Nguyễn Cảnh Tân, “Nỗi Sầu Riêng Hay Cái Đau Chung,” Việt Luận, 27 Oct. 2006).

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

SÓNG GIÓ TRONG CUỘC ĐỜI

Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà

Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (4, 35- 41)

Khi Chúa Giê-su cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia biển hồ, một trận cuồng phong nổi lên dữ dội, nước xô ập vào thuyền. Các môn đệ hoảng hốt đối phó với sóng to gió lớn. “Trong khi đó, Chúa Giê-su dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ” như chẳng có gì xảy ra. (Mc 4,38)

Đối diện với tình thế vô cùng nguy khốn, các môn đệ sợ hãi đánh thức Chúa Giê-su dậy và lên tiếng trách móc, như thể Chúa Giê-su là người vô cảm vô tâm: “Thầy ơi! Chúng ta chết đến nơi rồi mà Thầy chẳng quan tâm sao?” (Mc 4,38)

Trình thuật này gợi lên nơi chúng ta hai vấn nạn:

  1. Tại sao Thiên Chúa  để cho “sóng gió” xảy ra trong đời người?
  2. Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Có nhiều khó khăn, thách thức, tai ương, hoạn nạn… xảy ra trong đời người, ta tạm gọi chung những thứ này là “sóng gió.” Khi gặp phải những cơn sóng gió này, nhiều người vội kêu cầu Chúa cứu giúp và nếu không được toại nguyện, thì họ quay ra oán hận Chúa, từ bỏ Chúa. Người ta oán trách Chúa đủ điều: Tại sao Chúa để cho tôi phải gặp khó khăn, gian khổ, đau thương thế này? Tại sao Chúa để cho vô vàn sóng gió xảy ra trên thế giới? Nếu Chúa là Đấng nhân từ, là Người Cha tốt lành, sao Chúa để cho sự dữ xảy ra?

Tại sao Thiên Chúa để cho “sóng gió” xảy ra?

Thiên Chúa là Người Cha nhân từ, rất mực tốt lành và hết lòng yêu thương hết mọi người. Thiên Chúa có lý do chính đáng khi để cho sóng gió, gian truân xảy ra trên địa cầu. Không ai dò thấu tư tưởng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dưới góc nhìn thiển cận của người phàm, ta nhận thấy rằng:

Trần gian là trường huấn luyện, chứ không phải là thiên đàng

Nhờ kiên trì giải những bài toán khó mà đầu óc học sinh được mở mang và các em trở thành học sinh giỏi; nhờ những khổ luyện trong quân trường mà các tân binh trở thành những chiến sĩ chiến đấu can trường và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang; nhờ những giờ tập luyện kiên trì và nghiêm ngặt mà các vận động viên điền kinh giật được những huy chương vàng; nhờ dày công nghiên cứu liên lỉ ngày đêm mà các nhà khoa học cống hiến cho đời những phát minh tuyệt diệu…

Nếu xoá bỏ hết những bài toán khó trong các trường học, bỏ hết những rèn luyện gian khổ trong quân trường, bỏ hết những bài tập nghiêm ngặt cho các vận động viên và các nhà khoa học không còn miệt mài khổ công nghiên cứu nữa… thì còn đâu là văn minh, tiến bộ, phát triển trên địa cầu này?

Nếu trần gian này không có khó khăn, thách thức, gian khổ… mà chỉ có dễ dàng, thoải mái, cầu được ước thấy… thì trần gian này đã là thiên đàng rồi; khi đó, người ta không cần ngưỡng vọng một thiên đàng thứ hai. Khi đó, người ta không cần rèn luyện, tu tâm sửa tính để mong đạt tới thiên đàng thượng giới. Bấy giờ, phẩm chất con người sẽ thấp kém hơn nhiều.

Bấy giờ, mọi người đều tha hồ vui hưởng thiên đàng hạ giới này, đều đắm mình trong lạc thú, tha hồ ăn nhậu, chơi bời trác táng cho thoả mãn những đòi hỏi vô độ của thân xác… Như thế, chắc chắn loài người sẽ sa đoạ và lún sâu vào vũng lầy tội lỗi.

Như thế, những khó khăn, thách thức trên cõi đời này có tác dụng như những bài luyện tập cần thiết để rèn luyện con người trở nên can trường mạnh mẽ, tốt lành thánh thiện, có nhiều phẩm chất cao đẹp, xứng đáng đạt tới thiên đàng thượng giới trong tương lai.

Tại sao Thiên Chúa như thể “ngủ quên” trước lời kêu cứu của con người?

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban, thì trần gian sẽ là thiên đàng hạ giới nên không ai còn ngưỡng vọng thiên đàng thượng giới nữa và khi đó, nhiều hậu quả tai hại sẽ từ đó xảy ra như đã nói trên đây .

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì ai nấy đều chạy đến với Chúa để xin ăn chứ không phải khổ công làm việc. Thế là vô tình Chúa biến hết thảy mọi người thành những kẻ ăn xin.

Nếu ta xin bất cứ điều gì Chúa cũng ban thì vô số người sẽ tuôn về với Chúa và như thế, Thiên Chúa trở nên một Ông Thần Tài, chuyên dùng ân huệ, lợi lộc để dụ dỗ người ta đến đầu phục mình.

Bấy giờ, người ta sẽ tôn thờ Chúa không phải vì lòng yêu mến mà chỉ vì tìm kiếm lợi lộc cho bản thân mình.

Thiên Chúa là Người Cha khôn ngoan, nên khi chúng ta xin cá, thì thay vì cho cá, Chúa lại cho chiếc cần câu.

Ý tưởng này đã được một tác giả diễn tả cách chí lý như sau:

“Tôi xin sức mạnh… và Ngài đã cho tôi gặp khó khăn để trui rèn tôi nên mạnh mẽ.

Tôi xin khôn ngoan… và Ngài đã cho tôi những vấn đề (như những bài toán khó) để giải quyết, nhờ đó tôi trở thành người khôn ngoan.

Tôi xin tiền của… và Ngài đã cho tôi khối óc và bắp thịt để làm việc, nhờ đó tôi trở nên giàu có.

Tôi xin được ‘bay’… và Ngài đã cho tôi những trở ngại phải vượt qua (như máy bay phải vượt qua sức cản của không khí) nhờ đó tôi được ‘bay cao’…

Thế là, tuy không trực tiếp lãnh nhận những gì tôi xin… nhưng tôi có được tất cả những thứ tôi cần” (Khuyết danh).

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con sẵn sàng dấn thân vào thế giới này như thể tham gia vào một trường huấn luyện vĩ đại và vui lòng chấp nhận “sóng gió” trong cuộc đời như những bài luyện tập cần thiết để trui rèn chúng con thành những người có đạo đức và phẩm chất cao đẹp, hầu mai sau xứng đáng được đội vòng nguyệt quế hoan hỉ bước vào thiên quốc.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Con đường tháo chạy của đại gia đỏ

Con đường tháo chạy của đại gia đỏ

Giáo Già (Danlambao)…Có những con đường tháo chạy chánh thức. Còn có những con đường đen và con đường vòng bên ngoài luật pháp, hay chen qua các kẻ hở của luật pháp, khiến bây giờ người ta có thể nhận diện và nhận dạng các đại gia đỏ lũ khủ trà trộn trong cộng đồng nhiều người đã thấy nhưng không chịu điểm mặt…

Thị trấn Buford thuộc Tiểu bang Wyoming, miền Trung nước Mỹ, nằm trên đường nối liền hai thành phố lớn NewYork và San Francisco, nằm trên cao độ 8000, có diện tích rộng khoảng 40.000m2, với nửa năm lạnh buốt và xa chốn phồn hoa đô thị, cho tới đầu tháng 4 năm 2012, chỉ có 1 cư dân duy nhứt là ông Don Sammons, 61 tuổi. Ông này từng mua Buford vào năm 1992 và trở thành Thị trưởng của thị trấn kể từ năm 2007. Buford đã một thời có đến hai ngàn dân.

Ngày 5 tháng 4 năm 2012, một cuộc đấu giá thị trấn được tổ chức bởi công ty độc lập Williams & Williams thu hút nhiều khách, không chỉ cư dân Mỹ mà cả người từ 46 quốc gia trên thế giới tấp nập kéo đến để xem và tham gia đấu giá.

Hàng loạt hãng thông tấn, báo chí, nổi tiếng của Mỹ và các nước như BBC, CNN, Telegraph… cùng có mặt. Chủ nhân thị trấn là ông Don Sammons đã chấp bút giá mua một cách chóng vánh trong cuộc đấu giá diễn ra chỉ 11 phút, từ 100 nghìn ấn định ở mức đầu tiên, lên đến 900 nghìn đôla về tay ông Phạm Đình Nguyên, sinh năm 1975, từ Sài Gòn bay sang Hoa Kỳ tham dự, để trở thành cư dân duy nhất, với một cửa hàng tiện lợi, một trạm xăng, một trạm điện thoại, một cửa hàng bách hoá, một căn nhà 3 phòng ngủ, một nhà kho, nhà đậu xe, với khoảng 1.000 lượt người ghé qua mỗi ngày.

Ngày 3.9 Thị trấn Buford nổi tiếng với 1 công dân duy nhất này chính thức đổi tên thành PhinDeli tổ chức buổi khai trương long trọng bao gồm cả việc phân phối các mẫu cà phê PhinDeli miễn phí cho khách tham dự, với nhiều quan chức của tiểu bang Wyoming, kể cả Thống đốc tiểu bang. Sau đó, ông Nguyên, chủ tiệm kiêm thị trưởng, thuê một người Mỹ trông lo tất cả hoạt động của thị trấn.

Theo số liệu của National Association of Realtors (NAR) thì doanh nghiệp bán nhà cho người nước ngoài đến Mỹ trong năm 2010 có số thu 82 tỉ đôla, so với năm 2009 là 60 tỉ. Việc người nước ngoài vào Mỹ mua nhà không phải là chuyện lạ vì luật ở đây cho phép dễ dàng; nhưng việc bán một thị trấn nhỏ trong lúc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ còn kéo dài lại được một doanh nhân từ Việt Nam bay qua mua với giá cao là điều ngạc nhiên cho nhiều người. Do vậy đã có dư luận cho rằng đây là cuộc tháo chạy ngoạn mục, cắm sào cho con đường tháo chạy đang được các đại gia đỏ cho tiến hành, qua nhiều dạng thức khác nhau; điển hình như trong thập niên trước, nhiều đại gia từ Việt Nam qua Mỹ mua nhà tại những khu mới xây cất ở ngoại ô Sacramento, thủ phủ Tiểu bang California, để đầu tư. Họ mua nhà trả hết một lần bằng tiền mặt rồi cho thuê, khi giá nhà lên cao họ bán đi kiếm lời. Có nhiều nơi đại gia mua nhà cho con là du học sinh ở đi học, rồi nhờ “luật sư” tìm các kẻ hở của luật pháp cho con lưu cư hợp pháp, rồi đưa thêm người trong gia đình nhập cư, làm cuộc tháo chạy trước. Cũng với dụng ý tháo chạy, một số công ty từ Việt Nam đã qua Mỹ mua khách sạn, cơ sở thương mại ở California, Texas…

Một trường hợp rất đáng lưu ý là đại gia đỏ Tràm Bê, chủ tịch công ty chế biến thực phẩm Son Son Co. ở Việt Nam, vào năm 2009, đã mua khu thương mại Wallco Shopping Mall, rộng 50 mẫu, toạ lạc tại thành phố Cupertino, cạnh San Jose, California, với giá 64 triệu đô trả bằng bằng tiền mặt. Theo những nguồn tin chưa được phối kiểm thì đây là những địa điểm rửa tiền của các đại gia đỏ, khởi đầu cho cuộc tháo chạy trong tương lai Việt Nam bị biến thành một lãnh thổ tự trị của Tàu, theo “Thỏa Ước Thành Đô”, hoặc nỗ lực “Chống Tàu Diệt Việt Cộng” của toàn dân Việt thành công.

Mới đây tin tức dồn dập đưa lên các hệ thống truyền thông và các trang mạng điện tử cho biết một đại gia đỏ lừng lẫy, tên Henry Nguyễn, con rễ của Thái Thú Nguyễn Tấn Dũng, đã bỏ số tiền lớn, trong số ít nhứt 100 triệu đô la, để mua lại quyền sở hữu Câu Lạc Bộ Chivas USA [theo Sports Illustrated ngày 30/9], đội banh đang chơi trong Câu Lạc Bộ MLS.

Được biết, sau khi hoàn tất việc mua Chivas USA, các ông chủ sẽ đóng cửa CLB này trong tối thiểu hai năm để tái thiết lại, từ việc kiếm sân vận động mới, đổi tên cũng như thương hiệu của đội banh. Đội banh sẽ vẫn ở Los Angeles nhưng họ sẽ phải xây sân vận động tại khu vực này. Do vậy, nó được đổi tên thành Los Angeles Football Club (Los Angeles FC) và dự kiến sẽ tham gia tranh tài vào năm 2017. Đồng thời, một sân banh sẽ được xây cất và hoàn thành vào năm 2017 [xem hình], với chi phí lên đến 250 triệu mỹ kim; có 22 ngàn chỗ so với các cầu trường túc cầu khác trong hiệp hội túc cầu Bắc Mỹ MLS.

Vài cuộc tháo chạy tiêu biểu của các đại gia đỏ nêu trên làm sáng hơn cuộc tháo chạy theo con đường “du học sinh” ra nước ngoài để “cắm sào”. Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (Bộ GD&ĐT), CSVN hiện có trên 100.000 du học sinh (DHS) theo học tại 49 quốc gia và vùng lãnh thổ; nhiều nhất là Úc (khoảng 25.000 người). Xếp thứ nhì là Mỹ (14.888 người), kế tiếp là Trung Quốc (12.500), Singapore (7.000), Anh (6.000), Pháp (5.540), Nga (5.000), Nhật Bản (3.500). Trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc.

Số DHS sau khi tốt nghiệp đều tìm cách định cư tại nước sở tại. Nhiều DHS không muốn về lại Việt Nam là nét tiêu biểu cho cuộc tháo chạy. Nếu việc vượt biên ngày trước được thực hiện bằng cách “mua bãi” với 6 lượng vàng; hoặc đi “bán chánh thức” thì cũng phải nộp ít nhứt 10 lượng vàng cho công an; thì du học ngày nay chỉ cần chứng minh tài chính và khả năng chi trả học phí, ăn ở, trung bình khoảng 30,000 USD/năm; con số được coi như quá rẻ cho các đại gia đỏ.

Cuộc tháo chạy này coi như có sự đồng thuận của Mỹ. Đúng vậy, chính Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear đã cho biết ông vui mừng nhận thấy Việt Nam tiếp tục đưa một số lượng lớn sinh viên đến Hoa Kỳ để học đại học [Xem hình 24/28 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp khóa điện tử và cơ khí theo học bổng IVS tại ĐH Portland State, Oregon]. Được biết, số sinh viên Việt Nam học tập và nghiên cứu tại Mỹ đứng đầu con số sinh viên nước ngoài từ khu vực Đông Nam Á. Theo Viện Giáo dục Quốc tế của Mỹ (IIE) hồi cuối những năm 90, mới chỉ có hơn 1.500 sinh viên Việt đi du học tại Mỹ và tăng trưởng đều đặn kể từ đó. Việt Nam lọt vào top 20 quốc gia có nhiều du học sinh nhất ở Mỹ trong niên khóa 2006-2007 và lọt vào top 10 kể từ năm 2010-2011…

Hơn nữa, vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, Hạ viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu chấp thuận Dự Luật STEM-HR 6429. Tên chính thức của dự luật này là Trình độ Khoa Học, Công Nghệ Học, Kỹ Thuật Học hay Toán Học (tức Science, Technology, Engineering or Mathematics, viết tắt là STEM). Dự luật này sẽ cấp 55.000 thẻ xanh cho các sinh viên du học đạt được những trình độ cao cấp sau khi học xong ở các trường đại học Hoa Kỳ. Dự luật này đã đóng dấu ấn cho con đường tháo chạy của các đại gia đỏ. Nó cho biết người hôn phối và các con của đương đơn, của chương rình STEM, sẽ được cấp chiếu khán phi-di-dân để ở Mỹ và sau đó, người hôn phối hoặc cha mẹ của chương trình STEM có thể nộp đơn bảo lãnh họ qua chương trình đoàn tụ gia đình bình thường. Đó chỉ là con đường tháo chạy chánh thức. Còn có những con đường đen và con đường vòng bên ngoài luật pháp, hay chen qua các kẻ hở của luật pháp, khiến bây giờ người ta có thể nhận diện và nhận dạng các đại gia đỏ lũ khủ trà trộn trong cộng đồng nhiều người đã thấy nhưng không chịu điểm mặt.

Giáo Già

Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

Image result for hình ảnh trái tim chúa giêsu

“Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

(Người có trái tim ở bên ngoài,

bên trong lại không có tim)

Năm 1597, lệnh bắt đạo trên đất Nhật thật gắt gao. Chỉ trong một tuần lễ, mọi cơ sở Công Giáo đều bị triệt hạ, giáo sĩ bị bắt gần hết, giáo dân bị phân tán và khủng bố tàn tạ.

Tại vùng Odawara, Kamakura, người ta bắt được 2 linh mục trẻ tuổi là Simauchi và Uzawa cùng nhiều ảnh tượng giải về Tokyo. Quan đại thần Tsukamoto nhặt trong đống ảnh tượng một mẫu ảnh: người gì mà để trái tim ra ngoài !

Quan đại thần Tsukamoto là một nhà nho uyên bác có óc thực tế, thích tìm hiểu. Ông cầm mẫu ảnh trái tim coi qua rồi vứt vào sọt rác; nhưng đến tối, ông nhớ lại và nghĩ bức ảnh kỳ lạ kia hẳn có một ý nghĩa nào đó. Ông lượm lại bức ảnh để trên bàn và suy nghĩ. Trời đã về khuya mà quan vẫn ngồi bất động một mình với bức ảnh trước mặt. Mãi đến gần một giờ sáng, vị đại thần mới thở ra nhẹ nhàng khoan khoái, tay cầm bút lông ghi dưới bức ảnh mấy chữ : “đối ngoại hữu kỳ tâm – đối nội vô tâm giả”. Từ đó quan đại thần Tsukamoto đặt bức ảnh Trái Tim trên bàn làm việc một cách kính cẩn.

Một hôm, người bạn tên Osaki đến chơi, hỏi :

– Bạn lại thích ảnh tượng của bọn tà đạo rồi sao ?

Quan đại thần Tsukamoto trả lời :

– Đứng về mặt chính trị của triều đình thì tôi không dám phản kháng. Nhưng về mặt văn hóa và nhân đạo thì tôi rất thích bức ảnh này. Phải chăng bức ảnh này đã nói lên chương trình và hành động cùng lối xử thế tổng quát của Kitô giáo. Để ông bạn coi : đối với thiên hạ, tha nhân bên ngoài thì “Hữu Tâm”, còn với bản thân mình thì “Vô Tâm”. Cho nên họ mới vẽ trái tim để ra ngoài… Nghĩa là phải đem hết trái tim của mình mà phục vụ xã hội, giúp ích cho đời ; còn về phần mình thì hy sinh xả kỷ, đừng bao giờ lo riêng cho mình, phải diệt cái ngã vị kỷ. Đem hết trái tim ra giúp đời giúp người. Nội bức ảnh nầy tôi thấy đầy đủ hơn cả cái học Từ Bi của Phật, khoan dung hơn cái Nhân Thứ của Khổng, cao siêu hơn cái Vô Ngã của Lão, mạnh mẽ hơn cái học Dũng thuật của Thần Đạo Nhật bản vậy. Một tôn giáo dạy phụng sự nhân loại, yêu thương mọi người, còn bản thân mình thì không màng tới, không quan tâm đến tư lợi, thì quả là chính đạo.

Ông Osaki cảm phục sự diễn đạt của bạn. Không ngờ Đạo Công Giáo lại hàm chứa một triết lý nhân sinh cao siêu như vậy. Từ đó hai ông trở nên những người bạn chí thân và đã âm thầm nhận phép Rửa Tội, đồng thời vận động triều đình thả hai linh mục… (Trích “Phúc”)

Thánh Tâm (聖 心) còn gọi là “Rất Thánh Trái Tim” nghĩa là trái tim thuộc về Đức Chúa (hoặc Đấng thiêng liêng). Khi nói về Thánh Tâm Chúa Giêsu là chúng ta phải luôn luôn hiểu bao gồm cả con người Chúa Kitô. Việc tôn thờ Thánh Tâm là nòng cốt của Đạo Công Giáo, như các Đức Piô XI và Piô XII đã nói: “Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu là điểm cốt yếu của đạo chúng ta (summa religionis nostrae)”. Trong việc tôn thờ này, đức tin Kitô giáo vẫn nguyên tuyền vì đưa con người tới Chúa Ba Ngôi nhờ sự hợp nhất với Chúa Kitô, Đấng Trung Gian.

Việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, mời gọi chúng ta theo gương Người. Hiến dâng cho Thánh Tâm Chúa, vì trong Thánh Tâm Chúa, chúng ta tìm được tình yêu thúc đẩy chúng ta yêu mến Chúa và tận hiến hoàn toàn cho tha nhân. Đúng như câu nói của vị quan người Nhật: “Đối ngoại hữu kỳ tâm, đối nội vô tâm giả”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

BI KỊCH CỦA MỘT GIA ĐÌNH CHÍNH TRỊ GIA

BI KỊCH CỦA MỘT GIA ĐÌNH CHÍNH TRỊ GIA

Kim Hà

Nguồn: Spiritdaily.com

(Hai cha con PTT Joe Biden và con trai Beau)

Phó Tổng Thống Hoa Kỳ là ông Joe Biden vừa mất một người con trai là anh Beau Biden, 46 tuổi. Anh bị bịnh ung thư óc và qua đời ngày 30/5/2015 vửa qua. Anh là một luật sư, một bộ trưởng Tư Pháp của tiểu bang, một chính trị gia sáng giá và một tín hữu Công giáo ngoan đạo. Anh để lại người vợ trẻ và hai người con nhỏ, một trai, một  gái.

Tổng Thống Obama đã nói rằng:

“Anh Beau là một người Công giáo tốt lành và bác ái, một người ngoan đạo và trung thành. Anh đã làm cho cuộc sống của những người khác được tốt hơn. Anh sẽ sống lại trong trái tim của mọi người.”

Thật sự gia đình anh Beau và cha anh là Phó Tổng Thống Joe Biden trải qua một thảm kịch quá bi thương.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 2015, khi đến nói chuyện trong buổi lễ tốt nghiệp của Đại Học Yale University, Ông Joe Biden đã tiết lộ rằng:

“Năm 1972, vợ tôi là Neilia, và đứa con gái 1 tuổi của tôi là Naomi đã bị tai nạn xe và chết ngay, còn hai con trai tôi là Beau, 3 tuổi, và Hunter, 2 tuổi thì bị thương nặng và nằm bịnh viện.”

“Lúc đó, tôi mới có 30 tuổi và vửa mới được bầu làm Thượng Nghị Sĩ của Hoa Kỳ. Lúc đó tôi là người trẻ tuổi thứ hai trong lịch sử của Thượng Viện Hoa Kỳ. Điều ấy làm cho tôi có nhiều tham vọng. Trong cuộc đời nếu bạn không cẩn thận thì bạn cứ nghĩ rằng mình thành công. Tuy nhiên, mọi sự có thể thay đổi hoàn toàn trong một nhịp đập của trái tim.”

“Sau khi trúng cử Thượng Viện được 6 tuần thì cả thế giới của tôi thay đổi mãi mãi. Trong lúc tôi đang ở tại thủ đô Washington, D.C. để thuê nhân viên cho văn phòng thì tôi nhận được một cú điện thoại. Vợ tôi và ba con của chúng tôi đang đi mua sắm quà cho mùa Giáng Sinh.  Một cái xe tractor-trailer đụng vào xe vợ tôi và làm cho vợ tôi và con gái tôi chết ngay lập tức. Và họ nói rằng không biết hai con trai tôi có thể sống sót được không?”

“Từ đó, tôi phải lái xe 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày từ Washington, DC về lại Wilmington, Delaware suốt nhiều tuần lễ để thăm nom hai con trai tôi ở bịnh viện. Sở dĩ  tôi phải vất vả đi lại vì tôi muốn ôm hôn các con tôi mỗi buổi tối và ôm hôn chúng mỗi buổi sáng của ngày hôm sau. Tôi muốn ở bên giường bịnh viện của các con tôi. Bởi vi tôi nhận nhức rằng một đứa trẻ có thể giữ những  ấn tượng quan trọng trong tâm hồn. Có những điều quan trọng mà chúng muốn nói với cha mẹ, có thể trong suốt 12 hay 24 tiếng đồng hồ, rồi chúng sẽ quên đi. Và khi chúng quên là quên luôn.”

“Sau tai nạn đau thương ấy, tôi không còn muốn tuyên thệ nhận chức Thượng Nghị Sĩ nữa. Lẽ ra tôi phải tuyên thệ chung với các đồng nghiệp vào năm 1973 nhưng tôi không muốn đến Washington, D.C. nữa. Tôi chỉ muốn ở lại với Beau và con trai khác của tôi. Cuối cùng thì tôi vẫn tuyên thệ nhưng ngay tại giường bịnh của Beau.”

Ông Biden nói chuyện được 2 tuần sau thì con trai của ông là Beau Biden chết. Beau là con đầu lòng của ông, mới có 46 tuổi.

Ông Joe Biden lại vừa phát biểu:

“Tôi có một mối liên hệ mật thiết với các con của tôi, đó là một hồng ân vì nếu không có sự mật thiết ấy thì tôi không biết mình có thể sống sót vượt qua khỏi những sự đau khổ mà tôi đã trải qua hay không? Ai biết được liệu mình có thể trân quý những giây phút đẹp đẽ và quý báu trong cuộc đời hay không?”

Khi còn sống, anh Beau Biden đã từng nói:

“Một trong những ký ức sớm nhất và đẹp nhất ở bịnh viện là ba tôi luôn ở bên cạnh tôi. Ba tôi chăm sóc cho anh em tôi. Ba không muốn tuyên thệ nhận chức. Ba bảo:

‘Tiểu bang Delaware có thể có một thượng nghị sĩ khác nhưng các con của tôi không thể có một người cha khác.’

Tuy nhiên, những chính trị gia nổi tiếng khác cũng đã trải qua những bi kịch trong cuộc đời như TNS Ted Kennedy, Mike Mansfield, Hubert Humphrey… đã khuyên can ba tôi là hãy phục vụ tổ quốc. Vì thế ba tôi đã tuyên thệ ngay tại giường bịnh của tôi. Là một người cha độc thân, ba quyết định luôn ở cạnh chúng tôi để cho chúng tôi lên giường ngủ vào buổi tối, luôn ở bên cạnh chúng tôi khi chúng tôi thức dậy sau khi có một giấc mơ hãi hùng. Ba làm các món ăn điểm tâm cho chúng tôi. Ba hy sinh lái xe 4 tiếng đồng hồ từ Washington, D.C về nhà trong 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày.”

Phó Tổng Thống Joe Biden nói rằng:

“Con trai tôi, Beau đã chiến đấu với bịnh ung thư óc với lòng chân thành, can đảm và sức mạnh. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy sự thật, lý do thật là sở dĩ tôi lái xe đi về mỗi tối là vì tôi cần các con tôi hơn là chúng cần tôi.”

“Có những người đã viết và nói rằng về tôi rằng:

‘Joe Biden không thể là một nhân vật chính trị nghiêm túc. Nếu ông ta nghiêm chỉnh thì ông phải ở lại thủ đô Washington nhiều hơn, tham dự các biến cố chính trị nhiều hơn. Ông ta không thể là một  chính trị gia nghiêm túc được vì ông ta vội vã về nhà ngay sau khi bầu bán.’

“Tuy nhiên tôi thấy mình không thiếu gì cả.”

Suy niệm:

Mỗi gia đình đều có những bi kịch riêng. Nếu không hiểu thì dễ phán xét. Ông Joe Biden đã chịu cực khổ để vừa trở nên một người cha cô đơn tốt lành trong một tình huống đau buồn và khó khăn như thế, vừa chu toàn nhiệm vụ phục vụ tổ quốc. Xin Chúa chúc phúc cho gia đình ông!

Xin Chúa chúc phúc cho linh hồn anh Beau Biden! Xin Chúa an ủi và cứu giúp gia đình anh Beau. Amen. RIP!

Kim Hà
31/5/2015

 

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-06-18

06182015-the-vn-new-wav-of-refug.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Cuộc sống hiện nay của họ ra sao và những người này còn sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ sẽ giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia.

…Buộc phải rời bỏ quê hương

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, do sự sai lầm trong các chính sách chính trị và kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản, đã dẫn đến một làn sóng người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài.

Từ năm 1986, đảng CSVN phải thực hiện một cuộc cải cách kinh tế để thoát ra khỏi bờ vực phá sản. Đời sống kinh tế trong nước có khá hơn, cũng như sau đó các trại tỵ nạn của người Việt ở nhiều nơi trên thế giới bị đóng cửa, các nước không còn muốn nhận thuyền nhân nữa; khi đó cuộc khủng hoảng người tị nạn Việt nam tưởng như đã chấm dứt.

Tuy vậy ít người biết rằng từ đó đến nay, vẫn còn một làn sóng người Việt nam tị nạn chính trị mới. Nhiều người trong số họ buộc phải bỏ nước ra đi, mà các nước trong khu vực Đông Nam Á là chặng dừng chân đầu tiên của họ.

Theo số liệu thống kê, hiện tại ở Thái lan đang có khoảng 950 người tỵ nạn, tương tự ở Campuchia cũng có đến gần 200 người.

Nói về lý do khiến bản thân phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn, ông Hồ Văn Chỉnh cho chúng tôi biết:

” Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng

ông Hồ Văn Chỉnh”

“Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng.”

Anh Hoàng Đức Ái một nhà tranh đấu ở Nghệ An bị truy đuổi nên buộc phải bỏ nước ra đi đến Thái lan, anh nói:

“Lý do tôi phải đến Thái lan tỵ nạn là do tôi là 1 trong 8 người ở Nghệ An đã rải truyền đơn tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội.”

Thân phận tỵ nạn này còn dành cho những người sắc tộc H’mông, vì bị chính quyền đàn áp buộc họ phải từ bỏ tôn giáo mà họ tin theo. Một thầy truyền đạo người H’mông đang tỵ nạn ở Thái lan, yêu cầu được dấu danh tính cho chúng tôi biết. Ông nói:

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

“Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi.”

Khó khăn nơi “đất khách quê người”

Những khó khăn của những người bỏ nước ra đi tìm đường tỵ nạn ở nước ngoài khó mà kể hết, vì đối với họ tất cả đều mới lạ. Nói về những khó khăn hiện nay, anh Hoàng Đức Ái ghi nhận:

“Khó khăn thứ nhất là về công việc, mình không có việc làm. Thứ 2 là chính quyền Thái lan họ không cho mình nhập cư, nên nếu mình ra ngoài làm việc thì sợ họ bắt, vì nếu bị họ bắt thì chắc chắn sẽ nguy hiểm. Thứ 3 là vấn đề ngôn ngữ, vì không có ngôn ngữ thì rất khó khăn cho mình.”

Thầy truyền đạo người H’mông tiếp lời:

” Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi

Một thầy truyền đạo người H’mông”

“Ở Thái lan này thì cuộc sống nói chung cũng có nhiều cái khó khăn lắm, một là mình phải cố gắng đi kiếm việc làm, song vì mình là người sống bất hợp pháp nên người thuê mình làm họ ép giá rất là thấp. Cũng vì Thái lan họ không ký cái Công ước Quốc tế năm 1951 để bảo vệ người tỵ nạn, vì thế chúng tôi sang lánh nạn ở đây thì sự nguy hiểm luôn thường trực 24/24.”

Những khó khăn thì chồng chất như vậy, song việc có được Cao ủy tỵ nạn LHQ (UNHCR) cứu xét để cấp quy chế tỵ nạn cho những người tỵ nạn hay không thì là cả một vấn đề lớn và cũng hết sức khó khăn. Anh Hoàng Đức Ái khẳng định:

“Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông. Như lịch phỏng vấn của tôi cũng đã dời lại 2-3 lần, bây giờ cũng đã hết 1 năm rồi.”

Kể cả những trường hợp đã được chấp nhận cho hưởng quy chế tỵ nạn ở Campuchia, song quyết định đó cũng không có hiệu lực. Từ đó dẫn đến tình cảnh những người này vẫn phải sống một cuộc đời vô tổ quốc từ nhiều năm nay. Từ Campuchia, ông Hồ Văn Chỉnh nói với chúng tôi:

“Sau khi UN rút quân thì họ giao tôi lại cho phía Capuchia và họ cấp cho tôi một cái giấy do Phó Thủ tướng ký, nhưng cái giấy này không có hiệu lực gì hết. Bây giờ thì họ khong công nhận, mà họ chỉ công nhận giấy nhập tịch thôi. Do đó hiện tại cuộc sống của chúng tôi cũng hết sức khó khăn và ở Campuchia bây giờ chúng tôi không có tương lai gì hết.”

Tuy nhiên, ở miền đất mới đa số những người tỵ nạn vẫn không từ bỏ công việc đấu tranh của mình, họ vẫn tiếp tục tham gia công việc đấu tranh trong điều kiện có thể. Anh Hoàng Đức Ái bày tỏ:

“Đối với những người tỵ nạn như tôi hay một số người bạn ở đây, hàng ngày vẫn theo dõi tình hình ở VN để tiếp tục đồng hành đấu tranh với những người đấu tranh trong nước. Đặc biệt là đối với các bạn trẻ, bằng những bài viết trên các trang blog.”

” Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông

Anh Hoàng Đức Ái”

Thầy truyền đạo người H’mông cho chúng tôi biết hiện tại số người H’mông tỵ nạn về vấn đề tôn giáo ở Thái lan có khoảng 350 người và ông vẫn tiếp tục đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho bà con sắc tộc H’mông ở trong nước. Ông nói:

“Tôi vẫn tiếp tục hoạt động về niềm tin tôn giáo ở đây. Trước tình hình cộng sản VN đã ngăn cấm không cho đồng bào hoạt động tôn giáo tự do theo ý muốn của người dân thì tôi cũng tìm hiểu các thông tin về vấn đề này để viết các báo cáo để cho các tổ chức Nhân quyền biết, để lên tiếng bảo vệ đồng bào H’mông của chúng tôi.”

Về nguyện vọng chung của những người tỵ nạn hầu như cũng giống nhau, tất cả đều mong nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt nam ở khắp nơi trên thế giới và mong muốn nhanh chóng được đi định cư ở nước thứ 3. Ông Hồ Văn Chỉnh cho biết:

“Bây giờ cộng đồng thế giới hãy lên tiếng để giúp chúng tôi được đi định cư ở nước thứ 3, vì chỉ có thế chúng tôi mới có tương lai cho con cái sau này. Cho đến giờ tôi đã tỵ nạn ở đây 15 năm rồi, mà họ không cho chúng tôi nhập tịch gì hết. Chẳng biết tương lai của chúng tôi sẽ ra sao nữa.”

Được biết không phải chỉ có ở các nước Đông Nam Á, nhất là Thái lan mới có những người VN tỵ nạn về các lý do chính trị và tôn giáo. Tại một số quốc gia thuộc các châu lục khác hiện nay cũng có người tỵ nạn Việt Nam.

Trong bài sau, mời quý vị đón nghe phần tường trình của thông tín viên Tường An từ Paris, về cuộc sống của những người tỵ nạn đến từ VN ở Âu châu và Úc châu.

THỬ THÁCH TRONG CUỘC ĐỜI

THỬ THÁCH TRONG CUỘC ĐỜI

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong đời ta gặp nhiều trường hợp giả vờ rất đáng yêu.  Chẳng hạn bà mẹ trẻ giả vờ trốn đứa con nhỏ, để nó phải lo âu đi tìm.  Và khi thấy nó đã lo âu đến độ tuyệt vọng, sắp khóc đến nơi, bấy giờ bà mẹ mới xuất hiện.  Vừa thấy bà mẹ xuất hiện, đứa trẻ vui mừng khôn xiết.  Và nó càng yêu mến, càng bám chặt lấy mẹ nó hơn nữa.

Chúa Giêsu cũng có nhiều lần giả vờ như thế.  Lần giả vờ được minh nhiên ghi lại trong Tin Mừng là khi Người cùng hai môn đệ đi trên đường Emmaus.  Khi đã đến nơi, Người giả vờ muốn đi xa hơn, làm cho các môn đệ phải tha thiết nài nỉ Người mới chịu ở lại.  Khi Người ở lại, các môn đệ vui mừng khôn xiết.  Và niềm vui lên đến tuyệt đỉnh khi các môn đệ nhận ra Người lúc bẻ bánh.

Hôm nay tuy Tin Mừng không minh nhiên ghi lại, nhưng ta có thể đoán biết Chúa Giêsu đang giả vờ.  Vì sóng to gió lớn dập vùi làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngả, nước tràn vào đến nỗi thuyền có nguy cơ bị chìm đắm, trong khi đó các tông đồ xôn xao chạy ngược chạy xuôi, hò hét nhau tìm cách tát nước ra.  Giữa khung cảnh như thế, làm sao có thể nằm ngủ ngon lành được.  Chỉ có thể là giả vờ. Việc giả vờ của Chúa phát xuất do tình yêu.

Vì yêu thương ta, Chúa muốn ta đáp lại tình yêu thương của Chúa. Đó là định luật thông thường trong tình yêu.  Khi yêu ai cũng muốn được đáp trả.  Chúa không đi ra ngoài định luật thông thường đó.  Người tha thiết yêu ta.  Người mong ta yêu mến gắn bó với Người, nên đôi khi Người giả vờ lãng quên để ta nhớ mà chạy đến với Người, gắn bó với Người hơn.  Như bà mẹ muốn đứa con tỏ ra cần đến mẹ, tha thiết đi tìm mẹ, hốt hoảng khi không thấy mẹ, Chúa cũng mong ta cần đến Chúa, tha thiết đi tìm Chúa và hốt hoảng lo âu khi thấy vắng bóng Chúa.

Vì yêu thương ta, Chúa muốn rèn luyện ta nên người. Để rèn luyện ta, Chúa gửi những thử thách tới.  Cuộc đời ví như mặt biển cả mênh mông.  Mỗi người là một con thuyền lênh đênh trên mặt nước. Sóng gió là những thử thách trong cuộc đời.  Những thử thách Chúa gửi đến giúp ta trưởng thành ở ba phương diện.

Những thử thách giúp ta biết mình hơn. Bình thường ta nghĩ mình chẳng kém thua ai.  Nhưng khi gặp thử thách mới biết mình thật yếu đuối.  Thánh Phêrô thấy Chúa đi trên mặt nước thì tưởng mình cũng đi được.  Nhưng chỉ được mấy bước đã chìm xuống.  Các tông đồ là những bạn chài đã quen với sóng nước.  Thế mà vẫn kinh hoảng trước bão tố.  Đã chứng kiến biết bao phép lạ Chúa làm, nhưng khi gặp gió bão vẫn hoảng kinh.  Thử thách giúp ta biết mình.  Biết mình để thêm khôn ngoan, thêm trông cậy và nhất là để biết rèn luyện bản thân cho tiến bộ hơn.

Thử thách giúp ta biết yêu mến, cậy trông vào Chúa hơn. Có thử thách ta mới biết sức mình, biết có những việc ở ngoài tầm tay của mình, chẳng ai có thể giúp mình ngoài Chúa.  Vì thế gặp nhiều thử thách giúp ta biết cậy trông phó thác vào Chúa hơn.  Gặp thử thách ta mới biết chẳng ai yêu thương ta bằng Chúa.  Chúa sẽ không để ta bị thử thách quá sức chịu đựng, nên ta sẽ biết yêu mến Chúa hơn.

Thử thách giúp đức tin vững mạnh. Chẳng có thử thách nào kéo dài mãi mãi.  Chúa chỉ cho thử thách một thời gian.  Rồi Chúa lại can thiệp để sóng yên biển lặng.  Khi sóng yên biển lặng rồi, các môn đệ càng vững tin nơi Chúa hơn.  Để từ nay các ngài không còn cuống quít lo sợ mỗi khi gặp gian nan nữa.  Đời sống mỗi người chúng ta cũng thế.  Ai càng gặp nhiều thử thách thì càng trở nên từng trải, vững vàng.

Đời sống không thể thiếu thử thách.  Hãy biết rằng Chúa cho phép thử thách vì yêu thương ta, để rèn luyện ta nên người.  Hơn nữa Chúa luôn ở bên ta.  Vì thế ta hãy vững tin, hãy cậy trông phó thác và hãy biết tận dụng những khó khăn để đức tin thêm vững mạnh.  Thử thách rồi sẽ qua đi.  Nhưng cách ta phản ứng trước thử thách lại tồn tại và tạo thành giá trị đời ta.  Ước gì mọi thử thách ta gặp trong đời đều biến thành cơ hội cho ta được thêm lòng cậy và lòng mến Chúa.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Anh chị Thụ Mai gởi

Tony Melendez – Never Be The Same

Tony Melendez – Never Be The Same

Một người thanh niên tên là Tony Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II (nay là thánh G.P.II) đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè năm 1987.

Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên đang hát với tiếng đàn Guitar của mình.  Ðiều gì đã làm cho khung cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người?

Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng.  Tony đã chào đời không có hai cánh tay.  Nhưng Tony đã vận dụng những ngón chân của mình để học đàn guitar.  Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.

Anh đã biết biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục.

Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: “Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt diệu như thế?”.

Anh đã trả lời như sau: “Tôi đã cầu nguyện : Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa.  Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi”.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được sinh ra hay không sinh ra.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa làm đàn ông hay đàn bà.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo hèn…

Dưới mắt người đời, mỗi người chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh.  Người ta vẫn nói: có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người kém may mắn.

Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả.

Trong chương trình Quan Phòng của Ngài, mỗi người, dù nhỏ bé hèn mọn, dù tàn tật bất hạnh đến đâu, cũng đều có một chỗ đứng.  Do những bất trắc của thiên nhiên, hay do hậu quả của tội lỗi, nhiều người phải sinh ra với tất cả một gánh nặng của bất hạnh.  Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc vì những hư hỏng ấy, Ngài luôn có một chương trình cho mỗi người.

Lắm khi chúng ta thấy được những kỳ diệu của Thiên Chúa được thể hiện qua những bất hạnh, mất mát của con người.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Xin mở Youtube để nhìn thấy Kỳ Công của Thiên Chúa….

httpv://www.youtube.com/watch?v=zlZPYGBXQ44