Người còn đó, Ta còn đây,

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó
Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi
Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi
Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng
Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trể
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó! Tôi còn đây! Phúc lắm!

Sương Lam ,

TÌM KIẾM GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI

TÌM KIẾM GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Cách đây khoảng 10 năm, tại bang California bên Mỹ, có hiện tượng thanh niên tự tử hàng loạt. Tất cả đều là những thanh niên trẻ tuổi, con nhà giàu, có học thức. Nguyên nhân tự tử là vì họ mong về Thiên đàng. Năm ấy có sao chổi xuất hiện. Họ cho rằng sao chổi chính là chuyến xe về Thiên đàng. Mấy mươi năm mới có một chuyến, nên họ vội vàng ra đi, sợ nhỡ chuyến.

Tính tỉ lệ những người tự tử, ta thấy thanh niên các nước giàu tự tử nhiều hơn thanh niên các nước nghèo. Hiện nay trong nước ta, tại các thành phố lớn, đang có hiện tượng các thanh niên đua xe gắn máy, liều lĩnh coi thường mạng sống. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy đó là những thanh niên con nhà giầu có.

Những hiện tượng đó đáng cho ta suy nghĩ. Những người nghèo đói thật vất vả khổ sở. Họ chỉ mong sao cho có đủ cơm ăn áo mặc. Có cơm ăn áo mặc đã là hạnh phúc. Nhưng khi người ta đã có đủ cơm đủ áo, đủ mọi phương tiện, người ta vẫn không hạnh phúc. Nhìn những thanh niên giầu có chán đời đi tìm cái chết; nhìn những thanh niên chán cảnh nhà cao cửa rộng, chăn êm nệm ấm đeo ba-lô đi du lịch bụi đời, ta thấy rằng vật chất không phải là tất cả. Và những khao khát của con người là vô tận. Hôm nay tôi chưa đủ ăn thì tôi mong cho có đủ ăn. Ngày mai đủ ăn rồi, tôi lại muốn ăn ngon hơn. Hôm nay còn đi bộ, tôi mong được một chiếc xe đạp. Có xe đạp rồi tôi mong có xe máy. Có xe máy rồi tôi mong có ô – tô. Có ô – tô rẻ tiền rồi, lại mong có cái tốt hơn, tiện nghi hơn, chạy nhanh hơn, êm ái hơn. Có tất cả rồi, người ta vẫn chưa hài lòng. Cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó. Bao tử hết bị hành hạ, thì lập tức tâm hồn cảm thấy những cơn đói khác dày vò: đói bình an, đói tình yêu, đói hạnh phúc, đói ý nghĩa cuộc đời, đói những điều cao thượng. Những cơn đói khát tinh thần này rất mãnh liệt. Nên con người mãi mãi khắc khoải đi tìm. Mà hạnh phúc dường như luôn luôn ở ngoài tầm tay với.

Hôm nay, đứng trước đoàn người hăm hở đi tìm lương thực, Đức Giêsu đã cảnh báo họ: “Đừng lo tìm những thứ lương thực hay hư nát, nhưng hãy tìm lương thực đem lại hạnh phúc trường sinh”. Vì Người đã rõ giá trị tạm bợ của miếng cơm manh áo. Người cũng thấu rõ tâm hồn con người mau chán những gì đạt được. Người đã tạo dựng tâm hồn con người, nên Người hiểu lòng khao khát của con người là vô biên. Chỉ có những giá trị tuyệt đối mới có thể lấp đầy những khát khao ấy. Người đã mở đường để tâm hồn con người thoát khỏi những ràng buộc của vật chất, vươn lên tìm kiếm những giá trị thiêng liêng cao cả, xứng với tầm vóc con Thiên chúa.

Thế nhưng ta tìm đâu ra những giá trị tuyệt đối để lấp đầy nỗi khao khát vô biên?  Ta tìm đâu ra thứ bánh làm dịu được cơn đói hạnh phúc?  Hôm nay, Đức Giêsu giới thiệu cho ta thứ bánh đó.  Đó là bánh đích thực, vì ăn rồi ta sẽ không bao giờ đói nữa.  Đó là bánh ban sự sống, ai ăn sẽ không chết nữa.  Đó là bánh ban hạnh phúc, ăn vào sẽ không còn khao khát điều gì khác.  Đó là bánh Thiên Chúa ban chứ loài người không ban được.  Đó là bánh từ trời chứ trần gian không sản xuất được.  Tấm bánh đó là chính bản thân Người, Đức Giêsu Kitô.

Những người Do thái đã sai lầm khi đi tìm Đức Giêsu để được ăn bánh.  Đức Giêsu đã cảnh tỉnh họ khi cho họ biết rằng không nên tìm bánh, vì như thế họ sẽ thất vọng.  Bánh ăn rồi sẽ lại đói.  Nhưng phải tìm chính Đức Giêsu.  Ở đây ta nhớ tới bài học Chúa đã dậy tổ phụ Ápraham.  Thoạt tiên, Chúa kêu gọi tổ phụ Ápraham đi theo Chúa và hứa cho ông được một đất nước chảy sữa và mật,  và một dòng dõi đông như sao trên trời như cát dưới biển. Nghe theo lời hứa, tổ phụ đã lên đường.  Nhưng khi ông sinh được một người con trai duy nhất trong tuổi già, Chúa lại bảo ông phải sát tế dâng cho Chúa.  Đây là một thử thách lớn lao, nhưng cũng là một lời mời gọi vươn lên.  Ápraham được mời gọi thoát khỏi sự ràng buộc của lợi lộc vật chất.  Theo Chúa chỉ vì Chúa chứ không phải vì lợi lộc vật chất.  Ông hoàn toàn có lý vì ông đã chọn Chúa là sự Thiện tuyệt đối chứ không chỉ lựa chọn một vài sự thiện tương đối.  Ông đã lựa chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc chứ không đuổi theo những ảo ảnh của hạnh phúc.  Đức tin của ông hoàn toàn trưởng thành, nên ông đã trở thành Cha của những kẻ tin.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi, hãy noi gương tổ phụ Ápraham. Đừng tìm những mảnh vụn hạnh phúc, nhưng hãy đi đến nguồn mạch hạnh phúc.  Đừng lo nắm giữ những của cải phù du, nhưng hãy tìm chiếm giữ kho tàng bền vững mối mọt không đục khoét được.  Đừng đuổi theo những giá trị tương đối, nhưng hãy biết tìm kiếm giá trị tuyệt đối là chính Chúa.  Chính Chúa sẽ làm ta no thoả.  Chính Chúa sẽ lấp đầy những khát vọng của ta.  Chính Chúa ban cho ta hạnh phúc tràn đầy, vĩnh viễn.

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với thánh Âucơtinh: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con mãi khắc khoải băn khoăn, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Amen.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Con phải cố gắng để mà giỏi gấp đôi người ta.

Con phải cố gắng để mà giỏi gấp đôi người ta.

Bài Ghi Ngắn của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Condoleezza Rice sinh năm 1954 tại tiểu bang Alabama là một phụ nữ người Mỹ gốc Phi châu với thành tích xuất sắc trong các chức vụ làm giáo sư về môn bang giao quốc tế tại đại học danh tiếng Stanford California – và nhất là còn làm cố vấn an ninh và làm ngọai trưởng dưới thời của Tổng thống George W Bush từ năm 2001 đến 2009.

Vào năm 2010, bà cho xuất bản cuốn Hồi ký Gia đình (A Family Memoirs) ghi lại rất nhiều chi tiết về sinh họat trong gia đình của bà gồm ba người là cha, mẹ và bản thân bà là người con gái duy nhất mà được gọi với cái tên Condi trong chỗ thân mật riêng tư của gia đình.

Vào các thập niên 1950 – 60, nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn rất khắt khe tàn bạo đối với người da màu (coloured people) tại các tiểu bang thuộc miền Nam nước Mỹ. Vì thế, mà bà mẹ Angelena Rice đã luôn luôn phải căn dặn nhắc nhở con gái Condi rằng : “Con phải cố gắng hết sức mình để mà có thể giỏi giang gấp đôi người khác (twice as good). Vì nếu được như vậy, thì dù người ta có thể không ưa con, nhưng ít nhất họ cũng phải nể trọng con…”

Và đúng theo lời khuyên bảo của bà mẹ như thế, Condoleezza Rice đã hết sức cố gắng trau giồi học tập để trở thanh một phụ nữ chuyên viên với tài năng vượt trội và được mời giữ những chức vụ quan trọng và cao quý nhất trong guồng máy của chánh phủ Liên bang Hoa kỳ vào đầu thế kỷ XXI mới đây thôi. Tên tuổi của Condi Rice đã được tòan thể dân tộc Mỹ và nhiều người khác trên thế giới biết đến và ái mộ.

Sự thành công của Condoleezza Rice có thể được coi như một tấm gương rất tốt đẹp cho lớp người trẻ tuổi là hậu duệ trong các gia đình Việt nam chúng ta hiện di cư tỵ nạn trên đất Mỹ vậy. Quả thật, người Việt chúng ta hiện định cư ở Mỹ cũng là một sắc dân thiểu số (ethnic minority) – nên khó mà tránh khỏi được những chuyện phân biệt kỳ thị thường tình xảy ra trong xã hội ở Mỹ cũng như ở nhiều nơi khác. Vì thế, mà con em chúng ta đều phải cố gắng học tập chuyên cần nghiêm túc – để mà có đủ khả năng chuyên môn hầu vươn lên được trong cái xã hội văn minh vốn đòi hỏi sự tranh đua nhiều khi hết sức gay gắt (extremely tight competition).

Đây cũng là điều mà cha ông chúng ta từ xưa vẫn hay nhắc nhở khuyến khích con cháu trong mỗi gia đình là phải cố gắng để có được tình trạng “Con hơn Cha, Nhà có Phúc”. Và tiền nhân cũng còn luôn khuyên nhủ, đánh giá cao những thành đạt của lớp hậu duệ, cụ thể như câu : “Hậu sinh khả úy”, “Hậu sinh khả ái” v.v… nữa vậy./

Westminster, California Tháng Bảy 2015

Đoàn Thanh Liêm

‘Chân dung quyền lực’ đã chết?

‘Chân dung quyền lực’ đã chết?

‘Chân dung quyền lực’ là trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh.

‘Chân dung quyền lực’ là trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh.

VOA Tiếng Việt

30.07.2015

Trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh, đã hoàn toàn im tiếng, trong khi có nhiều đồn đoán về sự can dự của an ninh quân đội Việt Nam.

Những đồn thổi quanh tình trạng sức khỏe của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thời gian qua khiến nhiều người nhớ tới các thông tin cập nhật về lịch trình đi chữa bệnh ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên bí thư Thành ủy Đà Nẵng, hồi đầu năm nay trên “Chân dung quyền lực”, các nhà quan sát ở trong nước cho hay.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam, nói với VOA Việt Ngữ về sự im tiếng này:

“Sự biến mất của trang ‘Chân dung quyền lực’ là một điều tất yếu. Nhưng đây là một sự biến thể, chứ không phải biến mất hoàn toàn trang ‘Chân dung quyền lực’. Một số người kỳ vọng trang này sẽ tung ra các thông tin về tài sản của các quan chức, nhưng trang này cũng là tâm điểm bị chú ý và bị ‘soi’ của giới an ninh, trong đó có an ninh quân đội. Tôi cho rằng người phụ trách trang này có lẽ họ đã thấy đủ nguy hiểm, và đủ mức độ để đóng trang này lại. Có lẽ họ sẽ chuyển sang một trang khác. Vừa rồi cũng có dư luận về sự xuất hiện trên Facebook liên quan tới sức khỏe của Tướng Phùng Quang Thanh. Tôi cho rằng từ đây tới đại hội 12 của Đảng, sẽ có những trang ‘Chân dung quyền lực’ nháy nháy nào đó xuất hiện và xuất hiện liên tục.”

“Một số người kỳ vọng trang ngày [Chân dung quyền lực] sẽ tung ra các thông tin về tài sản của các quan chức, nhưng trang này cũng là tâm điểm bị chú ý và bị ‘soi’ của giới an ninh, trong đó có an ninh quân đội. Tôi cho rằng người phụ trách trang này có lẽ họ đã thấy đủ nguy hiểm, và đủ mức độ để đóng trang này lại…

Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam Nguyễn Chí Dũng.

Tờ Nikkei Asian Review, thuộc sở hữu của một trong những tập đoàn truyền thông lớn nhất của Nhật Bản, từng đăng tải bài viết dài về sự xuất hiện đầy “bí ẩn” của “Chân dung quyền lực”, và nhận định rằng những lời đồn thổi trên mạng có thể gây bất ổn chính trị tại Việt Nam.

Tính từ cuối năm ngoái cho tới nay, theo hệ thống đếm số truy cập, “Chân dung quyền lực” đã thu hút tới gần 26 triệu lượt người truy cập, và có thời điểm, có hàng nghìn người vào đọc trang này cùng một lúc.

Dù trang web này hiện không còn cập nhật, nhưng theo quan sát của phóng viên Việt Ngữ, tối ngày 30/7, vẫn có tới gần 100 người “online” trên đó cùng thời điểm.

Vì sao người dân Việt Nam lại quan tâm tới một trang blog không rõ nguồn gốc với những thông tin giật gân, khó kiểm chứng như vậy? Tiến sỹ Dũng giải thích:

“Thứ nhất là sự tò mò của dân chúng, của xã hội và của dư luận, và thứ hai nữa là dân chúng Việt Nam quen sống trong xã hội thiếu minh bạch thông tin. Vì vậy, bất cứ thông tin nào, dù chưa được kiểm chứng và mơ hồ nhưng nêu ra một số vấn đề của các quan chức thì người dân lập tức đọc. Vừa rồi có những tin đồn, chẳng hạn Tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát. Thậm chí là có những câu chuyện giống như là trinh thám, mô tả cách ám sát Tướng Phùng Quang Thanh. Nghe nói là rất nhiều người dân đọc, và tôi gặp một số người và họ kể lại câu chuyện đó như thật, giống như chính họ sáng tác ra câu chuyện đó vậy.”

Tiến sỹ Dũng nói thêm rằng tình trạng úp mở và thiếu minh bạch thông tin đã dẫn tới việc tin đồn lan rộng, và giúp cho các trang tin đăng tải những thông tin chưa kiểm chứng có “đất” để đua nở.

Vừa rồi có những tin đồn, chẳng hạn Tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát. Thậm chí là có những câu chuyện giống như là trinh thám, mô tả cách ám sát Tướng Phùng Quang Thanh. Nghe nói là rất nhiều người dân đọc, và tôi gặp một số người và họ kể lại câu chuyện đó như thật, giống như chính họ sáng tác ra câu chuyện đó vậy.

Tiến sỹ Nguyễn Chí Dũng nói.

Cũng giống như vụ ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương, đi chữa bệnh ở Mỹ, chính quyền Việt Nam chỉ lên tiếng xác nhận thông tin về bệnh tình của ông Phùng Quang Thanh sau khi các tin đồn về chuyện ông bị ám sát “làm mưa làm gió” trên các trang mạng không chính thống.

Dù chính phủ Việt Nam chưa chính thức lên tiếng bình luận về các thông tin do “Chân dung quyền lực” loan đi, nhưng báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng  đăng tải bài viết trong đó ám chỉ tới trang blog này.

Bài viết trong mục “Bình luận – Phê phán” nói rằng “cứ mỗi khi Việt Nam sắp diễn ra một sự kiện chính trị quan trọng là một số tổ chức, cá nhân lại ráo riết triển khai chiến dịch bịa đặt, vu cáo, tung tin thất thiệt”.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh về Hà Nội hôm 25/7 sau thời gian chữa bệnh ở Pháp. Một bức ảnh chụp ông ở sân bay từ xa vẫn khiến nhiều người đồn thổi đó là “một người đóng thế”.

Chỉ tới khi người đứng đầu quân đội Việt Nam xuất hiện tại một sự kiện có tên gọi ‘Khát vọng đoàn tụ’ được truyền hình trực tiếp, hôm 27/7, cơn bão tin đồn mới lắng lại.

Phim Ra Rạp: Lễ Là Tảo Mộ Hội Là Đạp Thanh

Phim Ra Rạp: Lễ Là Tảo Mộ Hội Là Đạp Thanh

. Đinh Tấn Lực

Rằng hay thì thật là hay – Nhưng tay đạo diễn phim này là ai?” (Nhại Kiều)

Sự xuất hiện bất ngờ của một đại tướng trên chương trình truyền hình “Khát Vọng Đoàn Tụ”, sau cả tháng thấp thỏm đợi chờ của rất nhiều người, tưởng đâu hoá giải được mọi gút mắc, bỗng dưng lại bật ra hàng loạt câu hỏi hóc búa khác về một kịch bản có tầm Oscar chính trị…

*

Màn 1 – Binh Biến & Phản Đảo Chính

1- Người loan tin chàng bị ám sát là ai, do ai cấp nguồn, nhờ ai chống lưng, với mục đích gì?

2- Lời đồn đãi về một âm mưu binh biến bất thành có bao nhiêu phần trăm sự thật?

3- Có thật âm mưu binh biến này dính dáng tới hai cựu tổng bí từng ký hiệp ước với Tàu năm 1990 và 1999?

4- Âm mưu này có chút nào dính dáng tới chuyến khấu tấu tập thể do chàng hướng dẫn 39 tướng lãnh sang Trung Nam Hải hồi tháng 10/2014, và chuyến khấu kiến mới nhất hồi tháng 5/2015 (với bảng tên viết bằng Hán tự)?

5- Vì sao sự kiện thất tung này xảy ra đúng ngay thời điểm ngài tổng bí đương nhiệm đang chuẩn bị qua Mỹ?

6- Ai xếp đặt để tách chàng ra khỏi phái đoàn tháp tùng ngài tổng bí công du Hoa Kỳ như đã chính thức lên phương án từ bao lâu trước?

7- Thế lực nào đủ mạnh để tung tin hoả mù về cuộc ám sát cả vợ con chàng trên đất Pháp?

8- Áp lực từ đâu và đến mức nào mà khiến vợ con đương sự, dù không bị ám sát, hay không phải qua Pháp thăm nuôi chồng, vẫn phải im lặng suốt thời gian “ém tướng”?

9- Do đâu mà bất chợt có lệnh thay đổi lãnh đạo một cách vội vã (và có chỉ dấu khuất tất trong chữ ký) ở Quân Khu Thủ Đô?

10- Do đâu mà bất chợt có lệnh thay đổi lãnh đạo Quân khu 7, bao gồm Sài Gòn & 8 tỉnh lân cận, 3 sư đoàn cùng 5 lữ đoàn đặc chủng?

11- Khẩu hiệu của QK7 là “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng”. Liệu vế 1 vừa nói có điều manh nha gì không đáp ứng đúng mức?

12- Tay chân bộ hạ của chàng bị cắt cụt, có phải cũng đồng nghĩa với việc tỉa cành cắt đọt quyền lực của kẻ bấy giờ đang trên đường công du Hoa Kỳ?

13- Cuộc họp giao ban của chính phủ vào cuối tháng 6, dù thiếu bộ trưởng quốc phòng, vẫn được tiến hành như không có chuyện gì xảy ra và cũng không cần đến, là bởi thế lực nào?

14- Nhằm mục đích gì mà một thượng tướng ngồi cạnh thủ tướng, trám chỗ của chàng (Phó BT Quân uỷ) và ngài tổng bí (BT Quân uỷ), để chủ toạ Đại Hội Thi Đua Quyết Thắng Toàn Quân IX?

15- Ai chỉ đạo cho một phóng viên VN mồi chài cho DPA tung tin chàng đã qua đời để nhồi sóng dư luận “đả đảo thân Tàu” trong thời gian “ém tướng”?

16- Ai cấp nguồn cho tuyên giáo TW chữa cháy bằng một loạt tin hoả mù khác là chàng đi chữa bệnh, với những chi tiết y khoa ly kỳ đến mức khó tin?

17- Phải chăng sự kiện tin tức hoả mù ám sát và chữa bệnh được tung ra hết sức nhịp nhàng là có dụng ý đe doạ tư lệnh các quân khu khác?

18- Thế lực nào đủ mạnh để tin đồn và tin tức báo chí trong luồng tung hứng ăn khớp nhau về việc chàng đi chữa bệnh ở bệnh viện Georges Pompidou, Paris?

19- Ai có đủ uy thế để tung tin chàng “suýt bị sổng qua TQ”, như một thứ đòn phép đo lường phản ứng dư luận về số phận một tay nô lệ?

20- Có bao nhiêu phần trăm sự thật trong các bình luận cho rằng Trương Cao Lệ sang VN và bị tiếp đãi lạnh nhạt, chỉ vì nhằm mục đích “gỡ tội/cứu bồ” cho chàng?

21- Sự chuẩn bị để quốc hội nhất trí thông qua dự luật cho phép thủ tướng được ký giao quyền bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan ngang bộ, là nỗ lực dày công của ai?

22- Kẻ nào ép được Ban bảo vệ sức khoẻ TW phải phát biểu/tuyên bố chính thức đúng như kịch bản linh động từng ngày?

23- Thế thì âm mưu binh biến của 2 quân khu lớn nhất nước bỗng chốc biến thành quy trình phản đảo chính & khoá tay đầu lãnh (cả quân đội lẫn đảng) một cách ngoạn mục là đây chăng?

24- Khi phát biểu rằng “Không để quân đội Bất Ngờ Về Chính Trị trong mọi tình huống”, thượng tướng Ngô Xuân Lịch có ẩn ý gì?

25- Trong suốt tháng qua, thực sự chàng bị ém ở đâu?

*

Màn 2 – Hiển Thị Ngày Thương Binh Liệt Sĩ

26- Ai, hay những ai, có khả năng viết tiểu thuyết phơi-giơ-tông để biến chiêu cốt chuyện xuất quỷ nhập thần từng ngày, từ 2 viên đạn tới cục u phổi, từ ngày “ám sát” sang ngày “nhập viện”, rồi “xuất viện”, với những cú phôn qua lại Pháp-Việt… cho tới “ngày về” ảo diệu?

27- Ý kiến chỉ đạo về sự xuất hiện tầm xa của bộ complet xám, mà không có vợ con cùng tướng tá đi đón, đặc biệt lệnh cấm xài ống kính Zoom, là của ai?

28- Hành khách VN đi khoang thương gia trên chuyến bay VN18 Paris-Nội Bài không có ai khác ngoài chàng với đám tuỳ tùng; hay, còn có thêm một số người không biết mặt chàng; hay, họ biết mặt chàng mà quý thương gia này không đời nào lên Facebook?

29- Có điều gì ám muội đã khiến cho dàn báo trong luồng sử dụng hình ảnh các máy bay khác nhau, với cầu thang lên xuống khác nhau, để chứng thực chuyến về của chàng; thậm chí sử dụng cả hình ảnh chiếc Boeing đã từng xài trong 22 bài báo khác nhau suốt 3 năm trước đây?

30- Vì lý do gì mà báo chí bỏ qua vợ con chàng trong buổi hội ngộ sau đận phẫu thuật u phổi? Mà đón chàng tại nhà để trao hoa là Nguyên tư lệnh, chứ không phải là Tân tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội?

31- BCT, bộ QP và bộ 4T thiếu phối hợp chặt chẽ trong khúc trình diễn màn trình diện ở sân bay, khiến cho dư luận nghi ngờ có kẻ đóng thế vai trong đoạn diễn này chăng?

32- Đại sứ Mỹ đến thăm, chỉ được thứ trưởng bộ QP VN đón tiếp, và chỉ được gián tiếp hỏi thăm sức khoẻ của chàng, vì sao?

33- Cũng thứ trưởng bộ QP VN hoan nghênh và mời Tân tư lệnh Lực lượng Coast Guard của Mỹ sang thăm VN, mà không phải là do chàng mời cho môn đăng hộ đối, là vì sao?

34- Vì lý do gì mà chàng phải định cư dài hạn tại bộ QP, thay vì về nhà với vợ con để dưỡng thương hay dưỡng sức sau một chuyến xa nhà giải phẫu lồng ngực?

35- Vì lý do gì mà Trợ lý của bộ trưởng QP phải rào trước là bản thân chàng: “Sẽ ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng chứ không về nhà riêng, kể từ hôm nay… Mọi sinh hoạt và làm việc đều diễn ra bình thường. Riêng làm việc thì …Chỉ Làm Có Mức Độ”; ý nghĩa là thế nào, do ai ngăn cấm/giới hạn (không được tham dự Hội thảo quốc tế về triển khai lực lượng tham gia bảo vệ hoà bình của LHQ, ngày 27/7/2015)?

36- Cả hai yếu tố này có đồng nghĩa với một biện pháp quản thúc hay quản chế sau giai đoạn khống chế hay không?

37- Hay, đó là một kẻ khác, mang mặt nạ silicon gần giống như chàng (sau giải phẫu thẩm mỹ), và vì vậy, không được hoặc không nên đến gần vợ con chàng?

*

Hồi Cảnh (Flashback) – Khúc Quanh Lịch Sử Đảng

38- Động thái khiêu khích của TQ vào tuần cuối tháng 6/2015, trên biển Đông, từ dàn khoan 981, cho tới diễn tập bắn đạn thật, và cả dự luật cho phép TQ sử dụng sức mạnh vũ trang để bảo vệ lợi ích cốt lõi, cùng những biến động ở biên giới Tây Nam… là những áp lực cho điều gì và nhắm vào ai, hay những ai, ở Ba Đình?

39- Thế lực nào đủ mạnh để nhón 1 con cờ Ba Đình có khả năng “xử đẹp” cả hai đối thủ có cùng tên và cùng thủ lãnh thân Tàu?

40- Do đâu có những cuộc thăm viếng dồn dập, từ 2 chiến hạm tối tân USS Fort Worth & USS Fitzgerald cặp cảng Đà Nẵng, đến Bộ trưởng QP Mỹ gặp Tư lệnh quân chủng Hải quân VN và Tư lệnh Cảnh sát biển VN, rồi ghé trụ sở Bộ QP VN ở Hà Nội hồi đầu tháng 6/2015?

41- Bộ trưởng QP Mỹ tặng Bộ QP VN 1 quyển nhật ký và 1 dây thắt lưng của một chiến sĩ bộ đội vượt Trường Sơn thời chiến tranh là có ẩn ý báo trước điều gì bất thường hay bất an không?

42- Hiện tượng cựu Tổng thống Mỹ Bill Cliton sang VN ngay trước khi ngài tổng bí đi Mỹ nói lên điều gì, từ phía Mỹ, rằng “không đi không được, không làm không xong”, phỏng?

43- Điều gì khiến cho ngài Obama cân nhắc hệ quả mích lòng với cả 2 đảng lớn của Mỹ xong tự lấy quyết định phá lệ mà đón tiếp ngài tổng bí CSVN tại Phòng Bầu Dục. Chuyện gặp gỡ này cần thiết đến mức đó sao?

44- Do đâu mà, ngay sau chuyến công du Hoa Kỳ của ngài tổng bí, viên Đại sứ Mỹ có thể mạnh miệng trong cuộc tiếp xúc với Cộng đồng người Việt ở quận Cam rằng VN đang tiến mạnh về phía dân chủ?

45- Điều gì đã khiến cho Đại sứ Mỹ tự tin đến mức vượt qua giới hạn ngoại giao để ghé thăm đài truyền hình người Việt tự do SBTN và Văn phòng II Viện Hoá Đạo ở Nam Cali?

46- Việc gì cần đến mức đệ nhị phu nhân Hoa Kỳ, Tiến sĩ Jill Biden, tức vợ của phó TT Joe Biden, cấp tốc qua VN ngay sau chuyến công du của ngài tổng bí, và cặp kè dung dăng ngoài phố với vợ của CTN VN? Jill đã nói gì với Doan? Với Hạnh? Hay nhắm Hạnh điều gì cần nói với chồng?

47- Thế lực ghê gớm nào bật đèn xanh cho báo chí trong luồng đi bài phóng sự cảm động (có luôn cả video clip) về cuộc thảm sát Gạc Ma?

48- Nên đánh giá như thế nào cho gần với sự thật về sự kiện chủ tịch nước đi thăm 2 sư đoàn từng chiến đấu ở mặt trận biên giới, sau nhiều thập niên bị bỏ quên đến đóng bụi trong lịch sử?

49- Điều gì khiến cho CTN đồng ý với đề nghị thăng hàm thượng tướng CA cho một nhân sự gốc Kiên Giang? Chẳng lý nào ngài CTN có tài ngoại cảm và đang xoay về phía mặt trời đang ló dạng?

50- Thượng tầng đảng đang lên kế hoạch đón tiếp (trọng thị đến mức có thể) vợ chồng ngài Barack Obama thăm viếng Việt Nam trong vài tháng tới, trước đại hội đảng, có khi trước cả hội nghị trù bị cho đại hội đảng… Liệu có ai ngạc nhiên khi ngài ấy nhận một món quà hữu nghị lớn tương đương với …diện tích mặt nước cảng Cam Ranh?

51- Nếu so sánh với nỗ lực viết lại sách giáo khoa môn sử thời 1979, thì, có phải chuỗi sự kiện này là chỉ dấu hiển thị một thay đổi lớn, thậm chí là một khúc quanh, trong lịch sử đảng?

*

Những Câu Hỏi Dành Cho Hồi Kết

52- Có ai dám bảo Xê-i-a với tình báo Trung Nam Hải chưa từng đấu nhau trên đất nước thứ ba?

53- Hồ Ly Vọng (Hollywood) là cái nôi điện ảnh của Mỹ, nhưng, có đúng là không ai ngạc nhiên rằng Hoa Thịnh Đốn (Washington DC) mới là nơi đào tạo diễn viên chính trị của thế giới thứ ba?

54- Nhu cầu chính trị to đến đâu mà thủ tướng VN cần phải điều 1 đệ tử Kiên Giang về nắm thanh tra chính phủ?

55- Lý do, hay những lý do nào khiến một thinktank của Nhật kết luận rằng sau Miến Điện là Việt Nam?

56- Những yếu tố nào khiến thế giới khả dĩ chắc bắp rằng, sau vòng ngoài be bờ từ Nhật đến Hàn đến Phi …đến tận Úc, thì vòng trong, sát sườn đối thủ khổng lồ chính yếu của Mỹ, không ai có thể loại trừ vị trí chiến lược của VN?

57- Bao nhiêu phần trăm sự thật có thể có là Hoa Kỳ đã điều chỉnh và sử dụng một phương thức “tháo cũi” cho VN tương tự như cách đã làm với Miến Điện (ngay cả việc chận đứng dự án đường ống dầu đi tắt & huỷ hợp đồng 1 con đập khủng do Tàu tài trợ)?

58- TPP có phải chỉ là củ cà rốt, còn “thoát trung” mới là cây roi, đối với Mỹ? Ngược lại, có phải đối với 1 bộ phận (gọi là nhóm lợi ích) của Ba Đình thì đây chính là cơ hội nòng nọc rụng đuôi XHCN thành Ếch cộng hoà, và là cái phao cứu sinh cho phe còn lại có đường thoát thân êm thắm?

59- Có ai dám bảo con hổ giấy Hoa Kỳ chỉ xoay trục bằng nước bọt?

60- Còn ai nghi ngờ khả năng bán bảo hiểm tài sản dưới vỏ bọc công ty tư vấn kinh tế của chính quyền Mỹ?

61- Putin đang chuẩn bị gấp rút để nhận anh em họ với 1 gã tóc đen?

62- Có ai đã gạ bán bảo hiểm nhân thọ cho ngài đại tướng vừa mới bị đạp ngã kia chưa?

28/7/2015 – Kỷ niệm tròn 20 năm nước CHXHCNVN gia nhập Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN).

Blogger Đinh Tấn Lực

Giới thiệu sách (10): Hồi ký của Condoleezza Rice

Giới  thiệu  sách (10): Hồi  ký của  Condoleezza  Rice

Đoàn Thanh Liêm

* Nguyên tác bằng Anh ngữ nhan đề :

“ Extraordinary, Ordinary People

A Memoir of Family”

by Condoleezza Rice

* Nhà Xuất bản Crown Archetype ấn hành tại Mỹ năm 2010

*      *      *

Condoleezza Rice sinh năm 1954 là người phụ nữ da đen đầu tiên nắm giữ chức vụ Cố vấn An ninh bên cạnh Tổng thống, rồi lại là Ngọai trưởng Hoa kỳ vào những năm đầu của thế kỷ XXI dưới thời của George W Bush là vị Tổng thống thứ 43 của nước Mỹ. Bà là giáo sư lâu năm về môn Chính trị học và có thời gian còn giữ chức vụ Provost (Phụ tá Hành chính) tại Đại học danh tiếng Stanford ở California.

Năm 2009, sau khi rời khỏi chính trường, bà đã dành thời gian để viết cuốn Hồi ký Gia đình và cho ấn hành vào năm 2010. Sách dầy 342 trang, bìa cứng được in trên giấy trắng – dàn trải trong 38 chương, kèm theo nhiều hình ảnh riêng tư của gia đình, cũng như trích từ kho tư liệu của nhiều cơ sở văn hóa xã hội trong nước Mỹ.

Bằng một giọng văn gọn gàng mạch lạc, bình dị và trong sáng, tác giả đã cống hiến cho người đọc một câu chuyện thật sinh động hấp dẫn về những cố gắng vươn lên của một gia đình người da đen tại tiểu bang Alabama là nơi có nạn kỳ thị chủng tộc cực kỳ nghiệt ngã tàn bạo trong những thập niên 1950 – 60.

Vì là cuốn Hồi ký Gia đình, nên câu chuyện được kể lại xoay quanh ba nhân vật chính yếu, đó là người cha John Rice, người mẹ Angelena Ray và người con gái duy nhất Condoleezza Rice – mà chính là tác giả của cuốn sách này. Tác phẩm có thể coi như là một chứng từ khả tín về tình hình sinh họat chung của xã hội Mỹ trong vòng nửa thế kỷ qua – bắt đầu từ năm 1960 vào lúc cô bé Condi lên 6 tuổi và đã bắt đầu biết quan sát nhận định về những sự việc xảy ra xung quanh gia đình mình tại khu vực ngọai ô thành phố Birmingham thuộc miền Nam nước Mỹ – cho đến nay vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, tôi xin lần lượt trình bày chi tiết trong một số mục đáng chú ý sau đây.

I – Sự đùm bọc gắn bó chặt chẽ trong gia đình và dòng họ nội ngọai.

Đúng theo nhan đề của cuốn sách, tác giả Condoleezza Rice đã kể lại rành rọt về sinh họat trong nội bộ gia đình của “bộ ba” (the threesome) tức là người cha John, người mẹ Angelena và người con gái Condi. Đây là một gia đình vào lọai trung lưu (middle class) với cuộc sống thật ấm cúng hạnh phúc – vì cả hai cha mẹ đều hy sinh hết mực trong việc hướng dẫn chăm sóc và “đầu tư trong việc giáo dục” cho cô con gái cưng của ông bà. Suốt trong cuốn sách, Condi đã thuật lại chi tiết về những cố gắng vươn lên của cha mẹ mình, ngay tại vùng đất Alabama còn nặng nhọc với nạn kỳ thị chủng tộc thời kỳ giữa thế kỷ XX.

Condi ngòai tình thương yêu đậm đà đối với cha mẹ, lại còn có sự ngưỡng mộ thán phục hết mình trước những thành tựu mà hai ông bà đã đạt được, mặc dầu phải trải qua bao nhiêu nghịch cảnh éo le. Nàng coi cha mẹ là thứ gương mẫu (role model) để mình noi theo. Khi lấy nhan đề cho cuốn Hồi ký là : “Extraordinary, Ordinary People”, thì rõ ràng là tác giả muốn nói rằng : Cha mẹ của bà là những người bình thường, nhưng cũng lại là những con người phi thường nữa. Dưới đây, căn cứ trên những mô tả rải rác ở nhiều nơi trong cuốn sách, ta sẽ vẽ lại chân dung của người cha và người mẹ tuyệt vời của tác giả.

A – Người cha : Ông John Rice ( 1923 – 2000)

John Rice là con của một vị mục sư Tin lành trong hệ phái Presbyterian, sinh trưởng ở tiểu bang Louisiana và sau này chính John cũng là một mục sư coi sóc một Hội thánh do cha ông thiết lập ở vùng ngọai ô thành phố Birmingham tiểu bang Alabama. Vốn là người tháo vát năng nổ, mục sư John đã gây dựng được một cộng đòan tín hữu sinh họat rất tấp nập sầm uất, không những về mặt phụng vụ, học hỏi giáo lý thánh kinh, mà đặc biệt về mục vụ cho giới thanh thiếu niên tại địa phương.

Ít lâu sau, thì ông chuyển đi phục vụ trong ngành giáo dục nơi các trường cao đẳng và đại học ở Tuscaloosa Alabama, Denver Colorado và sau cùng tại đại học danh tiếng Stanford California là nơi con gái của ông là Condoleezza làm giáo sư từ lâu. Là người có tài tổ chức, ông lôi cuốn thuyết phục được nhiều người hưởng ứng tham gia các chương trình hành động nhằm phục vụ giới sinh viên, đặc biệt trong lãnh vực thể thao và sinh họat tập thể ở ngòai trời. John có người chị là Theresa có bằng Tiến sĩ và đi dậy về văn chương tại các Đại học.

B – Người mẹ : Bà Angelena Ray (1924 – 1985).

Angelena Ray là một người con giữa trong gia đình có 5 anh chị em. Người anh lớn Albert Ray làm mục sư Tin lành trong hệ phái Presbyterian. Tuy người có tầm vóc nhỏ nhắn, nhưng Angelena lại có sự kiên trì theo đuổi việc học tập để hòan tất chương trình Đại học và theo đuổi nghề dậy học ở các trường trung học trong nhiều năm. Đặc biệt, theo gương thân mẫu bà còn trau dồi riêng về âm nhạc và trong nhiều năm đã phụ trách điều khiển chương trình hát thánh ca tại nhà thờ. Cái tên Condoleezza bà chọn đặt cho con gái chính là một từ ngữ âm nhạc bằng tiếng Ý có nghĩa là “ với sự dịu dàng êm ái” (with sweetness).

Vào thời nạn kỳ thị chủng tộc còn rất tàn bạo hắc ám tại nhiều tiểu bang ở miền Nam, người mẹ như Angelena chỉ còn biết hạn chế sinh họat trong phạm vi gia đình, giữa cộng đồng tín hữu nơi các khu xóm dành riêng cho người da đen. Bà luôn nhắc nhở con gái Condi rằng : “Con phải cố gắng hết sức để mà có thể “giỏi gấp đôi người ta” (twice as good). Vì nếu như vậy, thì dù người ta có thể không ưa con, nhưng ít nhất người ta cũng phải trọng nể con…”

Với cả hai cha mẹ đều là những người đạo hạnh, lương hảo và siêng năng cần cù như vậy, nên ngay từ tấm bé Condi đã được thừa hưởng một nền giáo dục tuyệt vời trong gia đình – với tình yêu thương nồng ấm của cha mẹ cũng như của bà con nội ngọai và cả của cộng đòan tín hữu ở địa phương mà cả cha lẫn mẹ đều góp phần tích cực xây dựng và phát triển.

II – Cố gắng vượt thóat khỏi nghịch cảnh của lớp người bị áp chế.

Cả cho đến thập niên 1950 – 60, thì tại miền Nam nước Mỹ nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn khắc nghiệt gay gắt, cụ thể là nạn khủng bố do nhóm người da trắng cực đoan 3K Ku Klux Klan thường xuyên gây ra. Trong khu vực người da đen cư ngụ, thì cái cảnh bom nổ liên miên, các nhà thờ bị đốt cháy, nhiều thường dân vô tội bị sát hại…là “chuyện thường ngày ở huyện”, đến nỗi mà thành phố Birmingham được gọi trại đi là “Bombingham”. Vị chỉ huy cảnh sát Birmingham tên là Bull Connor là một thứ hung thần ra tay đàn áp người da đen với đủ mọi thủ đọan thâm độc tàn ác.

Condi mô tả lại cái cảnh bom nổ kinh hòang tại một nhà thờ gần kề với gia đình mình vào ngày Chủ nhật 15 tháng 9 năm 1963 sát hại 4 em gái mới ở vào tuổi 11 – 14. Một trong những nạn nhân này là Denise McNair là người bạn vẫn thương chơi trò búp bê với Condi. Cũng trong thời gian đó, phong trào tranh đấu đòi Dân quyền do mục sư Martin Luther King phát động đã gây sôi nổi trong dư luận tòan quốc Hoa kỳ và được sự hỗ trợ của cả một bộ phận khá đông đảo của người Mỹ da trắng tiến bộ nữa.

Mặc dầu phải sinh sống trong môi trường xã hội tồi tệ đến như thế, cha mẹ của Condi vẫn nhẫn nại tìm cách vượt lên được do cố gắng học tập, làm việc và nhất là gắn bó liên đới chặt chẽ với tập thể người da đen đồng cảnh và đồng đạo với mình. Năm 1968, gia đình Rice dọn đến thành phố Denver tiểu bang Colorado, nhờ vậy mà Condi có cơ hội được học tập trong những trường học tốt nhất để hòan thành bậc trung học và đại học. Vào năm 1981 khi vừa đủ 26 tuổi, Condoleezza Rice đã được cấp phát văn bằng Tiến sĩ về ngành chính trị học. Cuộc sống của Condi bắt đầu từ thập niên 1980 đã diễn ra thật tốt đẹp, cả trong môi trường đại học ở Stanford California, cũng như trong hệ thống chính quyền Liên bang Mỹ ở Washington DC. Ta sẽ tìm hiểu chi tiết về sự đóng góp chuyên môn của vị nữ lưu này trong mục sau.

Ông bà Rice đã dồn hết khả năng tài chánh và công sức của mình để cho cô con gái Condi có được cơ hội học tập tốt nhất, kể cả trong lãnh vực nghệ thuật và thể thao. Từ thời thơ ấu 3 – 4 tuổi, Condi đã được học đàn piano và đã trở thành một nhạc sĩ dương cầm điêu luyện, được mời trình diễn hợp tấu trong nhiều dịp trình diễn văn nghệ, cũng như trong các thánh lễ. Condi cũng được cho học tập nhiều năm về môn nhảy múa trên băng (ice skating). Và Condi cũng theo gương người cha để tham gia ủng hộ rất nhiệt thành cho các đội banh Football, Basketball nổi tiếng trên tòan quốc.

III – Sự nghiệp của một chuyên viên cao cấp về bang giao quốc tế.

Mới vào đại học ở Denver vào năm 1971 -72, Condi có cái may được sự hướng dẫn tận tình của một vị giáo sư là chuyên viên  có nhiều kinh nghiệm thực tế về Liên Xô, đó là giáo sư Joseph Korbel thân phụ của Madeleine Albright sau này cũng là một vị Ngọai trưởng của Hoa kỳ.

Cô sinh viên trẻ đã hăng say học tiếng Nga và sau nhiều năm miệt mài trong việc học tập nghiên cứu, Condi đã trở thành một chuyên viên thành thạo trong ngành bang giao quốc tế – đặc biệt về tình hình chính trị quân sự của Liên bang Xô Viết. Và tiếp theo là được mời tham gia giảng dậy và nghiên cứu tại đại học danh tiếng Stanford ở California.

Tác giả thuật lại những khó khăn trong việc được cấp phát quy chế làm giáo sư thực thụ của đại học (tenure) – vì phải thông qua một thủ tục duyệt xét cam go của cả một hội đồng các vị giáo sư đàn anh gọi là “peer review”. Sự đánh giá về năng lực chuyên môn vừa căn cứ trên thành tích giảng dậy, mà nhất là trên những công trình nghiên cứu được phổ biến trong các tập chuyên san có uy tín, hay trong các sách do mình cho xuất bản. Điển hình là cuốn sách đầu tay do nhà xuất bản Đại học Princeton ấn hành, nhan đề là : “Uncertain Allegiance : The Soviet Union and the Czechoslovak Army” – đã được các thức giả đánh giá cao. Nhờ vậy, mà sau mấy năm làm phụ tá giáo sư, thì Condoleezza Rice đã được tuyển nhận vào ngạch giáo sư thực thụ của đại học Stanford.

Cũng tại đại học này, Condoleezza lại còn được mời giữ nhiệm vụ là Provost (Phụ tá hành chánh) trong một thời gian, trong khi vẫn tiếp tục công việc giảng dậy và nghiên cứu. Và trong nhiều năm, chuyên viên nổi danh về Liên Xô là Condoleezza Rice lại còn được mời tham gia cộng tác với chánh quyền Liên bang tại thủ đô Washington DC nữa. Từ năm 1989, bà bắt đầu tham gia trong văn phòng Ban Cố vấn An ninh cho Tổng thống George H Bush (Bush Cha).

Thời kỳ này, hệ thồng do Liên Xô lãnh đạo đang gặp những xáo trộn lớn lao, khiến cho vị lãnh đạo nước Mỹ luôn phải tham khảo với giới chuyên viên về Liên Xô như Condoleezza để có thể kịp thời đối phó với những biến chuyển có tầm vóc quan trọng như thế. Và quả thật ý kiến của Condi luôn được đánh giá cao vì sự cân nhắc thận trọng của một chuyên gia có sự hiểu biết tường tận về nội tình của khối cộng sản. Condi thuật lại những ngày tháng sát cánh với vị Cố vấn trưởng là Brent Scowcroft, đến độ phải làm việc căng thẳng liên miên suốt trên 15 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong văn phòng tại Tòa Bạch Ốc.

Rồi dưới thời Tổng thống George W Bush (Bush Con), kể từ năm 2001, Condoleezza Rice lại giữ chức vụ Cố vấn trưởng về an ninh và sau đó thì thay thế Colin Powell để giữ chức vụ Ngọai trưởng Hoa kỳ. Bà đã hòan thành xuất sắc trong cả hai nhiệm vụ cao cấp nhất trong guồng máy của chánh phủ Liên bang – như giới báo chí ở Mỹ cũng như trên thế giới đã từng đánh giá. Nên thiết tưởng không còn phải nhắc lại ở đây nữa.

IV – Để tóm lược lại :

Nói chung, cuốn Hồi ký này được viết với một giọng văn mạch lạc trong sáng. Nhưng lại cung cấp cho chúng ta rất nhiều thông tin về cuộc sống lương hảo, cần cù đạo hạnh trong nội bộ một gia đình người da đen giữa thời kỳ nạn kỳ thị chủng tộc còn rất tàn bạo khắc nghiệt trong khu vực các tiểu bang tại miền Nam nước Mỹ vào thập niên 1950 – 60. Đại khái, ta có thể ghi lại một vài đặc điểm như sau :

1 – Ngòai truyền thống gia đình, thì phải kể đến ảnh hưởng của tôn giáo đối với sự thăng tiến của lớp người da đen trong xã hội nước Mỹ. Có thể nói Tôn giáo đã giúp mỗi đơn vị cộng đòan tín hữu gắn bó liên kết chặt chẽ với nhau hơn hầu đối phó được với sự ngược đãi phũ phàng do người da trắng cực đoan gây ra. Đó chính là cái nguồn vốn xã hội (the social capital) có khả năng nâng cao phẩm chất cuộc sống của mỗi thành viên của cộng đòan. Trong suốt cuốn Hồi ký, tác giả luôn nhắc lại những lời nguyện cầu của mình gửi lên Thiên chúa, mỗi khi gặp một biến cố nào xảy ra cho gia đình hay cho chính bản thân mình.

2 – Là một người đã có một sự nghiệp vững chắc trong môi trường hàn lâm đại học cũng như trong guồng máy chính quyền của một siêu cường, nên Condoleezza Rice luôn có một thái độ bao dung trước vấn nạn kỳ thị chủng tộc vốn là một thực trạng mà tác giả gọi là thứ “khuyết tật bẩm sinh” (birth defect) từ nhiều thế kỷ nay trên đất Mỹ. Noi theo lời khuyên bảo của cha mẹ, bà đã cố gắng hết mức để mà “tài giỏi gấp đôi người khác” – nhờ vậy mà gặt hái được những thành công vượt bậc trên đời như ta đã thấy. Condi đã không chấp nhận thái độ “ bi quan buông xuôi tuyệt vọng”, mà cũng không chấp nhận giải pháp “bạo động nóng nảy quá khích” của một số người là nạn nhân của tình trạng kỳ thị tệ hại này (victimhood). Thái độ tích cực đó đã khiến cho Condi được nhiều người mến phục và trọng nể.

3 – Riêng trong ngành ngọai giao của nước Mỹ, thì từ hai chục năm nay các vị Ngọai trưởng đều là những vị xuất thân từ nguồn gốc di dân, thiểu số da màu và nhất là phụ nữ. Đó là những Madeleine Albright (phụ nữ gốc di dân từ Tiệp khắc), Coli Powell (gốc da đen từ Jamaica), Condoleezza Rice (phụ nữ gốc da đen) và hiện nay là Hillary Clinton (phụ nữ). Các vị Ngọai trưởng này đều đã có những đóng góp tuyệt vời trong việc nâng cao uy tín của nước Mỹ trên trường quốc tế vậy.

Vắn tắt lại, cuốn Hồi ký Gia đình này của Condoleezza Rice quả thật là một tác phẩm rất có giá trị vì chân thực, gọn gàng và lôi cuốn. Người viết xin trân trọng giới thiệu cuốn sách thật quý báu với quý bạn đọc./

Costa Mesa California, Mùa Trung Thu Nhâm Thìn 2012

Đoàn Thanh Liêm

Cứu chuộc phẩm giá

Cứu chuộc phẩm giá

tuankhanh

RFA

Cứ mỗi buổi chiều, người bán bánh mì lại dạo xe quanh nhà tôi. Tiếng rao được thu sẳn vào máy, lặp đi lặp lại một điệp khúc đơn điệu “bánh mì đặc ruột đây”. Thoạt đầu tiếng rao cũng bình thường, nhưng càng nghe càng thấy lạ. Vì sao lại bánh mì đặc ruột? Chuyện một ổ bánh mì hiển nhiên không được rỗng ruột nay bỗng lại trở thành ngôn ngữ tiếp thị chính yếu, cứ nhấn vào tai người nghe.

Nói chuyện với người bán, mới biết rằng nhiều năm nay, bánh mì bị làm hỏng đi rất nhiều. Bột đã kém, ruột cũng bị rút đi, mới có tên gọi là “bánh mì giấy” – loại bánh mì vừa chạm vào là vỏ bánh rơi lả tả, da mỏng và không có chút ruột nào. Bánh mì Sài Gòn từng nổi tiếng với nhiều kiểu, nhiều lò và quen thuộc với mọi con người từ bình dân đến sang trọng đã trãi qua một giai đoạn, mà khốn khó đã bào mòn sự tao nhã và độc đáo của nó. Từ khoảng 2 năm nay, “bánh mì đặc ruột” – như lời rao của những người bán – đã quay trở lại, như một cách âm thầm dựng lại truyền thống đẹp nhất của mình, sự kiêu hãnh của người làm ra miếng bánh. Và quan trọng hơn, như một cách để cứu chuộc lại phẩm giá của đô thị đã bị nát nhàu bởi thời cuộc.

Cầm miếng bánh mì nóng và đẹp trên tay, tôi cứ nghĩ về những người làm nghề chân chính. Họ đã sống suốt một thời gian dài, chấp nhận làm ra những miếng bánh tệ hơn ước muốn của mình, chấp nhận sinh tồn cùng với gian dối trong một bối cảnh mà họ có cưỡng lại cũng không được. Và giờ đây, khi có điều kiện, những miếng bánh đúng và lương thiện đã tìm cách quay lại, tìm về phẩm giá đúng của người. Sự lương thiện được rao lên trong kiêu hãnh.

Con người Việt Nam cũng như những miếng bánh mì lương thiện đó, họ cũng phải chịu đựng nhiều sự thách thức để tồn tại với phẩm giá của mình – như người thợ làm bánh mì Sài Gòn, đau đáu luôn tìm một cơ hội để sống đúng với mình, tìm cách cứu chuộc lại phẩm giá của mình giữa cuộc sống xã hội chủ nghĩa hôm nay đang tràn ngập những điều buộc phải không thật.

Phẩm giá như một lựa chọn mang tính định mệnh. Nó nằm sâu thẳm trong con người, có thể im lặng cam chịu các vết thương chí mạng, nhưng lại sẳn sàng bùng lên và trỗi dậy sáng lòa từ một điều tổn thương nhỏ nhoi cuối cùng nào đó. Tương tự người nông dân mòn mỏi và chịu đựng với cuộc đời bị bóc lột khốn khó của mình, nhưng rồi bất ngờ đứng lên như một người khổng lồ chân đất. Giống như câu chuyện về người đàn bà gầy yếu ở tỉnh Hải Dương quyết đòi đối thoại công bằng về thửa ruộng con của mình bị những tên nhà giàu tư bản đỏ cưỡng đoạt. Bà đã sẳn sàng đứng trước máy xe xúc của chủ thầu đến đổ máu. Phẩm giá của một người nông dân ít chữ đôi khi có thể rực rỡ hơn cả phẩm giá của một kẻ đầy túi tiền và quyền lực lúc này. Mọi thứ có thể được chứng minh trong tích tắc nhìn thấy của định mệnh. Lịch sử Việt Nam hôm qua và hôm nay đã ghi lại không ít những câu chuyện như vậy.

Trên các trang mạng, có rất nhiều những bức ảnh về những cụ già vô danh, những người đàn bà vô danh, những đứa trẻ vô danh… đang đứng với tấm bảng đòi sự minh bạch, đòi giá trị của công lý, đòi sự thật. Những gia đình đang kêu cứu cho con em mình đang bị xét xử oan, về quê nhà bị cưỡng chiếm, những lời kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng mạng để mọi thứ được hành xử đúng với luật pháp… Nhìn họ thật yếu đuối và bất lực. Thế nhưng phẩm giá Việt Nam không cho phép họ chấp nhận số phận, không có phép họ thua cuộc trong một đời sống mà họ còn tin vào lẽ phải. Phẩm giá bị vùi vập và cô đơn im lặng đó vĩ đại đó sẽ cứu chuộc nguyên khí của dân tộc này, vượt qua những bài diễn màu mè và dối trá của những nhà lãnh đạo mà ta bị buộc phải nhìn thấy mỗi ngày.

Cũng như những ngư dân Việt trên biển, đối diện bên ngoài khơi đầy những những ngư hạm vũ trang của Trung Quốc giả dạng tàu đánh cá, những con người miền Trung chỉ có lưới và buồm vẫn ngày ngày dong thuyền ra biển. Ngay cả giai đoạn Trung Quốc ra lệnh vô lý cấm đánh cá trên biển Đông, họ vẫn yên lặng giã từ gia đình và ra khơi, không nghĩ ngợi đến bất kỳ một kết cục buồn nào. Bị bắt, bị cướp, bị giết… những ngư dân Việt vô danh đó rồi vẫn lại vay mượn, dành dụm đóng tàu và khởi hành. Dù không tuyên bố, những gương mặt chai sạm đó mang nặng trên vai phẩm giá của tổ quốc, cao quý hơn bất kỳ lời tuyên bố dũng mãnh nào về tình hữu nghị cộng sản trong phòng lạnh và trước ống kính mị dân. Những ổ bánh mì rỗng ruột, rụng rơi, vô giá trị.

Khác với ông Huỳnh Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch QH – Thượng Tướng, vẫn hùng hồn kêu gọi người Việt hãy nhẫn nhịn và giao “trách nhiệm đòi Hoàng Sa và Trường Sa cho thế hệ con cháu mai sau”, những ngư dân ít chữ và không chức phận ấy vẫn im lặng ra khơi, như một lời thề xác định phẩm giá của tổ quốc ngay tại làn nước xanh dưới con tàu của mình, bất chấp mọi đe dọa. Thật khác với ông Thượng Tướng đầy nhiệt huyết trong việc chối bỏ trách nhiệm trong cuộc tiếp xúc với đại biểu Đà Nẳng ngày 29/6/2015, những người đi biển quyết không giao phần xương máu và khó khăn đó cho con cháu mình, mà tự gánh lấy. Họ lại ra đi giữa mịt mù những đe dọa và hiểm nghèo. Chỉ có đủ phẩm giá, người ta mới có thể sống cho hiện tại và tương lai như vậy. Những ngư dân ấy, thậm chí đã cứu chuộc linh hồn cho cả những quan chức luôn hô to nhưng không bao giờ dám đặt bàn chân vào mép biển.

Khi bạn đọc những dòng này, vẫn có những ngư dân đang ra khơi, bất chấp mới đây, ngày 16/7, tàu Trung Quốc lại hung dữ tấn công tàu cá Việt Nam ở Quảng Ngãi. May mắn làm sao, người Việt vẫn còn có những con người vô danh giữ gìn phẩm giá của tổ quốc, không cần gọi tên hay chia phần lợi lộc. Những ngư dân ấy không quan tâm chuyện bộ trưởng quốc phòng sống hay chết, tổng bí thư đang chọn con đường nào. Họ không chọn đứng trong một cuộc cờ. Họ chọn ra khơi.

Tôi ăn miếng bánh mì đặc ruột Sài Gòn, và ca ngợi phẩm giá của những con người vô danh ấy.

Phụ nữ VN bị từ chối nhập cảnh Singapore: Người Việt nghĩ gì?

Phụ nữ VN bị từ chối nhập cảnh Singapore: Người Việt nghĩ gì?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-07-29

Phụ nữ VN bị từ chối nhập cảnh Singapore: Người Việt nghĩ gì? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

nhapcanhsin-4e552-622.jpg

Khu vực làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay quốc tế Changi ở Singapore.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Truyền thông trong nước đăng tải thông tin hàng trăm nữ du khách từ VN bị từ chối nhập cảnh vào Singapore gây thiệt hại cho ngành hàng không trong nước. VN đề nghị Singapore giải thích vì sao cấm nhập cảnh một số du khách Việt. Cơ quan Kiểm soát người nhập cư (ICA) của đảo quốc Sư tử vừa trả lời với lý do không đủ tiêu chuẩn nhập cảnh. Người Việt trong và ngoài nước nói gì về hiện trạng này?

“Con sâu làm sầu nồi canh”

Chia sẻ với đài ACTD về chuyến du lịch xuất ngoại đầu tiên với thân nhân ở Mỹ tháp tùng từ Sài Gòn đến Singapore hồi tháng 2 năm 2011, cô Mỹ Linh vẫn còn cảm giác không có thiện cảm với nhân viên hải quan ở sân bay Changi:

” Lúc vào trình giấy tờ thì cô hải quan xem giấy tờ của em rất lạnh lùng. Cô yêu cầu em xuất trình passport và vé máy bay nhưng sau đó cô nói ‘giấy CMND’ bằng tiếng Anh. Em hơi ngạc nhiên tại vì em không hiểu đi ra nước ngoài thì tại sao phải cần có giấy CMND VN.
-Cô Mỹ Linh”

“Lúc vào trình giấy tờ thì cô hải quan xem giấy tờ của em rất lạnh lùng. Cô yêu cầu em xuất trình passport và vé máy bay nhưng sau đó cô nói ‘giấy CMND’ bằng tiếng Anh. Em hơi ngạc nhiên tại vì em không hiểu đi ra nước ngoài thì tại sao phải cần có giấy CMND VN. Em hỏi lại thì cô nói bằng tiếng Việt chữ ‘CMND’. Cô chỉ nói 4 chữ như vậy thôi. Dù em có giải thích nhưng cô vẫn không trả lời và vẫn giữ nét mặt lạnh lùng, vẫn khẳng định em phải có giấy CMND còn không thì em cứ bị đứng đó hoài, không được cho qua”.

Cô Mỹ Linh cho biết thêm người thân ở Hoa Kỳ đang xếp hàng chờ tới lượt phải bước đến quầy hải quan, đưa ra hộ chiếu Mỹ cũng như trình bày lịch trình chuyến du lịch của gia đình thì cô mới được đóng dấu cho phép nhập cảnh.

Câu chuyện vừa rồi không phải là trường hợp cá biệt mà tình trạng nhiều du khách quốc tịch VN, đặc biệt là phụ nữ, bị tra hỏi ở quầy hải quan, bị đưa vào phòng thẩm vấn, phải chờ đợi hàng giờ đồng hồ và cuối cùng bị từ chối nhập cảnh vào Singapore đã diễn ra trong nhiều năm qua. Mới đây nhất, dư luận phản ứng mạnh mẽ khi truyền thông trong nước loan tin Hàng không VN bị thiệt hại nặng nề vì phải cấp vé khứ hồi cho hàng trăm hành khách nữ giới mà phía Singapore không cho nhập cảnh và còn tính phí qua đêm khi khách buộc phải nghỉ lại phi trường của nước sở tại.

Nhiều ý kiến cho rằng “con sâu làm sầu nồi canh” do chính sách miễn thị thực visa của Singapore đối với các nước trong khối ASEAN, tối đa một lần nhập cảnh 30 ngày nên có rất nhiều phụ nữ từ VN sang đảo quốc Sư tử lợi dụng đi du lịch để làm việc bất hợp pháp và phần đông trong số họ hành nghề mại dâm. Những cô gái Việt qua Singapore bán dâm phần lớn đi một mình được sự hướng dẫn bằng điện thoại từ Geylang. Một phụ nữ từ Thanh Hóa nói với đài ACTD về hành trình cô đến Singapore:

1_mdrj-400.jpg

Khu vực chờ tái xuất cảnh tại sân bay quốc tế Changi ở Singapore. Courtesy photo.

“Nhà em ngoài Bắc thì làm lúa làm rẫy, trồng mía, trồng trà, làm ruộng. Thấy bạn đi về nhiều tiền nên ham. Nó nói cho số điện thoại bên đây, vé thì nó đặt giùm, cứ tự ra sân bay tự đi. Cũng sợ lắm nhưng kệ, đi tới đâu thì điện thoại dẫn tới đấy”.

Ông Hòa Trần, kỹ sư hàng hải, người Mỹ gốc Việt đi công tác và du lịch nhiều lần ở Singapore kể lại những gì ông thấy được qua những chuyến đi gần nhất:

“2006, 2008, 2014 tôi quay lại thì thấy số lượng ngày càng nhiều. Có thể con đường Joo Chiat Road và khu Geylang thì người Việt chiếm trên 50%. Chính tài xế taxi người Singapore cũng nói là ‘con gái Việt ở đây rẻ lắm và rất dễ’. Khi xuống phố đường Orchard Road ở gần khu thương mại có những phố, những club thì phụ nữ Việt rất đông. Nếu nhắm chừng khoảng 40% đến 50% bên cạnh người Philippines và người Thái Lan. Những người Việt làm nghề tự do đứng ở các con phố khu Geylang rất đông. Có cảm giác phụ nữ Việt qua đây làm đủ nghề từ mại dâm, móc túi cho đến bất cứ nghề nào kiếm sống được nên không thể trách chính phủ Singapore đã khó khăn với những người Việt, đặc biệt là phụ nữ”.

Phẫn nộ trước cách xử sự của ICA

” 2006, 2008, 2014 tôi quay lại thì thấy số lượng ngày càng nhiều. Có thể con đường Joo Chiat Road và khu Geylang thì người Việt chiếm trên 50%. Chính tài xế taxi người Singapore cũng nói là ‘con gái Việt ở đây rẻ lắm và rất dễ’.
-Hòa Trần”

Mặc dù nhiều người đồng tình vì nguyên nhân phụ nữ VN hành nghề mại dâm nên Singapore không khuyến khích cho nhập cảnh vì không mang lại lợi ích gì cho đất nước của họ mà còn tạo ra nhiều tệ nạn xã hội nhưng vẫn có nhiều ý kiến phẫn nộ trước cách xử sự của Cục Xuất nhập cảnh Singapore (ICA). Nhiều người Việt trong nước vì lòng tự tôn dân tộc kêu gọi chính phủ VN phải đáp trả bằng hình thức hạn chế nhập cảnh đối với người Singapore cũng như hô hào người Việt tẩy chay không đi du lịch đến đảo quốc Sư tử nữa.

Trong khi trên các diễn đàn đưa ra những ý kiến tranh luận xoay quanh chia sẻ về nhiều trường hợp bị nhân viên viên hải quan Singapore tra hỏi, thẩm vấn kể cả nam giới hay đối với người lớn tuổi dù đi công tác hay thăm thân nhân làm việc hợp pháp ở quốc gia này thì hôm 23 tháng 7, VN chính thức yêu cầu Singapore giải thích lý do cấm nhập cảnh đối với một số du khách quốc tịch VN. Một tuần sau đó, vào ngày 28 tháng 7, Cơ quan kiểm soát người nhập cư (ICA) của Singapore hồi đáp với lý do không hội đủ tiêu chuẩn nhập cảnh. Báo Straits Times của Singapore ghi lại lời tuyên bố của phát ngôn viên ICA cho biết nhân viên hải quan của ICA có quyền cho phép hay không đối với những ai không hội đủ tiêu chuẩn vào Singapore, nhấn mạnh là không có việc một du khách trong khối ASEAN đương nhiên được tự động nhập cảnh mà không tuân thủ những quy định của Singapore. ICA cũng nói luật lệ áp dụng chung cho mọi quốc tịch và giới tính, không chỉ từ chối nhập cảnh đối với phụ nữ Việt Nam mà còn có phụ nữ Thái Lan cũng như Philippines.

Nhiều người Việt trong nước không chấp nhận lời giải thích của Cục Xuất nhập cảnh Singapore. Họ lý luận ICA cư xử một cách quá đà đối với du khách Việt và giải pháp nhằm giảm thiểu những người vi phạm pháp luật tiềm năng ở Singapore ngay tại cửa khẩu như vậy không phải là một giải pháp tốt. Tuy nhiên, đối với những người Việt sinh sống ở hải ngoại như kỹ sư hàng hải Hòa Trần lại cho rằng sự việc hàng trăm phụ nữ Việt bị từ chối nhập cảnh vào Singapore phản ảnh nhân phẩm của con cháu Hai Bà Trưng bị rẻ rúng ở các quốc gia lân bang trong khu vực Đông Nam Á. Không chỉ thế, hình ảnh người Việt xả rác, ăn cắp, trốn lại làm việc bất hợp pháp ở những quốc gia Châu Á, Châu Âu và Hoa Kỳ qua đường du lịch khiến cho hầu hết những người cầm hộ chiếu VN đều bị “soi” rất kỹ khi ra nước ngoài. Câu hỏi “tại sao như vậy?” cần được chính phủ VN trả lời cho người dân được rõ.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Lê Ngọc Thống

“… một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế”. Từ nhận định rất chính xác của tác giả Lê Ngọc Thống, người đọc có quyền đặt câu hỏi, vậy thì một quốc gia nghèo (do năng lực quản trị kém và tham nhũng xếp vào top đầu) mà lại yếu toàn thân về tiềm lực quân sự thì số phận sẽ ra sao khi mà các nhà lãnh đạo vẫn kiên trì quan điểm “Việt Nam không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ 3 để chống lại nước khác?”. Không nói đâu xa, ngay trong khu vực Đông Á, những nền  kinh tế hùng mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, từ lâu đã là đồng minh thận cận của Mỹ. Bởi lẽ, các nhà lãnh đạo của họ là những chính trị gia có tầm nhìn thấu thị, thấy rõ bản chất ngông cuồng của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Họ đọc vị một cách dễ dàng dã tâm của các “Hoàng đế Đỏ” qua nhiều dự án phiêu lưu để độc chiếm Biển Đông, nhằm từng bước thực hiện “giấc mộng Trung Hoa”, nên đã tăng cường củng cố quốc phòng, trang bị thêm nhiều vũ khí hiện đại, sẵn sàng đáp trả hành vi gây hấn của Bắc Kinh.
Thế nhưng, Việt Nam vẫn cứ lửng lơ con cá vàng “kiên trì” nghệ thuật đi dây để khỏi làm mất lòng “thượng quốc”. Có lẽ hiểu được tâm lý này, Trung Nam Hải cũng chơi trò bẩn bằng cách, gần đây, cứ mỗi lần một nhân vật vip láng giềng “môi hở răng lạnh” sang thăm, họ lại cử Lục Tiểu Linh Đồng, nhân vật từng đóng vai con khỉ trong bộ phim Tây Du Ký ra thù tiếp.

Tuy nhiên, “Thiên triều” đang rơi vào thế kẹt. Ngoài cú sốc ba ngàn sáu trăm tỷ USD chứng khoán “bốc hơi” chỉ trong vòng hơn một tháng làm dân chúng bất an,  thì hiện tại họ Tập còn bị búa rìu dư luận toàn cầu lên án mạnh mẽ về hành vi hút cát xây đảo, kiến tạo các công trình quân sự trái phép trên Biển Đông và thiết lập vùng nhận diện bay…

Một nền kinh tế tăng trưởng nóng bằng mọi giá tất yếu sẽ phải trả giá, mà cái giá đắt nhất là khắc phục môi trường đã bị hủy nặng nề.. Ta chỉ cần hình dung, vào buổi sáng một ngày u ám vì khói bụi nào đó, người ta phát hiện ra mười sáu ngàn con lợn tai xanh trương phềnh, trôi nổi trên sông Hoàng Phố thì khủng khiếp biết nhường nào!

Liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Nhật Bản lúc này là điều kiện sống còn đối với Việt Nam. Hãy dũng cảm đoạn tuyệt thứ ý thức hệ cổ hủ, lỗi thời từ lâu đã trói chặt đầu óc chúng ta trong vòng kim cô “Mười sáu chữ vàng” và “Bốn tốt”, bởi chính những khẩu hiệu hão huyền đó chẳng những làm cho đất nước tụt hậu, mà chưa biết chừng còn là nguyên nhân mất nước nữa.

Bauxite Việt Nam

Sự nôn nóng cùng dã tâm “nuốt trọn” Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay “tháo xích” cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh – Nhật Bản.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Diễn biến mới nhất ở Biển Đông

Luật An ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.

Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa…

Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

  1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.

Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao hai lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.

Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe – một người được Mỹ ủng hộ – lên làm Thủ tướng Nhật Bản.

 

Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc “cởi trói” Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.

Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.

Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối “quốc nhục” 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 Hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.

 

HỘI ĐỒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI (CFR), MỸ

Sheila Smith

Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: “Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường”.

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là “chiến trường chính” của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.

Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.

Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã “đuổi” được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” (‘Tao guang yang hui’ Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.

Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.

Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần “ngay và luôn”.

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành “vùng nóng”, có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.

Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.

Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ? (Ảnh minh họa)

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông – một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới – cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh “bóp méo” là thách thức, tuyên chiến.

Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Rubic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc “giãy lên như đỉa phải vôi”.

Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay “tuần tra” trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.

Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

L.N.T.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.

Nguồn:  http://www.baomoi.com/Nuoc-co-sai-lam-day-TQ-phai-doi-dau-voi-doi-thu-manh-truyen-kiep/119/17141553.epi

(Trang này dẫn nguồn từ Đại lộ)

Tướng Thanh – Mỗi Câu Trả Lời Mời Mười Thắc Mắc

Tướng Thanh – Mỗi Câu Trả Lời Mời Mười Thắc Mắc

Việt Báo

Trần Giang

28-07-2015

Đài truyền hình VTV1 vừa cho đăng một đoạn phim ghi cảnh Đại Tướng Phùng Quang Thanh vừa về Việt Nam sau chuyến giải phẫu phổi tại Pháp đã tham dự ngay một buổi “giao lưu nghệ thuật” nhân ngày thương binh liệt sĩ.

Đây là một trong nhiều biện pháp của nhà cầm quyền nhằm trấn an dư luận, kể cả việc loan báo ngày giờ chuyến bay về nước và các chuẩn bị đón tiếp tướng Thanh tại phi trường, các cuộc gặp giữa tướng Thanh và các lãnh tụ đảng trong 24 giờ đầu tiên, các buổi lễ lớn mà tướng Thanh sẽ tham dự ngay trong vài ngày sau khi trở về, v.v…
Nhưng có vẻ như cứ mỗi cố gắng làm xẹp dư luận đó của lãnh đạo đảng lại làm bùng lên hàng chục thắc mắc khác.

Cụ thể như câu hỏi hiển nhiên nhất: Tại sao tướng Thanh bị rút tên ra khỏi các buổi lễ mang nặng ý nghĩa khác dù đã công bố rồi, mà chỉ được tham dự một buổi gọi là “giao lưu nghệ thuật”? Và tại buổi tôn vinh thương binh liệt sĩ này, tức một sự kiện mở, tại sao các ký giả báo chí không được mời vào tham dự? Chắc chắn họ sẽ ùn ùn kéo tới nếu biết sẽ có tướng Thanh ở đó. Tại sao lãnh đạo đảng chỉ dùng một phương tiện duy nhất là đoạn phim truyền hình mà Ban Tuyên Giáo hoàn toàn kiểm soát 100% việc sửa đổi, cắt xén? Tại sao không dám để ký giả chụp hình từ nhiều góc cạnh và có thể đặt câu hỏi với tướng Thanh?

Hiển nhiên giới ký giả đang có rất nhiều thắc mắc sau khi bị nhà nước qua mặt với ngày giờ và địa điểm đón tiếp tướng Thanh tại phi trường nhưng chẳng một ai thấy ông đâu. Giới ký giả nay biết chắc là KHÔNG MỘT AI trong số họ thấy tận mắt cảnh ông Thanh xuống máy bay. Có báo bí quá đăng đại bức hình cũ từ 3 năm trước. Tấm hình duy nhất có dáng ông Thanh ở xa xa mà Ban Tuyên Giáo đưa cho báo Tuổi Trẻ Online đăng tải không phải do phóng viên của báo này chụp. Nhiều người biết rõ và làm chứng anh phóng viên bị gắn tên vào bức hình lúc đó đang ở tận Sài Gòn chứ không phải Hà Nội.

Đến điểm này thì nhiều người đặt dấu hỏi có thực sự ông Thanh về Việt Nam ngày 25/7 không? Hay đã bay về từ nhiều ngày trước vì ông đã xuất viện tại Pháp từ ngày 10/7 như ghi rõ trong hồ sơ nhà thương. Các trò tuyên bố chuyến bay và chuẩn bị đón tiếp ông tại khu VIP, do đó nhiều phần chỉ là dàn dựng mà các ký giả bị lừa vào làm cây cảnh trang trí? Chưa kể hình chụp chiếc xe Lexus chạy ra cổng phi trường vào sáng ngày 25/7 cũng chỉ là 1 cảnh trong vở kịch đó vì chẳng một ai thấy ông Thanh trên xe?

Ngay cả nếu tướng Thanh về đúng chuyến bay và ngày giờ đã tuyên bố, cũng như nếu các chuẩn bị đón tiếp ông tại khu VIP là thật thì người ta lại càng thắc mắc. Tại sao lãnh đạo đảng lại kéo ông Thanh chạy trốn ký giả vào giờ chót như thế? Nếu bảo vì sức khỏe tướng Thanh kém thì tại sao lại sắp xếp và công bố hàng loạt các buổi lễ mà ông sẽ tham dự ngay trong vài ngày đầu vừa về nước? Rồi lại khoe bức hình ông tự đi đứng bình thường từ phi cơ vào xe chở đi? Tại sao tướng Thanh không đến khu đón VIP rồi chỉ cần nhoẻn miệng cười cho báo chí chụp hình và cho biết ông đang mệt sẽ trả lời phỏng vấn sau?

Các biện hộ với lý do ông Thanh phải tránh vi trùng lại càng vô lý. Nếu sợ nhiễm vi trùng thì tại sao lại để bệnh nhân bay phi cơ chung với hành khách, tức thở chung với mấy trăm người 1 bầu không khí tái dụng suốt hơn 12 giờ đồng hồ? Rồi lại để ông Thanh đến dự buổi “giao lưu nghệ thuật” gần cả ngàn người trong một phòng kín? Ban săn sóc sức khỏe cán bộ trung ương có học không?

Tóm lại, những người tinh mắt đều phải thắc mắc tại sao lãnh đạo không muốn để tướng Thanh gặp báo chí, không muốn ông đứng trước các máy ghi âm? Và có vẻ như cũng không muốn tướng Thanh có cơ hội tiếp xúc với bất cứ ai khác.

Thật vậy, ngay cả con trai và cháu nội tướng Thanh, mà Ban Tuyên Giáo công bố là đã sang Pháp để tháp tùng ông trong chuyến bay về Việt Nam, cũng vắng bóng trong các bức hình đã giao cho báo Tuổi Trẻ Online đăng. Không lẽ con và cháu tướng Thanh, tuy đi cùng chuyến bay, đến phi trường liền bị cách ly và không được lên xe chở ông Tướng đi về? Các bản tin sau đó lại càng lạ. Tướng Thanh nay được báo đài công bố là sẽ ở luôn trong Bộ Quốc Phòng chứ không ở nhà riêng nữa. Như thế thì làm sao không khỏi thắc mắc rằng ông Thanh đang bị cách ly với chính gia đình ông luôn?

Tất cả các diễn biến trong 36 giờ đang tô rất đậm vào điều thắc mắc lớn nhất của dư luận mà cho đến giờ vẫn chưa có câu trả lời. Đó là tại sao lãnh đạo đảng phải gấp rút thay thế liền một lúc cả tướng tư lệnh và tướng chính ủy Quân khu thủ đô Hà Nội khi mà họ vẫn biết tướng Thanh bị bệnh không nặng lắm và chỉ vài tuần sẽ trở về? Tại sao bản quyết định thay người này gấp đến độ chỉ ký bằng mấy chữ mập mờ “Thủ trưởng Bộ Quốc Phòng” chứ không để tướng Thanh ký, mặc dù ông vẫn ký cả những giấy tờ ở cấp vụn vặt như bằng khen cho 2 đơn vị quân đội mà báo đài công bố? Một vài chuyên gia quân sự còn nhận định kiểu thay người như thế, nếu thuần túy vì nhu cầu quân sự, chỉ có thể xảy ra khi Việt Nam đang có chiến tranh và cả 2 ông tướng nêu trên bị mất mạng cùng một lúc. Còn nếu không đang chiến tranh thế thì chỉ có thể có một giải thích duy nhất. Đó là đang có một âm mưu đảo chánh. Hoặc đó là âm mưu đảo chánh tại Hà Nội của nhóm tướng Thanh và bị phát giác sớm; hoặc đó là âm mưu đảo chánh bên trong Bộ Quốc Phòng của các đối thủ để cắt vây cánh của ông Thanh, đặc biệt các vây cánh tại thủ đô. Hiện nay, có vẻ trường hợp thứ nhì hợp lý hơn cả.

Và còn khá nhiều những chi tiết quái dị, bất thường khác nữa chung quanh toàn bộ sự việc liên quan đến tướng Thanh từ cuối tháng 6 đến nay. Nếu cộng hết lại, người ta khó có thể chối cãi một bức tranh khá hiển nhiên của một ông tướng đang bị chặt vây cánh, bị cô lập giữa một vòng canh rất chặt ngày đêm.

Vì vậy chỉ còn vài câu hỏi chót: Tướng Phùng Quang Thanh đã làm gì hoặc đã mưu đồ gì để bị đối xử như một phần tử nguy hiểm như vậy? Có phải ông lấy lý do chữa bệnh để đào thoát (như ông Bùi Tín trước đây) mà không thành và bị giải từ Pháp về lại Việt Nam? Liệu lãnh đạo đảng vì sợ biến động trước Đại Hội XII mà chưa dám ra tay trừng phạt công khai, hay vì còn quá sợ Tập Cận Bình và tay chân của Bắc Kinh trong hàng ngũ tướng tá Việt Nam?

Đại Sứ Phạm Duy Khiêm với chuyện Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế

Đại Sứ Phạm Duy Khiêm

với chuyện Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế

Đoàn Thanh Liêm

Tôi chưa bao giờ được gặp nhà giáo nhà văn Phạm Duy Khiêm (1908 – 1974), mà sau này vào năm 1954 – 55 ông đã làm Đại sứ của Việt nam tại Pháp. Từ lâu, tôi được nghe đến danh tiếng ông Khiêm là người Việt nam đầu tiên có văn bằng Thạc sĩ chuyên về bộ môn Văn phạm tiếng Pháp, mà có người gọi là “Trạng Mẹo” ( Mẹo = Văn phạm). Ông nổi tiếng là người có tài viết văn bằng tiếng Pháp rất trôi chảy và ông chỉ cộng tác với học giả Trần Trọng Kim trong việc biên sọan cuốn Văn phạm Việt nam – đó là cuốn sách duy nhất ông viết bằng tiếng Việt.

Hồi còn theo học ở bậc trung học tại Hanoi trước năm 1954, thì tôi có được đọc cuốn “Légendes des Terres Sereines” (Những Truyền thuyết từ Miền Đất Thanh Bình) của ông Khiêm viết từ năm 1941 và mới được tái bản ở Pháp vào năm 1951 – 52. Sách kể lại các chuyện cổ tích như Trầu cau, Thiếu phụ Nam Xương, Trương Chi & Mỵ Nương v.v… bằng một giọng văn mạch lạc, đơn sơ trong sáng – thật dễ hiểu và lôi cuốn cho lớp học sinh chúng tôi thời đó. So sánh với hai tác giả người Việt cũng viết bằng tiếng Pháp hồi trước năm 1945 là quý ông Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Tiến Lãng, thì lối viết của ông Khiêm hấp dẫn đối với chúng tôi hơn nhiều.

Vào cuối năm 1974, tại Saigon chúng tôi được nghe là Thạc sĩ Phạm Duy Khiêm đã tự sát và từ giã cõi đời ở bên Pháp. Báo chí hồi đó có đưa ra nhiều chi tiết về sự việc xung quanh biến cố này, nhưng lâu ngày rồi tôi cũng không còn nhớ rõ về câu chuyện đó nữa. Vào năm 2004, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 30 kể từ ngày ông qua đời, tạp chí Thế kỷ XXI ở California có cho đăng một số bài do nhiều tác giả viết về nhà văn Phạm Duy Khiêm, trong đó có cả bài của nhạc sĩ Phạm Duy là bào đệ của ông. Và qua internet, ta cũng có thể đọc được nhiều bài viết về ông nữa.

Nhưng tôi đặc biệt chú ý đến chứng từ của giáo sư Raymond Aron (1905 – 1983) là một vị đại sư nổi danh ở Pháp viết trong cuốn Hồi ký nguyên tác bằng tiếng Pháp với nhan đề là : “ Mémoires : 50 ans de Réflexion Politique” xuất bản năm 1983  và bản dịch sang Anh ngữ với lời nói đầu của Henry Kissinger được xuất bản năm 1990 tại Mỹ. Hiện trong tay tôi, thì chỉ có bản dịch Anh ngữ này. Vì thế, tôi xin trình ra đây phóng ảnh của trang bìa và của một đọan trong trang 392 của bản tiếng Anh này với nhan đề như sau :

* Raymond Aron : Memoirs – Fifty Years of Political Reflection *

do nhà xuất bản Holmes & Meier ấn hành năm 1990 tại New York & London.

Giáo sư Aron viết trong đọan văn nói trên như sau : “ Thật ra, cuộc tấn công dịp Tết (Mậu Thân) là một sự thất bại về phía Việt cộng. Chẳng có nơi nào mà dân chúng lại hưởng ứng đi theo “ những chiến sĩ tự do”  (Nowhere did the population join the “freedom fighters”). Những người chiến sĩ đó đã phạm vào những hành động không thể tha thứ được. Họ bắt buộc các nạn nhân phải đào những con hố mà họ đảy hàng trăm những viên chức và người có tên tuổi của kinh đô Huế để chôn vùi vào trong đó. Bạn của tôi, Phạm Duy Khiêm vốn là vị Đại sứ của miền Nam tại Paris vào năm 1954, thì có phổ biến thông qua thông tấn AFP vào ngày 13 tháng Tư năm 1968 một bản tường trình đày vẻ phẫn nộ (an indignant report) về cung cách đối xử của Việt cộng trong những vùng mà họ kiểm sóat được trong một số ngày.”Những vị trí thức đó đã không hề ngó ngàng gì đến số phận của những viên chức bình thường, những nhân viên vô tội của chính quyền và gia đình của họ, những quân nhân đang nghỉ phép, những linh mục công giáo người Pháp, những giáo sư người Đức cùng với vợ của họ đều bị chôn sống (vào khỏang 300 người), hay bị giết sau khi bị cắt chân tay và bị tra tấn đủ kiểu ( vào khỏang 700 người), đôi khi còn bị trói chung với nhau bằng giây kẽm gai nữa.” Bản tường trình này đã bị rơi vào sự dửng dưng và quên lãng…”

(Ghi chú : Lúc đó thì tại Stockholm thủ đô của Thụy Điển đang có một thứ Tòa án có tên là Bertrand Russell Tribunal để tố cáo “tội ác của Mỹ trong chiến tranh Việt nam “. Và phong trào phản chiến đang rầm rộ sôi nổi ở Mỹ cũng như ở Tây Âu nữa. Nên Đại sứ Khiêm mới phải đề cập đến  “những nhà trí thức đó” với một sự phẫn nộ.)

Nếu ta để ý đến sự kiện là chỉ vào cuối tháng Hai năm 1968, thì quân đội Việt cộng mới bị đánh bật ra khỏi cố đô Huế và chỉ sau đó ít lâu thì các thông tin về cuộc Thảm sát kinh hòang hồi Tết Mậu thân mới được đưa ra một cách rõ ràng chính xác. Và như giáo sư Aron thuật lại ở trên là vào ngày 13 tháng Tư năm 1968, ông Khiêm lúc đó chỉ là một công dân bình thường –  nhưng vì ý thức được trách nhiệm của một vị thức giả mà ông đã phải công bố ngay tức khắc cho thế giới biết đến vụ tàn sát kinh hòang ở Huế lúc đó.

Sự kiện rõ rệt này tôi chưa thấy có tài liệu nào của người Việt nói đến. Vì thế, tôi xin trích thuật ra đây để trước hết góp phần bổ túc cho “Hồ sơ Thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968” có thêm được một chi tiết khả tín nữa. Và sau là để tỏ lòng biết ơn đối với Đại sứ Phạm Duy Khiêm vì sự đóng góp quý giá của ông trong việc lưu ý cho công luận thế giới biết rõ hơn về cái tội ác tầy trời đó của người cộng sản đối với người dân vô tội ở Huế thời đó.

Tôi hy vọng sẽ có nhà nghiên cứu sưu tầm được tòan văn “Bản Tường Trình công bố vào ngày 13 tháng Tư năm 1968 của Đại sứ Khiêm được gửi qua thông tấn AFP của Pháp” như giáo sư Raymond Aron đã trích thuật lại trong cuốn Hồi ký của mình.

Quả thật, trong giới trí thức của chúng ta lúc nào cũng vẫn có những con người có lòng thương cảm và sự ngay thẳng để tố cáo những sự tàn bạo độc ác xảy ra đối với các nạn nhận vô tội là đồng bào ruột thịt của mình – như trường hợp của Đại sứ Phạm Duy Khiêm được ghi lại trong bài này vậy/.

San Clemente California, Mùa Trung Thu Nhâm Thìn 2012

Đoàn Thanh Liêm

Giới thiệu sách mới (18) : Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Giới  thiệu  sách  mới (18) :

Hành  trình  của  người  trí  thức  dấn  thân  nhập  cuộc

Bài của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Nguyên tác bản tiếng Anh   :  Thinking the Twentieth Century.

by :   Tony Judt with  Timothy   Snyder (xin lưu ý : Chữ Tony Judt do tác giả Timothy Snyder cố ý ghi bằng chữ lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder là tên của mình – cốt ý đề cao vai trò chính yếu của Tony trong cuốn sách)

Nhà xuất bản The Penguin Press, New York ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang với bìa cừng.

www. Penguin.com

*     *     *

Tony Judt (1948 – 2010) sinh trưởng tại London Anh quốc, là một giáo sư về môn lịch sử và chính trị tại nhiều Đại học danh tiếng ở Âu châu và ở Mỹ. Ông cũng là tác giả hay biên tập của 14 cuốn sách, trong đó có cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” xuất bản năm 2005 là được giới thức giả quốc tế chú ý và đánh giá cao. Ông còn đóng góp nhiều bài vở cho các tạp chí nổi tiếng như The New York Review of Books, The Times Literary Supplement, The New Republic… Do bị bệnh liệt não (bệnh Lou Gehrig), ông đã sớm từ giã cõi đời tại New York vào năm 2010 lúc mới ở vào tuổi 62.

Nhận thấy bậc đàn anh lâm bệnh ngặt nghèo, nên Timothy Snyder – cũng là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ về môn lịch sử – trong các năm 2009 – 2010 đã đến tư gia của Tony Judt tại New York để trao đổi thảo luận trong nhiều buổi nói chuyện thân mật tay đôi với ông. Và qua việc khai thác các băng ghi âm từ những cuộc đối thọai đó, Timothy đã hòan thành được cuốn sách có nhan đề thật bao quát là : “Thinking the Twentieth Century” –  sách này vừa mới cho ra mắt công chúng trong năm 2012. Có thể nói đây vừa là cuốn sách tự truyện của Tony Judt, vừa là một nhận định tổng hợp về sự dấn thân nhập cuộc của giới trí thức tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX.

Để thuận tiện cho độc giả theo dõi câu chuyện đối đáp giữa hai vị chuyên gia về sử học tại Âu châu trong thế kỷ XX, người viết xin lần lượt trình bày về tiểu sử các tác giả trước khi đề cập đến những mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

I – Tiểu sử các tác giả.

1 – Tony Judt (1948 – 2010)

Xuất thân từ một gia đình có cả cha mẹ đều là di dân người Do Thái gốc gác từ Đông Âu, nên Tony Judt dễ có điều kiện tìm hiểu về những biến chuyển lớn lao tại miền đất xưa kia là quê hương của dòng họ bên nội cũng như bên ngọai của mình. Tony được học ở trường Đại học nổi danh bậc nhất của Anh quốc, đó là trường Cambridge – rồi lại còn được học thêm ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Paris (École Normale Supérieure) là cái nôi sản sinh ra những tinh hoa của nước Pháp. Ông thông thạo nhiều ngọai ngữ như tiếng Pháp, Đức,Tiệp khắc… và được coi là một chuyên gia có thẩm quyền về Lịch sử Giới Trí thức của Pháp thời hiện đại.

Luận văn để thi bằng Tiến sĩ của ông tại Cambridge được xuất bản thành cuốn sách trước tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1976  – với nhan đề là “La Reconstruction du Parti Socialiste 1921 – 1926” (Sự Tái Xây dựng Đảng Xã hội (Pháp) 1921 – 1926).

Ông đã giảng dậy nhiều năm về Lịch sử và Chính trị tại các Đại học danh tiếng như Cambridge, Oxford và Berkeley và làm Giám đốc Sáng lập của Viện Erich Maria Remarque tại Đại học New York, Viện này chuyên chú vào công cuộc Trao đổi và Đối thọai giữa Âu châu và Mỹ châu.

Tony Judt cũng là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, điển hình như :” Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956” (xuất bản năm 1992), “Marxism and the French Left : Studies on Labor and Politics in France 1930 – 1982” (xb 1990), “The Burden of Responsibility : Blum, Camus, Aron and the French Twentieth Century (xb 1998)”, “A Grand Illusion? : An Essay on Europe” (xb 1996). Và đặc biệt cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” (xb 2005), thì được tạp chí New York Times Book Review xếp lọai là “một trong 10 cuốn sách hay nhất trong năm 2005”.

Ở vào tuổi 16 – 20, Tony đã nhiều lần về Do Thái để tham gia xây dựng kibbutz ở nông thôn và làm cả việc phiên dịch cho các đòan thiện nguyện viên trong cuộc chiến tranh 7 ngày năm 1967. Nhưng sau đó, Tony đã có lập trường khác biệt với chính quyền Do Thái và trở về đi học lại để hòan tất học trình thi Tiến sĩ và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu và giảng dậy chuyên môn về lịch sử và chính trị cho đến khi lìa đời vào tháng 8 năm 2010 tại New York.

Năm 2003, Tony Judt đưa ra chủ trương “Một quốc gia – hai dân tộc” (A bi-national State) như là giải pháp cho cuộc tranh chấp Do Thái & Palestine – thì gặp phải sự phản ứng gay gắt trong công luận – khiến cho một vài tạp chí phải từ chối sự cộng tác của ông.

Về đời tư của gia đình, thì Tony Judt có hai người vợ trước đều đã ly dị. Sau cùng, ông sống đến cuối đời với bà vợ thứ ba tên là Jennifer Homans và có hai người con trai với bà này được đặt tên là Daniel và Nicolas.

2 – Timothy Snyder (sinh năm 1969)

Sinh trưởng tại Mỹ, Timothy Snyder theo học tại Đại học Brown ở Mỹ và tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ từ Đại học Oxford Anh quốc. Ông còn tham gia nghiên cứu tại Paris, Warsaw, Vienna và Đại học Harvard. Ông chuyên giảng dậy tại Đại học Yale về môn Lịch sử chính trị của Đông Âu hiện đại.

Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách đều được giải thưởng – trong đó cuốn sách nhan đề “Bloodlands : Europe between Hitler and Stalin” (Miền Đất Đẫm Máu) đã trở thành sách bán chạy nhất tại 4 quốc gia và được 10 nhà xuất bản xếp vào lọai sách hay nhất trong năm.

Timothy Snyder là người thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông Âu, cụ thể như tiếng Nga, Ba Lan, Ukraine, Belorussian, Tiệp khắc và cả tiếng Yiddish của người Do Thái ở Đức và Trung Âu – đó là chưa kể tiếng Pháp và Đức. Sách của ông đã được dịch ra đến 20 ngôn ngữ khác. Chính Tony Judt đã xác nhận trong Lời cuối sách rằng :  Với sự thông suốt về lịch sử và văn hóa Đông Âu, thì Timothy Snyder là phần bổ túc thật quý báu cho mình, mặc dầu Timothy trẻ hơn 21 tuổi so với Tony.

Tuy vậy, do sự khiêm tốn, trong cuốn sách này Timothy Snyder đã lọai bỏ bớt đi phần nói về tiểu sử của bản thân mình – cốt ý để cho Tony Judt đóng vai trò chính yếu trong việc hòan thành cuốn sách. Độc giả có thể nhận ra chi tiết đó ngay trên trang bìa sách, thì chữ Tony Judt cũng lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder – ông này tự coi như mình chỉ là ‘một tác giả phụ” của cuốn sách mà thôi.

II – Mấy nét chính yếu của tác phẩm.

1 – Có thể xếp lọai cuốn sách này là Lịch sử Tư tưởng Chính trị và giới Trí thức trong sinh họat chính trị của thế kỷ XX ở Âu châu – đó là một lãnh vực mà cả hai tác giả đều đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm. Vì thế mà có ấn bản lại ghi thêm một nhan đề phụ nữa là : “ Giới Trí thức và Chính trị” (Intellectuals and Politics) để bạn đọc chú ý hơn đến nội dung của sách. Phần Tự thuật của riêng Tony Judt có tác dụng minh họa cho những nghiên cứu cũng như về sự gặp gỡ trao đổi của ông với nhiều vị thức giả có tên tuổi trong giới học thuật đặc biệt xuất thân từ Đông Âu.

Cuốn sách được thành hình qua nhiều cuộc trao đổi đối thọai giữa hai vị giáo sư chuyên về môn lịch sử ở Âu châu thời cận đại – nên có tính chất linh họat của lối văn nói hơn là văn viết.

2 – Về mặt bố cục, sách được chia thành 9 chương với Lời Nói đầu của Timothy Snyder và Lời Nói cuối của Tony Judt do ông này viết tại New York vào ngày 5 tháng Bảy năm 2010 – chỉ mấy tuần trước ngày ông từ giã cõi đời vào tháng 8 năm 2010. Mỗi chương đều có nhan đề riêng biệt, điển hình như sau :

ñ  Chương 3 : Familial Socialism : Political Marxist

ñ  Chương 5 : Paris, California : French Intellectual.

ñ  Chương 6 : Generation of Understanding : East European Liberal

ñ  Chương 7 : Unities and Fragments : European Historian

ñ  Chương 9 : The Banality of Good : Social Democrat.

Phần cuối sách còn có 6 trang kê khai rất nhiều tác phẩm được hai tác giả đề cập thảo luận tới trong các cuộc đối thọai. Cuốn sách thật hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc – vì trong nội dung mỗi đề tài thảo luận giữa hai tác giả, thì đều ghi xen lẫn cả nhiều chi tiết về quá trình sinh sống, gặp gỡ quen biết với các chuyên gia đày tài năng khác và cả sự miệt mài say sưa trong công việc nghiên cứu không biết mệt mỏi – đó là tính chất đặc trưng của Tony Judt.

3 – Vì chủ đề của những cuộc trao đổi thảo luận quá rộng rãi – bao quát nhiều khía cạnh của lịch sử tư tưởng và sinh họat chính trị tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX, nên việc tóm lược cho thỏa đáng về những điểm cốt lõi của cuốn sách là một công việc hết sức khó khăn – nhất là lại phải gói gọn trong một bài giới thiệu không thể kéo dài quá 3,000 chữ như thường lệ. Do vậy, tôi chỉ xin nêu ra vài ba khía cạnh đặc trưng đáng chú ý nhất trong tác phẩm – đặc biệt đối với số người Việt vốn từng quen theo dõi tình hình sinh họat chính trị tại nước Pháp. Đó là nội dung được trình bày trong phần III sau đây.

III – Những khía cạnh đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Cách tiếp cận của người vừa ở trong cuộc, vừa ở ngòai cuộc.  (Insiders/Outsiders Approach)

Như tác giả Timothy Snyder đã ghi trong Lời nói đầu, Tony Judt vừa là người trong cuộc, vì ông dấn thân họat động cụ thể trong một số lãnh vực như một người trí thức nhập cuộc (intellectuel engagé) – mà ông cũng còn là người ngọai cuộc, vì ông chủ trương theo đuổi cái viễn kiến rộng rãi hơn, thông thóang hơn của một nhà nghiên cứu lịch sử vốn đòi hỏi một tinh thần bao quát khách quan hơn. Điều này khác biệt với phong cách của một nhà viết tiểu luận (essayist) vì ông này cần bày tỏ lập trường nhận định của mình với sự xác tín và nhiệt huyết của cá nhân mình trong bài viết – mà không bó buộc phải cân nhắc đắn đo với những đối chiếu thận trong của một nhà viết sử.

Cụ thể là Tony lúc ở tuổi 16 – 20, thì đã từng về bên nước Do Thái để tham gia xây dựng tại các kibbutz. Nhưng sau này Tony lại có ý kiến khác hẳn với chủ trương của nhà đương quyền ở xứ này. Cũng vậy, Tony theo truyền thống Marxist trong gia đình, nhưng khi trưởng thành chín chắn, thì lại theo đường hướng Xã hội Dân chủ mà ông coi là nhân bản tốt đẹp hơn hẳn chế độ tàn bạo sắt máu trong hệ thống cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Và nhờ tiếp cận thân thiết với giới trí thức lưu vong từ Đông Âu sau năm 1968, mà Tony có cơ hội thấu hiểu cặn kẽ hơn về cái bối cảnh tòan diện chính trị xã hội và văn hóa của cả hai phía Đông Âu và Tây Âu – điều mà ít có người thức giả thực hiện được.

2 – Nhận định phê phán về Giới Trí thức của nước Pháp.

Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tình hình chính trị cận đại của nước Pháp, Tony Judt đã trình bày những nhận xét hết sức rõ rệt sắc nét về giới Trí thức của Pháp trong thế kỷ XX. Tony thẳng thừng phê phán những trí thức thiên tả hàng đầu của Pháp như Jean – Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Simone de Beauvoir … là những người cố chấp, thiên vị đến độ mù lòa (blindfully) đồng lõa với chủ trương tàn ác của Staline. Họ coi cách mạng ở Nga năm 1917 là sự tiếp nối của cách mạng Pháp năm 1789. Tony coi họ có tinh thần điạ phương cục bộ, khư khư bám víu vào cái hư danh của truyền thống cũ kỹ cổ xưa của mình (parochial). (Xin đọc chi tiết nơi cuốn “Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956 – xuất bản năm 1992)

Trái lại, Tony Judt lại đề cao những trí thức như Léon Blum, Albert Camus và Raymond Aron là những người đã có sự dũng cảm đi ngược lại cái khuynh hướng thiên tả cố chấp của đa số trí thức đương thời – để nói lên sự cảnh báo trước nguy cơ bành trướng của khối cộng sản Liên Xô kể từ sau năm 1945. Ông đã viết cả một cuốn sách nhỏ xuất bản năm 1998 dưới nhan đề là “The Burden of Responsibility…” đề cập chi tiết hơn về ba nhân vật này.

Trong cuộc đàm đạo với Timothy, thì Tony còn thuật lại vào tháng 2 năm 1948, cựu lãnh đạo Mặt trận Bình Dân ở Pháp năm 1936 (Front Populaire) là chính Léon Blum đã phải viết trong bài xã luận của tờ báo Le Populaire của Đảng Xã hội rằng : Ông nhận sự sai lầm của mình khi tin rằng phe Xã hội có thể hợp tác với phe Cộng sản” (trang 214) .

3 –  Về chính sách kinh tế, Tony Judt bênh vực John Maynard Keynes.

Giữa hai quan điểm đối nghịch của John Maynard Keynes là kinh tế gia người Anh giữa thế kỷ XX và của Friedrick Hayek người gốc Áo quốc gần đây, thì Tony Judt có vẻ thiên về tác giả Keynes là người cổ võ cho chính sáchTòan dụng trong nền Kinh tế Vĩ mô (Full Employment in Macro-economics) – mà ông coi là bổ túc cho khuynh hướng của chủ trương kế họach hóa do Sir William Beveridge đề xuất ở nước Anh. Tony biện minh rằng chủ trương của Keynes có tính cách mềm dẻo linh động, chứ không có sự khe khắt khắc nghiệt làm tê liệt sáng kiến của giới doanh nhân –  như Hayek đã nặng nề phê phán, đặc biệt trong tác phẩm nổi danh “The Road to Serfdom” của ông (Con Đường dẫn đến Sự Nô dịch).

Tony coi trọng thành quả của Tây Âu là đã xây dựng vững chắc được các định chế dân chủ và đặt nền móng sâu rộng cho một số quốc gia có nền phúc lợi xã hội khả quan (The Social Welfare State). Đặc biệt là sự thành công của chế độ Dân chủ Xã hội tại các quốc gia ở Bắc Âu châu (Social Democracy).

IV – Để tóm lược lại.

1 – Tuy chủ đề của cuốn sách quá rộng lớn bao quát, nhưng vì nội dung của các buổi thảo luận được trình bày xen kẽ với nhiều chi tiết sinh động về tiểu sử có tính cách tự thuật của Tony Judt, nên người đọc dễ theo dõi câu chuyện với sự thích thú kỳ diệu mà lại nhẹ nhàng. Cả hai tác giả đều là những nhà giáo – nhà nghiên cứu uyên bác và đã từng có những tác phẩm được đánh giá cao trong học giới cũng như trong công chúng độc giả. Vì thế, sự trình bày của họ trong cuốn sách thì rất là phong phú khúc chiết – nó giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng hợp về tư tưởng và hành động của giới trì thức tiêu biểu tại Âu châu trong thế kỷ XX. Có thể nói các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thứ lộ đồ (a road map) để khám phá cái không gian tư tưởng cực kỳ bao la đa dạng và phức tạp của thế kỷ XX.

2 – Đúng như nhan đề của bài viết, cuốn sách này là một thứ tự thuật của Tony Judt về quá trình nhập cuộc của bản thân mình trong sự tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho xã hội đương thời. Mà đồng thời cũng trình bày những nét chính yếu về vai trò của tòan thể giới trí thức ở Âu châu trong sinh họat chính trị văn hóa suốt thế kỷ XX. Các tác giả đã bày tỏ sự lạc quan và xác tín của mình trước viễn tượng của một nền Dân chủ Xã hội mà các thế hệ trẻ của thế kỷ XXI có thể xây dựng được – sau khi rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ đàn anh của thế kỷ XX.

*     *  Người viết xin hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng thật có giá trị vững chắc này vậy./

Costa Mesa California, Tháng 12 năm 2012

Đoàn Thanh Liêm