Tôn giáo và Xã hội Dân sự (II)

Tôn  giáo  và  Xã  hội  Dân  sự  (II)

Bài 2  – Từ Họat động Nhân đạo đến Xây dựng Hòa bình

(Trường hợp của Giáo hội Tin Lành Mennonite)

Bài của Đòan Thanh Liêm

Tin lành Mennonite là một giáo hội rất nhỏ, số tín đồ trên tòan thế giới tính ra chưa tới quá 1.5 triệu người. Số tín đồ đông nhất là ở nước Mỹ, thì cũng chỉ có trên 368,000 người. Nhưng họ lại tham gia rất tích cực trong lãnh vực từ thiện nhân đạo, cũng như trong công cuộc xây dựng hòa bình tại khắp nơi trên thế giới.

Giáo hội này đã khởi sự sinh họat tại Việt nam từ trên 50 năm nay, cả trong lãnh vực truyền đạo và họat động từ thiện nhân đạo.Trong những năm gần đây, các nhà thờ tại gia (house churches) của tín đồ Tin lành Mennonite bị chính quyền cộng sản làm khó dễ đủ điều, đặc biệt là đối với người sắc tộc theo đạo Mennonite tại các vùng rừng núi cao nguyên. Việc này đã bị dư luận quốc tế phản ứng mạnh mẽ, nên kể từ năm 2004 – 2005 trở đi, thì đã có sự nới lỏng dễ thở phần nào. Ta sẽ có dịp tìm hiểu cặn kẽ hơn về chuyện này trong khuôn khổ chính sách của chính quyền Hanoi đối với các tôn giáo ở Việt nam trong một dịp khác.

Trong bài này, người viết xin trình bày chi tiết hơn về các họat động của người Mennonite tại Mỹ, mà tôi đã có dịp gần gũi quen biết từ nhiều năm qua. Như đã ghi trên nhan đề, bài viết này sẽ lần lượt đề cập đến hai lãnh vực : Từ thiện Nhân đạo và Xây dụng Hòa bình.

I – Ủy ban Trung ương Mennonite – MCC

(Mennonite Central Committee)

Ủy Ban này là cơ quan lúc ban đầu chỉ chuyên về họat động từ thiện nhân đạo do sự phối hợp của hai giáo hội Mennonite ở Canada và Mỹ với tổng số tín đồ lên tới khỏang nửa triệu người. Nhưng sau này, thì MCC lại mở rộng phạm vi họat động thêm nữa sang lãnh vực xây dựng hòa bình, chuyển hóa tranh chấp, bênh vực công lý và nhân quyền. MCC có trụ sở chính tại thành phố Akron tiểu bang Pennsylvania, trong khu vực Lancaster gần với thủ phủ Harrisburg.

Cơ quan này khởi sự từ hồi đầu thập niên 1920 khi chế độ cộng sản bolshevik được thiết lập tại nước Nga, thì xảy ra nạn đói rất trầm trọng tại miền Ukraine vốn xưa kia nổi tiếng với “vựa lúa mì Ukraine”. Được thành lập tại Chicago vào năm 1920, lúc đầu MCC chuyên tìm cách cứu trợ những người đồng đạo Mennonite đang lâm vào cảnh đói khát tại Liên Xô trong thời kỳ nội chiến đẫm máu giữa hồng quân Liên Xô với quân bạch vệ. Chiến dịch cứu trợ này kéo dài cho đến năm 1925 với chi phí tổng cộng lên tới trên 1.2 triệu dollar theo giá trị vào thời đó. Sau đó trong thập niên 1930, MCC tập trung vào việc giúp định cư những người Mennonite tỵ nạn từ Liên Xô chạy qua các nước Brazil và Paraguay ở châu Mỹ latinh.

Trong thế chiến thứ hai 1939 – 45, MCC lo việc cứu trợ cho mọi nạn nhân chiến tranh (chứ không chỉ hạn chế cho các đồng đạo như lúc ban đầu) tại các nước Ba lan, Anh và Pháp. Và sau đó, MCC tiếp tục phát triển và tham gia vào việc cứu trợ tại nhiều nơi khác trên thế giới. Hiện nay, MCC đang họat động tại trên 50 quốc gia ở khắp 5 châu lục với tổng số nhân viên là trên 1,100 người và ngân sách hàng năm lên tới trên 70 triệu dollars.

Trong phần xác định mục tiêu họat động của mình, MCC ghi nhận ngắn gọn rõ ràng như sau : “ MCC tìm cách biểu lộ Tình yêu của Thiên Chúa bằng cách làm việc cùng với mọi người đang đau khổ vì nạn nghèo túng, vì tranh chấp, vì bị áp bức và vì là nạn nhân của thiên tai. MCC phấn đấu cho hòa bình, công lý và phẩm giá của mọi người bằng cách chia sẻ những kinh nghiệm, tài nguyên và niềm tin nơi Chùa Giêsu Kitô.”

Nhân đây, cũng cần phải phân biệt rằng họat động của MCC thì độc lập riêng biệt so với họat động truyền giáo của các nhà thờ Tin lành Mennonite, mặc dầu tất cả đều cùng theo đuổi một tôn chỉ là nhằm thể hiện tinh thần môn đệ Chúa Giêsu Cứu thế tại trần gian này.

1 / Hoạt động từ thiện nhân đạo.

MCC họat động tại rất nhiều nơi trong các chương trình cứu trợ khẩn cấp, phát triển cộng đồng, xây dựng hòa bình, điều giải tranh chấp, bênh đỡ các nạn nhân, bằng cách chi tiêu tiền mặt và cung ứng thực phẩm, thuốc men, quần áo và dụng cụ học sinh…Ngòai những cứu trợ cấp thời, MCC tập chú những cố gắng phát triển lâu bền vào các lãnh vực như y tế, giáo dục, công lý và hòa bình, và trao đổi thương mại sòng phẳng (fair trade).

Đặc biệt phải kể đến hệ thống các cửa hàng do MCC bảo trợ, có tên là “Ten Thousand Villages”, nhằm phổ biến các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại nhiều nơi trên thị trường Mỹ và Canada với doanh số hàng năm lên tới 5 triệu US dollars.

Riêng tại Việt nam, thì từ nhiều năm gần đây MCC vẫn có chương trình họat động thường xuyên tại nhiều địa phương trong các lãnh vực cứu trợ, phát triển cộng đồng, giáo dục, y tế, tín dụng nhỏ, cung ứng nước sạch, chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS, cấp học bổng, dậy Anh ngữ tại đại học… Ngân khỏan chi tiêu mỗi năm cho các chương trình này ở Việt nam lên đến 9 triệu dollars, với số nhân sự lên tới gần 20 người.

2 / Họat động xây dựng hòa bình.

MCC tổ chức 3 văn phòng vận động (advocacy offices) bên cạnh tổ chức Liên Hiệp Quốc và các chính quyền Canada & Mỹ. Văn phòng ở New York được gọi là  MCC United Nations Liaison Office. Văn phòng ở thủ đô của Canada có tên là MCC Canada Ottawa Office. Văn phòng ở thủ đô Mỹ có tên là MCC US Washington Office. Cả ba văn phòng này vừa làm công tác thông tin liên lạc, phối hợp họat động và vận động về đường lối chính sách theo tinh thần hòa bình, công lý bên cạnh Liên Hiệp Quốc và các chính phủ Canada và Mỹ.

Các văn phòng này tiếp nối tinh thần của các vị tiên tri như Môisen, Esther, và John the Baptist là dám đương đầu với viên chức chính quyền về những vấn đề công lý và đức tin (challenge public officials on issues of justice and faith). Đó là một hình thức làm chứng nhân và phương cách cụ thể của lòng yêu thương con người đồng lọai bên cạnh mình vậy.

Lập trường kiên quyết chống việc sử dụng bạo lực và chiến tranh để giải quyết những mối bất đồng tranh chấp trong xã hội, thì luôn luôn được người Mennonite (cũng như người Amish và người Quaker) theo đuổi từ nhiều thế kỷ nay, mặc dầu họ thường bị các chính phủ ngăn cấm và đàn áp. Từ lâu nay, họ luôn tự nhận mình là “người chống đối không tham dự chiến tranh vì lý do lương tâm ” (Conscientious Objector = CO) và cương quyết không tham gia nghĩa vụ quân sự trong thời chiến tranh, dù có bị chính quyền làm khó dễ đến mức nào đi nữa.

Vào cuối năm 2008, do sự sắp xếp của vị Đại sứ của chính quyền Hanoi cạnh Liên Hiệp Quốc, Giám đốc Văn phòng Liên lạc của MCC ở New York là Doug Hostetter đã có dịp trao đổi thân mật và thẳng thắn với phái đòan Ban Dân Vận Trung ương của Đảng Cộng sản Việtnam về sự liên hệ giữa Tôn giáo và Chính quyền nước Mỹ, dựa trên tinh thần của Khỏan 1 Bản Tu chính trong Hiến Pháp Hoa kỳ. Cụ thể là Nhà nước tách biệt với Tôn giáo, nhưng giữa hai phía lại có sự tương kính tôn trọng lẫn nhau và có sự bảo đảm về tình trạng ” tự do tín ngưỡng và đa nguyên tôn giáo”.

II – Sự kết hợp giữa Đại học và Tôn giáo.

Riêng tại nước Mỹ, Giáo hội Mennonite đã thành lập được nhiều trường đại học, điển hình như  Eastern Mennonite University (EMU) tại Harrisonburg Virginia, Fresno Pacific University (FPU) ở California, Goshen College (GC) ở Indiana… Đó là chưa kể đến một chủng viện có quy mô lớn, lấy tên là Associated Mennonite Biblical Seminary (AMBS) tại Elkhart Indiana.

Các cơ sở giáo dục này là biểu hiện của sự hợp tác chặt chẽ giữa giới hàn lâm đại học và giới họat động tôn giáo. Đặc biệt trong vài chục năm gần đây, thì tại các cơ sở đại học này, ngòai công tác thường lệ về giảng dậy đào tạo sinh viên, thì lại đã có nhiều sự nghiên cứu trao đổi, gặp gỡ quốc tế để học hỏi thảo luận về những vấn đề sinh tử của thế giới ngày nay, điển hình như : – làm sao chấm dứt hay giảm bớt được những tranh chấp căng thẳng đẫm máu vì lý do sắc tộc, tôn giáo tại các địa phương? – làm sao chấm dứt được tình trạng bất công, bóc lột, đàn áp tàn bạo nhan nhản ở khắp nơi? – làm sao hàn gắn được những hận thù đổ vỡ giữa các nhóm đối nghịch cựu thù với nhau? v.v…

Những cuộc chiến tranh tại các địa phương khắp nơi kể từ sau năm 1945, thì còn gây ra sự thiệt hại khủng khiếp về nhân mạng tổng cộng gấp mấy lần so với hai cuộc thế chiến hồi đầu thế kỷ XX. Đó là điều khiến cho các tôn giáo hiện nay rất quan tâm lo lắng và cùng tìm mọi phương cách để giảm bớt lọai tai họa này do con người gây ra (man – made disaster) ngay tại mỗi địa phương.

Cụ thể như tại đại học EMU ở Virginia, cách xa thủ đô Washington DC chừng 100 miles, thì từ trên 15 năm nay đã thiết lập một cơ sở lấy tên là “Trung tâm Công lý và Xây dựng Hòa bình (CJP = Center for Justice and Peacebuilding) trong đó ngòai việc nghiên cứu lại còn có chương trình đào tạo bậc Cao học về “Chuyển hóa Tranh chấp” ( Master of Arts in Conflict Transformation). Hiện đã có đến trên 300 sinh viên tốt nghiệp về ngành này, trong số đó có mấy sinh viên từ Việt nam được cấp học bổng sang theo học tại đây.

Trong khuôn khổ của CJP tại EMU, lại còn có Viện Xây dựng Hòa bình Mùa Hè ( Summer Peacebuilding Institute = SPI). Viện này chuyên tổ chức các khóa hội thảo học tập trong suốt mấy tháng 5 và 6 mỗi năm dành cho các tham dự viên từ khắp nơi trên thế giới quy tụ gặp gỡ nhau để cùng trao đổi kinh nghiệm với nhau về các đề tài như “Hàn gắn Chấn thương” (Trauma Healing), “Chuyển hóa Tranh chấp” (Conflict Transformation), “ Công lý phục hồi” (Restorative Justice), “Phát triển cộng đồng và phát triển quốc tế”  (Community and International Development)… Các chương trình học hỏi trao đổi này đều do các giáo sư hướng dẫn điều khiển, nên có giá trị vững chắc theo đúng tiêu chuẩn nghiêm túc của môi trường đại học.

Hiện đã có trên 2,200 tham dự viên từ 121 quốc gia trên thế giới đến sinh họat trong các mùa hè tại đây. Các tham dự viên thuộc đủ mọi nghề nghiệp khác nhau và theo khuynh hướng tôn giáo khác nhau, như Tin lành, Công giáo, Chính thống giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Ấn độ giáo  v.v… Có người là mục sư, linh mục, nữ tu, chức sắc tôn giáo, hoặc chỉ là tín đồ bình thường. Có người là dân biểu, nghị sĩ, giáo sư, luật sư, kỹ sư, viên chức chính quyền hay là thiện nguyện viên… họat động ở những vùng xa xôi hẻo lánh.

Và hiện đã có tất cả 7 viện Xây dựng Hòa bình trong 6 quốc gia đang sinh họat theo mô hình SPI của EMU.

III – Đòan Xây dựng Hòa bình Thiên chúa giáo

(Christian Peacemaker Teams  CPT)

CPT là một tổ chức quốc tế được thành lập vào giữa thập niên 1980 nhằm yểm trợ các thiện nguyện viên họat động cho hòa bình trong các vùng có tranh chấp trên thế giới. CPT có nguồn gốc từ các nhà thờ theo chủ trương Hòa bình (Peace Churches) tại Bắc Mỹ và được sự hỗ trợ của các giáo hội Mennonite ở Mỹ và Canada và một vài giáo hội khác. Họ theo đuổi chủ trương bất bạo động trong việc góp phần hòa giải tranh chấp tại các địa phương. Hiện CPT có chừng 30 đòan viên họat động tòan thới gian cùng với trên 150 đòan viên trừ bị (reservists) tự nguyện tham gia công tác từ 2 tuần đến 2 tháng mỗi năm.

CPT đang họat động tại Colombia, Irak, West Bank (giữa Do Thái & Palestine), biên giới Mỹ- Mễ Tây Cơ, Kenora, Ontario Canada. Họ theo lý tưởng Xây dựng Hòa bình của Chúa Kitô, nhưng lại không nhằm đi truyền đạo như các vị thừa sai. Các đòan viên này là những tín hữu có niềm tin sâu sắc và kiên trì dấn thân bằng hành động cụ thể và bất bạo động theo đúng lời giảng dậy trong kinh thánh là : “Phúc thay cho những ai làm cho người hòa thuận” (Blessed are the peacemakers). Họ sinh sống và cùng làm việc với các người có thiện chí tại những vùng có tranh chấp căng thẳng,  nhằm mục đích duy nhất là tìm cách hòa giải giữa các phe đối kháng thù nghịch lẫn nhau. Vì thế mà họ gặp rất nhiều hiểm nguy đến tính mạng của bản thân mình.

Điển hình như vào cuối năm 2005, bốn thành viên họat động về nhân quyền liên kết với CPT đã bị bắt cóc ở thủ đô Baghdad của Irak, trong đó có ông Tom Fox bị hạ sát. Ông này 54 tuổi và là một vị lãnh đạo của chương trình sinh họat thanh niên tại Virginia. Và những đòan viên CPT họat động trong lãnh thổ của người Palestine tại vùng West Bank, thì nhiều khi bị thương tích do những cuộc xung đột thường xuyên giửa người định cư Do thái (settler) với người Palestine địa phương.  Cả ở Colombia, Mexico bên Nam Mỹ, thì CPT cũng thường gặp những chuyện hiểm nguy tương tự như vậy nữa.

Nói chung, thì trong mấy chục năm gần đây, các tôn giáo đã bắt đầu tham gia tích cực và cụ thể vào lãnh vực xây dựng hòa bình và bảo vệ công lý tại hạ tầng cơ sở ở các đia phương, cũng như tham gia góp phần xây dựng hòa bình trên bình diện tòan thế giới nữa. Từ vị thế làm đối tác (counterpart) với chính quyền nhà nước, thông qua những họat động từ thiện xã hội nhân đạo truyền thống, các tôn giáo đã can đảm chủ động dấn thân nhập cuộc hơn trong vai trò làm đối trọng (counterbalance) đối với chính quyền để bảo vệ người công dân trước những bất công, bóc lột đàn áp và dày xéo nhân phẩm do các thế lực chuyên chế thống trị gây ra. Những hoạt động của các tín đồ Mennonite tại Canada và Mỹ như được ghi lại vắn tắt trong bài viết này, thì đó là một minh họa rõ ràng cho chiều hướng nhập cuộc hết mình của Tôn giáo cùng với xã hội ngày nay vậy.

Trong một bài viết sau, chúng tôi sẽ trình bày về họat động của Hội đồng Giám mục Công giáo tại châu Mỹ Latinh (CELAM). Xin mời quý bạn đọc tiếp tục đón xem./

Costa Mesa, tháng 7 năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Tôn giáo và Xã hội Dân sự (1).

Tôn  giáo  và  Xã  hội  Dân  sự (1).

Lọat bài nhiều kỳ của : Đòan Thanh Liêm

Bài I –  Mối liên hệ giữa Tôn giáo và Chính quyền Nhà nước.

Như ta đã biết : Xã hội Dân sự (XHDS) là một khu vực khác biệt với khu vực Chính quyền Nhà nước và khu vực Thị trường Kinh doanh, đó là ba khu vực cấu thành cái Không gian Xã hội do con người sống hợp quần với nhau trong xã hội mà tạo lập ra. Và càng ngày với sự tiến bộ của nền dân chủ tại khắp nơi trên thế giới, thì sinh họat của XHDS mỗi ngày càng thêm khởi sắc phong phú hơn.

Ta có thể tóm lược cái định nghĩa này về XHDS trong một phương trình đơn giản như sau :

Không gian Xã hội = Nhà nước + Kinh doanh + Xã hội Dân sự

(The Social Space = The State + The Marketplace + The Civil Society).

Khu vực XHDS bao gồm các tổ chức phi chính phủ, bất vụ lợi (non- governmental, non-profit organisations – NGO – NPO) và các nhóm nhỏ (small groups) do các cá nhân hay tập thể tự nguyện đứng ra thành lập và điều hành. Như vậy, các tổ chức nhân đạo từ thiện hay văn hóa xã hội do các tôn giáo trực tiếp đảm trách hay yểm trợ, thì đều thuộc khu vực XHDS. Vì các tổ chức này đều có tính chất bất vụ lợi, nên cũng khác biệt với các công ty xí nghiệp có tính cách vụ lợi (for profit) thuộc khu vực thị trường kinh doanh.

Cụ thể như tại nước Mỹ, thì có đến cả triệu các đơn vị NGO ( mà hầu hết được chánh quyền cấp phát cho quy chế miễn thuế) và trên 3 triệu nhóm nhỏ (không cần đăng ký để được miễn thuế). Và trong các tổ chức này, thì có đến 60% xuất phát từ các tôn giáo, mà thường được gọi là các tổ chức họat động xã hội dựa vào niềm tin tôn giáo ( Faith-based social action organisations/groups).

Trong một thể chế dân chủ đích thực, thì chánh quyền nhà nước không bao giờ lại đi can thiệp vào sinh họat riêng biệt của các tổ chức thuộc khu vực XHDS. Mà trong một số trường hợp, nhà nước lại còn cấp ngân khỏan tài chánh, và yểm trợ cho các họat động từ thiện nhân đạo hay văn hóa xã hội của XHDS nữa. Và ngân khỏan điều hành chủ yếu của các đơn vị trong khu vực XHDS là do sự đóng góp tự nguyện của các thành viên, hay do sự tài trợ của các công ty xí nghiệp kinh doanh cấp phát cho (các khỏan tài trợ này đều được khai miễn thuế – tax exempt).

Chỉ có trong một chế độ chuyên chế độc tài tòan trị (totalitarian dictatorship) như tại Trung hoa, Việt nam, Bắc Triều tiên và Cuba hiên nay, thì đảng cộng sản mới xâm nhập, lũng đọan tòan thể khu vực XHDS, cũng như khống chế cả khu vực kinh doanh kinh tế nữa. Điển hình như tại Việt nam hiện nay, thì các cơ sở ngọai vi của đảng như Mặt trận Tổ quốc, Tổng Công đòan, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, Hội Nhà văn v.v…, mặc dầu trên danh nghĩa đó là các tổ chức phi chánh phủ và bất vụ lợi, nhưng thực chất thì đều do đảng cộng sản lập ra để nắm giữ độc quyền thao túng và lũng đọan tòan bộ XHDS, nhất là để khống chế đối với các tổ chức tôn giáo.

Trong bài Dẫn nhập này, ta sẽ bàn về mối Liên hệ của Tôn giáo đối với chính quyền Nhà nước dưới các khía cạnh sau đây :

1/ Sụ tách biệt giữa Tôn giáo và Nhà nước.

(Separation of  Church and  State)

2/ Vai trò Tôn giáo làm Đối tác đối với Nhà nước (Counterpart).

3/ Vai trò Tôn giáo làm Đối trọng đối với Nhà nước

(Counterbalance)

*  Sự tách biệt giữa Tôn giáo và Nhà nước.

Từ mấy trăm năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng được một nền nếp sinh họat chính trị xã hội khá ổn định vững chãi, mà trong đó phải kể đến sự tách biệt rõ ràng giữa hai lãnh vực họat động của Tôn giáo và của chính quyền Nhà nước. Cụ thể là các Tôn giáo không tìm cách can thiệp, khuynh lóat hay thao túng vào công việc của cơ quan nhà nước. Và ngược lại, chính quyền Nhà nước cũng không xen vào sinh họat đạo đức tâm linh của các tổ chức tôn giáo.

Phạm vi họat động của một nhà nước thế tục càng ngày càng được quy định rõ rệt và chi tiết về nhiều phương diện chính trị, kinh tế xã hội cũng như văn hóa. Và dù có sự khác biệt tại một số quốc gia do ảnh hưởng của truyền thống lịch sử để lại, thì chiều hướng chung hiện nay trên thế giới vẫn là : lãnh vực thần quyền của tôn giáo không được lấn át hay đồng hóa vào trong lãnh vực thế tục của nhà nước; mà trái lại hai bên đều có sự tương kính và tương trợ lẫn nhau trong ý hướng cùng chung phục vụ quần chúng nhân dân. Đó là điều ta sẽ thảo luận chi tiết hơn trong hai mục tiếp theo sau đây.

** Vai trò Tôn giáo làm Đối tác với Nhà nước.

Chính quyền Nhà nước dù có thiện chí đến mấy đi nữa, thì cũng không thể chăm sóc đày đủ cho người dân về mọi phương diện vật chất cũng như tinh thần được, nhất là khi gặp thiên tai bão lụt, động đất, hay khi có chiến tranh tàn phá. Do đó mà cần phải có sự hợp tác của các tổ chức từ thiện nhân đạo của tư nhân, đặc biệt là của các tổ chức xã hội của Tôn giáo, để cùng chung sức góp phần vào việc phục vụ các nạn nhân, các bệnh nhân ngặt nghèo như bệnh phong cùi, bệnh HIV/AID, và tầng lớp quần chúng kém may mắn nhất của xã hội như trẻ mồ côi, góa phụ, người già neo đơn v.v… Về giáo dục, y tế cũng vậy, các trường công cũng như các bệnh viện công lập của nhà nước không thể thỏa mãn được nhu cầu của số quá đông các học sinh hay bệnh nhân, do đó mà cần phải để cho các tổ chức tư nhân cũng như các tôn giáo tham gia vào lãnh vực y tế giáo dục này.

Chỉ có trong chế độ độc tài cộng sản, thì nhà nước mới giữ độc quyền, không hề để cho các tổ chức tư nhân được tham gia vào việc phục vụ xã hội, như ta thấy ở Việt nam từ khi có chế độ cộng sản đến nay.

Tại các quốc gia dân chủ, không những tôn giáo được quyền tham gia vào các họat động xã hội, mà lại còn được nhà nước khuyến khích hỗ trợ để tôn giáo có thể phục vụ người dân một cách thỏa đáng hơn nữa. Cụ thể như ở nước Pháp, thì nhà nước thường trợ cấp và dành nhiều thuận lợi cho những cơ sở xã hội từ thiện nào mà được công nhận là có ích lợi công cộng, thí dụ như Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Hội Bác Ái Vincent de Paul v.v… (organisation reconnue d’utilité publique). Vì có sự hợp tác cụ thể và thường xuyên như vậy, nên đã phát sinh ra sự hiểu biết thông cảm và thân thiện giữa các viên chức cán bộ cùa Nhà nước với các tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo. Và từ đó mà lần hồi tránh bớt được những ngộ nhận, thành kiến, ác cảm đối nghịch thường có giữa hai phía Nhà nước và Tôn giáo.

Triết gia người Pháp nổi danh là Jacques Maritain từ hồi giữa thế kỷ XX đã nhận định rằng tại nước Mỹ thì từ lâu đã có “ sự  phân biệt sắc nét và sự hợp tác thực tế ” giữa tôn giáo và nhà nước (sharp distinction and actual cooperation), mà ông gọi đó là một “kho báu lịch sử” rất đáng trân trọng cần phải được duy trì và phát triển thêm lên mãi (an historical treasure).  Và mới đây, vào đầu thế kỷ XXI Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp cũng kêu gọi phải phát triển cái “tinh thần thế tục tích cực” (a positive laicité) với thái độ cởi mở hơn đối với tôn giáo.

*** Vai trò Tôn giáo làm Đối trọng đối với Nhà nước.

Chính quyền nào thì cũng dễ có khuynh hướng lạm quyền và vượt quyền, khiến gây ra những sự bất công áp bức đối với người dân. Vì thế mà tại các nước dân chủ, người ta mới phải áp dụng các phương thức gọi là “ kiểm soát và cân bằng” (checks and balance), nhằm ngăn chặn những vi phạm sai trái của cơ quan thi hành luật pháp mà thường gây ra thiệt hại cho dân chúng. Giới truyền thông báo chí, các tổ chức bênh vực nhân quyền, các đại diện dân cử do người dân bàu ra… đều có trách nhiệm đóng vai trò cảnh giác và ngăn chặn đối với những vi phạm này của nhân viên chính quyền.

Vì đi sâu đi sát với quần chúng nhân dân, nên Tôn giáo dễ phát hiện ra được những sự bóc lột bất công áp bức trong xã hội, và do đó cũng phải có trách nhiệm tham gia vào việc bảo vệ người dân bằng cách làm áp lực bắt buộc chính quyền phải sửa sai chấn chỉnh lại cái lề lối cai trị của mình, phải bài trừ nạn sa đọa quan liêu tham nhũng của nhân viên cán bộ nhà nước. Muốn làm được như vậy, thì giới tu sĩ và các tín đồ phải có lòng ngay thẳng và sự dũng cảm để dấn thân nhập cuộc cùng với tầng lớp sĩ phu trí thức, với giới văn nghệ sĩ – là những thành phần ưu tú của Xã hội Dân sự – trong sự nghiệp tranh đấu chung cho công bằng xã hội, cho nhân phẩm và nhân quyền của tòan thể cộng đồng dân tộc.

Thái độ im lặng, thụ động buông xuôi trước những bất công áp bức đày rẫy trong xã hội thì rõ ràng đó là sự lẩn tránh trách nhiệm, là cái tội đồng lõa với giới cầm quyền thống trị ác nhân ác đức. Đó là điều mà người chính nhân trượng phu quân tử, cũng như giới lãnh đạo tinh thần đích thực nơi các tôn giáo, thì không bao giờ lại có thể mắc phải được. Dân gian ta vẫn thường nói là : “ Anh hùng thấy sự bất bình chẳng tha”. Đó là sự nhắc nhở đề cao tán dương cái hành động cao quý của người có nghĩa khí hào hiệp, biết xả thân ra tay bênh vực cứu vớt những nạn nhân khốn khổ trước sự lộng hành của bọn côn đồ ác ôn thường hãm hại đàn áp dân lành vậy.

Nói vắn tắt lại, muốn làm tròn nghĩa vụ làm Đối trọng đối với chính quyền Nhà nước, thì giới lãnh đạo Tôn giáo cần phải có sự hợp tác chặt chẽ với giới Hàn lâm Đại học (Academy), vì giới này có sự hiểu biết bao quát và chính xác về tình hình xã hội, họ có tầm nhìn xa, có viễn kiến sâu rộng (global thinking / global vision). Họ có Trí tuệ thông suốt, mà Tôn giáo thì có cái tấm lòng từ bi nhân hậu, có sự hy sinh nhẫn nại kiên trì. Cho nên nếu kết hợp được cái Tâm và cái Trí như vậy, thì nhất định việc xây dựng và phát triển xã hội có cơ may thành công tốt đẹp, đáp ứng được niềm mong ước chính đáng của đại đa số quần chúng trong xã hội ngày nay vậy.

Nhân đây, cũng cần phải xác định cho rõ rằng : Xã hội Dân sự cũng như Tôn giáo, thì không bao giờ lại nhằm vào việc đánh đổ hay thay thế chính quyền Nhà nước. Mà XHDS chỉ nhằm hợp tác với Nhà nước để cùng chung nhau phục vụ dân tộc một cách có hiệu quả tối ưu mà thôi.

Trên đây là mấy suy nghĩ hết sức đại cương tóm lược về sự dấn thân nhập cuộc của Tôn giáo trong hòan cảnh xã hội đương thời, nhằm sát cánh chung với các thành phần khác của Xã hội Dân sự trong sự nghiệp xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và nhân ái tại mỗi một địa phương quốc gia.

Trong các bài kế tiếp, chúng tôi sẽ xin trình bày chi tiết hơn về kinh nghiệm họat động cụ thể và suy nghĩ đúc kết của một số tổ chức tôn giáo điển hình có danh tiếng trên thế giới, và đặc biệt tại riêng một số quốc gia ở Á châu, Phi châu và châu Mỹ La tinh.

Xin quý độc giả đón coi tiếp theo vậy nhé./

California, Tháng Năm 2011

Đòan Thanh Liêm

ÁNG HƯƠNG LÒNG

ÁNG HƯƠNG LÒNG

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ.

Có nhiều thứ trầm hương, hương dâng trong đền thờ Phật, trong đền thờ Chúa.  Kho tàng văn chương tu đức Ðông Phương, có câu chuyện kể về hương trầm như sau:
Làng kia có ngôi chùa.  Dân trong làng đem tượng Phật của mình đến để trong chùa.  Ngày rằm, người ta đến dâng hương Ðức Phật.  Trong số các tín nữ đến chùa có bà quê nghèo không tiền mua nhang.  Trong số các tín nữ ấy, có bà mang theo hương quả.  Bà để ý thấy bà quê kia không bao giờ mang hương lạy Phật.  Dần dần bà đem lòng khó chịu.
Cứ khi đốt nhang lên tượng Phật của bà, bà quê kia liền lạy theo.  Với cái khó chịu, bà nghĩ rằng bà quê kia keo kiệt, chỉ chờ người khác dâng nhang là lạy ké.  Bà đâm lòng ghét bỏ.  Suy nghĩ mãi, lần sau đến chùa, bà mang theo kế hoạch.  Trước khi đốt nhang, bà lấy tàu lá đu đủ làm thành ống dẫn hương đổ lên mặt Ðức Phật, đầu kia bà lấy cái phễu gắn vào.  Bà chỉ lạy nhang cho bay vào cái phễu để lên mặt Ðức Phật của bà, không cho hương thoát sang tượng Phật bà kia.  Lạy xong, nhìn lên, bà thấy sao mặt  Ðức Phật của bà mặt mày đen đủi, hai lỗ mũi đen kịt khói.  Còn tượng Phật của bà quê kia vẫn cứ đẹp đẽ sáng ngời.
Trong kho tàng tu đức nhà Ðạo, sách tiên tri Isaia viết:
“Chúa phán: Muôn vàn hy lễ có lợi gì cho Ta?  Ta đã chán chê và không còn ưa thích những của lễ toàn thiêu bằng chiên đực, mỡ các súc vật béo nữa.  Khi các ngươi đến trước mặt Ta ai kiểm soát các vật ấy nơi tay các ngươi, để các ngươi đi vào hành lang của Ta?  Các ngươi đừng tiếp tục dâng hiến cho Ta những tế lễ vô ích nữa.  Ta ghê tởm mùi hương.  Ta không chịu được các ngày đầu tháng, các ngày sabbat và các ngày lễ trọng khác.  Ta chán ghét những ngày trăng mới và các ngày lễ trọng của các ngươi.  Tất cả những thứ đó làm khổ Ta.  Ta đã nhàm chán chịu đựng rồi.  Khi ngươi giơ tay các ngươi lên thì Ta quay mặt đi.  Khi các ngươi càng cầu nguyện thì Ta càng không nhận lời vì tay các ngươi vấy đầy máu.  Các ngươi hãy tắm rửa, hãy thanh tẩy, hãy hãm dẹp khỏi mặt Ta các tư tưởng xấu xa” (Is. 1:10-20)

Trầm hương dâng Phật hay Chúa phải là nén hương lòng.  Của lễ nào vào đền thánh phải siêu thoát từ con tim.  Hôm nay có nhiều thứ hương trầm, nhiều thứ của lễ lắm.
Ðầu tháng hoa, nếu ba cộng đoàn hợp nhau rước kiệu, kiệu nào đi trước?  Nhóm mình hay nhóm kia?  Kiệu Ðức Mẹ Lộ Ðức hay La Vang, Fatima hay Hằng Cứu Giúp?
Sự cạnh tranh, thiếu siêu nhiên dường như nó bàng bạc khắp nơi.  Có đông người, nhiều của lễ là có so sánh.  So sánh thì có hơn thua.  Hãnh diện thì cũng có không hãnh diện.  Thành công thì cũng có kém thành công.  Tiếng khen thường nằm cạnh tiếng chê, cho dù tiếng chê ấy không nói ra.  Nó âm thầm mà khó chịu.

Một con người ba khuôn mặt.

Vì sao trong việc thờ phượng, người ta lại cạnh tranh như thế?
Có lẽ cái thiếu thức tỉnh của cuộc sống đưa đến nỗi xấu xa ấy.  Mỗi người đều sống với ba khuôn mặt này: Kinh tế, chính trị và tôn giáo.
Con người kinh tế: Ai cũng cần của ăn, áo mặc, nhà ở.  Nghèo thì khổ.  Nghèo không thể tiến thân.  Muốn có nhiều tiền, phải cạnh tranh.  Tôi không khá hơn, người kia sẽ chiếm mất, lấn át tôi.  Hai tiệm ăn gần nhau, muốn tiệm mình có nhiều khách, tiền vào nhiều hơn, phải cạnh tranh.  Chiếm được khách bên kia là ưu tư của mình.  Bất cứ gì đụng tới vật chất, tiền bạc, kinh tế đều chạm tới cạnh tranh.
Con người chính trị: Nếu tôi không mạnh, người khác sẽ xâm lăng.  Kẻ có quyền là người có miếng.  Tôi phải quen biết người có thế lực để cậy nhờ.  Tôi cần có thế lực để gây ảnh hưởng.  Nếu tôi không cai trị người, người sẽ cai trị tôi.  Xã hội nào cũng mạnh được yếu thua.  Cá lớn nuốt cá bé. Quyền lực đến từ nhu cầu sống còn, nó nằm sâu trong bản tính con người.  Ai cũng muốn quyền lực.
Con người tôn giáo: Tôn giáo đi tìm thế giới siêu nhiên, đưa con người đến những liên quan tới Trời.  Tôn giáo mời gọi con người đến giá trị chân thật của lương tâm.  Hiểu như thế, tiếng gọi của tôn giáo nào cũng đẹp, niềm tin tôn giáo nào cũng đáng mến và con người tôn giáo nào cũng đáng yêu.

Ba khuôn mặt trong đền thờ.

Ai cũng đều mang cả ba bộ mặt kinh tế, chính trị, tôn giáo trong một con người.  Khi con người tôn giáo bước vào đền thờ, bước vào chung với cả hai khuôn mặt kia: Kinh tế và chính trị.  Họ vừa buôn bán ngoài đường phố ban sáng, vừa âm mưu một ý định chính trị ban trưa, chiều nay bước vào đền thờ dâng hương, không thể để con người chính trị và kinh tế ở nhà.  Chiều nay bước vào đền thờ, họ bước vào với cả ba khuôn mặt.  Từ đó nảy sinh một cách vô ý thức là tôn giáo, kinh tế và chính trị lẫn lộn với nhau.  Rồi tôn giáo bị sự canh tranh của hai con người kia điều khiển, xúi đẩy.
Người ta đem cạnh tranh trong kinh tế vào tôn giáo.  Ðem cạnh tranh trong quyền lực vào tôn giáo.  Cho nên xứ đạo mình phải tổ chức linh đình hơn xứ đạo kia.  Tìm cách lôi kéo người khác vào phong trào mình để phong trào này đông hơn phong trào nọ.  Ðạo mình phải nổi hơn đạo khác.  Ðền thờ này thiêng hơn đền thờ kia.  Từ đó, tượng Ðức Phật bị dơ do lòng con người dâng những áng hương hẹp hòi nhỏ mọn.  Từ đó, tượng Chúa kêu than thành tiếng: “Ta chán ghét những ngày trăng mới và các lễ trọng của các ngươi.  Tất cả những thứ đó đã làm khổ Ta.  Ta nhàm chán chịu đựng rồi” (Is. 1:10-20).
Thực tế cho thấy, thu xếp sao cho các ca đoàn trong giáo xứ hát chung với nhau trong một lễ trọng đã là khó rồi!  Nhỏ như vậy, đã vương khói u ám, thì những công trình liên họ đạo, liên địa phận còn khó như thế nào.  “Các ngươi đừng tiếp tục hiến dâng cho Ta những lễ tế vô ích nữa.  Ta ghê tởm mùi hương.”  Không có tấm lòng siêu thoát, tất cả thờ phượng tôn giáo chỉ là những làn khói đen chứ không còn là hương trầm.  Số phận của những con người làm nên nó đã được nhắc đến trong ngôn sứ Isaia: “Khi các ngươi giơ tay lên thì Ta quay mặt đi.  Khi các ngươi càng cầu nguyện thì Ta càng không nhận lời.  Vì tay các ngươi vấy đầy máu.”

* * *

Thay vì con người tôn giáo phải hướng dẫn con người tiền bạc và con người quyền thế, hôm nay, dường như con người tôn giáo đang thu nhỏ lại trước hai con người kia.  Từ đó, hương khói trong đền thánh không còn là áng hương lòng, nó là u uất của những làn khói đen vì cạnh tranh nhau.
Cạnh tranh trong tôn giáo làm cho đời sống tâm linh nhỏ nhoi.  Khi cuộc sống tâm linh nghèo nàn, tâm hồn ấy không còn bình an nội tại và niềm vui nữa.  Chung quanh cuộc đời sẽ bị giằng co bằng cạnh tranh, họ băn khoăn làm sao hơn người.  Cạnh tranh dẫn đến lo âu.  Cạnh tranh dẫn đến buồn vì sợ người khác nổi hơn mình.  Trong khi thánh Phaolô nói rõ “hoa trái của Thánh Thần là bác ái, vui mừng, bình an, nhẫn nhục, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gal. 5:22).
Cạnh tranh trong sinh hoạt tôn giáo là sự ngột ngạt của những làn khói đen che kín tâm hồn. Của lễ dâng Chúa trong sự cạnh tranh, bấy giờ trở thành thờ cúng ngẫu tượng.

Chính vì thế tiên tri Isaia đã nói bằng ngôn ngữ rất mạnh.  Thiên Chúa ghê tởm những của lễ đó.  Thiên Chúa nhàm chán chịu đựng.  Thiên Chúa khổ tâm.
Thấy mình không vui vì người khác được ca ngợi, thấy mơ hồ sự ghen tị, thèm muốn cạnh tranh trong việc tông đồ, lúc đó, ta cần đọc lại những lời này:
“Các ngươi đừng tiếp tục dâng hiến cho Ta những lễ tế vô ích nữa.  Ta ghê tởm mùi hương.  Ta không chịu được các ngày đầu tháng, các ngày sabbat và các ngày lễ trọng khác.  Ta chán ghét những ngày trăng mới và các ngày lễ trọng của các ngươi.  Tất cả những thứ đó đã làm khổ Ta.  Ta đã nhàm chán chịu đựng rồi” (Is. 1:10-20).

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ.

Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Nguoi-viet.com
HÀ NỘI 13-7 (NV) – Các học sinh được đài truyền hành nhà nước VTV1 phỏng vấn trắc nghiệm kiến thức lịch sử đều không biết Quang Trung Nguyễn Huệ là ai, thậm chí còn nói các điều làm người ta ngỡ ngàng.

Học sinh này cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Báo Dân Trí hôm Chủ Nhật 12/7/2015 thuật lại kèm theo video clip của đài VTV1 phát hình phóng sự phỏng vấn kiến thức học sinh trong mục “Chuyển động 24h” hôm Thứ Bảy trước đó. Các câu trả lời về kiến thức sử học của 7 học sinh cấp trung học cơ sở tại Việt Nam sây sốc cho mọi người khi được phóng viên hỏi “Quang Trung và Nguyễn Huệ có mối quan hệ gì với nhau?”

Một học sinh trả lời cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Học sinh này còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung.” Một học sinh nói hai ông Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu.” Một học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. Chỉ có một học sinh hiểu đúng Quang Trung Nguyễn Huệ là … một.

Sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam ở các cấp từ tiểu học, đều nhắc đến trận chiến thắng lẫy lừng tại Ngọc Hồi – Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ (vua Quang Trung) chỉ huy đánh tan tành quân nhà Thanh xâm lược vào thế kỷ 18.

Môn sử học từ bậc Tiểu học đến Trung học ở Việt Nam từng bị đả kích rất nhiều về sai lầm đầy ngập trong sách giáo khoa do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo CSVN độc quyền in ấn phát hành, đến cách dạy máy móc buồn ngủ của các ông bà thày giáo. Các điều này dẫn đến hệ quả là học sinh không ưa môn sử.

Học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Em còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung” (Hình Dân Trí- cắt từ video clip)

Tờ VietnamNet hôm 13/7/2015 dẫn các con số thống kê từ kỳ thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông vừa diễn ra và năm 2014 cho thấy rất ít học sinh chọn môn sử (thi nhiệm ý).

“Số liệu thống kê của hai năm gần đây nhất cho thấy, trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 toàn quốc có 910,831 học sinh đăng ký dự thi, có số lượng thí sinh đăng ký thấp nhất trong 4 môn thi tự chọn là môn lịch sử với 104,959, chiếm 11.52%. “ Vietnamnet kể. “Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2015 vừa qua, môn Lịch sử cũng có số lượng thí sinh chọn thi thấp nhất, với 153,688 em đăng ký (chiếm 15,3% trong tổng số gần 960 nghìn thí sinh đăng ký dự thi).”

Dẫn ra những chi tiết đáng ngao ngán hơn, Vietnamnet cho biết “Trường Lương Thế Vinh (Hà Nội), chỉ có 1 học sinh chọn môn Lịch sử. Trường THPT Việt Đức (Hà Nội) có 3% Trường THPT Đinh Tiên Hoàng có 6% học sinh đăng ký thi môn này… Trong buổi sáng ngày 4/7, các điểm thi ở Yên Thành và thị xã Thái Hòa (Nghệ An) do Hội đồng thi của Sở GD-ĐT Nghệ An chủ trì, chỉ có duy nhất 1 thí sinh thi môn Lịch sử…”

Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, phân tích trên Vietnamnet về sự sai lầm của những ông quan quản lý giáo dục: “Quan niệm hiện nay không đúng từ rất nhiều phía, khi cho rằng lịch sử chỉ là một môn học, mà quên đi nó còn là thứ để dung dưỡng tâm hồn, lòng yêu quê hương đất nước. Nếu nhìn nhận như vậy, thái độ của chúng ta đối với môn lịch sử sẽ khác chứ không phải như chúng ta đang làm hiện nay. Đây là lỗi của nhà quản lý.”

Học sinh cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu”. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Đồng thời, ông nói “Nếu không cẩn thận, việc đưa các sự kiện, con số, ngày tháng vào chương trình dạy học lại thành ra mớ kiến thức cực kỳ khó nhớ. Dạy học theo phương pháp tiếp cận nội dung như hiện nay là một cách bắt học sinh phải nhớ những thứ khó nhớ đó, làm khô cứng một thứ lẽ ra rất sinh động. Đây là lỗi của chương trình”

Sách giáo khoa các cấp của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo CSVN độc quyền phổ biến từng bị đả kích rất nhiều lần về những sai sót đầy ngập từ chính tả văn phạm đến kiến thức khoa học, lịch sử.

Hai năm trước, ngày 15/10/2013, tờ báo Người Lao Động trong bài “Sách giáo khoa đầy sạn” từng viết “Không phải chỉ một lần các chuyên gia lịch sử, thậm chí cả Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã lên tiếng về những sai sót …này. Tuy nhiên, đến lần tái bản thứ 11 năm 2013, những “hạt sạn” nêu trên vẫn giữ nguyên.” (về sách lịch sử lớp 6).

Nạn chạy chọt, mua bán bằng cấp rất phổ biến tại Việt Nam, nhưng giữa Tháng 5-2015 vừa qua, hệ thống thông tin tuyên truyền tại Việt Nam dựa vào một phúc trình của Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD) tung hô rằng giáo dục Việt Nam xếp hạng thứ 12, vượt xa nhiều nước tân tiến trên thế giới.

Trong cách phân tích của OECD, giáo dục của nước Anh đứng thứ 20, Pháp thứ 23, Mỹ thứ 28 và Thụy Điển chỉ xếp thứ 35. Không thấy học sinh sinh viên các nước vừa kể đổ xô nhau đến Việt Nam xin học, chỉ thấy những gia đình giầu có, quan quyền tại Việt Nam cho con sang Mỹ và các nước Âu Tây du học ngày một nhiều hơn chứ không ở lại Việt Nam. (TN)

Lời khuyên đáng ghi nhớ!

Lời khuyên đáng ghi nhớ!

  • 1. Người bạn quí mến của tôi…
  • 2. Xin hãy bảo trọng và giữ gìn sức khỏe…
  • 3. Dù bận bịu thế nào đi chăng nữa cũng phải quan tâm tới bản thân mình.
  • 4. Bạn bè tuy không thường xuyên liên hệ với nhau, nhưng vẫn cứ nhớ tới nhau.
  • 5. Hãy uống ít trà sữa, không nên ăn nhiều đồ ngọt và tránh xa nguồn điện cao thế.
  • 6. Ban ngày hãy uống nhiều nước vào, buổi tối cần uống ít đi. Không uống quá 2 cốc cà phê một ngày.
  • 7. Hãy ăn ít thức ăn có nhiều dầu và thường xuyên đi bộ.
  • 8. Sau 5 giờ chiều không ăn nhiều, ăn no. Mỗi ngày không uống quá 1 ly rượu.
  • 9. Nửa giờ trước lúc đi ngủ mà uống thuốc thì cần tránh uống thuốc xong là đi nằm ngay.
  • 10. Trung bình cần ngủ đủ 6 giờ, nếu bạn cảm thấy khó ngủ, hãy xem nằm là ngủ.
  • 11. Không sử dụng điện thoại di động khi chỉ thị nguồn điện giảm xuống còn 1 vạch. Bởi bức xạ lúc này lớn gấp 1.000 lần so với lúc bình thường.
  • 12. Nhớ là nghe điện thoại bằng tai bên trái, bởi nghe ở tai bên phải sẽ trực tiếp làm tổn thương đến đại não.
  • 13. Hai điều nên nhớ: Gặp phải sự việc không vui hãy bình thường hóa nó một chút. Nhìn thế giới lờ mờ một chút.
  • 14. Hãy “Quên đi” 3 thứ: – Quên đi tuổi tác, – Quên đi quá khứ, – Quên đi ân oán.
  • 15. “ Cần có” 4 thứ: – Có người yêu bạn chân thành, – Có bạn tri kỷ, – Có ý tưởng hướng lên, – Có nơi ở ấm áp.
  • 16. “ Cần” làm được 5 thứ: – Cần ca hát, – Cần nhảy múa, – Cần sự đẹp đẽ, – Cần cười vui, – Cần tha thướt, mềm mại.
  • 17. 6 thứ “Không thể được”: – Không để đói rồi mới ăn, – Không để khát rồi mới uống, – Không để nhíp mắt lại rồi mới đi ngủ, – Không để mệt rồi mới chịu nghỉ ngơi, – Không để phát bệnh rồi mới đi khám, – Không chờ đến quá muộn rồi mới ngồi ân hận.
  • 18. Tiếp nhận được tập tin này rồi, xin hãy chuyển nó tới từng bạn hữu mà mình quý mến! Đừng quên nhé…
  • 19. … Chúc bạn luôn luôn vui vẻ!
  • Anh chị Thụ Mai gởi

NỘI TÂM

NỘI TÂM
Nội tâm sâu thẳm như bầu trời bao la. Nội tâm là cốt lõi. Làm sao chúng ta có thể đụng chạm tới đáy cùng của nội tâm. Nghe kể câu truyện: Có một người đàn bà khôn ngoan, trong khi đi du ngoạn nơi vùng đồi núi, đã nhặt được một viên ngọc qúi bên dòng suối. Hôm sau, bà ta gặp một người bộ hành đang đói khát và bà đã mở túi chia sẻ thức ăn cho ông ta. Người bộ hành đói khổ nhìn thấy viên ngọc quí và đã hỏi xin bà. Bà cho ông viên ngọc, không chút do dự. Ông cầm lấy và rời đi rất vui mừng, vì vừa nhận được một kho tàng quí báu. Ông biết viên ngọc này có giá trị lớn để ông có một cuộc sống bảo đảm trong tương lai. Nhưng vài ngày sau, ông trở lại và trả viên ngọc quí cho người đàn bà khôn ngoan này. Ông nói: Tôi đã suy nghĩ và tôi biết viên ngọc này rất có giá trị, nhưng tôi muốn trả lại, với hy vọng bà có thể cho tôi cái gì đó quí hơn: Bà hãy cho tôi cái gì đó trong nội tâm của bà, điều mà bà có thể cho đi viên ngọc quí này.’
Mầu nhiệm của sự sống con người kết nối cả nội tâm lẫn ngoại hình. Chúng ta thường suy xét và đánh giá con người qua những hình thức lộ diện bên ngoài. Mặt nổi của đời sống giống như một tảng băng nổi, với chín phần chìm sâu dưới nước. Nội tâm như là phần chìm. Con người khác nhau nhiều ở chính cuộc sống nội tâm này. Chúng ta có thể suy nghĩ rằng người sống nội tâm là người hay lo âu, trầm tư và ít nói. Người sống nội tâm cũng có thể hay suy tư về các vấn đề như sự hiện hữu của vũ trụ và con người, về ý nghĩa cuộc đời, về sự sống, sự đau khổ và sự chết… Nhưng không luôn hẳn là như thế, người sống nội tâm là người học biết chính mình. Biết mình là đầu mối của sự khôn ngoan để tìm về nguồn chân, thiện, mỹ.
Không ai có thể đo lường đời sống nội tâm. Tục ngữ ca dao có câu: ‘Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nham hiểm) sâu thẳm ai đo cho cùng’. Đúng vậy, không ai đo được lòng người. Người ta có thể đo lường mọi cơ động lưu hành trong ngoài thân xác, nhưng sẽ dừng lại trước thế giới của lương tâm, lý trí, ý chí, trí khôn và linh hồn. Mỗi con người là một thụ tạo linh thiêng huyền bí. Thường chúng ta rất ngại để lắng đọng tâm hồn nhìn vào sự linh thiêng của chính mình. Chúng ta hướng ngoại nhiều hơn là hướng nội. Chúng ta chạy đua với cuộc sống bon chen ồn ào. Tìm vui sống với phần nổi của hiện hữu hơn là đời sống nội tâm.
Chúng ta tự hỏi: Tại sao người đàn bà khôn ngoan dám cho đi viên ngọc quí? Bà biết giá trị của viên ngọc chứ. Bà cất nó trong túi sách. Bà dám cho đi viên ngọc mà không hối tiếc. Như thế, đối với bà, viên ngọc chỉ là một tặng vật có thể làm vui thỏa ước muốn của lòng người. Nhưng bà có niềm vui lớn lao hơn ngự trị trong thâm tâm của bà. Bà cho mà không do dự. Bà có một thái độ vượt trên giá trị của kho tàng của cải vật chất. Niềm vui của bà là tinh thần tự do và không bị ràng buộc vào những nhu cầu thể chất. Bà đang thực hành một đời sống nội tâm cao.
Ai trong chúng ta cũng có đời sống nội tâm riêng tư và ẩn dấu. Người ta thường nói rằng cây tốt thì sinh trái tốt. Nội tâm tốt sẽ phát sinh công việc tốt và lời nói tốt. Lòng đầy miệng mới nói ra. Nếu chúng ta gieo trồng những hạt giống xấu trong thâm tâm, thì ắt sẽ sinh ra những trái đắng đót cộc cằn. Nét đẹp của con người phát xuất từ nội tâm. Người ta nói: ‘Cái nết đánh chết cái đẹp là thế.’ Có nhiều biểu tỏ của đời sống nội tâm nơi con người như lòng từ tâm, an tâm, đại tâm hoặc cũng có thể ngược lại là nhẫn tâm, vô tâm, ác tâm và tiểu tâm…
Tâm thường đi với tính. Cha ông nói: ‘Cha mẹ sinh con, trời sinh tính’. Tính khí thì mỗi người mỗi khác. Con người cần được tu tâm luyện tính cho thuần để đối nhân xử thế. Tu tâm là cần phải trở về với chính mình để biết mình. Có khi nào bạn đã ngồi thật lâu trong khoảng thinh lặng để trở về nhận biết chính mình chưa? Chúng ta có thể thử. Hãy tránh xa chỗ ồn ào đô hội và tìm một nơi thật thanh tịnh để lắng đọng tâm hồn. Nhắm mắt và thở hít đều đặn. Thả hồn đi sâu vào tâm trí và sự hiện hữu của chính mình. Chúng ta sẽ đụng chạm vào khoảng không bao la huyền nhiệm. Để hồn đắm chìm trong sự kết hợp với Đấng Vô Hình đang hiện diện nơi tâm hồn và vũ trụ muôn loài.
Có nhiều bài hát đạo có lời tha thiết khẩn nài ‘Chúa Ở Nơi Đâu?’ Theo giáo lý công giáo, trả lời Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Vậy tại sao chúng ta lại hỏi Chúa ở nơi đâu? Lời tự thuật của thánh Augustinô cho chúng ta một kinh nghiệm của đời sống nội tâm sâu xa: “Con yêu Chúa quá muộn màng, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa, vừa mới mãi, con yêu Chúa qúa muộn. Này Chúa vẫn ở trong con, mà hồi ấy, con cứ ở ngoài và cứ tìm Chúa bên ngoài. Con thật xấu, khi cứ mải chạy theo vẻ đẹp nơi các thụ tạo của Chúa. Chúa từng ở với con, mà con chẳng ở với Chúa. Những sự vật vẫn giữ con xa Chúa. Chúa gọi con. Chúa la to và đã phá tan sự điếc lác của con. Chúa rực sáng. Chúa chiếu tỏa và xóa tan sự mù lòa của con. Chúa đã chạm đến con và con nóng lòng tìm sự bình an nơi Chúa.”
Trở về với nội tâm là trở về với Chúa. Có biết bao lần chúng ta cầu nguyện mà lòng trí sao lãng lang thang khắp chốn. Chúng ta hát to gào thét làm như Chúa bị nặng tai. Đôi khi chúng ta giống như các tiên tri giả thờ thần Baal la hét, xé áo và rạch mình, khẩn nài các thần minh nhận của lễ hiến dâng. Chúng ta cần có đời sống nội tâm kết hợp sâu xa với Chúa. Cầu nguyện chính là những tâm tình kết hợp với Thiên Chúa trong đời sống nội tâm, “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16, 7b).
Lạy Chúa, đã bao lần chúng con mải mê tìm kiếm Chúa bên ngoài. Chúng con đã không gặp được Chúa, vì hồn chúng con trống rỗng. Chúa luôn ẩn ngự trong tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con nhận biết Chúa luôn hiện diện trong chúng con. Chúa chính là nơi chúng con nương tựa và là chỗ chúng con ẩn thân. Chúng con cảm tạ tình yêu Chúa mãi muôn ngàn đời.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-13

07132015-rich-communis-woul-pushi-politi-reform.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 201

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 2015.

AFP

Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam được nhiều người quan sát trong và ngoài nước quan tâm. Sau đây là nhận định của nhà báo Ngô Nhân Dụng, từ Hoa Kỳ về chuyến viếng thăm này cũng như phỏng đoán của ông về tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Việc ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ đánh dấu một sự thay đổi quan trọng, trong cái chính sách của đảng cộng sản Việt nam cũng như trong việc giao thiệp giữa Việt nam với Mỹ. Nguyễn Phú Trọng là vị Tổng bí thư đầu tiên sang Mỹ. Chưa bao giờ có một người gọi là đai diện cho đảng sang Mỹ. Với vai trò là Tổng bí thư đảng khi sang Mỹ ông Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt cho tất cả đảng cộng sản. Và khi mà ông Nguyễn Phú Trọng nói, làm những cái việc như là ký những thỏa hiệp với Tổng Thống Mỹ, hoặc là khi ông nói rằng Việt nam (… nghe không rõ)… sự có mặt của nước Mỹ ở vùng biển Đông của nước ta để mà bảo vệ trật tự an ninh và quân bình của vùng đó, thì đó không phải là ý kiến của một cá nhân mà là chính sách của một đảng cộng sản.

Gần đây chính phủ Trung quốc hay nhắc đi nhắc lại rằng nước Mỹ không nên dính tới vùng biển Đông, vì nước Mỹ không phải là một nước ở vùng đó. Bây giờ ông Tổng bí thư đảng cộng sản lại nói rằng Việt nam hoan nghênh sự có mặt của Mỹ để giữ gìn trật tự và hòa bình ở biển Đông thì rõ ràng đây là một sự thay đổi quan trọng trong chính sách của đảng cộng sản.

” Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Kính Hòa: Như vậy nó có ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ Việt nam Trung Quốc hiện nay?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Chắc Trung quốc thế nào họ cũng phản ứng chống lại. Tờ Hoàn cầu thời báo, một ấn bản của Nhân dân nhật báo đã lên tiếng cảnh cáo rằng cái việc mà Việt nam tìm cách liên kết với Mỹ để chống Trung quốc thì chỉ có hại cho Việt nam mà thôi. Đó là một lời đe dọa. Tất cả những điều mà chúng ta chờ đợi bây giờ là phản ứng của đảng cộng sản Việt nam như thế nào trước lời đe dọa đó. Hoặc là họ sẽ có lời tuyên bố ngược lại một cách mạnh mẽ, hoặc là họ cứ để yên cho mọi chuyện cứ tiến hành. Việt nam sẽ từ từ thay đổi, Trung quốc tấn tới đâu thì sẽ phản kháng lại tới đó.

Đó là chuyện diễn tiến sau này, nhưng chắc chắn mối bang giao Việt nam với Trung quốc, hay là mối quan hệ giữa đảng cộng sản Việt nam và đảng cộng sản Trung quốc từ đây sẽ thay đổi chứ không còn như trước nữa.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Kính Hòa: Trong tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt nam và Mỹ lại không có một câu nào về vấn đề nhân quyền. Phải hiểu chuyện này như thế nào?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Ông Obama có nêu ra vấn đề nhân quyền với ông Nguyễn Phú Trọng chứ không phải là không. Tuy nhiên hành động của ông Tổng thống là dựa trên quyền lợi lâu dài của nước Mỹ. Và họ muốn thay đổi tình trạng của thế giới này cho phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ, và những giá trị mà nước Mỹ vẫn tuân theo. Và đó là chuyện lâu dài. Họ biết là họ không thể thay đổi tình trạng nước khác với những áp lực thường xuyên được, và không thể nào mà không chơi với người ta mà khiến cho người ta thay đổi được. Họ là cái nước mạnh, cái nước giàu, và họ sẳn sàng chơi với tất cả mọi người, và họ nghĩ rằng khi mà họ giao thiệp với những nước khác thì họ sẽ giúp những nước khác thay đổi, chứ không nên làm những cái áp lực làm mất hòa khí. Theo tôi hiểu thì nước Mỹ nó không hề thay đổi gì cả.

Kính Hòa: Chuyến đi của ông Trọng có làm thay đổi chính trị nội tại của Việt nam hay không? Và có thúc đẩy sự thay đổi của Việt nam sắp tới hay không?

” Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Cái chính trị nội bộ của đảng cộng sản Việt nam thì tôi nghĩ là không được quyết định từ những can thiệp từ bên ngoài. Nhưng cái việc mà đảng cộng sản thay đổi chính sách với nước Mỹ và với cả Trung quốc, thì cái đó có ảnh hưởng quan trọng đối với chính trị Việt nam, nhưng mà đây là cái chính trị hiểu theo nghĩa là sự tương quan giữa người cầm quyền và người dân Việt nam.

Tất cả những cái đó sẽ qua ngã kinh tế để tạo nên một áp lực lên giới cầm quyền Việt nam. Họ sẽ thấy rằng nếu họ thay đổi theo cái chiều hướng mở rộng dân chủ tự do cho đất nước thì chính họ và con cháu của họ sẽ được hưởng.

Trong thời gian mà đảng cộng sản đổi mới kinh tế đến giờ, thực chất là họ dựa vào cơ cấu thị trường và lợi dụng điều đó để làm giàu. Họ đã trở nên những đại gia giàu có lắm rồi.

Nhưng mà họ có thể bảo vệ được khối tài sản sau mấy chục năm làm giàu đó, có bảo vệ được hay không? Điều đó tùy theo tương lai của đất nước Việt nam sẽ như thế nào.

Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ. Không ai biết chắc là tài sản của mình được giữ đến bao giờ. Không ai biết là cái người sắp lên cầm quyền sẽ làm gì để tước đoạt tài sản của mình.

Chúng ta xem cái cảnh ông Chu Vĩnh Khang bên Tàu. Ông ấy là một người giàu nứt đố đổ vách, thế mà ông Tập Cận Bình ông ấy tước bỏ gần hết.

Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.

Con thường đau khổ vì những gì
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.

Tạ ơn Cha vì những gì
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

http://dongten.net/noidung/2674

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Ngụy Hi – người được xưng là “Thanh sơ tam đại gia” (một trong ba nhà văn lớn hàng đầu của triều đại nhà Thanh) đã từng nói:

“Ta không hiểu biết như thế nào là người quân tử, nhưng nhìn vào khả năng “chịu nhận phần thiệt” trong mỗi sự việc của người ấy là sẽ biết. Ta không biết được như thế nào là kẻ tiểu nhân, nhưng nhìn vào việc “tranh giành phần lợi” của người ấy là sẽ biết.”

Suy ngẫm kỹ càng, thật đúng nó là quanh co như vậy. Có thể chịu thiệt quả là không phải một việc dễ dàng. Cần phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn mới có thể chịu thiệt thòi một cách cam tâm tình nguyện. Tiêu biểu là phải khoan dung độ lượng, chịu nhẫn nhục, co được giãn được (tức là biết ứng phó thích hợp với tình hình cụ thể) thì chính là một quân tử. Chẳng trách mà người xưa dùng tiêu chuẩn “có hay không có khả năng chịu thiệt” là yếu tố đầu tiên để nhận biết người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Ngày xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy đàn. Lúc ông ta sắp lâm chung, con cháu quỳ gối trước mặt ông xin thỉnh cầu lời giáo huấn. Lâm Thoái Trai nói: “Ta không có lời nào khác, chỉ khuyên bảo các con học “chịu thiệt” là được rồi”.

Những người già Trung Quốc cũng thường hay nói “chịu thiệt là phúc”, bởi vì họ biết rõ “Phúc, Lộc, Thọ” ở thế gian con người đều là đổi từ đức mà ra, mà chịu thiệt lại có thể tích đức. Xưa nay, rất nhiều anh hùng, cũng đều do có thể chịu nhịn nhục, chịu thiệt mà làm nên đại sự. Nổi danh nhất chính là Hàn Tín có thể chịu nhục chui háng, có thể nói đó là “chịu thiệt” đến cực điểm, bởi vậy sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.

Trái lại, nếu như luôn luôn khiến cho người khác phải chịu hại chịu thiệt, như thế thì người này chẳng phải là mất đức rồi sao? Làm nhiều việc xấu còn bị trời trừng phạt, thật sự là cái được không bù nổi cái mất.

Biên dịch: Mai Trà

Rồi thì cũng phải tin

Rồi thì cũng phải tin

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Trần Phan

Ngày hôm trước, xem một video clip do các trang báo mạng tung ra. Video clip quay cảnh một phụ nữ, do không chịu giao đất cho chính quyền với cái giá rẻ mạt là 65 ngàn VNĐ/m2 để làm khu công nghiệp, trong khi ngăn cản đơn vị thi công đã bị chiếc xe máy xúc cán qua người. Nạn nhân nằm hẳn dưới bánh xích của chiếc xe.

Dù các trang báo mạng này có uy tín, thường đăng tin đúng sự thật, tôi cũng không thể tin nổi. Cảnh tượng quá dã man, và quá mất nhân tính để có thể tin.

Hi vọng về tính người và tình người còn rớt lại trong nước Việt Nam hiện nay đã bị vỡ vụn khi sáng nay đọc tin trên tờ Tuổi Trẻ số 183/2015 (8008), ngày 11/7/2015, trang 3: “Tranh chấp đất đai, máy xúc chèn 1 người dân”. Rốt cuộc rồi cũng phải tin một chuyện như thế này là sự thật!

Người viết rất mong sự thật được chính quyền minh bạch cho công chúng. Dựa theo tin tức của VOA và của báo Tuổi Trẻ về sự kiện thảm khốc trên, người viết xin thảo luận các điểm sau:

1) Ở các nước vẫn có sự kiện thảm sát dã man. Các sự kiện thảm sát do cá nhân tiến hành, chính quyền đứng về phía nạn nhân bị thảm sát và truy tìm, truy tố hung thủ. Trong sự việc đã xảy ra ở nước Việt Nam, chính quyền đứng về phía đối đầu với người dân bị mất đất. Chính quyền tiến hành cưỡng chế tịch thu đất, cho đơn vị thi công tiến vào vùng đất đang tranh chấp, và “chiếc máy xúc lao đến người dân đang đứng chặn, mọi người tán loạn lùi lại phía sau nhưng bà Châm bị ngã xuống đống cát gần đó nên không kịp tránh và bị bánh xích máy xúc chèn lên người”. Cho dù sự việc do đơn vị thi công tiến hành, chính quyền không thể né tránh là người chịu trách nhiệm chủ chốt, bởi vì hung thủ là người của chính quyền, do chính quyền và vì chính quyền.

2) Không chỉ vô trách nhiệm, tính chất mất nhân tính còn khủng khiếp hơn nhiều. Bài báo viết:

Ông Nguyễn Văn Công, phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dDân huyện, và ông Nguyễn Trọng Hiển, phó Trưởng Công an huyện, khẳng định không có chuyện máy xúc chèn qua người bà Châm. Ông Công còn nói: “Những hình ảnh trong clip của người dân không đúng, có thể do góc họ quay hay làm cách gì để ra như thế”. Dân chúng còn có thể tin cậy gì ở những người vô cảm tới vậy!

Ai cũng có thể phạm sai lầm. Cách mà một người xử lí hậu quả sẽ cho biết người đó thực tâm muốn sửa đổi sai lầm hay vẫn tiếp tục sai lầm đó trong tương lai. Phản ứng của chính quyền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương tới lúc này cho thấy họ vẫn sẽ tiếp tục đối đầu với người dân tội nghiệp bị tước đoạt tài sản và cả mạng sống.

3) Huống chi, việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân, có nguồn gốc từ việc “đất đai sở hữu toàn dân và do nhà nước quản lí”, đã xảy ra quá nhiều lần, trên rất nhiều địa phương từ Bắc vào Nam, và đã có quá nhiều hậu quả thương tâm mà người viết thấy không cần nhắc lại. Chỉ muốn hỏi Chính quyền của dân, do dân và vì dân này còn muốn thử nghiệm sức chịu đựng của dân tới bao giờ?

4) Một kinh nghiệm nhân loại mà nhiều người biết: giềng mối và đạo đức đất nước được giữ từ trên cao xuống (from the top), từ chính quyền trung ương ra. Giá trị sống Nhân (có tình người) và Hậu (để đức về sau) là tài sản vô hình và vô giá do đời trước để lại đời sau. Giá trị sống Nhân Hậu không chỉ được riêng dân tộc, mà cả nhân loại xem là giá trị sống cao quí nhất. Với cách cai trị như thế này, giá trị sống Nhân Hậu sẽ tồn tại trong xã hội Việt Nam được bao lâu nữa?

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN

TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA (In       Remembrance of Over 20 Years Serving Prisoners in Federal & State Penitentiaries of Oklahoma

PT. Nguyễn Mạnh San

Thời gian thấm thoát trôi mau như một cơn gió thoảng, vì mới ngày nào đây tôi lãnh nhận nhiệm vụ là một Tuyên Úy Trại Tù (Prison Chaplain), do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Oklahoma City Eusebius J. Beltran chỉ định tôi và kể từ ngày đó đến nay, tôi đã được phục vụ Anh Chị Em tù nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, màu da, liên tục hơn 20 năm qua và trong công tác Mục Vụ Tông Đồ Trại Tù này đã được thi hành một cách tốt đẹp, là nhờ một phần tình nguyện, góp công góp sức, tận tình chung vai sát cánh với tôi trong nhiều năm qua của ông Nguyễn Văn Cường, cựu Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng, thời chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trong nhiêm vụ là Thừa Tác Viên Trại Tù (Prison Minister), cũng do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Beltran chỉ định ông. Rất may mắn nhờ vào thời gian dài liên tục phục vụ tù nhân, mà bản thân tôi đã học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm sống quí giá trên đời, giúp tôi hiểu thấu thế nào mới thực sự là con người có lòng bác ái nhân từ? Thế nào mới thực sự là kẻ gian ác, nguy hiểm cho xã hội? Thế nào mới thực sự là tình ngay lý gian? Tất cả những câu hỏi vấn nạn này, qua sự tâm tình riêng tư của các tội nhân với tôi, cho tôi nhận biết có nhiều điều bí ẩn, éo le, gay cấn, mà cá nhân tôi chưa từng thấy có sách vở nào ghi chép lại những điều này, cho dù sau mấy chục năm tôi ngồi ghế nhà trường từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ.

blank

Phải nói có 2 điều quí trọng và quí giá nhất trong đời tôi, mà tôi đã học hỏi được và rút kinh nghiệm từ Anh Chi Em tù nhân, qua những năm tháng liên tục tôi vào trại tù thăm nom họ, đã tạo cho tôi được 2 đức tính: Kiên Nhẫn và  Im Lặng. Tôi học được tính kiên nhẫn là vì mỗi lần tôi vào thăm tù nhân, nhiều khi tôi phải ngồi chờ đợi hàng nửa giờ, cho tới khi nào cai tù (Rover) đem tù nhân từ xà lim (Cell) đến cho tôi gặp và sau khi tôi hỏi thăm sức khỏe, an ủi tinh thần, rao giảng Lời Chúa và đọc kinh cầu nguyện cho họ xong, thì nhiều khi tôi lại phải chờ đợi thêm hàng nửa giờ nữa, cho tới khi nào người cai tù quay trở lại, để đem họ trở về xà lim. Nhờ vào sự chờ đợi qua nhiều năm tháng vừa kể, nên đã giúp cho bản thân tôi đức tính kiên nhẫn ngoài sức tưởng tượng của tôi. Hơn thế nữa, nhiều khi tôi phải ngồi im lặng từ 10 cho đến 15 phút, để lắng tai nghe nữ tù nhân tâm sự, kể lể cho tôi nghe những nguyên do nào mà họ bị bắt giam, nhất là nhiều khi tôi phải ngồi im lặng rất lâu, đối diện với những nữ tù nhân, mà đương sự chỉ biết thút thít khóc, nghẹn ngào không nói được lời nào, vì đây là lần đầu tiên trong đời bị bắt giam, làm đương sự quá xúc động, nên tôi phải đợi chờ cho đương sự nín khóc, tôi mới có thể bắt đầu khuyên giải đương sư; chắc mọi người cũng thừa biết, là ai cũng thích nói cho người khác nghe, chứ chẳng có ai lại thích ngồi yên lặng để phải nghe người khác nói tràng giang đại hải hay phải ngồi im lặng để nghe tiếng khóc nức nở của người ngồi đối diện với mình, cho dù mọi người vẫn biết rằng: Nói ít nghe nhiều là một điều tốt nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Do vậy, nhờ những trường hơp thường xuyên phải ngồi im lặng như tôi vừa kể trên đây, nên đã tạo cho tôi thành một thói quen, là nói ít nghe nhiều. Hơn thế nữa, tôi còn học được bài học về lòng trung thành, sống chết có nhau của những Anh Chị Em Tù Nhân, trong giới giang hồ tứ chiến, chẳng hạn bây giờ cả hai người đã bị ngồi tù rồi, hay một người ở trong tù, còn người kia còn tại đào, nhưng họ vẫn tìm mọi cách để có thể liên lạc được với nhau, giúp đỡ người bạn trong tù bằng nhiều phương cách kín đáo. Có một điều đặc biệt nhất cho tôi, là được nghe những lời tâm sự nhiệt thành của nhiều Anh Chi Em Tù Nhân, mà họ không sợ nói ra những sự thật vê các hành động tội phạm của họ cho tôi nghe, có thể sẽ bị tiết lộ cho chính quyền biết, để làm bằng chứng buộc tội họ, vì họ hiểu rõ rằng, theo luật lệ hiện hành, những vị tuyên úy trại tù, như Linh Mục, Mục Sư, Phó Tế, chính quyền không được quyền mời những vị này ra trước tòa làm nhân chứng (Witness), để phải khai ra những điều gì mà tù nhân đã tâm sự cho họ nghe ( by US current law, a Prison Chaplain cannot be a witness to testify against a prisoner before the Court). Đối với những phạm nhân hình sự (Criminals), như phạm các tội: Cướp của giết người, tổ chức quy mô đi ăn cướp nhà băng, hiếp dâm, biển thủ, buôn bán sì ke ma túy, trồng cần sa tại tư gia, in bạc giả, giết vợ hay giết chồng với kế hoạch tinh vi vì hận thù hay ghen tuông, sáng chế tại tư gia những viên thuốc kích thích tình dục (Estercy) v.v.., mà người ta thường nói: Đi đêm có ngày gặp ma, hoặc không qua được lưới trời, nên những tội nhân này mới bị bắt vào tù. Thật sự, nếu ai đã từng có thời gian lâu dài gần gũi tù nhân, đều nhận thấy trong số những loại tội phạm vừa kể, có khá nhiều tội nhân có trình độ bằng cấp văn hóa cao, như đã từng là Thẩm Phán, Luật Sư, Bác Sĩ, Kỹ Sư v.v.., có một trí óc thông minh tinh xảo, bằng những mưu kế sắc bén, tính toán kỹ lưỡng trước khi họ hành động, chứ không giống như những tội nhân phạm tội ăn cắp vặt (Shop lifter) trong các cửa tiệm buôn bán quần áo hay trong các siêu thị bán đồ ăn, lái xe say rượu ngoài đường phố (DUI), mua dâm trong các ổ mãi dâm (Prostitute) , tổ chức cờ bạc bất hợp pháp (Illegal gambling) tại tư gia, hối mại (Bribery) nhân viên công lực  v.v..  Do đó, tôi đã thu thập được rất nhiều những câu chuyện tội phạm có thật xẩy ra, về những tệ đoan trong xã hội, giúp tôi am tường nhiều về những mặt trái cuộc đời của Anh Chị Em Tù Nhân, thuộc đủ mọi loại tội phạm; đặc biệt về những Anh Chị Em Tù Nhân trẻ tuổi gia nhập các băng đảng, nên tôi rất thông cảm họ vì nhận thấy đa số tội nhân thuộc thành phần này, trước kia họ là những trẻ mồ côi, không Cha không Mẹ, không có ai dậy dỗ họ hoặc là nạn nhân của những gia đình đổ vỡ, bị Cha hay Mẹ ghẻ đánh đập tàn nhẫn khi còn bé, lớn lên họ trở thành những kẻ mất niềm tin vào những người sống chung quanh họ, nên họ chỉ muốn trả thù đời bằng những hành động côn đồ, gian ác, vô lương tâm, hoặc khi còn trẻ tuổi, họ bị ảnh hưởng bởi chơi với những bạn bè xấu, tụ họp thành những băng đảng, sống ngoài vòng pháp luật, chỉ chuyên môn đi ăn cướp giết người lấy của. Do đó, tất cả những kinh nghiệm trong nhiệm vụ là một tuyên úy trại tù tình nguyện, phục vụ tù nhân liên tục vào những ngày nghỉ cuối tuần, trong suốt thời gian dài hơn 20 năm qua, đã cho tôi những bài học kinh nghiệm cụ thể, quí giá, để nhận biết rõ thế nào là một cuộc sồng tốt lành, hữu ích cho gia đình và cho xã hội. Nhờ vào những kinh nghiệm quí giá này, đã giúp cho tôi vượt qua được những sự khó khăn, trở ngại trong suốt hơn 32 năm tôi phục vụ trong Ngành Tư Pháp Hoa Kỳ, tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ của tiểu bang Oklahoma, đặc trách Luật Sư Đoàn Liên Bang và Nhập Tịch, cho đến ngày tôi về hưu vào lúc tuổi đời đã xế chiều, mang nhiều kỷ niệm đẹp trong tâm tư, nhưng giờ đây chỉ còn là những dư âm muôn vàn nỗi tiếc nhớ.

Tôi tin chắc rằng, trong những ngày còn lại của cuộc đời tôi trên trần thế này, tôi sẽ không bao giờ có thể quên được một vài vụ án tử hình (Death Rows) của người Mỹ, mang nhiều tình tiết éo le, ngang trái, mà trong đó có một vụ tử hình người Việt Nam duy nhất tại Oklahoma City và một vụ các tù nhân VN nổi loạn (Uprising) trong trại tù, mà trong những vụ này, tôi là người được may mắn, trực tiếp tư vấn về tinh thần (Spiritual counseling), chỉ dẫn các thủ tục pháp lý (Legal Procedures) cho các tù nhân. Sau đây tôi xin tuần tự tường thuật lại những chi tiết đặc biệt, đáng ghi nhớ nhất trong suốt hơn 20 năm qua tôi phuc vụ tù nhân, xin được chia sẻ cùng đọc giả về những gì tôi nghe tận tai, thấy tận mắt về Anh Chị Em Tù Nhân. Lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ hoàn toàn đóng vai trò đưa tin (Massenger) đến cho quý đọc giả biết những dữ kiện đã xẩy ra trong mỗi vụ án, đã được liệt kê tội trạng rõ ràng trong hồ sơ truy tố bị cáo (Defendant) ra trước tòa xét xử, do Công Tố Viên (District Attorney) đệ nạp tại Phòng Tố Tụng (Court Clerk Office) và thuật lại những lời tâm sự của tù nhân và những lời tư vấn của tôi đối với các tội nhân trong cuộc, chứ hoàn toàn tôi không hề có ý định phân tích pháp lý của mỗi vụ án (Legal analises for each case), bênh vực cho bị cáo (Defense for the defendant) hay phê phán vụ án (Criticism on the case) đúng hay sai. Trước khi thuật lại những vụ án tử hình, mang nhiều tình tiết éo le ngang trái, tôi xin lược thuật lại vắn tắt một vụ án đánh cướp ngân hàng, mà bị cáo là một người được coi là thông minh, nhanh trí (Smart & quick-minded) với đầy ý chí cương quyết là sau khi mãn hạn tù, anh sẽ ghi tên đi học luật, để trở thành một luật sư với ý nguyện để giúp đỡ tù nhân nào nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư, phải nhờ cậy đến luật sư công như sau:

Anh này vừa học xong bậc trung học, anh bị bạn bè lôi kéo ra nhập một băng đảng, chuyên đi ăn cướp nhà băng. Vì anh là người có ăn học, thông minh lại nhanh trí, anh dược anh em trong băng đảng tín nhiệm, bầu anh lên làm lãnh tụ và 2 lần anh điều nghiên kế hoạch đánh cướp nhà băng đều thành công, nhưng tới lần thứ 3 bị thất bại và bị bắt giam, lãnh án 10 năm tù ở, cộng thêm 5 năm án treo. Khi tôi gặp anh ở trong tù, thì chỉ còn hơn 1 năm nữa là anh mãn hạn tù. Trong thời gian nằm tù, anh cảm thấy bất mãn về lối làm việc chậm chạp, thiếu thiện chí của một số luật sư công (Public Defendant) bào chữa cho tù nhân nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư (Private Attorney), anh liền nẩy ra ý định, là sau khi mãn hạn tù, anh nhất quyết theo học luật để trở thành một luật sư, cãi thí cho tù nhân nghèo. Tôi có hỏi anh lấy tiền đâu ra để học luật, thì anh cho biết là 2 lần anh đánh cướp nhà băng thành công, nên anh đã bỏ số tiền gần 4 trăm ngàn đồng cướp được của nhà băng vào trong một cái chum (Jar), đem chôn dấu cái chum đó xuống sâu dưới lòng đất, đằng sau vườn nhà anh, khi mãn tù anh sẽ đào nó lên. Khoảng 8 năm sau, tình cờ tôi gặp lại anh tại một tiêm ăn, anh cho tôi biết là anh đã lấy được bằng tiến sĩ luật khoa, nhưng anh không hội đủ điều kiện hạnh kiểm, để thi lấy bằng hành nghề luật sư (Bar Examination), vì anh là cựu tù nhân hình sự đang còn nằm trong tình trạng án treo và anh cho biết, anh đang làm việc cho một hãng luật sư tư (Law firm), vì không có bằng hành nghề luật sư nên anh chỉ chuyên ngồi nghiên cứu (Research) các vụ án đã xử, để viết những bài lý đoán (Pleadings) đưa cho luật sư ra tòa bào chữa cho thân chủ. Tôi cũng có hỏi anh ta là làm sao lấy được tiền trong chum đó ra, như anh đã nói với tôi khi anh còn bị giam giữ trong trại tù, vì nhà của anh đã bị tich thu và chính quyền đã cho đem đấu giá căn nhà của anh trước khi anh mãn hạn tù. Anh cho biết anh nhờ người bạn thân của anh đứng tên, mua lại căn nhà này cho anh và anh đã đào cái chum đó lên, trích ra một số tiền để trả nợ số tiền mà bạn anh đã ứng trước mua căn nhà này lại cho anh. Nhờ vậy, anh không cần phải mượn tiền nhà trường, để đi học lấy bằng luật, như ước vọng của anh khi còn ở trong tù và tiếp theo sau đây là Vụ án tử hình người Mỹ thứ nhất:

Người tử tội tên John, có vợ 1 con. Ông là một tín đồ Công Giáo rất ngoan đạo. Ông làm việc cho một hãng thương mại tư, chuyên sản xuất những thuốc diệt trùng sâu bọ và vì ông là một chuyên viên giới thiệu các sản phẩm hóa học của hãng mới chế tạo, nên thường xuyên ông phải đi xa ngoài tiểu bang, vắng nhà mỗi lần ít nhất từ 1đến 2 tuần lễ, để giải thích về sự công dụng tối đa của từng sản phẩm mới được chế tạo này, cho các đại lý của hãng ở những tiểu bang khác biết. Cứ mỗi lần vắng nhà như thế, vợ ông ở nhà với đứa con trai 5 tuổi, lại dẫn trai về nhà ngủ với bà và để giấu kín hành động ngoại tình này của bà, bà cho tiền đứa con đi mua kẹo bánh ăn và dặn nó đừng nói cho bố biết chuyện này khi bố nó trở về nhà. Đúng là đi đêm cho lắm thì cũng có ngày gặp ma. Một hôm ông nhận được lệnh phải trở về hãng gấp vì cần phải có mặt ông ở hãng, ông liền đáp máy bay trở về trình diện hãng trước tiên và giải quyết xong mọi việc, ông lái xe từ hãng trở về nhà, nhưng lại quên không gọi điện thoại báo tin cho vợ biết trước là ông đang trên đường về nhà, khi ông mở cửa bước vào nhà, nhìn vào trong phòng ngủ, thì thấy một tên trai trẻ đang nằm ôm vợ ông trên giường. Ông cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, đi ra ngồi phòng khách, chờ đợi vợ ông ra gặp ông để hạch hỏi tội, trong khi đó tên trai trẻ kia, vội vàng mặc quần áo, lặng lẽ chuồn đi cửa sau mất dạng. Vì bị bắt quả tang với hành động ngoại tình, nên người vợ liền quỳ gối xuống trước mặt ông, khóc lóc thảm thiết, xin ông tha thứ và hứa sẽ không bao giờ dám tái phạm hành động này lần thứ hai nữa, ông đồng ý tha thứ cho vợ lần đầu. Thế nhưng khổ một nỗi là vợ ông đã ăn quen nhiều nhưng nhịn không quen và mới chưa đầy một tháng sau, ông trở về nhà bất thình lình, lại bắt gặp quả tang cảnh tượng vợ mình y hệt như lần trước, nhưng với thằng trai trẻ khác, cũng diễn ra trong phòng ngủ của hai vợ chồng ông. Ông cho tôi biết, đáng lý lần này ông định rút súng, tặng một phát đạn ân huệ cho đôi gian dâm phụ này về chầu diêm vương, nhưng bất chợt ông bình tâm suy nghĩ lại, vì thương đứa con trai còn nhỏ dại, không muốn cho nó bị mồ côi Cha Mẹ, phải đi ở với Cha Mẹ nuôi, vì ông suy đoán trước, là sau khi giết vợ và tình địch rồi, thì chắc chắn ông sẽ bị lãnh án tối đa tử hình hoặc chung thân khổ sai trong nhà tù, nên ông đành phải quyết định ly dị vợ và mặc dầu vợ ông phạm tội ngoại tình, nhưng tòa án vẫn phán quyết cho vợ ông được nuôi con, còn ông được quyền đón con về nhà ông vào những ngày cuối tuần.

Sau hơn 10 năm sống cảnh độc thân tại chỗ và lúc này con trai ông đã 16 tuổi, bất chợt ông nhớ lại một câu nói trong Kinh Thánh: Đàn ông sống một mình không tốt, nên trong một chuyến đi công tác xa tại tiểu bang California, ông gặp một cô gái gốc Mỹ lai Mễ, cô này mới 18 tuồi, xinh đẹp như nàng tiên giáng trần, có thân hình gợi cảm như nữ thần tình ái Venus, vì mê sắc đẹp tự nhiên, không trang điểm phấn son của cô, ông liền ngỏ lời muốn cưới cô làm vợ. Cô cho ông biết là cô đã có một người bạn trai rất thân, hơn cô 2 tuổi, cũng tỏ tình yêu cô và anh ta muốn cô chờ anh 2 năm nữa khi anh ra trường, anh sẽ cưới cô làm vợ, nhưng cô vẫn chưa nhận lời đề nghị này. Nay mới gặp ông lần đầu tiên, cô đã cảm thấy yêu mến ông, mặc dầu ông lớn hơn cô tới 2 con giáp, nhưng ông là người hào hoa phong nhã, giầu có, nên cô bằng lòng lấy ông làm chồng, nhưng với điều kiện cho phép cô thỉnh thoảng được giao tiếp với người bạn trai này của cô trước mặt ông, chỉ trong tình bạn hữu mà thôi. Ông bằng lòng ngay với điều kiện này của cô đưa ra và ông còn nói thêm, là người bạn trai này gặp cô trước mặt ông hay vắng mặt ông ở nhà, cô cứ việc thù tiếp anh ta, ông sẽ không ghen tuông gì cả, nhưng ông nhấn mạnh ngoài người bạn trai này ra, cô không được phép giao tiếp với bất cứ người đàn ông già trẻ lớn bé nào khác. Ông tâm sự cho tôi biết, thực ra ông lấy cô này hoàn toàn chỉ vì sắc đẹp quyến rũ mê hồn của cô như một pho tượng sống động, tuyệt tác lõa thể, biết thốt ra những lời yêu đương chìu mến bên tai ông, sau những giờ ông đi làm về nhà mệt mỏi; chứ thực sự không phải ông lấy cô ta vì ham muốn tình dục, vì sau ngày ông ly dị người vợ đầu tiên, không hiểu tại sao ông bị mắc chứng bệnh liệt dương (Impotent), kéo dài cho tới nay đã hơn 10 năm rồi. Vậy giả thử sau khi lấy cô về làm vợ, nếu cô ta có ăn nằm với người bạn trai trẻ này, thì ông cũng cảm thông cho hoàn cảnh sinh lý đòi hỏi của lứa tuổi dậy thì và sẵn sàng tha thứ cho cô, trong khi thể xác ông ở trong tình trạng bất lực, không thể nào đáp ứng nhu cầu tình dục đòi hỏi của cô được, nhưng miễn sao cô không được phép ngủ chung chạ với bất cứ những tên già trẻ nào khác, ngoại trừ người bạn trai của cô mà ông đã cho phép, ông mong rằng đừng giống như trường hợp người vợ đầu tiên của ông, đã lỗi phạm nhiều lần ăn nằm với nhiều tên trai trẻ, nên ông đành phải ly dị và nếu cô cũng lỗi phạm như vậy, thì ông không thể nào cứ tiếp tục tha thứ cho cô được.

Thế rồi chỉ một tháng sau, ông tổ chức đám cưới với cô thật linh đình, ở một nhà hàng sang trọng, nhưng không được tổ chức Nghi Lễ Hôn Phối lần thứ hai trong Thánh Đường, vì nghi thức hôn phối với người vợ trước của ông chưa được Tóa Án Hôn Phối Công Giáo ban bố án lệnh triệt tiêu. Ông tặng  cho cô dâu một chiếc nhẫn cưới hột xoàn và một chiếc xe hơi convertible sport đắt giá mới toanh. Nhưng cuộc tình duyên lần thứ hai này của ông kéo dài mới được gần một năm, thì 2 lần ông đi công tác xa về nhà bất thình lình, đều bắt quả tang vợ ông ngủ với trai và mỗi lần như thế với tên trai trẻ khác nhau, chứ không phải là cậu trai trẻ bạn của vợ ông trước khi cô lấy ông, mà ông đã cho phép được quyền đến thăm vợ ông, như mới kể ở trên đây. Lần đầu tiên ông bắt gặp vợ ngủ với tên thứ nhất, ông đã định tặng cho nó một phát đạn, nhưng đến khi bắt gặp vợ ngủ với tên thứ hai, thì khiến ông suy nghĩ lại, là làm sao có thể bắn chết một lúc cả hai tên được, vì bắn tên thứ nhất chết, chưa kịp bắn tên thứ hai, thì có thể ông đã bị bắt giam vào tù rồi, nên ông quyết định là phải giết vợ mình, để trừ tận gốc tội ngoại tình của vợ, ai bảo nàng ham mê tình dục với những chàng trai trẻ. Ông đặt kế hoạch giết vợ bằng cách cho tiền người bạn trai của vợ ông đến giết nàng, trong khoảng thời gian ông đi công tác xa nhà 2 tuần. Ông nghĩ làm như thế, chính quyền không biết ông là kẻ chủ mưu giết vợ và lại dễ dàng cho anh chàng bạn nàng, đến nhà tỏ tình thân mật như mọi khi với vợ ông, mà nàng sẽ không hề có ý nghi ngờ anh này âm mưu đến giết nàng. Sau phút ái ân với vợ ông, thừa lúc cô ngủ thiếp đi, anh dùng túi nylon chụp kín từ đầu đến cổ nàng, rồi kéo 2 đầu sợi giây, đã gắn sẵn vào túi nylon, xiết thật chặt, làm nàng nghẹt thở, từ từ rẫy chết trong im lặng, không ai nghe thấy tiếng nàng la lên kêu cứu. Chỉ vài ngày sau, nhà chức trách tìm ra manh mối, cà hai người đều bị bắt giam và qua lời thú tội của chàng trai này, kẻ chủ mưu giết vợ là người chồng, nên ông bị lãnh án tử hình.

Gần 10 năm trời, ông ở trong tù chờ kết quả kháng cáo lên các tòa án liên bang cấp cao hơn, để hy vọng được giảm án xuống còn chung thân, nhưng cuối cùng các đơn kháng cáo của ông đều bị tòa án tối cao Hoa Kỳ bác bỏ và gần đến ngày ông bị hành quyết bằng cách cho chich thuốc độc (Injection), thì ông bị đau nặng và chết một cách nhanh chóng, có lẽ nhờ sự ăn năn sám hối thật lòng của ông suốt gần 10 năm trong trại tù và suốt hơn 2 năm ông bi giam cầm trong trại tạm giam (Jail) là nơi tôi phục vụ, cứ mỗi lần tôi đến an ủi ông, đọc Phúc Âm cho ông nghe, cho ông rước Mình Thánh Chúa, thì ông đều tập họp được ít nhất từ 5 đến 10 anh em tù nhân khác, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc đến nghe tôi thuyết giảng Lời Chúa, trong số này có một anh thanh niên người Ấn Độ theo đạo Phật, xin tôi lập thủ tục cho anh được rửa tội theo đạo Công Giáo, rất tiếc chưa kịp hoàn tất thủ tục rửa tội cho anh, thì anh bị thuyên chuyển đến trại tù liên bang ở tiểu bang Pennsylvania.

Khoảng vài tháng trước khi ông lìa trần vì bệnh, tôi được gặp lại ông một lần chót. Trong dịp này tôi có tỏ bầy lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với ông, vì trong suốt thời gian hơn 2 năm ông bị giam cầm trong trại tạm giam Oklahoma County jail, mỗi cuối tuần tôi vào thăm tù nhân tại đây, chính ông là người đã quy tụ được một số anh em tù nhân khác đến nghe tôi rao giảng Lời Chúa, nhờ thế những anh em này đã tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình, để cùng nhau đọc kinh cầu nguyện xin Chúa tha tội cho họ. Nhân dịp này, ông cũng tâm sự cho tôi biết, giá ông cứ coi vợ ông như một bông hoa hồng xinh tươi, tỏa ra mùi hương ngào ngạt, mọc trong vườn hoa công cộng, để bất cứ ai muốn đến ngắm nhìn bông hoa và muốn thưởng thức mùi hương thơm của bông hoa thì đến, như ông đã cho phép chàng trai trẻ bạn của vợ ông được độc quyền đến thưởng thức mùi hoa thơm của nàng, thì ngày nay đâu đến nỗi ông phải lãnh bản án tử hình. Có một điều đau đớn hơn nữa cho ông, là trong khi ông ở tù được 5 năm, thì người con trai yêu quí duy nhất của ông 21 tuổi và là con trai của người vợ đầu tiên mà ông đã ly dị, cũng bị ở tù cùng trại tạm giam với ông, về tội bán cần sa ma túy, mà tôi đã viết lại câu chuyện tình cảm rất ly kỳ của cậu con trai ông, yêu một nữ tù nhân là một thiếu phụ đã có 2 con, hơn cậu 9 tuổi, ở cùng trong trại tạm giam với cậu, nhưng chưa bao giờ hai người thấy mặt nhau, mà chỉ nói chuyện hàng đêm với nhau qua ống thoát nước cầu tiêu, từ lầu 5 xuống lầu 4 và từ lầu 4 lên lầu 5. Câu chuyện này có tựa đề là: Tình Đầu Cũng Là Tình Cuối, trang 311, trong cuốn Tuyển Tập Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng (Sách tặng không bán) và trên trang mạng điện tử cũng như trên một số báo chí cách đây hơn 2 năm. Rồi sau 3 năm ông qua đời, cậu con trai ông, không biết vì lý do bí ẩn gì, cậu đã treo cổ tự vận trong trại giam, trong khi người yêu của cậu vẫn còn trong tù. Có một điều đặc biệt tôi cần nói ra đây, là cậu con trai này đẹp trai như nam tài tử James Dean và người yêu của cậu cũng có giáng điệu đẹp hồn nhiên như nữ tài tử Julie Andrews, Tuy hai người chưa bao giờ thấy mặt nhau, nhưng nhờ sự thăm viếng nhiều lần của tôi với cặp tình nhân không chân dung này, họ đã yêu cầu tôi miêu tả hình dáng của mỗi bên cho họ nghe và họ đã hứa hẹn với nhau qua ống tháot nước cầu tiêu là, sau khi mãnh hạn tù, họ sẽ làm đán cưới với nhau. Thôi cũng là điều phúc đức cho ông John, đã được Chúa gọi ông về sớm với Ngài trước khi bị hành quyết, chứ nếu ông còn sống tới khi ông nghe được tin con mình treo cổ tự vận, thì có lẽ ông sẽ bị đứng tim (heart attack), chết theo con mình, vì khi ông còn sống, ông vẫn thường nói với tôi và với các bạn tù nhân của ông trong trại tạm giam Oklahoma County Jail, là cậu con trai duy nhất này của ông, ông coi nó là một bảo vật quí giá nhất trên đời ông.

Đảng Cộng Sản từ khước vai trò lãnh đạo đất nước

Đảng Cộng Sản từ khước vai trò lãnh đạo đất nước

Nguoi-viet.com

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)

Về phương diện chính trị, ở Việt Nam hiện nay có một nghịch lý: Một mặt, Đảng Cộng Sản tự khẳng định một cách công khai, chính thức và dõng dạc trong Hiến Pháp là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước; mặt khác, trên thực tế, chưa bao giờ Việt Nam lại thiếu sự lãnh đạo như là bây giờ.

Lãnh đạo chứ không phải là cai trị. Đó là hai điều hoàn toàn khác nhau. Cai trị chỉ cần dùng sức mạnh để dập tắt mọi sự phản kháng của những người bị trị để giữ nguyên tình trạng hiện có trong đó người cai trị vẫn là những người cai trị và những người bị trị vẫn tiếp tục bị trị. Nói cách khác, cai trị là nỗ lực kéo dài một quá khứ. Lãnh đạo thì khác: Lãnh đạo hướng tới tương lai. Lãnh đạo là dẫn dắt một tập thể hướng tới một chân trời mới trong tương lai. Cai trị cần sự vâng phục trong khi lãnh đạo cần sự đồng thuận. Cai trị được xây dựng trên bạo lực và áp chế trong khi lãnh đạo được xây dựng trên sự khai sáng và tin tưởng. Cai trị cần ngục tù và súng đạn trong khi lãnh đạo cần ánh sáng và trí tuệ.

Trong quá khứ, Đảng Cộng Sản, với một mức độ nào đó, từng đóng vai trò lãnh đạo. Những người lãnh đạo biết rõ họ tin gì và muốn gì. Dân chúng cũng biết rõ các nhà lãnh đạo tin gì và muốn gì: Họ tin vào chủ nghĩa xã hội và muốn đất nước, hoặc thoát khỏi ách Pháp thuộc hoặc được thống nhất. Những điều họ tin và họ muốn chưa chắc đã chính đáng, có khi, ngược lại, chỉ dẫn đến chiến tranh tang tóc và họa độc tài hà khắc. Nhưng có hai điều quan trọng nhất là: một, dân chúng biết rõ giới lãnh đạo tin gì và muốn gì, và hai, một số bộ phận không nhỏ trong dân chúng chia sẻ những điều họ tin và muốn ấy.

Còn bây giờ?

Trong các kỳ đại hội đảng, người ta cũng có những bản báo cáo về những thành tựu trong quá khứ cũng như những kế hoạch năm năm, nhưng tất cả đều được viết theo những công thức chung chung, mơ hồ và rối rắm. Người ta vẫn nói đến chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng tất cả đều không có một nội dung cụ thể nào cả. Không ai có thể hiểu chủ nghĩa xã hội sau khi bị phá sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu ấy có diện mạo ra sao. Còn cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh đến nay vẫn chưa có một đường nét rõ rệt. Ngay cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà người ta thường lặp đi lặp lại trong các nghị quyết cũng như trong ngôn ngữ tuyên truyền cũng không ai biết là gì. Từ các văn bản chính thức ở các đại hội đảng ấy, dân chúng hoàn toàn không thể hình dung con đường mà Đảng Cộng Sản muốn dẫn dắt mọi người đi sẽ đến đâu. Không. Hoàn toàn không thể biết. Ngay chính Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng không biết khi thừa nhận có khi đến tận cuối thế kỷ 21 người ta mới có thể đạt đến chủ nghĩa xã hội. Lâu. Lâu quá. Trong hiện tại thì tất cả đều mù mịt. Trước sự mù mịt ấy, mọi danh xưng lãnh đạo đều mất hết ý nghĩa.

Mà chưa bao giờ dân tộc Việt Nam cần sự lãnh đạo như là bây giờ.

Ở đâu cũng thấy bế tắc.

Về giáo dục, ai cũng than là chưa bao giờ xuống cấp như bây giờ: học trò đạo văn, các thầy cô giáo cũng đạo văn. Không đạo văn thì cũng nhai lại những kiến thức cũ mèm. Quan hệ giữa thầy trò cũng càng lúc càng tệ hại: thầy cô thì coi học sinh như những khách hàng mình vơ vét được bao nhiêu trong các lớp dạy kèm được thì vơ vét còn học sinh thì cũng chả coi trọng gì các thầy cô giáo; có học sinh còn đánh gục các thầy cô giáo ngay trong lớp học. Nhà nước có chính sách gì để ngăn chặn tình trạng xuống cấp ấy không? Không.

Về đạo đức thì càng lúc càng suy đồi, quan hệ giữa người và người càng lúc càng lạnh lẽo, tâm lý vô cảm trước những nỗi đau của người khác càng lúc càng phổ biến. Cái gọi là tình hàng xóm hay tình người vốn là nét son mà người Việt Nam trước đây thường tự hào đến giờ biến mất. Nhà nước có chính sách gì để diệt trừ nạn vô cảm ấy và khôi phục lại truyền thống tốt đẹp ngày trước không? Không.

Về kinh tế thì nợ công càng ngày càng chồng chất kéo theo những di hại có khi đến cả mấy thế hệ, mức phát triển càng lúc càng chậm chạp, về nhiều phương diện, có khi còn thua cả Campuchia và Lào. Về xã hội, nạn tham nhũng tràn lan, lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ, làm gì cũng cần tiền đút lót; người ta mua bán chức quyền cho nhau, bất kể tài năng và tư cách. Nhà nước có chính sách gì để giải quyết các khó khăn và đẩy mạnh sự phát triển kinh tế cũng như giảm trừ nạn tham nhũng không? Không.

Về nhân quyền, tất cả những quyền căn bản của con người đều bị vùi dập. Tự do ngôn luận: không. Tự do biểu tình: không. Tự do lập hội, dù chỉ là những hội dân sự rất ư bình thường: không. Xuống đường để chống đối các chính sách của nhà nước bị cấm đoán, đã đành. Ngay cả xuống đường để chống Trung Quốc một cách chính đáng cũng bị ngăn cấm, hơn nữa, khủng bố. Nhà nước có chính sách gì để cải thiện tình trạng ấy không? Không.

Nhưng quan trọng nhất là những bế tắc trong lãnh vực chính trị. Cả chính trị đối nội lẫn chính trị đối ngoại đều bế tắc. Về đối nội, ai cũng biết cái nhãn chủ nghĩa xã hội chỉ là một chiêu bài dối trá, nhưng vất bỏ cái chiêu bài ấy, Việt Nam sẽ có một thể chế như thế nào? Không ai biết cả. Cả chính quyền có lẽ cũng không biết. Người ta chỉ đe dọa: đa đảng và đa nguyên chỉ dẫn đến hỗn loạn. Nhưng các nước dân chủ trên thế giới thì sao? Sao không có hỗn loạn? Tại sao dân chủ chỉ gây hỗn loạn ở Việt Nam mà thôi? Về đối ngoại, có một trọng tâm khiến mọi người đều nhức nhối: chính quyền Việt Nam sẽ giải bài toán Trung Quốc ra sao? Sẽ theo hùa Trung Quốc và mặc kệ các sự xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc hay sẽ tìm cách chống lại Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền trên biển và đảo? Gần đây, Việt Nam có vẻ muốn thắt chặt quan hệ với Mỹ nhưng quan hệ ấy sẽ được đẩy xa đến mức nào? Việt Nam sẽ tìm kiếm điều gì ở Mỹ? Đó chỉ là một trò đu dây để mua thời gian hay một thực tâm muốn có đồng minh để đối đầu với Trung Quốc? Tất cả những thắc mắc ấy không có ai trả lời cả. Ở điểm dân chúng cần sự lãnh đạo nhất, những người gọi là lãnh đạo lại kín như bưng. Mà chưa chắc họ đã có một chính sách nào cụ thể.

Bởi vậy, có thể nói không có gì quá đáng khi cho Đảng Cộng Sản hiện nay đang từ khước vai trò lãnh đạo của mình. Họ chỉ còn là những nhà cai trị độc đoán và hung bạo. Vậy thôi.