Những đoạn kết… buồn hiu!

Những đoạn kết… buồn hiu!

Nguoi-viet.com

Huy Phương

Cô đào thương biết lúc phải giã từ sân khấu lúc mình về già, khi nhan sắc đã tàn phai, giọng hát đã rã rời, đứt đoạn. Dù sự ra đi ấy có đem lại những thiệt thòi, đau xót, người trong cuộc cũng phải đành chấp nhận. Chính người hâm mộ cũng không bao giờ muốn thấy thần tượng của mình lúc xế chiều, mà họ muốn giữ lại cái hình ảnh đẹp đẽ của những ngày xưa.

“Đoạn kết của những Ông Bình Vôi.” (Hình minh họa.
Tư liệu của Huy Phương)

“Limelight” là cuốn phim nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin, một phim rất cảm động về tình đời. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về… chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ, “Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn, chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng…”

Chúng ta thương xót cho cuộc đời nghệ sĩ lúc về chiều, không còn ai hâm mộ, chết trong lãng quên, nhưng chúng ta cũng không muốn người nghệ sĩ kéo dài năm tháng trên sân khấu khi nhan sắc đã về chiều, tẻ nhạt và buồn phiền.

Người ta thường tự kết liễu thanh danh của mình bằng những đoạn kết… buồn.

Trong những con người đó chúng ta có thể kể đến Phạm Duy, một tên tuổi hay nói ví von hơn, là một “ cây cổ thụ” trong làng âm nhạc Việt Nam, đã có một đoạn kết dở, khi ông đã tự phủ nhận tất cả chính kiến của mình để xoay chiều 180 độ. Những người đó, cũng là Trịnh Công Sơn, người đã được sự yêu thương của tất cả người Việt Nam, đã có một đoạn kết… buồn, khi dưới bạo lực… mềm, ông đã kéo dài thêm một quãng đời, khi đồng bào rên xiết, ông đã reo vui bằng những câu hát mê muội, “Em ở nông trường anh ra biên giới,” “ Huyền thoại Mẹ,” “Ra chợ ngày thống nhất,” và tệ hại hơn là “Ánh sáng Mạc Tư Khoa,” được xem như một bản “báo cáo công tác” sau khi ông được ân huệ của Cộng Sản trả công bằng một chuyến “tham quan” Liên Xô.

Liệu những “thiên tài” hay “đại thụ” có cần kéo lê thêm một đoạn đời như thế không?

Có những ca sĩ tên tuổi, được sự yêu mến của mọi người, giờ đây muốn thêm một kịch bản gọi là phần hai cho đời mình. Dù dưới mục đích cao đẹp “cần về quê hương hát cho đồng bào mình nghe,” hay thực tế là họ cần tiền và còn kiếm được tiền, thì những đoạn kết ấy cũng không mấy tốt đẹp, đánh mất tất cả niềm tin và sự thương yêu lâu nay người đời đã dành cho họ.

Nói như Nguyễn Du, “Đã buồn cả ruột, lại dơ cả đời !”

Tiểu thuyết Trà Hoa Nữ (La Dame Aux Camélias) được chuyển thành kịch bản là một tác phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới, nhưng nếu chẳng may có ai đó dựng nên kịch bản “Hậu Trà Hoa Nữ” để cho Marguerite Gautier có dịp gặp tái hồi cùng Duval, như lấy nhau, thì vở kịch chán chường lố bịch biết bao.

Người đời thường thích những chuyện có “hậu” và phải hiểu đây là thứ hậu vuông tròn, đẹp đẽ (happy ending.) Chính vì vậy mà Nguyễn Du kéo dài truyện Kiều, nên nhân gian có thành ngữ “tái hồi Kim Trọng.” Trong phần tái hồi này Kim Trọng để chàng phải nài nỉ, phân bua “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường,” cũng tính chuyện “động phòng.” May mà Thúy Kiều cứng rắn, cho mình là “hương dưới đất, hoa cuối mùa,” từ chối quyết liệt, Kim Trọng mới thẹn thùng đổi chuyện chăn gối ra chuyện cầm thơ.

Có nhiều người không tự biết mình, hay soi gương cũng chẳng thấy khuôn mặt mình, nhưng như vậy không có nghĩa là không ai thấy mình. Đó là những người chưa chết nhưng đã tự chôn mình. Họ cố ôm lấy những danh vọng hão, hết chức vụ này lại muốn nhảy sang cầm lấy chức vụ khác, hết làm chủ tịch thì quay sang làm cố vấn, họ nghĩ không có họ thì ai còn khả năng đứng ra cứu nước!

Trong khi ông nọ hết nhiệm kỳ làm tổng thống lại lui về chức thủ tướng chờ thời, rồi trở lại làm tổng thống, bà nọ không còn là thị trưởng thì ứng cử lấy chức nghị viên thành phố, người kia oanh liệt một thời cấp tiểu bang nay lại công danh thụt lùi về lại quận hạt. Như vậy còn chỗ nào cho người khác, trẻ tuổi và tài năng tiến thân. Cái giỏ cua bây giờ cua bò lên không bị ai kéo trở lại, nhưng đóng nắp rồi thì cũng không ai còn tìm được con đường tiến thân. Biết chấm dứt kịp lúc, đúng thời, đối với họ quả là chuyện khó khăn.

Lê Đạt trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, năm 1956, đã có bài thơ “Ông Bình Vôi” để phê phán những cán bộ sống lâu lên lão làng nhưng “càng lớn càng đặc,” ôm lấy các chức vị, trong đó có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại…”

Nhà văn Phan Khôi, nhân mấy câu thơ của Lê Đạt, có viết một bài văn cũng mang tên là “Ông Bình Vôi” có những câu như: “vật gì sống lâu và to xác thì gọi bằng ‘Ông’ để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.” Trong cộng đồng chúng ta bây giờ không thiếu những “Ông Bình Vôi!”

Ở Việt Nam có quy định tuổi về hưu cho các cấp chỉ huy, nhưng gần đây người ta cho tái bổ nhiệm một bà với một lý do rất buồn cười là vì bề ngoài, trong bà còn trẻ! Người ta trau chuốt công lao của bà và gần như đi đến kết luận, trong lúc này chưa ai thay thế được bà.

Ở Mỹ nếu một ông tổng thống làm đến 3 nhiệm kỳ thì… chán chết, trong khi đó, “Ong Bình Vôi” (*) Phạm Văn Đồng của “ta” ôm chức thủ tướng Việt Cộng tại vị lâu nhất đến 32 năm (1955-1987).

“Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu!”

Ai muốn nhìn một hoa hậu về già, tóc bạc, miệng móm?

Ông tướng chết giữa chiến địa có đoạn kết cho đời mình bi hùng, trong khi ông tướng về hưu chết trong nhà dưỡng lão có một đoạn kết… buồn hiu!

(*) “bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa…”

Tôi có người em nhỏ

“Tôi có người em nhỏ”,

Xanh xanh đôi hàng mi

Môi hồng vừa đương độ

Chưa biết sầu biệt ly.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – Người Em Nhỏ)

Trần Ngọc Mười Hai

(Êphêsô 5: 1-2)

Nghe anh hát, tôi lại bảo: có người Em nào mà chẳng nhỏ lại vẫn “xanh xanh đôi hàng mi” cơ chứ! Nếu không thì, ai ai cũng sẽ gọi người ấy là “em họ” hoặc “Em” theo nghĩa học trò, người xa kẻ lạ ít tuổi hơn. Ngôn-ngữ người mình văn-hoa là như thế. Văn hoa, có nghĩa như gió thoảng/mây trôi lại mang tính thi-ca, ngọc ngà ướt mượt. Chả thế mà, nghệ sĩ nhà mình lại sẽ hát thêm:

“Ngày tôi đi vàng nắng

Nghiêng nghiêng một hàng cau

Mai ta nhìn mây trắng

Gửi lời về thương nhau

Chiều nay buồn viễn xứ

Nhớ người em gái xưa

Tôi thấy phương trời cũ

Giăng giăng một hàng mưa.

Mơ về đôi môi thắm

Cười ngày tôi lên đường

Quê ta chừng xa lắm

Giờ em có nhớ thương.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – bđd)

Hỏi rằng: “Giờ Em có nhớ thương”, hay còn hỏi gì đi nữa, cũng bằng thừa. Bởi, đã là người em rất nhỏ rồi, thì chắc hẳn ai cũng đều thương, đều nhớ. Thương và nhớ, cả một thánh hội toàn những người/anh người chị thân thương, đầy ý-nghĩa.

“Giờ Em có nhớ thương” hay sao đó, vẫn là nỗi nhớ niềm thương của người em hoặc anh hoặc chị cứ là dắt tay nhau đi vào vùng trời ở Vương Quốc Nước Trời nay gần gũi có những lời nhắn-nhủ, dài muôn thuở, như sau:

“Anh chị em hãy bắt chước Thiên Chúa,

vì anh chị em là con cái được Người yêu thương,

và hãy sống trong tình bác ái,

như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta

và vì chúng ta,

đã tự nộp mình làm hiến lễ,

làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.”

(Êphêsô 5: 1-2)

Hôm nay đây, người người trong nhà Đạo lại vẫn nhớ không chỉ mỗi lời nhắn của đấng thánh hiền tên gọi Phaolô mà thôi, nhưng còn nhớ cả những lời của Đức Giáo Tông Phanxicô hôm rồi gửi đến bà con, những lời như sau:

“Hôm 21 tháng 5 năm 2015, Đức Phanxicô có nhắn-nhủ bà con thân thuộc của vị sĩ-quan Cảnh Sát bị bắn chết hoặc bị thương trầm trọng, những lời như: Xã-hội hôm nay, còn mắc nợ gia đình ta sự thể là người thân của quí vị đây, đã sống đời chân-phương, ngoan-cường, trật-tự.” Đức Phanxicô lại đã ca ngợi các vị đang làm việc trong cơ-quan công-quyền vẫn có lòng quả-cảm giúp giùm người bị nạn cũng như đã ngăn chặn các can-phạm hùng hổ, tấn-kích người hiền ở xã hội. Các sĩ-quan đây như người thân của quý vị, đã không quản-ngại mọi hiểm nguy có thể xảy đến với mình, cả mạng sống có khi lại mất đi cũng không nản lòng trong khi thi-hành phận-sự trong công-quyền. Tiếc rằng, ở xã hội khác, nay lại để mất đi quyết-tâm quả-cảm ấy nên mới gây tai-hại cho mọi người…” (xem tin tức trong tuần trên The Catholic Weekly ngày 31/5/2015, tr. 3)

Lời nhắn nhủ, từ các đấng bậc ngoan-hiền ở thánh hội, lâu nay thì như thế. Trong đời đi Đạo của mỗi người và mọi người, chắc chắn việc này từng xảy ra cũng không thiếu. Bởi thế nên, nghệ-sĩ hôm nay lại có ý/lời ca-tụng những người “em nhỏ” trong đời những lời êm ái sau đây:

“Tôi có người em nhỏ

Xanh xanh đôi hàng mi

Môi hồng còn đương độ

Đã biết sầu biệt ly.”

(Nguyễn Hiền – bđd)

“Sầu biệt ly” đây, có thể là nỗi sầu cũng khó hiểu, do ngộ nhận hoặc sao đó. Nhưng, “sầu ly biệt” này có thể là thứ “sầu buồn” như nhận-định của đấng bậc chủ-quản ở chốn chop bu nhà Đạo khi ngài nói về tình-trạng của xã-hội hôm nay.

“Sầu biệt ly” hôm nay, không chỉ vì Facebook, Twitter, SMS hoặc nhiều thứ trên vi-tính hoặc điện-thoại khôn-ngoan từng đem lại cho cuộc sống vội vàng, chụp-giựt, lười suy-nghĩ.

“Sầu ly-biệt” hôm nay và mai ngày, còn là mối sầu khó tả cứ lai rai, trải dài nơi cuộc sống gia-đình không còn theo khuôn phép cũ/xưa, nhưng rất khác. Khác, về tập-tục lẫn lề-luật cùng cung-cách phụng-thờ, tin-tưởng, khiến nhiều bậc thức-giả trong Đạo, ngoài đời từng bận-tâm tìm nhiều phương-cách để giải-quyết.

Một trong các phương-cách rất thức-thời được đấng bậc chủ quản khi xưa từng tỏ bày bằng những ảnh-hình so-sánh cuộc sống có niềm tin với vụ nổ ở vũ trụ năm nào, như sau:

“Khoa học từng nói cho tôi biết thế giới hiện ta đang sống, lại đã bắt đầu bằng vụ nổ Big Bang từ lâu lắm. Trong khi đó, niềm tin đi Đạo lại bảo tôi, rằng: Big Bang, chính là vụ nổ do Thượng-Đế làm để tỏ-bày Tình Thương của Ngài đối với ta.

Tôi không có khả-năng đưa ra đây bất kỳ chứng-cứ nào mang tính tính khoa-học về niềm tin của ta, nhưng đó là một trong các giải-thích đem đến với mọi người sự thoả-mãn tốt đẹp nhất tìm thấy được ở quanh ta, cả vũ-trụ vật chất lẫn tâm-tư, cũng như tâm-can của chính mình.

Trước nhất, là lượng-mức lớn-lao vẫn trộn lẫn với nhau cách hài-hoà nơi nhân-sinh vũ-trụ, vạn-vật. Và rồi, qua khoảng cách thời-gian kéo dài tưởng chừng như vô-tận, nhiều sự-vật vững-chãi/chắc-nịch lại đã thành-hình như trăng, sao, tinh-tú, cùng các giải ngân-hà lại đã đi vào hiện-thực. Thề-giới vẫn được sắc-màu tuyệt-vời, lộng-lẫy; nhưng lại không có tư-duy, cảm-xúc nào thực-tế khả dĩ đáp trả lại tình Thương yêu Ngài từng tạo ra chúng.

Nhiềy tỷ năm qua, mãi cho đến thời mà hành-tinh địa-cầu mở rộng ra để đón chào mọi hình-thái của sự sống ban đầu mà hiện-hữu. Và rồi, từ biển-khơi, sinh-vật đủ mọi loại cũng từ đó bắt đầu chinh-phục đất liền. Và xảy ra, là: tất cả mọi loại-hình cây cối cùng loài thú, cứ thế phát-triển nhưng không một hữu-thể nào dù sinh-động cách mấy lại có được ý-thực ứng-đáp lại Tình Thương Yêu của Thượng Đế.

Cuối cùng thì, chỉ một số rất ít loài thú mới khởi-sự đứng trụ trên đôi chân hiền của mình mà phát-triển sự sống có ý-thức của chúng. Con người, cũng từ từ biến-hoá theo dạng-thức có tư duy, xúc-cảm để rồi cuối cùng cũng tự mình biết đáp-ứng với Tình Thương Yêu của Chúa Trời là Đấng tạo-dựng nên mình.

Từ vụ nổ Tình Thương Yêu rất Big Bang đến giai-đoạn đáp trả đầy ý-thức đối với Tình Thương Yêu của Chúa Trời lại đã kéo dài những 13,8 tỷ năm liền và ngang qua thời-gian dài đằng d0ẵng ấy, Chúa Trời vẫn cứ đợi và cứ đợi. Ngài vẫn đợi mãi, mà không xen vào mọi chuyện của bất cứ loài nào. Ngài vẫn kiên-tâm đến vô cùng vô tận, nên đã cho phép mọi sự được triển-khai theo nhịp-độ và cung-cách của chính nó.

Con người lâu nay, vẫn rắp ranh tìm-hiểu gốc-nguồn và ý-nghĩa của thế-giới, với thế-gian, mặc dù lần rắp ranh đầu thường chỉ dính-dự bằng truyện kể về các thần-linh tranh-chấp với các anh-hùng cùng siêu-nhân.

Và rồi, dân con Israel lại đã biết tin tưởng vào chỉ một Chúa Trời và phát-triển niềm tin-tưởng ấy viết lại cuộc hành-trình đầy đạo-đức lẫn tâm-linh của mình thành truyện kể. Hành-trình này khởi từ ý-tưởng về sự lớn lao/cao cả và trả đũa với hận-thù (Kn 4: 17-24), và rồi tuần tự dấy lên ý-tưởng tôn-trọng phẩm-cách của mọi giống nòi cùng quyền-lợi của loài khác từng tuôn chảy từ phẩm cách này như sách Xuất hành từng nói đến (Xh 20: 1-17). Rồi từ đó, lại có ý-tưởng diễn-tả đòi hỏi mọi loài phải yêu-thương kẻ đồng-loại cùng như phải yêu thương lẫn nhau như sách Lêvi còn viết dặn (Lv 19:18), và cả việc thương yêu Chúa Trời như Ngài từng yêu-thương hết mọi loài (ĐNL 6: 4-9); (Giôna 4: 9-11).

Từ đó đến nay, vẫn có những bước chân âm-thầm tiến về phía trước hoặc lui về dĩ-vãng, như truyện kể về sự tăng-trưởng đạo-đức cũng như tâm-linh phản ánh sự tăng-trưởng trong thiên-nhiên.

Có một vị tên là Giêsu, đến từ Đức Chúa, đã tiếp-nhận mọi sự tốt đẹp từ truyện này, nhưng Ngài còn đưa câu truyện tạo-dựng của Chúa Trời đi xa hơn bằng cách trưng cho thế-giới một mức-độ thương yêu từng phản-ánh từ vụ nổ tình-thương của Đức Chúa trong tạo-dựng. Ngài làm thế, để rồi có hy-vọng là mọi người và mọi loài lại sẽ noi gương bắt chước tình thương yêu này và phát-triển nó trong tăng-trưởng.

Đức Chúa xưa nay, vào mọi lúc, vẫn đợi chờ cho sự tăng-trưởng này được thành-tựu; và nếu cần, Ngài còn chờ, còn đợi mãi bao lâu kế-hoạch thiên-định được thực-hiện. Thiết tưởng, mục-tiêu tối hậu của kế-hoạch Ngài đưa ra là loài người sẽ phải tiếp-tục tặng-trưởng mãi cả về mặt đạo-đức lẫn tâm-linh, theo cách nào đó, cho đến khi biến thế-giới trở về lại với tình thương-yêu từ đó nó xuất xứ. Thật ra, chẳng ai biết được sự việc ấy mang hình-thức như thế nào, nhưng ai cũng tin tưởng là đó là mục-tiêu tối-hậu của loài người. Dù có trải dài thêm 13 hoặc 14 tỷ năm hoặc hơn nữa, cũng được đi, vì Đức Chúa đã biết chờ, thì Ngài sẽ còn chờ, còn đợi mãi cũng không sao.

Đức Giêsu khi xưa từng sống chỉ cách nay có hơn hai ngàn năm, tức một khoảnh-khắc rất nhỏ so với cả tỷ năm tạo-dựng. Và Đức Chúa vẫn cứ đợi cứ chờ bao lâu người theo chân Đức Giêsu cần phát-triển và áp-dụng ý-định của Ngài theo cách-thức nào toàn thể-thế-giới có khả-năng phát-triển cách an-toàn đi vào mục-tiêu tối hậu này.

Mọi chứng-cứ sẽ chỉ-dẫn để ta thấy rằng vào những ngày sớm-sủa nhất ở truyện kể của Đạo Chúa, như nó từng là thành-phần của truyện kể bảo rằng: thế-giới này sẽ quay về với tình thương-yêu là gốc-nguồn từ đó nó được sinh ra.” (x. Gm Geoffrey Robinson, The 2015 Synod, The Crucial Questions: Divorce & Homosexuality  ATF Press 2015, tr. 2-5)

Trích-dẫn nhận định của đấng-bậc chủ-quản từng chủ-trì Tổng Giáo-phận Sydney, hôm nay, chính là để bạn và để tôi, ta có một cái nhìn chín-chắn về sự tin-tưởng trong sống Đạo giữa đời, có nhiều lời bàn ra tán vào về nhiều thứ.

Trích và dẫn, không chỉ dẫn và trích những gì được nói hoặc được viết trên giấy trắng mực đen, thôi.

Trích và dẫn, còn là dẫn-giải về nhiều thứ chuyện trong đời của con người. Những sự và những việc có liên quan đến đời sống của nhiều người trong ngoài Đạo Chúa hay đạo Bụt, ở mọi nơi. Trích và dẫn, còn là cứ dẫn và cứ trích những sự vụ hoặc lời kể ở nhiều nơi, vẫn gửi vể để bà con ta có chút gì mà nhớ mà thương, như sau:

“Có 5 điều mà các bậc cha mẹ nên học từ các bạn bên đạo Bụt tiếp tục phát triển rộng ở nhiều nước bên phương Tây ít nhiều thì giáo lý của Đạo cũng đã và đang được đưa vào thảo luận quanh đề-tài “Làm sao Trở Thành Bậc Cha Mẹ Tốt. Các khái-niệm về Thiền, Từ Bi, và Chánh Niệm dễ dàng đi vào suy nghĩ của chúng ta; nhưng các khái niệm này thực sự có nghĩa gì trong thực tập?

Tác giả cuốn sách có tựa đề là ‘Brave Parenting’ (Bậc Cha Mẹ Dũng Cảm), lấy hứng từ đạo Bụt về vấn đề làm cha làm mẹ, đã vui thích kết hợp triết lý đạo Bụt với việc làm cha mẹ trong đời sống hằng ngày. Một trong những nguyên tắc rút từ phương pháp này là kích thích sự chín chắn nơi cảm xúc và khả năng tự lực cánh sinh của trẻ/bé. Trong khi đó, việc cha mẹ chu-toàn bổn-phận cũng ngày một dễ dàng hơn.

Tác-giả khẳng định điều đó không có nghĩa mình phải giữ yên tịnh và tĩnh tâm vào mọi lúc. Đây là việc chuyển hóa quan hệ đơn thuần của ta với con cái để có mặt thật sự với con mình. Đây còn trải-nghiệm các cấp-độ cảm xúc mà không tạo phản ứng.

Dưới đây là năm nguyên tắc căn bản lấy hứng từ đạo Bụt hầu giúp bạn trong hành trình sống:

1. Thấy được tâm định tĩnh là tâm vững vàng

Theo đạo Bụt, cuộc sống là một giòng chảy liên tục. Chính vì thế sự ổn định không có từ ngoại cảnh, mà từ cung-cách ta tiếp-cận với nó thế nào: ta có thể gieo trồng hạt giống của tâm định tĩnh.

Hầu hết chúng ta đều có trạng-thái tinh-thần hứng-khởi rồi huỷ-diệt trong các hoạt động thường ngày. Ta tiếp-cận chúng với động-thái xấu/tốt lẫn lộn. Chẳng hạn như, bằng cách ôm hôn, cười với con là đều tốt; cả khi bị kẹt xe và trễ giờ đi họp có thể là xấu. Đạo Bụt khuyên ta nên xem các sự việc ấy bằng tâm xả. Vạn vật đều như thế. Và chính mình cũng cảm nhận cách sâu sắc sức mạnh nằm ở việc chấp nhận như thế. Bạn có thể dạy con cái mình bằng tấm gương của chính mình. Thiền tập như thế là cách hay nhất để nuôi dưỡng hạt giống tâm-định rất tĩnh.

2. Mỉm cười với vô thường

Văn hóa của ta, phần lớn đều lo ngại do bởi ý niệm vạn-vật vẫn liên hồi thay đổi. Ta thích lề thói, tập quán và mọi sự vĩnh cữu. Nhưng, Bụt dạy: vạn vật vẫn liên-tục vận-động và hơn nữa, tất cả đều vô thường.

Ta không muốn bị bệnh tật hoặc chết chóc, nhưng chính những cái ấy là một phần của cuộc sống. Có sinh có diệt. Điều đó là chuyện tự nhiên của kiếp người, thôi! Ta có thể dạy con biết điều này không làm cho chúng sợ  mà cho chúng hiểu về quá-trình của kiếp sống: hoa cũng tàn, cây trái cũng có ngày bị hư hoại, lá vẫn rơi rụng vào mùa thu.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta học cách chấp nhận hơn là lo sợ, đó là sự chuyển vận to lớn. Ta dạy cho con cái biết: thay đổi là việc tự nhiên. Và cách tốt nhất để am-hiểu lẽ vô thường nơi vạn-vật là thái độ cảm-hoá biết ơn vào mỗi ngày mình sống, bởi mỗi ngày đều duy nhất, rất khác biệt.

3. Hãy nói ‘Cũng tốt thôi!’ với những điều mình đang lo lắng

Người thường đều rõ biết, do tính vô thường mà nỗi-niềm lo lắng luôn tiềm-ẩn, tồn tại. Nỗi niềm ấy là dấu hiệu cho thấy có cái gì đó ‘không ổn’; nó là trải nghiệm của tình trạng sống trong thế giới vô thường này. Thế nên, đây không là những gì ta có thể tự ‘chỉnh sửa’ nơi người mình, cũng như nơi con em của ta. Nỗi-niềm lo-lắng là cảm xúc thường-tình mà mỗi người đều cảm nhận. Nỗi-niềm chịu đựng sự việc như thế sẽ chóng tiêu tan khi ta nhận diện và chấp nhận nó.

4. Biết quan tâm đến những cảm xúc của trẻ; các cảm xúc ấy được Đạo khuyến khích ta quan tâm ngang qua những thăng trầm của cuộc sống và nhận biết rằng ta đang trải qua giai-đoạn đó. Chính vì thế, mà mọi cảm xúc đều không xấu, không tốt. Người người nên nhận biết cho đúng cảm xúc ấy để hiểu được rằng: chúng là những ‘nhân tố’ báo cho ta biết tình trạng hiện thời của ta ra sao.

Hiểu được sinh khởi và hoại diệt của cảm xúc, ta sẽ dạy cho con cái mình biết đối diện với cảm xúc của chúng theo cách tự nhiên nhất. Đó là  bình-an trú-ngụ trong hiện tại và trải nghiệm được cảm xúc ấy cho tới khi chúng biến mất. Bậc cha mẹ không cần xen vào việc tiến-trình này để chỉnh-sửa hay chuyển-đổi cảm nhận của con cái.

5. Tin rằng con mình đủ sức tự lập

Trong đời sống hàng ngày, dĩ nhiên có mất mát và thất vọng. Các bậc phụ-huynh ngày nay thương yêu bảo bọc con em mình khỏi mặt trái của cuộc sống và đây là bản năng tất yếu, không thoát khỏi. Tuy nhiên, ta cũng thách-thức bậc phụ huynh để cho con mình tự giải quyết các vấn đề do chúng mắc phải.

Các vấn đề mà trẻ thường hay mắc phải là sự thất vọng trong sinh hoạt hằng ngày, chúng thấy khó khăn khi mang bài tập về nhà, hoặc cứ cãi vã với anh chị, bạn bè, hoặc chống-đối nội quy, công việc, v.v…. Khi con em được phép đấu tranh, chúng có xu hướng khởi-đầu giải quyết vấn đề và tập sống tự lực trước mọi khó khăn cũng như các thuận lợi của cuộc sống mà không cần cha mẹ giúp đỡ.

Đại sư Tịch Thiên từng dạy, là: ‘Đi trên đất với đôi chân trần bạn có thể bị đứt. Bạn có thể trải miếng da trên đường đi, hoặc bao bọc chân mình bằng miếng da gọi là giày dép.’

Làm cha mẹ, ta đang bọc lót các miếng da bảo vệ con cái mình, hơn là dạy chúng biết cách tự làm giày để chúng biết xoay sở trước những trở ngại và để chúng phát huy tính tự lực cánh sinh của chùng. (Theo mindbodygreen.com)

Kể thế rồi, nếu như bạn và tôi, ta vẫn chưa thấy thuyết phục cho lắm về các ý-kiến này, nay lại xin gửi đến tôi và đến bạn truyện kể mang tên “Kẻ lang thang muốn đổi chỗ cho Bụt ở Chùa, giống thánh hiền Đạo Chúa đứng ngồi như tượng thần, cũng rất thần và rất tượng như sau:

Có một kẻ lang thang, đi vào chùa, thấy Bụt ngồi trên Đài Sen nhận cúng bái của mọi người, anh ta vô cùng ngưỡng mộ. Kẻ lang thang nói với Bụt:

Tôi có thể đổi chỗ ngồi với Người một lát không?”

Bụt trả lời:

-Chỉ cần anh không mở miệng.

Kẻ lang thang ngồi lên Đài Sen. Trước mắt anh là cả một ngày hỗn loạn và ầm ĩ, người đến viếng hầu hết đều cầu điều này chuyện nọ. Anh vẫn cố chịu đựng trước sau không mở miệng. Một ngày nọ, có phú ông đến. Phú ông xin:

-Cầu Bụt ban cho con đức tính tốt.

Nói xong ông dập đầu, đứng dậy, ví tiền rớt xuống mặt đất. Kẻ lang thang vừa muốn mở miệng nhắc nhở, nhưng kịp nhớ đến điều kiện do Bụt đưa ra, nên lại thôi.

Sau khi phú ông đi, có người nghèo nọ bước vào, nói:

-Cầu Bụt cho con ít tiền. Người nhà con lâm bệnh nặng, đang rất cần tiền ạ.

Cầu xong ông dập đầu, đứng dậy, nhìn thấy một túi tiền rơi trên mặt đất. Người nghèo thốt lên câu:

-Bụt đây quả thật rất linh.

Ông cầm túi tiền cất bước ra đi. Kẻ lang thang muốn mở miệng nói không phải linh với hiển gì đâu, mà chỉ là đồ người ta đánh rơi, nhưng anh nhớ đến điều kiện do Bụt đưa ra, nên lại thôi. Lúc này, lại có ngư-dân bước vào. Ngư dân cầu xin cùng Bụt như sau:

-Cầu Bụt ban cho con bình an, ra biển không gặp sóng gió.

Đoạn dập đầu, đứng dậy, ông vừa muốn đi, lại bị phú ông túm chặt áo đòi lại túi tiền. Chỉ vì túi tiền, mà hai người đánh nhau túi bụi. Phú ông cho rằng ngư-dân này đã lấy túi tiền của ông, còn ngư-dân lại thấy oan-ức không chịu nổi. Kẻ lang thang, ngồi trên nhìn xuống không thể nhịn được nữa, anh liền hô to:

-Dừng tay! Nói thế rồi, anh đem hết câu truyện kể lại cho hai người hiểu. Nhờ thế, hai người này không còn tranh chấp, cãi vã hoặc đánh nhau nữa, nên đã yên.

Lúc ấy Bụt bèn nói:

-Ngươi thấy làm như thế có được không? Hãy tiếp tục làm kẻ lang thang đi mà sống đúng chức-năng của mình! Ngươi mở miệng, tự cho mình là công bằng, nhưng người nghèo vì vậy mà không có tiền chữa-trị người thân; người giàu không có cơ-hội tu-thân tạo đức hạnh; ngư-dân ra biển gặp sóng gió chôn thân dưới đáy biển. Nếu ngươi không mở miệng, mạng sống người nhà của kẻ nghèo sẽ được cứu; người giàu có tốn chút tiền thật đấy, nhưng lại giúp được người khác hầu tích đức; ngư dân cũng vì dây dưa không cách nào lên thuyền, tránh được mưa gió, bão bùng có thể còn sống sót.”

Kẻ lang thang im lặng bước ra khỏi chùa chiền, suy-nghĩ rất nhiều. Nghĩ rằng: nhiều sự việc trong đời, nó có thế nào vẫn là như thế. Cứ để nó tiến-triển theo luật tự nhiên, kết quả sẽ tốt hơn. Khi đối mặt với sự việc, ai biết được kết quả đem lại cho mình và cho người, chứ? Cứ yên-lặng theo dõi mọi diễn biến, đó chính là năng-lực có thực! Thuận theo luật tự nhiên, lại cũng là một loại hạnh phúc, ở trên đời! (truyện kể do Minh Quân dịch)

Truyện kể hay những đoạn trích-dẫn ở trên, vẫn dẫn đưa bạn và tôi trở về tình-huống có lời ca tiếng hát vẫn nhắc nhở mọi người, bằng ca-từ đầy ý-tứ như sau:

Ngày tôi đi vàng nắng

Nghiêng nghiêng một hàng cau

Mai ta nhìn mây trắng

Gửi lời về thương nhau

Chiều nay buồn viễn xứ

Nhớ người em gái xưa

Tôi thấy phương trời cũ

Giăng giăng một hàng mưa.”

(Nguyễn Hiền/Thiệu Giang – bđd)

Hát thế rồi, tôi và bạn lại cứ hiên ngang đầu cao mắt sáng cứ tiến thẳng về phía trước, không sợ đớn đau, sầu buồn hoặc trở ngại ở đâu đó, dù rất khó.

Hát thế rồi, nay xin bạn và tôi, ta lại sẽ triển-khai những gì học được từ đấng bậc rất hiền lành, ở trong Đạo hoặc ngoài đời, rất thức thời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những quyết tâm

Sẽ học mãi hết mọi người

Cả trong Đạo lẫn ngoài đời

Thì hai đứa còn đâu cơ hội nữa,

“Thì hai đứa còn đâu cơ hội nữa,”

“Tình đã đến trong những ngày nhuộm đỏ,

trong những ngày Thượng đế phải ra đi,

Trong những ngày giá-trị của lương-tri,

được thẩm-định bằng tín-điều duy vật!”.

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Với nhà thơ, thoì như thế. Như những gì người đời vẫn nghĩ suy. Với nhà Đạo qua Tin Mừng thánh Gioan, thì lại khác. Trình-thuật nay vẫn kể dân con đồ đệ nghe Chúa nói chuyện và dẫn-giải , thường có thái độ rối như tơ lòng, nhiều giây nhợ.

Thật tình, họ ít khi hiểu rõ được ý nghĩa thâm sâu, Lời Chúa nói. Thái độ của họ, giống như cặp tình nhân nọ, đã ghé thăm vùng đầy tuyết ở Seattle, trong hai tuần. Để tỏ bày sự thân tình trìu mến, họ gọi nhau bằng vợ bằng chồng, thật gần gũi. Họ còn lên kế hoạch men theo Nam tuyến, đi xuống phía Florida, để có thêm chút ánh sáng mặt trời. Người chồng, ngưng mọi công việc từ ngày hôm trước, đã trực chỉ về hướng biển bờ Miami, nơi đó sẽ gặp vợ, ngày hôm sau.

Cả hai người, đều trông mong sẽ có được thời gian ở bên nhau, thật hấp dẫn để vui hưởng ánh nắng mặt trời, chói sáng. Nhưng không may, có một chuyện ngoài ý muốn xảy đến ngay ở cửa lên tầu, người chồng được bảo: có lẽ anh phải chờ qua đêm, vì món rượu mạnh đặc biệt.

Anh tìm cách khiếu nại lên vị thủ trưởng ở đó, nhưng vô hiệu. Vừa kịp đến khách sạn, vào hôm sau, anh bèn khám phá ra rằng Biển Miami vừa xảy ra cơn sóng mang giòng nước nóng, và thời tiết hôm ấy lên cao đến độ không thể chịu đựng được, ngược hẳn thời tiết quá lạnh, ở Seattle. người tiếp tân ở quầy cho hay, vợ anh sẽ kịp đến, như dự định.

Anh nóng lòng chờ đợi đến mức độ phải chay bay biến xuống khu vực hồ bơi, để lấy lại hơi mát cần có, và vội vàng anh gửi cho vợ, một điện thư. Thư diện của anh lại được chuyển đến nhà phu nhân của vị giảng thuyết có người chồng già vừa qua đời, chỉ một ngày trước đó. Khi vị phu nhân mở điện thư ra đọc, thoáng chốc bà nhìn vào màn hình nhỏ, bất chợt kêu lên một tiếng thất thanh, rồi gục đầu tắt thở, ngay tại chỗ.

Gia đình chạy vội vào phòng xem cớ sự, tức thì bắt gặp bức điện thư ngắn gọn từng chữ, mồn một ghi rõ trên màn hình, những giòng chảy:

“Gửi người vợ thân yêu nhất của anh, ra đi hôm qua như em biết đấy, vừa kịp đến mới xong phần khám xét. Đôi chút hiểu lầm ở ngang cửa. Khiếu nại bị bác bỏ. Vừa được xác nhận em sẽ đến đây vào ngày mai. Chồng yêu quý của em. Chú thích: Mọi sự không như chúng mình nghĩ. Em sẽ rất đỗi ngạc nhiên về sức nóng, ở dưới này.”

Theo sau việc phát thức ăn cho hơn 5000 người, dân chúng cứ tưởng rằng: khi Chúa nói Ngài là Bánh Sự Sống, tức là Ngài có ý nói đến nguồn cung cấp thức ăn cho buổi hôm sau. Nếu việc này quả đúng là sự thật, thì có lẽ phải ghi trên vòng quay số, đôi ba giòng chữ có nghĩa tương tự như khi người diễn trò sử dụng từ ngữ “quán cà phê Công Giáo”

Tuy thế, Đức giêsu chỉ muốn dẫn người nghe đến sự thể chính Ngài làm cho mọi người dịu mọi cơn đói. Vì khi ấy, ta sẽ chẳng bao giờ còn đói hoặc khát, nữa.

Đói, là chuyện rất quan trọng. Nó đòi ta phải thường xuyên chú ý đến. Đói thể xác, cho thấy ta cần được nuôi dưỡng. Ta cần có nước trong người. Cần luyện tập và ngủ nghỉ. Ta từng học cách thức đọc ra được các dấu hiệu của thể xác. Nếu cứ tảng lờ, ta sẽ chết. Ta cũng có cơn đói cảm xúc. Vào lúc đó, ta cần được yêu thương. Chấp nhận. Có đôi tai biết lắng nghe. Nếu cứ giả lơ giả tảng những dấu hiệu này, tâm thần ta sẽ trở nên tệ hại hơn. Và, chất lượng cuộc sống nơi ta, sẽ mai một.

Tuy là thế, Đức giêsu cũng cảnh giác ta về cơn đói thần thiêng. Đây chính là nhu cầu ta cần có đối với Ngài. Cần có mục tiêu  và ý nghĩa. Cần cho niềm tin. Cho Tình yêu. Hy vọng. Nếu cứ tảng lờ cơn đói này, ta sẽ để luột mất tầm nhìn về nơi ta xuất phát. Về lý do, tại sao ta hiện diện ở đây. Và về điểm đích, ta đi tới.

Chương 6 Tin Mừng thánh Gioan tiếp tục được diễn nghĩa, qua đó cho thấy Đức Giêsu càng diễn tả thật rõ nét hơn, về vai trò Ngài đến. Ngài đến, để làm cho người được no đầy. Kẻ khát, có đủ nước uống.

Và khi Ngài gỡ rối bòng bong cho dân chúng, họ lại cảm thấy như bị chạm nọc. Đức Giêsu, là Bánh Sự Sống. Ngài quan tâm nhiều đến chúng ta. Quan tâm trong việc giải những cơn đói lòng thể xác, xúc cảm và thần thiêng của ta, ở thế gian này. Giải cơn đói, theo cung cách thoáng nhìn thấy sự sống sẽ đến nơi Ngài. Ở sự sống ấy, mọi kẻ đói khát sẽ được tràn đầy, không thèm muốn.

Cầu mong sao Tiệc Thánh này chuẩn bị chúng ta cho ngày giờ khi việc ta ra đi khỏi thế giới gian trần sẽ trờ tới.

Cầu mong sao khi ấy, sẽ không có chuyện chộn rộn nơi cửa ngõ. Lúc đó, chẳng cần gì phải khiếu nại.

Cầu mong sao, ta được hiệp thông nối kết với những người mà ta hằng yêu mến. Để ta được sưởi ấm nơi tình thương yêu của Chúa. Để Ngài chỉ định chỗ ngồi nơi Bàn tiệc Vĩnh cửu, Ngài dọn cho ta. Bởi, nơi Tiệc ấy, không còn người đói kẻ khát, về mọi thứ.

Cảm-nghiệm điều ghi đậm nét như thế, ta ngâm tiếp lời thơ đời trắng trợn nhiều tình tiết, như:

“Có những điều ta muôn hôn em, rồi khóc,

Mùa bình-an nào chờ-đợi uyên-ương?”

(Nguyễn Tất Nhiên – Uyên Ương)

Uyên ương tình người, nhiều lúc cũng hơi khác. Khác, cả vào khi ta được dẫn-giải rất nhiều lần. Tình nhà Đạo, còn khác nhiều lời thơ đời. Khác, cả hình-thức lẫn nội-dung như nhiều người vẫn cảm-nghiệm trong đau thương, sầu buồn. Nhưng vẫn một lòng tìm đến với Đức Chúa để Ngài dẫn-giải ý-nghĩa của mọi sự-kiện diễn ra ở đời. Với con người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 14-25)

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

Đức Giêsu đáp:”Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” Họ liền nói:“Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giêsu bảo họ:”Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

MUA ĐÂU RA BÁNH CHO NHỮNG NGƯỜI NÀY ĂN

MUA ĐÂU RA BÁNH CHO NHỮNG NGƯỜI NÀY ĂN

Một toán du khách đi thăm dấu vết của trại Đa-sô (Dachau), một trại giam nổi tiếng của phát xít Đức thời Hitler.  Người hướng dẫn khách du lịch hôm đó là một cựu tù nhân của Đa-sô xưa, ông đã bị nhốt lâu năm và may mắn thoát chết.  Hôm đó là Chúa nhật, nhiều toán khách du lịch đến thăm di tích lịch sử này.  Khắp nơi vương vãi những rác rưởi lẫn với đồ ăn thức uống.  Gặp một mẩu bánh mì nằm bên lề đường, người hướng dẫn toán du lịch nhào tới lượm lên, ông nói giọng run run: “Một mẩu bánh mì!  Tôi không thể chịu được khi thấy một mẩu bánh mì bị bỏ phí.  Mấy năm thoi thóp trong tù, đối với tôi mẩu bánh mì đồng nghĩa với sự sống.  Nó là ranh giới giữa sống và chết”.

Trong các bản năng Chúa trao ban cho con người, có lẽ bản năng sinh tồn là tha thiết nhất.  Bất cứ ai đã có lần bị xâu xé trong cơn đói thì sẽ ghi nhớ suốt đời.  Chắc Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm trong bốn mươi ngày đêm ăn chay nơi sa mạc, nên người rất cảm thương những người bị đói.  Đám dân lũ lượt đi theo Chúa vào sa mạc, có những người vì tin tưởng muốn nghe lời Chúa, nhưng cũng có người chỉ vì tò mò, vui chân theo bạn bè, họ cứ đi mà không nghĩ đến ăn uống.  Giờ này, Chúa biết họ đói bụng, và Chúa nghĩ phải kiếm gì cho họ ăn.  Và có lẽ qua niềm cảm thông với tình cảnh đói khát của con người như vậy, Chúa đã nghĩ tới việc lập Bí Tích Thánh Thể.  Qua Bí Tích này, Chúa ở lại gần gũi với nhân loại hơn.  Đồng thời cũng là để thỏa mãn phần nào sự đói khát tâm linh của tín hữu.  Từ lương thực no đủ cho thân xác, con người nghĩ về Chúa như một nhu cầu thiết yếu của linh hồn mình.  Chúa đã mở rộng cõi lòng và cái nhìn của ta để ta dễ tiếp nhận mầu nhiệm Thánh Thể bằng một phép lạ vĩ đại: Bánh hóa nhiều.  Chúa làm cho 5 ổ bánh hóa nhiều để nuôi 5 ngàn người, cốt cho chúng ta nhớ tới Chúa là bánh thật, bánh trường sinh, là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta.  Sự đói khát Chúa khó cảm thấy, nhưng cũng gây mệt mỏi cho con người như đói cơm bánh vậy.

Tại sao Chúa phải hỏi Philipphê về việc mua bánh?  Ngài có thể phán một lời là có ngay nhiều bánh nhiều cá.  Tuy nhiên Chúa muốn thực hiện một phép lạ với sự cộng tác của Tông đồ và thiện chí của một em bé.  Đó cũng là một qui luật tự nhiên mà Chúa hằng tôn trọng: do lòng tin mà có phép lạ.  Chúng ta còn nhớ phép lạ trong tiệc cưới Cana.  Chúa có thể từ không mà làm ra rượu, nhưng Chúa đã đợi người ta đổ nước lã đầy các chum.  Những người giúp việc đang mệt mỏi mà phải đi múc nước từ giếng sâu, cũng là một cố gắng, có thể nói được là một hành động biểu lộ đức tin.

Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã ban lời Chúa và Thánh Thể làm lương thực nuôi sống linh hồn chúng con.  Xin giúp chúng con hiểu và tin những mầu nhiệm Chúa muốn mạc khải cho chúng con.  Chúng con xin tạ ơn Ngài.

Noel Quesson

Tướng Thanh về nước, thật không?

Tướng Thanh về nước, thật không?

Trung Điền

Các báo chí Việt Nam hôm 25 tháng 7, đã đồng loạt loan tin Tướng Phùng Quang Thanh từ Paris trở về Việt Nam sau 1 tháng điều trị ung thư phổi, trên một chuyến bay của hãng hàng không Vietnam Airlines.

Điều đáng nói là trong hàng trăm tờ báo, trang điện tử loan tin, chỉ có báo Tuổi Trẻ đăng một tấm hình duy nhất do phóng viên Việt Dũng nào đó chụp được với lời tường thuật: “Đại tướng Phùng Quang Thanh mặc complet màu xám nhạt, bước xuống cầu thang máy bay, tươi cười bắt tay nhiều người ra đón và lên xe hướng về phía Hà Nội”.

Báo Người Lao Động cho biết là sáng 25/7 có rất đông phóng viên tụ tập ở sảnh chờ của nhà ga T2 để đón ông Thanh nhưng ông Thanh đã không xuất hiện.

Trong khi đó Báo Dân Trí thì phỏng vấn lãnh đạo “Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài” với tường thuật: “Máy bay chở Đại tướng đỗ ở vị trí gần nhất để thuận lợi cho việc di chuyển xuống mặt đất. Sau đó, Đại tướng Phùng Quang Thanh được đón vào nhà khách VIP và được phục vụ theo tiêu chuẩn ưu tiên dành cho khách cấp cao”.

Báo Dân Trí còn cho biết là từ nhà khách VIP, xe hơi đón Tướng Thanh đưa về nhà riêng tại phố Vĩnh Phúc, Ba Đình và sau đó ôngThanh đã đến trụ sở Bộ Quốc phòng, gặp gỡ các tướng lĩnh và nhân viên làm việc tại đây.

Báo Tiền Phong thì phỏng vấn Trung Tướng Vũ Văn Hiển, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương cho biết là trên đường từ sân bay về, Tướng Thanh đã nói chuyện với hai ông Nguyễn Phú Trọng và Lê Khả Phiêu.

Tướng Hiển còn cho biết là từ Thứ Hai ngày 27/7, Tướng Thanh bắt đầu làm việc lại, và sẽ làm trưởng đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tới viếng lăng Hồ chí Minh, nhân dịp kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ.

Tối cùng ngày, nếu không bận chỉ đạo những công việc đột xuất, Tướng Thanh sẽ tham dự chương trình giao lưu nghệ thuật “Khát vọng đoàn tụ”, được tổ chức tại hội trường Bộ Quốc phòng và được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình quốc gia và kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam.

Nếu chỉ đọc lướt qua những tường thuật của các báo trong nước, ông Phùng Quang Thanh đã trở về bình an, bình thường… Nhưng đi sâu vào những chi tiết tường trình và hình ảnh, sự đón tiếp Tướng Thanh lại làm lộ ra những nghi vấn sau đây:

Thứ nhất là không có phóng viên nào được gặp trực tiếp hay thấy tận mặt Tướng Phùng Quang Thanh trở về ngay tại Phi trường Nội bài. Tất cả những tường thuật đều chỉ là ghi chép lại những lời kể từ một số cán bộ lãnh đạo sân bay hay từ quân ủy Trung ương, dù ông đang là trung tâm của nhiều tin đồn liên quan tới sinh mạng của chính ông – một bộ trưởng quốc phòng.

Nếu quả thật khỏe mạnh, tại sao ông Thanh không trực tiếp xuất hiện trên hệ thống truyền thông, truyền thanh mà phải để cho Tướng Vũ Văn Hiển truyền đạt câu mà báo Tiền Phong ghi như sau: “Bộ trưởng gửi lời cám ơn tất cả các cơ quan, anh em, bạn bè đã có sự thăm hỏi, động viên trong quá trình Bộ trưởng điều trị bệnh tại Cộng hòa Pháp”.

Thứ hai là rất đông phóng viên túc trực tại Phi trường Nội Bài, kể cả tại nhà riêng của Tướng Thanh ở phố Vĩnh Phúc, Ba Đình nhưng không có bất cứ tấm hình nào chụp Tướng Thanh một cách rõ ràng, với sắc diện hồng hào, khoẻ mạnh như Tướng Hiển cho biết. Ngoại trừ tấm ảnh duy nhất chụp từ rất xa của Việt Dũng, phóng viên báo Tuổi Trẻ, được đăng tải, không có một tấm ảnh nào khác ghi nhận lại khoảnh khắc đón Tướng Thanh ở phi trường. Khiến dư luận lại đặt thêm nghi vấn là liệu tấm hình này có thật không hay là “photoshop”, hay một hình nộm đóng vai ông tướng?

Nếu như vì lý do nào đó không cho phóng viên chụp hình, Bộ quốc phòng CSVN cũng nên cho phổ biến một số hình ảnh đón tiếp Tướng Thanh tại phòng VIP ở phi trường hay tại Bộ quốc phòng để xóa đi những nghi vấn về sự sống chết của Tướng Thanh – đã nở rộ từ cuối tháng 6 vừa qua, khi có tin đồn ông sang Pháp chữa bệnh. Nhưng không, họ đã không làm chuyện này, hay đúng ra là đã “không làm được chuyện này”. Giải đáp về số phận của Tướng Thanh lại càng trở nên rõ rệt hơn đối với dư luận qua “chuyến về nước” của ông ta trên mặt báo đảng.

Rõ ràng, càng lên tiếng giải thích thì chế độ CSVN lại càng tạo thêm nhiều nghi vấn về một ông tướng trùm quân đội thần phục Bắc Triều, đột nhiên biến dạng, trong lúc lãnh đạo CSVN xoay trục về phía Hoa Kỳ với chuyến viếng thăm Washington D.C. của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Phải chăng, lãnh đạo CSVN chưa tìm ra một lời giải thích thỏa đáng về “sự ra đi” của Tướng Thanh cách nay một tháng nên đã phải cố dựng lên những kịch bản phải nói là “rất tồi” để đánh lừa chính họ rằng vấn đề của Tướng Thanh vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát.

Thứ Hai ngày 27/7, Tướng Thanh sẽ dẫn một phái đoàn quân ủy vào viếng lăng họ Hồ. Nhiều phần cuộc thăm viếng này cũng sẽ loan tải trên các báo với sự dẫn đầu “bí mật” của Phùng đại tướng, nhưng sẽ không có bất cứ hình ảnh nào về Tướng Thanh hoặc chỉ… có tấm hình mờ mờ, ảo ảo.

Có lẽ lãnh đạo CSVN sẽ tiếp tục trò chơi này cho đến Hội nghị lần thứ 11 Trung ương đảng dự trù khai mạc vào tháng 8 tới đây chăng. Chờ xem!

Trung Điền
Ngày 25/7/2015

Sự nhục mạ uy danh đại tướng!

Sự nhục mạ uy danh đại tướng!

Người Buôn Gió

25-07-2015

Sau nhiều lần đồn đoán của dư luận và cải chính thông tin từ báo chí về tính mạng của đại tướng Phùng Quang Thanh. Ngày 25/7.2015 báo chí Việt Nam đưa tin đại tướng Phùng Quang Thanh về nước.

Nhưng không hề có tấm ảnh hay vài giây clip ngắn ngủi nào để chứng minh được đó là đại tướng Phùng Quang Thanh thật sự. Tất cả tấm hình chỉ là chiếc xe , duy nhất một tấm hinh chụp từ xa nói một người mặc vét xám là ông Thanh. Tuy nhiên tấm hình mờ đến nỗi không ai dám khẳng định là ông Thanh. Chưa kể những chi tiết như mái tóc chải ngược bên thông thường hay tư thế chân đứng rất khó hiểu.

Bây giờ xét theo luồng dư luận ông Phùng Quang Thanh còn sống và khoẻ mạnh.

Nếu vậy tại sao không đưa ra bằng chứng rõ ràng cho luồng  dư luận khỏi nghi ngờ, bán tán ông đã chết ?

Người ta bảo không việc gì phải giải thích với những ai nghi ngờ thiếu thiện chí.?

Chẳng phải từ khi tin ông Thanh chết ở bên Pháp đến giờ, bao lần tướng lĩnh như tướng Thước, tướng Tuấn và các chuyên gia y tế cao cấp như ông Khải phải lên báo giải thích đó sao.? Thậm chí là đến Bộ Ngoại Giao cũng phải lên tiếng đính chính đó sao.?

Ông Thanh còn sống và khoẻ manh, tin vẫn cứ đồn ông chết. Một người bình thường thôi, như bà Châm ở Hải Dương tin đồn bà ấy chết, lập tức có clip đưa ra bà vẫn sống và đang nói. Ai trong trường hợp bị đồn như thế họ cũng sẽ tìm cách chứng minh đưa ra những bằng chứng xác thực không thể chối cãi. Trừ những trường hợp trốn nợ thì họ có thể ỡm ờ.

Ông Thanh còn sống, dư luận đồn ông chết. Ông mang thân là một đại tướng, bộ trưởng quốc phòng, uỷ viên BCT. Cái uy danh của ông rất lớn, bởi lớn thế mới thu hút được tin đồn.

Thế nhưng báo chí có vẻ không thiện chí trong việc làm sáng tỏ cho ông, kiểu đưa tin như tôi gọi nói với thư ký, hoặc tấm hình cái xe càng khiến dư luận rối mù, xôn xao bàn tán hơn.

Chả lẽ mang uy danh đại tướng ra để làm trò vờn thông tin. Úp mở để dư luận đồn đoán sai, rồi mới trưng bằng cớ thật ra là ông còn sống đây. Các thế lực thù địch, đài báo, bọn lâu nhâu bloger, facebook chỉ là đồn sai trái, không căn cứ, đừng tin vào chúng. Hãy tin vào báo chí cách mạng.

Làm thế không đáng chút nào, uy danh của một đại tướng không thể đem ra làm trò nghi binh để chiến thắng trong một trận chiến truyền thông lãng nhách như vậy. Lấy uy danh đại tướng ra để vờn như vậy là nhục mạ uy danh ấy. Không coi con người ấy, vị trí ấy ra gì. Mới sử dụng vào mục đích thấp hèn để đánh lừa, gài bẫy dư luận.

Các tờ báo ” chính thống ” như Quân đội nhân dân, công an nhân dân, nhân dân, trang chính phủ họ đứng ngoài cuộc. Tờ báo quân đội nhân dân không hề đăng một tin nào về ông Thanh suốt trong những ngày dư luận đồn đại.

Những tờ báo hạng hai như Vietnamnet, dantri, thanhnien…thì tới tấp đưa những tin mơ hồ, thiếu chứng cứ liên tục. Đưa như thể câu lượng đọc chứ không phải là muốn bảo vệ uy tín của ông Phùng Quang Thanh.

Nếu ông Phùng Quang Thanh còn sống, còn đường đường là đại tướng bộ trưởng quốc phòng, còn là uỷ viên BCT…liệu ông có chấp nhận mình là một con bài để báo chí cách mạng dùng lập lờ nhằm đánh một cú đau vào những đồn đoán hay không.?

Giả sử ông chấp nhận làm vật nghi binh, chỉ để làm cái trò lật mặt dư luận trong lần này thôi, chả đáng tí nào. Đại tướng mà đồng loã để làm trò như vậy còn gì là đại tướng. Không ai đi đùa với tin đồn mình chết, kể cả người bình thường, vì họ còn bố mẹ , anh em, họ hàng nữa.  Anh chấp nhận đùa thế với dư luận, nhưng thân nhân của anh họ có chấp nhận hay không.?

Giờ thì thử xác định ông Thanh còn sống và khoẻ mạnh. Chắc hẳn sau cú làm bẽ bàng dư luận. Người ta còn thấy thương hại cho ông vì đã mang danh đại tướng ra để làm trò ú tim.

Các tờ báo đưa tin ông Thanh còn sống, đi làm việc chỗ này , chỗ kia mà không đưa ra bằng chứng xác thực đánh tan nghi ngờ của dư luận, chính là những tờ báo đang mang uy tín, danh giá của một lãnh đạo cao cấp ra làm trò dền dứ , câu nhử dư luận.

Như thế là đang xúc phạm, sỉ nhục và lăng mạ một đại tướng.

Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’

Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-26

07262015-heavy-hand-mesu-by-authomk-hr-stau.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trong ngày tuyệt thực của phong trào ‘We Are One’ (Chúng Ta là Một)

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trong ngày tuyệt thực của phong trào ‘We Are One’ (Chúng Ta là Một)

Courtesy Danlambao

Những nhà hoạt động vì quyền con người tại Việt Nam cho biết họ phải đối diện với những biện pháp sách nhiễu, thậm chí hành hung, bỏ tù của chính quyền. Thế nhưng càng bị trấn áp bao nhiêu họ lại càng kiên định và mạnh mẽ hơn trên con đường đã chọn.

Hành động phi pháp

Tình trạng ngăn chặn, sách nhiễu và hành hung đối với những người công khai lên tiếng đấu tranh cho mọi quyền căn bản của con người tại Việt Nam diễn ra mới nhất là vào ngày 25 tháng 7 khi nhiều người trong nước hưởng ứng ngày tổng tuyệt thực kêu gọi trả tự do cho những tù nhân lương tâm trong nước.

Lực lượng an ninh tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cưỡng bức về đồn công an một cách thô bạo là những nhà hoạt động đến tại công viên bãi biển trên đường Trần Phú để tọa kháng- tuyệt thực theo như thông báo từ trước.

Anh Phạm Văn Hải, một trong số những người bị đưa về đồn công an phường Lộc Thọ sớm nhất kể lại sự việc đối với bản thân anh và những hành vi của lực lượng chức năng mà anh này cho là vi phạm nhân quyền:

” Hôm qua thực sự tôi mới thấy công an đánh dã man thật. Trước đây tôi có nghe anh em bị đánh nhưng chưa nhìn thấy bao giờ hết. Họ như những con thú điên: họ đánh, đá bất kể là phụ nữ, đàn ông gì, họ đánh như vậy

Chị Trương Hoàng Anh”

“ Tôi vẫn yêu cầu phải trả tự do cho tôi sớm chứ tôi không muốn ngồi ở đó. Tuyệt thực là quyền của tôi và tôi muốn tuyệt thực ở ngoài kia chứ không phải ở đây. Thế nhưng họ nhất quyết không trả tự do và những lần tôi đi toilet họ đều đi theo và đứng ngoài cửa. Họ vi phạm đến quyền cá nhân của mình một cách rất nghiêm trọng.”

Chị Trương Hoàngh Anh, một trong nhóm tại Nha Trang bị cưỡng bức phải về đồn và bị hành hung cùng với ba người bạn khác là Nguyễn Phi Tâm, Võ Trường Thiện và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trình bày lại sự việc xảy ra vào sáng ngày 25 tháng 7 khi họ ra công viên bãi biển đường Trần Phú để tọa kháng- tuyệt thực:

“Khi đến, tôi thấy công an, an ninh, dân phòng rồi cả công an giao thông dàn quân ra bao vây hết khu đó rồi. Bốn người không làm gì hết chỉ ngồi trên bãi có chỗ lối đi ở công viên, ngồi chơi chứ không làm gì. Đến hơn 9 giờ, tức 9 giờ bắt đầu tuyệt thực, thì họ ập lại họ đánh, họ gây sự lôi từng người ra đánh. Họ lột áo màu trắng đồng phục ra.

Hôm qua thực sự tôi mới thấy công an đánh dã man thật. Trước đây tôi có nghe anh em bị đánh nhưng chưa nhìn thấy bao giờ hết. Họ như những con thú điên: họ đánh, đá bất kể là phụ nữ, đàn ông gì, họ đánh như vậy!”

Blog Revolt Media đưa tin nhóm tuyệt thực ở Nha Trang bị tấn công và bắt bớ

Blog Revolt Media đưa tin nhóm tuyệt thực ở Nha Trang bị tấn công và bắt bớ

Chuyện thực nhà tù

Vào sáng ngày hôm qua, một tù nhân lương tâm mãn án sau 15 tháng tù về tội bị buộc  là ‘chống người thi hành công vụ’, bà Cấn Thị Thêu. Ngay sau khi ra tù bà cũng cho biết lại tình cảnh của bản thân bà và một số tù nhân lương tâm nữ bị giam tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa như sau:

“Họ giam chúng tôi vào một khu biệt lập, phải qua 4 tầng cửa sắt mới vào được nơi ở của chúng tôi. Họ xây tường rất cao, cửa sắt nhỏ, không có quạt nên rất ảnh hưởng đến sức khỏe. Đối với bản thân tôi từ khi bị bắt, bị đánh cho đến nay ngày nào cũng ‘thổ’ ra máu tươi; nhưng tôi báo với họ thì họ nói chắc do trở trời.

Giam chúng tôi sau bốn tầng cửa sắt không cho giao tiếp với ai, khi gọi điện thoại thì họ cấm không cho thông báo tình hình sức khỏe của chúng tôi ở trong tù. Nơi giam chúng tôi rất bí, không có không khí để thở. “

Biện pháp mua chuộc

Anh Phạm Văn Hải cho biết ngày 25 tháng 7 anh công khai tham gia tuyệt thực để hưởng ứng kêu gọi trả tự do cho những tù nhân lương tâm tại Việt Nam, và khi bị bắt về công an phường Lộc Thọ, trong khi anh tuyệt thực, có nhân viên đến dụ anh ăn:

“ Họ đặt camera và có người đến bảo đến giờ này nên ăn gì. Tôi từ chối tất cả và nói việc tôi tuyệt thực để thứ nhất đòi lại tự do cho những tù nhân lương tâm đang bị giam, mất quyền tự do và tôi tuyệt thực kiên quyết không ăn gì!”

Đối với trường hợp bà Cấn Thị Thêu kiên quyết đấu tranh đòi lại đất đai- tư liệu sản xuất cho gia đình và người dân Dương Nội, trong thời gian bị bắt giam bà cũng bị mua chuộc từ bỏ cuộc đấu tranh. Bà cho biết:

” Tôi nghĩ rằng khi họ gây ra quá nhiều tội ác: đàn áp, đánh đập chúng tôi thì chính họ mới thúc đẩy lòng căm thù và ngọn lửa đấu tranh để người dân vùng lên chống lại họ

Bà Cấn Thị Thêu”

“Khi tôi bị bắt, nhiều ngày suốt bao tháng trời họ thương thuyết với tôi rất nhiều: họ bảo ‘giúp’ họ thì sẽ giải quyết riêng cho gia đình tôi, họ có thể cho gia đình tôi vài chục tỷ đến cả trăm tỷ để không tham gia cuộc đấu tranh nữa. Nhưng tôi nói thẳng với họ tôi không thể phản bội lại nhân dân chúng tôi, không bao giờ tôi phản bội lại lý tưởng đấu tranh của tôi. Vì không thuyết phục được tôi nên họ mới đưa tôi ra tòa và lập phiên tòa để xét xử tôi. “

Không thể cản ngăn

Những người bị tù tội như bà Cấn Thị Thêu hay bị hành hung, sách nhiễu như chị Trương Hoàng Anh ở Nha Trang đều cho rằng chính hành động nặng tay của các lực lượng chức năng lâu nay khiến họ nhận thấy rõ bản chất tàn ác và củng cố thêm quyết tâm đấu tranh cho chính nghĩa, cho quyền con người.

Chị Trương Hoàng Anh vào ngày 26 tháng 7 phát biểu:

“Những người như tôi không thể khuất phục bằng vũ lực được và tôi tin tưởng bạn bè tôi cũng không bao giờ để vũ lực khuất phục.  Chắc chắn tôi và bạn bè tôi sẽ có những hành động hợp pháp, đúng pháp luật, đúng với lương tâm của mình để ủng hộ những tù nhân lương tâm và để ủng hộ nền dân chủ của Việt Nam thay đổi chứ không thể để như thế này được: vi phạm nhân quyền quá trắng trợn. Hôm qua người dân chứng kiến rất đông. Tất nhiên khi về họ sẽ suy nghĩ tại sao xảy ra những chuyện như vậy và họ sẽ biết. Dần dần người ta sẽ hiểu thôi!”

Bà Cấn Thị Thêu ngay sau khi ra tù cũng khẳng định:

“Đối với tôi từ khi bị bắt, cho đến khi ra tòa lúc họ cho tôi nói lời cuối cùng thì tôi thề còn hơi thở cuối cùng nào tôi sẽ đấu tranh đòi lại tài sản, đất đai của gia đình tôi và của nhân dân chúng tôi. Tôi quyết tâm đấu tranh để chống lại quân cướp đất đến cùng

Tôi nghĩ rằng khi họ gây ra quá nhiều tội ác: đàn áp, đánh đập chúng tôi thì chính họ mới thúc đẩy lòng căm thù và ngọn lửa đấu tranh để người dân vùng lên chống lại họ.

Tôi nghĩ rằng nhân dân chúng tôi với sự quyết tâm, với hiện tại chúng tôi không còn gì để sống thì nhân dân chúng tôi phải như nước vỡ bờ vùng lên để đòi lại những gì mà chúng tôi đã mất.”

Tuyên giáo Hà Nội luôn nhắc đến câu ‘ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’; và thực tế này đang diễn ra ngày càng một rõ hơn tại Việt Nam hiện nay.

Anh đã về!

Anh đã về!

canhco

Ồ! anh ấy đã về. Về với nhân dân về với vòng tay nồng ấm của đồng đội, gia đình.

Anh về trong tiếng chào mừng êm ái của người thương yêu anh, những người cứ canh cánh về sinh mạng của anh, một sinh mạng quan yếu của đất nước trong thời điểm cần một người lãnh đạo sáng suốt và mạnh mẽ như anh, nhắm quân thù mà bắn, nhắm là cờ của chúng mà giật mà hạ thủ trên vùng trời quê hương….

Anh đã về, mà lạ, những lời lẽ bình thường mà bất cứ một lãnh đạo cao cấp nào cũng được dùng tới khi xuất…viện, chỉ có anh là hoàn toàn không, hoàn toàn im ắng, hoàn toàn bưng bít như ngày anh…nhập viện.

Sao thế? Anh không xứng đáng ư? Anh không về để tiếp tục là người cầm ngọn cờ đầu của Đảng của Quân đội nhân dân ư? Anh bệnh hoạn và yếu ớt nên để anh nghỉ dưỡng ư? Có Đảng mới biết điều bí mật to lớn này. Chỉ có Đảng mới đủ sáng suốt quyết định số phận của anh. Tiếp tục làm người bảo vệ đến cùng tình hữu nghị sáng ngời hay phải rút lui vào bóng tối cho một trào lưu khác hành động. Trào lưu mà vài tuần lễ trước anh không hề tưởng tượng ra chứ nói chi là sẵn sàng đối mặt.

Anh về trên chuyến bay do Mỹ chế tạo, Boeing 777. Anh ngồi hay nằm trong khoang hành khách chỉ có đội bay mới biết, hành khách chung chuyến không biết. Họ vô tình hay vô ý quá trước một nhân vật cực kỳ ăn khách hiện nay. Không ai trong chuyến bay có được một điện thoại smart phone để ghi lại hình ảnh lịch sử mà truyền thông trong và ngoài nước chăm chú trông chờ. Anh còn yếu nên có lẽ đồng đội thương yêu quá đỗi không nỡ để anh bị làm phiền. Anh về, vì vậy không ai thấy, không ai nghe.

Báo chí loan tin là đủ để yên lòng nhân dân. Báo chí lúc nào chẳng thế họ được sinh ra để làm tròn bổn phận đưa những nguồn tin trung thực từ Đảng. Họ là một tầng lớp được đào tạo bài bản, được học tập tới nơi tới chốn vai trò của người truyền thông Xã hội chủ nghĩa, vì vậy việc loan tin anh về hoàn toàn đúng đắn bởi họ cẩn trọng đến từng chi tiết.

Anh về, không ai đón thì thôi, anh không buồn hay không hề thắc mắc. Anh biết khi đã chọn con đường như thế thì trước sau cũng gặp kết cục này. Những kẻ khác cũng thế có hơn gì nhau. Anh chỉ là nạn nhân của một âm mưu vĩ đại mà chiếc áo thái thú anh mặc để đóng tròn vở kịch mà Đảng giao phó rốt cuộc chỉ một mình anh chịu hậu quả.

Anh chịu tiếng dữ như kẻ phản bội dân tộc. Anh bị cho là cánh tay của Nam trung hải cài cắm vào nội bộ Đảng. Oan cho anh, một người chỉ lo làm sao đừng để bị bọn phương Bắc tấn công, nỗi lo của anh có khi diễn tả hơi thô ráp khiến người dân hiểu lầm. Đáng lẽ anh phải được Đảng tạo cơ hội  thanh minh những điều anh nói phát xuất từ cái tâm lo lắng cho toàn dân trước họa Trung Quốc. Ngược lại Đảng cố tình làm cho việc anh đi chữa bệnh như là bí mật quốc gia khiến bọn báo chí phương Tây bu lại làm phóng sự sới tung cả lên những gì mà anh và gia đình muốn giữ.

Hôm nay anh về nhà, anh sẽ được gia đình lo lắng cho phần còn lại của anh sau một thời gian tuy ngắn nhưng đầy phong ba nơi xứ người. Anh thở phào trút hết phiền muộn và sẵn sàng cho một cuộc sống mới, ôn lại những tháng ngày tại vị với biết bao niềm luyến tiếc.

Và anh hiểu ra rằng cuộc đời con người ta là ngắn ngủi không đủ để nói một câu trần tình sự thật tận đáy lòng huống chi những điều to tát khác. Anh sẽ cố tranh thủ mà nói cho được những gì mà Đảng không muốn anh nói, bất kể đó là cái lương tâm hiếm hoi mà một Bộ trưởng quốc phòng có được.

Anh buồn và anh im lặng suy nghĩ mình cần phải làm gì trong thời gian tới. À, chắc chắn phải khác với người đồng chí đoản mệnh của anh. Anh phải khác đồng chí ấy. Cho dù là một lãnh chúa miền Trung cũng không thề nào bằng được anh. Anh không hề là lãnh chúa nhưng lịch sử đã trao trách nhiệm nặng nề cho anh: ngăn chặn một cuộc chiến tranh thấy trước bằng sự hy sinh tăm tiếng của mình, cúi đầu chịu nhục cho một lũ đầu hoạt đầu chính trị có cơ hội ăn trên ngồi trốc trên cái ngai vàng rất rộng ấy.

Anh về trong ánh mắt căng cứng của nhân dân nhưng tiếc thay không ai gặp anh được để anh có cơ hội nói một câu thôi, “Tôi khỏe rồi, đồng chí đồng bào ơi”.

Thì thôi anh không nói nhưng nhân dân đều hiểu. Vậy nhé anh Thanh, người chịu lằm điều thị phi trong cái hỗn mang thời cuộc. Hãy gắn bó với gia đình, chỉ có gia đình mới đủ yêu thương để che chở cho anh trước búa rìu dư luận. Tuy không yêu anh đủ để chúc anh mạnh khỏe nhưng nhiều người cũng thành tâm cầu cho anh được thanh thản với thời gian còn lại.

Còn thanh thản cách nào thì tùy vào các đồng chí của anh. Họ đã vượt ra khỏi thượng đế và do đó họ chính họ là người định đoạt cho số phận của anh. Đừng buồn, anh Thanh và những anh khác nhé.

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Khi đọc bản tin hai du khách người Việt bị bắt vì ăn cắp ở mấy đôi kính mát ở Zurich, Thụy Sĩ tôi rất buồn. Ðã đi tính ăn cắp tại sao hai cháu không làm ăn “quy mô lớn xã hội chủ nghĩa” mà lại đi ăn cắp vặt như vậy? Về Hà Nội, “phấn đấu vào đoàn,” rồi “phấn đấu vào đảng” để làm những vố lớn có hơn không? Nếu sau này không được như Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, thì ít nhất cũng theo gót được Nguyễn Xuân Sơn chứ?

Sau Nhật Bản, Thái Lan, Ðài Loan, từ nay lại thêm Thụy Sĩ là nơi người ta phải cảnh giác khi thấy du khách người Việt Nam. Sỉ nhục cho cả dân tộc! Nhưng nghĩ cho cùng, không phải mấy cá nhân phạm pháp gây ra mối nhục này; họ cũng là nạn nhân. Chính phạm là một chế độ ăn cắp từ trên xuống dưới, lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ!

Khi trở về Hà Nội, chắc hai cháu đã nghe tin Nguyễn Xuân Sơn. Mấy bữa trước còn chễm trệ trên ghế chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam), giờ Sơn đang bị truy tố về tội “làm mất” 800 tỷ đồng (tương đương 36 triệu Mỹ kim) của công ty dầu khí, khi còn làm tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ðại Dương (OceanBank).

Nguyễn Xuân Sơn đã làm trong ngành dầu khí từ 30 năm. Ông trở thành tổng giám đốc OceanBank sau khi PetroVietnam góp số vốn lớn vào ngân hàng này, có lúc chiếm hai phần ba vốn góp. Một công ty dầu khí lại đi khai thác ngân hàng, cũng như một công ty hàng hải Vinashin đi làm khách sạn, mua địa ốc, vân vân. Ðó là chính sách kinh tế quốc doanh của Nguyễn Tấn Dũng: Chúng mày làm cái gì ra tiền thì cứ làm! Trong một năm từ 2008 khi Nguyễn Xuân Sơn nhậm chức, số nợ xấu của OceanBank tăng gấp 9 lần, lên hơn 100 tỷ đồng! Ðến năm 2012 thì vọt thành 700 tỷ. Nợ xấu là những món tiền ngân hàng cho vay nhưng khó đòi lại được, để lâu “cứt trâu hóa bùn.”

Thế thì 100 tỷ đồng năm trước, 700 tỷ đồng bạc năm sau, chúng chạy đi đâu cả? Chắc chắn nó vào túi những thằng đứng vay cũng như những thằng cho vay! Cái đứa chấp thuận cho vay còn phải “đóng hụi chết” cho những đứa ngồi trên đầu nó nữa, chứ không ai cho ngồi vào những cái ghế béo bở!

Nhưng mà các đồng tiền ấy nguyên thủy chúng ở đâu mà ra? Như trong vụ này, họ lấy tiền của PetroVietnam đưa qua cho OceanBank. Mà PetroVietnam kiếm được tiền nhờ bán dầu của nước Việt Nam, của dân Việt Nam. Ðồng tiền của dân chạy sang một ngân hàng của nhà nước, rồi từ đó chạy qua túi những đứa đứng vay tiền và cho vay tiền! Những người “phấn đấu vào đảng” nới có cơ hội hóa phép cho các đồng tiền chạy lòng vòng, cuối cùng biến chúng lọt vô túi mình một cách dễ dàng như vậy! Ngân hàng chỉ là cái dây chuyền đem tiền của dân vào túi bọn tham nhũng! Hàng ngàn tỷ đồng tiền mất tích! Mà 90 triệu người Việt Nam không ai thấy gì cả, cho tới khi chúng nó đánh lẫn nhau! Ðó là phép lạ kinh tế thị trường theo định hướng ăn cắp!

Nguyễn Xuân Sơn đã trở về PetroVietnam khi nợ xấu mới lên tới 700 tỷ, rồi leo lên đến chức chủ tịch, chứng tỏ cán bộ tài chánh này đã được cấp trên tán thưởng và tin cậy. Nhưng với những món nợ không đòi lại được cao ngất nghểu thì tất nhiên sau khi Sơn chạy rồi, OceanBank chỉ còn đường xuống dốc. Từ cuối năm ngoái, những người kế nghiệp ông ta ở ngân hàng là Hà Văn Thắm và Nguyễn Minh Thu đã bị bắt, bị truy tố. Mới đây, ngân hàng trung ương gọi là Ngân hàng Nhà nước báo tin đã mua lại tất cả vốn và nợ của OceanBank với giá 0, số không, zero đồng! Tức là tất cả số vốn do PetroVietnam góp vô đó tan thành mưa bụi, thành mây khói. Ðây không phải là lần đầu có chuyện này mây mưa như vậy. Năm tháng trước, Ngân hàng Nhà nước mới “mua lại” Ngân hàng Xây dựng với giá cũng zero đồng – chủ tịch cũ Phạm Công Danh với tổng giám đốc Phan Thành Mai đã bị bắt vào năm ngoái!

Ðọc những tin tức trên, chúng tôi tội nghiệp hai cô chú bị bắt ở Zurich, hay những người ăn trộm chó bị bắt ở Ðài Loan, những cô tiếp viên phi hành xinh đẹp bị cùm ở Nhật Bản! Toàn là những món trộm cắp lặt vặt, không bao giờ tiến lên chủ nghĩa xã hội được! Mà bọn họ tất cả đều là nạn nhân, vì họ chỉ nhiễm độc thói sống bằng cách ăn cắp, thăng quan tiến chức nhờ ăn cắp, trong một xã hội mà bọn cầm đầu từ trên xuống dưới đứa nào cũng phải ăn cắp!

Nhắc lại: Phải ăn cắp! Vì không ăn cắp thì không sống được trong hệ thống “đạo kiếp trị” (kleptocracy) đó. Một người cháu sống ở Hà Nội đã giải thích cho tôi tại sao đường sá ở Việt Nam mới làm năm trước năm sau đã hư: “Khổ lắm bác ơi; nước mình nó khác nước Mỹ! Nếu bác làm đường mà cả mười năm không chỗ nào hư hỏng thì chúng nó làm thế nào kiếm ăn được? Không đứa nào nó cho bác trúng thầu đâu! Mỗi năm chúng nó phải kiếm một món về đường sá, một món về trường học, một món nhờ chỗ này, nhờ chỗ khác chớ?”

Ai cũng biết Hồ Chí Minh không phải là tác giả câu “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân.” Nhưng chế độ cộng sản do ông lập ra ở nước ta đã đẻ thêm được một kế mới, Quản Trọng đời xưa không thể nào bịa ra được: “Niên niên chi kế mạc như tu lộ!” Thế là “Người người ăn cắp, ngành ngành ăn cắp,…” Nền văn hóa ăn cắp xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ bản này: Nhìn lên trên thấy đứa nào cũng ăn cắp, những người lương thiện tự hỏi: Tại sao mình “ngu” mãi để cho cái chúng nó thèm thuồng? Thèm từ đôi kính mát Gu gu Chi chi chi đó!

HÃY CHO HỌ ĂN

HÃY CHO HỌ ĂN

AM. TRẦN BÌNH AN

Trích EPHATA 651

Vào một đêm nọ, có một người đàn ông đến nhà chúng tôi và nói: “Có một gia đình với tám đứa con. Họ đã chẳng có gì ăn suốt mấy ngày nay.” Tôi đem theo môt ít thức ăn và ra đi. Khi tôi đến gia đình đó, tôi thấy khuôn mặt của những đứa bé méo xệch đi vì đói. Không có một nỗi buồn đau nào trên những gương mặt ấy, chỉ có vết hằn sâu của sự đói khát. Tôi đưa gạo cho người mẹ. Bà chia túi gạo ra làm hai, rồi đi ra ngoài, mang theo một nửa. Khi trở lại, tôi hỏi: “Chị đi đâu vậy ?” Bà bình thản trả lời: “Sang những người hàng xóm của tôi, họ cũng đang đói !” Tôi không ngạc nhiên vì bà đã san sẻ số gạo ấy, vì quả thực những người nghèo rất hào phóng. Tôi chỉ ngạc nhiên là bà ấy biết họ đang đói. Vì một lẽ tự nhiên, khi chúng ta chịu đựng một nỗi thống khổ nào đó, chúng ta có xu hướng quá tập trung vào bản thân mình, đến nỗi chẳng có thời gian cho người khác.

Cách đây một thời gian, tôi đã có một chuyến đi đến Ethiopia. Các chị em chúng tôi đã làm việc ở đó suốt mùa hạn kinh khủng năm ấy. Khi sắp rời đi, tôi nhận thấy có rất nhiều trẻ em vây quanh mình. Mỗi em đều cầm trên tay một thứ gì đó, nói: “Hãy đem thứ này về cho các em ! Hãy đem thứ này về cho các em !” Chúng có nhiều món quà muốn gửi đến người nghèo của chúng tôi. Rồi một đứa bé, vốn dĩ lần đầu tiên trong đời có được một thỏi sôcôla, đã đến bên tôi nói: “Con không muốn ăn nó, Mẹ hãy đem nó về cho các bạn.” Đứa bé ấy đã cho thật nhiều, vì miếng kẹo ấy là tất cả những gì quý giá mà em có.

Một bữa nọ, tôi nhận được mười lăm đôla từ tay một người đàn ông đã bị bại liệt trong hai mươi năm. Căn bệnh quái ác đã khiến ông chỉ còn dùng được tay phải của mình. Bầu bạn duy nhất của ông là thuốc lá. Ông nói với tôi: “Tôi đã ngưng hút thuốc lá một tuần nay. Tôi gửi cho Mẹ số tiền mà tôi tiết kiệm được nhờ không mua thuốc.” Đó hẳn phải là một hy sinh vô bờ bến của ông ta. Tôi mua bánh mì bằng tiền của ông, đem cho những người đang đói. Thế là cả người cho và người nhận đều có được niềm vui.

Trao tặng là chia sẻ. Tôi không muốn bạn cho tôi thứ mà bạn đã bỏ đi, mà cho đi thứ bạn muốn, thứ bạn cần. Tôi muốn bạn cho đi bản thân mình. Tình yêu mà bạn đặt vào sự ban tặng là điều quan trọng nhất. Cơ hội chia sẻ tình yêu của chúng ta với người khác chính là một món quà của Chúa. ( Bích Nga, Ngọc Sáu, Hoa Phượng, Mẹ Têrêsa, Trên Cả Tình Yêu ).

Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay thuật lại Đức Giêsu làm phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người đàn ông ăn no dư thừa, chưa kể phụ nữ và trẻ em, còn dư mười hai thúng. Đôi bờ đói no của nhân loại hôm nay vẫn còn xa cách vời vợi hơn bao giờ. Nên năm chiếc bánh và hai con cá của cậu bé dâng hiến hẳn âm thầm gửi đến Kitô hữu nhiều thông điệp sâu xa thấm thía.

Chiếc bánh thứ nhất: Yêu thương

Vừa gặp lại các Tông Đồ trở về sau một hành trình Đi Gieo, Đức Giêsu vui mừng thân thương nhắc nhở các ông vào nơi thanh vắng nghỉ ngơi. Nhưng thấy đám người đông lũ lượt tìm đến, thì Người chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” ( Mc 6, 34 ). Tình yêu tha nhân, lòng thương xót của Đức Giêsu, vô cùng mãnh liệt, ưu tiên trổi vượt, lấn át và vô hiệu hóa những chương trình, dự tính, ý muốn riêng tư của ngay chính Người.

Chiếc bánh thứ hai: Trách nhiệm

Đức Giêsu hăng say giảng dạy dân chúng cho đến nhá nhem tối mới tạm ngừng. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn ?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm” ( Ga 6, 5 ). Thánh Maccô ghi lại chi tiết khá minh bạch: Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm, làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi” ( Mc 6, 35-37 ).

Tuy câu nói của Đức Giêsu qua hai Thánh ghi chép Tin Mừng có khác nhau về hình thức, nhưng cùng chung một ý tưởng. Đó là thay vì để các môn đệ tránh né bổn phận chăm sóc cộng đoàn, thì Đức Giêsu trao trách nhiệm chính thức cho các ông phải quan tâm giải quyết những nhu cầu chính đáng, cấp bách của cộng đoàn, không thể vịn cớ gì lạnh lùng lảng tránh, từ chối.

Chiếc bánh thứ ba: Quảng đại

“Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người” ( Ga 6, 9 ). Đây là điều Đức Giêsu đang trông chờ ngay từ đầu vụ việc. Tuy Chúa quyền năng vô song, tác tạo và biến hóa mọi sự, nhưng Chúa luôn đòi hỏi, cần có sự đồng điệu, hợp tác, dâng hiến của con người, vì Người tôn trọng sự tự do, không ép buộc bất cứ ai.

Cậu bé rộng rãi, quảng đại, nhân ái, đã không ích kỷ giữ bánh và cá cho riêng mình, mà với cả tấm lòng thành, hoàn toàn dâng hiến tất cả, chia sẻ, cho đi mọi sự cho Chúa. Người luôn chờ đợi một tấm lòng hiến dâng trọn vẹn như thế. “Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu” ( Hs 6, 6 ). Chính Đức Giêsu cũng tái xác nhận: “Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” ( Mt 9, 13 ).

“Kitô giáo là cho đi”. Chúng ta phải cho đi, dù phải đến mức đau đớn nhất. Để trở thành một tình yêu thương thật, thì tình yêu thương phải có cái giá của nó. Đối với Chúa Giêsu, cái giá đó là tình yêu chúng ta. Ngay cả Thiên Chúa cũng có cái giá của tình yêu: Ngài đã trao ban con một Ngài cho chúng ta” ( Mẹ Têrêsa Calcutta ).

Chiếc bánh thứ tư: Nhân hậu

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích” ( Ga 6, 11 ). Từ năm chiếc bánh và hai con cá dâng hiến của cậu bé, Đức Giêsu đã biến ra nhiều cho cả vạn người ăn dư thừa. Sự cho đi dẫu nhỏ bé, chẳng đáng kể, lại được tình yêu hồi đáp bằng đại lượng kỳ diệu. Lòng nhân hậu của Chúa khôn lường vô cùng. Người tiếp tục chạnh lòng thương dân chúng đói khát, làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều thêm lần thứ hai ( x. Mc 8, 1-10 ). Bởi vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta” ( Tv 103, 8-10 ).

Đức Giêsu giảng dạy và hóa bánh ra nhiều nuôi dân chúng hôm nay, là dấu chỉ Người sẽ còn tận tình chiêu đãi dân chúng bữa tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể sau này. Các Tông Đồ sau khi tham dự sứ mạng rao giảng, cũng được Đức Giêsu trao phó công việc chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên.

Chiếc bánh thứ năm: Công bình

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích.” Không phân biệt nam nữ, già trẻ, giầu nghèo, chức tước, địa vị, Đức Giêsu phân phát bánh và cá tùy theo nhu cầu mỗi người. Hết thảy đều no đầy phúc đức. Hồng ân Thiên Chúa luôn phổ quát, công bình và phong phú cho mọi người, như hạt giống gieo vãi, như mưa sa, nắng ấm. Bởi vì “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” ( Mt 5, 45 ).

Con cá thứ nhất: Thanh bần

Trong tinh thần nghẻo khó, thanh bần, Đức Giêsu không muốn hoang phí bỏ đi bánh và cá dư thừa, vì còn bao kẻ đói khát đang còn mong chờ được trao tặng lương thực. “Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.” Tần tiện, tiết kiệm để chia sẻ với người cơ nhỡ, cũng như trân trọng dành dụm của ngọc thực để tích cốc phòng cơ, đó chính là một khía cạnh của đức thanh bần.

“Đừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng” ( Đường Hy Vọng, số 412 ).

Con cá thứ hai: Thiên ​Quốc

“Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian”. Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình” ( Ga 6, 15 ). Hưởng phúc lợi tràn trề, được chữa bệnh, được cho ăn no nê, dân chúng hăm hở muốn tôn vinh Đức Giêsu làm hoàng đế, vì thấy Người đúng là Đấng Messia mà họ hằng mong đợi, sẽ giải thoát dân Do Thái khỏi ách đô hộ của Rôma. Đó cũng là cơn cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu trong hoang mạc, quyền lực thế gian.

Lúc này, Đức Giêsu nhìn thấy rõ tà tâm trong lòng dân chúng háo lợi, thực dụng, chỉ muốn người lãnh đạo cung phụng cho họ, theo ý muốn thấp hèn của họ mà thôi. “Các ông đi tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” ( Ga 6, 26 ). Trong khi Nước Chúa đâu lệ thuộc vào thế gian phù phiếm, mau biến đổi và hư nát. Bơi chưng, “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc Trong Thánh Thần” ( Rm 14, 17 ).

“Với năm cái bánh và hai con cá của em bé, Chúa đã làm phép lạ nuôi năm ngàn người. Chúa vẫn toàn năng, nhưng Chúa yêu thương thiện chí của con” ( Đường Hy Vọng, số 824 ).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường thiếu lòng quảng đại, không dám cho đi những gì chúng con đang có, chỉ vì sợ mất mát, thua thiệt, chì vì thiếu Tình Yêu, thiếu niềm tin và thiếu lòng cậy trông vào Chúa Quan Phòng. Xin Chúa mở lòng trí chúng con, thấu hiểu ý nghĩa cao trọng của phép lạ hóa bánh ra nhiều, để chúng con sẵn sàng cho đi mọi sự, kể cả bản thân, với tình yêu tha thiết chân tình, như cậu bé dâng hiến tất cả bánh và cá cho Chúa dưỡng nuôi tha nhân.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã dâng hiến trọn đời cho Chúa, xin cầu bầu, dạy bảo, hướng dẫn chúng con noi theo Mẹ, hiến dâng lên Chúa tất cả mọi sự, từ thân xác, tâm hồn đến linh hồn, để có thể phục vụ hữu ích cho tha nhân. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt (thực hiện)
LTS: Tiến sĩ Alan Phan là một tên tuổi quen thuộc trong giới kinh doanh, với 43 năm kinh nghiệm về đầu tư vào thị trường Trung Quốc, Hồng Kông và cả Việt Nam. Ông hiện là sáng lập viên của Alan Phan Associates (APA) có trụ sở tại California và Hồng Kông, chuyên tư vấn chiến lược kinh doanh toàn cầu cho các công ty đa quốc. Là tác giả của 11 cuốn sách về kinh tế, xã hội của những thị trường mới nổi, Tiến sĩ Alan Phan còn là một cây bút quen thuộc với nhiều bài phân tích sâu sắc, với thương hiệu “góc nhìn Alan” được nhiều người biết đến. Nhân dịp sắp đến buổi ra mắt hai cuốn sách mới “Doanh Nhân Việt Trong Thế Trận Kinh Tế Toàn Cầu” và “42 Năm Làm Ăn Tại Mỹ Và Trung Quốc -Ấn Bản Usa,” vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, 25 tháng Bảy, 2015, tại hội trường nhật báo Người Việt,  ông dành cho ký giả Hà Giang cuộc phỏng vấn dưới đây:

Hà Giang (NV): Vừa là một người cầm bút, một nhà đầu tư, một giáo sư dậy về kinh doanh, ông tự tả về mình như thế nào?

Alan Phan: Thực tình thì cũng không có gì nhiều để tả. Tôi 70 tuổi, thì đương nhiên là có nhiều trải nghiệm, sống qua bao nhiêu những tình huống, khác hơn là những thế hệ trẻ hơn. Nhưng tôi là con người rất là bình thường: đi học, làm việc, sống cho gia đình, bạn bè, vui chơi. Cũng hưởng thụ nhiều, cũng đau khổ nhiều khi làm ăn. Nhưng nói tóm lại thì cũng là một đời rất là bình thường, không có cái gì đặc biệt. Tôi rất bình an với những gì mình đã có, đă mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xẩy ra rồi, thế thôi.

Tiến sĩ Alan Phan trong buổi phỏng vấn với ký giả Hà Giang, nhật báo Người Việt (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

NV: Ông có thể nói sơ về Alan Phan Associates có trụ sở tại California và Hồng Kông?

Alan Phan: Tôi làm việc bên Hồng Kông cũng khoảng 14, 15 năm, làm một cái quỹ đầu tư do tôi và ba anh bạn khác, người Trung Quốc và người Hồng Kông sáng lập. Chúng tôi đầu tư vào những công ty nhỏ và đem họ lên sàn chứng khoán, mà mình đồng thời cũng là một nhà đầu tư có lợi trong cái dịch vụ đó. Quỹ đầu tư đó hiện giờ vẫn được những người bạn tôi tiếp tục điều hành, thực tình thì là thế hệ sau của những người bạn tôi. Cách đây hai năm, tôi về lại Mỹ, có thể nói là tìm một cuộc đời an lành khác. Nhiều người bạn vẫn đưa công việc tới cho Alan Phan Associates do tôi và khoảng chừng sáu người chuyên gia tư vấn độc lập. Chúng tôi giúp họ tạo ra chiến lược toàn cầu, giúp họ làm những cái M & A (Merger and acquisition), tức thâu tóm và sát nhập vào những công ty bên Mỹ. Thay vì bỏ sức bỏ tiền lập những công ty ở đây, tôi luôn luôn tôi khuyên họ là lợi dụng những công ty có sẵn thị trường ở đây, có sẵn tên thương hiệu, có sẵn những sản phẩm đặc thù, và mình sát nhập vào với công ty của mình bên Trung Quốc hay bên Việt Nam, thì tương đối chặng đường nó dễ hơn, nhanh hơn, thì đó là chiến lược (M&A) toàn cầu mà tôi luôn luôn chủ trương và cổ võ.

NV: Qua 70 năm thăng trầm của cuộc sống, nếu được làm lại, thì ông sẽ giữ phần nào và thay đổi phần nào? Ông có điều gì hối tiếc không ?

Alan Phan: Thật tình thì tôi ít khi suy nghĩ về quá khứ, những chuyện gì nó qua thì nên để cho nó qua luôn. Có những chuyện mình rất là tự hào, rất là vui thú, thì nhìn lại ở cái điểm khác có thể nó không vui thú, không tự hào như mình nghĩ. Hay là những chuyện ngày xưa mình xấu hổ, mình thua thiệt, thì bây giờ nhìn lại nó lại là cái bài học hay. Thành ra thật tình tôi không quan tâm lắm về chuyện quá khứ. Mình sống thì bây giờ đã hơn bảy mươi năm thì cũng trải qua nhiều, từ đỉnh hạnh phúc đến đáy đau khổ, ông trời đã định như vậy rồi, bây giờ mình ngồi nghĩ là nên giữ cái này, vứt cái này, thì với tôi không cần thiết.

Dĩ nhiên có những cái hối tiếc lặt vặt, nhưng mà rồi mình quên đi. Thực tình theo tôi nghĩ những người mà gọi là thành công, không phải thành công lớn như Warren Buffet hay Bill Gates, mà thành công bình bình như tôi, thì khi về già có nhiều thất vọng mang theo, những điều mà mình chưa thực hiện được. Có khá nhiều hối tiếc, đáng lẽ mình nên làm như này, nên làm như thế kia và thêm một cái nữa là thích khuyên bảo như là để lại một cái di sản gì đó cho thế hệ sau. Nhưng với tôi điều quan trọng là mình sống thực với mình, mình không làm hại ai, không chơi xấu ai, tất cả rất là fair play, theo Mỹ nói. Tất cả những cuộc chơi gì mình vào, lúc mình bước ra ngửng cao đầu, dù thắng dù thua, đó là quan trọng.

NV: Hai nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có những điểm gì tương đồng và dị biệt? Liệu rồi kinh tế Trung Quốc có sụp đổ vì thị trường chứng khoán đang bị thụt giá của họ không?

Alan Phan: Chính sách kinh tế của những nhà nước độc tài rất giống nhau, đó không phải là những nền kinh tế thực sự thị trường. Về việc thị trường chứng khoán đang tuột dốc tại Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc sẽ có những biện pháp chống đỡ, có thể sẽ kéo dài năm mười năm. Tại Việt Nam cũng vậy, lúc trước tôi cũng gây nhiều tranh cãi về vấn đề bất động sản tại Việt Nam, tôi cho rằng cứ để cho những dự án này chết, rồi sẽ có nguồn đầu tư khác và sẽ làm lại, nhưng với chính quyền thì họ không thích như vậy. Thà rằng hy sinh kinh tế để giữ cho xã hội ổn định, luôn luôn là phương châm của Trung Quốc và của Việt Nam. Thành ra thị trường chứng khoán của Trung Quốc nó cũng giống như thị trường bất động sản tại Việt Nam, đáng lẽ thì nó phải chết, nhưng chính phủ họ cứ nhất định nuôi. Họ cứ chống đỡ cho càng lâu càng tốt, hy vọng 10 năm sau đó sẽ có phép lạ hay có gì thay đổi, hay những thế hệ sau sẽ giải quyết, phải giải quyết bằng một cách nào đó.

Về dị biệt thì có hai điểm. Thứ nhất là kích cỡ. Trung Quốc, kinh tế của nó phải nói là lớn gấp 15 lần Việt Nam, và nó đi trước Việt Nam khoảng 12, 13 năm, thành ra Việt Nam nghĩa là đang copy những gì Trung Quốc đã làm và đôi khi đã thất bại rồi, nhưng mà mình vẫn cứ làm thế. Và thị trường mình nó nhỏ, không thể phát huy được. Điểm yếu thứ hai là doanh nhân và con người. Tôi đã làm việc với doanh nhân Trung Quốc lẫn Việt Nam thì tôi thấy người Trung Quốc họ chịu khó hơn người Việt Nam nhiều, họ tiết kiệm nhiều hơn, họ cần cù hơn, và họ thủ đoạn hơn, dù là Việt Nam rất là mánh mung không kém ai về mặt thủ đoạn, nhưng để lấy lời ngay lập tức. Người Trung Quốc họ thâm hiểm hơn, họ nghĩ xa hơn, dài hơn, Việt Nam mình so với Trung Quốc thì “mì ăn liền” hơn, còn Trung Quốc thì nó biết nấu nướng, và nó biết đợi.

NV: Ông có lời khuyên gì cho người muốn mang tiền về Việt Nam đầu tư?

Alan Phan: Thật ra thì tôi không dám khuyên, nhưng có hai điều cần yếu quan trọng để thành công ở Việt Nam. Thứ nhất là phải có quan hệ, phải có người chống lưng đỡ đầu thì mới đi xa được. Thứ hai là phải có một sự kiên nhẫn, quan hệ với người Việt Nam mà muốn cho sâu đậm, cũng phải mất vài ba năm, chứ không phải đi vào làm ào một cái mà được, người ta chưa tin mình. Muốn có sự tin cậy cũng phải mất vài ba năm. Sau đó thì là chuyện hên xui may rủi, nếu quan hệ đúng với người đang lên, có quyền lực chính trị quan trọng, thì tiền sẽ vào như nước. Còn đi nhằm một cái ông đang đi xuống, thì có thể bị tù tội dễ như chơi, đó là chuyện rất bình thường ở Việt Nam. Cái thằng đấy mình đang tính là mấy năm nữa nó lên, mà đùng một cái nó qua bên Tây chữa bệnh, hay nó bị ám sát thì điều đó phiền lắm (cười.)

NV: Điều gì khiến ông bắt đầu sự nghiệp viết lách, cho ra đời nhiều bài viết rất được ưa chuộng, và thương hiệu nổi tiếng “góc nhìn Alan?”

Alan Phan: Khi còn ở bên Trung Quốc thì cuối tuần tôi có đi dạy, dạy những lớp MBA cho executives. Dạy thì phải soạn bài, nên tôi bắt đầu viết lách từ đó, nhưng cũng không viết nhiều. Đến năm 2007 thì tôi về Việt Nam thường xuyên hơn. Lúc đó mấy anh bạn, anh Trần Trọng Thức, báo Doanh Nhân, anh Tuấn ở Vietnamnet, họ nhờ tôi viết về Trung Quốc. Bài đầu tiên tôi viết là cái chuyện về  “Con voi Trung Quốc,” khi viết xong lại tạo ra được một luồng sóng thích thú. Thì người viết giống như người nghiện, có một chút thuốc vô rồi lại say, lại viết tiếp tục. Giờ thì lớn tuổi rồi, viết cũng là một lối tiêu khiển, ngày xưa khi mình còn trẻ thì mình lông nhông ngoài đường, bây giờ thì ăn uống cũng sợ, sức khỏe cũng lo, thành ra mình không đi ra ngoài tiệc tùng, ăn uống chơi khuya nhiều nữa. Ở nhà không có gì thì viết đại cho rồi.

NV: Ông có thể kể lại vài kỷ niệm vui, lý thú khi làm việc ở Việt Nam?

Alan Phan: Ở Việt Nam thì luôn luôn nó đi cập với hai vấn đề.  Thứ nhất là mình sẽ có rất nhiều bạn, vì thứ nhất là mình có tiền mà thứ hai là họ có thì giờ, cho nên bất cứ lúc nào, mình không kêu họ thì họ kêu mình, cho nên luôn luôn bao quanh bởi bạn bè, gia đình, muốn hay không muốn, tương đối khá vui. Đi chơi biển, đi chơi núi, tất cả đều dễ dàng hơn ở Mỹ. Ở Mỹ mà muốn tập trung được ba, bốn người đi, mà có thì giờ đi chung với nhau thì là cả một sự xếp đặt. Còn ở Việt Nam thì rất dễ, nếu hứng, thì chỉ 5 phút sau là lên đường thôi. Nghĩa là niềm vui nó tự phát, nhưng đồng thời nó cũng có nhiều cái bực, đi ra xa lộ một tí là tai nạn này, tai nạn kia, rồi ô nhiễm, rồi khói bụi, rồi người này người kia, rồi môi trường hỗn loạn, đôi khi mình muốn bình an cũng không được. Đôi khi mình muốn muốn góc lặng nào đó để đừng ai quấy rầy mà kiếm cũng không ra. Trong khi ở Mỹ thì mình có muốn quấy rầy người ta, người ta cũng không muốn. Đó là cái khác biệt giữa  hai văn hóa và môi trường. Với lại người Việt Nam thì sống rất là open, nhà hàng xóm biết nhau, biết đủ thứ, và ai cũng nhẩy xổm vào. Cái câu hỏi mà tôi được hỏi nhiều nhất là ‘anh có bao nhiêu tiền? Hồi trước anh làm gì, làm gì?’ họ muốn biết tất cả mọi điều về đời mình. Trong khi người Mỹ thì người ta tôn trọng cái riêng tư của mình. Nó hơi khác một tí, nhưng rồi mình ở đâu rồi cũng điều chỉnh được. Vấn đề là mình muốn điều gì.

NV: Đã sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới, tại sao cuối cùng ông lại về Mỹ, mà không nghỉ hưu ở Việt Nam, chẳng hạn?

Alan Phan: Thực tình thì có nhiều tiền thì ở đâu nó cũng vui cả, Việt Nam hay Trung Quốc, hay Mỹ hay là Monaco hay là bất cứ chỗ nào. Thành ra cái yếu tố quan trọng là yếu tố có nhiều tiền. Thực tình trong một lựa chọn của con người, ngoài vấn đề tiền bạc còn vấn đề môi trường sống, còn vấn đề bạn bè, gia đình, còn vấn đề mà mình không muốn phải đối diện hàng ngày, nó cũng đôi khi làm mình bức xúc. Mình muốn tâm mình được an bình hơn. Lúc trẻ thì những điều này không quan trọng lắm, mình thích stress, thích áp lực, thích tất cả những chuyện thử thách, nhưng mà đến khi già rồi thì những áp lực thử thách, những khó khăn phải đương đầu thì mình muốn giảm thiểu tối đa. Tôi nghĩ môi trường Mỹ nó giúp cho tôi được điều đó. Với tôi đó là lý do quan trọng.

NV: Cảm ơn tiến sĩ Alan Phan đã thì giờ cho cuộc phỏng vấn, và chúc ông nhiều thành công trong buổi ra mắt sách vào 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 25 tháng Bảy này, tại hội trường nhật báo Người Việt.

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Nhớ ơn Tổng Thống Ronald Reagan!

H.O.!

General John W. Vessey, Jr. – The 10th Chairman of the Joint Chiefs of Staff

năm 1997.

Tôi hân hạnh được đọc bức thư của Tướng John W. VESSY, người đã thừa ũy nhiệm Tổng Thống Reagan qua Hà Nội năm 1987 – 1988 để thương lượng và ký kết các điều khoản liên quan toàn thể những “Tù Cải Tạo” ra khỏi trại giam và lần lượt định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình H.O. bắt đầu từ 1990.

Nguyên văn thư nói trên được gởi cho ông Nguyễn Xuân Huấn, Chủ Tịch Hội CTNCT Minnesota, ngày 1-9-1997; trong thư có đoạn viết rõ như sau:

“…Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tôi được Tổng Thống giao phó là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Nam Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là trại cải tạo. Tôi được quyền bảo đảm với chính phủ Hà Nội rằng Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và tiếp đón những người tù cải tạo cùng gia đình sang Mỹ.

Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không có hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “Chiến Dịch Nhân Đạo” (Humanitarian operations – gọi tắt là H.O.).

Do đó danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt Mỹ xữ dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị đang sinh sống trên đất Mỹ” “Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh, tất cả những ai thuộc diện H.O. dều là những anh hùng thật sự của thời đại nầy.”

Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota năm 1997. Trích nguyên văn bằng Anh ngữ:

“…When the President Regan called me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, reeducation camps. I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed “humanitarian operations”. Consequently, the term “HO” has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.
To me, the term “HO” is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within that context of the term are among the true heroes of our time…”

Từ khi những H.O. và gia đình được định cư trên đất nước tự do, từng năm tháng làm việc miệt mài, bắt nhịp cầu cho con cháu vượt qua khó khăn, học hành thành đạt, trở thành những nhân tố có ích cho tương lai… thì các H.O. cựu tù đã già; người nào cũng trên sáu, bảy, tám chục tuổi… Có rất nhiều anh H.O. đã ra đi vì những bệnh trạng mang theo từ các trại tù sương lam chướng khí. Nhưng họ cũng ngậm cười nơi chín suối vì đã đưa được vợ con thấy ánh sáng tự do, thoát gông xiềng áp bức. Những ai được định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O. là những người tù cô đơn, không thân nhân bảo lảnh, không có khả năng vượt thoát khỏi bức tường ô nhục của người CSVN.

Kỷ niệm 25 năm riêng cho những “Con Bà Phước” mang danh H.O. là điều đáng làm. Những Cựu Tù Chính Trị đang định cư trên khắp thế giới, không ở trong “CHƯƠNG TRÌNH H.O.” nên khuyến khích và HỔ TRỢ, THAM DỰ, ĐÓNG GÓP vào ngày họp mặt do Anh Chị Em H.O. tổ chức. Mùa Thanksgiving 2015, đúng 25 năm người tù H.O thay da đổi thịt. Chúng tôi sẽ thành khẩn cám ơn nhân dân, chính phủ Hoa Kỳ và những cá nhân có công trong việc hình thành chương trình H.O. một chương trình đã cứu hàng trăm ngàn người TÙ CÔ ĐƠN và gia đình, để họ có điều kiện làm lại cuộc đời mới ấm no, tự do và hạnh phúc trên quê hương thứ hai nầy!

Xin cảm ơn nước Hoa Kỳ – xin cảm ơn mọi người!

letamanh