Sẽ không ai thay thế được GS-TS Trần Văn Khê’

Sẽ không ai thay thế được GS-TS Trần Văn Khê’

Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê là thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO.

Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê là thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO.

Khánh An-VOA

24.06.2015

GS-TS. Trần Văn Khê, một cây “đại thụ” trong làng văn hóa Việt Nam, vừa từ trần vào lúc 2:55 ngày 24/6/2015 ở tuổi 94. Với bề dày đồ sộ các công trình nghiên cứu âm nhạc, ông là thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO và là người có công đầu trong việc giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến với thế giới. Ngoài vốn kiến thức lỗi lạc, GS-TS. Trần Văn Khê còn được giới văn nghệ sĩ Việt Nam kính phục vì những phẩm chất đáng quý của một người làm văn hóa một cách nghiêm túc và tử tế.

GS-TS. Trần Văn Khê sinh ra trong một gia đình được xem là “nhà nòi” làm nghệ thuật. Gia đình ông có bốn đời chuyên về âm nhạc truyền thống. Cụ cố Trần Quang Thọ là nhạc ông triều đình Huế trước đây. Ông nội là Trần Quang Diệm biết đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà. Cha là Trần Quang Triều biết nhiều nhạc cụ, đặc biệt là độc huyền cầm và đờn kìm.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương làm đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc vốn là người đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim. Các cô, cậu họ hàng của GS-TS. Trần Văn Khê cũng là những người đã góp phần trong kho tàng âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Tuy nhiên, ông lại bị mồ côi rất sớm. 9 tuổi ông mất mẹ, 10 tuổi mất cha. Trong cuốn tự truyện rất được mến mộ, GS-TS. Trần Văn Khê xem biến cố đau thương này vừa là nghịch cảnh, lại vừa là động lực cho ông cố gắng hoàn thiện mình trên mỗi bước đường đời.

” Có thể sau này có người tài ba hơn thầy, giỏi hơn thầy, nhưng vị trí, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cuộc sống của thầy Trần Văn Khê là sẽ không thay thế được.

Đạo diễn Tấn Phát”

Thuở bé, GS-TS. Trần Văn Khê đã tỏ ra rất sáng dạ. Ông là một trong hai người duy nhất trong tỉnh đậu bằng chữ Hán khi mới học tiểu học. Lên trung học, ông được cấp học bổng vào trường Trương Vĩnh Ký và năm nào ông cũng đứng đầu lớp. Hoàn tất trung học, ông lại được cấp học bổng đặc biệt của chính phủ thuộc địa để ra Hà Nội học Y khoa. Nhưng đến năm thứ nhì thì vấn đề sức khỏe và sự kiện phong trào “Xếp bút nghiên” đã khiến ông phải bỏ dở trường thuốc.

Sau đó, ông sang Pháp và thi đậu vào trường chính trị nổi tiếng Sciences Po ở Paris. Rồi ông sang La Haye học Luật quốc tế và được tuyển vào làm thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc. Năm 1952, ông ghi tên soạn luận án tiến sĩ đại học Paris. Năm 1954 – 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ. Đến tháng 6/1958, ông đậu tối ưu tiến sĩ Văn khoa, môn Nhạc học tại đại học Sorbonne, với luận án chính về âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Một biểu tượng của văn hóa Việt Nam

Sự nghiệp nghiên cứu và đóng góp ủa ông cho âm nhạc truyền thống Việt Nam cho tới nay không ai có thể sánh bằng. Ông là người đã có công đầu trong việc giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam với thế giới.

TS. Nguyễn Xuân Diện, người có vinh dự được làm việc cùng với ông trong thời gian làm hồ sơ đề nghị đưa ca trù Việt Nam vào UNESCO cho biết:

“Tất cả những hoạt động của ông từ nửa thế kỷ nay đều phụng sự cho văn hóa, âm nhạc Việt Nam, giới thiệu văn hóa, âm nhạc Việt Nam đi khắp năm châu bốn bể. Ông có những việc làm để gìn giữ tất cả những nét đẹp tinh hoa của Việt Nam trong văn hóa và âm nhạc. Chúng ta nhớ là năm 1976, khi mà quan họ, ca trù có một đời sống lay lắt thì GS. Trần Văn Khê trở về và ghi những đĩa hát về quan họ và ca trù, ghi âm với những nghệ nhân giỏi nhất thời bấy giờ, để đi giới thiệu với UNESCO, cho UNESCO in ra 400 đĩa gửi đi khắp nơi. Sau đó, nó có một tiếng vọng rất lớn trở lại Việt Nam. Tuy GS. Trần Văn Khê đã qua đời nhưng tất cả di sản đồ sộ cũng như những cống hiến lớn lao của ông đã khiến cho GS. Trần Văn Khê trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam”.

Một nhân cách lớn

Làm việc nghiêm túc nhưng rất bình dị, gần gũi, quan tâm đến những người xung quanh là đặc điểm khiến cho nhiều người có dịp làm việc với GS-TS. Trần Văn Khê kính phục và yêu mến ông. Đạo diễn Tấn Phát, người đã cùng làm việc với ông gần đây nhất trong chuỗi chương trình “Vinh danh văn hoá Nam bộ”, kể:

“Thầy vô cùng bình dị. Ngày xưa khi chưa gặp thầy, tôi nghĩ một người lỗi lạc như thầy chắc có lẽ phải cao sang, cao xa. Nhưng khi làm việc với thầy thì thầy rất bình dị, từ cách ăn mặc đến cách giao tiếp. Đối với mọi người, thầy rất quan tâm, chu đáo. Người nào thầy đã gặp rồi thì thầy nhớ. Cuộc sống thầy cũng rất đơn giản. Căn phòng thầy ở, món ăn thầy ăn đều rất đơn giản và dân tộc. Đó là một trong những điều khiến tôi khâm phục thầy nhất”.

” GS. Trần Văn Khê đã qua đời nhưng tất cả di sản đồ sộ cũng như những cống hiến lớn lao của ông đã khiến cho GS. Trần Văn Khê trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam.

TS. Nguyễn Xuân Diện”

TS. Nguyễn Xuân Diện rất nể phục GS-TS. Trần Văn Khê về tính công tâm, minh bạch trong công việc. Ông kể:

“GS. Trần Văn Khê luôn là một người thật sự công tâm, khách quan, minh bạch. GS. Trần Văn Khê được chính phủ Việt Nam mời về để làm cố vấn cho việc trình hồ sơ lên UNESCO cho ca trù Việt Nam, giáo sư đã yêu cầu Viện Âm nhạc và Bộ Văn hóa mời tôi để viết phần lịch sử và sự phát triển của ca trù. GS. Trần Văn Khê có gọi tôi đến và yêu cầu tôi phải đưa ra những tư liệu xác thực nhất, có thể kiểm chứng được trên thực tế, không được dựa trên những huyền thoại, truyền thuyết, mà phải dựa trên những tài liệu xác đáng bằng văn bia và các tài liệu Hán Nôm”.

TS. Diện kể trong một lần khác, chính phủ Việt Nam đề nghị giáo sư đưa môn đờn ca tài tử (vốn là sở trường của ông) trình lên UNESCO để được công nhân là văn hóa phi vật thể, giáo sư đã từ chối với lý lẽ đờn ca tài tử tuy đặc biệt nhưng vẫn xếp sau một số bộ môn nghệ thuật khác.

Tuy sự ra đi của GS-TS. Trần Văn Khê đã được dự báo trước, nhưng nhiều người không khỏi bồi hồi, luyến tiếc. Đạo diễn Tấn Phát nhận định việc mất đi GS-TS. Trần Văn Khê là một mất mát to lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. Đạo diễn nói:

“Sẽ không có người thay thế. Có thể sau này có người tài ba hơn thầy, giỏi hơn thầy, nhưng vị trí, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cuộc sống của thầy Trần Văn Khê là sẽ không thay thế được”.

Ngay cả đến lúc cuối đời, GS-TS. Trần Văn Khê cũng khiến cho nhiều người phải ngả mũ kính phục ông vì những sắp xếp hậu sự qua bản di chúc, trong đó, ông tiếp tục cống hiến phần tài sản cuối cùng cho những công việc lưu truyền và phát huy văn hóa Việt Nam. Ông cũng không quên sắp xếp cuộc sống cho người giúp việc đã đỡ đần ông trong nhiều năm cuối đời.

Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.

Margaret Thatcher

Tôi rời Cali đã lâu. Đủ lâu để bắt đầu thấy nhớ ánh nắng dịu dàng của Thung Lũng Hoa Vàng, và thèm tô phở gà (Nguyễn Huệ) trên phố Bolsa. Nắng Phnom Penh không chỉ chói chang mà còn nóng bỏng, và phở Nam Vang thì vô cùng nhạt nhẽo, và hoàn toàn không có mùi vị gì ráo trọi. Nó gần giống như cái thứ hủ tíu ăn liền ở một quán ăn xa xôi, nghèo nàn (nào đó) dù luôn có thịt bò tươi. Rất tươi và cũng rất dai, mười tô như chục.

Thiệt là hoạ vô đơn chí: nóng chịu không thấu; dở nuốt không vô. May mà có bia, đời còn dễ thương!

Có ai ngờ California (cứ tưởng là chốn tạm dung) lại có thể hoá “ngang” thành một thứ … quê hương thứ hai cho những hạt bụi đường viễn xứ, và mọi thứ đến từ “quê mình” đều bỗng trở nên gần gũi  – kể cả email.

Hôm rồi, ký giả Nguyễn Tuyển gửi thư tâm tình: “Tác giả Đèn Cù tới Quận Cam. Tôi có ngồi nói chuyện với ông ấy nhưng không được nhiều vì bận làm tin cho tờ báo. Ông có vẻ lạc quan, tin rằng chỉ hai ba năm nữa là chúng nó có thể sập. Dựa vào sự oán ghét, căm hận của người dân khắp nơi, ông ấy bảo Việt Nam như cái nồi nước sôi mà đậy nắp kín, thế nào cũng phải bung.”

Sự “lạc quan” của Trần Đĩnh khiến tôi nhớ đến một người cầm bút khác: Trần Khải Thanh Thủy. Mùa Hè năm kia, khi chúng tôi đang cùng Phan Quang Tuệ và Đỗ Thành Công ngồi bệt trước Lãnh Sự Quán (của nhà đương cuộc Hà Nội) ở San Francisco, cô bỗng nhỏ giọng nghiêm trang: “Chỉ vài tháng nữa là chúng nó đổ thôi. Qũy hưu trí cạn tiệt rồi, anh ạ.”

“Chúng nó” (rõ ràng) đã không “đổ” như Trần Khải Thanh Thuỷ mong đợi, và không chắc sẽ “xập” như Trần Đĩnh dự đoán. Chúng ta vẫn thường không nhìn thực tại như nó là mà chỉ như mình muốn. Đây là tâm cảm bình thường, và tự nhiên của mọi người trước hiện cảnh bức bối (và bí lối) hiện nay của đất nước.

Không phải ai cũng chia sẻ sự lạc quan và ước vọng của Trần Đĩnh và Trần Khải Thanh Thủy nhưng tất cả (tôi nói lại: tất cả) đều rất bi quan về tương lai của chế độ hiện hành. Chín mươi ngàn công nhân của Pouen, cùng đồng nghiệp ở những Long An, Tây Ninh, Tiền Giang đã lãng công (hồi tháng ba vừa qua) để phản đối điều 60 Luật BHXH  – điều luật chỉ cho phép người lao động nhận tiền BHXH một lần khi về hưu – chính vì họ nghi ngại về khả năng giữ tiền (và giữ quyền) của Nhà Nước trong những ngày tháng tới.

Ảnh: tuoitre.vn

Mọi giới chức có thẩm quyền, và có liên quan đến vấn đề BHXH, đều biết (rõ) như thế nhưng không ai dám thừa nhận như vậy. Tất cả đều chỉ nói dối quanh:

  • Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng: Việc công nhân phản ứng Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014 có nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do công tác tuyên truyền đến phổ biến pháp luật chưa tốt nên khi động đến lợi ích trước mắt là có phản ứng dù luật chưa có hiệu lực. Có lẽ đây là lời nói dối trơ tráo nhất của ông Hùng. Luật BHXH mới được cái quốc hội của ông ta thảo luận “chui” và thông qua “lén,” có dám cho ai biết đâu (cho tới khi công bố) mà bảo rằng “công tác tuyên truyền … chưa tốt.”
  • Thứ Thứ Trưởng Lao Động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân:  Cần làm cho người lao động hiểu rằng việc tích lũy để sau này có điều kiện hưởng lương hưu chắc chắn tốt hơn nhiều so với lĩnh một lần. Vấn đề không phải là “không hiểu” mà là “không tin,” Giời ạ! Ai cũng hiểu cả nhưng không ai tin rằng chế độ hiện tại có thể tồn tại đến “sau này” nên mọi người đều muốn nhận một cục tiền (và nhận liền) cho nó chắc ăn.
  • Vụ Phó BHXH Nguyễn Duy Cường: Không tính đến yếu tố trượt giá, nếu người lao động tích lũy đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để nhận lương hưu thì lợi ích thu được sẽ lớn gấp 4-5 lần so với việc nhận bảo hiểm xã hội một lần. Coi: “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt” / “Gửi Tiết Kiệm 20 Năm, Một Căn Hộ Còn Ba Tô Phở…” Tin tức hàng ngày nhan nhản như thế này trên mặt báo mà ông Cường lại nhất định “không tính đến yếu tố trượt giá” thì có bỏ mẹ con người ta không cơ chứ. Sao mà ông “tính” ngu vậy?
  • Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: Về quan điểm, mục tiêu khi xây dựng điều 60 Luật BHXH là đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phù hợp với xu hướng quốc tế, hướng đến chiến lược an sinh lâu dài cho người lao động.

Quả là đúng xu hướng quốc tế thật nhưng ở những quốc gia khác qũy BHXH được điều hành bởi một chính quyền khả tín. Cái Đảng và Nhà Nước thổ tả của bà Kim Ngân (tiếc thay) lại là một tập đoàn thống trị vô cùng bất nhân, bất nghĩa, và bất tín nên không hề có được chút tín nhiệm nào cả – từ bất cứ ai. Đừng nói chi đến chuyện “an sinh lâu dài cho người lao động,” ngay giờ đây đã có tiếng cảnh báo rồi: “ Việc nhà nước Việt Nam vỡ nợ chỉ còn là vấn đề thời gian, khi nào thì công bố chính thức mà thôi.”

  • Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền : Nội dung Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là phù hợp với xu hướng phát triển chung, đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Cũng như bà Kim Ngân, bà Hải Chuyền phát biểu không có gì sai. Cả hai bà, cùng tất cả qúi vị có chức danh thượng  dẫn, chỉ đều không chịu nói thật thôi.

Sự thực là ở Việt Nam, cũng như ở Tầu, không ai cảm thấy an tâm về hiện cảnh cả.

Hãy nghe Tiến Sĩ Alan Phan nói qua về tình trạng ở Tầu:

“Theo một nghiên khảo của Hurun Consulting Group tại Shanghai, có 64% nhà giàu tại Trung Quốc đã và đang lên kế hoạch để xin di cư ra nước ngoài. Nhà giàu được định nghĩa là có tài sản hơn 12 triệu RMB (hay khoảng 1.8 triệu USD). Điểm đến mong ước? Mỹ (52%), Canada (21%), Úc (9%) và châu Âu (7%). Hai phần ba số người trên sẵn sàng bỏ quốc tịch Trung Quốc.”

Nguồn ảnh:vnmedia.vn

Từ Ba Lan, nhà báo Maciej Michalek cũng có nhận xét tương tự:

  • Họ gửi con cái đi học nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài, cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để có được hộ chiếu của các nước khác, và cuối cùng, nếu có thể, họ di cư để tìm kiếm một nơi tốt hơn để sống. Điều này cho thấy sự thiếu tin tưởng giữa chính phủ và các doanh nghiệp, cũng như sự thiếu niềm tin vào tương lai của người dân Trung Quốc tại chính quê hương của mình.”

Hiện trạng Việt Nam, tất nhiên, cũng không thể khác.  Từ Hà Nội phóng viên Luke Bùi có bài tường thuật (“Người Giầu Ở Hà Nội Tìm Đường Sang Mỹ”) chi tiết:

“Trong bối cảnh nợ công của Việt Nam sắp vượt trần, phân hóa giàu-nghèo ngày càng cách biệt, đời sống xã hội có nhiều rủi ro, giới giàu có ở Hà Nội đang ráo riết tìm đường định cư ở Mỹ để bảo toàn khối tài sản.

Có mặt tại Hà Nội trong những ngày này, người ta không khó để bắt gặp những chiếc xe BMW, Bentley, Roll-Royce bóng lộn, trị giá cả vài trăm ngàn đô la xuất hiện ngạo nghễ trên những con phố chật hẹp. Nhưng trong tầm mắt của du khách cũng có cả những người buôn thúng, bán bưng chật vật với chuyện kiếm được dăm ba chục ngàn đồng mỗi ngày. Quang cảnh khiến người ta nhớ đến khái niệm ‘phồn vinh giả tạo’ mà một nhà thơ đã dùng để miêu tả thời thế…

Mà Hà Nội bây giờ không chỉ có mình Ciputra, người ta có thể kể thêm một loạt những The Manor, Indochina, Pacific Palace, Golden West Lake… như là minh chứng về đẳng cấp của giới thượng lưu tại thủ đô.

Nhưng đằng sau vẻ hào nhoáng ấy có khi là tâm thế bất an trước thời cuộc… Điều này được minh chứng trong thực tế. Gần đây, các buổi hội thảo giới thiệu chương trình đầu tư định cư EB-5 lấy thẻ xanh Mỹ được tổ chức dồn dập ngay tại thủ đô Hà Nội và thường không còn một chỗ trống.

Bình quân sau mỗi buổi hội thảo, công ty định cư làm thủ tục cho hàng chục khách hàng với phí dịch vụ khoảng hơn $40,000/trường hợp. Tuy vậy, theo một doanh nhân làm lĩnh vực môi giới định cư cho biết thách thức lớn nhất đối với công ty ông và các luật sư đối tác là chứng minh nguồn gốc tài sản của khách hàng…”

Nếu qúi bà (Nguyễn Thị Kim Ngân, Phạm Thị Hải Chuyền…) và qúi ông (Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Minh Huân, Nguyễn Duy Cường …) đều là những người nghèo, không ai có tài sản gì ráo trọi để mà phải lo tẩu tán, và tất cả đều tin tưởng tuyệt đối vào sự bền vững của chế độ mà mình đang phục vụ thì tôi xin chân thành ngỏ lời xin lỗi vì đã có  những lời lẽ xúc phạm đến qúi vị. Bằng không, tôi xin mượn ý của một nhà văn Việt Nam để kết thúc bài viết ngắn ngủi này:

“Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng dậy đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008).

Tác phẩm thượng dẫn đã được chuyển dịch sang Pháp ngữ (La Mer et le Matin-Pêcheur) bởi dịch giả Tây Hà, và được trao giải Henri Queffélec. Khi được biên tập viên Mặc Lâm ( RFA) yêu cầu tóm gọn đôi lời về cuốn sách này, tác giả đã phát biểu như sau:

“Tôi chỉ có thể tóm tắt lại như thế này, đây là sử thi, quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong quan hệ giữa người với người.”

TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ: Trong va li có một con rắn Trung hoa?

TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ: Trong va li có một con rắn Trung hoa?

Võ Thị Hảo

RFA

  • VN vừa ký thêm một „văn tự bán nước“?

Theo tin từ VN thì Nguyễn Phú Trọng sẽ sang thăm Mỹ từ 7-9/7/2015.

Nghe nói chính quyền Obama đã chuẩn bị một lễ đón tiếp trọng thể dành cho vị Tổng bí thư(TBT) lãnh đạo một trong những chính thể được xếp hạng tham nhũng và đồi bại nhất thế giới.

Không cần quan tâm đến nguyện vọng của dân và xu thế thời đại, ông dùng bộ máy đàn áp trói chặt người VN với đường lối và thể chế cộng sản. Khốn thay cho dân VN, chủ thuyết ấy và chính thể cộng sản độc tài lại là cái nôi đã ấp và nở ra những „ma cà rồng“  kếch xù gây tội ác lớn nhất chống lại loài người như Stalin, Lê nin, Mao Trạch Đông…

Những người lạc quan cho rằng đây là một cơ hội lớn để ông Tổng Bí thư rửa tiếng nhơ „ bán nước cho TQ“ để giữ quyền lực – điều mà nhiều người vẫn nhận định về ông lâu nay.

Vì thế, nếu  ông TBT không nhân dịp này mà lập công chuộc tội với nhân dân VN, liên minh thực sự với Mỹ để bảo vệ và phát triển đất nước, giải tán Đảng cộng sản VN, thiết lập thể chế dân chủ tự do đa nguyên; chuyến đi của ông cũng theo khuynh hướng „chiến tích ngoại giao đen“ kiểu ông Phạm Quang Nghị trước đây thì tai tiếng „cõng rắn về cắn gà nhà“ của ông và giới cầm quyền tham nhũng VN thật ngàn năm khôn rửa.

Cánh cửa đẹp luôn để ngỏ. Những ai dù đã có sai lầm, gây hại cho dân nhưng nếu biết sám hối, nhân thời cơ mà lật ngược tình thế, đưa cộng đồng thoát khỏi ách cộng sản độc tài, xóa bỏ gần trăm năm nô lệ thì vẫn được nhân dân tha thứ và ghi nhận như một anh hùng cứu nước.

Bất kỳ ai trong „tứ trụ triều đình“ VN cũng có thể làm được điều đó, trong đó có Nguyễn Phú Trọng.

Nhưng cho đến giờ này, hy vọng ấy chỉ là hoang tưởng nếu căn cứ quá khứ và hiện trạng những hành vi mà ông đã và đang làm.

  • Nước Mỹ có biết „Truyện Nỏ thần“?

Việc Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ khiến nhiều người liên tưởng đến „truyện Nỏ thần“-

Đó là một truyền thuyết rất nổi tiếng của VN, kể về loại vũ khí cực mạnh(nỏ thần) làm từ móng chân của một vị thần. Thần này thương tình trao nó vào tay vua An Dương vương của VN(thời đó gọi là nước Âu Lạc) để chống quân xâm lược người TQ. TQ bẫy vị vua này bằng mối quan hệ vờ như gắn bó ruột thịt để trộm lấy nỏ thần, rồi đem nỏ thần tàn sát quân VN. Nước mất,  bị truy đuổi, vua bất lực trước giặc, quay lại trút căm hờn vào người nhà, chém chết con gái rồi lao xuống biển tự sát.

Thời đại nay đã khác xưa.

Xưa kia vua với nước là một. Nước mất thì vua chết.

Vua VN bây giờ không phải một người, mà là „một bầy sâu“ tham nhũng. Do thời thế cũng như thể chế, quyền lợi của „bầy sâu“ này không gắn chặt với đất nước VN mà lại gắn chặt với nhà cầm quyền TQ – tức là giặc của người VN.

Chính bởi thế, nhà cầm quyền VN thỏa hiệp với sự xâm lấn của TQ. Dư luận chứng minh rằng hết người này đến người khác, hết lần này đến lần khác, nhà cầm quyền VN đã liên tục ký „văn tự bán nước“ cho TQ.

Một động thái gần đây nhất đã làm chồng chất thêm sự phẫn nộ của người VN. TQ liên tục đe dọa, tấn công, đánh đắm, cấm đoán các phương tiện thủy vận, bồi đắp đảo nhân tạo, đưa chiến hạm đến chiếm cứ lãnh hải, hoàn tất đường lưỡi bò chiếm đoạt hầu hết lãnh hải VN rồi vu cáo và nhục mạ VN. Nhưng thay vì phải đấu tranh với TQ trên mọi phương diện để bảo vệ đất nước  thì ngày 17- 19/6/2015, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh đã mau mắn dẫn một đoàn quan chức sang Bắc Kinh để dự cái gọi là „phiên họp lần thứ 8 ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương VN-TQ“.

Đoàn quan chức này đã làm gì cho đất nước VN?

Ông Phó Thủ tướng đã   ký ngay bản Cam kết „không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, duy trì quan hệ hai nước và hòa bình, ổn định ở biển Đông“, „thỏa thuận những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển VN – TQ, đàm phán và tìm kiếm giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được, cùng kiểm soát bất đồng trên biển“…(„Việt Trung nhất trí kiểm soát bất đồng trên biển Đông“- theo VnExpress – 18/6/2015)!

Thật ngược đời! Bên có hành động phức tạp, bên mở rộng tranh chấp, bên gây mất hòa bình, ổn định ở biển Đông chính là TQ. VN là nạn nhân. Ký cam kết như trên là chấp nhận không phản đối, là đồng thuận việc TQ xâm lấn VN.

Sự kiện này khiến người ta cực kỳ thất vọng với ông Phạm Bình Minh – con trai của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch trước đây đã phản đối Hội nghị Thành Đô bán nước cho TQ và não nề thốt lên tiếng nói của lương tâm:“thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự…“. Hóa ra ông Phạm Bình Minh chẳng nối được chí cha. Ông đã tự tha hóa khi đứng vào bộ máy quyền lực và quyền lợi?!

Đa phần những chuyến thăm TQ dày đặc của quan chức VN chỉ để ký kết các bản cam kết có hại cho VN theo lệnh của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương mà thực chất là VN thực hiện gần như vô điều kiện mọi yêu cầu của TQ.

  • Chiếc và li và con rắn

Người ta ngờ rằng việc ông Nguyễn Phú Trọng dám nhận lời thăm Mỹ sau khi thăm TQ cũng là do đã được lệnh của nhà cầm quyền Bắc Kinh, sau khi họ Tập đã tính toán kỹ kịch bản, đường đi nước bước để và biến họ Nguyễn thành một con bài lợi hại trong cuộc tuyệt giao với Mỹ để dễ bề thôn tính VN.

Ngay trước chuyến đi Mỹ của Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị năm 2014, nhiều người cũng đã khấp khởi hy vọng rằng việc lạ này sẽ mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Mỹ – Việt, cho thấy khuynh hướng phe bảo thủ trong Đảng đã xích lại gần hơn với quyền lợi của dân VN.

Món quà ngoại giao mà ông Nghị tặng ông John McCain – người đại diện cho chính phủ Mỹ đứng ra mời ông sang thăm đã đi vào lịch sử đen tối của những món quà ngoại giao lố bịch nhất trên thế giới. Đó là ảnh chụp tấm bia dựng bên hồ Trúc Bạch sau khi ông John McCain bị bắt và giơ tay hàng với dòng chữ không thể nổi bật hơn: „Ngày 26/10/1967 tại hồ Trúc Bạch quân và dân Thủ đô Hà Nội bắt sống tên John Sney Ma Can thiếu tá không quân Mỹ…“.(lại càng thêm nổi bật vì ghi sai tên người, ghi sai binh chủng!)

Đó là một trong những món quà khả ố nhất được khách đem tặng để làm nhục chủ nhà mà theo nhận định của giới thạo tin thì đó là thành tựu ngoại giao của sự kết hợp hai Đảng cộng sản nhằm vô hiệu hóa mọi nỗ lực của phe cấp tiến VN muốn xích lại gần  hơn với Mỹ và thế giới văn minh để  thoát khỏi vòng trói của TQ.

Có vô số bình luận thể hiện bất bình về hành động trên. Hãy xem một trong những ý kiến được nhiều người cho là chuẩn xác, dù là của một blogger giấu tên để tránh sự truy bức : 11:22 Ngày 02 tháng 08 năm 2014„Nặc danh“ đã viết: „Được mời vào nhà làm khách lại có hành vi tiểu nhân, giấu dao đâm sau lưng, rồi cho đây là thắng lợi ư?

Dầu cho ĐCSVN có thần phục TQ, cũng không nên có hành động tiểu nhân như thế này, đây quả là một việc làm đầy nhục nhã, ngu muội.

Mỹ dại vì dây với ĐCSVN hay ĐCSVN trơ trẽn phơi bày bộ mặt chống Mỹ tới cùng và sẵn sàng ôm chân Tàu cộng.

Phải chăng đây là bằng chứng để ĐCSVN kể công với Tập Cận Bình.

Nói cho cùng, trước hành động này, là người Việt, mình cảm thấy rất nhục nhã“.

Để biết khuynh hướng và hiệu quả chuyến thăm Mỹ sắp tới của Nguyễn Phú Trọng, hãy xem hành trang của ông ta còn gì cho Mỹ và cho dân VN.

Dường như đó là một chiếc va li rỗng, trong đó cuộn tròn một con rắn Trung hoa?

Dường như vì quyền lợi của mình ở biển Đông, Mỹ vẫn muốn tạm thời hy sinh những đòi hỏi về nhân quyền, về thể chế chính trị với VN để trao cho VN một lệnh bỏ cấm vận vũ khí và đặc cách vào TPP – mạnh tương tự „nỏ thần“ cho VN tự vệ trước TQ?

Tốt thôi. Nước Mỹ thường khôn ngoan và chỉ đôi khi  khờ khạo. Nhưng những ông Mỹ mắt xanh quen suy bụng ta ra bụng người theo lối suy nghĩ logic của loài người, nhiều khi lại thua „trắng bụng“ trước thói quen tráo trở của cộng sản VN và TQ vốn coi danh dự chỉ là thứ để giẫm dưới gót giày.

Vậy, kinh nghiệm cho hay rằng, trước khi muốn trao vũ khí cho VN, nước Mỹ cần đọc „truyện Nỏ thần“. Cần đề phòng trường hợp „nỏ thần“ Mỹ từ tay VN sẽ quay lại bắn thẳng vào Mỹ và người bật lẫy nỏ TQ. Nếu thế thì VN và thế giới, không loại trừ Mỹ, sẽ thêm một lần „chết dưới tay TQ“.

VTH

Sống viên mãn

Sống viên mãn

Thánh giáo phụ Irênê viết: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống viên mãn”. Câu này hay quá! Ngài muốn nói rằng nên thánh thật là ý nghĩa. Nên thánh là sống viên mãn, là trở nên con người như Thiên Chúa đã tạo dựng.

Sống viên mãn không tương đương với khái niệm hiện đại về “cách sống tròn đầy nhất”. Nhiều người nói về cách sống này, họ muốn nói rằng chúng ta nên hưởng thụ càng nhiều càng tốt, càng thoải mái càng tốt. Không hẳn là sai, nhưng không đúng với cách sống mà Thánh Irênê đề cập.

Sống viên mãn nghĩa là tận hưởng sự sống kết hiệp với Thiên Chúa, kết quả của sự sống viên mãn là sống các nhân đức đối thần (tin, cậy, mến) và các nhân đức đối nhân (bác ái, công bình, can đảm, chịu đựng, nhịn nhục, cẩn thận, khiêm nhu, tha thứ, nhân hậu, tử tế, hòa đồng,…). Sống nhân đức sẽ được phần thưởng tốt lành là sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta muốn biết cuộc sống của mình có ý nghĩa gì và với mục đích gì. Trái tim chúng ta khao khát tình yêu và sự viên mãn. Chúng ta có thể thỏa mãn bằng cách sống kết hiệp với Thiên Chúa, tức là sống thánh thiện.

Các thánh là gương mẫu về việc sống viên mãn. Thiết tưởng, Thánh GH Gioan Phaolô II hoặc Chân phước Nữ tu Teresa Calcutta là những người sống viên mãn. Họ lan tỏa hoa trái của Chúa Thánh Thần. Người ta được các thánh thu hút, nói đúng ra là được Thiên Chúa thu hút qua các thánh. Họ sống viên mãn vì họ sống tình bằng hữu sâu sắc với Chúa Giêsu, Đấng là vinh quang của Thiên Chúa nơi nhục thể.

Các thánh sống viên mãn vì họ không nô lệ đam mê hoặc các cảm xúc tiêu cực, nhưng các nhân đức tươi nở trong cuộc đời họ. Sống nhân đức sẽ dẫn chúng ta tới sự bình an đích thực và hạnh phúc ngay tại thế gian này.

Sống viên mãn là sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần. Khi ơn Chúa Thánh Thần phát triển trong chúng ta, chúng ta bắt đầu xác định cính mình bằng hoa trái: luôn vui mừng, vì thế mà bình an. Đó là trở nên hoa trái của Chúa Thánh Thần. Dù vui hay buồn, sự sống viên mãn vẫn ở trong chúng ta.

Hoa trái của Chúa Thánh Thần là kết quả của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Chắc chắn rằng chúng ta càng sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần, hoa trái đó càng phát triển trong chúng ta. Tuy nhiên, hoa trái của Chúa Thánh Thần vừa là tặng phẩm vừa là sự chọn lựa. Nếu chúng ta muốn có kinh nghiệm về sự sống viên mãn, cách sống thánh thiện, chúng ta phải quyết tâm sống theo hoa trái của Chúa Thánh Thần hàng ngày. Vậy ngay từ hôm nay, chúng ta phải quyết tâm thực hiện 9 điều này:

• Yêu thương mọi người chúng ta gặp.

Sống vui trong lúc khó khăn.

• An tâm khi gặp nghịch cảnh.

• Kiên tâm khi gặp thử thách.

• Tử tế với người không tử tế.

• Dịu dàng khi có điều trái ý.

• Luôn luôn sống đại lượng.

• Trung thành với điều nguyện ước và ơn gọi.

• Kiềm chế khi bị cám dỗ.

Chúng ta bất toàn, nhưng nếu chúng ta càng hợp tác với ơn Chúa, chúng ta càng thêm nhân đức: “Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1:23), và “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4:10).

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ SpiritualDirection.com)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-23

  • RFA
  • 06232015-vn-new-wve-refuge-part3.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

File photo

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Trong phần một và hai thông tín viên Anh Vũ tại Bangkok và Tường An từ Paris đã đến với các bạn câu chuyện nơi dừng chân Thái Lan và những người tị nạn tại châu Âu và Úc. Trong phần cuối này là câu chuyện tại Bắc Mỹ của Kính Hòa từ Washington.

Triệt đường sống

Năm 2008 xảy ra vụ án Thái Hà, trong đó có việc tranh chấp tài sản đất đai giữa giáo hội công giáo và chính quyền Việt nam. Luật sư Lê Trần Luật là người đại diện cho Giáo hội công giáo. Sau phiên tòa, cơ quan an ninh đã gặp ông Luật và khuyên ông không nên theo đuổi những vụ án chính trị. Sau đó ông Luật bị cho là đã lợi dụng phiên tòa để tuyên truyền chống phá nhà nước.

Người ta đã tước bằng luật sư của ông Luật, và ông thường xuyên bị cơ quan công an mời làm việc. Theo ông nhớ lại thì trong khoảng thời gian 7 năm ông phải gặp cơ quan an ninh đến hơn 300 lần. Khi bị buộc phải chấm dứt hành nghề luật sư và cũng không tìm được việc làm nào khác, ông Luật lâm vào tình trạng rất khốn khó.

Khi biết được tình trạng này, cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị rằng ông có thể xin đi tị nạn chính trị. Đứng trước tương lai không sáng sửa của gia đình và bản thân ông Luật chấp nhận xin đi cứ trú chính trị tại Mỹ.

Năm 2007 blogger Uyên Vũ và những người đồng chí hướng sáng lập câu lạc bộ nhà báo tự do với mong muốn cổ võ cho tự do ngôn luận. Lặp tức ông và những người khác rơi vào tầm ngắm của cơ quan an ninh. Cuộc sống của hai vợ chồng blogger Uyên Vũ cũng bắt đầu rơi vào tình trạng như luật sư Lê Trần Luật. Ông Vũ kể lại:

Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an.”

Ông Uyên Vũ không còn con đường nào khác là quyết định xin đi tị nạn chính trị. Sau nhiều khó khăn ngăn trở từ phía nhà nước Việt nam ông đến Hoa Kỳ vào năm 2014 và hiện sống tại San Diego, California.

” Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an

blogger Uyên Vũ”

Chuyện ra đi của ông Luật cũng không được dễ dàng. Cơ quan an ninh tìm nhiều biện pháp để xóa bỏ một hình ảnh tù chính trị và họ thường xuyên tuyên bố rằng ở Việt nam không có đàn áp chính trị. Ông Luật kể lại:

Họ nói là nếu mà tôi muốn đi Mỹ thì họ sẽ tạo điều kiện cho tôi đi, bằng cách là họ cấp hộ chiếu và để tôi lên sân bay thoãi mái, với điều kiện là tôi muốn đi Mỹ chứ không phải tôi bị đàn áp về mặt chính trị.”

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Ông Luật từ chối điều này. Cuối cùng thì cơ quan an ninh Việt nam cũng cấp hộ chiếu và để gia đình ông lên đường sang Mỹ với lời nhắn gửi là đừng hoạt động gì ảnh hưởng tới hình ảnh của nhà nước Việt nam nếu muốn trở lại Việt nam sau này.

Để đối phó với những người mang quan điểm chính trị khác biệt, nhà cầm quyền Việt nam đã huy động một bộ máy an ninh khổng lồ. Ông Luật kể lại câu chuyện cơ quan an ninh điều tra nhân thân ông:

“Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình. Họ có thể bỏ ra hàng giờ hàng ngày để tiếp cận với bạn bè cũ, hồi học tiểu học, trung học của mình để tìm hiểu về cá tính, sở thích của mình.”

Ông Luật hiện sống tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon.

Vượt biên

Có những người tị nạn chính trị khác không thể lên máy bay từ Việt nam, họ phải chọn con đường vượt biên trái phép sang Campuchia, rồi Thái Lan, rồi từ đây họ được chấp nhận qui chế tị nạn để sang Bắc Mỹ.

” Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình

Luật sư Lê Trần Luật”

Anh Đặng Chí Hùng hiện sống tại Toronto, Canada là một trong số những người như vậy. Anh Hùng sinh ra trong một gia đình cả cha mẹ đều là đảng viên cộng sản. Tuy vậy anh có một nguyên nhân khá lý thú đã thúc đẩy anh trở thành một nhân vật bất đồng chính kiến với chế độ cộng sản. Điều này nằm ngay trong những thông tin tuyên truyền về sự vĩ đại của ông Hồ Chí Minh, và sự phủ nhận nền âm nhạc của miền Nam Việt nam trước năm 1975. Anh Hùng đặt ra câu hỏi là tại sao một nhân vật như vậy lại được hết lời ca ngợi, và một nền âm nhạc như vậy lại bị chế độ hắt hủi.

Nhưng sự kiện quan trọng làm cho anh Hùng có một quyết định chính trị chống lại chủ nghĩa cộng sản là những cuộc biểu tình chống Trung quốc xâm lược bị đàn áp. Anh kể lại:

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

Khi Mỹ chuẩn bị đánh Iraq thì cộng sản Việt nam bắt bọn tôi phải xuống đường đi biểu tình chống Mỹ, nếu không đi biểu tình chống Mỹ thì sẽ trừ hạnh kiểm. Thật là kỳ lạ là tại sao Iraq thì lại biểu tình, còn người dân Việt nam mình bị Tàu giết thì không được đi biểu tình.”

Một người tù chính trị trẻ tuổi khác là anh Trương Quốc Huy. Anh Huy bị bắt giam sáu năm vì những bài viết bày tỏ chính kiến chính trị, cũng như tố cáo sự nhũng lạm của các quan chức địa phương. Anh kể lại hoàn cảnh của mình sau khi ra tù vào năm 2011:

Tôi ra khỏi tù thì họ không cấp giấy chứng minh nhân dân cho tôi, luôn kềm kẹp phía trước nhà tôi. Tôi không đi làm được vì không có giấy tờ, họ kéo dài cái tình trạng đó rất lâu. Mà khi ra tù thì tôi cũng cần phải sinh sống.”

Anh Trương Quốc Huy, cũng như anh Đặng Chí Hùng đã chọn con đường đào thoát sang Thái Lan. Ở đây họ bị chính quyền Thái bắt giam theo yêu cầu từ phía Việt nam. Ngoài ra Hà nội cũng yêu cầu Thái Lan trục xuất họ về Việt nam. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của các tổ chức nhân quyền cũng như là Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Thái lan đã phải cân nhắc và cuối cùng trả tự do cho họ để lên đường đi tị nạn chính trị.

Cuộc sống và quê hương

Cuộc sống của những người tị nạn chính trị mới tại Bắc Mỹ được nhìn nhận với những góc độ vui buồn khác nhau. Anh Trương Quốc Huy, ông Uyên Vũ thấy rằng mình hòa hợp với cuộc sống mới khá dễ dàng. Một người tị nạn chính trị trẻ tuổi là anh Nguyễn Xuân Thủy, đến Mỹ tháng 6/2015 cũng bằng con đường vượt biên sang Thái Lan kể với chúng tôi ấn tượng của anh về cuộc sống mới từ Houston:

Nó làm cho mình có cảm giác rằng tự do và khoáng đạt. Con người mình không bị để ý bị xoi mói nhiều, không bị đàn áp, tất nhiên là không bị công an đến nhà (cười.) Cảm thấy rất thoãi mái ở bên này.”

” Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết

Anh Trương Quốc Huy”

Luật sư Lê Trần Luật hiện đang làm việc tại một nhà máy ở Portland nói rằng:

Anh cứ tưởng tượng khi một người tị nạn đến Hoa kỳ hay bất cứ một đất nước nào, thì họ giống như người mới sinh ra, tức là công việc làm thì không có, xe cộ thì không biết đi, đường sá cũng không biết, ngôn ngữ không nói được, cũng không nghe được.”

Tuy nhiên cái nhìn của họ về quê hương đã bỏ lại sau lưng khá giống nhau. Ông Uyên Vũ nói rằng không biết bao giờ ông mới trở về Việt nam trong căn cước của một người tị nạn chính trị, nhưng khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ ở Việt nam làm ông cứ mang hình ảnh Việt nam trong tâm khảm ngay trong cuộc sống hiện nay tại miền Nam California.

Anh Trương Quốc Huy rất xúc động khi được hỏi về Việt nam:

Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết.”

Họ đều mong muốn sẽ quay về.

Anh Nguyễn Xuân Thủy, hiện đang chuẩn bị học đại học tại Texas nói:

Mình không thể quay mặt đi được, mình không thể làm ngơ được, cái đó là cái nghĩa vụ, cái trách nhiệm tôi nghĩ là của tôi. Tôi chắc chắn là sẽ quay về, được như thế nào thì tùy ở sức lực của mình.”

Anh Đặng Chí Hùng thì nói là anh không phải là một nhà hoạt động chính trị, anh sẽ tìm kiếm một nghề để kiếm sống, nhưng hoạt động nhằm thay đổi Việt nam là một hoạt động đương nhiên mà mọi người như anh phải làm.

Còn cựu luật sư Lê Trần Luật nói khi kết thúc cuộc trao đổi với chúng tôi rằng ông mong về Việt nam càng sớm càng tốt. Ông mong rằng Việt nam phải đổi thay để có thể đón tất cả những người tị nạn chính trị trở về với đất mẹ.

Bạn là ai trong 3 kiểu người này?

Bạn là ai trong 3 kiểu người này?

Về thái độ với cuộc sống, có ba kiểu người:

1. Luôn có cái nhìn u ám, bi quan, tiêu cực, nhìn đâu cũng thấy điểm xấu của người khác và tìm cách dè bỉu, chê bôi.

2. Biết ơn một số: biết ơn người sinh ra mình, người dạy dỗ mình, và người giúp đỡ mình.

3. Biết ơn tất cả mọi thứ.

Kiểu thứ hai là những người bình thường, chiếm khá nhiều trong cuộc sống. Họ có đủ niềm vui, nỗi buồn, đau khổ, hạnh phúc, nghèo đói, giàu có…

Kiểu người thứ nhất, cuộc sống của họ luôn chìm ngập trong đau khổ, bởi vì mọi thứ họ nhìn thấy đều gắn liền với đau khổ. Trong mắt họ, không có ai đáng yêu, không có điều gì đáng quý, bởi vì dìm người khác xuống là cách duy nhất đưa họ vươn lên (tiếc là họ lại càng xuống sâu hơn). Kiểu người này, đáng buồn, cũng chiếm không ít trong cuộc sống.

Kiểu thứ ba, dù chỉ chiếm số ít trong cuộc sống, là những người đáng quý nhất. Họ biết ơn tất cả mọi thứ diễn ra trong đời, vì vậy cuộc sống của họ luôn tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, và giàu có.

Họ biết ơn ngay cả những ngày ốm yếu, bệnh tật, vì nhờ đó mà họ thấy quý hơn sức khỏe bản thân, và từ đó không ngừng rèn luyện thân thể, xây dựng cho mình nếp sống lành mạnh.

Họ biết ơn ngay cả những cộng sự đã khiến họ phải bán nhà bán xe trả nợ, bởi vì nhờ đó mà họ biết thận trọng hơn khi xây dựng quan hệ đối tác, hiểu rõ hơn khái niệm đồng tiền là máu của doanh nghiệp, và trân trọng hơn bất kỳ cơ hội nào mà người khác mang đến cho mình để phát triển kinh doanh.
Họ biết ơn ngay cả những lời chỉ trích cay nghiệt của đồng nghiệp, của đối thủ, của những người xung quanh, bởi vì qua đó họ hoàn thiện được bản thân nhanh hơn.

Họ biết ơn ngay cả những sai lầm ngu ngốc của bản thân, bởi vì họ học hỏi được nhiều điều từ đó và biết cách độ lượng hơn với sai lầm của người khác.

Họ biết ơn ngay cả những bất hạnh xảy ra với bản thân, bởi vì nhờ đó họ biết rằng đừng bao giờ nên trông chờ ở may mắn, cuộc sống của mình phải do chính bàn tay mình tạo dựng nên.

Họ biết ơn ngay cả cái chết, bởi vì nhờ cái chết mà họ trân trọng hơn mỗi ngày đang sống, mang đến nhiều giá trị hơn cho mọi người xung quanh và thanh thản hơn với mỗi quyết định của mình.

Họ hiểu rằng, chính sự có mặt của họ trên đời này đã là một ĐIỀU KỲ DIỆU mà cuộc sống mang đến cho họ rồi.

SƯU TẦM

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-06-20

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg7508717-600.jpg

Một sạp báo vỉa hè Hà Nội chụp hôm 26/6/2012

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Chiếc dù mang tên “nhạy cảm”

Ngày Báo chí Việt Nam năm nay được cho là kỷ niệm 90 năm khi tờ báo của chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản tại Quảng Châu vào năm 1925. Giới làm báo Việt Nam nói gì về ngày này khi mà quyền phát biểu trung thực của họ đã bị khống chế từ nhiều chục năm qua dưới chiếc dù mang tên “nhạy cảm”?

Báo chí Việt Nam cũng tương tự với các nước thuộc khối Cộng sản trước khi sụp đổ, được định hướng theo chính sách nhất định của nhà nước và bất cứ tờ báo nào cũng phải tuân theo quy luật này nếu muốn tồn tại. Những định hướng do Ban Tuyên giáo trung ương chỉ đạo xuống địa phương đã làm nhiều tờ báo không thể viết lên sự thật đang xảy ra tại địa phương tờ báo cũng như các trăn trở của xã hội về các diễn biến tiêu cực trong chính quyền đi ngược lại với quyền lợi hay nguyện vọng người dân.

” Ngay trong lý lun dy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương ch đo, v mt ni dung chương trình đào to thì điu tôi trăn tr nht là tính trung thc ca nhà báo.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ báo bị định hướng như con ngựa thồ mang hai miếng che mắt chỉ chạy hay dừng theo giây cương của mã phu và do đó sự trung thực của tờ báo bị triệt tiêu tới mức thấp nhất. Mặc dù ngay khi ngồi tại một ngôi trường báo chí, sinh viên được dạy rằng thiên chức cao nhất của một nhà báo là sự trung thực nhưng khi trình diện để nhận việc tại bất cứ tòa soạn của một tờ báo nào thì người sinh viên ấy hiểu ra rằng sự trung thực là con dao vô hình sẵn sàng kết liễu nghề nghiệp của người làm báo tại Việt Nam.

Đại tá Bùi Văn Bồng, nhà báo quân đội, nguyên trưởng đại diện báo QDND khu vực đồng bằng sông Cửu Long cho biết những nhận định của ông về lý luận và thực tiển của việc trung thực trong báo chí, ông nói:

“Ngay trong lý luận dạy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, về mặt nội dung chương trình đào tạo thì điều tôi trăn trở nhất là tính trung thực của nhà báo. Nhưng khi đào tạo ra xong rồi và trực tiếp làm việc tại các tòa soạn báo và vào biên chế rồi thì người ta lại bị trói buộc. Bởi người ta muốn tính trung thực như trong lý luận báo chí mà nhà nước đã dạy thì không thực hiện được trọn vẹn hay là có tự do để mà thực hiện.

Những chủ trương đường lối, những chỉ đạo của đảng buộc người ta phải né bớt sự trung thực. Vấn đề đặt ra là tính trung thực, tính kịp thời và thời sự của báo chí… tất cả những cái đó đều phải chịu sự bảo đảm một cách chắc chắn: đó là bài báo muốn được đăng thì người ta phải coi trọng cái “tính đảng”.”

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

“Tính đảng” là một khái niệm buộc mọi hoạt động của người sinh hoạt tư tưởng phải tuân theo một cách nghiêm khắc. Đảng ở đây được hiểu là sự chỉ đạo tùy thời điểm và tùy vào vai trò lãnh đạo của mỗi cá nhân. Tính đảng biến thiên nhưng không vượt ra cái khung o ép mọi bài viết, hình ảnh, quan điểm đi ngược lại lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của người dân, kể cả lợi ích của thông tin trung thực.

“Tính đảng này nó không rõ ràng. Tính đảng đúng ra về quan điểm đường lối các mặt hay về thực hiện theo các nghị quyết đảng thì người ta vẫn luôn luôn bảo đảm được. Nhưng tính đảng buộc người ta phải viết mà uốn ngòi bút hoặc là bài báo phải vo tròn nắn vuông để nó phù hợp với sự chỉ đạo của đảng, nhất là đảng bộ đảng ủy trực tiếp quản lý tờ báo đó và sau đó là chỉ đạo chung của Ban tuyên giáo Trung ương để bảo đảm được thì rất là khó! Cái tính đảng nó cứ trùm lên hết mà khi nó đã trùm lên rồi thì các tính khác như tính chân thật, tính thời sự, tính nhân dân rồi tính dân chủ và các thứ nó bị nhạt đi hết. Nếu anh không theo tính đảng thì bài báo không được đăng mà thậm chí nhà báo còn bị phê bình hay mất biên chế không được làm trong tòa soạn nữa mà phải làm nghề khác.”

Khái niệm “nhạy cảm”

Cơ quan báo chí được hiểu là hoàn toàn được sở hữu bởi nhà nước do bài vở của họ chỉ viết theo một chiều duy nhất. Tuy nhiên không phải tờ báo nào cũng chấp nhận sự bao cấp này, tại thành phố Hồ Chí Minh hai tờ báo tiên khởi thoát ra sự khống chế ấy là Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo này được xem là mạnh nhất nước khi con số ấn bản hàng ngày của nó có khi lên tới gần nủa triệu tờ. Nhà báo Nguyễn Công Khế, 23 năm làm Tổng biên tập cho tờ Thanh Niên chia sẻ:

“Phải nói rằng nghề báo ở Việt Nam gian nan nhất. Nếu như tôi để mà tồn tại được cỡ 23 năm trong vai trò Tổng biên tập thì rất gian nan. Phía chính quyền phía những người có quyền kể cả giới quản lý báo chí họ chưa đánh giá hết tác dụng tốt, nhiều mặt của báo chí. Thực ra với tâm huyết và nhiệt huyết phải nói người làm báo Việt Nam tôi nghĩ không thua bất cứ ở đâu. Ở các nước khác nếu khó khăn 1 thì người làm báo Việt Nam khó khăn 10. Điều kiện, tập quán, thể chế đều khó khăn.

” Tính đng buc người ta phi viết mà un ngòi bút hoc là bài báo phi vo tròn nn vuông đ nó phù hp vi s ch đo ca đng, nht là đng b đng y trc tiếp qun lý t báo đó và sau đó là ch đo chung ca Ban tuyên giáo Trung ương.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ Thanh Niên của tôi và tờ Tuổi Trẻ là hai tờ sống được bằng cái đồng tiền của chính mình từ lúc tôi xây dựng cho tới giờ này cũng như tờ Tuổi Trẻ lên trên nửa triệu bản trogn điều khó như Việt Nam mà tụi tôi làm được thì phải nói là một kỳ công. Người đọc họ đánh giá đúng và lịch sử báo chí đánh gái đúng. Phải nói thẳng về cái đối xử, vì báo nhà nước, báo đoàn thể mà, thì cách đối xử của Tổng biên tập nhiều khi bất công. Tôi nói thật, những người trong báo chính thống như vậy thì tôi nghĩ cách xử sự đối với cá nhân những người làm báo nó cũng bất công lắm.”

Tin tức là thực phẩm chính nuôi sống một tờ báo nhưng bị bóp nghẹt qua cụm từ “nhạy cảm” khiến hai chữ “báo chí” không phù hợp với định nghĩa phổ quát của thế giới. Có tờ báo liều lĩnh đăng tải tin tức về Biển Đông có lợi cho người muốn đọc tin nhưng xét thấy có hại cho chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc nên bị ra lệnh gỡ bỏ khỏi bản tin là điều xảy ra thường xuyên trên mọi tờ báo lớn nhỏ của Việt Nam.

Tránh viết tin vì lo nhạy cảm khiến thông tin bị nhiễu qua các tầng số chồng chéo lên nhau khiến người đọc trong nước tìm tới internet và từ đó phát sinh các chuyển biến có tính tự phát khiến nhà nước không thể tìm ra một đối sách toàn vẹn để vừa bao biện nguồn tin vừa tránh cho dân chúng không bị lạc vào những vùng tin tức sai lệch do bóp méo dù vô tình hay hữu ý. Nhà báo Võ Văn Tạo kể lại kinh nghiệm của ông về vấn đề này:

“Cái khái niệm nhạy cảm khi mà tôi chưa làm báo thì tôi đã biết cái khái niệm đó rồi mặc dù không biết từ đâu đưa ra nhưng đã có chữ “nhạy cảm”. Cái đó có lúc thì có văn bản chỉ đạo, có lúc anh em phóng viên cũng như các tòa soạn tự ràng buộc mình với chữ “nhạy cảm” đó cho nên an hem trong giới chúng tôi hay gọi đùa với nhau là “tự thiến”. Tự nhiên cứ nghĩ, à cái việc này nó có đụng chạm gì đây không hài lòng khi bị đề cập tới, trong tòa soạn hay phóng viên cũng lại hay dùng từ “nhạy cảm” với nhau có nghĩa là “né” đi không đụng chạm tới.

Hồi chiến tranh thực ra khi tôi đã trưởng thành bắt đầu đi bộ đội rồi từ hồi đó không đặt ra. Báo chí hồi đó theo tôi biết ở ngoài bắc chỉ có tuyên truyền thôi chảng có vần đề gì khác cả. Tuyệt nhiên không có một ý kiến nào, một bài viết nào phản biện với chủ trương đường lối cả. Trong chiến tranh là như thế.”

Người đọc quay lưng với báo chí chính thống để đọc báo từ các trang lề trái trên mạng phần nào nói lên hiện trạng báo chí Việt Nam trong bối cảnh bị che chắn mọi phía, đã khiến báo chí ngày một lún sâu hơn vào vũng lầy độc quyền mà không một nước văn minh nào trên thế giới chấp nhận cho nền báo chí của nước họ.

Nhiều phóng viên kỳ cựu Việt Nam cho rằng Ngày Nhà Báo Việt Nam mỗi năm ăn mừng một lần trong suốt 90 năm qua nhưng chưa khi nào các nhà báo có cơ hội ngồi lại với nhau để cùng yêu cầu một việc đơn giản và quan trọng nhất: Được phép viết sự thật, và vì vậy Việt Nam vẫn chưa có một nền báo chí đúng nghĩa.

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-22

06222015-budget-transparency-people.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi

Minh bạch ngân sách là một trong những biện pháp điều hành công cần phải có. Tuy nhiên tại Việt Nam điều này lâu nay vẫn chưa được thực hiện.

Vừa qua trước phiên họp thứ 9, quốc hội khóa 13 diễn ra, một chiến dịch góp phần thúc đẩy minh bạch ngân sách Nhà nước tại Việt Nam có tên ‘Tớ đố cậu biết ( Todocabi)’ được tiến hành. Mục tiêu của nhóm là kêu gọi các bạn trẻ trong nước quan tâm ký tên vào một bản kiến nghị để gửi đến quốc hội.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh là một trong những chuyên gia kinh tế được nhóm điều phối chiến dịch mời tư vấn. Vào ngày 15 tháng 6 vừa qua, ông dành cho biên tập viên Gia Minh cuộc nói chuyện liên quan chiến dịch Todocabi hướng đến việc thúc đẩy cộng đồng quan tâm và cùng lên tiếng về quyền lợi của bản thân trong việc minh bạch ngân sách Nhà nước.

Trước hết tiến sĩ Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định về chiến dịch Todocabi.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam.

Tôi thấy đó là một việc rất có ích. Tôi đánh giá cao và tôi cũng đã gặp gỡ các bạn đó và giúp đỡ cho họ. Tôi nghĩ rằng quyền của người dân biết được mức thu ngân sách thế nào và chi ngân sách vào việc gì, và những tiêu chuẩn về công khai minh bạch trên thế giới như thế nào là những điều rất quan trọng. Bởi vì những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam.

” Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Gia Minh: Qua tiếp xúc và tiến sĩ nói có giúp đỡ cho họ thì tiến sĩ thấy sự hiểu biết của họ đến đâu và sự giúp đỡ của tiến sĩ cho họ thế nào rồi?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi gặp các bạn ấy cách đây độ hai tháng, lúc ấy các bạn mới bắt đầu và các bạn đó có được một số số liệu ban đầu và đưa lên. Tôi thấy các bạn đó có nhiệt tình rất lớn và tôi nghĩ đó là điều rất hoan nghênh và các bạn ấy có thể tìm hiểu thêm, tôi hy vọng các bạn ấy có điều kiện để có thể học thêm để biết thực trạng thu chi ngân sách của chúng ta hiện nay như thế nào.

Gia Minh: Theo đánh giá của tiến sĩ thì thực trạng đó ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về mức thu thế trên tổng GDP thì Việt Nam là nước thu nhập trung bình thuộc nhóm thấp nhất nhưng thu ngân sách của Việt Nam hiện nay đã lên đến khoảng 23% GDP. Như vậy cao hơn mức bình quân của các nước trong nhóm. Bình quân của các nước trong nhóm chỉ độ 18% thôi. Ngay cả Trung Quốc hiện nay họ cũng thu thấp hơn Việt Nam. Họ thu khoảng 17-18% ngân sách thôi mặc dù GDP cũa họ cao hơn Việt Nam rất nhiều;  hiện nay GDP của họ vào khoảng 6.800 đô la một đầu người nếu như tôi nhớ không nhầm.

Và có một số ví dụ để chúng ta có thể so sánh: ví dụ thuế thu nhập cá nhân ở Hong Kong là 9%, thuế thu nhập cá nhân ở Singapore là 0%; nhưng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam lũy tiến có thể lên đến 38%. Đấy là một mức thuế khá cao. Ngoài ra những mức thuế khác cũng là mức thuế cao.

Todocabi trên Facebook

Todocabi trên Facebook

” Những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Tuy vậy tình trạng thất thu và lạm thu đang còn khá phổ biến. Tình trạng thất thu và lạm thu có thể thể hiện qua con số này: tức là hộ gia đình của Việt Nam đóng góp 33,2% vào GDP nhưng tỷ lệ nộp thuế của khu vực này chỉ là 2% của tổng thu ngân sách. Như vậy có khoảng cách rất lớn. Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần. Người bị thiệt hại nhiều nhất là ngân sách Nhà nước. Đó là một số điều sơ sơ có thể nêu lên được.

Còn việc chi ngân sách thì tình trạng là thiếu minh bạch và còn nhiều lãng phí cả chi thường xuyên cho đến chi đầu tư. Và mức độ công khai minh bạch của quá trình soạn thảo ngân sách, việc công bố dự toán ngân sách, cũng như việc công bố quyết toán ngân sách và có những bước điều chỉnh là rất thấp.

” Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần

TS Lê Đăng Doanh”

Ví dụ như hiện nay chi thường xuyên lên đến 71% tổng số chi là một mức chi quá cao về chi thường xuyên nuôi bộ máy của Nhà nước. Đó là điều cần có điều chỉnh sớm. Tình hình thu chi ngân sách của Việt Nam hiện nay đang có cá tín hiệu khá khẩn trương. Bởi vì như năm nay, mức phải nộp nợ công, trả nợ công là 31% của chi ngân sách. Như vậy tức 71% chi thường xuyên + 31% trả nợ công, thì ngân sách đã thâm hụt 0,2%.

Toàn bộ số tiền đầu tư phải nhờ vào trái phiếu chính phủ và vay mượn. Đó là tình trạng khá khẩn trương, và tôi nghĩ Quốc hội cần phải có biện pháp để điều chỉnh tình trạng này.

Gia Minh: Trong cuộc họp quốc hội sắp kết thúc thì vấn đề có được nêu ra không và có đề cập đến những giải pháp gì không?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về thảo luận thì các đại biểu có chất vấn và có nêu lên rất nhiều vấn đề. Còn về việc kết luận và hành động thì cho đến nay tôi chưa được thấy. Tôi mong rằng đến khi kết thúc thì quốc hội sẽ có những nghị quyết về vấn đề quan trọng và cũng là rất cấp bách này.

Gia Minh: Nói một cách nôm na thì đây cũng như chuyện thu chi trong một gia đình, theo tiến sĩ cách để giải quyết tình trạng này thì ngoài việc như những nhóm người trẻ đòi hỏi quyền được biết; nhưng biết rồi thì cần phải có biện pháp ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi nghĩ rằng điều này sẽ giúp ích cho người trẻ là có quan tâm hơn, có trách nhiệm hơn đối với tình hình chung của đất nước. Và nó sẽ góp phần làm cho tình trạng công khai minh bạch của thu chi ngân sách của Việt Nam sẽ được cải thiện. Bởi vì nếu như người trẻ đã lên tiếng thì tôi chắc sẽ có nhiều tầng lớp khác của nhân dân cũng sẽ quan tâm.

Gia Minh: Cám ơn tiến sĩ dành cho những thông tin vừa rồi.

NIỀM VUI TUỔI CAO NIÊN

NIỀM VUI TUỔI CAO NIÊN

​(Ai đang ở tuổi cao niên, người ta còn gọi là Tuổi Vàng, hãy nên đọc kỹ bài viết​

​ này, vì nó nói lên những thực trạng cao quí nhất của tuổi cao niên,​

​ mà nhiều người​ ​ không hề để ý đến thực​ ​ trạng cao quí này của Thượng Đế ban cho con người, trước khi nhắm mắt vĩnh viễn, buông xuôi hai tay để trở về với cát bụi)​

​.​
Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống.  Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la.
Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì.
Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi.  Nếu đã nghỉ hưu, thì học  thêm làm chi.  Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng  các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình.  Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy  Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn.  Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi.

Đời sống tình cảm  của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng.  Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện giấu giếm mà nhà tan cửa nát.  Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật.  Hồi hộp, đau tim.  Các bà  khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc  làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó.  An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

Cũng có một số ít  những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều  trở thành khó tính.  Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng  như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình.  Vì còn sống bao lâu  nữa mà lo lắng chi cho nhiều.  Xa được ông chồng khó tính, độc tài là  mừng.  Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng.  Khỏe trí.

Tuổi già, cố giữ  cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có  lý.  Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc  cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu  ngày nữa.

Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an  ủi nhau trong tuổi xế chiều.  Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt  gánh nửa đường.  Chồng chết, vợ chết, ly dị.  Vấn đề là không sao tìm  được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia sẻ như người phối ngẫu cũ.

Tình già cũng nhẹ  nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung.   Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.  Nhiều  người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh  bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc.  Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác.  Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu  khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào.

Tuổi già biết giá  trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng,  và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già  rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần giấu diếm, không cần sụt đi năm  bảy tuổi làm chi.  Sướng lắm.  Vì có sụt tuổi, cũng không giấu được  những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì.  Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ  quá, và họ mơ ước được như mình.

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình.  Con  người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai  mà không có khi thiếu sáng suốt.  Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn  giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm.  Bởi vậy, các  ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau.  Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ  là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.

Đàn bà có chồng  hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu  nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung.  Biết kềm chế hơn,  và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.

Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau.  Không còn thấy khó chịu nhiều nữa.  Dễ dung thứ  cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người  bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác.

Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn.   Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối.  Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân.  Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.

Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường.  Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác.

Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn.  Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận.  Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh.  Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê.  Chê thì chê, khen thì khen.  Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc.  Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện.  Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.

Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ.  Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa.  Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình.  Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được.  Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều.  Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa.  Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận.  Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên,thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người.  Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn.  Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước.
Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí.  Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi.  Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn.

Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao.  Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc giục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa.  Thế thì sao mà không sung sướng?

Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén.  Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ.  Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá
nhiều.  Vả lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả.

Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm.  Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe.  Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu.  Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn.  Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ  không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm.  Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn.  Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm.  Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn.  Người trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết.  Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì.  Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi.

Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết.  Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva  xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”.  Đó là câu nguyền rũa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn.  Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ.  Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm.  Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng.  Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể.  Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa.  Có sinh thì có diệt.  Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi.  Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó …
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về.  Ai không phải chết mà sợ.  Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm.  Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi.Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai.

Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc.  Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước.  Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão.  Chết là về.  Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường.  Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ.  Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.

Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” (Kevokian — THD) phải không? Cái tên gần gần như vậy.  Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội.  Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó.  Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có.  Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết.  Trừng phạt người ta hay sao?

Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa.  Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ.  Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn.  Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được.  Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…

Bài trên viet-studies

Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San gởi

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Song Chi.

+Nhân ngày Báo chí “cách mạng” VN 21.6.

Đặc điểm của báo chí trong một chế độ độc tài: không đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên mà phải đặt quyền lợi của chế độ đang cai trị đất nước trên tất cả, “ông chủ” của những nền báo chí ấy không phải là nhân dân, bởi vì nó không phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân, nhất là những con người bé nhỏ không thể cất tiếng nói trong xã hội như tầng lớp lao động, những người nghèo, bất hạnh, phận con sâu cái kiến… mà phục vụ trước hết là giai cấp cầm quyền, sau đó là những kẻ có tiền.
Báo chí ở VN dưới chế độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm quyền suốt bảy thập kỷ qua, là một nền báo chí như vậy. Nó phải phục vụ cho sự tồn tại của chế độ, của đảng cộng sản, chịu sự kiểm duyệt, cầm tay chỉ việc của Ban Văn hóa Tư tưởng, Ban Tuyên giáo Trung ương.…
Ngay cả bây giờ, ở thời điểm năm 2015, so sánh với báo chí của chế độ VNCH đã bị “bức tử” từ 40 năm trước, báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN vẫn thua xa hàng dặm về mức độ tự do, dân chủ.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, báo chí “cách mạng” VN nhìn chung đã thừa hưởng, tiếp thu được nhiều tố chất của nền báo chí ở miền Nam, nếu so với báo chí ở miền Bắc trước năm 1975 không chỉ sặc mùi tuyên truyền đậm đặc mà còn khô cứng, nghèo nàn, đơn điệu, quê mùa từ phần trình bày, kỹ thuật in ấn, phông chữ, cung cách đưa tin, viết bài. Báo chí sau 1975 hiện đại hơn từ kỹ thuật, cho đến cung cách làm báo. Sau khi ‘đổi mới” và đời sống kinh tế có khá lên thì báo chi càng “khởi sắc” hơn với đủ loại báo ngày, tập san, nguyệt san, tạp chí, báo ảnh… đẹp đẽ bắt mắt về hình thức, và “tự do” hơn trong việc khai thác những khía cạnh đời thường của các nghệ sĩ, những người nổi tiếng, những khía cạnh vật chất của cuộc sống-một điều hoàn toàn không hề có so với báo chí miền Bắc trước năm 1975.
Nhưng sự thay đổi bề ngoài ấy không hề thay đổi cái bản chất, cái mục đích chính của báo chí trong chế độ cộng sản. Đó là phải tuyên truyền, bảo vệ chế độ, có tính định hướng rõ ràng, phải là “vũ khí” của đảng.
Chỉ có điều, báo chí bây giờ lại có thêm một khía cạnh tệ hại thứ hai là xu hướng “lá cải hóa” tràn lan, nhất là những tờ báo mạng, tập san, tạp chí, báo ảnh, phụ trương…Hoặc khai thác tỉ mỉ những yếu tố giật gân trong những vụ án cướp giết hiếp xảy ra hàng ngày trong xã hội và cả trên thế giới, hoặc chạy theo khai thác đời tư những người nổi tiếng, giới showbiz…
Hãy thử lướt qua hàng chục, hàng trăm tờ báo mạng, hoặc cầm trên tay hàng chục những tờ phụ trương, tạp chí bắt mắt bày đầy trên các sạp báo, chúng ta sẽ thực sự lo ngại, thậm chí rùng mình vì kinh hãi. Vì sao người ta có thể vô lương tâm, vô trách nhiệm đến thế khi cho ra đời những bài báo, tờ báo như vậy, và mức độ ‘lá cải’ này chỉ có tăng lên trong những năm qua chứ không hề có dấu hiệu giảm sút, mặc cho dư luận nhiều lần lên tiếng bất bình, phẫn nộ, mặc cho nhiều cuộc hội thảo của người trong nghề về tình trạng này.

Là một người cũng từng nhiều năm làm báo trong môi trường VN trước khi rời nước ra đi và bây giờ vẫn tiếp tục viết lách với tư cách một người viết tự do, tôi không lạ gì bầu không khí làm báo ở VN, những giới hạn “đèn vàng” mà người làm báo không thể vượt qua, sức ép đối với những người làm báo chân chính khi muốn viết lên sự thật, và một sức ép khác là phải bảo đảm yêu cầu có người đọc.
Trừ những tờ báo đảng như Nhân Dân, Quân đội nhân dân…báo chí VN nói chung cũng phải tự cân đối, tự thu tự chi bằng nguồn bán báo và nguồn thu từ quảng cáo, nhất là những tờ báo online chỉ sống hoàn toàn bằng quảng cáo, nên phải tính đến yếu tố “câu khách”. Từ sự thúc bách phải có người đọc, nhiều tờ báo đã chạy theo khai thác tối đa những đề tài giật gân như vừa nói trên.
Các nước tự do dân chủ cũng có báo “lá cải”, kể cả báo khiêu dâm. Nhưng ở các nước ấy có những quy định rất chặt chẽ về đạo đức nghề báo, có luật pháp rõ ràng, và nếu nhà báo vượt quá giới hạn hoặc viết ẩu, viết bậy thì cá nhân hoặc tập đoàn nào là “nạn nhân” sẽ kiện ra tòa và không chỉ phóng viên mà cả ban biên tập, chủ bút, cả tờ báo đó cũng bị phạt một cách xứng đáng. Còn ở VN, nếu một cá nhân hay một công ty nào bị một phóng viên vì lý do nào đó viết ẩu, viết sai, thậm chí vu khống, bôi nhọ, lắm khi cũng chẳng muốn kiện vì có kiện cũng chưa chắc đã được gì, mà chỉ mất thì giờ, mệt mỏi thêm. Với tâm lý ấy người ta thường đành là cho qua, và các nhà báo vô lương tâm hoặc yếu kém về tay nghề cứ vậy mà tồn tại, tiếp tục viết bậy!
Từ khi internet phát triển, rồi blog, các trang mạng xã hội và những tờ báo ngoài luồng, những tờ “dân báo” ra đời, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của dòng báo chí ngoài luồng và các trang mạng xã hội này đối với một bộ phận người dân và ngay cả đối với báo chí “chính thống” ra sao. Nhiều người đã được “mở mắt” thức tỉnh từ khi đọc báo bên ngoài, biết được những sự thật về lịch sử, về xã hội, về chế độ mà đảng và nhà nước cố tình bưng bít, bóp méo bao lâu nay. Con số người bỏ không đọc, không tin vào báo đảng, ngược lại theo dõi thường xuyên các tờ báo bên ngoài, các trang mạng xã hội ngày càng nhiều. Ngay báo chí “chính thống” của nhà nước cũng bị tác động bởi báo ngoài luồng.
Bất cứ một thông tin dối trá, một bài viết tuyên truyền sặc mùi tuyên giáo, một hành động phản cảm hay một lời phát biểu dốt nát, ngu xuẩn của một ông quan bà nghị nào đó, những chi tiết sai sót, phi lý của một vụ án oan hay một vụ án có tính chất chính trị, một điều luật, chính sách ngớ ngẩn mới được thông qua…tất cả đều nhanh chóng bị đưa ra mổ xẻ trên các tờ “dân báo”, các trang mạng xã hội. Không chỉ một hai lần, báo chí “chính thống” phải điều chỉnh hoặc âm thầm gỡ bài khi bị báo ngoài luồng “bóc mẽ” những sự dối trá, sai sự thật.

Không ít nhà báo đang ăn lương ở một tờ báo nào đó vẫn theo dõi báo bên ngoài và nhiều khi lấy tin từ các báo, blog bên ngoài hoặc lặng lẽ thay đổi quan điểm trong một bài viết của mình. Còn các quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước VN, không rõ họ có bao giờ dám đọc báo ngoài luồng không, nhưng có một điều chắc chắn là họ hiểu được “tác động” của dòng báo chí đó dối với chế độ và họ lo ngại. Ngược lại, con số blogger, nhà báo tự do bị xách nhiễu, bị hành hung, bị tống giam vào tù với những bản án cực kỳ khắc nghiệt vì những bài blog, bài báo của mình ngày càng nhiều, đã đưa VN vào trong danh sách những quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất, là kẻ thù của internet. Những blogger, nhà báo tự do ấy đã phải trả một cái giá không hề rẻ cho việc viết lên sự thật, với khao khát cung cấp những thông tin đa chiều cho người dân VN.
Họ là những anh hùng. Còn những nhà báo anh hùng khác nữa, là những nhà báo vẫn đang làm việc cho một tờ báo của nhà nước, nhưng cố gắng không trở thành bồi bút hoặc không góp phần “ xả rác” vào xã hội bởi những tin bài của mình.
Tôi vô cùng khâm phục những nhà báo tử tế, chân chính còn sót lại giữa làng báo thiếu vắng tự do dân chủ và tràn ngập những cướp, giết, hiếp, mông đùi hở hang…như ở VN.
Những nhà báo ấy đã phải xoay sở tìm cách “lách” sao cho thông tin thuộc loại “nhạy cảm” về mặt chính trị xã hội có thể đến được với người đọc, hoặc ít nhất, viết cách nào đó để người đọc có thể đọc và hiểu giữa hai hàng chữ những gì người viết thực sự muốn nói. Họ đã phài tận dụng những cơ hội hiếm hoi khi báo chí được “thả lỏng” giây lát. Ví dụ như trong mối quan hệ phức tạp và bất tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung, đôi khi quan hệ giữa hai bên trở nên xấu đi và nhà cầm quyền VN cảm thấy cần phải để báo chí “xả” một chút, hoặc để báo chí chuyển tải thông điệp về tình trạng xấu đi đó đến nhà cầm quyền Trung Quốc. Báo chí được dịp đưa những thông tin như tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí VN, tàu TQ rượt đuổi, cướp bóc, đánh chìm tàu cá của ngư dân Việt, hay Trung Quốc đang cấp tập xây cất, biến các bãi đá ngầm trên biển Đông thành những hòn đảo nhân tạo và những căn cứ quân sự nguy hiểm trong tương lai như thế nào…
Những lúc ấy báo chí khởi sắc hẳn lên, nhiều bài báo mạnh mẽ lên án Trung Quốc, các nhà báo lúc ấy đang thực sự đứng về phía người dân VN, nói lên tâm trang uất ức, phẫn nộ, tình cảm thật sự của người dân VN đối với nhà cầm quyền Trung Quốc và những chinh sách bành trướng, xâm lược, mưu mô thâm độc của họ.
Tất nhiên, những lúc mở xả như vậy rất hiếm hoi và có thể lại đóng lại bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền cảm thấy có thể làm cho Bắc Kinh tức giận hoặc nếu những người lãnh đạo Trung Nam Hải lại tìm được cách nào đó vừa xoa dịu vừa khống chế đám lãnh đạo cao cấp nhất của VN.
Lảm báo ở VN khốn nạn như vậy đấy.
Bên cạnh đó là rất nhiều người cũng mang danh nhà báo nhưng không hề mảy may động lòng trước hiện trạng đất nước, dân tộc cũng như viễn cảnh không mấy sáng sủa của VN trước tham vọng ngày càng rõ và quyết tâm ngày càng sắt đá của Bắc Kinh. Những dạng ấy nhiều lắm. Hoặc tiếp tục bưng bô nịnh bợ chế độ, tuyên truyền những điều dối trá về đảng và nhà nước cộng sản, về lịch sử, hiện tại và cả tương lai, điên cuồng chống lại con đường tốt đẹp hơn cho VN là thoát khỏi chế độ độc tài độc đảng lạc hậu và gây hại cho đất nước cho dân tộc như lâu nay. Hoặc chỉ chăm chăm khai thác những đề tài “cướp, giết, hiếp”, mông đùi, đời tư người nổi tiếng, cổ vũ cho lối sống chạy theo bản năng của con người, chạy theo vật chất, nhà lầu, xe hơi, thời trang hàng hiệu khi suốt ngày viết “thiếu gia” này mới tậu con xe tiền tỷ, diễn viên kia sắm nhà lộng lẫy, người mẫu nọ có bồ là đại gia tiêu tiền như nước, hoa hậu kia khoác lên người bộ cánh hàng chục ngàn USD, đeo chiếc nhẫn kim cương “khủng”…
Không ai hồ nghi gì về sức mạnh của báo chí. Sức mạnh ấy nếu được đặt vào những nhà báo chân chính có tài có đức, trong một môi trường báo chí tự do dân chủ, có thể tạo ra những thay đổi biến chuyển theo chiều hướng tích cực cho xã hội, cho đất nước. Và ngược lại. Trong một xã hội độc tài và tôn thờ đồng tiền như VN hiện nay, báo chí không thể làm tốt được chức năng tôn trọng sự thật, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân, ngược lại ngày càng biến tướng và tệ hại.
Nhiều người làm báo không lương tâm khi đưa ra một vụ án chưa thực sự khởi tố, người bị tình nghi vẫn chưa bị kết tội đã thay mặt tòa kết án người ta, giết chết người ta về mặt uy tín xã hội. Có những bài báo khi viết về những vụ án hiếp dâm, đã không thèm che mặt nạn nhân hoặc có làm mờ và ghi tắt tên nhưng lại đưa những thông tin về trường học, cơ quan hoặc đưa hình ảnh nhà cửa khiến những người nào biết nạn nhân có thể dễ dảng đoán ra. Nhất là những vụ án mà nạn nhân hay người phạm tội là trẻ vị thành niên, cuộc đời vẫn còn dài trước mắt, sẽ sống ra sao sau khi vụ án đi qua.
Có những bài báo khai thác nhiều kỳ một vụ án giết người không chỉ từ lúc kẻ thủ phạm ra tay thủ ác mà cả quãng đời trước đó và sau đó trong trại giam, thông tin về cha mẹ người yêu hay vợ, chồng được đưa tuốt lên mặt báo. Hay vụ những người mẫu bán dâm, báo chí khai thác tối đa, phỏng vấn cả chồng, mẹ chồng tương lai của một người mẫu trong số đó, cuộc đời người mẫu này coi như không còn có cửa làm lại, cho dù sau khi mãn hạn tù. Và vô số những ví dụ về những cách đưa tin bài thiếu lương tâm như vậy mà chúng ta có thể bắt gặp tràn ngập trên báo chí VN.
Chưa nói đến khía cạnh lớn hơn là dối trá, bóp méo sự thật. Biết bao nhiêu sự dối trá trong suốt chiều dài nắm quyền của đảng cộng sản mà nhờ có internet, báo chí bên ngoài, người dân VN mới biết được, nhưng vẫn còn rất nhiều thông tin nằm trong bóng tối chưa bị lộ ra.
Một môi trường làm báo thiếu vắng tự do, đầy nghịch lý, những kẻ bồi bút bưng bô chế độ thì leo cao, hưởng mọi vinh quang phú quý, những người viết sự thật thì bị xách nhiễu, buộc thôi việc, hoặc bị tù; những kẻ viết tin bài vớ vẩn lá cải thì sống khỏe còn những nhà báo chân chính thì đau khổ vì không thể viết được theo đúng lương tâm mình.

Trong một môi trường như vậy, những người làm báo chỉ còn lại sự đối diện với chính mình. Rằng trước khi đặt bút viết bất cứ cái gì, tự hỏi mình bài viết ấy sẽ phục vụ cho ai, cho đất nước, nhân dân hay cho nhà cầm quyền, có lợi cho đất nước hay có hại; đối với những bài viết có liên quan đến số phận con người cụ thể, thì cuộc sống của họ sẽ ra sao sau khi bài báo được đưa ra. Nếu làm được như thế tin rằng những bài viết dối trá, bóp méo sự thật lịch sử, nhằm nịnh bợ chế độ và làm ngu dân, hay những bài viết dễ dãi khai thác phần bản năng của con người, sẽ có thể bớt đi.
Mọi vinh hoa phú quý, danh hiệu nhận được từ chế độ chả có nghĩa lý gì. Sự phán xét lâu dài của lịch sử, của nhân dân mới là sự phán xét mà không một ai có thể tránh được.

CÁCH SỐNG NGHÈO CỦA ĐỨC THÁNH CHA VÀ ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

CÁCH SỐNG NGHÈO CỦA ĐỨC THÁNH CHA VÀ ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

Tác giả: Micae Bùi Thành Châu

Cung cách của vị Giáo Hoàng đương nhiệm chắc có lẽ cũng đã để lại những ấn tượng, những suy nghĩ. Trên những ấn tượng, những nghĩ suy có lẽ là những lời thúc bách, bài học thực tiễn cho mỗi Kitô hữu.

Đức Thánh Cha đã khẳng định Giáo Hội là Giáo Hội của người nghèo. Trong tâm tình đó và thực tiễn của cuộc sống ta thấy đó là một sự thật bởi lẽ đa phần thành viên của Giáo Hội là những người nghèo, những người buôn gánh bán bưng, những anh chị em di dân xa quê nghèo …

Người nghèo dường như lúc nào ở bên cạnh ta như Chúa nói. Đơn giản như Sài Thành này mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông” nhưng còn đó quá nhiều căn nhà ổ chuột cũng như những cái chòi nhỏ chen chúc cả chục người trong một gia đình.

Sài Gòn mà còn như thế thì những tỉnh lẽ, những vùng sâu vùng xa thì cuộc sống chắc hẳn gặp nhiều khó khăn hơn nữa.

Dự Thánh Lễ ở nhiều nơi, ta vẫn thường thấy nhiều nhà thờ ở nhiều vùng xa đến để xin quyên góp về xây dựng nhà thờ của mình. Nhưng, tôi tưởng nghĩ cũng nên nghĩ đến những con người nghèo không có nơi cư ngụ, không có một mái nhà đúng nghĩa để che nắng che mưa.

Vẫn biết có nhiều nhà thờ, nhiều hội đoàn, nhiều cá nhân nữa đã làm việc bác ái rất nhiệt tình. Thế nhưng, tôi lại nghĩ đến thân phận của những con người nghèo không có chỗ dung thân. Nhiều nơi trong xã hội cũng đã nổ lực, cũng đã cố gắng có những chương trình nhà tình thương. Tôi thấy đây là một việc làm thiết thực và nên nhân rộng ra ở các xứ đạo thì chuyện chia sẻ tình thương đó được thiết thực hơn.

Đơn giản như ở Sài Gòn có hơn 200 ngôi Thánh Đường. Chỉ cần mùa Chay hay dịp nào đó cả giáo xứ cùng chung tay giảm bớt chi tiêu thì có thể làm được một số không nhỏ cho các giáo phận có nhiều người nghèo khổ.

Tính theo thời giá hiện tại thì bình quân 1 căn nhà tình thương có giá khoảng 50 triệu đồng. Và với giá như vậy, cả một giáo xứ lớn như nhiều giáo xứ ở Sài Gòn quả là điều không khó. Khó với một người nhưng dễ khi có nhiều bàn tay góp lại.

Có như thế, mỗi năm chia sẻ cho những giáo phận thiếu thốn thì dần dần sẽ cho những người nghèo có được mái ấm để dung thân hơn. Cứ từ từ và dần dần lên chương trình “Người nghèo có chỗ ở” chắc chắn sẽ phần nào chia sẻ nỗi đau cho những gia đình nghèo ở các giáo phận. Hay, có thể là một giáo xứ nào đó ở Sài Gòn “đỡ đầu” cho một giáo xứ, giáo điểm vùng sâu thì sẽ phần nào giúp cho những người nghèo bớt nghèo hơn.

Khi bắt tay vào chương trình này, Giáo Hội sẽ làm một cách công tâm và thiết thực, nhất là không biệt lương giáo. Khi ta làm như thế, mọi người sẽ cảm và sẽ nhận thấy thật sự là một Giáo Hội nghèo đang ở giữa lòng xã hội.

Giáo Phận Sài Gòn nói một cách nào đó có đời sống kinh tế nhỉnh hơn so với nhiều giáo phận khác. Đứng trước cung cách sống nghèo, lời mời gọi sống nghèo của Đức Thánh Cha, Giáo phận Sài Gòn nên chăng làm một điều gì đó thiết thực để hưởng ứng lời mời gọi của Đức Thánh Cha.

Dĩ nhiên cuộc sống còn có quá nhiều việc để làm, có quá nhiều người để chia sẻ nhưng nếu nhiều bàn tay góp sức, nhiều giáo xứ cộng lại sẽ giảm đi được nỗi đau của những người không có một nơi ở xứng đáng.

Dĩ nhiên chuyện cần hơn cả là xây dựng nhà thờ, nhà dòng, nguyện đường … nhưng có khi những người xây đã lạm dụng là xây quá hoành tráng, xây với kinh phí quá cao, xây với lòng cao ngạo hơn thua.

Tôi nghĩ đôi khi Giáo Hội cần phải hành động, cần phải tiên phong một cách thiết thực để chia sẻ với người nghèo. Có như thế, ta mới đồng hành, mới hưởng ứng, mới noi gương vị cha chung Phanxicô của chúng ta được.

Khi sống và hành động như thế, phải chăng đó là cách truyền giáo, cách chia sẻ thiết thực nhất mà Thiên Chúa muốn.

Micae Bùi Thành Châu

Nancy Nguyễn và những hoạt động cho nhân quyền Việt Nam

Nancy Nguyễn và những hoạt động cho nhân quyền Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-06-19

Nancy-Nguyen.jpg

Nancy Nguyễn và Mặc Lâm tại RFA hôm 18/6/2015.

RFA photo

Chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ khi phong trào đòi bầu cử tự do tại Hongkong nổ ra vào tháng 9 năm ngoái với biểu tượng là những chiếc dù màu vàng bung ra rộng khắp trên nhiều con đường của thành phố thì ngay những ngày đầu tiên ấy đã xuất hiện một cô gái người Việt đến từ California cùng chung với sinh viên Hongkong biều tình đòi quyền tự do bầu cử và ứng cử.

Cô gái ấy là Nancy Nguyễn, hôm nay có mặt tại phòng thu của Đài ACTD nhân dịp cô cùng phái đoàn nhân quyền của người Việt hải ngoại về thủ đô Washington để trình bày trước các vị dân cử Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền Việt Nam. Mặc Lâm có cuộc trò chuyện cùng cô.

Mặc Lâm: Chào Nancy, rất ngạc nhiên khi biết Nancy có mặt tại thủ đô trong dịp này, trong thời gian gần đây Nancy đã xuất hiện nhiều trên những diễn đàn chính trị hải ngoại đặc biệt rất quan tâm tới vấn đề dân chủ nhân quyền cho Việt Nam, Nancy có thể chia sẻ một ít về các hoạt động của mình và tại sao lại dấn thân vào lĩnh vực rất khó khăn này so với lứa tuổi của Nancy?

” Trong tất cả những tình huống như vậy mà Việt Nam lại xây tượng đài Khổng Tự thì đó là vấn đề sai về thời điểm. Đây có thể gọi là sỉ nhục đối với quốc thể của Việt Nam vào thời điểm này.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Dạ hoạt động thì không có gì nhiều, Nancy chỉ hỗ trợ những đoàn thể, tổ chức để họ có thêm nhân sự phục vụ cho những công việc có mục đích chung. Giống như ngày hôm nay Nancy tới Washington để hỗ trợ với TS Nguyễn Đình Thắng, BPSOS để cùng vào Quốc hội giải trình những vấn đề về nhân quyền, tự do tôn giáo cũng như luật Lao động Việt Nam.

Lý do mà Nancy dấn thân vào con đường này thì căn nguyên gốc rễ rất xa xôi vì khi qua tới bên đây mình cảm thấy rất ngạc nhiên vì sao người Việt của mình lại dễ thương đến mức đó. Mình nghĩ chuyện đó khó tin lắm nhưng mất một thời gian rất lâu khoảng thời gian từ 2 tới 3 năm thì mình mới bắt đầu nhận ra được và chấp nhận chuyện Humanities thật sự tồn tại vì ở Việt Nam nó gò mình dữ lắm. Khi chấp nhận sự tồn tại về tình người thì mình nghĩ phải làm một cái gì đó cho đất nước của mình.

Mặc Lâm: Vâng đó là vấn đề Việt Nam. Nancy từng qua Hongkong trong cuộc biểu tình của sinh viên bên đó thì ngày hôm nay có một tin vui cho người dân Hongkong đó là cuộc họp của các nhà lập pháp đã bỏ phiếu bác bỏ quy tắc bầu cử của đảo quốc. Đây phải nói là một thành công của phong trào cây dù trước đây. Nghe tin này Nancy có vui không?

Nancy Nguyễn: Rất là vui. Khi Nancy rời Hongkong rồi thì các bạn Hongkong vẫn gửi tin nhắn, vẫn liên lạc thường xuyên họ kể những chuyện bên đó và họ rất buồn. Có nhiều bạn khóc quá trời, họ nói chúng tôi không biết phải làm gì bây giờ, họ không cho chúng tôi biểu tình thì chúng tôi đi shopping! Nancy cũng nói là các bạn ráng lên tuy các bạn có thể bị bắt nhưng hạt mầm dân chủ nó đã nằm trong đất rồi thì các bạn ấy nói rằng các bạn cần những lời như vậy để mà tiếp tục phấn đấu…hai đứa nhiều khi ngồi khóc với nhau…vì vậy khi nghe tin họ đã đạt được thành quả nhất định thì đó là một cái tin rất vui.

Mặc Lâm: Là người hoạt động dân chủ nhân quyền có lẽ Nancy theo dõi xã hội của Việt Nam rất sát phải không?

” Dạ hoạt động thì không có gì nhiều, Nancy chỉ hỗ trợ những đoàn thể, tổ chức để họ có thêm nhân sự phục vụ cho những công việc có mục đích chung.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Dạ, cũng có theo dõi hàng ngày.

Mặc Lâm: Có một vấn đề liên quan tới văn hóa đang bị dư luận phê phán rất gắt gao đó là tỉnh Vĩnh Phúc trích ngân sách 271 tỉ để xây văn miếu thờ Khổng Tử và trước đó thì UBND tỉnh đã có hẳn một phái đoàn sang Trung Quốc để học tập rút kinh nhiệm. Là người trẻ và sống ở hải ngoại Nancy nghĩ gì trước câu chuyện này?

Nancy Nguyễn: Thưa nói cho công bằng, là một người trẻ sống ở hải ngoại thì Nancy rất open về vấn đề xây các tượng đài hay những biểu tượng vể văn hóa. Thành ra nếu chỉ nhận xét riêng những biểu tượng văn hóa như tượng đài Khổng Tử thì đối với những người lớn lên ở nước ngoài thì rất bình thường, tuy nhiên cái không bình thường ở đây có lẽ là vấn đề thời điểm. Ở Việt Nam trong tình trạng giàn khoan đã quay trở lại trong hải phận cùng với tình trạng ngư dân Việt Nam vẫn còn bị bắt bớ đòi tiền chuộc, thậm chí bị giết chết. Ngược lại khi Việt Nam mình bắt ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá gần bờ của mình thì chỉ trả họ về mà thôi. Trong tất cả những tình huống như vậy mà Việt Nam lại xây tượng đài Khổng Tự thì đó là vấn đề sai về thời điểm. Đây có thể gọi là sỉ nhục đối với quốc thể của Việt Nam vào thời điểm này.

Số tiền 271 tỉ thì khó có thể justified và số tiền đó thì Quốc hội cần phải giải trình cho người dân Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rõ đây là một số tiền lớn có thể sử dụng vào những công trình phúc lợi khác của xã hội, giống như xây cầu cho các em đi học, hoặc xây thêm nhà cửa cho người dân thế nhưng chính quyền đã chọn dùng số tiền 271 tỉ đó để xây tượng Khổng Tử vào lúc này thì có lẽ cần phải xem xét lại.

Mặc Lâm: Xin cám ơn Nancy.

httpv://www.youtube.com/watch?v=xTZxDXxlVU0