Nghỉ hưu

Nghỉ hưu

Nguyễn Thượng Chánh ( Bac si THU Y )
& Nguyễn Ngọc Lan (Duoc Si)

Trong đời sống của mọi người, đến một lúc nào đó chúng ta cũng phải ngưng làm việc để nghỉ hưu. Đây là một giai đoạn mới vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi người. Hai vợ chồng người gõ cũng đã gác kiếm từ quan từ năm 4-5 năm nay rồi. Tôi đã nghỉ hưu – Giã từ căng thẳng, chào đón hưu liễm. “I’m retired – Goodbye tension, hello pension!”Gõ cho người hay gõ cho ta?

Tuy có chuẩn bị tinh thần nhưng cũng vẫn bị shock
Ai cũng vậy, làm việc đến một tuổi nào đó thì cần phải nghỉ hưu.
Tuy luật không bắt buộc mình phải nghỉ nhưng thông thường thì thiên hạ nghỉ khi họ được 65 tuổi để nghỉ ngơi và để lãnh tiền già (pension du Canada hay old age pension).
Đây là nói trường hợp những người làm việc cho các công ty hay xí nghiệp lớn, làm việc cho chánh phủ hay công chức v.v.
Còn trường hợp tự mình làm chủ thì muốn nghỉ lúc nào thì tự do mình quyết định.
Mặc dù đã có chuẩn bị tư tưởng từ nhiều năm trước nhưng khi bắt đầu ngưng làm việc thật sự, bỏ lại sau lưng tất cả các thói quen cũ để bước vào một nề nếp sinh hoạt hoàn toàn mới, thì mấy tháng đầu vợ chồng người gõ cũng phải chịu nhiều xáo trộn về tinh thần lẫn vật chất.

Phải cần một thời gian đôi ba tháng mới quen và thích ứng được vào với hoàn cảnh mới!
Nhiều thay đổi trong cuộc sống

Thời gian nghỉ hưu thường tạo ra nhiều sự thay đổi trong đời sống.
Đó có thể là sự thay đổi chỗ ở và phải hòa mình vào một khung cảnh mới, bởi lý do này nên hưu viên phải chịu mất đi một số bạn bè và những mối giao tiếp xã hội của mình từ xưa nay…Và họ cần phải có một thời gian để tìm hiểu và thích ứng vào nếp sinh hoạt mới.
Không ít người nghỉ hưu bán nhà để dọn đến những nơi gần con cái.
Có người chọn giải pháp mua condo để ở cho đỡ phải dọn dẹp, và khỏi lo săn sóc nhà cửa cũng như để tiện bề đi du lịch trong thời gian dài.
Có người nhảy ra làm từ thiện hay làm thiện nguyện.

Đi du lịch

Đi du lịch xa là cái mode thường thấy nhất trong mấy năm đầu khi vừa mới nghỉ hưu.
Theo nhiều cụ kinh nghiệm, thì mấy năm đầu lúc vừa mới nghỉ thì thiên hạ có khuynh hướng đi du lịch ào ào.
Từ 75 tuổi trở đi thì họ bắt đầu thấm đòn, sức khỏe yếu đi, thường hay mệt mỏi bất tử, nên sự hăng say du lịch của buổi đầu cũng dần dần giảm theo năm tháng.

Du lịch cũng không quên cái “hobby”
Các tours du lịch xa có guide hướng dẫn rất được giới cao niên ưa chuộng vì tiện lợi và khỏe trí.
Bạn bè chí thân hay tâm đầu ý hợp thường hay rủ nhau đi chung cho vui.
Hầu như không ít bà con mình, đặt ưu tiên chuyện về Việt Nam trong chương trình du lịch của họ, cũng có người có ý định quay về chốn xưa ở cho đến ngày cuối đời…

Kế đó là qua Mỹ hoặc qua các nước Âu Châu, trước là đi chơi và sau là ghé thăm bà con hay bạn bè luôn thể.
Có người thì đi tours Trung Cộng, đi hành hương Ấn Độ, v.v.
Người thì đi tours nghỉ mát tại các resort ở Mexico, Cuba, Dominican Republic hay các đảo thuộc vùng Caribbean, v.v… Thường bãi biển ở những vùng nầy rất là lý tưởng, sạch sẽ và có một màu trong như sữa xanh ngút ngàn giống như một bức tranh vĩ đại rất ư là đẹp…
Giá cả có khác nhau và cũng tùy theo mùa. Trung bình, nguyên trọn gói, bao vé máy bay khứ hồi từ Montréal, ăn ở một tuần trong hotel 4 sao của resort lối 1300- 1500$.
Mùa low season, giá có thể còn rẻ đi hơn nhiều.

Có người đi theo tours du thuyền cruise trong một tuần lễ tại vùng biển Caribbean. Ghé qua các đảo như Saint Martin, Sainte Croix, Saint Kitts, Virgin Islands, Grenada…
Có người đi tours vùng Nam Mỹ, Panama hoặc tours vùng Hawaii, tours Alaska xem gấu trắng…

Các tours du thuyền vùng Caribbean, tàu chạy ban đêm cho tới sáng thì cập bến vào một đảo và du khách có thể lên bờ dạo chơi hay đi đây đó và trở lại tàu trước hoàng hôn.
Mấy lúc gần đây du lịch Dubai nằm về phía đông nam của United Arab Emirates (UAE) vùng Trung Đông cũng được một số hưu viên chiếu cố.
Tours du thuyền: lối 80% du khách là người cao tuổi
Có người đi theo các tours du thuyền lâu nhiều tuần bên Âu Châu, Á Châu hay Trung Đông. Mục đích để thăm viếng được nhiều xứ.

Du thuyền Princess Cruises ghé qua nhiều nước như Thái Lan, Singapore, Sài-gòn Nam Việt Nam, Hong Kong hay Pusan Nam Hàn, v.v.
Tours du thuyền có thể được xem là sang trọng và thích hợp cho lớp tuổi già.
Nhưng có một sự thật là đi đâu lâu ngày lâu tháng, khi trở về tới nhà mình thì vẫn cảm thấy khỏe cách gì đâu…Được nằm ngủ trên cái giường của mình thì không có gì sung sướng và hạnh phúc cho bằng!
Dân nghỉ hưu thường hay đi đâu?

Sáng sáng, dân nghỉ hưu thường hay đến mấy cái thương xá hay mấy tiệm cà phê bình dân ngồi chùm nhum với nhau đấu láo và ngó ông đi qua bà đi lại.
Các bà thì thích đi ngắm nghía vẻ đẹp như xem thời trang, xem nghệ thuật, cây cảnh, vân vân.
Có bà lại thích đi tà tà hoặc đi vòng vòng trong thương xá để…rửa con mắt và cũng là một cách để thư giãn (relaxation).
Ông nào có muốn chở vợ thì nên chọn giải pháp ngồi chờ ở phía ngoài cho nó khỏe và cũng tiện để ngó cô đi qua bà đi lại luôn thể, tiện mọi bề cho cả bà lẫn ông!

Some studies have led to a conclusion that shopping is one of the ways to combat depression. A woman tends to get so engrossed in shopping, that she can shop for hours together without eating or getting tired.
Thankfully most of the shopping malls have a coffee shop, where men can enjoy sipping their espresso while women enjoy a stress free experience! Happy shopping ladies!!!

Các ông thì lại ưa thích hẹn hò nhau để tán gẫu ở những quán cà-phê, quán phở, v.v.
Có ông bạo hơn cũng như văn minh hơn, muốn tự thưởng mình sau bao năm dài đăng đẳng làm việc vất vả, bằng những chuyến du lịch về Việt Nam trước thăm mồ mả ông bà, sau là nếu có thể giúp người-em-gái-nhỏ nào đó thoát cảnh nghèo đói để đổi đời mà cả hai đều có lợi, vân vân và vân vân. Nội cái được người-em-gái-nhỏ gọi mình bằng anh xưng em ngọt xớt như mía lùi, thấy sướng tê cả người, được trẻ ra ít nhất cũng 30 tuổi rồi.

Ai mà không ham!

Nghe nói với số tiền trợ cấp hưu pension hay tiền già 1000$ một tháng bên nầy, nhưng về bển thì tha hồ mà ăn chơi phè phỡn, dư sức…qua cầu gió bay!
Dân nghỉ hưu thường hay…làm gì?

Phần đông đa số người già nghỉ hưu rất rảnh rỗi.
Tập thể dục thể thao như chạy bộ jogging, đi bộ; tập tài chi dưỡng sinh, khí công, aerobic; đánh cờ tướng hay chơi golf, đánh tennis, đánh ping-pong, vân vân.
Việc giữ hộ cháu nhỏ trong vòng đôi ba ngày cũng là một niềm vui cho các bậc ông bà.
Một số cụ lo xa, quan tâm đến việc tu hành cũng như việc thiền định để tìm sự an lạc cho tinh thần cũng như để chuẩn bị cho kiếp sau, vân vân.
Cũng có người thì cảm thấy quá nhàn rỗi…Không biết làm gì trong ngày, hết đứng thì ngồi, ra vô, đi tới đi lui, ngó trước ngó sau, hết ngồi rồi nằm.
Vào phòng nghiền ngẫm internet, chốc chốc lại check email.
Xong ra salon mở ti-vi.

Đọc báo thì đọc hết tờ nọ tới tờ kia, lướt qua tin xe cán chó, đến các mục quảng cáo bán nhà, sang nhà hàng, sang tiệm nails…Kế đến là mục gỡ rối tơ lòng, riêng mục tìm bạn bốn phương sao thấy nhiều phụ nữ đầy đủ công dung ngôn hạnh mà sao số lại cô đơn hẫm hiu vậy cà, thấy tội quá!
Rồi làm luôn tất cả các tin vui lẫn tin buồn, cáo phó lẩn phân ưu, rồi không biết chừng nào tới phiên…mình đây?
Đôi khi lấy phone gọi đầu nầy đầu nọ, nói chuyện tầm xàm bá láp cho đỡ buồn.
Tình trạng nầy mà kéo dài dám sẽ khiến nhiều cụ dễ bị rơi vào sự buồn chán hay trầm cảm lắm!

Chiều tà về tới sân nhà
Vợ tôi mong ngóng trong nhà ngó ra
Nghỉ hưu quanh quẩn đôi ta
Quay đi ngó lại, chỉ bà với tôi
(Nguyễn Thượng Chánh)

Gặp lại bạn bè

Bạn bè lâu ngày gặp lại vợ chồng tác giả thì thường hay hỏi những câu đại loại như sau:
– Lúc rày nghỉ có khỏe không? Khỏe chớ!
– Lúc này nghỉ rồi làm gì? Không có làm gì hết, nghỉ mà!
– Có đi đâu chơi không? Có khi đi, có khi không!
– Có đi về Việt Nam chưa? Dzà, chưa có tính lúc nầy!
– Có đi làm thiện nguyện không? Dạ có, làm từ lâu rồi, giữ cháu đó!
– Có làm công việc gì khác không? Có chớ, nhiều việc không tên, nhớ hổng hết!
– Nghỉ ở nhà có chán không? Đâu còn thì giờ dư đâu mà chán!
– Nghỉ ở nhà có thường bị bả đì không? Anh sao tui vậy mà!
– Nghỉ ở nhà, ổng thường làm cái gì? Dzà thưa lúc nào? sáng hay tối? cũng giống như mấy ông khác thôi!
– Sao cũng còn trẻ (?) hoặc job thơm (?) mà nghỉ chi cho uổng vậy! Thôi đi, bộ xỏ ngọt người ta hả!
Bao nhiêu câu hỏi trên cũng đủ nói lên tâm trạng lo lắng chung của mọi người trước viễn tượng về hưu.
Mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, không ai giống ai hết.
Có người phải nghỉ hưu vì hãng đóng cửa, vì bị mất việc, vì vấn đề sức khoẻ hay cũng vì hoàn cảnh bắt buộc, vân vân và vân vân.

Tóm lại, những điểm lo lắng chung của mọi người mà tác giả nhận thấy quan trọng chính là ở ba điểm như sau:
1/ quan hệ giữa vợ chồng
2/ sức khỏe
3/ tiền bạc

Giai đoạn “tang chế” sau khi nghỉ làm

Ai cũng phải trải qua một giai đoạn buồn chán vì phải thay đổi nếp sinh hoạt thường ngày từ mấy chục năm nay lúc còn đi làm. Thời gian nầy dài hay ngắn tùy theo người.
Các nhà tâm-lý-học gọi đây là giai đoạn “tang chế” (période de deuil), nghĩa là hưu-viên cảm thấy mất mát một cái-gì-đó mà mình hằng quen thuộc trong đời sống.
Trong thời gian nầy, họ rất dễ bị rơi vào tình trạng trầm cảm.
Nếu tình trạng nầy kéo dài thì cần phải đi tham khảo ý kiến của bác sĩ.
Tại sao có người sợ nghỉ hưu?

– Có người đã đủ tuổi về hưu nhưng không muốn nghỉ vì còn quá yêu…công việc hay ghiền việc (workaholic)!
– Có người muốn nghỉ hưu nhưng phải ráng cày vì họ còn phải nuôi con ăn học thêm một vài năm nữa!
– Có người vẫn còn duy trì sự làm việc, nhưng chỉ làm bán thời gian (part time) hoặc chỉ làm một hay hai ngày trong tuần!
– Có người đã nghỉ hưu, nhưng sau đó trở vô xin làm việc lại!
Ngoài ra, cũng còn nhiều lý do phức tạp khác…
“Tui sợ ở nhà hoài sanh bệnh” hoặc
“Tui cũng muốn nghỉ lắm nhưng sợ ở nhà không có gì làm, chán lắm”
Đây là những câu tâm tình mà người gõ thường hay nghe các bạn đàn ông nói.
Phải chăng đó là những lý do thật sự?
Nhưng cũng không hiểu tại sao dân chúng lại phản đối dữ dội khi chính phủ sở tại muốn kéo dài tuổi làm việc ra thêm nữa, thí dụ như bên Pháp?
Còn ở Canada, chấp nhận cho nghỉ hưu hiện nay là 65 tuổi, nhưng sẽ tăng lên 67 tuổi trong vài năm tới.
Báo Tây có nêu những lý do tại sao một số người vẫn còn muốn tiếp tục đi làm mặc dù họ đã tới tuổi cần hưu trí rồi, hai lý do chính là tại vì:
– ông anh sợ phải ở nhà thường xuyên với bà chị (?)
– kinh tế, tài chánh khó khăn nên cần phải đi làm thêm để kiếm thêm chút đỉnh cho bả vui (?).
Có bạn thì thành thật hơn: “tui ngại ở nhà vì phải chạm mặt thường xuyên với bà xã quá. Sợ gây lộn tối ngày, sợ chiến tranh lạnh quá”.
Vấn đề nầy là một sự thật mà ai cũng phải đành chịu thôi. Chạy đâu cho khỏi!
Nhưng gần đây báo chí Mỹ có nêu một…tin mừng. Không biết có nên tin hay không?
Tin mừng cho những cặp vợ chồng khắc khẩu: “Cãi nhau sống lâu”
Cãi nhau thường xuyên để xả bớt xú bắp rất tốt cho sức khỏe tâm thần và sẽ sống rất lâu để mà cãi với nhau cho tới ngày xuống lỗ (?) Hi hi hi!

Spouses who fight live longer!
In the current study, the authors suggest a combination of factors to explain the higher mortality for couples who don’t express their anger. These include “mutual anger suppression, poor communication (of feelings and issues) and poor problem-solving with medical consequences,” they write in the January issue of the Journal of Family Communication.
http://www.livescience.com/4814-spouses-fight-live-longer.h…

Trong các khóa học coaching “chuẩn bị nghỉ hưu” (pre-retirement courses) cho nhân viên nhà nước hoặc cho các công ty, các thuyết trình viên là các nhà tâm-lý-học thường nêu cái vấn nạn nầy lên để chúng ta đừng ngạc nhiên lúc phải ở nhà thường trực với người hôn-phối của mình.
Ai cũng vậy cả! Chạy đâu cho thoát!
Nhưng nếu suy nghĩ cho tận cùng, thì còn đôi bạn cũng vẫn còn thấy mình may mắn và hạnh phúc hơn rất nhiều, phải không các lão ông lão bà?

Cái gì cũng cần phải có sự chuẩn bị hết

Theo ý riêng của tác giả, thì cần phải chuẩn bị tư tưởng trước khi nghỉ hưu:

+ cái gì cũng phải có ngày chấm dứt, để bước sang một giai đoạn khác trong cuộc đời;

+ phải ý thức là mình già rồi, cần phải nghỉ ngơi để đi đây đi đó khi còn đầy đủ sức khỏe;

+ bệnh hoạn có thể đến với mình bất cứ lúc nào;

+ nghỉ hưu để vui sống với chồng, với vợ mình mà hình như từ mấy chục năm nay mình không có thể sống cho nhau một cách trọn vẹn được vì sự ràng buộc về sinh kế, về con cái, vân vân;

+ nghỉ hưu để có thể có nhiều thời gian hơn bên cạnh các cháu nội ngoại và để nhìn thấy chúng lớn lên;

+ nghỉ hưu để có thể mỗi sáng tĩnh lặng, bên cạnh tách cà phê nóng, cùng nhau thảnh thơi nghe tiếng chim hót líu lo sau nhà hay cùng ngắm bình minh ló dạng hay nhìn những giọt sương đêm còn lấp lánh đọng trên các tàn cây ngoài mái hiên nhà, hoặc cùng thưởng thức mặt trời toả đủ màu sắc trước khi lặn vào mỗi chiều hoàng hôn, vân vân và vân vân;

+ muốn cho sự nghỉ hưu được tốt đẹp, không nhiều sóng gió thì chúng ta cần phải tạo cho mình một lịch trình sinh hoạt đều đặn, để nó trở thành một nếp quen thuộc (routine) trong cuộc sống và mình phải tuân hành theo bằng mọi giá;

+ đừng bao giờ để bị rơi vào tình trạng quá rảnh rỗi vì sẽ dễ bị đưa đến sự buồn chán;

+ cuối cùng là phải tạo cho mình có một thời khóa biểu…bận rộn (busy).

Mỗi người mỗi cách mỗi kiểu!

Kết luận

Nghỉ hưu lúc mình còn sức khoẻ để đi đây đi đó chớ chần chờ đến lúc ngồi xe lăn hay hui nhị tì thì có hối tiếc cũng không còn kịp.
Nghỉ hưu khi con cái đã trưởng thành, nhà chỉ còn có đôi ta mặc sức mà lớn tiếng…cãi qua cãi lại mà không cần phải đóng cửa vì sợ con cái buồn phiền.
Nghỉ hưu, một giai đoạn mới trong cuộc đời bắt đầu với không đồng hồ, không ngày, không tháng, không stress, muốn ngủ lúc nào, muốn thức lúc nào, ăn lúc nào, ăn ở đâu, ăn cái gì, ăn làm sao…thì cho dù ngoài kia có mưa to gió lớn bảo bùng hay tuyết rơi trắng xoá mịt mù cũng chẳng làm cho ta lo lắng nao lòng.
Nghỉ hưu, đối với tôi, là một sự khám phá ra cái đẹp. Từ trước đến nay, tôi chưa từng bao giờ có thời giờ để nhận thấy hết những nét đẹp của các cháu tôi, của vợ tôi cũng như của cây cỏ ngoài ngõ. Và, lẫn cả cái đẹp của thời gian nữa.

“Retirement has been a discovery of beauty for me. I never had the time before to notice the beauty of my grand kids, my wife, the tree outside my very own front door. And, the beauty of time itself.” Harman Jule.
Ôi, tự do ơi, một lần nữa, ta xin chào mi bằng hai tay và cả…hai chân!
Đồng vợ đồng chồng, tát bể…Hưu cũng cạn!

Nguyễn Thượng Chánh ( Bac si THU Y )
& Nguyễn Ngọc Lan (Duoc Si)
Montreal

Bàn Chân Năm Ngón

Bàn Chân Năm Ngón

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Một người thanh niên tên là Tony Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II (nay là thánh G.P.II) đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè năm 1987.

Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên đang hát với tiếng đàn Guitar của mình.  Ðiều gì đã làm cho khung cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người?

Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng.  Tony đã chào đời không có hai cánh taỵ  Nhưng Tony đã vận dụng những ngón chân của mình để học đàn guitar.  Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.

Anh đã biết biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục.

Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: “Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt diệu như thế ?”.

Anh đã trả lời như sau: “Tôi đã cầu nguyện : Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúạ  Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi”.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được sinh ra hay không sinh ra.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa làm đàn ông hay đàn bà.

·        Không ai trong chúng ta chọn lựa được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo hèn …

Dưới mắt người đời, mỗi người chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh.  Người ta vẫn nói: có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người kém may mắn.

Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả.

Trong chương trình Quan Phòng của Ngài, mỗi người, dù nhỏ bé hèn mọn, dù tàn tật bất hạnh đến đâu, cũng đều có một chỗ đứng.  Do những bất trắc của thiên nhiên, hay do hậu quả của tội lỗi, nhiều người phải sinh ra với tất cả một gánh nặng của bất hạnh.  Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc vì những hư hỏng ấy, Ngài luôn có một chương trình cho mỗi người.

Lắm khi chúng ta thấy được những kỳ diệu của Thiên Chúa được thể hiện qua những bất hạnh, mất mát của con người.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

httpv://www.youtube.com/watch?v=zlZPYGBXQ44

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

17 Tháng 6 2015

Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau:

« Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn.Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp. »


Và Nhà báo kết luận :
«Cái thâm độc của VC là như thế! ».

Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.

Quy chế tỵ nạn chánh trị ở Pháp

Nhắc sơ đến quý độc giả hải ngoại rằng từ ngày 30 tháng tư 1975 trở đi. Người Việt Nam đến ở Pháp có thể xin phép ở lại thường trú với quy chế là người tỵ nạn chánh trị. Quy chế tỵ nạn chánh trị được chứng minh bằng tư cách vượt biên trốn chạy ra khỏi biên giới nước Việt Nam của mình, …vượt biên bằng đường bộ, đường biển, vượt biển được tàu buôn vớt, hay vượt biên đến một trại tỵ nạn…Nhưng khi đến nước Pháp, nghĩa là khi được nước Pháp nhận rước vào, việc đầu tiên là làm đơn xin tỵ nạn, kể lể thống thiết nỗi khổ khi phải sống dưới chế độ Cộng sản và tuyên thệ không trở về quê cũ, nói rằng (hù dọa rằng) khi mình trở về nước mình, thì sẽ lãnh cái búa của Việt Cộng. Và cơ quan bảo vệ người tỵ nạn, ( tức là OFFRA – Office Français des Réfugiés et des Apatrides) sau khi mình tuyên thệ và ký tên hứa hổng về Việt Nam nữa, sẽ cấp cho cái thẻ tỵ nạn, gọi là thẻ OFFRA. Với cái thẻ nầy, người mang thẻ được chứng minh là người réfugié, tức là người tỵ nạn, và từ nay réfugié cũng là người apatride luôn, nghĩa là mình mất luôn cái quyền có một đất nước, có một tổ quốc, mình hết còn là người Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa nữa ( mà mình đã trốn chạy thục mạng thì cũng đâu cần có quốc tịch ấy làm gì ! Mình chỉ còn giữ cái (chủng) tộc Việt, cái Văn hóa, cái tập tục của người Dziệt mình đó thôi ! Từ nay mình nhận nhau, gọi nhau là người mình.

Từ ngữ tây Apatride là vô tổ quốc. Từ ngữ họp bởi tiếp ngữ đầu a = không, phi, hổng có, mậu, (thí dụ apolitique = phi chánh trị). patrie = tổ quốc. a-patride = mậu tổ quốc, phi tổ quốc, hổng có tổ quốc. Từ nay, khi đã vượt biên rồi, người gốc gác miền Nam Việt Nam ta, vì mất cái thẻ căn cước Việt Nam Cộng hòa ( mà dù có, cũng không ai nhìn nhận, vì Việt Nam Cộng hòa đã chết sau ngày 30 tháng tư năm 1975 rồi) và cũng chẳng có, hay chưa có cái chứng mình nhơn dân Việt Cộng nên khi đến Pháp. Sau vài ngày ói mữa, thoát chết, khát nước, bị hải tặc, lêng đêng sóng nước lưng trời, giữa biển cả hãi hùng …, sau một cuộc sống vài tháng, chen chúc nóng nực, chen lấn chầu chực phờ người…. ở một Pilau nào đó ở Mãlai, hay một trại kiểu Songkla ở Thái lan, hay trại gì gì đó… hoặc được tàu Đảo Ánh sáng rước, hoặc theo quy chế đoàn tụ gia đình kiểu tây giấy, tây thiệt, tây giả, tây dỏm … gì cũng được, nhưng khi làm thủ tục với Offra, lãnh giấy réfugié đều mất quy chế công dân Việt Nam và thành người apatride hết trọi.

Mà apatride ngon lắm, apatride và réfugié, là được giấy tạm trú nè (Carte de séjour temporaire), với giấy tạm trú nhận được giấy đi làm (Carte du travail). Có carte du travail, cũng như có thẻ xanh bên Mỹ, là có quyền tự kiếm ăn sanh sống, tự lập, tự chủ đời sống mình rồi !. Đi làm ! có quyền đi làm ! mà bên Tây nầy, có quyền đi làm là có trợ cấp Bảo hiểm Xã hôi (Sécurité Sociale), do ông chủ đóng tiền, do mình đóng tiền, (chút chút thôi),… do Nhà nước Chánh phủ Tây tổ chức : đi Bác sĩ gần như miễn phí ( 75 % chí phí được hoàn lại), nằm Nhà thương cũng gần như miễn phí (75 %), sản phụ sanh con, thì chắc chắc free rồi (100%), còn thuê nhà không trả nỗi thì có trợ cấp nhà, APL (Allocation Pour le Logement = một loại tiền housing kiểu Mỹ). Chưa kể một lô trợ cấp khác : trợ cấp con nhiều con ít, trợ cấp mẹ đơn chiếc không chồng mà phải nuôi con, đẻ con cho con bú thì trợ cấp cho con bú – allocation d’allaitement, không có sữa, hay sợ xệ vú không cho con bú mà phải đi mua sữa bò hay sữa bột (hiệu Guigoz chẳng hạn) thì có trợ cấp mua sữa. ..Nói tóm lại khi đã có giấy tỵ nạn tạm trú rồi thì cũng như dân tây local địa phương đẻ ở đây dzậy! Họ hưởng cái gì mình hưỏng cái đó. Có thẻ đi làm, có nghĩa là không phải bắt buộc phải đi làm. Tiếng Tây ba xí ba tú, chưa thông ? Tây cho đi học, thế là kể như đi làm, trợ cấp dzô đầy mâm. Hổng biết nghề vì hồi bên Việt Nam, chuyên ra Chợ cũ chạp áp-phe, bây giờ phải đi học nghề, Tây cho đi học. Mà đi học, thì kể như đi làm. Réfugié mới đến có quy chế đi học nghề, đi tìm nghề, chưa làm việc ngày nào cũng lãnh tiền đi học, ngang bằng tiền thất nghiệp. Dân Tấy nó làm thụt con mắt, điếc con ráy, mới được lãnh thất nghiệp, đây mình chưn ướt chưn ráo, ba xí ba tú, có tiền đi học tiếng Tây, học nghề học nghiệp vẫn lãnh tiền khỏe re ! Còn muốn đi du lịch, no problem, có cái giấy Thông hành – Titre de Voyage. Thẻ Du lịch, nghĩa Thẻ đi chơi ( Vì quyền du lịch đi lại là một Nhơn quyền). Quốc gia nào cần visa thì ta mua visa, quốc gia nào tư do đi lại như các quốc láng giềng Pháp ở Tây Âu là cứ đi thả giàn : Ý, Đức, Hòa Lan, Bỉ, Toà Thánh Roma, Đức mẹ Lộ Đức, Fatima, hành hương, du lịch chụp hình tự do…

Chỉ có một cái cấm: dù sao mình cũng là người tỵ nạn mà, là cấm đi du lịch ở các quốc gia gần Việt Nam, nơi mình bỏ xứ ra đi vì « nạn Cộng sản » Lào, Miên và Thái và dỉ nhiên là không đi về Việt Nam, vì mình đã khai là «hổng dìa khi còn bóng dáng Cộng sản là kẻ đã hành hạ mình » để nhận cái căn cước người vô tổ quốc và tỵ nạn.

Nói tóm lại, apatride , réfugié, tỵ nạn có tất cả quyền lợi như người bản địa, trừ một điểm là không phải công dân Pháp, không có quyền ứng cử, bầu cử thôi ! Nhưng thật sự phe ta cũng lè phè, sống theo Tây, bắt chước Tây thích ăn bánh mì Tây, nhưng thích ăn cái cùi (hay bánh mì thịt), thích ra la cà các tiệm cà-phê Tây nhưng để đánh lô tô và cá ngựa. Phần còn lại đời sống xã hội Tây, mặc kệ nó.

(Tây cũng có trò chơi tên là Kéno – người viết biết tên nhưng hổng biết chơi ra sao – ai biết viết lên báo chỉ dùm. Cá nhơn người viết có một cái ngu rất lớn là hổng biết luật lệ cờ bạc gì cả : hổng biết cờ tướng vì khó quá toàn chữ Tàu đã đành, hổng biết cờ échec của Tây, hổng biết cờ dame đánh sao ăn thua sao Tứ sắc không biết, xập xám cũng không, belote cũng chịu, bridge cũng “no-way”, biết đánh croix-zéro, làm chữ thập với vòng tròn chơi lúc thuở học trò thôi. Bạn dắt đi viếng Casino, ở Úc, ở Monaco, ở Las Vegas nhìn vào như nhìn trận đồ bát quái chẳng hiểu gì cả. Poker, phé nghe dzậy OK, nhưng cũng không hiều ra sao. Chắc bữa nào phải tìm một anh bạn chỉ giáo vài chiêu để nói chuyện với đời. Quê quá !)

Việt Kiều

Báo Ép phê khi đang cái tựa dùng từ « Việt kiều Pháp » là sai. Người tỵ nạn ở Pháp gốc Việt Nam không phải là Việt kiều. Vì đã là tỵ nạn là chúng ta đã là apatride rồi, chúng ta không có quốc tịch Việt Nam nữa. Chúng ta là người Việt, chứ chúng ta không phải là công dân Việt Nam, nghĩa là chúng ta không phải là người của nước Việt Nam.

Từ ngữ Việt kiều (les resortissants vietnamiens) nên dùng để gọi những người quốc tịch của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với Thông hành Việt Nam (từ Việt cộng gọi là Hộ chiếu). Việt kiều là người quốc tịch Việt cư ngụ tại Pháp và như vậy có giấy tạm trú của Pháp. Nhưng muốn được tạm trú, phải có giấy chứng nhận của Lãnh sự quán Việt Nam, chứng nhận họ là công dân Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, thông hành Việt Nam, phải hoặc là sanh viên ( có ghi danh ở đại học đóng tiền hoặc có học bổng) hoặc làm việc ở một cơ quan Việt Nam thuộc ngoại giao đoàn, hay có hợp đồng làm việc với một công ty địa phương (Pháp) hay ngoại quốc nhưng có địa chỉ tại địa phương (Pháp) và như vậy được cấp thẻ làm việc của Pháp, và đóng thuế lợi tức cho nước mình cư ngụ và làm việc làm nước Pháp. . Người có quốc tịch Việt Nam đi du lịch ba tháng qua Pháp, cũng không được gọi là Việt kiều, nên gọi là người Việt đi du lịch thôi. (les touristes vietnamiens).

3. Thẻ tạm trú, thể đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dìa Việt Nam chơi đây bây ? Lỡ đưa tay thề với thằng Tây là đến Tết Congo, còn thằng Việt Cộng là ta hổng dìa. Nhưng nhớ đồng nhớ ruộng, nhớ mắm con ba khía, nhớ con cá nướng trui, nhớ làng nhớ xóm…làm sao đây bây?

Dễ lắm : dễ ợt. Tòa Đại sứ Việt Nam Công sản ở Paris bèn tổ chức rất điệu nghệ. Mặc dù hồi đó, tụi bây bỏ tao ra đi theo tiếng gọi tư bản nhưng ngày nay tao cũng ráng thương tụi bây vì tình nghĩa khúc ruột ngàn dặm tha hương. Dễ lắm, tụi bây ráng dzô Hội Việt Kiều Đoàn kết (cựu Liên Hiệp Việt Kiều, cựu Việt Kiều Yêu nước Chống Mỹ Ngụy Cứu nước ). Vô Hôi Đoàn kết xong, vì Hôi có Travel Agency – Agence de Voyage của Hôi, Hội sẽ bán giấy đi du lịch Mã lai. Đến Mã lai, Toà Đại sứ CHXHCN Việt Nam sẽ cầp cho một cái giấy rời xuất cảng nhập cảng Mã lai/ Việt Nam/ Mã lai Aller Retour, Khứ hồi Round trip, giá phải chăng. Về Việt Nam incognito, chẳng ai biết, khi về Pháp cũng chẳng thằng Tây nào biết, mình đi du lịch Mã lai mà, báo hại mấy năm đó sao mà thông kê Mã lai thấy sao nhiều khách du lịch ở Pháp tới đông quá vậy ? nhưng sao các khách sạn hổng có khách phương Tây vãng lai ? Thế là dân tỵ nạn phe ta quên hết tất cả lời thề Kinh kha, « một ra đi không bao giờ trở lại », thiên hạ ùn ùn rủ nhau về Việt Nam. Người Việt tây giấy về đã đành, người tỵ nạn càng về đông hơn. Thoạt đầu còn mắc cở với đám bạn bè chống cộng, lén lén lút lút về …chơi tí, thăm má, thăm tía nay đã già . riết rồi cũng chả thành mắc cở gì nữa, bây giờ tranh nhau xem thằng nào về nhiều hơn thằng nào. Riết rồi, nếu lở tía má có mất, thì về xây mồ, sửa mả. Riết rồi … kẹt quá …ở lại hổng xong với bà xã, bỏ về thì nhớ …con nhỏ vừa mới quen. Rồi bắt đầu trong cộng đồng có những chuyện nho nhỏ « wánh ghen wánh tương » … ! Vài gia đình thôi, hổng bao nhiêu, một thiểu số mà !. Thiệt tình ! quý vị nghĩ coi, đi tù Cộng sản, học tập cải tạo tù đày gia đình không bể, ngon lành ; đi kinh tế mới cũng hổng bể, vượt biên cũng ngon lành hổng bể, qua Tây làm cu-li cực như con chó cũng hổng… Nay mới về Việt nam chợi có một hai chiến gì đó, thằng chả gặp con nhỏ, cà chớn, thế là gia đình bể.

Và một buổi đẹp trời ,Việt cộng nó chơi cú xí mứn ! Nó đưa cách danh sách những người tỵ nạn Việt Nam đi lậu về Việt Nam. Ô thôi bỏ mạng sa trường, thằng hành chánh Tây nó thật thà, thôi kệ tụi tỵ nạn, nó nhớ nhà, nostalgie… mà ! Nhưng Cơ quan Offra, nó đâu có chịu vậy, các anh đã hứa mà, … « Có Việt Cộng là tui hổng dìa ». Nhưng nay cac anh dìa. Mất mặt bầu cua, Offra cúp, không cấp thẻ tỵ nạn nữa !. Thế là mất cả, chì chài, ghe thuyền…mất quy chế tỵ nạn là hết đi làm, hết tạm trú, thường trú… Chỉ còn một cách hoặc về Việt Nam, hoặc vô quốc tịch Việt Nam (Cộng sản). Làm Công dân Công sản Việt Nam tại quốc nội hay làm Việt kiều tại Pháp. To be or not to be .. that is the question!

Chúng tôi đã nghe câu chuyện Việt Cộng chơi cú xí mứn nầy một lần vào năm 1988 rồi. Danh sách lúc ấy vào khoảng đô chưa đến 2000 người ? Nhưng lúc bấy giờ, Offra chơi đẹp, lờ đi và nói rằng từ nay, nếu có những chuyện cần thiết, tang ma, hôn lễ gì gì đó thì được phép về, nhưng phải xin phép và phải chứng minh đàng hoàng. Nhưng phe ta ngon lắm ! chả nhẽ đi sợ thằng Tây. Vả lại Việt Cộng cần tiền mình mà, cần mình về du lịch, chơi đâu cũng dzậy, chơi đây cho em nhờ. Mình hằng năm về ào ào, nó đâu có dại gì mà nó giết con gà đẻ trứng vàng. Nhưng than ôi, cũng tại vì tin cái thằng Bàng Quyên mà ngày hôm nay Tôn Tẩn què giò. Và Việt công chơi luôn một cú thứ hai, rồi cú thứ ba …và từ năm 1988 đến năm 2000, chơi tới luôn bác Tài: trên 22 ngàn tên tỵ nạn bị rút thẻ tỵ nạn.

Và kết quả của ngày nay, Việt kiều càng ngày càng đông vì vô dân Việt Công để ở lại làm ăn ở Pháp ( bắt buộc, vì kẹt giỏ, Có thề ở lại như thường trú nhờ có việc làm, với quy chế immigrant/di cư nhưng vẫn apatride). Và cũng nhờ vậy, người tỵ nạn gốc Việt cũng dzô dân Pháp ào ào cho nó phẻ. Bây giờ mỏa français rồi, mỏa dìa Dziệt Nam vã cẳng (vacances), mỏa hổng sợ chết thằng Tây nào cả. Ngày nay không biết mấy ai còn thẻ tỵ nạn Offra nữa không ? và chuyện dài carte de séjour temporaire chắc cũng chẳng mấy ai kể lể nữa.

4. Người Việt tỵ nạn / Việt Kiều

Nếu ai cắt cớ hỏi, ở Pháp có bao nhiêu người Việt Nam, chúng tôi đành chịu thua, không làm sao biết được, thứ nhứt là vì chánh sách Pháp đối với người ngoại quốc nhập tịch không có thống kê theo cộng đồng. Khi một người ngoại quốc đã nhập Pháp tịch, người ấy vào thống kê người Pháp và phía người ngoại quốc giảm đi một đơn vị. Vì không có thống kê kiểu cộng đồng nên không thể biết cộng đồng Việt Nam bao nhiêu người, còn muốn biết thành phần cộng đồng người Việt Quốc gia tỵ nạn Cộng sản sau năm 1975 trở đi thì càng khó nữa vì rất nhiều người vào Pháp tịch, thêm hồi tịch nữa ( những thành phần sanh ở Nam kỳ trước 1954). Chỉ biết chung chung người gốc Việt Nam chúng ta khá đông, ở nhiều xung quanh các thành phố lớn như Paris và vủng phụ cận, gọi chung là Île de France – tên đặc biệt của vùng phụ cận Paris, đừng dịch, đừng tìm hiểu. Île de France là Île de France, hổng phải Đảo Tây Đảo France gì cả. nó gồm Paris (tỉnh Seine số 75) rồi các tỉnh phụ cận, 77,78, 92,93,95, chúng tôi có dịp sẽ nói đến – Người Việt cũng có mặt ở Marseille rất sớm, hồi thời đệ nhứt thế chiến lận, Montpellier, Toulouse, Bordeaux, Lyon… Người Việt hội nhập rất tốt với dân bản xứ. Các thế hệ 2,3 có mặt đầy ở tất cả các nghề nghiệp. Nhưng rất ít người gốc Việt tham gia vào các đoàn thể chánh trị. Vì pour vivre heureux, vivons cachés( Muốn sống hạnh phúc ta nên sống kín đáo). Trái với cộng đồng người Việt ở Mỹ, người Việt ở Pháp sống rất kín đáo.

Nhưng người tỵ nạn Cộng sản ? nhưng tại sao có cái tin của báo Ép phê?

Người Việt tỵ nạn Cộng sản với các tin giựt gân của tờ báo Ép phê cho biết là một sự thật. Người Việt tỵ nạn Cộng sản ở Pháp phần đông không phải tỵ nạn chánh trị, họ chỉ là những người tỵ nạn kinh tế. Vì vậy khi làm ăn thoải mái ở Pháp rồi thì phải về khoe của với bà con bên nhà. Quyền lợi công dân bên Pháp rất bảo đảm. Người Việt Nam quen tằn tiện, 150 grammes thịt bò xào củ hành cả nhà ăn với cơm và nước mắm. Tây mỗi người một miếng bít tết 250 grammes, đủ so sánh rồi. dành dụm tậu nhà tậu cửa. Gia đình con cái lớn vẫn còn ở với cha mẹ. Con cái Tây 18 tuổi là nói đi ra khỏi nhà rồi.

Thiệt tình, theo kinh tế mà nói, thì người Việt phe ta hổng đem lợi nhuận gì cho Tây cả, ăn thì đi chợ Tàu ( nói chợ Việt nam cho đở tủi thân chứ thật sự hàng hóa Tàu nhiều hơn). Người Việt Nam mình ít tiêu thụ, hàng ăn uống thì á đông, sách báo thì cũng á đông, vừa xin, vừa photocopie, tranh ảnh trên tường trang trí thì lịch tàu lịch tây xin về, treo lẫn với hình chụp đi du lịch. Ít thấy nhà một người Việt nam nào có các tranh thật các họa sĩ, có chăng cũng copies căt từ báo. Đi làm, ăn tiền ông chủ Pháp, ăn tiền chánh phủ Phủ, bệnh hoạn có bảo hiểm xã hội Tây lo, đi Bác sĩ miễn phí, uống thuốc pharmacie Tây miễn phí, (lâu lâu cũng gặp người ghiền cạo gió bằng dầu cù là con cọp phải gời mua tận Mã lai hay Singapore, nhưng đó là trường
hợp rấy hiếm hoi, hi hữu).

Vậy thì sắm xế ? Xế thì có tiền đi xế xịn Mercedès. Xế ít tiền, đi xế Toyota, hay Hyundai, nói tóm lại cũng không mua xe Tây. Vây dư tiền làm gì ? dạ thưa , về chơi Việt Nam. Chơi đâu cũng vậy, chơi đây em nhờ. Giờ đây về Việt Nam, ở Hôtel 5 sao, ở Tây ở Mỹ sức mấy mà vào được những Palace 5 sao ấy. Sức mấy mà có bồi bếp phục vụ. Về Việt Nam có cả. Nào Mủi Né, nào Nha Trang… Người Việt ở Pháp, suốt một năm làm thợ, nghỉ hè, nghỉ Tết, về Việt Nam một tháng làm thầy, thôi cũng đặng !

Chỉ tôi nghiệp cho những người còn tâm huyết ký tên thỉnh nguyện với chánh phủ Mỹ, chánh phủ Úc xin hãy đặt điều kiện Nhơn quyền với chánh phủ Việt Nam. Người Việt tỵ nạn chúng ta có ai đặt điều kiện Nhơn quyền với Hà nôi không ? khi hằng năm gởi về 10 tỷ, khi hằng năm trở về du hý, du lịch ? Mình không thể nhờ người ta đấu tranh Nhơn quyền, cho Dân chủ cho Tự do của dân tộc mình khi mình hổng làm gì hết !

Ít hàng tâm sự cùng quý vị, có đụng chạm phật lòng ai, xin mở lòng tha thứ cho người viết.

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

Peter F Drucker:Một con người chính trực

Peter F Drucker  :  Một con người chính trực

(1909 – 2005)

Bài của  :  Đoàn Thanh Liêm

Peter Ferdinand Drucker sinh năm 1909, tại thành phố Vienna, thủ đô nước Áo. Ông mới qua đời tại thành phố Claremont, thuộc miền Nam California vào năm 2005, ở tuổi thọ 96. Trong suốt trên 60 năm ông chuyên dậy học tại nhiều trường đại học ở Mỹ, viết rất nhiều sách chuyên về vấn đề quản lý, và đồng thời còn làm cố vấn cho rất nhiều đại công ty kinh doanh tư nhân, cho các cơ quan chánh phủ tại ba quốc gia Mỹ, Nhật và Canada, và đặc biệt ông đã tận tình hỗ trợ cho các tổ chức thiện nguyện bất vụ lợi.

Có thể nói Peter Drucker là một mẫu người ngoại hạng, với sự nghiệp chuyên môn hết sức lớn lao, và nhất là một nhân cách sáng ngời của sự ngay thẳng chính trực.

Bài viết này xin được giới thiệu chi tiết với quý bạn đọc người Việt về con người sĩ phu trí thức rất mực cao quý này của thế kỷ XX.

A – Học tập ở Âu châu, thành danh ở Mỹ châu.

Sinh trưởng trong một gia đình trí thức tên tuổi, với người cha là một vị luật sư và giáo sư đại học, Peter Drucker ngay từ buổi thiếu thời đã được tiếp xúc với những vị thức giả có tên tuổi lớn tại Âu châu, điển hình như Sigmund Freud là người đã khai sinh ra ngành Phân tâm học (Psychanalysis).

Sau khi tốt nghiệp trung học tại quê nhà vào năm 1927, thì Peter qua học về luật tại đại học Frankfurt bên nước Đức. Tại đây, ông đậu văn bằng tiến sĩ về luật quốc tế và công pháp. Ông chịu ảnh hưởng của bậc đại sư, mà cũng là một người bạn của thân phụ ông, đó là giáo sư Joseph Schumpeter về sự quan trọng của tinh thần sáng tạo và tài năng tháo vát trong lãnh vực kinh doanh. Rồi sau này khi rời bỏ nước Đức lúc Hitler lên cầm quyền vào năm 1933, để qua sống tại Anh quốc, thì ông được thụ giáo với cả vị kinh tế gia lừng danh thời trước chiến tranh là John Maynard Keynes.

Ở tuổi đôi mươi ông đã hăng say tham gia viết báo, làm việc trong ngành bảo hiểm, rồi ngành xuất nhập cảng và ngân hàng tại nước Đức và nước Anh.

Vào năm 1937, với tư cách là đặc phái viên cho một nhóm báo chí Anh quốc, ông qua Hoa Kỳ cùng với người vợ mới cưới là Doris Schmitz. Vào tuổi ba mươi, với tài năng chín mùi, Peter Drucker đã có nhiều cơ hội phát huy sở học và kinh nghiệm thâm hậu của mình. Ông được mời giảng dậy tại nhiều trường đại học tại phía miền đông nước Mỹ như trường New York University trong gần 30 năm. Đồng thời, ông vẫn tiếp tục cộng tác với các tờ báo nổi danh về kinh tế tài chánh như Wall Street Journal, The Economist, Harvard Business Review, và với cả các tờ báo có uy tín hàng đầu như The Saturday Evening Post, The Atlantic Monthly v.v…

Kể từ năm 1945, ông được nhiều đại công ty như General Motors mời làm cố vấn. Tính ra ông đã nhận làm cố vấn cho trên 50 công ty tầm cỡ rất lớn như General Electric, Coca Cola, IBM, Citycorp, Intel… Ông cũng được giới doanh nhân ở Nhật rất tín nhiệm và mời ông vào chức vụ cố vấn cho các vị giám đốc của Toyota Motor Corp., Ito-Yokado Group v.v… nữa. Đó là chưa kể đến việc làm cố vấn miễn phí cho các tổ chức bất vụ lợi như Hội Nữ Hướng đạo Mỹ, Salvation Army, Hội Hồng Thập Tự, tổ chức CARE v.v…

Sau đó vào thập niên 1970, thì ông qua California, tiếp tục việc dậy học và làm cố vấn cho nhiều cơ sở kinh doanh tại phía bờ biển miền tây nước Mỹ. Ông giữ chức vụ Giáo sư về Khoa học Xã hội và Quản trị tại trường Cao học về Quản trị Claremont, mà sau này được đổi tên là “Peter F. Drucker School of Management” để vinh danh ông vào năm 1987. Lớp học cuối cùng ông dậy tại trường này là vào năm 2002, lúc ông đã bước vào tuổi 92.

Về sự nghiệp biên soạn sáng tác, ông đã cho xuất bản 39 cuốn sách, phần lớn bàn về vấn đề quản trị, mà điển hình là cuốn “The Practice of Management” xuất bản năm 1954 và cuốn “Management : Tasks, Responsabilities, Practices” xuất bản năm 1973. Riêng về lãnh vực các tổ chức bất vụ lợi, thì có cuốn viết năm 1990 với nhan đề : “Managing the Non-Profit Organisation : Principles and Practices”. Phần lớn các sách của ông đã được dịch ra trên 30 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

B – Các giai thọai về nhân vật xuất chúng Peter Drucker.

Ít có nhân vật nào mà lại xông xáo họat động năng nổ tích cực trong cả ba khu vực cấu thành “không gian xã hội” như là Peter Drucker (the social space bao gồm khu vực Nhà nước, khu vực Thị trường kinh tế và khu vực Xã hội dân sự). Ông giúp cho các nhà lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như giám đốc công ty xí nghiệp tư nhân trong việc họach định được một chính sách tối ưu. Mà đặc biệt ông còn hỗ trợ hết mình cho các tổ chức phi chánh phủ, bất vụ lợi thực hiện được những thành tựu tốt đẹp cao nhất trong công cuộc phục vụ nhân quần xã hội.

Những khám phá của ông trong lãnh vực quản lý xí nghiệp đã trở thành một huyền thọai, được truyền tụng trong giới doanh nhân cũng như trong giới hàn lâm đại học. Nhiều người đã gọi ông là nhà tư tưởng táo bạo, một triết gia của xã hội kỹ nghệ đang ở vào giai đọan phát triển cao độ. Lớp học do ông giảng dậy thu hút quá đông sinh viên theo học, đến nỗi nhà trường phải sử dụng cả khu tập thể dục mới có đủ chỗ rộng rãi cho thầy trò sinh họat, trao đổi thảo luận với nhau cho thoải mái được

Một cựu sinh viên kể lại câu chuyện như sau : Dù lớp học đày ắp sinh viên, mà giáo sư Drucker vẫn tìm cách nêu các câu hỏi gợi ra sự tranh luận sôi nổi giữa cử tọa. Có lần ông hỏi cả lớp như thế này đây : “ Các bạn cho tôi biết sự kiện nào nổi bật, gây ảnh hưởng nhất trong thời gian 100 năm gần đây trong xã hội nước Mỹ? Các sinh viên lần lượt kê ra, nào là sự phổ biến điện thọai, điện lực, hai cuộc thế chiến, cuộc khủng hỏang kinh tế …Tất cả các câu trả lời đều bị giáo sư lắc đầu, từ chối. Cuối cùng thì ông cho chúng tôi biết : Đó là việc sản xuất xe hơi hàng lọat (the mass production of automobile), vì nó tạo cho giới nông dân phương tiện để chở vợ con ra thành phố vào cuối tuần – nhờ đó mà họ mới tránh được lọai bệnh tâm thần do sự cô lập quạnh hiu ở nông thôn gây ra… Đây quả thật là một lối suy luận độc đáo, bất ngờ khiến cả lớp chúng tôi cứ nhớ hòai!”

So với các bậc tiền bối, thì quả thật Peter Drucker là thứ “hậu sinh khả úy”, là môn đệ mà đã vượt qua cả bậc sư phụ của mình. Cụ thể như đối với Frederik Taylor (1866 – 1915) là người khai sáng ra môn tổ chức công việc sản xuất theo khoa học nhằm nâng cao năng xuất trong kỹ nghệ, thì Drucker đã bổ túc môn này bằng cách mở rộng sự nghiên cứu trong lãnh vực văn hóa, quan hệ nhân bản, và nhất là viễn tượng tương lai đối với những thách đố và khả năng trong xã hội kỹ nghệ. Và đối với John Maynard Keynes (1883-1946) thì cũng vậy, Drucker đưa thêm vào lý thuyết định lương vĩ mô (macro-economics) của vị đại sư này cái phương pháp nghiên cứu về động thái con người (behavior of people); như vậy là làm tăng thêm khía cạnh nhân bản trong lãnh vực kinh tế vi mô (micro-economics).

Các giám đốc công ty đã không tiếc lời ca ngợi vị đại sư Peter Drucker. Điển hình như Andy S. Grove của công ty Intel Corp., thì đã viết : “Lời khuyến cáo của ông đã ảnh hưởng đến không biết bao nhiêu hành động hàng ngày tại các xí nghiệp. Và riêng đối với tôi, thì cái ảnh hưởng đó đã kéo dài liên tục trong nhiều thập niên”. Tom Peters thì gọi Drucker là người đã sáng lập ra môn khoa học quản lý hiện đại; ông là người đầu tiên đã cung cấp cho chúng ta thứ dụng cụ để quản lý những tổ chức kinh doanh mỗi ngày càng trở thành phức tạp hiện nay.

C – Con người ngay thẳng chính trực.

Nhưng Peter Drucker còn làm cho bao nhiêu người mến phục bởi sự ngay thẳng chính trực lạ thường của ông. Ngay từ thời còn ở bên nước Đức, lúc mới có 23-24 tuổi, ông đã viết một cuốn sách về nhà triết học Friedrich Julius Stahl, mà đã bị chính quyền Đức quốc xã tịch thu và cho đốt hết đi. Mấy năm sau, thì cuốn sách thứ hai nhan đề “Vấn đề Người Do Thái tại nước Đức” cũng lại chịu chung số phận đó. Đến nỗi mà hiện nay chỉ còn sót lại một cuốn duy nhất trong văn khố nước Áo với dấu hiệu chữ vạn đóng trên bìa sách.

Được nuôi dưỡng theo truyền thống nghiêm túc của đạo Tin lành, Peter Drucker đã sống và hành động theo những nguyên tắc chặt chẽ về luân lý và đạo hạnh. Mặc dầu được các đại công ty trả lương rất hậu cho dịch vụ cố vấn của ông, Drucker cũng không ngần ngại phê phán những thiếu sót bất cập của giới doanh nghiệp tại Mỹ. Khi được biết giới đứng đầu doanh nghiệp dành cho mình những bổng lộc quá lớn, lên đến cả trăm lần lương của người công nhân bình thường, ông đã không  cầm được sự giận dữ và lên tiếng phê phán gắt gao chuyện này. Ông nói : “Đó là điều không thể tha thứ được, xét về mặt luân lý cũng như về mặt xã hội; và chúng ta sẽ phải một cái giá nặng nề cho tình trạng này.” (This is morally and socially unforgivable, and we will pay a heavy price for it). Ông còn ghi rõ là : “ Thâu nhập của người giám đốc không được gấp quá 20 lần mức lợi tức của người công nhân”.

Thất vọng trước sự sa sút về phương diện giá trị đạo đức của giới doanh nghiệp Mỹ, ông đã phải thốt lên : “Đó là sự thất bại cuối cùng của chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp” (the final failure of corporate capitalism).

Và kết cục là ông đã dành hầu hết thời giờ và năng lực vào việc yểm trợ cho các tổ chức bất vụ lợi. Đó là lãnh vực xã hội dân sự, mà ông tin tưởng sẽ góp phần quan trọng vào việc phục hồi lại hệ thống giá trị tốt đẹp truyền thống của nước Mỹ. Ông đặc biệt dành sự ưu ái cho mục sư và cũng là một tác giả nổi danh với cuốn sách bestseller “The Purpose-driven Life” Rick Warren của Nhà thờ Saddleback tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam miền Nam California. Vị mục sư này thuật lại rằng : Ông Peter Drucker căn dặn tôi : “Chức năng quản lý trong một nhà thờ là làm cho nhà thờ đó mỗi ngày đích thực là nhà thờ hơn, chứ không phải là một loại tổ chức kinh doanh (to make the church more churchlike, not more businesslike). Như vậy thì nhà thờ mới có thể thực hiện đúng sứ mệnh riêng biệt của mình.”

** Tóm tắt lại, ta có thể ghi nhận rằng Peter Drucker là một mẫu người ngoại hạng của thế kỷ XX. Sự đóng góp chuyên môn trong việc giáo dục đào tạo nhiều thế hệ sinh viên trong ngành quản trị doanh nghiệp, trong sự nghiệp trước tác, cũng như trong việc cố vấn hướng dẫn cho giới lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như xí nghiệp tư nhân, và nhất là trong sự yểm trợ cho các tổ chức bất vụ lợi thuộc khu vực Xã hội Dân sự, thì thật là lớn lao vĩ đại ít người nào có thể sánh kịp được.

Mà còn hơn thế nữa, cái nhân cách trong sáng và tính ngay thẳng chính trực của ông mãi mãi là một tấm gương cao quý cho giới sĩ phu trí thức cùng khắp thế giới hiện nay noi theo vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Hai Thế Hệ, Một Tấm Lòng

Hai Thế Hệ, Một Tấm Lòng

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Huống chi chúng mình cũng là người có đôi chút chữ nghĩa Thánh Hiền.

Cho nên có vài hàng tâm sự.

Thấm thoát mà đã 40 năm, từ khi cha mẹ tay bế tay bồng mang bầy con chạy trốn trước nguy cơ trả thù của những người thắng cuộc. Bây giờ, các bậc cha mẹ này đều ở tuổi trên dưới “cổ lai hy”. Nghĩ lại mà thấy kinh hoàng. Vì so với thời gian “Tôi xa Hà nợi năm lên mười tám khi vừa biết yêu”, rồi 20 năm “Bắc Kỳ Di Cư”, thì thời gian lưu vong xa xứ quá dài. Những 40 năm!.Và họ đã nghĩ đến trách nhiệm của các con trong nối tiếp công việc gia đình, xã hội.

Di tản tới một môi trường hoàn toàn mới lạ, cha mẹ đã phải vất vả cực nhọc lắm để gây dựng lại cho con cái.

Với tuổi đời trung bình từ 35 tới 40, họ phải bắt đầu lại từ số không với rất nhiều khó khăn.

Anh ngữ là trở ngại đầu tiên. Chỉ có một số nhỏ có tiếp xúc với nhân viên các quốc gia đồng minh là nói được chút đỉnh tiếng Anh. Còn hầu hết không nói được ngôn ngữ này. Mà không có ngôn ngữ thì rất khó hội nhập vào quốc gia mới. Có nhiều giai thoại rất vui về sự “đàm thoại bằng tay” này. Một lão bà, đi máy bay, mót tiểu, cứ ôm lấy cô chiêu đãi viên hàng không mà la “Rét Run! Rét Run!”. Cô ta không hiểu mô tê ất giáp gì. Nhưng khi bà cụ chỉ tay xuống bụng dưới , nhăn mặt là cô ta biết ý đưa bà cụ vào cầu tiêu…

Kiếm việc là trở ngại kế tiếp. Đa số các bậc làm cha mẹ khi đó là quân cán chính cũ ở Miền Nam, làm việc văn phòng hoặc đánh trận. Cho nên vào Mỹ là không có một nghề nào có thể xin việc được ngay. Ở xứ này, nghề nào cũng cần giấy phép hành nghề. Ngoại trừ nghề rửa chén, lau nhà. Do đó đa số bắt đầu với các công việc tương tự. Để có tiền cấp bách nuôi dưỡng con cái đi học rồi mới nghĩ tới việc học tiếng Anh, học nghề cho mình.

Rồi thích nghi với nếp sống văn hóa Mỹ quốc.

Văn hóa mình vốn kín đáo, dè dặt, ít nói người Mỹ thì cởi mở, nghĩ sao nói vậy và nói thật nhiều. Họ sẵn sàng tranh luận, phê bình để làm tỏ vấn đề thì ta“ chín bỏ làm mười”, “ai sao tôi vậy”. Nhưng về nhà thì ấm ức, không vui nếu ý kiến của mình bị bác bỏ.

Họ hướng ngoại, quan tâm tới sự việc chung quanh, còn các cụ ta phần nhiều chỉ nhìn về phía mình, làm một mình…. Vì thế trong những giao tiếp, họ thấy mình quá thụ động và bị hiểu nhầm là bất hợp tác. Cho nên khoảng cách hiểu nhau lại càng xa ra.

Ngay cả với con cái, dân Mỹ cũng có đối xử khác với mình. Họ coi con cái vừa là con vừa là bạn. Đôi bên có sự thảo luận, tìm hiểu rất cởi mở để đi đến hành động.

Còn khá đông các bậc làm cha mẹ Việt thì vẫn ôm lấy mớ kinh nghiệm hơi xưa của mình mà không chấp nhận lối suy tư, hành động của con trẻ. Các vị vẫn theo tập tục cũ, có nhiều ra lệnh, cưỡng bách mà không có đối thoại, chia xẻ. Các cụ không hiểu, không đánh giá đúng khả năng của con cháu. Và khi gặp sự đối kháng thì các vị lại hờn dỗi, tủi thân, cho là hết quyền lực với con cái…

Và nhiều vất vả khác nữa để vươn lên.

Nhưng chỉ với những kiên nhẫn, cần cù, chung lưng đấu cật với nhau mà các gia đình tỵ nạn Việt đã tạo ra một thế đứng vững vàng trên đất Mỹ. Họ đã có những cơ sở thương mại tương đối thỏa đáng; đã có những việc làm ở hạng trung, không đến nỗi “ chân lấm tay bùn”. Con cái họ đã đạt được nhiều thành tích sáng chói tại học đường. Nhiều cháu đã tham dự vào việc tham mưu, điều hành chính quyền từ liên bang tới địa phương, đại diện dân cử cũng như trong các lãnh vực y tế, khoa học, giáo dục và ngay cả trong quân đội. Và cũng đóng góp nhiều vào sự “dễ thở hơn” cho đồng bào nghèo khó ở quê hương.

Sự thành công của người Việt tỵ nạn đã làm ngạc nhiên không ít cho dân bản xứ. Và đôi khi họ cũng nhìn mình với con mắt ghen tỵ. Và nhiều người đã ví von rằng Nữ Thần Tự Do còn quay lưng về phía châu Á, hướng về trời tây, đón mừng dân da trắng châu Âu cơ mà.

Sau gần 35 năm xa xứ, nhiều bậc làm cha mẹ xưa kia bây giờ cũng đã “ mỏi gối, chùn chân”.Tuổi đời chồng chất. Sức khỏe không còn hùng dũng như xưa. Thị lực giảm, thính giác khi nghe khi không. Bước chân đi đã bắt đầu nghiêng ngả. Vì mấy chục năm chiến tranh, tù đầy hành hạ. Cộng với 40 năm vất vả lập nghiệp từ hai bàn tay trắng..

Họ đã nghĩ tới việc bàn giao trách nhiệm cho các con. Trách nhiệm nối dõi tông đường. Trách nhiệm với cộng đồng mình, với đất tạm dung. Và nhất là trách nhiệm với quê hương xứ sở.

Với gia đình, họ kiêu hãnh nhìn bầy con trưởng thành, thịnh vượng, dâu rể, cháu chắt đoàn tụ. Như vậy là họ yên lòng. Chúng có phận của chúng. Vợ chồng già bây giờ “ An hưởng Tuổi Vàng” với nhau. Mọi sự chắc sẽ an lành cho tới ngày ra đi.

Với cộng đồng mình thì còn nhiều điều cần để tâm.

Làm sao cộng đồng đoàn tụ, nương nhau mà tiến tới, mà hội nhập với dòng chính bản xứ. Tranh đấu cho các quyền lợi y tế xã hội cũng như giáo dục cho nhóm thiểu số mình. Hướng dẫn đồng hương về các quyền lợi cũng như trách nhiệm với đất tạm dung. Quyền của người công dân Hiệp Chủng Quốc, tự do ngôn luận, tự do cư trú, tự do tôn giáo…Những thứ mà đồng bào mình rất thiếu ở quê hương.

Nhưng mình cũng có những trách nhiệm phải làm. Đóng góp xây dựng, bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi Hoa Kỳ, nhiệm vụ bầu cử ( và quyền ứng cử nữa chứ) và các nhiệm vụ khác. Đa số chúng ta đã là người Mỹ gốc Việt rồi mà.

Rồi bảo vệ văn hóa, truyền thống Việt Nam.

Mỹ quốc là những trộn lẫn của nhiều văn hóa khác nhau. Các sắc dân khác duy trì văn hóa của họ được thì ta cũng có thể làm được. Nếu chúng ta ngồi lại với nhau. Tương nhượng, khoan dung nhau để đi tới mục đích, dù đường lối có thể khác nhau. “ Mọi con đường đều đưa tới cổ thành La Mã. Hơn nữa, chúng ta còn có cả “ Bốn Ngàn Năm Văn hiến” hỗ trợ cơ mà.

Đó là trách nhiệm cộng đồng mà thế hệ đi sau có bổn phận phải gánh vác. Với sự khích lệ, góp ý của thế hệ đi trước và với một chút nền móng mà thế hệ này trao lại.

Với quê hương, đất nước thì công việc dường như phức tạp hơn.

Có người nghĩ là nó hơi ở ngoài tầm tay của chúng ta. Chúng ta đã cố gắng. Chúng ta đã xử dụng rất nhiều nhiệt tâm. Mà kết quả dường như khiêm nhường. Và đã có người trông cậy ở giới trẻ. Giới trẻ trong và ngoài nước.Vì thường thường giới trẻ thực tiễn và cởi mở hơn. Họ có nhiều sáng tạo, hoài bão ước mơ. Họ dám làm, dám thử lửa.

Trong nước, giới trẻ quan tâm tới các nhu cầu canh cải điều hành, phát triển kinh tế, thay đổi giáo dục, bảo vệ lãnh thổ. Họ đang tích cực nhìn ra bên ngoài, để học hỏi, cầu tiến. Như các tiền nhân ta trong phong trào Đông Du thuở trước. Đóng cửa, bế quan tỏa cảng chỉ đưa tới diệt vong, hậu tiến.

Bạn trẻ mình ở nước ngoài thì kiến thức rộng, kỹ thuật cao, sẵn sàng đóng góp tiếp tay với lớp cùng lứa tuổi trong nước. Khi hoàn cảnh thuận tiện. Hy vọng là giữa họ, có một tương quan tốt về tâm tư, ý chí và rất ít tị hiềm, phe đảng.

Đất nước quê hương là của mọi con dân, dù viễn cư hay tại xứ. Chia nhau công việc hỗ trợ nhau mà làm chứ chẳng nên chuyên chính, tập trung cũng như không theo phương thức của ta là chao đảo, tay sai.

Trong nước cũng như ngoài nước, lớp người sinh trước, thì lần lượt cũng  hai tay buông xuôi. Cũng trao lại bó đuốc cho lớp đến sau. Hy vọng là những bó đuốc được sửa soạn chu đáo và mang nhiều nhiệt tình, tốt ý.

Một điều mừng là lớp trẻ trong ngoài đều sẵn sàng lãnh đuốc. Nhiều người sốt ruột đợi chờ. Họ đã từng tâm sự: “Chúng cháu chỉ đợi các bác, các chú giao cho là chúng cháu sẵn sàng”.

Và nhiều người lạc quan nghĩ là họ sẽ thành công.

Để làm đẹp cho quê hương cũng như cộng đồng.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

www.bsnguyenyduc.com

Trước phán quyết đau buồn của Tối Cao Pháp Viện Mỹ về hôn nhân, người Công Giáo được kêu gọi sống chứng nhân

Trước phán quyết đau buồn của Tối Cao Pháp Viện Mỹ về hôn nhân, người Công Giáo được kêu gọi sống chứng nhân
Trần Mạnh Trác

Mặc dù Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ công nhận quyền hôn nhân đồng tính, Hội đồng giám mục Hoa Kỳ lên tiếng kêu gọi người Công Giáo hãy can đảm sống chứng nhân cho sự thật của hôn nhân.

“Bất kể những gì đa số nhỏ hẹp của Tòa án Tối cao đã tuyên bố tại thời điểm này trong lịch sử, bản chất của hôn nhân cuả loài người vẫn không thay đổi và không thể thay đổi,” Đức Tổng Giám Mục Joseph Kurtz của Louisville, chủ tịch hội đồng các giám mục Hoa Kỳ cho biết.

“Chúa Giêsu Kitô, chuá cuả tình yêu, đã dạy rõ ràng rằng hôn nhân ngay từ khởi đầu là sự hợp nhất suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà,” Tổng Giám mục Kurtz nói thêm. “Là giám mục Công Giáo, chúng tôi đi theo chân cuả Chúa và chúng tôi sẽ tiếp tục giảng dạy và hành động theo sự thật này.”

Trong một quyết định 5-4 ngày thứ Sáu, Tối Cao Pháp Viện đã phán quyết vụ Obergefell v. Hodges rằng, theo Tu chính án thứ mười bốn, các tiểu bang phải cấp giấy phép kết hôn cho các cặp vợ chồng đồng tính và công nhận hôn nhân đồng tính cuả các tiểu bang khác.

Tu chính án thứ mười bốn bảo vệ quyền của mọi công dân được “sống, tự do, và tài sản” trên mặt luật pháp, bảo đảm cho họ “sự bảo vệ bình đẳng trên pháp luật” ở các tiểu bang. Trong trường hợp này, tòa án phán quyết rằng định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ tước đoạt các cặp đồng tính quyền kết hôn hợp pháp của họ.

Phán quyết lật ngược quyết định tháng mười cuả toà thượng thẩm quận 6 của Mỹ đã duy trì luật hôn nhân truyền thống ở các tiểu bang Michigan, Ohio, Kentucky và Tennessee. Sau phán quyết này thì hôn nhân đồng tính trở thành hợp pháp trên tất cả 50 tiểu bang.

Mặc dù Tòa án công nhận quyền hợp pháp cuả hôn nhân đồng tính, người Công Giáo phải dạy và làm chứng cho hôn nhân thật sự, các giám mục Hoa Kỳ khẳng định.

“Ý nghĩa độc đáo của hôn nhân như là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ đã được ghi trong cơ thể cuả chúng ta là nam và nữ,” Tổng Giám mục Kurtz phản ánh.

“Việc bắt buộc định nghĩa lại hôn nhân trên khắp đất nước là một lỗi lầm bi thảm làm tổn hại đến lợi ích chung và đến những thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta, đặc biệt là trẻ em. Luật pháp phải có nhiệm vụ hỗ trợ quyền cơ bản của mọi đứa trẻ là được giáo dục, nếu có thể, bởi cả cha và mẹ của mình trong một gia đình ổn định. ”

Mặc dù phán quyết, người Công Giáo cần tiếp tục rao giảng sự thật về bản chất của hôn nhân với “đức tin, hy vọng và tình yêu” cho tất cả mọi người, và mời gọi “tất cả mọi người hiện chí” hổ trợ người Công Giáo trong việc ” tự do tìm kiếm, sống và làm chứng cho sự thật ”

Phán quyết “sẽ không kết thúc các cuộc tranh luận về hôn nhân và tại sao nó quan trọng đối với chính sách công,” là lời cuả bà Jennifer Marshall, Phó chủ tịch viện ‘gia đình, cộng đồng, và cơ hội’ (the Institute for Family, Community, and Opportunity) cuả viện Heritage Foundation.

Các chuyên gia pháp lý thừa nhận rằng sau phán quyết Obergefell này, thì sự hỗ trợ cho ‘hôn nhân thật sự’ sẽ gặp nhiều trở ngại xã hội và pháp lý đáng kể.

“Định nghĩa lại hôn nhân để trở thành một định chế vô giới tính như thế sẽ thay đổi cơ bản cuả hôn nhân”, ông Ryan Anderson, chuyên viên nghiên cứu về định chế và chính sách công của Mỹ tại Heritage Foundation cho biết.

“Nó làm cho mối quan hệ (hôn nhân) dựa vào những mong muốn của người lớn nhiều hơn là về những nhu cầu và quyền lợi của trẻ em,” ông nói thêm.

“Chúng ta cần phải làm việc nhiều hơn để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo của những người tiếp tục tuân theo sự thật của hôn nhân là giữa một người đàn ông và một người phụ nữ.”

Tòa án Tối cao cũng đã trở thành “những người cổ võ ” cho việc tái định nghĩa hôn nhân, một vấn đề mà chính ra phải được giải quyết qua tiến trình dân chủ, theo ông Caleb Dalton, một cố vấn pháp lý cuà Alliance Defending Freedom (Liên minh Bảo vệ Tự do.)

Tòa án đã “phát minh ra một quyền hiến pháp mới,” ông Dalton nói.

“Tu chính án thứ mười bốn không đề cập đến hôn nhân, nhưng ngày nay Tòa án tối cao đã quyết định rằng họ biết nhiều hơn hàng triệu người Mỹ về những chính sách xã hội nào là tốt nhất đối với Hoa Kỳ.”

Phán quyết này tạo ra sự xung đột pháp lý giữa những vấn đề về hôn nhân và vấn đề tự do tôn giáo ở cấp quốc gia, và hậu quả cho tự do tôn giáo có thể là nghiêm trọng, ông Dalton lưu ý.

Những xung đột như thế đã xảy ra trong các tiểu bang hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, và nhiều chủ doanh nghiệp phải đã bị kiện cáo vì lý do phân biệt đối xử khi họ từ chối phục vụ những đám cưới đồng tính vì lý do tôn giáo.

Bây giờ hôn nhân đồng tính trở thành hợp pháp trên toàn quốc, nhiều vụ kiện như thế này có thể sẽ xảy ra.

Dân trí mình đúng thấp thật rồi, cảm ơn đảng và nhà nước!

Dân trí mình đúng thấp thật rồi, cảm ơn đảng và nhà nước!

THĐP

Ảnh: Chris Goldberg

Ảnh: Chris Goldberg

Câu nói của ông đại biểu: “Dân trí nước ta còn thấp.” Bị người dân, chủ yếu dân mạng phản đối ầm ĩ. Còn lại đa phần số đông, những người dân, người lao động không bao giờ online thì chẳng biết, chẳng bận tâm. Mà cho dù có biết đi chăng nữa thì cũng kệ vì chả thấy liên quan gì tới mình. Đấy, mình bị cái đứa mình nuôi nó chửi thẳng mặt là ngu mà cũng không biết, không quan tâm, thì thử hỏi mình có ngu thật hay không?

Chưa kể,

Dân trí cao cỡ nào khi mà ngoại trừ những người quan tâm chính trị ra thì còn mấy ai biết cụ thể công việc, trách nhiệm của những chức danh như Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy ban mặt trận Tổ Quốc… là cái gì? Họ làm những công việc gì? Trách nhiệm của họ đến đâu? Tại sao ông Đại Tướng chẳng bao giờ thấy mặt mũi trên các thông tin chiến trận ngoại trừ có mặt ở một vài cuộc họp vớ vẩn với ngoại bang? Tại sao những vụ doanh nghiệp Nhà Nước thua lỗ động trời không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay nói một lời xin lỗi?

Dân mù tịt không biết đâu mà lần, thậm chí cũng là không quan tâm chút nào hết. Thế thì hỏi có là ngu không? Ngu vì không được dạy hay ngu vì không biết tự tìm hiểu hay ngu vì tìm hiểu mãi cũng không ra… Dù cho là ngu vì bất cứ lý do gì thì vẫn là ngu. Ngu thì là dân trí thấp. Đúng quá rồi còn gì.

Dân trí có cao không khi đa phần người dân không hề muốn nghe muốn nói đến chuyện chính trị vì cho rằng nó không liên quan tới cuộc sống của mình. Không hề biết rằng chuyện chính trị chính là quyền của mình để lập ra một chính phủ có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của mình.

Chính trị chính là nội dung giáo dục con cái mình nên người. Chính trị chính là niềm tự hào dân tộc của dân mình khi bước ra khỏi đất nước. Chính trị chính là liều thuốc con mình tiêm vào người, là con đường mình đi, là hàng hóa mình tiêu thụ, là không khí mình hít thở, là sức khỏe của chính mình và gia đình mình?

Tách rời chính trị khỏi cuộc sống và trách nhiệm của bản thân trong khi nó ảnh hưởng sâu sắc và gắn liền mật thiết đến nhau. Cho rằng nó thì không liên quan đến mình, mình thì không làm gì được nó, thì thử hỏi có ngu không, có dân trí thấp không?

Dân trí cao cỡ nào mà để cho Trung Quốc nó ngang nhiên chiếm đảo chiếm đất xây dựng sân bay, công trình mà vẫn im lặng không nói một lời.

Dân trí cao chắc chắn sẽ phải biết biểu tình và giữ im lặng khi bị bắt là hai trong những quyền cơ bản nhất của con người trên bất cứ vùng đất văn minh nào.

Dân trí cao thì đâu thể im lặng đi trên những cây cầu mới xây đã sập, bê tông cốt tre, đường cao tốc sóng trâu, công trình trăm ngàn tỷ vừa khánh thành đã hư hỏng, đập nước bờ kè mưa một trận đã sụt lún…

Dân trí cao thì nỡ nào mà để người dân mình tự lừa đảo người mình, tự đầu độc dân mình, tự làm hại đồng bào mình. Giúp người ta tiêu thụ hóa chất độc hại, nông sản độc hại còn nông sản của dân mình thì phải đổ bỏ đi vì thừa mứa và rẻ mạt.

Dân trí cao thì sao để chính quyền tự ý lấy thuế xây cái miếu vài trăm tỷ thờ một ông học giả ngoại bang rồi còn trơ trẽn tuyên bố xây thế thôi chứ chưa quyết định thờ ai. Hẳn là chính quyền dư nhiều tiền lắm. Nhưng dư tiền sao lại phải đi vay Trung Quốc tiền xây cái đường tàu cao tốc để rồi bị họ chèn ép. Dư tiền sao lại phải đi vay viện trợ bảo vệ môi trường trong khi tiền phí bảo vệ môi trường thì tận thu từ trong giá xăng giá điện?

Dân trí cao thì sao mà có mấy chuyện hy hữu cười ra nước mắt rằng cuộc sống của ta là hạnh phúc nhất, yên bình nhất.

Dân trí cao làm sao chịu nổi khi chính quyền làm được một việc nhỏ thì bắt dân mang ơn, tạc tượng. Còn khi chính quyền làm sai những việc tày đình thì không cần xin lỗi, từ chức, chịu trách nhiệm, chỉ cần rút kinh nghiệm là xong?

Dân trí cao thì hẳn đã chẳng phải xấu hổ khi dân ta ra nước ngoài mang bao tiếng xấu, trộm cắp, mại dâm, vô ý thức vô văn hóa.

Nếu dân trí mà có cao thì phụ nữ Việt đã chẳng phải lũ lượt ra nước ngoài bán dâm, bị mua làm vợ, bị hành hạ, bị xúc phạm. Người dân Việt đã chẳng phải qua Cam, qua Lào làm giúp việc, lao động nặng nhọc, chui nhủi.

Nếu dân trí mà không thấp thì hàng trăm ngàn sinh viên thạc sĩ tiến sĩ ra trường hẳn đã phải có công ăn việc làm, có những đồ án, công trình giúp ích cho cộng đồng chứ không xếp hàng dài thất nghiệp ăn bám gia đình xã hội.

Nếu dân trí cao thì hẳn phải biết đất nước đã đi thụt lùi thế nào sau những năm tháng “giải phóng”. Từ một nước tự sản xuất được xe hơi nội địa thành một nước không sản xuất được con ốc con vít. Từ một nước được miễn phí học hành, y tế biến thành có nhiều tiền cũng chưa chắc có được môi trường học hành, y tế đủ tốt. Từ một nước được bao nước thèm muốn, ước ao trở thành một nước bị xem thường.

Nếu dân trí cao hẳn đã phải nhận ra những mâu thuẫn, nhìn thấy những sự thật đang được giấu kín thay vì nói gì biết đấy, kêu gì làm đấy.

Nếu dân trí cao liệu có để cho các ngài lãnh đạo xem như trò hề, muốn làm gì thì làm, muốn chặt cây thì chặt, hứa một đằng làm một nẻo, muốn thay cây gì thì thay, muốn bán đất cho ai, bán tài nguyên cho ai, cho ai thuê đất bao lâu thì cho.

Nếu dân trí cao hẳn không thể để mặc cho những người được mình ủy quyền lộng hành tác oai tác quái. Sâu mọt khắp nơi từ trung ương đến địa phương, từ trong ra ngoài, từ lớn đến bé, từ xưa đến nay mà không một động thái ngăn cản.

Nếu dân trí cao người ta hẳn sẽ phải thích đọc sách hơn xem truyền hình, thích nghiên cứu tìm hiểu hơn là đọc tin tức giải trí. Nhưng xem kìa, Việt Nam là một trong những nước đọc sách ít nhất thế giới.

Nếu dân trí cao thì hẳn sẽ không cười xòa khi đọc tin tức “Cá mập cắn đứt cáp” “Nhím gà dê hỗ trợ nông dân đi lạc vào nhà bí thư, chủ tịch”.

Nếu dân trí cao hẳn người dân phải biết hợp sức lại, biết cất tiếng nói của mình, biết liên kết với nhau tạo nên sức mạnh.

Và quan trọng nhất, nếu dân trí cao thì người dân chắc chắn phải biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mình, với dân tộc mình.

Đấy, xin mời các bạn xem lại, tự vấn lại bản thân một chút. Rằng so với một vài biểu hiện của dân trí cao như trên, thì tự xem dân trí của mình có cao không? Nếu có, thì xem tiếp, xung quanh mình có bao nhiêu người có dân trí cao giống mình trên tổng số người mình quen biết và tiếp xúc hàng ngày? Còn nếu không, thì thôi, ông đại biểu nói đúng, dân trí mình thấp thật, nói thẳng tuột, mình thật là ngu, dân mình cũng ngu, rất ngu, đấy là sự thật không còn nghi ngờ và bàn cãi gì nữa.

Ấy thế thì, thay vì phản bác và chê trách ông đại biểu, người dám nói dân trí ta thấp, thì có lẽ, nên tuyên dương ông. Vì dám nói ra sự thật, sự thật mà các ngài lãnh đạo đều biết nhưng chưa ai có can đảm nói. Nhưng mà cũng không được, vì ông đại biểu này khi bị phản đối đã lại kịp có bài thanh minh rằng ông ta không nói ra điều đó. Ý ông không phải vậy, dân hiểu lầm ý ông rồi. Đấy, lại một lần nữa, dân trí thật thấp, thật ngu, lãnh đạo phát biểu gì người dân cũng hiểu lầm hết.

Từ “dân trí thấp” “quyền im lặng và biểu tình là nguy hiểm” “xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc” “nước ta còn dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản” “đa số người dân ủng hộ chặt cây” “chưa quyết xem thờ ai trong miếu” “chúng ta phải cố gắng xây dựng quân đội mạnh như Triều Tiên” “dân sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai”…

Đấy, câu phát ngôn nào cũng bị người dân hiểu lầm. Thế thì giờ sao? Lãnh đạo phải coi lại cách phát biểu sao cho dân hiểu. Hay người dân phải cố mà hiểu cho đúng ý lãnh đạo? Ôi tôi cũng không biết nữa, vì như đã nói, dân trí tôi thấp lắm. Sao hiểu được ý mấy ông. Nhưng mà dù dân trí tôi thấp đi chăng nữa, thì có một điều tôi dám cam đoan, rằng bất kể chuyện gì xảy ra bất kể kết quả thế nào, cũng là nhờ ơn Đảng và Nhà Nước. Nên dù cho cả nước có bị dân trí thấp, tôi cũng xin thay mặt toàn dân, cảm ơn Đảng và Nhà Nước!

Hỡi những ký giả Việt Nam

Hỡi những ký giả Việt Nam

Kantcer

Featured Image: Drew Coffman

Ảnh: Drew Coffman

Bạn có thấy báo chí Việt Nam hiện nay như đống giấy lộn? Tất cả đều không có một chút gì ý nghĩa. Nếu so sánh báo chí Việt Nam là một biển thông tin thì những thứ vô bổ trôi dạt lên, những thứ có ý nghĩa vì nhiều lý do bị chìm xuống.

Trên các trang tin trực tuyến, những cái tít luôn luôn nổi bật là cướp giật, hiếp dâm, lộ hàng, ngắm vòng 1 siêu khủng… Có bao giờ bạn tự hỏi: “Sao những chuyện như vầy mà cũng viết được thành bài báo?” Ví dụ như bản tin về một người đẹp đang xách chiếc túi trị giá vài ngàn USD, nội dung dài nhưng chỉ xoay quanh chuyện chiếc túi thì đắt tiền và người đẹp sang trọng bỏ tiền ra mua nó. Rồi chuyện gần đây một thiếu gia Trung Quốc xấu xí tên Trần Sơn với nhiều trò ngu cũng được nhiều tờ báo thèm thuồng khai thác, tung hô. Thế mới biết, có tiền, nhiều kẻ vô danh được tung hô một cách kệch cỡm.

Lại nói thêm về cách sử dụng từ ngữ. Những kiểu chữ nghĩa câu khách rẻ tiền như “Đắng lòng” “Lặng người” “Chết lặng”… nhà báo Việt Nam bây giờ lấy ở đâu ra? Ở Học viện Báo Chí và Tuyên Truyền dạy họ ư? Vậy mà cũng nhiều người, nếu không nói là hầu hết, chủ yếu là giới trẻ thích thú khen hay, like, và áp dụng luôn vào cuộc sống hằng ngày như một cái mốt thời thượng.

Ngập trong đống thông tin vô nghĩa, thật tội cho những người độc giả chân chính, họ phải lọc bỏ hàng đống tạp chất mới tìm thấy cái họ cần. Trong những bài viết có ý nghĩa hiếm hoi, họ đăng lên ý kiến, giải pháp của mình, hy vọng là những người có trách nhiệm trong vấn đề đó sẽ lưu ý, nhưng tiếc là chẳng ai thèm quan tâm tới ý kiến của họ. Giáo sư Ngô Bảo Châu đưa ý kiến nhiều lần mà chính phủ còn không thèm đếm xỉa thì nói chi dân đen.

Toàn những chuyện lá cải tầm phào đầy rẫy trên các trang tin tức. Có những chuyện cần chia sẻ, cần phẫn nộ thì bị chìm ngập và lãng quên trong cái thế giới báo chí bẩn thỉu này. Như vụ Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên (2014) bị 5 công an viên bức cung, nhục hình, giết chết bất chấp nạn nhân kêu oan. Những đứa trẻ đeo khăn tang, người vợ mang bức hình thi thể dập nát của chồng mình kêu oan trước những ánh mắt nhân viên an ninh trừng trừng vô hồn đe dọa.

Những tin như vầy thì báo chí không dám đưa, nếu có thì cũng sẽ dùng từ ngữ ma mị bao che cho tội ác của công an viên. Những bản tin một chiều, bị kiểm duyệt, thậm chí bị bóp méo một cách trắng trợn vì nhắm “đụng chạm” tới chính quyền. Chính quyền là luôn đúng mà. Báo chí phải là một kênh tuyên truyền của Đảng.

Nói đến báo chí Việt Nam hiện nay là nói lên tính cách người Việt và mối quan tâm của họ ở thế kỷ 21 này. Xã hội Việt Nam hôm nay chỉ toàn là những người vô cảm, họ thấy nỗi đau của đồng loại mình trước mắt mà không mảy may động lòng. Ngay cả khi đó là đồng bào của mình. Thậm chí có người biểu tình chống chặt cây xanh bị côn đồ – nhân viên an ninh chìm kiếm chuyện đánh đập phải nhập viện có những đứa trẻ trâu hay già trâu vào bình luận như thế này: “Lấy máu lợn thoa lên giả tạo à. Thù oán ai bị chúng đánh rồi đổ lỗi cho công an tụi tao hả. Những thằng như mày không tử hình là may rồi đấy.

Cả một thế hệ bị tẩy não chỉ biết nghe theo lời nhà nước với chiêu bài chụp mũ tất cả những ai đụng chạm tới quyền lực của họ là “phản động”, là sản phẩm của thế lực thù địch, bị xúi giục, được trả tiền để gây mất ổn định cho đời sống bình yên tại quê hương.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là không có những nhà báo có lương tâm. Chỉ là vì họ luôn bị áp lực, sách nhiễu, trấn áp. Những tấm gương như Kim Quốc Hoa hay Tạ Phong Tần là quá đủ cho họ sợ hãi.

Kim Quốc Hoa – Tổng biên tập báo Người Cao Tuổi bị khởi tố, vì cho đăng bài động tới ông thanh tra gì gì đấy, cậu công tử ra Hoàng Sa gì gì đấy mà tôi cũng sợ nên không dám nêu tên ra ở đây. Sự thật là tôi cũng sợ sẽ đi tù như ông Kim Quốc Hoa khi đụng tới mấy người này.

Tạ Phong Tần từng là một nhà báo, một chiến sĩ công an, nhưng vì viết những bài viết chống tham nhũng trên blog mà bị cho thôi việc, bị bắt tù đày. Những người ra lệnh bắt cô ở Bạc Liêu là ai? Chính là những kẻ mà cô cáo buộc tham nhũng.

“Viết Công Lý – Sự Thật
Tù mười năm khổ sai
Viết “thư” dâng biển đảo
Tù ấy mấy vạn ngày?” (- Phạm Văn Đồng, 1958)

Hỡi những nhà báo chân chính, đừng sợ hãi nữa, hãy liên minh lại với nhau. Chúng tôi, những độc giả luôn trung thành, ủng hộ các bạn muốn thấy có một ngày “Ký giả đi ăn mày II” trên quê hương này.

Kantcer

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 3) – CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8 SAIGON

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 3) – CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8 SAIGON

Đoàn Thanh Liêm

*   * Khác với Chương trình Công tác Hè 1965, Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon đặt trọng tâm vào công việc phát triển cộng đồng tại một quận ven biên của thành phố Saigon, lúc đó quận này chỉ có dân số cỡ 150,000 người. Những anh em chủ trương thiết lập chương trình này, thì phần đông cũng đã từng tham gia với công tác cứu trợ bão lụt miền Trung vào cuối năm 1964, cũng như ít nhiều tham gia cộng tác với Chương trình Hè trong mấy tháng đầu năm 1965. Cho nên tuy đây là ba loại công tác khác nhau, nhưng cũng đều do giới thanh niên đứng ra khởi xướng và đảm trách, nên có thể nói được rằng cả ba chương trình hoạt động này đều là sự biểu lộ của tinh thần dấn thân nhập cuộc của giới thanh thiếu niên tại miền Nam Việt nam, hồi giữa thập niên 1960, với những công việc cụ thể, thiết thực nhằm phục vụ tầng lớp đồng bào kém may mắn nhất trong xã hội thời ấy. Anh chị em đều có một mẫu số chung, tức là đem hết tâm sức và khả năng hiểu biết của mình vào việc thực hiện cho được những việc có ích lợi rõ rệt cho quần chúng nhân dân, mà hiện đang phải sống trong những điều kiện rất khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt vật chất, cũng như tinh thần.

Trong khoảng tháng 5 và 6 năm 1965, một số chừng trên 15 anh em đã hội họp bàn thảo với nhau để lập ra một dự án công tác (project) nhằm phát động công cuộc phát triển tại một quận kém mở mang nhất tại Saigon, đó là quận 8 tọa lạc phía bên kia cầu chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, giáp ranh với quận Cần Giuộc, Long An. Sau vài tháng miệt mài tìm hiểu tình hình tại chỗ và nghiên cứu soạn thảo, anh em đã hoàn thành được một bản dự án mệnh danh là “ Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon “ và đệ trình lên văn phòng Thủ tướng Chánh phủ lúc đó do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu, để xin duyệt xét và chấp thuận cho anh em được quyền cùng chung nhau thực hiện chương trình này.

Sau khi cứu xét, văn phòng Thủ tướng đã chấp thuận trên nguyên tắc mấy đề nghị ghi trong dự án, đại cương như sau :

1/ Chấp thuận cho hai người trong anh em là Hồ Ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh giữ chức vụ Quận trưởng và Phụ tá Quận trưởng Quận 8.

2/ Cấp phát 10 triệu đồng VN để làm Quỹ Điều hành của Chương trình.

3/ Đặt Chương trình Phát triển Quận 8 dưới sự bảo trợ và kiểm soát của  Đô trưởng Saigon (lúc đó là Bác sĩ Văn Văn Của) và Bộ trưởng Thanh niên (lúc đó là Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng).

Như vậy là chỉ có hai người của Nhóm anh em trong Ban Điều hành Chương trình mới là viên chức của nhà nước mà thôi. Còn tất cả các anh chị em khác, thì đều là những thiện nguyện viên, không hề có giữ chức vụ gì trong guồng máy chánh quyền địa phương cả. Và sau một vài phiên họp với Tòa Đô chính và Bộ Thanh niên là hai cơ quan bảo trợ, để bàn thảo về các chi tiết thi hành dự án, thì anh chị em bắt đầu khởi sự kéo nhau xuống làm việc ở Quận 8, vào giữa tháng 8 năm 1965.

Phải thành thật mà nói, anh chị em chúng tôi đều có lòng hăng say, có thiện chí muốn phục vụ đồng bào, nhưng tất cả đều còn quá trẻ, mới ở vào lứa tuổi 20-30, làm gì có kinh nghiệm nào trong loại việc vận động quần chúng địa phương tham gia vào công việc cải tiến dân sinh. Vì thế, phải mất một thời gian dò dẫm, thăm hỏi các vị thân hào nhân sĩ, các vị tôn trưởng, các vị tu sĩ của các tôn giáo và nhất là các thầy cô giáo trong các phường khóm, thì lần hồi chúng tôi mới nắm bắt được cái phương thức sinh hoạt và làm việc với bà con trong cộng đồng địa phương.

Nhờ thái độ khiêm tốn nhã nhặn trong cách giao tiếp với các vị tôn trưởng tại địa phương như thế, nên chúng tôi đã nhận được nhiều sự góp ý chân tình và thiết thực về tất cả những gì cần phải làm, cần phải chuẩn bị để có thể lôi cuốn, thuyết phục được người dân tích cực và phấn khởi tham gia vào các việc có ích lợi cho tập thể cộng đồng. Bắt đầu bằng những công tác đơn giản, nhỏ bé như sửa chữa đường hẻm, khai thông ngập úng, đặt đường cống thoát nước, tu sửa cầu tiêu công cộng v.v…Rồi lần lần tiến lên  mời gọi bà con tham gia vào những công tác có quy mô lớn lao và phức tạp hơn, điển hình như chỉnh trang gia cư tại những khu ổ chuột, xây cất thêm trường lớp cho các học sinh có chỗ học vào các giờ mát mẻ, thay vì phải học vào ca buổi trưa nóng bức, bắc cầu qua các kinh rạch để bà con đi lại cho thuận tiện và an toàn v.v…Các dự án cải tiến nhỏ bé, đơn giản như vậy mà được bà con cùng góp công, góp vật liệu để cùng chung nhau thực hiện cho thành công tốt đẹp, thì có tác dụng tinh thần và tâm lý rất tốt, tạo thêm sự quen biết gắn bó, liên đới thân thương với nhau giữa các thành viên trong khu xóm, cũng như giữa bà con với cán bộ thiện nguyện chúng tôi. Và một khi đã có được sự tin tưởng của quần chúng địa phương như vậy, thì sự vận động cho những dự án tiếp theo sẽ dễ dàng êm xuôi hơn. Rồi qua năm 1966, thì chương trình đã mở rộng thêm sang các quận 6 và 7 nữa, với tổng số dân trong cả 3 quận lên đến 500,000 người.

Nói cho ngắn gọn lại, qua thời gian cộng tác mật thiết với bà con ở các khóm hẻm rải rác trong quận, anh chị em chúng tôi đã học tập được vai trò “làm chất men, chất súc tác”, được hòa vào với môi trường của quần chúng nhân dân địa phương và đã phát huy tác dụng là khơi động được sự hăng hái, phấn khởi nhiệt tình của số đông quần chúng, trong việc hưởng ứng tham gia tích cực vào công cuộc phát triển xã hội văn hóa tại địa phương của chính họ. Đây chính là cái quá trình “gây ý thức, gây men và vận động quần chúng “ (mass conscientisation/fermentation/mobilization) mà các nhà nghiên cứu xã hội học thường hay nói tới. Và quần chúng tại hạ tầng cơ sở lần hồi đã cảm nhận ra được các nhu câu cần phải cải thiện môi trường sinh hoạt tại địa phương của mình (felt needs), để rồi từ đó ra tay dấn thân nhập cuộc vào công trình xây dựng và phát triển của địa phương, nơi chính họ và gia đình cùng sinh sống cư ngụ.

Trong 6 năm hoạt động tại cả 3 quận 6,7 và 8, chương trình đã cùng với đồng bào thực hiện được hàng mấy trăm công trình cải tiến ngõ hẻm, và đặc biệt hoàn thành được việc chỉnh trang gia cư tại trên 20 khu trong khắp 3 quận, với tổng số căn nhà được xây cất mới lên đế 8,000 đơn vị gia cư. Sở dĩ số nhà phải chỉnh trang tái thiết lên cao như vãy, đó là vì do các vụ tấn công hồi Tết Mậu thân năm 1968, khu vực 3 quận này bị thiệt hại rất nặng nề. Chương trình cũng giúp tổ chức nhiều lớp dậy nghề như các lớp nữ công gia chánh, các lớp may cắt, thêu đan cho nữ giới, các lớp sửa máy xe hơi, máy thủy động cơ, sửa radio, TV cho nam giới. Phần lớn các lớp này là do các tu sĩ Phật giáo hay Công giáo đứng ra tổ chức tại khuôn viên các chùa hay các nhà thờ. Và Chương trình đi xin các phương tiện máy móc và vật liệu từ những cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế, để rồi chuyển đến cho các trung tâm dậy nghề này. Về mặt y tế, chương trình còn có một xe y tế lưu động, để đi khám bệnh và phát thuốc cho bà con tại các khu vực hẻo lánh trong cả 3 quận nữa.

Ngoài ra cũng cần phải kể đến 2 công trình phát triển có ảnh hưởng lâu dài nhất, đó là chương trình đã xây dựng được hai trường trung học cộng đồng ờ quận 6 và quận 8, mà tổng số học sinh vào năm 1974-75 lên đến trên 3,000 em. Các em học sinh lớp đầu tiên nhập học năm 1966 ở trung học quận 8 (nay là trường Lương Văn Can) lúc đó cỡ 13-14 tuổi, thì nay đã ở vào tuổi 57-58, đã có cả cháu nội, cháu ngoại cả rồi. Và hiện vẫn còn nhiều thành phần trong số các em đó vẫn tiếp nối được cái tinh thần “ tự nguyện dấn thân vào công cuộc phát triển tại địa phương”, mà lớp cha bác và thầy của các em đã từng tham gia và truyền lại cho thế hệ các em bây giờ. Đó mới chính là cái thành quả bền vững nhất, đáng ghi nhớ nhất của chương trình phát triển cộng đồng mà đã khởi sự tại 3 quận 6,7,8 cách nay đã trên 45 năm rồi vậy.

*  *  Tóm lược về mục  “ Thanh thiếu niên và Công tác Xã hội”

Trong ba bài trên đây, chúng tôi đã trình bày đại cương ngắn gọn về ba chương trình công tác xã hội do giới thanh thiếu niên tại miền Nam Việt nam thực hiện hồi giữa thập niên 1960. Đó là “ Ủy ban Phối hợp Cứu trợ Bão lụt miền Trung năm 1964”, “Chương trình Công tác Hè 1965” và “Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon”. Tất cả ba chương trình đều phát xuất từ tinh thần hy sinh tự nguyện của giới trẻ để tham gia đóng góp vào những công việc xã hội cụ thể, thiết thực, nhằm phục vụ đồng bào gặp cảnh khó khăn ngặt nghèo, cũng như tạo cơ hội cho giới thanh thiếu niên được gặp gỡ thân thiện gắn bó với nhau, trong khi cùng nhau theo đuổi công tác xã hội, phục vụ đồng bào.

Đó chính là các anh chị em đã bắt đầu “có ý thức về xã hội” (social awareness), rồi lôi cuốn rủ rê nhau cùng tích cực tham gia những chương trình phục vụ đồng bào và phát triển xã hội tại các địa phương. Thực hiện các chương trình xã hội cụ thể, thực tiễn như thế đó, chính là các anh chị em đã đóng vai trò “làm đối tác” (counterpart) của Xã hội Dân sự để cùng chung với Nhà nước trong việc phục vụ quần chúng nhân dân tại hạ tầng cơ sở vậy.

Nếu ta chú ý đến bối cảnh chính trị, quân sự vào giai đoạn những năm sau 1965, khi cuộc chiến mỗi ngày một leo thang với bao nhiêu sự thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản và tình hình chính trị bất ổn ở miền Nam hồi đó, mà nội các chánh phủ cứ bị thay đổi hoài hoài, thì việc giữ cho phong trào sinh hoạt văn hóa xã hội của giới thanh thiếu niên vẫn có thể tiến hành tương đối tốt đẹp, êm thắm như đã được thể hiện qua 3 chương trình công tác như được ghi lại trong mục này, phải được coi như là một sự thành công ngoạn mục của lớp huynh trưởng sáng lập và điều hành của phong trào.

Vào thời gian đó, thì vẫn có một số thanh niên ngả hẳn theo đường lối tranh đấu chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt nam do Hanoi chỉ đạo. Giới thanh niên này luôn chỉ trích các chương trình xã hội nhân đạo nói trên như là một thứ “cải lương”, chỉ có tác dụng làm hậu thuẫn cho cái “ chánh quyền bù nhìn của các Tướng Thiệu Kỳ” mà thôi. Thế nhưng đại đa số anh chị em thanh niên ở miền Nam hồi đó đã “bỏ ra ngoài tai các lời chỉ trích cực đoan” như thế, mà vẫn tiếp tục dấn thân vào những dự án xã hội văn hóa cụ thể và thiết thực của mình, ngay cho đến năm 1975, khi chế độ Việt nam Cộng hòa sụp đổ.

Vào năm 2010 này, ghi lại cái kỷ niệm thân thiết của giới trẻ ở miền Nam cách nay đã trên 40 năm, người viết lại càng xác tín rằng lớp người trẻ này đã có sự chọn lựa đứng đắn và can đảm trong bối cảnh đất nước đen tối vì cuộc chiến tranh tàn khốc thưở đó. Và cảm thấy lương tâm thanh thản nhẹ nhàng, vì đã cố gắng hết sức mình trong công cuộc phục vụ số đông đồng bào nạn nhân chiến cuộc của mình trong giai đoạn khó khăn đó vậy./

California, Tháng Ba 2010

Đoàn Thanh Liêm

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 2) – CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC HÈ 1965 (SUMMER YOUTH PROGRAM 1965)

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 2) – CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC HÈ 1965 (SUMMER YOUTH PROGRAM 1965)

Đoàn Thanh Liêm

*   * Phấn khởi với sự thành công của công tác cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung vào cuối năm 1964, các anh chị em trong thành phần lãnh đạo chiến dịch này đã bàn thảo với nhau là cần phải mở rộng thêm khuôn khổ sinh hoạt và phục vụ xã hội của giới trẻ, đặc biệt là các sinh viên và học sinh còn đang theo học tại các trường ở khắp miền Nam. Vào năm 1965, thì đã có ít nhất 4 trường Đại học, đó là ĐH Saigon, ĐH Huế, ĐH Đalat và ĐH Vạn Hạnh và một số trường Cao Đẳng Kỹ thuật. Về bậc trung học, thì có đến vài ba trăm trường trung học công lập, cũng như tư thục. Và tổng số sinh viên và học sinh trung học trên toàn quốc cũng phải lên tới hàng mấy trăm ngàn người. Đó là một quân số rất lớn, mà các huynh trưởng này nhắm để tổ chức cho giới trẻ học đường có điều kiện gặp gỡ, vui chơi và hợp tác với nhau trong một tinh thần lành mạnh và xây dựng, trong ý hướng góp phần cải thiện môi trường xã hội về mặt vật chất, cũng như về mặt tinh thần, trong giới hạn khả năng hạn hẹp của mình. Việc làm như thế này, trên nguyên tắc, thì luôn được sự khuyến khích và hỗ trợ của các Bộ Giáo Dục, Bộ Xã Hội, và nhất là của Bộ Thanh niên.

Đó là đại cương sự suy nghĩ tính toán của những anh chị em cùng đứng ra thiết lập một chương trình hành động cụ thể, dành riêng cho giới thanh niên, sinh viên và học sinh tại miền Nam Việt nam. Và danh xưng chính thức của chương trình này đã trở thành : “Chương Trình Công Tác Hè 1965”. Những huynh trưởng khởi xướng chương trình này đều đã ở vào lớp tuổi trưởng thành từ 21 đến 30 tuổi, phần đông đã tốt nghiệp đại học và đi dậy học. Họ cũng đã từng hoạt động lâu năm trong các đoàn thể như Hướng Đạo, Thanh niên Thiện chí, Sinh viên Phật tử, Sinh viên Công giáo v.v… Do đó mà họ rất có kinh nghiệm trong việc tổ chức sinh hoạt cho giới trẻ như đi cắm trại, đi thăm các cô nhi viện, đi làm công tác thiện nguyện như sửa sang trường lớp tại miền ngoại ô hay miền quê, tham gia giúp đồng bào khai thong các khu phố bị lầy lội, ngập lụt v.v… Vì thế mà họ rất tự tin về nội dung các công tác sẽ đề ra cho Chương trình hè này, mà thường có sức lôi cuốn giới trẻ tham gia, nhằm mục đích phục vụ công ích cho đồng bào ở các vùng nông thôn hay ngoại ô nghèo túng.

Điểm thuận lợi khác nữa, đó là những người sáng lập Chương trình này lại được sự hợp tác và hỗ trợ hết mình của tổ chức IVS (Đoàn Thanh niên Chí nguyện Quốc tế). Vì IVS gồm các đoàn viên thiện nguyện còn trẻ, mới tốt nghiệp đại học, và đã từng hoạt động tại một số tỉnh ở miền Nam từ 5-7 năm trước, nên họ rất gần gũi gắn bó với giới sinh viên và thanh niên Việt nam. Sự tham gia của IVS lại càng quan trọng, vì chính IVS đã vận động để cơ quan Viện trợ Mỹ cấp ngân khoản điều hành lên đến 25 triệu $ VN cho Chương trình. Cho nên có thể nói Chương trình Hè 1965 này là một thứ Dự án hơp tác (joint project) giữa IVS và Ban Điều Hành của chương trình.

Vì tính cách độc đáo mới lạ của cái “joint project” này, nên các Bộ bảo trợ lúc ban đầu tỏ ý e ngại, không dám quyết đáp trong việc chấp thuận cho phép Chương trình tiến hành hoạt động trên toàn quốc.

Nhưng may, mà anh chị em lại biết đích thân xin được gặp và trình bày vấn đề với chính Vị Phó Thủ tướng đặc trách về Kế hoạch lúc đó là Luật sư Trần Văn Tuyên, thì cuối cùng mọi việc về phương diện hành chánh pháp lý đối với cơ quan nhà nước mới được giải quyết êm thắm tốt đẹp. Lý do Luật sư Tuyên dễ dàng chấp thuận Dự án này, đó là khi xưa vào hồi còn trẻ ở thập niên 1930, ông đã là một huynh trưởng trong Phong trào hướng đạo mới được thành lập ở Việt nam, cho nên ông nhận ra ngay tức khắc sự quan trọng và ích lợi của Chương trình Hè này. Và từ đó chính vị Phó Thủ tướng Chánh phủ đã ký giấp phép chấp thuận cho Chương trình này được phép hoạt động, và chỉ thị cho  các Bộ liên hệ như Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên và Bộ Xã hội phải tích cực giúp đõ giới thanh niên trong các hoạt động lành mạnh và hữu ích như thế này.

Kết cục là trong mấy tháng hoạt động, Chương trình Hè 1965 đã gây được bàu không khí sinh hoạt rất là phấn khởi, náo nhiệt cho giới trẻ ở Saigon cũng như ở các tỉnh địa phương miền Trung, miền Nam cũng như tại Cao nguyên. Thường các bạn trẻ tổ chức gặp gỡ nhau qua các hình thức trại công tác kéo dài cỡ vài ba ngày, để cùng sinh sống chung với nhau, trao đổi kinh nghiệm công tác và sinh hoạt theo nhóm và đoàn thể ở địa phương, kèm theo các màn văn nghệ ca hát, diễn kịch. Và nhất là cùng nhau hoàn thành một công tác có ích lợi thiết thực cho cộng đồng địa phương, điển hình như tu bổ đường hẻm, khai thông cống thoát nước, sửa cầu bắc qua kinh rạch, sửa sang lớp học, làm nhà vệ sinh cho các học sinh ở địa phương v.v…Những trại công tác và sinh hoạt như vậy tạo cơ hội cho giới trẻ gặp gỡ vui chơi thân thiện với nhau, đồng thời cũng nâng cao tinh thần phục vụ xã hội bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, góp phần vào việc cải thiện môi trường sinh sống của bà con lối xóm, về vật chất cũng như tinh thần. Nói chung, thì những việc làm nhỏ bé, khiêm tốn, mà thiết thực như thế dễ gây được thiện cảm của bà con, cô bác ở các vùng nông thôn, cũng như tại khu vực ngoại ô thành phố.

Đáng kể nhất trong loại trại công tác này trong khuôn khổ của Chương trình Hè 1965 là một trại rất quy mô lấy tên là  :“Công trường Thanh niên Tự do”   (Liberty Youth WorkCamp) được tổ chức vào tháng 10 năm 1965, tại xã Thạnh Lộc Thôn, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Mục đích chính yếu của công trường này là xây dựng 200 căn nhà cho đồng bào tỵ nạn phải di tản từ vùng mất an ninh về khu ven biên Saigon-Gia định. Các trại sinh là đại diện của nhiều tỉnh tề tựu lại, cùng sinh hoạt và làm việc chung với nhau trong gần 2 tuần lễ, để thực hiện một “ công trình đại quy mô này”. Ban tổ chức còn có sáng kiến mời thêm được mấy sinh viên quốc tế có mặt ở Saigon lúc đó đến tham dự nữa. Với tổng số trại sinh lên đến trên 200 người, có thể coi đây là một công tác tiêu biểu nhất trong bảng thành tích của chương trình vậy.

Với một số thành tựu như vậy, nên sau khi Chương trình Hè 1965 kết thúc vào cuối năm, thì kể từ năm 1966, Bộ Giáo Dục đã thiết lập một chương trình khác tương tự, lấy tên là “ Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường”, mà thường được viết tắt là CPS. Lúc đầu, CPS hoạt động cũng khá quy mô và lôi cuốn được sự tham gia hăng say của nhiều anh chị em học sinh, sinh viên trong một thởi gian mấy tháng. Nhưng về sau vì do Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý và chỉ đạo quá chặt chẽ, gần như theo quy chế của một cơ quan hành chánh, không cho phép các huynh trưởng điều khiển chương trình được tự do phát huy sáng kiến của mình, nên nó đã không thể phát triển thoải mái, tự nhiên như là ở Chương trình Hè 1965, hay như tại Chương trình Phát triển Quận 8 Saigon, mà sẽ được trình bày trong một bài sau.

Nhân tiện, cũng xin ghi qua về sự phát triển của Phong trào Du ca của giới thanh thiếu niên hay đi tham dự công tác xã hội vào thời gian sau năm 1965. Đó là một sáng kiến của những huynh trưởng thanh niên như Hoàng Ngọc Tuệ, Trần Văn Ngô, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý Toàn, và đặc biệt là các nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu …, nhằm gây thành một phong trào sinh hoạt ca hát vui tươi lành mạnh cho giới thanh niên vốn từng tham gia công tác xã hội tại khắp nơi, ở miền quê, tại đô thị, cũng như nơi các trại tạm cư của các nạn nhân chiến cuộc, mà phải rời bỏ nhà cửa vì lý do chiến tranh tàn phá, nhất là tại các tỉnh ở về phía bắc miền Trung, kể từ năm 1967 trở đi, lúc chiến sự mỗi ngày càng trở nên khốc liệt, đẫm máu. Anh chị em thanh thiếu niên quy tụ sinh hoạt văn nghệ với nhau, cùng nhau trình bày những bài ca mới sáng tác, phản ánh tâm trạng của giới trẻ trong tình hình xã hội đen tối bế tắc vì cuộc chiến tranh không có lối thoát. Nói chung phong trào Du ca này đã tạo nên một luồng sinh khí sinh động và phấn khởi lôi cuốn giới trẻ gắn bó, gần gũi với nhau trong khi cùng tham gia công tác xã hội nhân đạo, để phục vụ đồng bào, đặc biệt là các nạn nhân chiến cuộc./

California, Tháng Ba 2010

Đoàn Thanh Liêm

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 1) – VIỆC TRỢ GIÚP NẠN NHÂN BÃO LỤT Ở MIỀN TRUNG NĂM 1964.

THANH THIẾU NIÊN VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI (BÀI 1) – VIỆC TRỢ GIÚP NẠN NHÂN BÃO LỤT Ở MIỀN TRUNG NĂM 1964.

Đoàn Thanh Liêm

Lời mở đầu – Đã từ lâu, tôi dự tính viết một Bản Phác thảo về Lịch sử Sinh hoạt của giới Thanh Thiếu niên tại Miền Nam Việt nam trong giai đoạn 1950-1975. Nhưng vì còn bận rộn với nhiều chuyện khác có tính cách thời sự cấp bách hơn, nên việc soạn thảo này đã phải tạm gác lại, để khi nào có điều kiện thâu thập được nhiều tài liệu chính xác hơn, thì sẽ lại tiếp tục với công trình biên soạn có tính cách sử liệu này.

Tạm thời, người viết xin ghi lại một cách đại cương ngắn gọn về những công tác xã hội tương đối có quy mô rộng rãi, mà giới thanh thiếu niên ở miền Nam Việt nam đã thực hiện được trong thời gian 1964 đến 1975, dưới đề mục : “ Thanh thiếu niên và Công tác xã hội”. Loạt bài này sẽ gồm 3 bài, mỗi bài chỉ dài chừng 2,000 – 2500 chữ mà thôi.

Người viết chưa có điều kiện để đi sâu vào chi tiết về các sinh hoạt của phong trào thanh thiếu niên trong giai đoạn trước năm 1975 tại miền Nam Việt nam, nhất là của từng đơn vị đoàn thể, hiệp hội đã từng được thành lập từ lâu và đã có những hoạt động khá sôi nổi, bền vững trong một thời gian dài. Điển hình như Hội Hướng Đạo, các đoàn thể thanh thiếu niên do các tôn giáo tổ chức v.v… Do đó tác giả mong ước rằng tại mỗi một đơn vị đoàn thể, hiệp hội, sẽ có một ban đặc trách biên soạn về lịch sử sinh hoạt của riêng tổ chức của mình. Các tài liệu này sẽ là căn bản cho sự tham khảo của giới viết về lịch sử chung của toàn thể phong trào thanh thiếu niên ở miền Nam trong giai đoạn 1950-1975 vậy.

Xin mời quý bạn đọc quan tâm theo dõi mấy bài sau đây như là một gợi ý cho một công trình biên soạn hoàn chỉnh và đày đủ hơn trong tương lai vậy nhé.

Xin cảm ơn sự thông cảm của các bạn. ĐTL

*  * Năm 1964 vào tháng 10 và 11, có trận bão lụt rất lớn tại một số tỉnh Miền Trung, đặc biệt Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam là các nơi bị thiệt hại nặng nề nhất. Đáp ứng lời kêu cứu của các bạn hữu là nạn nhân từ các địa phương bị lụt, giới thanh niên, sinh viên, học sinh tại Saigon đã hợp tác chung với nhau nhằm ra tay tiếp cứu những bà con nạn nhân của trận bão lụt dữ dội này. Anh chị em lập ngay ra một tổ chức lấy tên là “Ủy ban Phối hợp Cứu trợ Bão lụt Miền Trung” và chia nhau đảm trách các công việc tùy theo khả năng chuyên môn của mình. Đây đúng là sự phối hợp của nhiều đoàn thể, tổ chức của giới thanh niên, sinh viên và học sinh các trường Đại học cũng như Trung học, với tổng số người tham dự lên đến hàng vạn người.

Bắt đầu là do sáng kiến của Tổng Nha Thanh niên do Ông Nguyễn Đình Tú làm Tổng Giám Đốc. Ông Tú kêu gọi các đoàn thể đến Nha Thanh niên để bàn thảo cách thức hỗ trợ khẩn cấp cho các nạn nhân bão lụt. Và kết quả là Ủy ban Phối hợp đã được thành lập với sự tham gia tích cực của hầu hết các tổ chức tư nhân như Hội Thanh niên Thiện chí, Hội Hướng Đạo, ngành Nam cũng như ngành Nữ, Đoàn Sinh viên Phật tử, Đoàn Sinh viên Công giáo, Đoàn Thanh niên Chí nguyện, Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội, Đoàn Thanh niên Ích thiện, Tổng hội Sinh viên, Ban Chấp hành Đoàn sinh viên và học sinh các trường v.v…

Có thể nói đây là lần đầu tiên có sự quy tụ đông đảo của các tổ chức tư nhân của giới trẻ ở thủ đô Saigon, nhằm đóng góp vào công tác xã hội nhân đạo cấp bách tại một số tỉnh xa xôi ở miền Trung. Các bạn trẻ đã có dịp phát huy sáng kiến về mặt tổ chức sinh hoạt nội bộ, và phân công cho nhau đi quyên đậu sự đóng góp của bà con từ khắp các ngõ ngách của thành phố. Các nhà thờ, các chùa, các trường học đều mở rộng cửa cho đoàn cứu trợ mượn làm kho chứa gạo, quần áo, vật dụng và thực phẩm do đồng bào đích thân mang đến tặng cho Ủy ban Cứu trợ. Để tránh sự lạm dụng, Ủy ban không trực tiếp đứng ra nhận tiền bạc của bà con có nhã ý hiến tặng. Nhờ sự thận trọng đó, mà anh chị em thanh niên sinh viên, học sinh tránh được sự dị nghị, thắc mắc của một số người vốn có tính đa nghi đối với những cuộc lạc quyên công cộng.

Hồi đó vào năm 1964 ở Saigon, thì chưa có đài truyền hình. Cho nên sự vận động công chúng tham gia cứu trợ, thì hoàn toàn phải nhờ vào đài phát thanh và các báo chí, cũng như cơ quan thông tin địa phương của chánh quyền cấp thành phố, cấp quận xuống đến tận cấp phường khóm. Trên phương diện cấp bộ, thì Bộ Xã hội là cơ quan tập trung các tin tức về tình hình biến chuyển từng ngày, từng giờ tại các địa phương. Và trên nữa, thì có một cơ quan cấp liên bộ do Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh điều khiển, để phối hợp các hoạt động cứu trợ cho toàn thể các khu vực bị lâm vào cảnh cô lập, rất khó tiếp tế, bởi lẽ đường xá giao thông bị úng ngập không sao di chuyển dễ dàng được. Cho nên Ủy ban Cứu trợ của giới thanh niên phải làm việc ăn ý với các cấp chánh quyền ở địa phương, cũng như ở trung ương, thì mới có thể hoạt động có hiệu quả được.

Những phái viên của Ủy ban Phối hợp Cứu trợ được cử đến các tỉnh bị lụt, thì thường được sự cộng tác rất chặt chẽ và thân tình của các đoàn thể thanh niên cũng như của những cơ quan chánh quyền tại địa phương. Đặc biệt anh em chúng tôi lại được sự tiếp sức của các sinh viên Mỹ thuộc Đoàn Thanh niên Chí nguyện Quốc tế (IVS = International Voluntary Services) vốn đã từng làm việc trong ngành giáo dục và canh nông tại địa phương từ lâu, nên họ đã giúp chúng tôi hết sức hiệu quả, bằng cách liên hệ với các giới chức người Mỹ để cung cấp phương tiện chuyên chở người, và đặc biệt là phẩm vật cứu trợ đến tận tay các nạn nhân bị kẹt tại các vùng bị cô lập lâu ngày, vì đường xá bị hư hỏng, xe bình thường khó mà di chuyển đến được.

*  * Kết quả là trong 3 – 4 tháng cùng chung nhau hoạt động trong Ủy ban Phối hợp Cứu trợ này, anh chị em thanh niên chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều về các phương diện “đối nhân xử thế” đối với đồng bào tại các địa phương hẻo lánh, ”về sự giao tế “với các cấp chánh quyền trung ương cũng như địa phương, và nhất là được “chứng kiến tận mắt nỗi khó khăn vất vả” của người nông dân tại các tỉnh miền Trung, vốn xưa nay là vùng đất khô cằn, mà “đất cày lên sỏi đá”.

Thế hệ chúng tôi lúc đó mới ở vào lứa tuổi 20-30, lòng còn đày nhiệt huyết, mà có dịp được sát cánh với nhiều bậc cha bác, các vị huynh trưởng ở Saigon, cũng như ở các địa phương nhằm cứu trợ những nạn nhân rất đông đảo ở các vùng quê bị bão lụt tàn phá, thì mở rộng được nhãn quan để hiểu biết và yêu mến xã hội đất nước và dân tộc của mình hơn trước đây, chỉ có ru rú ở một nơi tiện nghi an toàn của thành phố thủ đô, mà dễ bị lây nhiễm theo lối sống hào nhoáng kiêu sa của lớp người phong kiến, quan liêu trưởng giả. Và chúng tôi cũng đón nhận được những tình cảm thân thương, chân tình và bền chặt của đồng bào các giới, đặc biệt là của bà con từ các miền quê hẻo lánh. Nhờ sự tiếp cận cụ thể với các tầng lớp quần chúng nhân dân như vậy, mà lớp anh chị em chúng tôi có được cái ý thức sâu sắc hơn về các vấn đề xã hội, cũng như văn hóa trong cộng đồng dân tộc thân yêu của mình.

Rõ ràng là qua “chiến dịch cứu lụt” này, anh chị em chúng tôi đã trưởng thành, chín chắn, và chững chạc hẳn ra. Và rút kinh nghiệm từ giai đoạn hoạt động xã hội nhân đạo thực tiễn này, vào đầu năm 1965, bọn chúng tôi lại dấn thân vào một số chương trình hoạt động có quy mô còn lớn hơn công việc cứu lụt này rất nhiều. Đó là “Chương Trình Công Tác Hè 1965” và “Chương Trình Phát Triển Quận 8 Saigon” cũng khởi sự từ năm 1965, mà người viết sẽ xin được trình bày chi tiết cặn kẽ hơn trong các bài sau./

California, Tháng Ba 2010

Đoàn Thanh Liêm

Vaclac Havel và Cách Mạng Nhung ở Tiệp Khắc

Vaclac Havel và Cách Mạng Nhung ở  Tiệp Khắc

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tài liệu tham khảo chính yếu :

HAVEL : A Life

by Michael Zantovsky

do Grove Press New York ấn hành

năm 2014, sách dày 543 trang

* * Năm 1989, lịch sử thế giới đã ghi nhận một biến cố cực kỳ quan trọng: đó là sự sụp đổ của chế độ cộng sản tại khu vực Đông Âu để rồi kéo theo sự giải thể của Liên Bang Xô Viết vào cuối năm 1991. Và kể từ đó là sự kết thúc cuộc Chiến Tranh Lạnh (The Cold War) giữa hai khối Cộng sản và Tư bản – cuộc đối đầu thật căng thẳng liên miên giữa hai siêu cường Mỹ và Nga khởi sự ngay sau khi thế chiến II chấm dứt vào năm 1945.

Trong bối cảnh chính trị xã hội sôi động của Đông Âu vào thời kỳ đó, thì tuy chỉ là một nước nhỏ với dân số tổng cộng chỉ vào khỏang 15 triệu người, thì Tiệp khắc đã được cả thế giới chú ý và ca ngợi vì thành tích tranh đấu bền bỉ để dành lại Tự do và Nhân quyền thông qua Phong trào Hiến chương 77 khởi sự từ đầu năm 1977 (The Charter 77 Movement). Và đặc biệt là cuộc Cách Mạng Nhung diễn ra trong các năm 1988 – 1989 (The Velvet Revolution) cùng với một nhân vật lãnh đạo xuất chúng: đó là Vaclac Havel – người sau này được bầu vào chức vụ Tổng thống suốt mấy nhiệm kỳ kéo dài trên 13 năm.

Bài viết này được xây dựng dựa trên những thông tin và tư liệu rất phong phú được chứa đựng trong cuốn sách có nhan đề là: “Havel : A Life” do tác giả Michael Zantovsky biên sọan và cho ấn hành mới đây vào năm 2014 – sau khi Vaclac Havel qua đời vào cuối năm 2011.

I – Sơ lược về tác giả Michael Zantovsky.

Michael Zantovsky hiện đang là Đại sứ của Cộng hòa Czech tại Anh quốc và là Chủ tịch của Viện Aspen Praha. Ông là một trong những thành viên sáng lập phong trào điều hợp công cuộc lật đổ chế độ cộng sản ở Tiệp khắc.

Năm 1990, ông trở thành phát ngôn viên, tùy viên báo chí và cố vấn cho Tổng thống Vaclac Havel. Sau đó, ông giữ chức vụ Đại sứ của Czech tại Washington và Tel Aviv. Ông họat động trên lãnh vực chính trị, ngọai giao và  còn là một tác giả và dịch giả chuyên giới thiệu tác phẩm của các tác giả đương đại của Anh và Mỹ cho độc giả người Tiệp khắc.

II – Giới thiệu tổng quát về cuốn sách “Havel: A Life”.

Là một bạn chiến hứu thân thiết đã từng sát cánh lâu năm với Havel, nên tác giả Zantovsky đã có thể cống hiến cho chúng ta rất nhiều tư liệu và thông tin về đời tư và nhất là về những họat động thật hăng say sôi động của Vaclac Havel (1936 – 2011), đó là một nhân vật cực kỳ nổi danh của Tiệp khắc vào cuối thế kỷ XX qua đầu thế kỷ XXI.

Cuốn sách trải dài 543 trang, được phân chia thành 47 đề mục với mỗi tiêu đề riêng cho từng mục. Tuy vậy, tác giả lại không chia thành những chương, những phân đọan như thường gặp trong các sách khác và cũng không chịu ghi số thứ tự của mỗi mục. Vì thế mà  người đọc gặp khó khăn trong việc theo dõi diễn biến của các sự việc với vô số chi tiết xảy ra xung quanh cuộc sống và họat động của Havel là nhân vật chính yếu của tác phẩm.

Đại cương, ta có thể ghi nhận tóm lược về cuộc đời của Havel với mấy nét nổi bật như sau:

(II) 1 – Trong thế chiến II, gia đình của Havel đã phải trải qua những đày đọa do chế độ độc tài Đức Quốc Xã gây ra cho tòan thể nước Tiệp Khắc. Rồi sau khi hết chiến tranh chẳng bao lâu, thì kể từ năm 1948 chế độ cộng sản do Stalin lãnh đạo đã bao trùm lên tòan thể khu vực Đông Âu và cậu bé Havel vừa đến tuổi 12, thì đã bị gạt ra ngòai lề xã hội, không được tiếp tục đi học và cũng thật khó mà kiếm được một việc làm tương đối ổn định – vì lý do là cậu xuất thân từ một gia đình tư sản địa chủ được coi như là một thứ “kẻ thù của cách mạng vô sản”.

Tuy vậy, do cố gắng vượt bậc vào độ tuổi 30 Havel đã trở thành một nhà viết kịch có tên tuổi với nhiều vở kịch được công chúng trong nước cũng như ngòai nước yêu chuộng – nhờ vậy mà ông đã có thể sống tự túc được bằng công việc sáng tác.

(II) 2 – Biến cố Mùa Xuân Praha năm 1968 và tiếp theo là cuộc “xâm lăng ào ạt” của các đạo quân thuộc khối Liên minh Quân sự Varsava do Liên Xô điều động để xâm nhập vào Tiệp khắc – nhằm dẹp bỏ cái chủ trương “Xã hội chủ nghĩa với bộ mặt nhân bản” (Socialism with Human Face) do giới lãnh đạo cộng sản địa phương phát động – đã khơi dậy tinh thần quật cường yêu nước của đa số nhân dân Tiệp khắc.Điển hình là vụ tự thiêu vào đầu năm 1969 của sinh viên Jan Palach tại công trương Wensceslav nơi trung tâm thủ đô Praha.

Và rồi với Thỏa ước Helsinki năm 1975, phong trào tranh đấu nhân quyền trong các quốc gia do cộng sản Liên Xô cầm trịch đã nhất lọat vùng lên – sự kiện này lại càng tiếp sức cho công cuộc đòi hỏi tự do và nhân quyền ở Tiệp khắc kể từ ngày nước này bị Liên Xô chiếm đóng sau vụ Mùa Xuân Praha như đã ghi ở trên.

Và chính trong bối cảnh chính trị xã hội sôi động đó mà Havel đã dấn thân nhập cuộc cùng với các bạn đồng chí hướng với mình trong việc đòi hỏi nhà nước cộng sản đương quyền phải trả tự do cho những tù nhân lương tâm bị giam giữ vô lý  – điển hình như vụ các nghệ sĩ bị đàn áp vì lý do trình diễn lọai nhạc theo trào lưu Rock N Roll ở các nước Tây phương. Đó là điểm xuất phát của Phong trào Hiến chương 77 với sự phổ biến tòan văn Bản Hiến chương này được gửi đến chính quyền cộng sản. Ta sẽ bàn thảo chi tiết về biến cố cực kỳ quan trọng này khởi sự từ đầu năm 1977 ở mục sau.

(II) 3 – Tiếp theo là cuộc Cách Mạng Nhung phát động vào năm 1988 – 89 đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải thể được chế độ cộng sản vào cuối năm 1989 và sau đó Vaclac Havel được dân chúng tín nhiệm giao cho trách nhiệm lèo lái con thuyền quốc gia Tiệp khắc trong giai đọan xây dựng và tái thiết đất nước kể từ đầu thập niên 1990.

Lãnh tụ Havel đã được cả thế giới biết đến và yêu chuộng vì phong cách hòa ái nhân hậu khi điều hành guồng máy nhà nước – mà cũng vì lập trường tranh đấu bất bạo động và hết sức kiên cường chống lại chế độ độc tài chuyên chế cộng sản. Ta sẽ ghi thêm chi tiết về họat động của người nghệ sĩ và chiến sĩ Havel trong mục sau.

III – Vaclac Havel là một nghệ sĩ mà cũng là một chiến sĩ nữa.

Là người sọan kịch (playwright) với nhiều tác phẩm được công chúng tán thưởng yêu chuộng, Havel luôn cố gắng trau dồi vê học thuật tư tưởng theo truyền thống nhân bản của Âu châu. Nhờ vậy mà ông đã có được một căn bản sở học vững vàng để hội nhập được với trào lưu văn hóa tiến bộ của thế giới.

Và mặc dầu phải sống trong khung cảnh ngột ngạt do sự kềm kẹp của Liên Xô sau biến cố Mùa Xuân Praha năm 1968, Havel vẫn tìm cách liên hệ được với giới văn nghệ sĩ trí thức tại các nước Âu Mỹ qua những vở kịch được trình diễn ở nước ngòai. Nhờ đó, mà ông được sự yểm trợ và bênh đỡ tận tình của những nhân vật có tên tuổi trên thế giới – mỗi khi bị nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, bắt giam vì những họat động tranh đấu cho Tự do và Nhân quyền. Dưới đây, ta sẽ xem xét chi tiết hơn về sự nhập cuộc của Havel khi bước vào tuổi 30. Và sau đó, cũng điểm qua một số thành tích nổi bật nhất của ông trong thời giam giữ chức vụ Tổng thống của Tiệp khắc tự do dân chủ.

(III) 1 – Cuộc tranh đấu kiên cường ròng rã suốt trên 20 năm (1968 – 1989)

Nói chung, sau vụ khối Liên Xô kéo quân đội vào Tiệp khắc năm 1948, thì giới trí thức văn nghệ sĩ tại xứ này cũng như tại Đông Âu lại càng trở nên bất mãn và chống đối lại chính quyền cộng sản do Liên Xô áp đặt để kềm kẹp dân chúng chặt chẽ, khắc nghiệt hơn nữa – theo chính sách mà họ gọi là “bình thường hóa” (normalisation) để tái lập quyền thống trị tòan diện của đảng cộng sản chống lại khuynh hướng cải cách (reformist). Havel đã mỗi ngày tham gia nhiệt thành hơn vào cuộc tranh đấu của những phần tử cấp tiến nhất trong giới văn nghệ sĩ trí thức tại quê hương mình.

Nổi bật nhất là việc Havel góp phần sọan thảo bản văn của Hiến Chương 77 và rồi được giao phó trách nhiệm là một trong ba người phát ngôn viên của tổ chức này (spokeman). Lời văn nhẹ nhàng, khiêm tốn, nhưng nội dung thật dứt khóat tập chú vào việc đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng nhân quyền bằng cách thả những người bị bắt giữ vì lý do chính kiến bất đồng (dissident).

Cũng vì tích cực hành động như vậy mà Havel đã bị giam giữ ngặt nghèo liên tục đến gần 5 năm từ năm 1978 đến 1983.

Tiếp đến là vào năm 1988, nhân kỷ niệm 40 năm ngày công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948 – 1988), giới tranh đấu lại quy tụ với nhau dưới danh nghĩa “Diễn Đàn Công Dân” (Civic Forum) để đẩy mạnh hơn nữa cuộc tranh đấu cho Tự do và Nhân quyền. Và đó là căn nguyên của cuộc Cách Mạng Nhung đưa đến sự sụp đổ dứt khóat của chế độ cộng sản ở Tiệp khắc vào cuối năm 1989. Gọi là Cách Mạng Nhung bởi vì không hề có bạo động đổ máu và cũng không có sự trả thù của bên thắng cuộc là phe tự do dân chủ của Havel đối với những cựu đảng viên cán bộ cộng sản ở bên thua cuộc.

Tổng thống Havel được quốc tế ca ngợi và mến phục vì thái độ trượng phu quân tử khi nắm quyền lãnh đạo quốc gia sau khi chế độ cộng sản sụp đổ năm 1989 đó vậy, mặc dầu ông cũng bị một số bà con đồng bào ấm ức bất mãn vì chuyện quá ư nhân đạo bao dung cho kẻ đã từng gây ra bao nhiêu tội ác trong suốt hơn 40 năm đảng cộng sản nắm giữ quyền hành.

(III)  2 – Một vị Tổng thống được nhiều người mến mộ.

Từ sau năm 1990, ít có vị lãnh đạo quốc gia nào mà lại được tòan thể chính  giới quốc tế ca ngợi mến chuộng như là đối với Tổng thống Havel của Tiệp khắc, một nước nhỏ mà vừa mới thóat khỏi ách cộng sản do thắng lợi kỳ diệu của cuộc Cách Mạng Nhung. Nhưng thành tích nổi bật nhất của Tổng thống Havel là ông đã thật khôn ngoan nhiệt thành trong việc vận động để Tiệp khắc được gia nhập minh ước phòng thủ  NATO và tiếp theo là gia nhập vào Liên Hiệp Âu Châu (EU = European Union).

Đó quả thật là một kỳ công để Tiệp khắc có thể trở về trong vòng tay ấm cúng của đại gia đình Âu châu vốn có truyền thống văn hóa lịch sử cũng như học thuật tư tưởng sáng chói –  mà nước này cũng như Ba Lan, Hungary ở Đông Âu đã chia sẻ chung với nhau từ cả ngàn năm trước. Chỉ có tầm nhìn thật bao quát rộng lớn của người nghệ sĩ trí thức như Vaclac Havel mới có thể lôi cuốn thuyết phục được giới lãnh đạo chính quyền cũng như xã hội dân sự tại các nước Tây Âu và Hoa kỳ chấp thuận cho Tiệp khắc hội nhập êm thăm với cộng đồng Tây Âu như vậy mà thôi.

(III)  3 – Một số tác phẩm tiêu biểu của Vaclac Havel.

Tại cuối sách “Havel:A Life”, tác giả Michael Zantovsky đã ghi ra khá nhiều tác phẩm của Havel mà ông đã trích dẫn trong sách. Xin ghi nơi đây một số tác phẩm tiêu biểu ;

A – “Disturbing the Peace” do Paul Wilson dịch, ấn hành năm 1990.

B – “Letters to Olga” cũng do P.Wilson dịch, ấn hành 1990. Olga là bà vợ lâu năm của Havel, hai người không có con với nhau. Bà chết vì bệnh ung thư năm 1995. Sau khi Olga mất, Havel tục huyền với Dasa Dagmar.

C – “Toward a Civil Society” do P. Wilson và những người khác dịch, ấn hành năm 1995.

D – “ The Power of the Powerless” tiểu luận viết năm 1978  (có đề tặng và  tưởng niệm triết gia Jan Patocka người bị chết sau cuộc điều tra của công an mật vụ vì là đồng tác giả và phát ngôn nhân của Hiến chương 77).Bản dịch tiếng Anh ấn hành năm 1985 tại London.

E – “Selected Plays, 1963 – 83”, do Vera Blackwell dịch ấn hành tại London năm 1992

*  * Tóm tắt lại, Vaclac Havel là một nhân vật xuất chúng của Tiệp khắc vào cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI. Ông là một đại diện nổi trội nhất của tầng lớp trì thức văn nghệ sĩ tại Đông Âu với lòng dũng cảm kiên trì trong phong trào tranh đấu bất bạo động cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền để đạt tới thắng lợi cuối cùng vào năm 1989 – là dẹp bỏ dứt khóat được chế độ cộng sản độc tài tòan trị do Liên Xô áp đặt trên quê hương đất nước ông từ năm 1948. Cả thế giới đều ngưỡng mộ con người kiệt xuất này của thời đại chúng ta ngày nay vậy./

Costa Mesa California, Tháng Sáu 2015

Đoàn Thanh Liêm