Đặng Xương Hùng: Hội chứng Phùng Quang Thanh

Đặng Xương Hùng: Hội chứng Phùng Quang Thanh

FB Đặng Xương Hùng

Nếu như hội chứng Nguyễn Cơ Thạch là việc Trung Quốc dùng đòn trừng phat ông Thạch để uy hiếp các nhân vật khác trong giới lãnh đạo cấp cao. Đòn răn đe để sau đó không ai dám ngo ngoe chống lại Trung Quốc. Thì hội chứng Phùng Quang Thanh có thể hiểu là hiện có một quyền lực ngầm đang chi phối nền chính trị tại Việt Nam và nó sẽ gạt phăng ra khỏi lề những ai cản đường nó, và là một đòn răn đe với những ai muốn chống lại nó.

Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch tồn tại 25 năm qua. Thậm chí tháng 5/2014 giàn khoan HD 981 vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, không một quan chức cao cấp nào dám ho he lên tiếng mạnh. Hơn nữa, Trung Quốc còn khuyên « những đứa con hoang đàng hay quay trở về » và ông Phùng Quang Thanh còn tuyên bố với toàn thế giới rằng : tranh chấp ở Biển Đông là « mâu thuẫn trong một gia đình ». Rõ ràng Phùng Quang Thanh là một trong những nhân vật mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch nặng nhất.

Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch đang có chiều hướng suy giảm, nhất là sau chuyến đi ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ. Điều đó cho thấy tình báo Mỹ đã giải tỏa nỗi lo sợ của lãnh đạo Việt Nam trước o ép của tình báo Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã nêu đích danh Trung Quốc trong những tuyên bố mới đây của mình.

Hội chứng Phùng Quang Thanh đang dần dần rõ nét. Nó trở thành hội chứng vì bất cứ một quan chức cấp cao nào quan sát những gì vừa xảy ra với ông Thanh đều rùng mình và rút ra cho mình một bài học. Một loạt những điều chuyển và tự rút lui khỏi chính trường đã chứng mình điều đó.

Hội chứng Phùng Quang Thanh ngày càng rõ nét, cho chúng ta thấy hai điều : thứ nhất, cuộc đấu đá trong nội bộ đảng là cuộc đấu tranh tàn khốc, một mất một còn giữa các nhân vật chóp bu và thứ hai, tranh chấp giữa hai phe : phe mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch và phe ít bị, vẫn còn đang diễn ra căng thẳng và giằng co. Tuy phe ít bị đang tạm thời giành thắng thế.

Hội chứng ông Thanh bắt nguồn từ thời hai ông Sang, Trọng muốn phế truất ông Dũng. Cách phản pháo ác liệt của ông Dũng đã cho thấy hội chứng ông Thanh đã bắt đầu. Thất bại của ông Trọng trong việc đưa ông Nguyễn Bá Thanh và ông Vương Đình Huệ, lập Ban nội chính và Ban kinh tế để làm đối trọng với Thủ tướng, cho thấy cuộc đấu tranh quyền lực ai hơn ai dần rõ nét. Cái chết của hai ông Phạm Quý Ngọ và Nguyễn Bá Thanh khẳng định thêm tính không khoan nhượng của cuộc đọ sức quyền lực tàn khốc này.

Những sự vụ liên quan đến ông Phùng Quang Thanh trong thời gian gần đây là những triệu chứng cuối cùng để khẳng định có hội chứng. Hội chứng đã rõ khi không còn có ai dám bảo vệ và ủng hộ ông Thanh, chống lại thế lực ngầm kia nữa. Chỉ còn là những hình ảnh mờ ảo, gỡ gạc, những cái nhìn soi xét, thương hại.

Trận đấu ở những phút cuối đã ngã ngũ, tỷ số đã hoàn toàn bất lợi với cá nhân ông Thanh và phe mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch. Hình như vì quyền lợi của cả hai phe, người ta đang làm mọi cách để ông và phe của ông gỡ bàn danh dự, và cũng không loại trừ khả năng áp lực của tình báo Trung Quốc quá mạnh, không dại gì phe ít bị không nhân nhượng một chút. Ông phải còn sống để làm hài lòng tất cả.

Hội chứng Phùng Quang Thanh đã làm người Việt Nam đột nhiên sướng lên ở một thời điểm, rồi chợt bừng tỉnh, chưa điều gì báo hiệu tương lai khá hơn cho dân tộc Việt Nam. Quyền lực ngầm kia một khi giành được quyền thế, nếu không thay đổi, nếu không quay lại với nhân dân, thì có khi còn tồi tệ hơn trước.

Không trông chờ vào ai, đó là thái độ thực tế nhất, người Mỹ cũng chỉ đón lấy nếu chúng ta đưa tay ra cần một sự trợ giúp. Cơ hội đến rất bất ngờ, đôi khi cơ hội đến theo dạng thách đố. Cần lắm những khối óc minh anh và thật sự dũng cảm để đưa dân tộc này ra khỏi những đêm dài tăm tối.

Tại sao các con sông đều uốn khúc mà không chảy theo một đường thẳng?

Tại sao các con sông đều uốn khúc mà không chảy theo một đường thẳng?

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/01/tinhhoa.net-QzoYAY-20150126-tai-sao-cac-con-song-deu-uon-khuc.jpg

Trong giờ học, một vị thiền sư chỉ vào một bản đồ và hỏi: “Các dòng sông trên hình ảnh này có đặc điểm gì?”. Các môn đồ trả lời: “Chúng luôn lượn vòng thay vì chảy theo một đường thẳng”.

Vị thiền sư lại tiếp tục hỏi: “Tại sao như vậy? Nói cách khác, tại sao những con sông này không đi thẳng mà cứ phải đi đường vòng?”.

Mọi người bắt đầu thảo luận: “Vì khi đi đường vòng, sông sẽ được kéo dài nên chứa được nhiều nước hơn. Hoặc nhờ thế mà khi lũ mùa hè kéo đến, nước sông sẽ không bị dâng quá cao và tràn ra ngoài”.

Một người khác lại nói: “Bởi vì con sông trải dài nên lưu lượng nước trên mỗi khúc sông tương đối thấp, áp lực dưới đáy sông cũng giảm đi. Điều này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bờ sông,…”

“Tất cả mọi người nói đều đúng”, vị thiền sư nói, “còn bản thân tôi thì cho rằng sông không đi đường thẳng mà phải đi đường vòng, đơn giản chỉ vì đi đường vòng là chuyện bình thường, đi đường thẳng mới là chuyện khác thường. Bởi trên hành trình của mình, các con sông sẽ phải gặp nhiều và đa dạng trở ngại, có cái vượt qua được, có cái không. Nên con sông chỉ có thể đi vòng để tránh các chướng ngại. Mục đích cuối cùng là hòa vào biển khơi”.

Ông thiền sư đột nhiên trầm mặc hơn: “Cuộc sống của chúng ta cũng như vậy. Khó khăn, trắc trở trong cuộc sống là chuyện bình thường. Không bi quan, tuyệt vọng, không thở dài, buồn phiền hay bỏ cuộc mới là thái độ sống đúng đắn. Như dòng sông kia không khuất phục trước gian nan, thử thách, luôn kiên trì tiến về phía trước, tiến về biển khơi bao la”.

Không có con đường dễ dàng trong mọi hành trình, gian nan và thử thách chính là thước đo ý nghĩa của điểm đến, chỉ cần kiên trì vượt qua, chúng ta sẽ đến được nơi cần phải đến.

Nguồn: daikinguyenvn

Không quốc giáo, không giáo điều

Không quốc giáo, không  giáo điều

( No State Religion, No State Dogma)

Đoàn Thanh Liêm

Năm 1975, sau khi chiến thắng được miền Nam rồi, thì giới lãnh đạo cộng sản tại Hanoi bèn công khai đổi tên “Đảng Lao Động” thành ra “Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí “Học Tập” là cơ quan nghiên cứu và lý luận cuả Đảng Lao Động cũng đổi tên thành tạp chí “Cộng sản” luôn. Và cả đến cái “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” (National Liberation Front NLF) cũng được cho giải tán, dẹp bỏ mất tiêu luôn. Đó là chuyện nội bộ cuả đảng cộng sản, họ có quyền quyết định thay đổi tên tuổi cuả riêng họ, chúng ta không phải là người trong đảng cộng sản, thì cũng chẳng nên thắc mắc  gì về cái chuyện riêng tư đó trong tổ chức cuả riêng họ.

Nhưng mà, vẫn theo chuyện “thưà thắng xông lên”, họ đã cả gan đổi cả cái tên, cái danh xưng cuả quốc gia thành ra nhà nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt nam” (Socialist Republic of Vietnam SRV), thì đó là điều mọi người công dân Việt nam chúng ta đều có quyền bất đồng, có quyền dị nghị. Vì rõ ràng là đảng cộng sản đã quá ư lộng quyền. Họ vẫn xưng mình là “đày tớ cuả nhân dân”, ấy thế mà họ dám ngang nhiên qua mặt “các chủ nhân ông, tức là toàn thể nhân dân”, mà thay đổi cả cái danh xưng cuả đất nước Việt nam thành ra là một quốc gia nằm dưới trướng cuả cái giáo điều “xã hội chủ nghiã”, với nền” độc tài chuyên chính vô sản”, với chủ trương “đấu tranh giai cấp, hận thù giai cấp”, “dân chủ tập trung” v.v…Đó là cái điều mà không bao giờ chúng ta lại có thể chấp nhận được.

Ở bên Pháp vào năm 1981, lần đầu tiên có lãnh tụ Đảng Xã hội là Francois Mitterand được bàu làm Tổng Thống, thì Giáo sư Raymond Aron có viết một bài báo gây chấn động trên báo Figaro, ông vìết thật đanh thép rằng  : “ Nước Pháp là nước Pháp, hay là Cộng Hoà Pháp quốc, chứ không có thêm một tĩnh từ nào khác” (Nguyên văn : La France, c’est la France ou la République Francaise, sans adjectifs! ) Tức là vị giáo sư lừng danh này muốn cảnh cáo cả phe tả phái và đảng Xã hội rằng : “Không được đem bất kỳ cái chủ thuyết nào mà gán vào danh xưng nước Pháp.” Lập trường này cũng có thể đem áp dụng cho nước Việt nam chúng ta, mà cho tới năm 2010 này vẫn còn bị đảng cộng sản gắn cho “cái đuôi con chồn xã hội chủ nghiã”!

Đầu năm 1990, sau khi chế độ cộng sản xụp đổ ở Đông Âu, thì tôi có viết một bản văn nhan đề là : “Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản” được coi như cái “guideline” cho việc soạn thảo bản Hiến pháp sau này. Bản văn được bắt đầu như sau :

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả Dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

(Toàn văn Bản “Năm Điểm” này sẽ được ghi trong Phần Phụ Lục đính kèm bài viết này).

Vì bản văn này, mà tôi bị công an bắt giam giữ vào tháng Tư 1990 và trong phiên xử vào ngày 14 Tháng Năm 1992, Toà án tại Saigon đã xử phạt tôi 12 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống chủ nghiã xã hội”. Và sau đó, họ đưa tôi đi “thi hành án” tại trại giam Z30D ở Rừng Lá thuộc huyện Hàm Tân Phan Thiết.

Năm 1996, nhờ sự vận động can thiệp cuả nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, cũng như cuả nhiều Dân biểu, Nghị sĩ và các nhân vật văn hoá xã hội, và nhất là cuả chánh quyền Mỹ, mà tôi đã được trả tự do bằng cách công an chở tôi từ nhà tù Hàm Tân ra thẳng phi trường Tân Sơn Nhất, để cùng với gia đình qua định cư bên nước Mỹ. Đại khái vắn tắt cuả vụ án cuả tôi là như vậy.

Trong 10 năm nay, tôi để thời giờ nghiên cứu tìm hiểu về sự “Chuyển hoá Dân chủ” (Democratic Transition) tại các nước cựu cộng sản ở Đông Âu và cả ở nước Nga. Và tôi đã tìm ra được nhiều điều lý thú, khả dĩ có thể rút kinh nghiệm cho việc xây dựng tương lai đất nước và dân tộc Việt nam chúng ta. Để cho ngắn gọn, tôi chỉ xin trích dẫn một số điều khoản căn bản trong bản Hiến pháp, mới được ban hành trong thập niên 1990 và sau này, cuả một số nước cựu công sản, mà có liên hệ trực tiếp đến quan điểm cuả tôi như đã ghi nơi điều 1 Bản văn “Năm Điểm” đã trưng dẫn ở trên.

A/ Không có Quốc giáo (No State Church).

1-      Điều 40 khoản 2 Hiến Pháp nước Estonia : “Không có quốc giáo” (There is no State Church).

2-      Điều 14 khoản 1 Hiến Pháp nước Nga : “Không một Tôn giáo nào được thiết lập như một quốc giáo, hay như một tôn giáo bắt buộc (No Religion shall be established as a State or Obligatory One).

B/ Không có Ý thức hệ Nhà nước (No State Ideology)

1-      Điều 13 khoản 2 Hiến Pháp nước Nga : “ Không có một Ý thức hệ nào được thiết lập như là Ý thức hệ Nhà nước, hoặc như môt ý thức hệ bắt buộc (No Ideology may be established as a State or Obligatory One).

2-      Điều 5 khoản 2 Hiến Pháp nước Moldova : “Không có Ý thức hệ nào được công bố là Ý thức hệ chính thức cuả Nhà nước (No Ideology may be pronounced as an official ideology of the State).

3-      Điều 12 khoản b Hiến Pháp nước Uzbekistan : “ Không một Ý thức hệ nào mà được ban cấp quy chế cuả Ý thức hệ Nhà nước” (No Ideology shall be granted the status of State Ideology).

4-       Điều 11 khoản 2 Hiến Pháp nước Bulgaria : “Không có Ý thức hệ nào mà được công bố hay xác nhận là Ý thức hệ của Nhà nước”-  (No Ideology shall be proclaimed or affirmed as an Ideology of the State).

Mấy trích dẫn ghi trên thiết nghĩ cũng đã đủ để đánh giá được sự dứt khoát loại bỏ căn bệnh giáo điều cuả chế độ cộng sản trước đây. Người viết xin để bạn đọc tuỳ nghi phân tích và lượng định về sự thay đổi này trong các quốc gia cựu cộng sản ở Đông Âu và nhất là ở nước Nga. Và rồi đối chiếu với tình trạng ở Việt nam hiện nay./

Baltimore Tháng Năm 2010

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một Tôn giáo nào làm Quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 – Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hoá lịch sử khác nhau. Như vậy nền tảng cuả xã hội Việt nam phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hoá.

Điểm 3 – Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái cuả dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp Việt nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 – Về phương diện kinh tế, vai trò cuả nhà nước là làm trọng tài để bảo đảm công bằng xã hội và trật tự xã hội. Như vậy, nhà nước không thể vừa đứng làm trọng tài, mà lại vưà là một bên đương sự trong các hoạt động kinh doanh làm ăn được (vưà thổi còi, lại vưà đá bóng).

Hệ luận cuả nguyên tắc này là : Hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm bớt tới mức tối thiểu.

Điểm 5 – Thể hiện tinh thần hoà giải hoà hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với mọi vi phạm do cá nhân hay do tập thể gây ra.Nghiêm cấm mọi sự tuỳ tiện báo ân, báo oán.

Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp./

Làm tại Saigon Tháng Hai 1990.

Đoàn Thanh Liêm

Cái Đêm Hôm Ấy & Ngày Hôm Nay

Cái Đêm Hôm Ấy & Ngày Hôm Nay

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Dân đói kêu trời vang ổ nhạn
Quân gian dậy đất tựa đàn ong

Phan Đình Phùng

Tôi có chút giao tình với anh Trần Ngọc Thành nên mỗi khi gặp gỡ chúng tôi đều tìm một cái quán (thật) vắng để ngồi tâm sự vụn, và uống với nhau vài chục ly rượu nhạt. Phải là một nơi “thật” vắng vì sau khi cạn mấy chai đầy (dù là rượu nhạt) thế nào ông đại diện Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do cũng chợt nhớ đến giọng ca … thiên phú của mình:

  • Tui sẽ hát bài “Đi Đâu Cũng Nhớ Về Hà Tĩnh” để riêng tặng … Tiến nha!

Thoạt đầu, tôi rẫy nẩy:

  • Như rứa tội chết anh Thành à. Em nỏ biết Hà Tĩnh ở nơi mô đâu nà?
  • Can chi chuyện đó, trước sau gì rồi cũng sẽ biết thôi mà. Quê hương là của chung mọi người chớ nào có phải của riêng ai đâu…

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Đà Lạt, và sống (sắp) tàn đời ở California . Cả ba vùng đất này đều là nơi tập trung của dân tứ xứ nên không thể coi là bản quán của bất cứ ai. Nhận (đại) nơi chôn nhau cắt rốn của anh em bạn bè làm quê (mình) luôn cũng … khoẻ, nhất là khi bằng hữu đã mở rộng lòng.

Với tâm cảm này, và sau khi nghe anh Trần Ngọc Thành hát (cỡ) trăm lần thì Hà Tĩnh “thấm” vô hồn tôi (rồi biến luôn thành “quê mình”) hồi nào không biết. Chỉ biết, từ đó, tôi … đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh. Thị xã này – qua ảnh – trông cứ y như một thành phố xinh xắn ở trời Âu. Ngó an bình, và phú túc thấy rõ.

Hà Tĩnh nhìn từ khách sạn BMC Plaza. Ảnh: panoramio

Nhưng ngó vậy, chớ không phải vậy đâu. Phần lớn những tin tức về Hà Tĩnh đều mang lại cho người đọc cái cảm giác (rất) bất an. Coi:

Quan chức ở tỉnh mô cũng rứa thôi, chuyện ni không có chi quan trọng nhưng loạt bài về chuyện lạm thu (thuế má) ở Hà Tĩnh trong tháng 7 vừa qua – trên báo Nông Nghiệp Việt Nam – mới thực sự khiến cho thiên hạ phải bàng hoàng và sửng sốt:

Sau đây là vài đoạn ngắn, trích từ  Báo Nông Nghiệp Việt Nam (số ra ngày 6 tháng 7 năm 2015) về cách thu thuế, và sự cùng quẫn của một gia đình nông dân, ở Hà Tĩnh:

Giữa mùa hạ ở Thường Nga, một xã nghèo miền thượng Can Lộc, trời xanh ngằn ngặt, nắng như thiêu như đốt. Nắng chết cỏ chết cây, đất đai, ruộng đồng đanh lại, cảm giác như bị cả một lò lửa khổng lồ nung đốt.

Vạn vật cỏ cây, con người im lìm chịu trận. Duy chỉ có tiếng loa truyền thanh từ trụ sở UBND xã vẫn cứ đều đặn hoạt động hết công suất. Giọng cán bộ truyền thanh giục giã, vang vọng, đanh thép len lỏi khắp trong làng, ngoài xóm, ra đến tận ngoài đồng vẫn còn nghe rõ: UBND xã yêu cầu nhân dân hoàn thành nghĩa vụ đóng nộp trong ba ngày chiến dịch…

Hạn chỉ trong vòng 3 ngày nhân dân phải đóng nộp đầy đủ, nhà nào thiếu, dù chỉ một cân thôi cũng phải chịu nộp phạt thêm 5%. Thực hiện chiến dịch thu nộp, mỗi hộ dân Thường Nga phải gánh hai phần đóng góp. Phần thu của xóm và phần thu của xã. Ở xóm bao gồm các khoản thu nội đồng, thu bê tông, thu hội quán.

Phần thu tại xã gồm: Thu quỹ giao thông thủy lợi phục vụ sản xuất, thu thầu hợp đồng, thu phí vườn đồi, phí kinh doanh chưa đến mức thu thuế tháng, thu HTX môi trường, quỹ khuyến học, hai loại quỹ, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ QPAN, phạt quân sự, kế hoạch hóa, thuế đất phi nông nghiệp…

Gia đình ông Ngụ bà Hương có 8 sào ruộng, 6 nhân khẩu. Để có đủ cái ăn, mỗi vụ, ngoài phần ruộng được chia ông bà còn phải đấu thêm 3 sào của những gia đình chán ruộng. Quần quật đến nỗi, mùa gặt, nửa đêm bà Hương phải đeo ắc quy gắn bóng đèn để ra đồng. Vậy mà thóc lúa cũng không đủ chi phí đầu tư và nộp sản.

Bà Lê Thị Hương. Ảnh: báo Nông Nghiệp Việt Nam

Suốt cuộc trò chuyện, bà Hương liên tục khóc. Nhất là khi chúng tôi nhìn vào phương án thu của gia đình họ. Phần thu của xóm hết 558 nghìn đồng, phần thu của xã hết 928 nghìn đồng. Chưa phải thuộc diện nhiều so với các hộ khác, nhưng để có tiền đóng nộp họ phải bán hết những hạt thóc cuối cùng.

Trong nhà bà Hương hiện còn 5 tạ thóc. Ngoài hai tạ trừ ăn, ba tạ bán không đủ tiền trả nợ. Tiền lồng, tiền tuốt nợ từ vụ trước, gặt về, chủ nợ lăm le đến đòi mấy lần rồi nhưng lần nào bà cũng khóc xin khất để “ưu tiên” nộp sản cho xã trước “không người ta réo tên trên loa, người ta phạt 5%, người ta cắt giao dịch giấy tờ, quá tội”.

Hai tạ thóc “qui hoạch” cất ăn xem chừng cũng phải bán luôn vì nợ đòi gắt quá. Tiếng là 6 khẩu, nhưng hầu như chỉ có ông bà lao động. 4 đứa con, ngoại trừ đứa con gái thứ đã lấy chồng vào Quảng Bình, ba đứa còn lại không tật này cũng bệnh khác. Người con gái đầu tên Phan Thị Thích (35 tuổi), tính ẩm ương, mỗi lần lên cơn đều vác gậy rượt bà Hương đánh. Bệnh tình ngày một nặng nhưng không có tiền chữa trị. Thằng con út, hết đau gan lại gặp tai nạn giao thông, của nả trong nhà vốn không mấy thứ có giá trị lần lượt phải đem bán hết. Bây giờ nó bỏ nhà đi biệt xứ, không rõ ở đâu. Căn nhà trống tơ hơ, gần như không còn lấy một thứ gì khả dĩ bán thêm được nữa.

Tiếng loa và “giọng cán bộ truyền thanh giục giã, vang vọng, đanh thép len lỏi khắp trong làng, ngoài xóm” ở Hà Tĩnh – trưa hôm nay – khiến tôi nhớ đến bài ký sự (“Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì”) của Phùng Gia Lộc, viết về cảnh thu thuế nơi một vùng quê (thuộc tỉnh Thanh Hoá) vào năm 1987:

Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.

Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý. Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động.

Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.

Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa.

Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một. – Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!

Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử. Cạch cạch cạch. Chị cò Lộc, mở cửa ra! Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn.

Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che. – Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi? – Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.

Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm…

Phóng ảnh từ báo Nông Nghiệp Việt Nam

Nhà văn Phùng Quang Lộc đã qua đời từ lâu nhưng cảnh tượng hãi hùng của “cái đêm hôm ấy” thì vẫn còn ám ảnh những người dân quê Việt Nam – ở khắp mọi nơi – cho mãi đến bây giờ, dù gần 30 năm đã qua rồi.

Giữa khoảng thời gian này còn có một biến động lớn mà muốn quên cũng khó: “Cuộc Nổi Dậy CủaNông Dân Thái Bình,” vào năm 1997. Khi viết về tình trạng “lạm phát đầy tớ” ở “một xã rất nghèo, nơi có 2.000 hộ, với gần 1 vạn dân mà có tới… 500 cán bộ” – thi sĩ  Bùi Hoàng Tám đã nhắc đến lời cảnh báo (từ lâu) của nhà báo Hữu Thọ: “Nếu như sau Cái đêm hôm ấy… chúng ta biết lắng nghe, biết tôn trọng nguyện vọng của người dân thì chắc chắn sau này, đã không để xảy ra hiện tượng như ở Thái Bình.”

Tiện miệng, tôi xin được nói thêm: “Nếu như sau vụ nổi dậy ở Thái Bình, chúng ta biết lắng nghe, biết tôn trọng nguyện vọng của người dân thì chắc chắn sau này, đã không để xảy ra hiện tượng như tiếng súng hoa cải của anh em Đoàn Văn Vươn như ở Hải Phòng.”

Điều phiền là “chúng ta” không bao giờ “biết lắng nghe,” và cũng chả bao giờ “biết tôn trọng nguyện vọng của người dân” cả nên – tất nhiên – sẽ còn nhiều “Đoàn Văn Vươn” cũng như nhiều “Thái Bình” (khác nữa) sẽ tới và sắp tới!

Phản ứng về việc Tướng Vịnh đề cao hợp tác Trung Quốc

Phản ứng về việc Tướng Vịnh đề cao hợp tác Trung Quốc

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-31

Phản ứng về việc Tướng Vịnh đề cao hợp tác Trung Quốc Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

123402512013060718312393-622.jpg

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Ảnh minh họa chụp trước đây.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định quan hệ Việt Trung không bao giờ thay đổi và Trung Quốc luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Đảng. Ông Vịnh đã phát biểu như vừa nói vào tối 28/7 vừa qua nhân dịp Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức chiêu đãi kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Hòa hiếu hay thần phục?

Nam Nguyên phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nhà bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam từ 40 năm qua. Từ Hà Nội, trước hết TS Nguyễn Thanh Giang nhận định:

TS Nguyễn Thanh Giang: Tôi cho rằng, Việt Nam rất không may mắn có vị trí địa dư nằm sát với Trung Quốc, ở bên cạnh một anh khổng lồ mà rất không tử tế. Anh ấy không chỉ không tử tế đối với Việt Nam mà anh ấy đang cố gắng trỗi dậy bằng những thủ đoạn xấu xa, một khi đã trỗi dậy thì anh ấy sẽ không tử tế với nhiều dân tộc trên thế giới. Cho nên đấy là cái họa của dân tộc Việt Nam. Nhưng vì đã trót ở bên cạnh anh ấy rồi cho nên cũng đành phải hòa hiếu với anh ấy. Lâu nay tôi vẫn nói rằng, Việt Nam nếu muốn có thể tồn tại bên cạnh Trung Quốc thì Việt Nam phải vận dụng sức ủng hộ mạnh mẽ của thế giới đặc biệt của Hoa Kỳ. Cho nên Việt Nam trước hết phải xiết chặt được giao hảo tốt đẹp với Hoa Kỳ. Tôi cho rằng đáng lẽ lần đi vừa qua của ông Nguyễn Phú Trọng sang Hoa Kỳ, thì ông phải làm được việc nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược nhưng ông ấy đã không làm được việc rất cần thiết này cho dân tộc.

” Họ không chỉ giữ tinh thần muốn hòa hiếu với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ mà họ còn muốn tuyên truyền cho một thứ gọi là thần phục Trung Quốc, coi Trung Quốc là bậc thầy, coi Trung Quốc là Thiên tử mà mình phải rắp tâm cung phụng và theo họ.
-TS Nguyễn Thanh Giang”

Nhưng mà bên cạnh giao hảo hữu nghị với Hoa Kỳ, tôi nghĩ cũng vẫn cần hữu nghị với Trung Quốc. Nhưng tôi đặc biệt căm giận những ai mà có tư tưởng thần phục Trung Quốc và muốn đẩy dân tộc này vào ách đô hộ mềm của Trung Quốc. Nói giao hảo hữu nghị là cần thiết đấy không nên đối địch với họ, nhưng tôi rất không ưng một số người trong đó có ông Nguyễn Chí Vịnh, trong đó có những người như ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, như là Bộ trưởng Phùng Quang Thanh… họ không chỉ giữ tinh thần muốn hòa hiếu với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ mà họ còn muốn tuyên truyền cho một thứ gọi là thần phục Trung Quốc, coi Trung Quốc là bậc thầy, coi Trung Quốc là Thiên tử mà mình phải rắp tâm cung phụng và theo họ.

Nam Nguyên: Chính sách đi dây của Việt Nam như nhiều nhà bình luận nói. Theo Tiến sĩ có còn thích hợp hay không, nhất là khi Trung Quốc đã thể hiện tham vọng chiếm trọn Biển Đông.

TS Nguyễn Thanh Giang: Việt Nam ở một thế kẹt như vậy, thì vẫn phải giữ trạng thái đu dây giữa hai thế lực lớn là Trung Quốc và Hoa Kỳ . Nhưng mà cách đu dây như thế nào lại là một cái tài của nhà lãnh đạo, đu dây mà không phải là đu dây. Đu dây mà thực chất vẫn phải nghiêng về phía Hoa Kỳ để cho có thể tạo được một sức mạnh có thể đương đầu được với Trung Quốc. Những người lãnh đạo phải hiểu cho được là làm sao phải thực hiện cho được các đường lối chủ trương của mình, làm sao phải thực sự coi Hoa Kỳ bây giờ là người bạn mà mình thực sự dựa vào, để mình giữ lấy toàn vẹn lãnh thổ.

nguyen-chi-vinh-400.jpg

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh gặp Đại tướng Martin Depsey hồi nam 2014. Courtesy photo.

Đu dây không có nghĩa là cân bằng bên này một tí bên kia một tí, mà trong tình hình này phải thấy Trung Quốc là kẻ thù thực sự rồi. Trước đây ta quan niệm Mỹ là kẻ thù, không bằng cớ, Mỹ không có âm mưu xâm chiếm nước ta, không chiếm đoạt đất đai tài nguyên của chúng ta. Mà lúc bấy giờ chỉ là cuộc chiến tranh vô nghĩa, đi theo cái gọi là ý thức hệ. Còn bây giờ Trung Quốc nó là một kẻ xâm lược thực sự, nó đã xâm lược Việt Nam, nó đang xâm lược Việt Nam, nó không chỉ xâm lăng ở Bản Giốc, ở Ải Nam Quan, nó thực sự xâm lăng Hoàng Sa, nó đang xâm lăng Trường Sa và xâm lăng trên toàn bộ mặt biển.

Cho nên mình phải nuốt hận vào lòng mà nói ‘hảo hảo’với nó, nhưng thực chất phải xem nó là kẻ thù. Hảo hảo với nó không có nghĩa sợ nó mà làm sao để ngược lại Trung Quốc phải sợ mình. Trung Quốc sợ mình thì có hai điều kiện. Một là mình làm cho nội lực dân tộc mình mạnh mẽ lên. Hai là mình phải dựa vào được sự bảo trợ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt là Mỹ và xung quanh đây là Nhật, Úc và khối Đông Nam Á.

Nam Nguyên: Thưa Tiến sĩ, hồi tháng 5 vừa qua, theo tin ghi nhận khi Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh họp với tướng Thường Vạn Toàn của Trung Quốc ở Lào Cai, ông Thanh đã đảm bảo sự tin cậy chính trị với Trung Quốc. Bây giờ Tướng Vịnh nhấn mạnh, các nhà lãnh đạo cấp cao của hai lực lượng vũ trang sẽ tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác quốc phòng vào chiều sâu và chiều rộng. Điều này có là nguy hiểm hay không? Khi mà TQ đang tiến hành âm mưu chiếm trọn Biển Đông?

” Còn để cho những nhân vật như là Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh thao túng nền quân sự, nền chính trị của Việt Nam thì đấy rõ ràng là một hiểm họa hết sức to lớn cho dân tộc.
-TS Nguyễn Thanh Giang”

TS Nguyễn Thanh Giang: Còn để cho những nhân vật như là Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh thao túng nền quân sự, nền chính trị của Việt Nam thì đấy rõ ràng là một hiểm họa hết sức to lớn cho dân tộc. Tôi nghĩ chúng ta phải hết sức cảnh giác đối với những con người đó. Nhưng tôi cho là hệ thống ý kiến của Nguyễn Chí Vịnh trong thời gian qua mà nhiều lần tôi đả kích, tôi vẫn nghi ngờ đó là cánh tay thân thiết của tình báo Hoa Nam, đặc biệt trong thời gian mà Nguyễn Chí Vịnh còn nắm Tổng Cục 2.

Nam Nguyên: Thưa, nghiên cứu quốc tế cho biết Trung Quốc là mối bận tâm hàng đầu của người Việt Nam, nhưng Tướng Nguyễn Chí Vịnh còn nhấn mạnh rằng quan hệ hai nước hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa. Việt Nam đã cho mở Viện Khổng Tử ở Đại học Quốc gia Hà Nội, điều này tạo thêm mối lo sợ là sau kinh tế, chính trị, quân sự bây giờ lại thêm ảnh hưởng nhiều quá vào văn hóa Trung Quốc?

TS Nguyễn Thanh Giang: Lâu nay chúng ta ngộ nhận, cứ ca ngợi nền văn hóa của hai nước tương đồng nhau. Thực ra đạo Nho cũng có giá trị trong thời gian lịch sử nhất định. Trước đây nó cũng ảnh hưởng được vào trí thức, vào nền văn hóa nước ta làm cho trí thức của nước ta cũng có được một nếp sống đạo lý và đặc biệt tập hợp được lực lượng để chống cường quyền, chống ngoại xâm. Lúc bấy giờ có một giai đoạn lịch sử nó ảnh hưởng tích cực đến nền văn hóa và tâm lý dân tộc. Nhưng hiện nay, phải nói đạo Nho và cái văn hóa chính trị mà nói chung Trung Quốc dựa vào cho đến bây giờ, là thứ văn hóa chính trị lạc hậu, chỉ để giữ đời sống con người không thể vươn tới được nhân quyền và tự do dân chủ.

Nam Nguyên: Cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đã trả lời phỏng vấn.

“Hỡi ơi dâu bể mòn thương nhớ,”

Hỡi ơi dâu bể mòn thương nhớ,

“Gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi.

Lớp lớp biên cương tình chật hẹp,

Mùa xưa thông cảm đã qua rồi.”

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá, lược dịch

Người người khi xưa, “dâu bể mòn thương nhớ”, phận hèn nữ-phụ hôm nay những cảm thông. Thế giới hôm rày, vẫn tạo nơi nương náu cho nữ-phụ cùng con trẻ từng gặp cảnh thương nhớ/nhớ thương một cõi đời đầy phúc-hạnh, rất hoan-lạc.

Thế giới hôm nay, có rất nhiều cung-đường nương-náu dành cho phụ nữ và con trẻ vào những lúc căng thẳng, cả xác lẫn hồn. Cung đường này do hội Vinh Sơn thánh Phaolô thiết lập. Họ gọi đó là “Nhà tình nghĩa Manna”.

Tình nghĩa Manna, ư? Nghe như tin lạ được gợi hứng từ truyện vui thiên-thần rút trong kinh điển của Hội thánh. Truyện kể về Manna, bánh  hằng sống phản ảnh công tác thiện nguyện xuất từ lòng nhân hậu, đỡ nâng của những người rất nhiệt tình. Trải qua sau nhiều nỗi khiếp sợ, người phụ nữ và con trẻ bị hạch sách quấy nhiễu, hành hạ đủ điều, nay được đón tiếp ân cần nơi cung đường nương náu Manna, đầy tình nghĩa.

Ở đây, tuy là nơi tạm bợ sống qua ngày, nhưng đời sống gia đình của người gặp nạn được hàn gắn, chắp vá. Cả người mẹ lẫn con thơ, sẽ vơi cạn nỗi đớn đau/sầu buồn. Rồi từ đây, mẹ con thân yêu sẽ hồi sinh gượng dậy từ chốn gẫy đổ, để rồi sẽ lại tiếp tục cuộc sống mai ngày, đầy hiểm nguy.

Nơi nhà tình nghĩa đầy Manna ấy, sự đón tiếp ân cần đã đem đến cho người mẹ và đàn con gia đình nguồn sinh lực mới, rất đầy tràn. Tương tự như thế, lòng ân cần trìu mến cũng đến với chúng ta, ở đây, nơi bàn tiệc này.

Tham dự Tiệc thánh, chúng ta tạm dừng bước phong trần, bỏ ra một ít phút trong hành trình tin-yêu, nhiều hệ lụy. Dừng bước, để tin vào sự thiêng liêng, linh đạo. Dừng bước, để có thể yêu thương Đấng luôn ân cần chăm sóc ta suốt hành trình. Dừng bước, để được bồi bổ sinh lực, ngõ hầu ta ra đi đại diện cho cộng đồng dân Chúa, làm chứng tá cho sự hiện diện đầy thương yêu của Đức Chúa với thế giới, hiện thời.

Ở đây nữa, sống đời đi Đạo, ta vẫn cần tình nghĩa Manna. Cần cơm bánh từ trời, gửi đến từ nơi cao xa, chốn vĩnh hằng. Thứ tình vẫn đến, khi ta gặp thử thách. Xách nhiễu. Hành hạ. Cả về thể xác lẫn tinh thần.

Tôi thích những sự kiện cho thấy, với tư cách người Công giáo, ta tin Đức Kitô hiện diện khắp mọi nơi. Ngài hiện diện cả ở quà tặng mà ta nhận lãnh hằng ngày. Hằng tuần. Quà tặng ấy, niềm tin ấy, ta nhận được dưới hình thức bánh và rượu dâng lên Ngài, buổi Tiệc thánh. Ta không chỉ tin Ngài hiện diện lúc hừng đông, khi chiều chậm xuống. Hoặc, ở những nơi có vẻ đẹp thiên toà. Thảnh thơi, ngơi nghỉ thôi.

Ta còn tin Ngài đến với ta qua hình thức đặc thù. Độc nhất. Giản đơn. Ngài hiện diện với mọi vật bình thường. Trong đời. Mỗi người. Hiện diện qua cung cách ứng xử với quà tặng rượu bánh ấy, ta minh xác cho mọi người nhận thức về sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng ân cần đỡ nâng mọi người. Vào mọi lúc. Ở mọi nơi.

Cộng đoàn tín hữu sơ thời chẳng gọi Tiệc Lòng Mến là tiệc bẻ bánh, đấy sao? Bánh được bẻ ra, là để sẻ san. Rượu được chuyền đến tay ta, cùng với lời đáp rất “Amen”, là bằng chứng khẳng định niềm tin: Đức Chúa đang hiện diện. Ở đây. Lúc này. Ta cần minh định với mọi người rằng: Đức Kitô hiện diện nơi ta, cả vào khi ta gặp tình huống khô khan. Sa mạc đời mình, đời người. Nhiều lúc nhớ lại, ta như thấy mình đang rong ruổi nơi đồng hoang chốn vắng, cứ muốn tìm cho ra dấu chứng xác nhận sự hiện diện của Chúa, vẫn khôn nguôi.

Đối với những người đang chịu cảnh vỡ đổ tâm thần hoặc thể xác, những người đang yêu thương đùm bọc kẻ khác, và những người hiệp thông nhận bánh tình nghĩa Manna hôm nay, thì đây là cơ hội tốt để ta gặp gỡ Chúa, tại nơi mình tham gia, hiện diện. Phải chăng đây chính là điều tuyệt vời, mỗi khi ta đến để dự Tiệc thánh, với đầy đủ ý nghĩa như thế?

Đành rằng, nhiều người sẽ chẳng nhận ra điều tuyệt vời ấy. Bởi, họ cứ nghĩ mình không tốt lành đủ để được phép, được ơn lành có mặt nơi đây. Dù với lý do gì đi nữa. Dù, là lâu nay Chúa vẫn thân mời họ đến dự để Ngài trao ban tình Manna ấy cho họ. Ngài vẫn luôn thân mời, để tặng ban cho họ nỗi niềm chăm sóc, ân cần lẫn đùm bọc.

Dù điều gì sẽ xẩy đến, Tiệc Thánh Thể vẫn là bữa tiệc rất quan trọng. Quan trọng, ở chỗ: ta không thể vì bản tính ích kỷ giữ chặt cho riêng mình, những gì mình nhận được, ở đây. Món quà quý báu ấy là Lời dạy thánh thiêng của Ngài. Là Nhiệm tích Thánh Thể Chúa tặng ban cho mọi người.

Có khiêm nhu nhận lãnh quà tặng cho mình và cho mọi người như thế, ta mới trở thành ngôn sứ. Thành Kitô khác. Tức Kitô trong Đức Kitô. Để, tất cả trở nên một. Một ngôn sứ. Một Hội thánh. Một Đức Kitô.

Tin Mừng hôm nay dẫn chứng Lời Chúa về sự kiện Chúa Cha thu nhận mọi người đến với niềm tin-yêu, của Đạo. Trong Đạo. Có thể là, nhiều khi ta rơi vào cạm bẫy đang chực sẵn khi ta nghĩ: điều mà mọi người gọi là niềm tin, chỉ là sản phẩm của tri thức. Có thể là, đôi lúc ta cũng võ đoán mà cho rằng: niềm tin-yêu chỉ như một vận dụng của trí óc. Không hơn. Không kém.

Có lẽ, ta cần suy tư cho đúng cách. Cần sức mạnh mà luận chứng cho vững chắc, hầu sự thật về niềm tin-yêu được tỏ hiện vượt lên trên cảm tính. Trực giác.

Chắc chắn là, rồi ra nhiều người cũng sẽ cảm nhận được sức mạnh của Tình thương yêu Chúa họat động qua cách thức ta sống đời sống giản đơn, trong cuộc đời thường nhật của mình. Đây là mấu chốt khả dĩ lôi cuốn được mọi người. Là cung cách thu hút nhiều người về với vấn nạn, hỏi rằng: điều gì đem đến cho đời tôi có được chất lượng, ý hướng, mục đích cũng như ý nghĩa đích thực của sự sống? Tin Mừng nay mang lại cho mọi người câu trả lời thật rõ nghĩa. Trung thực.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, cầu mong sao trạm nghỉ dưỡng ở cung đường Manna lành thánh, nơi hành trình tin-yêu, sẽ giúp ta rũ bỏ mọi hãi sợ. Giúp ta phục hồi sinh lực. Ngõ hầu hoàn thành công tác đang chờ ta, ở phía trước. Cầu mong sao Tin Mừng mọi người đọc ra, sẽ là cuộc sống của chính ta.

Và là, nhiệm tích duy nhất rất thánh thiêng mời gọi hết mọi người. Nhiệm tích thánh nơi Tiệc Lòng Mến, sẽ dẫn đưa mọi người về lại với Đức Kitô, Đấng công bình. Nhân hậu. Của chính ta. Là, niềm an vui cho mọi người.

Cảm nghiệm niềm an vui Chúa tặng, nay nhớ lời thơ day dứt xưa người vẫn hát, rằng:

“Qua rồi thuở ấy, tình sâu nặng,

Trăng mới cuồng si, nụ bán khai.

Ta nhớ tiền thân, phòng lại ngõ,

Giấc hồ thơm tóc gái Liêu Trai.”

Gái Liêu Trai xưa ở truyện cổ hay người nữ-phụ ở đời người, vẫn là sự thật phũ phàng day dứt. Những mong rằng, Lời Chúa hôm nay là chút an ủi người chị người em trong Hội thánh Nước Trời rất thân thương, cần ghi tạc. Ghi tạc mãi, tình thương-yêu đùm bọc Chúa răn dạy. Để rồi, người người lại sẽ vui hưởng niềm an vui nồng thắm suốt một đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 41-51)

Người Do-thái liền xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giêsu đã nói: “Tôi là bánh từ trời xuống.” Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: “Tôi từ trời xuống?” Đức Giêsu bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết.

Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha.

Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết. Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Trên đồi xanh chiều đã xuống dần,

“Trên đồi xanh chiều đã xuống dần,”
Mặt trời lấp ló sau đồi chiều vang.
Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời,
lạnh lùng nghe tiếng chim chiều gọi đàn…
(Nguyễn Văn Khánh – Chiều Vàng)

Trần Ngọc Mười Hai

Hát bài “Chiều vàng”, phải chăng người nghệ sĩ khi xưa muốn diễn-tả tình-cảnh có câu chuyện lình-xình với mối tình da diết của mùa thu? Không. Không phải thế đâu! Theo lời người dẫn nhập bản hát là đàn-sĩ Lê Văn Thụ Nhân trong chương trình “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney hôm ấy, 05/7/2015 có bảo rằng:

“Tác-giả bài “Chiều Vàng” cũng là tác-giả bài “Nỗi Lòng” diễn-tả cuộc tình đầy đau thương của mình qua bài hát. Tình-tự được diễn-tả là: mới chỉ xa cách nhau có 3 tuần, nhưng khi đến thăm lần đó ông được biết là người tình của ông nay đã chết. Trong tâm trạng buồn bã ấy, tác-giả đã viết lên nỗi buồn mênh mang, nhè nhẹ này bằng giòng chảy rất “Chiều Vàng.” (Trích lời phát biểu của người trẻ tên Thụ Nhân cùng với người điều-khiển chương trình là Uông Thế Công)

Chẳng biết người dẫn chương-trình hôm ấy nói có theo sách mách có dẫn-chứng hay không, nhưng nay vẫn cứ mời bạn và mời tôi ta nghe thêm đôi lời kể về buổi “chiều vàng” vẫn “buồn xa vắng buồn” như sau đây:

“Buồn xa vắng buồn lòng thầm nhớ tới người.

Chiều xưa cũng trên đồi cùng ta.

Người đã ước nguyền rằng đời riêng có ta,

Lời đó còn đâu?

Đường về lòng người tha phưuơng nhớ.

Chiều dần dần mờ cô thôn vắng.

Người yêu dấu ngàn đời thấu chăng?

Ta nén đau thương gắng bước hoài,

Thuyền chèo tới đâu chưa ngừng bến.

Lời thề nguyền ngờ đâu xa vắng.

Tình tràn đầy sầu chung non nước,

Hồn em có cùng người chứng minh.

Anh bước ra đi luyến tiếc hoài,

Đời còn có em nay mà thôi.

(Nguyễn Văn Khánh – bđd)

“Chiều vàng”, ở đời nào cũng có thể là như thế! Còn, chiều rất “vàng” ở nhà Đạo thì sao?

Với nhà Đạo, làm gì có “Chiều vàng”, hoặc “sáng trắng”, đâu cơ chứ! Sáng hay chiều, với người nhà Đạo, vẫn là chuỗi ngày dài trước sau như một, đầy yên vui, tâm tịnh cũng rất “thiền”.

Nói cách khác, sáng hoặc chiều nơi nhà Đạo, lại là những ngày tháng dân con Đạo mình vẫn tịnh tâm suy tư về nhiều thứ. Chí ít, là những thứ và những sự được nhiều người áp-dụng cho đời mình, như truyện kể nhẹ ở bên dưới để dẫn nhập, như sau:

“Tới chơi nhà người bạn già, chỉ thấy bà vợ ngồi trước hiên. Tôi bèn hỏi: “Ổng đâu bà chị?”
– Ngồi thiền rồi
Tôi ngạc nhiên: “Ây da, ổng tu hồi nào vậy bà chị?”
– Thì cách đây nửa năm một số người bạn quen biết rủ ổng đi chùa, rồi đi tham gia vào các đạo tràng, rồi tu học chèo thuyền thúng gì đó. Ổng về nói với tôi là ổng và tôi hết duyên, con cái chỉ là đống nợ, ổng muốn giải thoát, muốn được siêu thoát để đến cảnh giới niết bàn ghế gì đó…Tui chán, mặc ổng muốn làm gì thì làm. Cơm no bò cưỡi không muốn, muốn ăn chay, tiệt dục, ngơ ngơ ngẩn ngẩn chuyện tâm phào, đồ điên.
Tôi hỏi: “Thế thấy ổng có vui sướng không?”
Bả nhún vai ái ngại:
– Ái chà, sướng nỗi gì? Mở miệng ra nào thì đời là bể khổ hoặc ta chỉ là xác mượn. Hết biết!
“Khi nào ổng ngồi xong?” Tôi hỏi.
– Không biết, nhưng có lẽ xong rồi, để tui vào xem. Ông ngồi uống nước đợi chút nhé!

Chưa đầy 1 phút, một thân hình còm cõi vụt ra, hô to: “Ôi quý hóa quá, thiện nhân tới thăm”
Tôi mỉm cười: “Ai da, thiền nhân có khác. Tu tập tinh tấn có khác. Thế bác đang tu thiền, bác hiểu và cắt nghĩa cho tôi chữ thiền là gì được không?”
Bác Ba ngập ngừng: “Mới tập, chưa rõ lắm, chỉ biết là pháp môn của nhà Phật, con đường đi của đạo”
“Phương pháp như thế nào?” Tôi hỏi tiếp.
+ À, thì ngồi kiết già, nhắm mắt lại, không nghĩ ngợi. Tập trung nhất niệm: “Nam mô a di đà phật”. Khoảng 1 tiếng là được. Mà phải giữ thân sạch như ăn chay, diệt dục thì tâm mới thanh tịnh được nhé!”
* Vậy à, thế ông đã thanh tịnh chưa? Tôi nghe nói ngồi thiền sẽ bỏ và buông được cái tôi đúng không?
+ Ừ, mình thấy thanh thản lắm.
* À, nãy tôi tới thấy vợ ông nói là ông không cần bả nữa, bả đang làm đơn xin li dị thì phải? Ai dà, tôi lấy làm tiếc cho ông!
+ Hắn sững cồ: “Cái gì? Nó dám bỏ tao sao? Tao phải vào cho nó biết tay mới được!”
* Nhưng ông có nói là không cần vợ con mà, ông muốn đi tu và xa lánh đời
+ Đúng, nhưng… Nó không được bỏ tao!

Tôi thấy tình hình bất ổn nên vội xin phép ra về. Sau đó nghe đâu hai vợ chồng cãi nhau, bà vợ bỏ về nhà mẹ ruột ở.
Một hôm, tôi nhận được điện thoại của bác Ba: “Alô! Rảnh ghé uống trà chơi nghen!” “Ok, chiều mai 5h tôi ghé” Tôi hẹn lại.
Qua hôm sau theo đúng hẹn tôi tới nhà bác Ba. “Sao rồi, khỏe chứ bác Ba?”
Hắn ra đón tiếp với trạng thái mỏi mệt:
+ Ừ, đang bệnh cảm lạnh, mấy hôm bị sốt cao, mệt quá!
* Mấy hôm không thiền nữa à? Tôi hỏi.
+ Thân xác rệu rã, không khỏe nên tâm vọng vớ vọng vẩn. Mình không sao tập trung được. Chán lắm. À, tôi nhờ Dũng đánh lời cho vợ tôi bảo bả về nhà đi, tôi ở một mình chịu hết nổi rồi!
* Ủa, một mình thì càng thanh tịnh chứ sao?
+ Biết vậy, nhưng không tập trung được bạn ạ! Với lại mì tôm hoài ớn quá!
* Hahaha, muốn thoát tục thì phải trả giá chứ? Tôi chọc.
+ Ừ, tôi biết rồi. Cái giá đó đắt quá. Thôi cứ từ từ mà thoát tục cũng được. Dũng giúp giùm tôi nhé.
* Ok, nhưng chỉ một lần này thôi nhé. Thật ra nói cho bác biết, bác hành thiền chưa đúng pháp đâu?
+ ??? Vậy sao cho đúng?
* Thiền là một trạng thái đưa tâm hồn vào miền không buồn, không vui, không có sắc màu, không tranh chấp, không luận bình suy diễn, bình yên an lạc và ung dung tự tại. Thiền có trong việc đi – đứng – nằm – ngồi. Thiền có trong công ăn việc làm. Thiền là hơi thở của cuộc sống. Ông chỉ cần làm theo nguyên tắc sau là được:
– Luôn hài lòng và vui vẻ với tất cả sự việc hiện tại. Kể cả sinh lão bệnh tử, hãy xem đó là quy luật bất biến và tất có. Mở lòng đón nhận nó.
– Sống thật với chính mình
– Làm những chuyện có lợi cho mình, cho người, giúp đỡ khi người gặp khó khăn trong điều kiện của mình một cách tốt nhất
– Nói và làm phải song hành
– Làm cho tất cả những người xung quanh và quen biết mình được an vui và hạnh phúc.
– Nói tóm lại, “Thiền” cũng tương tự như ông đi xe máy. Khi ông đi xe máy ông phải biết mình đang lái xe và tập trung nhìn vào phần đường mình đang đi. Không được vừa lái xe vừa nghĩ về chuyện khác. Nếu nghĩ về chuyện khác, ông mất tập trung tất sẽ bị tai nạn ngay.

Vì vậy, ngoài việc tập trung để lái xe, ông còn phải khéo léo điều khiển xe sao cho không va đụng vào người khác và ông phải thực hiện và tuân thủ đúng một số quy định của luật an toàn giao thông. Điểm xuất phát thì ai cũng đều có, điểm đến thì tùy nơi ta muốn đến. Lộ trình di chuyển gọi là con đường (hay tạm gọi là Đạo). Cái xe ta điều khiển có thể gán cho thân xác. Tâm hồn hoặc sự suy nghĩ có thể gán cho ý thức. Luật giao thông có thể gán cho kinh sách. Ông sẽ thấy trên đường đi có rất nhiều người, bằng các phương tiện khác nhau họ đi với lộ trình khác ông. Vậy, lộ trình ông đi có đến được đích hay không là do ông quyết định. Mọi cái không có điểm dừng. Khi ta kết thúc một lộ trình, điểm dừng lộ trình này chính là điểm khởi đầu cho một lộ trình mới. Cứ vậy chẳng dừng. Khi ta chết, có thể một thế giới mới đang chờ ta.
+ Ôi, sao tôi thấy ông nói đơn giản mà dễ hiểu nhỉ. Không biết đúng hay sai, nhưng tôi cảm nhận được cái xe máy của tôi nó có lộ trình rồi. Thôi, để tôi qua tự đón vợ về. Ít nhất, tôi phải “tự” qua được “bên ấy” và “tự” giải quyết hậu quả do mình gây nên. Ây da, thì ra lâu nay nghĩ cao siêu quá, té ra đi xe máy cũng là “Thiền” rồi.
* Ừ, cứ vận dụng nhé! Khi đón bả về, có thể hiểu thêm “xe máy” cũng có thể là “bà xã” nhé! Vấn đề là lộ trình đi đến hạnh phúc phải tự mình quyết định. Kakakaka.”
(Truyện nhẹ do Hoàng Dũng Nha Trang kể)

Thật ra thì, có thuật truyện nặng/nhẹ về “thiền” hoặc về gì đi nữa, cũng chỉ để dẫn-nhập cho bạn và tôi, ta bước nhẹ vào hành-trình tư-duy có nhiều điều cần suy-nghĩ. Suy và nghĩ về những sự việc hoặc lập-trường/tư-tưởng của đấng bậc nhà Đạo đang diễn-biến trong/ngoài “Nhà Thờ”, cũng là điều rất đáng làm.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi thẳng vào câu chuyện thường ngày, ngay bây giờ. Truyện ở đây, không chỉ là truyện kể cho có lệ hoặc “kể cho qua ngày đoạn tháng”, có thế thôi. Nhưng, là chuyện thời-sự trong Đạo rất nên bàn, những bảo rằng:

“Buổi lễ đầu-tiên tổ chức ngoài trời, hôm ấy, ở Nam Mỹ, Đức Phanxicô đã thúc-giục các giáo-dân tham-dự hãy nguyện cầu cho “phép lạ” xảy đến với Thượng Hội Đông Giám Mục Rôma tháng 10 năm 2015 này. Ngài nói: Hãy cầu nguyện để Hội thánh ta tìm ra giải-pháp hữu-hiệu cho các vấn-đề khó-khăn đang xảy đến với các gia-đình của thời mình…” (X. Mục tin tức trên tờ The Catholic Weekly ngày 12/7/2015 tr.12, Pray for miracle at synod, pope asks massive crowd)

Nếu bạn và tôi, ta hiểu ý/từ “phép lạ” vào thời-đại hiện-tại theo nghĩa hiếm-hoi, ít-ỏi hoặc khó lòng thấy được, thì chả chắc gì ta có được giải-pháp thoả-đáng nào cho các gia-đình đang bị các “cụ Đạo” hoặc đấng bậc cổ hủ vẫn định-nghĩa, định-hình hay định vị gì đi nữa.

Nói thì nói thế, chứ đấng bậc chủ quản giới truyền-thông thuộc Tông toà rất thánh lại nghĩ khác. Khác thế nào ư? Thế thì, mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm lời lẽ xác-minh sau đây:

“Lm Federico Lombardi, giám-đốc phụ-trách truyền-thông báo chí Hội thánh Công giáo La Mã, lại đã diễn-giải cho các phóng-viên có mặt ở lễ thánh hôm ấy, ý-nghĩa cũng khác nên mới bảo: “Lời của Đức-Giáo Hoàng phải được hiểu như một tư-duy rất thông-thường về công-việc mà Thượng Hội-Đồng Giám-mục bàn bạc hầu giải-quyết, chứ không phải để qui-chiếu một đề-tài nào mà các Giám-mục có thể bàn đến.” (Xem bài đã dẫn ở trên)

Tuy nhiên, hỏi rằng 500.000 người có mặt hôm ấy có thông-hiểu lời của Đức-Thánh-Là-Cha Phanxicô rất hiền-hoà như thế hay không, đó mới là vấn-đề. Hoặc, vấn-đề có thể là: vẫn còn nhiều ý-kiến rất khác biệt trong/ngoài Thượng Hội-đồng Giám mục, và cả ngoài lẫn trong Hội thánh, đó mới là điều cần-thiết.

Về ý-kiến của các đấng bậc lành thánh trong thánh-hội mỗi khi nhìn vào lập-trường bày-tỏ cho mọi người thấy vấn đề đang bàn lại khác nhau, rất nhiều. Trước nhất, phải kể đến đấng bậc rất “trong luồng” ở Sydney vốn dĩ là đấng-bậc từng giải-đáp nhiều thắc-mắc rất Giáo-luật lẫn giáo-điều, như sau:

“Về những điều được quyết-định, tôi nghĩ phần lớn cuộc sống của nhiều người trong chúng ta cũng sẽ tiếp-tục như những ngày xảy ra khi trước. Người nam cũng vẫn lấy vợ nhiều như họ vẫn từng làm khi trước. Chỉ một phần nhỏ số người cùng phái-tính mới làm chuyện lạ là lấy nhau thành vợ chồng cùng giống. Nhưng từ đó, sẽ có những hậu-quả nào đó, ta cần thận-trọng.

Khác biệt đầu-tiên xảy đến, chắc chắn là ý-niệm về hôn-nhân sẽ có thay-đổi. Cho đến nay, việc này chỉ xảy đến giữa đàn ông và đàn bà mà thôi. Nay, lại sẽ thấy sự việc ấy xảy đến với các cặp đồng phái-tính, nên có thể cũng sẽ có những liên-lụy này khác rày xảy đến…

Mặt khác, lại sẽ có những hậu-quả khó lường cho những ai từng chống-đối hôn-nhân cho người cùng phái tính. Ở Canada, là nước trong đó tôn-giáo dựa trên các dịch-vụ xã-hội, như tư-vấn và dịch-vụ nuôi con nuôi, nay đòi phải thích-hợp với luật lệ về hôn-nhân đồng phái-tính và tình-trạng miễn-trừ thuế xưa nay Giáo-hội được thừa-hưởng nay trở-thành vấn-đề cần xét-duyệt.

Ở trường/lớp, các giáo-chức cũng như cá-nhân buộc phải hỗ-trợ hôn-nhân đồng phái-tính và quần-chúng buộc phải ngưng việc chống đối sự việc này, cách công-khai. Do có sự than-phiền gửi đến Toà Hoà-giải Nhân-quyền British Columbia, chính-quyền ở đây loan-báo rằng giáo-án ở trườg/lớp đây đó từ Mẫu-giáo đến lớp 12 phải được coi lại để thêm vào đó các dẫn-giải tích-cực về hôn-nhân đồng phái-tính nữa…

Nói tóm lại, việc ban-hành đạo-luật hôn-nhân đồng phái-tính không chỉ liên-quan mỗi sự “đồng đều trong hôn-nhân” đối với nhiều người, thôi. Nhưng còn về cả một thế giới mới rất quả-cảm, nhìn về mặt tổng-thể.” (X. Lm John Flader, What difference will same-sex marriage have on our lives, The Catholic Weekly 12/7/2015, tr. 22)

Trong khi đó, có đấng bậc khác từng là chủ-quản Tổng Giáo-phận Sydney, lại có ý-nghĩ hơi khang khác, kèm theo lời dặn dò không giống nhiều vị vẫn theo “lề phải” ở Giáo Hội rất Rô ma, rằng:

“Tôi thật rất tiếc, hỏi rằng: Giả như Thượng Hội Đồng Giám mục Rôma đợt hai diễn ra vào tháng 10 năm 2015 quyết kiếm tìm lời đáp nào khác cho xứng-hợp, chắc các nghị-phụ mình phải nghiêm-túc nhìn vào giáo-huấn Hội-thánh liên-quan đến việc coi xem Hội thánh có cho phép mở “rộng cửa” cho các giải-pháp mục-vụ hay không. Đó là việc tôi đang kiếm tìm ở đây, trong tập sách này, không phải để áp-đặt một hiểu/biết, mà để cho thấy là: ta còn nhiều đề-tài để bàn-luận, chứ không chỉ mỗi hai điều duy-nhất là Gia-đình và chuyện Đồng-tính Luyến Ái chứa trong giáo huấn đầy tính khắc-nghiệt của Hội thánh, bấy lâu nay.” (X. Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod, The Crucial Questions: Divorce and Homosexuality, ATF Press 2015, tr. 2)

Thôi thì, trước khi đi tìm hiểu ý-kiến của nhiều vị khác, tưởng cũng nên quay lại với nhạc-bản ở trên để bạn và tôi, ta có đôi ba giây phút nhè nhẹ, lâng lâng mà ngẫm nghĩ, như sau:

“Sương chiều buông rơi mờ mờ rừng chiều dần dần tối.
Núi mây bốn phương giang hồ ngơi đi.
Thuyền lênh đênh trên sông Đà sóng, lướt lướt trên sông.
Nhìn chiều vàng đồi thông thưa vắng.
Lòng bùi ngùi buồn trông theo bóng.
Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân.
Năm tháng trôi qua sóng gió đời.
Chiều chiều nhớ em khôn lòng nguôi.”

(Nguyễn Văn Khánh – bđd)

Diễn-tả chuyện ở trên theo lời vàng từ các bậc thánh-hiền thường dặn-dò, sẽ phải diễn-tả như sau:

Thật vậy,

chính Người là bình an của chúng ta:

Người đã liên kết đôi bên,

dân Do-thái và dân ngoại, thành một;

Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách

là sự thù ghét;

Người đã huỷ bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật.

Như vậy, khi thiết lập hoà bình,

Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất

nơi chính bản thân Người.”

(Êphêsô 2: 14-15)

Và để diễn rộng tư-tưởng này, đấng bậc lành thánh khác, lại đã qui về lời lẽ rất như sau:

“Thánh Phaolô nói: Đức Giêsu nối kết người Do Thái với dân ngoại, là để tất cả chúng ta cùng nhau tạo thành gia đình thân thương. Đầm ấm. Thánh nhân quyết bẻ gẫy mọi rào cản gây phân rẽ các thành phần dân Chúa, trong cộng đoàn. Thánh nhân dùng hình ảnh bức tường ngăn cách, của đền thờ.

Quả thật, Đền Thờ là công trình xây cất có nhiều tường. Mỗi bức tường, làm thành rào cản ngăn cách, hạn chế mọi kết đoàn, hoà hợp. Bên ngoài tường, nhiều người không thể đến được. Có tường, chỉ dành cho dân ngoại. Có tường, cho phụ nữ. Có tường cho đàn ông thanh niên. Có tường chỉ để cho các vị mục tử. Thậm chí, có tường còn cản ngăn không để ta đến được với Đấng Thánh ở trên cao. Như nơi  dành cho vị Thượng tế cao vút, mỗi năm chỉ một lần.

Bằng vào cái chết trên thập tự, Đức Giêsu đã phá bỏ mọi tường rào phân chia, ngăn cách. Tường, của hờn căm. Chia rẽ. Bằng vào việc sống lại, Ngài tạo ra Con Người Mới. Và, gia đình mới. Gia đình, không dựa trên máu mủ. Chủng tộc. Cũng không dựa vào dân tộc tính. Giới tính. Giai cấp. Ngài phá huỷ mọi tường thành ngăn cách. Tức, tường rào chỉ nhằm phân cách/rẽ chia nhóm này với nhóm khác.

Giáo huấn của Đức Giêsu nhằm đạt đến cả người Do Thái lẫn dân ngoại. Cả nam lẫn nữ. Cả người công chính, lẫn phạm nhân. Nô lệ lẫn tự do. Người tật bệnh, lẫn kẻ lành lặn. Ngài gọi mời tất cả mọi người chúng ta hãy về cùng một gia đình, gia đình của Ngài. Gia đình của Ngài gồm có Chúa Cha và ở đó, tất cả thành viên đều là anh em, chị em với nhau. Rẽ chia, là tà thần/ác quỷ chỉ chực ngăn chặn mọi người đến với nhau, trong chung sống an bình và hạnh phúc. Rẽ chia, là kẻ thù ngăn chặn ý định của Chúa muốn thu thập mọi người về với gia đình với Thân Mình của Chúa.

Điều mọi người trong gia đình Chúa cần làm, là phải nói tốt cho nhau về các Giám mục/linh mục, cha mẹ hoặc thành viên trong gia đình, tạo bình an. Hãy phá bỏ mọi rào cản rẽ chia đem mọi người về lại với nhau trong tình thương, qua và nhờ Đức Giêsu. Vì, tất cả đều có cùng con đường. Cùng một Thần Khí để đến với Cha, như đoạn cuối bài đọc 2, đã nhắc nhớ.” (Xem Lm Frank Doyle sj, Suy Niệm Lời Ngài năm B, nxb Tôn Giáo 2011, tr. 180-181)

Cuối cùng ra, ta bàn chuyện “các gia-đình có vấn-đề” này khác, tưởng cũng nên quay lại với ý/tứ của Đức Phanxicô hôm ấy, có những lời như sau:

“Trong bài chia-sẻ vào thánh lễ Thứ Hai hôm ấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô có đề-cập đến điều mà ngài gọi là “phép lạ” tại tiệc cưới Cana, ngài có khuyến-khích cộng-đồng dân Chúa hãy theo gương lành của Đức Maria từng làm, rằng: “Mẹ dạy ta hãy đặt gia-đình mình trong tay Chúa, để rồi sẽ hiệp lòng cầu nguyện, nhen nhúm niềm hy-vọng cốt cho ta thấy rằng mọi ưu-tư của ta cũng là quan-ngại của Chúa”. Đức Giáo Hoàng lại cũng nói: “Gia-đình là bệnh-viện, trường/lớp gần cận nhất cho giới trẻ và cũng là mái ấm/cơ ngơi cho bậc cao-niên, nữa.”

Đức Phanxicô còn nhắc mọi người hãy nhớ rằng: Gia-đình là ‘Giáo-hội nội-địa’, nên vẫn cần ta nguyện cầu để có thể gỡ bỏ mọi ưu-tư, quan-ngại trong đời mình. Ngài lại thêm: “Cuộc sống gia-đình, giống như tại Cana, “phép lạ” luôn xảy đến khi ta sở-hữu ít sự vật. Thế nên, là tín-hữu, ta hãy giùm giúp các gia-đình nào đang rối-bời về nhiều thứ, cả những thứ, những sự như “người nhà hết rượu để đãi đằng”, giùm giúp những ai đang uống thứ nước của sự nản lòng, tuyệt vọng. Với gia-đình nào tuân theo hiệu-lệnh hoặc lời khuyên của Đức Maria và làm những gì Đức Giêsu truyền làm, thì chắc chắn rượu ngon sẽ có ngay cho họ, cho mọi người.” (X. Mục tin tức trên tờ The Catholic Weekly ngày 12/7/2015 tr.12, Pray for miracle at synod, pope asks massive crowd)

Nói tóm lại, có bàn gì thì bàn, bàn về gia-đình thánh nho nhỏ của Giáo-hội, tưởng cũng nên hướng về gia-đình rộng lớn là Vương-Quốc-Nước-Trời từng được Đức Giêsu chủ-trương khi Ngài bảo ban dân con mọi người ở Do-thái.

Nói cho cùng, Vương-Quốc-Nước-Trời rất gia-đình ở thánh hội vẫn là và phải là như nhận-định của bậc thày dạy thần-học ở Đại-học De Paul, Chicago Hoa kỳ, như sau:

“Với Đức Giêsu, Vương Quốc Nước Trời được mô-tả bằng ảnh-hình của việc sửa soạn bàn tiệc có chỗ ngồi hẳn-hoi. “Tiệc Bàn Rộng Mở” không phân-biệt một ai, lại đã diễn-tả một xã-hội thu nhỏ không kỳ-thị. Và, quan-niệm cũng như thị-kiến này, trên căn-bản, đã chạm phải giá-trị nền-tảng của nền văn-hoá Địa-Trung-Hải, thời xưa cũ. Cũng không thể bảo: có thể cũng hơi sớm, nếu có ai đề-nghị ta nên nhận ra được sự giận-dữ kéo theo sau việc ‘ngồi cùng bàn’ còn mới mẻ, vào thời ấy. Đó, cũng là một trong các lý-do khiến họ bắt giam và xử trảm Ngài, không cho Ngài được hoạt-động giảng-rao/giùm-giúp người nghèo-khó/cùng quẫn nữa.” (Xem thêm John Dominic Crossan, Who is Jesus WJK 1996, tr.40-59)

Nói cho cùng, bàn về gia-đình mang tính-chất Vương-Quốc-Nước-Trời, trên thực-tế, ta cũng đừng nên quên những truyện kể nhè nhẹ có tính ‘tiếu-lâm-chay’ để mỗi lần nhớ, tôi và bạn, ta sẽ tủm tỉm cười vào buổi tuối, lúc khó ngủ cứ lấy sách “phiếm” ra đọ cho dễ ngũ, như sau:

“Truyện kể gia đình có vợ/chồng thuận-hoà vì luôn giữ bí-kíp sau đây:

Trên đời này, có hai việc khó nhất:

  1. 1. Là, nhét tư-tưởng của người này vào đầu của người khác.
  2. 2. Là, nhét tiền của người khác vào túi của mình.

Nếu:

1. Ai làm được điều số 1 thì ta gọi đó là …Thày

2. Ai làm được điều thứ 2 thành-công thì ta gọi đó là…chủ.

Nhưng, nếu có người làm được cả 2 điều nói trên mà thành-công thì ta gọi đó là…Vợ.”

Gọi gì thì gọi. Làm gì thì làm, hãy cứ làm và cứ gọi nhau trong tình thân thương của người anh người chị trong Vương Quốc Nước Trời, ở nơi đó mọi người vẫn cứ hát lên câu ca nhè nhẹ, rằng:

“Nhìn chiều vàng đồi thông thưa vắng.
Lòng bùi ngùi buồn trông theo bóng.
Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân.
Năm tháng trôi qua sóng gió đời.
Chiều chiều nhớ em khôn lòng nguôi.”

(Nguyễn Văn Khánh – bđd)

Hát thế rồi, nay bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang nhìn về phía trước rồi “đầu cao mắt sáng” sống xứng-đáng làm thành viên Nước Trời, ở đây, bây giờ.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn tâm-niệmn cuộc sống

Của mình và của người

Nên như thế.

Cô gái Úc gốc Việt thay đổi cả thế giới bằng công nghệ

Cô gái Úc gốc Việt thay đổi cả thế giới bằng công nghệ

Chỉ mới 16 tuổi, Tan Le đã được nhận vào Đại học Monash, rồi tốt nghiệp loại ưu chỉ trong vòng 3 năm ở cả hai ngành Luật và Thương mại.

Năm 1998, lần đầu tiên tại Úc, một nữ sinh viên gốc Việt 18 tuổi đã đạt danh hiệu “The Young Australian of the Year”, giải thưởng thường niên dành cho một cá nhân ưu tú dưới 30 tuổi có ảnh hưởng nhất trong xã hội.

Cô gái ấy tên là Lê Thị Thái Tần (Tan Le), vị Chủ tịch trẻ nhất của Trung tâm Dịch vụ Nhân lực Việt – Úc. Ở tuổi 15, Tần đã lãnh đạo nhiều nhóm thiện nguyện giúp đỡ hàng trăm dân nhập cư tìm việc và ổn định cuộc sống trên đất Úc.

Dù bận rộn với cộng đồng, nhưng cô vẫn hoàn thành xuất sắc chương trình trung học ngay từ tuổi 16, vào thẳng Đại học Monash, giành học bổng toàn phần của KPMG để học 2 ngành Luật và Thương mại.

Đến tuổi đôi mươi, sự nghiệp của Tần đã vững vàng khi cô là một luật sư của hãng luật hàng đầu thế giới FreeHills, vừa đảm nhận nhiều chức vụ trong Chính phủ Úc và liên tục được mời làm đại sứ của nhiều chuyến đi ngoại giao.

Song, kỳ lạ là 12 năm sau, cả thế giới lại dồn sự chú ý cả vào Tần như ngôi sao khởi nghiệp sáng nhất tại Thung lũng Sillicon, Mỹ.

Từ năm 2003, cô đồng sáng lập Emotiv System cùng Ðỗ Hoài Nam, với ý tưởng dùng ý nghĩ và cảm xúc để điều khiển thiết bị điện tử. Đến năm 2010, ý tưởng đó thành hiện thực với chiếc mũ đọc sóng não EPOC của Emotiv System gây sốt toàn cầu, thu về hơn 10 triệu USD.

EPOC hiện được ứng dụng rộng khắp các lĩnh vực như trò chơi điện tử, nghiên cứu khoa học và điều trị bệnh liên quan đến não bộ.

Khát khao được công nhận

Rời Việt Nam từ khi 4 tuổi, Tần cùng gia đình đến Úc bắt đầu cuộc sống mới hệt như nhiều dân nhập cư khác: nghèo khổ và túng thiếu. “Chúng tôi thường mang hai đôi tất. Chủ yếu là chiếc này để bịt lỗ thủng của chiếc kia,” Tần hồi tưởng. Nhưng đói khổ không ám ảnh cô bằng sự ghẻ lạnh của bạn bè cùng lớp. Tần từng chờ đợi giờ học trôi qua nhanh để trốn vào thư viện một mình. “Con bé gầy rộc đi vì nỗi sợ đó,” mẹ Tần nhớ lại.

Hoàn cảnh đó lại nảy sinh trong Tần hai phản ứng thú vị. Một mặt, cô tự nhủ “ta sẽ vượt qua tất cả các người” bằng cách ép mình học. Kết quả là cô học xuất sắc đến mức kết thúc sớm chương trình học hơn so bạn đồng lứa. Chỉ mới 16 tuổi, cô đã được nhận vào Đại học Monash, rồi tốt nghiệp loại ưu chỉ trong vòng 3 năm ở cả hai ngành Luật và Thương mại.

Mặt khác, “Tần quan tâm đặc biệt về tác động của cộng đồng lên mỗi cá nhân,” thầy giáo tiếng Anh Ruth Willis nhận xét. Chính môi trường cô lập ấy đã vô tình nung nấu trong Tần khát vọng kết nối cộng đồng. Cô hạ quyết tâm “thay đổi nước Úc thành một nơi tốt đẹp hơn để sống và làm việc”.

Kể từ lớp 9 (15 tuổi), Tần không còn trốn trong thư viện nữa mà nhiệt tình bước ra giúp đỡ cộng đồng nhập cư tại vùng Footscray (phía tây Melbourne).  Trong vòng 4 năm sau đó, Tần đã được bầu làm Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại vùng Footscray và Trung tâm Dịch vụ Nhân lực Việt – Úc, chuyên hỗ trợ dân nhập cư tìm việc và ổn định cuộc sống trên đất khách.

Sau 15 năm, xứ người mà Tần tìm mọi cách hòa nhập ấy cuối cùng đã đón nhận cô. Chính người dân Úc đã bầu cô là gương mặt trẻ tiêu biểu nhất của quốc gia họ vào năm 1987. Cuộc đời và cống hiến của cô gái Việt trở thành phim tư liệu lưu ở Bảo tàng Úc cho thế hệ trẻ noi theo. Riêng cô đã nhận ra rằng, “à một kẻ không được thừa nhận vẫn ổn. Thậm chí tôi xem đó là một món quà. Là kẻ được thừa nhận, bạn dễ dàng chấp nhận thành kiến bao quanh. Riêng tôi lại bị đẩy ra, nhưng đối mặt với chúng không chút sợ hãi”.

“Đứa con” Emotiv System

Qua những chuyến công tác xã hội và hoạt động ngoại giao ở nhiều nước, Tần  gặp gỡ nhiều người sống theo đam mê hơn vì mưu sinh. Nghề luật sư không còn là mảnh ghép khớp với lựa chọn của cô gái đa tài này nữa.

Năm 2003, cô táo bạo rời Úc đến Thung lũng Silicon, Mỹ cùng 3 người bạn mở ra công ty Emotiv System. Tần tin công nghệ là cách nhanh nhất để thay đổi cả thế giới. Emotiv System ấp ủ ý định cho ra đời những thiết bị điều khiển mọi thứ bằng suy nghĩ và cảm xúc của con người.

Đội ngũ Emotiv System mất 7 năm trời nghiên cứu sản phẩm đầu tiên là Emotiv EPOC, nâng cấp từ công nghệ đo điện não (EGG).

Năm 2010 đánh dấu bước ngoặt lớn cho cả Emotiv System và cả nền công nghệ thế giới. Emotiv EPOC ra đời như một chiếc mũ EGG nhỏ gọn, kèm với 16 nút điện cực ghi lại mọi hoạt động trong não và cử chỉ gương mặt.

Giả sử bạn muốn kéo rèm cửa, suy nghĩ này sẽ truyền tín hiệu trong não được ghi vào EPOC. Lần tới, khi ý định kéo rèm xuất hiện trong đầu, đường truyền lần trước ngay lập tức thông qua EPOC ra lệnh cho máy tính kéo rèm từ xa, thay vì kéo tay hay bấm nút.

Ngoài ra, mấu chốt khiến Emotiv EPOC trở nên thông dụng vì nó chỉ tốn khoảng 300 USD, rẻ gấp nhiều lần so với một chiếc máy EGG hàng chục triệu USD ở phòng thí nghiệm. Emotiv EPOC bắt đầu được ứng dụng rộng rãi trong y học (cho phép bệnh nhân điều khiển xe lăn bằng suy nghĩ hoặc giao tiếp dễ dàng hơn với người thân) hay nguồn cảm hứng mới cho trò chơi điện tử.

Trong khi Emotiv EPOC đang thành tâm điểm trên thế giới, Tần vẫn chưa dừng lại.

Năm 2013, sản phẩm thứ hai Emotiv Insight đã gọi vốn thành công hơn 1,6 triệu USD trên Kickstarter, dự kiến ra thị trường vào cuối 2015. Đi kèm tính năng đã có với Emotiv EPOC, Emotiv Insight nghiêng về ứng dụng y học.

Thiết bị này có thể thu thập và phân tích hoạt động trong não từng ngày để phát hiện sớm nhất các dấu hiệu bệnh lý hay chấn thương. Ngoài ra, dữ liệu thu thập từ người dùng trên khắp thế giới sẽ thành nguồn nghiên cứu não bộ lớn nhất từ trước đến nay.

Với Tần, mảnh ghép Emotiv Insight liệu có là miếng ghép cuối cùng? Tần nhìn nhận ứng dụng đã mở ra chân trời mới trong công nghệ: “Những gì chúng tôi làm chỉ mới chạm vào phần nổi của vô vàn ứng dụng khác mà thôi!”.

Việt Trinh/Theo Nhịp cầu đầu tư

KHÔNG. Bài suy niệm

KHÔNG . Bài suy niệm

Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn yêu em nữa em ơi.

Tình đời thay trắng đổi đen.  Tình đời còn lắm bon chen.
Tình đời còn lắm đam mê.  Nên tình còn lắm ê chề.

Tình mình có nghĩa gì đâu.  Tình mình đã lắm thương đau.
Tình mình gian dối cho nhau.  Thôi đành hẹn lại kiếp sau.

Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa.
Không!  Không!  Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa em ơi…..

Nguyễn Ánh 9

****************************************

Có lẽ không người Việt nào sống ở Sài gòn vào những năm 1969-1970 mà không biết đến nhạc phẩm “Không” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Bản nhạc ra đời như một câu trả lời cho thắc mắc của Khánh Ly: “Ông có còn thương người ấy?”  Người ấy là mối tình đầu khi nhạc sĩ mới 18 tuổi.  Hai người tình thơ trẻ bị cuốn vào niềm đam mê choáng váng và mãnh liệt.  Nhưng dường như là số phận, những mối tình quá đẹp, thường khó vẹn toàn.  Gia đình cô gái không đồng ý cho con mình yêu anh nhạc sĩ nghèo, sống lang bạt kỳ hồ.  Ngăn không được lòng đôi trẻ, cha mẹ cô dùng kế ly gián, gây nghi ngờ hờn giận cho hai người, rồi đưa cô gái sang Pháp sống, hòng ngăn cản mối tình “rồ dại” với chàng nhạc sĩ.

Năm 1965, người nhạc sĩ lập gia đình và tin tưởng những giông bão của mối tình đầu sẽ ngủ yên.  Nhưng thực tế, trái tim ông đã không còn cảm giác sau mối tình đầu, bởi tình yêu đã vĩnh viễn câm lặng.  Năm 1974, ông gặp lại người tình xưa khi cô về Sài Gòn, cô vẫn một mình, vẫn yêu ông và chẳng oán trách gì.  Đã lỡ làng, có xót xa thì cũng đành sống cho hết bi kịch một kiếp người.  Họ lại xa nhau, lần này là mãi mãi, để vùi chôn những dấu yêu xưa cũ vào đáy lòng mình, nhức buốt, cho tới hơi thở cuối cùng.

Ca khúc “Không” được Khánh Ly thu lần đầu trên đĩa nhựa Tình ca quê hương và cũng chính nhạc phẩm “Không” đã đưa Elvis Phương “lên sao” ở thập kỷ 70, sau đó nổi tiếng đến mức công chúng gọi Nguyễn Ánh 9 là ông “Không”.

****************************************

Ở hải ngoại, tôi thường được nghe bài“Không” đã được hòa âm (remix) lại sau này với điệu nhạc Disco giật gân, nhanh vui và dồn dập.  Trong đĩa video ca nhạc Asia, ca sĩ Mai Lệ Huyền đã lột tả tận chân chữ “không” của bài nhạc với khuôn mặt lạnh lùng, một cái ngoắt đầu qủa quyết, cái khoát tay mạnh mẽ, đôi môi mím chặt, thêm với ánh mắt hờn căm của kẻ bị tình phụ.  Tất cả được phụ họa thêm bằng những pha ánh sáng trắng đen chớp tắt liên hồi, tiếng trống chát chúa từng nhịp một.  “Không”, dứt khoát là không!  Không còn yêu thương, luyến tiếc!  Cũng chẳng tiếc thương chi mối tình đã lắm thương đau.  Dù chẳng biết ai gian dối với ai?  Dù chẳng hiểu mối tình đang đẹp sao trở thành “có nghĩa gì đâu”? Ai là kẻ bon chen và gây ra lắm ê chề?  Chẳng hiểu vì sao, người nghe chỉ cảm nhận được một âm điệu “không” dứt khoát và rõ ràng.  Một tiếng “không” chát chúa chói tai!  Một tiếng “không” lạnh lùng bẽ bàng!  Không là không!  Trăm lần không, ngàn lần không!  Đừng hy vọng đợi chờ!  Đừng năn nỉ luyến lưu….  Nếu có chăng, chỉ là kiếp sau!  Nghe tiếng “không” mạnh mẽ quyết liệt này, thì dù chưa muốn chia tay, dù còn vấn vương, người yêu cũng đành phải ngậm ngùi ra đi…

Trong một dịp tình cờ tôi được đọc một bài phỏng vấn của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 về tác phẩm “Không” bất hủ này. Thật ngạc nhiên khi khám phá ra cả một tâm tư thầm kín của tác giả gởi gắm trong hồn thơ nốt nhạc.  Đó không phải là một chữ “không” dứt khoát quyết liệt, bẽ bàng như người ta thường được nghe và hiểu sau này.  Bản nhạc nguyên thủy được soạn với điệu Slow Rock lả lướt, tình tứ du dương, tiếng nhạc réo rắt nhẹ nhàng diễn tả một chữ “không” đầy ẩn ý mời gọi.  Hiểu chữ “không” này như thế nào, điều đó tùy thuộc vào độ rung cảm của tâm hồn và nhịp đập của con tim.  Tim tôi và tim em, hai kẻ trong cuộc đã từng một thời yêu thương!  Với tác giả, đó là một chữ “không” giận lẫy, đầy trách móc nhưng không dứt khoát.  Một chữ “không” để hở!  Nói “không” nhưng không phải là “không!”. “Không” đó nhưng đầy hàm ý chờ đợi, đẩy em đi nhưng lại muốn kéo em về.  Mấy nốt cuối cùng của điệp khúc “tôi không còn yêu em nữa, em ơi…..” được kéo dài ra, luyến láy nói lên cái tâm tình xao xuyến chờ đợi, như dằng co, như muốn kéo áo người đừng đi.  Nếu tình đã gian dối, lắm thương đau, nhiều ê chề thì hẹn chi đến kiếp sau?  Mâu thuẫn!  Gian dối một kiếp, một đời chưa đủ hay sao?  Lúc giận nói thế, nhưng không phải thế!  Bởi còn yêu mới giận.  Nói “không” để lòng bớt đau, nói giận để lòng bớt thương, nói hận để lòng bớt nhớ!  Phủ định để tự khẳng định!  Người yêu có hiểu lòng kẻ nói “không”? Người đi có hiểu lòng kẻ ở?  Nghĩa chữ “không” vời vợi đầy đau khổ, tuyệt vọng nhưng vẫn chờ đợi, oán trách nhưng vẫn yêu đậm sâu.  Ai kia nếu có hiểu mới gọi là yêu!

Chữ “không” huyền bí của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong ca khúc “Không” đã được thế hệ sau hòa âm lại, hiểu theo nghĩa trắng đen của thời đại, nhưng lại lệch lạc với tâm tình của tác giả gởi gắm trong đó.  Cả một con tim sôi sục yêu thương được diễn tả bằng giọng hờn giận nhẹ nhàng của điệu nhạc Slow Rock tình tứ, trách đó nhưng yêu đó, giận đấy nhưng vẫn đợi đây đã được chuyển sang nhịp giật gân, dồn dập như hối thúc người ta đi cho lẹ, như muốn thanh toán mối tình cho xong để còn tính chuyện khác.  Cả một trời ẩn ý được che dấu dưới chữ “không” ai oán não nùng, nào có ai thấu hiểu nỗi lòng của kẻ nói chữ “không” nếu không được nghe chính tác giả tâm sự?

****************************************

Chữ “không” huyền bí nhiều ý làm tôi liên tưởng đến chữ “không” của Thiên Chúa.  Thưở ban sơ, Ngài đã nói “không”, con người sẽ phải chết và đuổi ra khỏi vườn địa đàng sau khi loài người phạm tội bất tuân.  Nhưng sau đó, Con Một của Thiên Chúa lại chết để con người được sống.  Quả là một chữ “không” mâu thuẫn!  Một cái chết ô nhục khổ đau trên thập tự đồi Golgotha năm xưa của Chiên Thiên Chúa đã nói lên bao điều.  Không những thế, Người Con Một đó đã đến thế gian truyền rao một thông điệp về tình yêu thâm sâu vô biên của Thiên Chúa Cha.  Rằng Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Người Con Duy Nhất cho thế gian.  Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người đã dám thí mạng sống mình vì bằng hữu.  Ôi, một chữ “yêu” nhiệm mầu!  Một Thiên Chúa quyền năng sáng tạo muôn loài muôn vật từ hư không, nhưng lại bó tay “không” thể cứu chuộc con người nếu “không” có sự hợp tác của con người.  Một chữ “không” khó hiểu!

Thật không dễ dàng để đối diện với chữ “không” phũ phàng của Đấng mà mình đã đặt trọn tin yêu!  Đã bao lần, Thiên Chúa nói “không” với tôi trong cuộc sống này, mỗi khi tôi xin nhưng không được, tìm nhưng không thấy, gõ cửa nhưng không được mở.  Tôi phải hiểu nghĩa chữ “không” này như thế nào đây?  Xin thành công chỉ gặp toàn thất bại, xin Chúa chữa lành bịnh tật thì thấy bịnh nặng thêm, xin hạnh phúc lại gặp toàn khổ đau.  Xin cho đường đời êm ả bên những đứa con ngoan hiền thì gia đình tan tác, con cái vô đạo nghĩa.  Tại sao và tại sao?  Ngay cả khi tôi xin những điều tốt lành cho phần hồn mình và của những người thân thương, Thiên Chúa vẫn nói: “Không, chưa phải lúc!”

Thật không dễ dàng để thông hiểu chữ “không” đầy cay đắng của Thượng Đế quyền uy.  Tôi cần phải nhìn lên thập giá Giêsu, ngước mặt lên trời cao để nhìn thẳng vào ánh mắt của Đấng đã nói “không”, để hiểu tâm tình của Ngài đằng sau chữ “không” đáng ghét kia.  Thiên Chúa cũng đã từng nói “không” với Người Con duy nhất của Ngài trong vườn Cây Dầu.  Ngài đã “không” cất chén đắng cho Giêsu nhưng Ngài ban thêm sức mạnh và nguồn an ủi thiêng liêng cho Giêsu.

Trong phút giây đối đầu với sự chết, Giêsu cũng đã từng có tâm tình bị bỏ rơi bởi Người Cha yêu dấu, nhưng Ngài đã không bỏ cuộc và sau cùng Ngài đã chiến thắng.  Trong men cay chua chát của thất bại, lạ thay tôi nhận ra đức khiêm nhường trổ sinh hoa trái.  Trong thể xác ốm yếu bịnh hoạn, tôi thấy linh hồn mình tỉnh thức sống gần Chúa hơn.  Dãy dụa trong bể khổ, tôi thấy mình chán ghét thế gian hào nhoáng, lòng hướng về một hạnh phúc viên miễn hơn.  Đi trên đường đời gập ghềnh sóng gió, người mang đầy thương tích, tôi thấy mình bám chặt vào Chúa hơn và ngỡ ngàng nhận ra đức tin cậy mến của mình sáng rực như bó đuốc trong đêm đen.  Phải chăng qua chén đắng của chữ “không”, Thiên Chúa đang dạy dỗ tôi nhiều điều.  Ngài giúp tôi lớn hơn trong đời sống thiêng liêng và mở mắt tâm hồn tôi để nhìn thấy được những điều cao cả thuộc về thượng giới hơn?

Có lẽ khi chữ “yêu” kết hợp với chữ “không” sẽ giúp người trong cuộc hiểu rõ nghĩa từ thâm sâu huyền nhiệm của chữ “không” hơn.  Tùy theo mức độ “yêu” để hiểu nghĩa chữ “không”.  “Không” đi một mình thì thuần túy chỉ là “không” đúng nghĩa trắng đen, chẳng cần phải“yêu” cũng có thể hiểu.  Nhưng “không” đi với hơi thở của con tim, với ánh mắt tha thiết yêu thương, với độ rung cảm của linh hồn, chữ “không” chắc hẳn không còn là “không” nữa.  Người trong cuộc sẽ hiểu tại sao Thiên Chúa lại nói “không” với mình, khi Thiên Chúa đã dám cho đi cái qúy nhất của Ngài.  Chắc hẳn phải có lý do ẩn khuất đằng sau chữ “không” đắng chát kia.  Nghĩa chữ “không” vời vợi khó hiểu!  Có lẽ cần phải “yêu” nhiều hơn nữa mới có thể hiểu được chữ “không” của Thiên Chúa Tình Yêu.

Phêrô và Giuđa, cả hai cùng theo Thầy ròng rã ba năm trời, trực tiếp nghe những lời giáo huấn từ miệng Thầy, hiểu rõ tấm lòng yêu thương vị tha của trái tim Thầy.  Đến giây phút thử thách, cả hai cùng phản bội tình yêu của người Thầy yêu dấu.  Một người bán Thày cho các tư tế, còn một thì leo lẻo chối Thày giữa đám đông.  Với tình yêu, sự phản bội nào cũng xấu xa như nhau.  Cuối con đường, cả hai đã hoà âm lại chữ “không” theo hai nghĩa khác nhau.  Giuđa hiểu rằng Thầy đã nói “không” với mình.  Thế là hết, là xong mối tình thầy trò ba năm!  Không còn con đường nào khác cho kẻ phản bội, và ông đã đi đến ngõ cụt của chữ “không” lối thoát đó bằng cái chết thắt cổ của mình.  Phêrô thì can đảm hơn để nhìn lên ánh mắt của Thầy và đọc được một sứ điệp trái ngược.  “Không, cho dù con xấu xa phản bội, Thầy vẫn yêu thương con.  Không, đừng bỏ đi, con ơi!  Cho dù con vấp ngã chối Thầy nhưng Tình Yêu chấp nhận cái tốt lẫn cái xấu.  Không, con phải đứng lên bằng chính đôi chân của mình!  Cho dù con phản bội nhưng Thầy vẫn thứ tha và chờ đợi…  Không, con không được bỏ cuộc!  Thầy và anh em vẫn cần con và mong con quay về….” Thế là Phêrô cất bước trở lại với anh em, với sứ mạng Thầy đã giao phó và cuối cùng đã chết vì người Thầy mình đã một thời chối bỏ.  Phải chăng vì Phêrô yêu Thầy hơn Giuđa yêu Thầy, nên ông hiểu nghĩa chữ “không” đúng với tâm tình của Thầy hơn?

Hai cách hiểu chữ “không” khác nhau dẫn đến hai kết cục khác nhau.  Dù hai cách hiểu hay nghìn cách hiểu, ý tưởng của tác giả cũng chỉ có một.  Thiên Chúa là Đấng trung thành với lời hứa, với những gì Ngài đã nói.  Ngài hằng mong muốn nhân loại nhìn lên cái chết ô nhục đau thương của Người Con Một trên thập giá, để hiểu cho đúng ý nghĩa yêu thương của trời cao, để mỗi khi gặp phải chữ “không” lạnh lùng trong cuộc sống thì đừng vội tuyệt vọng chán nản, đừng vội bỏ cuộc và  đừng bao giờ diễn dịch chữ “không” cao siêu nhiệm mầu của Thiên Chúa theo ý phàm tục riêng mình.  Tác giả Nguyễn Ánh 9 trong bài phỏng vấn đã kêu gọi ca sĩ khi trình bày nhạc phẩm “Không”, hãy tôn trọng tâm tình của người viết nhạc và linh hồn bài hát.  Ca sĩ là người dùng nghệ thuật âm nhạc, giọng hát, cách diễn đạt để lột tả cho trọn vẹn ý tưởng của tác giả gởi gắm trong ca khúc đó chứ không phải phiên dịch lại theo ý mình.  Cùng là một thân phận nghệ sĩ, chắc hẳn Thiên Chúa cũng có một tâm tình như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.  Mong sao thế nhân hiểu cho đúng, diễn tả cho trọn cái tâm tình của Thiên Chúa gởi gắm trong những tác phẩm nghệ thuật của Ngài, mà đỉnh cao của những tác phẩm nghệ thuật đó chính là cây thánh giá cheo leo trên đồi Golgotha năm xưa và Lời Yêu Thương được gói ghém trong cuốn Thánh Kinh.

Qua tình khúc “Không” của điệu Slock Rock, người nghe cảm nhận được nỗi đau, vị chát, men cay, sự thất bại ê chề của người nói chữ “không”, hơn là kẻ được nghe chữ “không”. Mâu thuẫn thay, tôi lại cảm nhận được nỗi tuyệt vọng cay đắng của người nghe chữ “không”, nhưng chưa bao giờ tôi thử tìm hiểu xem cõi lòng của Thiên Chúa ra sao khi Ngài phải nói chữ “không” với tôi!  Đến bao giờ tôi mới hiểu được tâm sự của người nói chữ “không“?  Chẳng biết tôi có thể hiểu được hay không, khi tôi cứ mãi gục xuống trong cơn đau của mình?

****************************************

Lạy Thiên Chúa là Đấng thấu hiểu mọi sự, con viết bài này cho vơi bớt cơn đau,  cho quên nỗi ưu phiền vì Chúa cũng đang nói “không” với con trong lúc này đây.  Linh hồn con đang bên bờ tuyệt vọng vì không hiểu sao Chúa cứ mãi nói “không”! Con không muốn xin gì thêm nữa vì đã quá mỏi mệt, vì dư âm đắng nghét của chữ “không” vẫn còn đọng nơi đầu môi.  Con chỉ xin một điều duy nhất là cho con biết luôn cậy trông và phó thác vào tình yêu thẳm sâu nhiệm mầu của Chúa.  Gọi là nhiệm mầu vì đôi lúc con không hiểu được tình yêu đó.  Phần còn lại, Chúa muốn cho gì thì cho, vì Chúa đã trao ban Người Con duy nhất của Ngài cho con rồi thì chắc Chúa chẳng tiếc gì những thứ khác nữa.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Thời Đại Bịp

Thời Đại Bịp

Nguoi-viet.com

Minh Văn

Lịch sử Việt Nam đã và đang tồn tại một thời đại như vậy, điều mà chúng ta gọi là: Thời Đại Bịp. Mới hay rằng, thế gian này chuyện ngược đời đến mấy cũng có thể xảy ra, sự thể đã 70 năm nay rồi. Có thể nói, dân ta đã chịu đựng nổi bất công nhiều như sao trên trời, dân tộc ta phải hứng chịu một cơn đại hồng thủy phá hủy văn hóa ngàn năm.

Đảng CSVN dùng chế độ ‘công an trị’ để đàn áp những tiếng nói khác mình.
(Hình minh họa: Getty Images)

Nhà nước hiện nay nói rằng, họ đang xây dựng sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Thực tế thì như thế nào?

Họ (nhà nước) lấy của dân 10 đồng, rồi lại chia cho dân 2 đồng. Sau đó hệ thống truyền thông làm rùm beng lên, cho đó là công lao trời biển của đảng. Người dân cho dù nhìn thấy bất công, có phát hiện ra trò bịp thì cũng đành phải im lặng. Đảng sẽ giành một thái độ trìu mến cho những người biết sợ và phục tùng, và đàn áp bất cứ ai dám phản đối. Lâu dần xã hội hình thành một thói quen ứng xử: Nếu người dân chịu để cho đảng bóc lột và lừa dối thì mới được đảng tôn trọng.

Theo họ lý luận, đảng là người đầy tớ trung thành, nhân dân là chủ, nhưng người chủ đó phải chấp nhận các nguyên tắc sau: Đảng nói gì, dân cũng không được cãi lại, đó mới là một công dân tốt. Khi nhà nước ban hành các chủ trương chính sách, dân chỉ việc ngoan ngoãn làm theo, không phản đối và thắc mắc, có như vậy mới không phải là “phản động.” Trung ương bao giờ cũng đúng, chỉ có cấp dưới làm sai và ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa tốt, vì vậy mà đảng không bao giờ phải chịu trách nhiệm. Đảng còn nói rằng, mọi việc người dân không cần phải quan tâm, đã có đảng và nhà nước lo tất cả.

Người dân cúi đầu sợ hãi mà tuân thủ các nguyên tắc do đảng đặt ra, kết quả là dân tình khốn khổ, mất hết nhân quyền, nước mất nhà tan.

Với một sự vô lý to lớn như vậy, đảng biết rằng sẽ có ngày người dân nổi lên để mà đòi tự do đa đảng. Nhằm ngăn chặn quy luật tất yếu đó, đảng tung ra luận điệu “đảng nào cũng giống nhau mà thôi, rồi cũng tham nhũng cả. Thôi thì cứ để cho Đảng Cộng Sản lãnh đạo mãi mãi cho khỏe chuyện. Vả lại, đa đảng thì lộn xộn và phức tạp lắm, khủng bố suốt ngày.” Để minh chứng cho nhận định trên, đảng cho chiếu trên truyền hình nhà nước tin tức khủng bố ở các nước dân chủ, để người dân xem đó thấy sợ mà không dám đòi tự do nữa.

Trong thời đại bịp này, báo chí, truyền hình, phát thanh tư nhân không có, tất cả đều là của nhà nước. Vì vậy mà tiếng nói của người dân vô cùng nhỏ bé, có muốn phản đối cũng không thắng nổi truyền thông của chế độ. Với một hệ thống truyền thông độc quyền hùng hậu như vậy, bao giờ đảng cũng đúng, cũng tốt và vĩ đại, chỉ có nhân dân là có tội. Đảng nắm phần cán dao, nhân dân thì nắm phần lưỡi dao, vì vậy không thể nào mà xoay chuyển tình thế được.

Tình cảnh đó khiến người ta luôn phải sống trong dối trá và bưng bít. Một xã hội không biết đến sự thật thì cũng giống như con người ta bịt mắt cho kẻ khác dắt đi. Dân tộc Việt Nam đã bị Đảng Cộng Sản bịt mắt và dẫn dắt theo ý muốn của họ. Người dân không được biết gì khác ngoài những điều mà đảng cho phép biết, những điều mà đảng tuyên truyền.

Quay lại 70 năm về trước, đó là câu chuyện của những tầng lớp người thấp nhất vùng lên cướp chính quyền và sau đó lãnh đạo toàn bộ xã hội. Một nhà nước “vô sản” được dựng nên, và những người trí thức, bác học, nhà khoa học, kỹ sư, luật sư, giáo viên… phải phục tùng tuyệt đối những người công nhân và nông dân. Đó là một mô hình nhà nước hoang tưởng và ngược đời nhất mà nhân loại từng được chứng kiến, nó hoàn toàn đi ngược lại quy luật tự nhiên. Đó là một chế độ độc tài toàn trị, là kẻ thù không đội trời chung của các giá trị tự do, dân chủ. Là nơi mà con người bị đày đọa và trói buộc một cách có hệ thống nhất, nơi mà cái phí lý trở nên có lý. Rồi những người công nhân và nông dân cũng bị lừa bịp, bị chính chế độ đại diện cho họ phản bội, bị bóc lột và đàn áp hơn xưa. Từ đó mà dẫn đến một thời đại bịp như ngày hôm nay.

Đảng không bao giờ nhận lỗi, mà luôn có những đối tượng chịu trách nhiệm thay, đó là: Các thế lực thù địch, thiên tai, nhận thức yếu kém của người dân, đế quốc Mỹ, bệnh dịch…

Lừa dối nhân dân, biến sai thành đúng, biến trắng thành đen, cho nên nó thật xứng với danh xưng: Thời Đại Bịp.

Không có bất cứ luận điệu nào có thể biện minh cho một chế độ độc tài toàn trị, vì sự tồn tại của nó đã là một tội ác tày trời. Bởi nó tồn tại bằng cách lừa bịp, đàn áp, tham nhũng, và cướp đi các quyền tự do dân chủ của nhân dân.

LỜI TÔI NGUYỆN CẦU

LỜI TÔI NGUYỆN CẦU

Trích EPHATA 652

Mấy năm trước, tình cờ đọc được bài cha Nguyễn Văn Đông, gốc Kontum, giảng tại Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn, tôi thấy hay quá bèn viết lên báo Văn Nghệ Tiến Phong xuất bản ở Hoa Kỳ. Mấy bà làm việc công quả trong một ngôi chùa ở Toronto đọc bài tôi viết, cũng xúc động như tôi. Các bà Phật Tử ngưỡng mộ lòng bác ái của cha Đông và thương mấy người cùi, đã góp tiền trong chùa rồi nhờ tôi chuyển về cho cha Đông. Việc này làm tôi cảm động và suy nghĩ mãi.

Bài tôi viết về người cùi dài dòng, bắt đầu từ chuyện Đức Cha Cassaigne rồi mới dẫn tới chuyện cha Đông, như sau:

( … ) Đức Cha Jean Cassaigne là người con một, sinh ra trong một gia đình quý phái giàu có bên Pháp, nhưng ngài đã từ bỏ mọi sự sang trọng thế gian mà xin vào Tu Hội Thừa Sai Paris. Lãnh chức Linh Mục xong, ngài xin sang Việt nam truyền giáo. Ngài chọn Việt Nam vì sau khi đọc các bài cha Đắc Lộ Alexandre de Rhodes viết trên báo Journal des Voyages về cánh đồng truyền giáo tại Việt Nam, ngài đã bị Việt Nam thu hút.

Cha Cassaigne tới Việt Nam ngày 5.5.1926 và học tiếng Việt ở Cái Mơn. Ngài chọn tên Việt Nam là Gioan Sanh. Sau đó ngài được bề trên sai đi làm cha sở một Họ Đạo ở Di Linh, miền cao nguyên. Nơi đây ngài gặp những người Thượng bị phong cùi lang thang trong rừng. Đây là những người bị cùi vào giai đoạn tuyệt vọng. Gia đình đem bỏ họ vào rừng, để họ ở đó một mình, sống chết ra sao mặc họ. Gia đình và dân làng coi như đã xong bổn phận. Những người phong cùi này sống trong đói khổ và chết dần mòn. Cha Cassaigne đã đưa họ về và lập thành một làng riêng cho họ. Cha vừa coi Họ Đạo, vừa coi luôn làng cùi. Làng có tên là Kala. Ngài kiêm nhiệm vai y tá băng bó vết thương, kiêm nhiệm chức hỏa đầu quân nấu ăn cho họ, đồng thời kiêm luôn chức ngoại giao đi cầu viện khắp nơi.

Chẳng bao lâu sau, ngài nhiễm bệnh sốt rét và lao phổi. Ngài viết thư gửi bạn bè bên Pháp: ‘Một năm 12 tháng, tôi bị sốt rét 10 tháng, nhưng tôi không thể nằm nghỉ vì không có ai thay thế tôi để lo cho bệnh nhân người cùi’. Ngài rất giỏi tiếng Việt và tiếng Thượng K’Hor. Người Thượng nhất là những người cùi đã coi Ngài như cha ruột của mình. Vì ngài đạo đức thánh thiện nổi tiếng như vậy nên năm 1941, Toà Thánh đã đặt ngài làm Giám Mục Sàigòn. Năm 1943, Ngài phát hiện mình bị mắc bịnh cùi, nhưng ngài vẫn cố gắng tiếp tục coi sóc Giáo Phận Sàigòn cho tới năm 1955. Sau đó ngài trao quyền lại cho Đức Cha Nguyễn Văn Hiền. Đức Cha Cassaigne luôn sống trong khó nghèo. Ngài là vị Giám Mục duy nhất đi xe đạp và Vespa khi còn tại chức ở Sàigòn.

Rời Sàigòn, ngài trở về làng cùi Di Linh và tiếp tục phục vụ những người xấu số. Ngài phát triển làng, mở trường học và bệnh xá. Tới năm 1972 thì ngài kiệt sức, liệt giường. Ngài mắc nhiều thứ bệnh: sốt rét rừng từ năm 1942, bệnh cùi năm 1943, lao xương năm 1957, lao phổi năm 1964. Nằm trên giường bệnh, ngài luôn nói: “Tôi là người Việt Nam”.

Ngài qua đời ngày 31.10.1973 tại Di Linh. Cả làng cùi Kala đã khóc một tuần lễ. Lễ an táng có đông đủ các chức sắc cao cấp đạo đời. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tặng Ngài Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Ngài được an táng ở chân tháp làng Kala, trên bia mộ có ghi hàng chữ: “Jean Cassaigne, 1895-1973, Caritas et Amor”. Caritas et Amor là chữ Latinh, khẩu hiệu Giám Mục của ngài, nghĩa là ‘Bác Ái và Yêu Thương’.

Mấy chục năm sau, có một vị đã theo chân Đức Cha Cassaigne, đó là cha Nguyễn Văn Đông. Cha Đông coi sóc Họ Đạo Sa Thầy ở Kontum. Cha Đông là người sống mộc mạc, đơn sơ và nghèo khó. Ngài được mời về Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn, nơi có ngai tòa của Đức Cha Cassaigne, để giảng mở đầu cho Mùa Chay năm 2001. Bài giảng đơn sơ như thế này:

“Kính thưa ông bà anh chị em,

Thật là xúc động khi tôi được mời giảng bài Tin Mừng đầu Mùa Chay tại Nhà Thờ Chính Tòa. Tôi thú thực với anh chị em là đứng trước cảnh tráng lệ đẹp đẽ và sang trọng trong Nhà Thờ này, lòng tôi bị dao động qúa. Tôi so sánh cảnh này với cảnh nghèo nàn trong xứ Sa Thầy ở cao nguyên nơi tôi phụ trách, tôi thấy đây cách biệt một trời một vực. Tôi thấy bị lúng túng.

Quý anh chị em chắc có biết, nói về tỉnh Kontum, tôi xin tự hào khoe rằng, xứ tôi phụ trách cái gì cũng nhất, lớn nhất, có người dân tộc đông nhất, đồng bào khắp nước đổ về đây nhiều nhất, có nhiều rừng núi nhất, và… nghèo nhất.

Tôi làm Linh Mục đã hơn ba chục năm. Năm nay tôi vừa tròn 61 tuổi. Tôi trẻ nhất so với mấy Linh Mục ở chung. Dù có tuổi nhưng được cái tôi chưa phải vào nhà thương hay uống thuốc nên còn có thể gồng mình cáng đáng nhiều việc. Xứ Sa Thầy nơi tôi phụ trách có 4 cha, cha chính xứ đã 77 tuổi, bịnh tiểu đường đã yếu lắm, còn 2 cha kia thì một ông nằm liệt giường vì bệnh cột sống, một ông ung thư giai đoạn cuối, nên chỉ còn mình tôi chạy ra chạy vô. Công việc nhiều lắm, ờ nhiều mà vui.

Tỉnh Kontum, từ thị xã quét một vòng bán kính xung quanh ra toàn tỉnh là 70 cây số, do vậy xứ tôi rộng tha hồ mà đi, đi mệt thôi. Đi mà rất vui, vui vì giúp đỡ được nhiều người. Anh chị em cũng biết là tỉnh Kontum có số lượng người phong cùi nhiều nhất nước. Tại nhà xứ, tôi là người trẻ nhất, có sức khoẻ nhất nên tôi được giao việc phụ trách người cùi, vì vậy mà tôi hay đi thăm họ lắm.

Tôi xin kể anh chị em nghe. Kontum có đến 70% là người dân tộc, sống rải rắc khắp nơi. Nguyên đi từ Giáo Xứ này sang Giáo Xứ khác đã thấy mệt rồi, huống chi bây giờ đi thăm người bịnh, toàn tỉnh chỉ có tôi. Đồng bào Thượng sống ở đây nghèo lắm, có thể nói họ nghèo nhất nước. Họ gọi tôi là Bab. Tôi nhớ có lần vào thăm một buôn làng, già làng nói: Ơ Bab ơi, Bab nói Bab nghèo ha, Bab mới thấy nghèo thôi, chứ chúng tôi nghèo qúa rồi, nghèo riết rồi nên không thấy mình nghèo nữa, khổ quen rồi cho khổ luôn…

Có lần tôi đi bộ 12 cây số vào thăm một buôn người dân tộc. Ở đây họ có phong tục là hễ ai mắc bệnh phong cùi thì làng sẽ cất riêng một mái nhà trong rừng cho người đó ở, người bệnh này không được ở chung trong làng. Mà vì họ nghèo quá, ngay cái nhà họ ở cũng không ra cái nhà thì mái nhà họ cất trong rừng cho người cùi ở đâu có thể gọi là nhà, phải gọi là cái lều hay cái ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa là nát.

Lần kia tôi tới thăm những mái lều này, tôi phải cúi rạp người xuống mới vào nhà họ được. Thấy tôi đến thăm, họ mừng qúa anh em à. Họ cứ nhìn tôi rồi họ cười. Họ nói Bab đến thăm thì họ sung sướng lắm, qúy lắm. Họ cười mà tôi khóc, anh chị em ơi. Họ đã nghèo lại cùi. Tôi biếu họ món gì thì họ ôm vào ngực như sợ bỏ ra là mất.

Lần khác tôi vừa vào lều thì có ông già nói : Bab ơi, Bab có nylon không, nếu Bab có thì Bab cho con một miếng đi, một miếng thôi, để con che cái chỗ con nằm. Bab ơi, đêm qua mưa lớn qúa, cả nhà con chỗ nào cũng ướt, cũng lạnh, con không ngủ được, Bab ơi.

Anh chị em đã thấy người Thượng cùi khổ đến mức nào chưa ? Họ vừa nghèo, vừa bệnh, lại không được học hành gì cả. Họ chỉ biết đếm đến số 100 là hết. Các anh chị em có thể tưởng tượng nổi không, họ cầm tờ giấy 20 ngàn, mua chai nước mắm 7 ngàn, họ không biết nhận lại là bao nhiêu, người bán hàng đưa lại bao nhiêu họ cầm bấy nhiêu, vậy đó. Đã nghèo lại không được học, sống chỉ bám vào đất mà sống, nên giàu sao được. Cứ mỗi lần từ thị xã lên thăm họ, tôi cố tìm chỗ nào có thức ăn rẻ nhất mà mua cho họ. Ví dụ ở đây một ký ruốc là 20 ngàn, nhưng ở Phan Thiết chỉ bảy ngàn thôi.

Tôi là người Bình Định, dân miền Trung cũng nghèo đói quá mà tha phương đến tận Kontum, nên tôi rành lắm. Ở Kontum đồng bào mình nghèo quá, khắp bốn phương về sinh sống, Bắc có, Trung có, Nam có. Họ đều nghèo như nhau, nhưng lại tốt bụng, nên tôi xin họ giúp gì, dù nghèo họ cũng giúp tôi ngay. Tôi cứ lang thang khắp tỉnh, có cá vụn, cơm khô, muối hạt, tôi cứ xin. Chỗ nào người ta bán rẻ nhất là tôi tìm đến, vừa mua vừa xin cho họ. Có lần một số bạn bè cho tôi một ít tiền và nói với tôi: “Nhờ Cha mua ít đồ tặng cho họ đi cha”. Tôi liền đi mua nhiều thứ rẻ, gói thành từng gói nhỏ. Như cá khô thì tôi gói theo ký. Tôi đem cho họ, họ mừng lắm. Lần đó đến một xã, khi tôi đã phát hết qùa, còn lại trong giỏ mấy kí cá khô, lại gói trong giấy bóng màu vui mắt, trẻ con cứ theo tôi mà nhìn, ánh mắt của chúng tỏ ra thèm lắm, nhưng chúng không dám nói. Tôi hỏi: các con có thích không ? Chúng gật đầu. Tôi xuống xe ngay và phát hết mấy ký cá khô còn lại, đây con một ký, con một ký. Chúng nhìn tôi chăm chăm, hai tay ôm gói cá khô miệng cứ hỏi tôi hoài: Bab ơi Bab cho con thiệt hả Bab ? Tôi nói: Ừ, Bab cho con thiệt mà. Chúng lại hỏi: Bab cho con thiệt hả Bab, Bab cho con thiệt hả Bab ?

Thưa anh chị em, có đến những vùng này mới thấy hết cái khổ cùng cực của người dân ở đây. Tôi cứ tự hỏi là nếu tôi đem mấy kí cá khô này tặng bà con ở Sàigòn, chắc các anh chị sẽ nói ông cha này khùng. Thế đấy thưa anh chị em.Tôi muốn nói rằng, chúng ta nhớ giúp người nghèo người bịnh, trong khả năng của chúng ta, không cần nhiều, mỗi người một ít thôi.

Thưa anh chị em, một ít thôi, một tấm nylon nhỏ, một ký cá khô, giúp cho họ bớt khổ, họ mừng lắm, thưa anh chị em. Tôi mong rằng tất cả quý ông bà và anh chị em sẽ sống đẹp hơn lên trong Mùa Chay này, để xứng đáng với đức hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. Amen.”

Đọc xong bài giảng, tôi có cảm nghĩ này: Ngôn từ bài giảng rất bình dân và đơn sơ. Nó toát ra sự thành thực và thánh thiện, nó toát ra sự vui vẻ tự nhiên. So sánh với nếp sống đầy đủ tiện nghi vật chất của chúng ta hiện nay, tôi thấy người cùi như đang ở trong thời đại hoang sơ ngàn năm trước. Cha Đông đi làm việc bác ái mà khổ cực quá: đi vào làng thượng, chui vào các mái lều lụp xụp và dơ bẩn, tiếp xúc với những người nghèo khổ bệnh tật và dốt nát. Thế nhưng lời nói của cha toát ra sự vui vẻ. Ngài không hề than khổ than cực, không hề nói ra lời nào như đang làm một việc miễn cưỡng. Ngài nói về ngươi Thượng một giọng thân thương, coi những người Thượng này là bà con anh em của mình. Đó là điều làm tôi xúc động.

Việc này làm tôi nhớ tới Mẹ Teresa Calcutta. Mẹ đã từ bỏ nếp sống một giáo sư, một hiệu trưởng, nhà cao cửa rộng, dạy những học sinh con nhà giàu thuộc giai cấp sang trọng ở Ấn Độ, để hạ mình xuống sống với lớp người cùng đinh xã hội. Tôi được may mắn là đã sang sống ở Ấn Độ 2 tháng, cách đây 8 năm. Tôi đã nhìn thấy tận mắt lớp người cùng đinh ở trong giai cấp hèn mạt. Họ không có nhà. Họ sống ở vỉa đường, lấy đất làm giường lấy trời làm màn. Họ che mưa nắng bằng giấy báo. Gia đình nào may mắn lắm mới có một tấm bạt làm mái che. Ở Ấn Độ, con bò được kính trọng. Chúng đi lang thang đầy đường. Người ta hốt phân bò, phơi khô để đun bếp và để sưởi vào những buổi sáng trời lạnh. Họ nghèo mạt rệp mà lại đẻ nhiều. Đẻ con nhưng không có sức nuôi con. Hoặc họ phá thai hoặc họ để đứa bé chết dần mòn.

Mẹ Teresa đã nhìn thấy cảnh nghèo khổ cùng cực này trong suốt 10 năm dạy học. Mẹ không thể rửng rưng được nữa. Mẹ đã xin từ bỏ mọi sự sang trọng, mẹ đã ẵm các hài nhi hữu sinh vô dưỡng này, đã ôm những người bệnh tật đang hấp hối này về chăm sóc. Mẹ làm hết lòng vì Mẹ tin rằng đây chính là con Chúa, là anh chị em của mình. Mẹ đã làm việc này ròng rã 40 năm. Chúng ta có thể làm một vài việc bác ái trong một ngày, hai ngày, một tuần, là đã hết sức rồi. Còn Mẹ Teresa đã làm trong 40 năm.

Mẹ Teresa mất ngày 13.9.1997. Lễ an táng đã được trực tiếp truyền hình đi khắp thế giới. Tại Canada, Linh Mục Philippe Thibodieu đã ngồi trên đài TV ở Toronto để dẫn giải buổi lễ. Chính trong lễ này, ngài đã kể chuyện chính ngài được gặp Mẹ Teresa ở Calcutta trước đó mấy năm. Cha Philippe đã xin Mẹ mấy lời để đem về Canada nói cho bạn bè nghe. Mẹ đã cầm tay cha và nói: Tất cả cuốn Thánh Kinh tóm tắt trong 5 tiếng này “You did it to me”. Mẹ nói từng tiếng và chỉ vào 5 ngón tay của cha. 5 tiếng này lấy từ lời Chúa: Bất cứ việc gì các ngươi làm cho người thấp hèn nhất là đã làm việc đó cho chính Ta ( Mt 25, 40 ). Mẹ Teresa ôm người hấp hối, ẵm trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trên lề đường, vì Mẹ đã nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ cùng cực này.

Cha Đông vui vẻ đi thăm người Thượng bị phong cùi và nghèo khổ cùng cực vì đã nhìn thấy Chúa nơi những người anh em đáng thương này. Đức Cha Gioan Sanh ( Cassaigne ) mấy chục năm phục vụ người cùi đã nhìn thấy rõ Chúa nơi những anh em xấu số này.

Rồi tôi nghĩ đến tôi. Nhiều lúc tôi sống mà như không nhìn thấy Chúa trong mình, chứ đừng nói tới việc nhìn ra Chúa nơi tha nhân. Nhiều lúc tôi giống như anh Peter trong truyện đăng trên đặc san Le Monde des Religions tháng 7 năm ngoái. Tôi xin tóm lược chuyện này như sau :

Peter là người nước Anh gốc Do Thái. Anh theo đạo Công Giáo. Vợ anh chết đột ngột, anh đau khổ vô cùng. Không gì có thể làm anh quên được niềm đau to lớn này. Anh không tìm thấy nguồn an ủi trong đạo Công Giáo. Anh nghĩ rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ có thể chữa bệnh đau khổ cho anh. Anh sang Ấn Độ và xin gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma. Người ta chỉ cho phép anh được gặp ngài 5 phút. Vừa gặp ngài, anh òa lên khóc. Anh kể cho ngài nghe về việc mất vợ. Đức Lạt Ma ôm lấy anh và ngài cũng khóc. Anh kể tiếp cho ngài là anh theo Công Giáo, rồi lại oà lên khóc. Ngài liền nói mấy lời bằng tiếng Tây Tạng với viên thư ký. Vị này lấy ra ngay một tấm ảnh Chúa Giêsu vào trao cho ngài. Với một  sự cung kính đặc biệt, Đức Lạt Ma trao tấm ảnh cho anh Peter rồi nói: Đức Phật là con đường của tôi, còn Chúa Giêsu là con đường của anh, anh hãy tiếp tục sống đạo Chúa. Rồi ngài lại ôm lấy anh và cùng khóc với anh. Cuộc gặp gỡ này kéo dài trong 2 giờ thay vì 5 phút. Anh Peter chia tay trong nước mắt. Anh tâm sự: “Ngài đã chữa lành vết thương của tôi. Ngài không bảo tôi theo đạo của ngài mà bảo tôi tiếp tục tin vào Chúa.”

Đọc xong chuyện này, tôi nghĩ rằng ban đầu anh Peter hình như muốn bỏ đạo Chúa và sẵn sàng theo đạo Phật với Đức Lạt Ma. Sở dĩ anh có ý định như vậy là anh đã không nhìn thấy Chúa. Tôi nghĩ Đức Lạt Ma đã nhìn thấy Chúa và nghĩ mình là một ngôn sứ đặc biệt của Á Châu đang đi rao giảng lòng yêu thương cho mọi người theo một cung cách đặc biệt nên mới bảo anh thế.

Tôi không biết sau cuộc gặp Đức Lạt Ma anh Peter có nhìn thấy Chúa chưa. Phần tôi, tôi vẫn cầu xin Chúa cho tôi nhìn thấy Chúa hiện diện thực sự trong tôi mọi lúc, và xin cho tôi nhìn thấy Chúa trong mọi người. Xin được một chút xíu của Đức Cha Cassaigne, của Mẹ Teresa Calcutta, của cha Nguyễn Văn Đông. Tôi còn ghét người này, còn nói xấu người kia, thì rõ ràng tôi chưa nhìn thấy Chúa trong tôi và nơi tha nhân. Tôi mới giữ đạo bằng môi bằng miệng, theo thói quen, cho xong.

TRẦN TRUNG LƯƠNG, Toronto, Hè 2007

THIÊN TAI HAY… NHÂN HẠI ?

THIÊN TAI HAY… NHÂN HẠI ?

Trích EPHATA 652

Báo chí mấy ngày qua đưa tin liên tục về “trận mưa lịch sử” tại tỉnh Quảng Ninh. Cho đến hôm nay, thứ tư 29.7.2015, đã có 17 người chết, 9 người mất tích, trên 1.000 căn nhà bị cuốn trôi, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng.

Những cái chết đột ngột thương tâm như cái chết của một gia đình ba thế hệ, cả ba căn nhà bên cạnh nhau bị lũ bùn đổ ập, cuốn trôi, vùi lấp 9 nhân mạng trong tích tắc, người ta đào bới tìm ra xác một bà mẹ còn đang lom khom trên giường cố gắng che chắn cho đứa con, cả hai đều đã chết. Thật đau lòng !

Nguyên nhân được cho là do mưa quá lớn, đất đá từ các núi đồi kéo xuống theo nước mưa đầu nguồn. Chuyện rừng đầu nguồn bị tàn phá, núi đồi trơ đất nên rất dễ bị phá hoại theo nước mưa kéo xuống đồng bằng là chuyện ai trong chúng ta cũng đều biết. Năm nào cũng vậy, không nơi này thì nơi khác, thiệt hại về của cải đã đành, nhưng mạng sống con người mất đi thì không bao giờ lấy lại được. Đau thương cứ cứa sâu mãi vào trái tim của dân tộc, vậy mà tất cả chỉ là những tiếng thét vô vọng, không mấy ai quan tâm, hô hoán lên rồi bỏ, nhiều phóng sự cụ thể được đưa lên màn hình TV, nhiều thống kê với những hình ảnh cụ thể được cấp báo, nhưng rừng vẫn tiếp tục bị phá, phá một cách thê thảm, lâm tặc hoành hành như chốn không người, một số các bài báo mới đây còn loan tin chính những cán bộ trong ngành lâm nghiệp hoặc bảo vệ rừng lại là những lâm tặc phá rừng hung hăng và tàn hại nhất.

Wikipedia cho biết: “Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ Chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc ( FAO ), Việt Nam là nước có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Nigeria. Tuy nhiên, tổng diện tích rừng tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi: Sau nhiều thập kỷ xảy ra nạn phá rừng thì độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể từ đầu những năm 1990. Vào năm 2005, Khoảng 12.931.000 ha ( tương đương với 39,7% diện tích đất của Việt Nam ) đã được trồng rừng, mặc dù chỉ có khoảng 85.000 ha ( 0,7% của độ che phủ đất ) là rừng nguyên sinh, với nhiều hình thức rừng khác nhau.”

Nếu ai có dịp ngồi xe trên các chặng đường xuôi qua miền Trung và miền Bắc, chắc chắn bằng mắt thường chúng ta nhìn thấy trùng điệp núi đồi trơ đất đá, cây mọc lưa thưa như những cọng cỏ sân nhà. Và đó là nguyên nhân của sự tan hoang nhà cửa, mất mát thương vong, đời sống dân lành điêu linh lầm than khốn khó.

Cũng báo Tuổi Trẻ số ra ngày 29.7.2015, một thông tin khác làm đau lòng về thân phận con người: “Chạy biển”, “chạy sông”. Bảng thống kê cho thấy mỗi năm mất trên dưới 10.000 ha đất do nền đất lún sụt, đất lún kéo theo rừng ngập mặn bị tàn phá, các loại cây rừng gãy đổ, nước mặn xâm thực sâu vào đồng bằng, tác động đến nồi cơm của hàng triệu người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nguyên nhân của việc hạ mực nước ngầm là do khai thác nước ngầm vô tội vạ. Nguyên nhân chỉ ra rồi nhưng không làm sao khắc phục, cứ thế cái phá tăng lên, cái tàn kéo đến.

Và cũng báo Tuổi Trẻ nơi trang 18, một phóng sự về việc bảo vệ voi rừng thật vất vả, nạn săn bắn voi để lấy ngà đã tiêu diệt gần cạn kiệt voi rừng tại Việt Nam. Rừng thu hẹp, thú rừng bị săn bắt, tài nguyên của chúng ta chỉ còn là một vùng đất nghèo nàn, rừng vàng biển bạc chỉ còn trong… sách giáo khoa.

Bây giờ cây cổ thụ trong các thành phố đang bị đốn hạ, bao nhiêu giấy bút, cả mồ hôi và nước mắt đã tiêu tốn. Thành phố này, Thảo cầm viên ( Sở Thú ) đang kêu cứu, chẳng phải góp tiếng than để níu kéo kỷ niệm về một vùng cây cối giữa lòng thành phố gắn liền với tuổi niên thiếu của nhiều thế hệ, hay nuối tiếc một bộ sưu tập về thực vật nhiệt đới mà cha ông đã dày công vun trồng chăm sóc, nhưng là tiếng thét của con người trước nguy cơ thiên tai đang đổ sầm sập vào thành phố, mấy tháng qua nhiệt độ đã nóng lên rất nhiều, chưa bao giờ lại nóng kinh khủng như vậy !

Giáo Hội lên tiếng về bảo vệ môi trường thiên nhiên như một lời loan báo Chân Lý…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 29.7.2015