Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

VOA

Bùi Tín

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh Huei, Bo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tôi (và chắc nhiều bạn khác) vẫn hay nghĩ rằng chỉ cần tìm hiểu tình hình bên Tàu cộng là chúng ta có thể hiểu và biết tình hình Việt Nam, kể cả những bất cập và sự kiện man rợ xảy ra trong quá khứ. Thật vậy, các bạn hãy đọc bài dịch dưới đây, các bạn sẽ thấy VN đã áp dụng một cách rập khuôn các thủ đoạn dã man của Mao Trạch Đông vào VN như thế nào.

Bài này cho rằng Mao Trạch Đông đã cho triển khai triệt để một số thủ đoạn để triệt tiêu đường sống (hay nôm na là bóp bao tử) của công chúng và buộc công chúng phải phục tùng ông. Có 5 thủ đoạn chính:

• chế độ hộ khẩu;
• chế độ tem phiếu;
• chế độ lí lịch;
• chế độ cải tạo; và
• chế độ cơ quan đơn vị.

Đọc qua 5 thủ đoạn này, có lẽ các bạn thuộc thế hệ của tôi sẽ kêu lên kinh ngạc: sao mà giống VN thế! Thực sự thì cũng không ngạc nhiên, vì VN chỉ rập khuôn theo Tàu mà thôi. VN không có cách mạng văn hoá, nhưng cũng có những chiến dịch tương tự ở qui mô nhỏ hơn. VN cũng có chế độ hộ khẩu, và cho đến bây giờ vẫn còn duy trì chế độ này dù không dã man như trước đây. May phước là chế độ tem phiếu đã đi vào dĩ vãng, nhưng cũng đủ để lại những di chứng kinh hoàng. Chế độ cải tạo đã gây biết bao kinh hoàng của người miền Nam sau 1975, và một số người miền Bắc trước đó.

Nhiều người nói rằng VN không còn chế độ lí lịch, nhưng sao khi tiếp xúc với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, tôi thấy chế độ này vẫn còn tồn tại nhưng dưới hình thức khác. Rõ ràng là việc bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng vẫn dựa vào màu đỏ của lí lịch. Người công giáo không được phục vụ trong ngành công an (?) Còn Việt kiều, thì tôi nghe nói (chứ chưa có chứng cứ cụ thể) là Nhà nước phân biệt 2-3 nhóm. Nhóm miền Nam đi vượt biên là xấu nhất; nhóm miền nam đi du học trước 1975 là xấu chút chút; còn nhóm miền Bắc đi du học hay lao động nước ngoài là tốt. Như vậy là vẫn có sự kì thị có hệ thống và có tổ chức, chứ chủ nghĩa lí lịch chưa hết ở VN. VN sẽ chẳng bao giờ khá nổi với chủ nghĩa lí lịch chỉ dành ưu tiên cho đảng viên — tôi có thể tiên lượng khẳng định như thế.

Chế độ quản lí cấp vi mô như cơ quan đơn vị, theo tôi thấy, vẫn còn được duy trì. Chẳng hạn như sinh viên hay nhân viên tham gia biểu tình chống Tàu cộng là bị “hỏi thăm” ngay tại trường đại học hay cơ quan. Trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Phương Uyên, em ấy chẳng bị bị đuổi học mà còn bị triệt tiêu đường học. Chưa thấy nước nào đối xử với công dân man rợ như thế. Có khi quan chức cấp trung tham gia kí các thỉnh nguyện thư chống Tàu bị cơ quan cô lập ngay. Do đó, các thủ đoạn mang nặng “Mao tính” này vẫn còn tồn tại ở VN, dù dưới hình thức khác và cường độ dã man có phần giảm chút so với trước đây.

Sự việc xảy ra trong quá khứ thì chúng ta chẳng muốn khơi dậy làm gì, nhưng không được quên (vì đó là một phần lịch sử). Tôi nghĩ những ai đang ra sức lấy điểm bằng cách áp dụng 5 thủ đoạn trên để đàn áp người dân yêu nước, đàn áp sinh viên, đàn áp đồng nghiệp, v.v. nên đọc bài dưới đây, và suy nghĩ lại việc làm của mình. Những ai đã sống đủ thời gian và trải qua những thời gian đau khổ sẽ chứng nghiệm một qui luật rằng: những kẻ làm những việc ác ôn trong quá khứ thì trong tương lai gần họ hoặc gia đình họ sẽ chịu những hình phạt nặng nề như những gì họ gây ra cho người khác, y như câu mà người phương Tây hay nói what goes around comes around (có lẽ dịch là “gieo nhân nào thì gặt quả đó”).

____

Nghiên cứu Lịch sử

06-11-2013

Cách mạng văn hóa là tội của ai?

Hidematsu Hiyoshi [1]

(trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức)

Trong thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng không có quyền tự do ngôn luận, tự do theo đuổi nghề nghiệp, tự do cư trú và tự do đổi nơi cư trú. Điều mà người dân có thể làm chỉ là sự phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không có cơm ăn”, ai không phục tùng thì phải “đói mà chết dần”. Tất cả bi kịch cũng như mọi chuyện hoang đường xuất hiện trong thời Cách mạng Văn hóa không phải là trách nhiệm và lỗi lầm của nhân dân Trung Quốc (trong đó có giáo sư Mao Vu Thức[2]). Tạp chí Minh Kính số tháng 8 đăng bài “Kỉ niệm một vị nữ thánh” của Ngô Giá Tường.[3] Trong bài có nhắc đến chuyện kinh tế gia Mao Vu Thức phát biểu trong lễ kỉ niệm tròn 90 năm ngày sinh Vương Bối Anh[4] rằng “Bi kịch Cách mạng Văn hóa dù do lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đích thân đạo diễn, cộng thêm nhóm tứ nhân bang cùng những kẻ tay sai trợ ác cùng lắm cũng chỉ mấy trăm người. Vậy mà cả nước sáu bảy trăm triệu người điên cuồng vào cuộc. Có một nửa trách nhiệm ở người dân.

Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm việc đó thì khẳng định là làm không nổi”.[5] Giáo sư Mao có dũng khí phản tỉnh như vậy thực đáng ca ngợi. Vậy mà người viết bài này quả thật không dám đồng ý với phát biểu cho rằng nhân dân phải gánh một nửa tránh nhiệm về bi kịch Cách mạng Văn hóa và nếu như là ở Mĩ thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng đó. Chúng tôi cho rằng quan điểm đó có vấn đề về logic rất đáng được trao đổi thêm.

“Kẻ không phục tùng không có cơm ăn”

Cách mạng Văn hóa sở dĩ có thể phát động và lôi cuốn dân chúng – việc này hoàn toàn có quan hệ với thể chế chính trị Trung Quốc. Dưới thời Mao, dân không chỉ mất quyền tự do ngôn luận. Đến quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do cư trú và di chuyển cũng chả có. Mỗi một người đều trở thành “chiếc đinh ốc” trong cỗ máy quốc gia. Còn Nhà nước thì trở thành người chủ nhân công duy nhất, người kinh doanh của tất cả các xí nghiệp. L.Trotsky nói từ 1937: “Trong những nước mà Nhà nước là người thuê nhân công duy nhất, phản kháng đồng nghĩa với việc “từ từ chết đói”. Nguyên tắc xưa cũ “kẻ không lao động không được ăn” đã bị thay thế bởi nguyên tắc mới “kẻ không phục tùng không được ăn”[6] (sách “Đường đến nô dịch”). Trong một xã hội như thế, việc mà dân chúng có thể làm chỉ có thể là phục tùng và phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không được ăn”, kẻ không phục tùng thì sẽ đối diện với uy hiếp của cái chết phải “từ từ chết đói”.

Ta hãy xem tình cảnh xã hội Trung Quốc thời Mao. Chính quyền mới được thành lập sau 1949. Trong thập niên những năm 50 hàng loạt các cuộc vận động chính trị và trấn áp phản cách mạng do Mao phát động đã tiêu diệt triệt để giai cấp trí thức thân hào trong xã hội Trung Quốc truyền thống.
Những chức năng có tính truyền thống của xã hội Trung Quốc theo đó cũng tiêu vong. Trên một cơ sở như thế Mao đã sử dụng năm thủ đoạn kể sau để khống chế chặt chẽ xã hội dưới tay mình.

Thủ đoạn thứ nhất – Chế độ hộ khẩu

Chế độ hộ khẩu kiểu Trung Quốc phân tách thành thị và nông thôn. Nông dân suốt đời bị cầm cố ở nông thôn, các hộ dân quê không có cách nào để dời lên thành phố. Không có hộ khẩu thành phố thì không có chỗ làm, không có hộ khẩu thành phố thì không có phân phối lương thực, không có hộ khẩu thành phố không những không làm được bất cứ việc gì mà chính ra là không thể sinh tồn. Dân thành phố cũng bị cầm cố tại chính nơi cư trú của mình.

Việc chuyển chỗ ở giữa các thành phố cũng vì chế độ hộ khẩu mà chịu sự khống chế hoàn toàn. Chế độ hộ khẩu đó dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về mức sống, việc làm, đi học giữa nông thôn và thành phố. Vậy nhưng chỗ giống nhau về quyền lợi chính trị mà dân nông thôn và dân thành phố được hưởng đều là “không có gì”.

Chế độ hộ khẩu Trung Quốc còn có một công năng khác, đó là thông qua hộ khẩu cưỡng chế những ai không phục tùng hay có kiến giải độc lập về nông thôn tiếp thu giáo dục lao động cải tạo. Sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn kiểu như thế hoàn toàn là do con người tạo nên. Những ai có hiểu biết về thời kì lịch sử đó đều thấy rõ như thế

Thủ đoạn thứ hai – Chế độ tem phiếu phân phối

Mao Trạch Đông dùng chế độ phân phối tem phiếu để nắm chặt trong tay mình nguồn nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân sinh. Bất cứ một số lượng tiêu dùng nhu yếu phẩm nào cần thiết cho sinh hoạt đều được phân phối, người dân không thể tự do có được các nhu yếu phẩm đó. Khi mua lương thực không những cần có sổ mà còn cần cả tem phiếu, có tiền cũng không mua được định mức quy định theo tháng. Điều cần phải chỉ rõ là, phiếu lương thực còn chia thành loại phiếu thông dụng toàn quốc, loại phiếu dùng ở địa phương các tỉnh và loại phiếu dùng cho các thành phố. Trừ loại phiếu lương thực thông dụng toàn quốc ra, hai loại sau chỉ có thể dùng trong phạm vi các tỉnh các thành phố.

Người ta không thể xoay trở được nếu như không có phiếu lương thực. Chỉ riêng với chế độ phiếu lương thực đã có thể khống chế được quyền tự do hành động của dân chúng. Nhưng chế độ phân phối của Mao gồm một nội dung hết sức rộng rãi. Tất cả đều được phân phối theo phiếu – có phiếu dầu ăn, phiếu vải, phiếu trứng, phiếu đường, phiếu thịt, phiếu máy khâu, phiếu xe đạp,… Đến tết có phiếu hàng tết.Đủ loại tem phiếu quán xuyến toàn bộ đời sống người dân Trung Quốc.

Thủ đoạn thứ ba – Chế độ hồ sơ lí lịch

Chế độ hồ sơ lí lịch không xa lạ đối với mỗi người dân Trung Quốc. Cho dù anh học ở trường, công tác ở các đơn vị cơ quan hay về hưu ở nhà (về hưu hồ sơ lí lịch được chuyển về khối phố hoặc công xã nơi đương sự sinh sống). Hồ sơ lí lịch theo liền với từng người cho đến hết đời. Chức năng của chế độ hồ sơ lí lịch không thua kém gì một sự theo dõi ngầm của cơ quan công an. Trường học và cơ quan sẽ ghi vào hồ sơ nếu đương sự bị kỉ luật.

Những nhận xét hay giới thiệu mà chính đương sự không được đọc thấy hay không được chính đương sự xác nhận cũng được phê viết vào hồ sơ lí lịch. Tính cách tiêu cực hay tích cực của những lời phê đó ảnh hưởng đến đến cuộc sống giữa xã hội của chủ nhân bộ hồ sơ. Những ai có dũng cảm phàn nàn, nêu ý kiến hay phát ngôn trái lạ đều bị ghi vào trong hồ sơ lí lịch. Còn như việc sẽ chịu xử lí như thế nào thì chỉ còn trông chờ vào may rủi. Chế độ hồ sơ lí lịch phi nhân tính đó trên thực tế đã tước đi quyền tự do ngôn luận.

Thủ đoạn thứ tư – Chế độ giáo dục lao động cải tạo

Giáo dục lao động cải tạo được nói là một loại xử phạt hành chính nhưng trên thực tế rất gống với xử phạt hình sự. Chế độ giáo dục lao động có tính tùy tiện, nó có thể do một đơn vị cơ quan quyết định. Như thế chế độ giáo dục lao động khiến cho các cơ quan đơn vị trở nên rất gần với một cấp tư pháp nhưng tùy tiện và vô pháp luật. Mặc dù nói là xử phạt hành chính và được gọi là “trị bệnh cứu người” nhưng những người bị bắt đi lao động không những mất quyền tự do nhân thân đồng thời họ cũng trở thành “tiện dân” của xã hội và chịu sự kì thị.

Nghiêm trọng hơn là khi mãn hạn lao-giáo rồi người ta vẫn có thể cưỡng chế người bị giáo dục bằng lao động đó ở làm việc tại chỗ. Trên thực tế đó là một thứ tù không kì hạn, suốt đời bị giam thân cảnh tù, mất hẳn tự do. Việc có thể tùy ý thực hiện chế độ lao-giáo đối với dân chúng là biểu hiện của sự khủng bố chính trị thời Mao.

Thủ đoạn thứ năm – Chế độ cơ quan đơn vị

Dưới thời Mao, “cơ quan/đơn vị” trên thực tế chính là chỗ để khống chế cá nhân. Quyền tự do theo đuổi nghề nghiệp bị tước bỏ, tất cả mọi người đều nhận công tác theo sự sắp xếp của nhà nước. Người ta không có quyền chọn công việc và cũng không có quyền từ chối công việc được phân công. Nhà nước không cho phép tùy ý từ chức hay đổi công tác. Mỗi một người suốt đời làm việc ở những vị trí công tác đã được phân công.

Tiền lương do nhà nước quy định. Tình trạng đi làm cả đời không có tăng lương là rất nổi bật. Một khi anh rời khỏi đơn vị hoặc bị đơn vị khai trừ đồng nghĩa với việc hoặc là anh đã ra khỏi cái xã hội mà Mao đang khống chế hoặc là anh bị cái xã hội đó khai trừ. Anh sẽ lâm cảnh đường cùng, mất hết nền tảng sinh hoạt. Trong cái chế độ cơ quan-đơn vị đó, để sinh tồn kiếm sống nuôi gia đình anh chỉ có thể phục tùng và phục tùng.

Nhân dân Trung Quốc không có tội và cũng không có trách nhiệm về Cách mạng Văn hóa.Thời đại Mao Trạch Đông chính là dùng những thủ đoạn như thế để khống chế toàn bộ xã hội Trung Quốc. Cộng thêm vào đó là hết cuộc vận động chính trị trị này đến cuộc vận động chính trị kia. Tất cả khiến cho nhân dân Trung Quốc thực không có lấy một cơ hội nào để thở lấy hơi nữa. Cách mạng Văn hóa trong suốt quá trình của nó xem ra rất là hỗn loạn nhưng cả xã hội vẫn được khống chế chặt trong tay Mao. Mà Cách mạng Văn hóa là một cuộc vận động chính trị nhằm giải quyết chuyện người thừa kế quyền lực.

Nói cách khác Mao phát động Cách mạng văn hóa là nhằm mục đích biến giang sơn của một đảng thành giang sơn của một nhà, chuẩn bị cho Giang Thanh tiếp nối quyền hành[7] (Xem Lưu Thông, “Mục đích của Cách mạng Văn hóa – Xác lập người thừa kế quyền hành”). Trong Cách mạng Văn hóa, từ trên xuống dưới, từ trong đảng đến người ngoài đảng tất cả đều bị cuốn vào trong đó. Người bị cuốn vào không biết nguyên do sự việc nhưng kẻ phát động thì từng bước hướng cuộc vận động đi đến mục tiêu đã dự định trước.

Nhiều lãnh đạo cấp cao bị cuốn vào mà không sao hiểu được nguyên do, họ lại còn đứng đó hô hào học tập. Họ cảm thấy chuyện dường như là “cách mạng gặp phải vấn đề mới”. Nhiều lãnh đạo bị lôi ra phê đấu bắt đầu công việc tự kiểm thảo đi kiểm thảo lại. Mao Trạch Đông bày đặt mê hồn trận, khiến cho đám đông những là “đối tượng của cách mạng” từ to đến nhỏ không biết phải như thế nào cho phải, suốt này hoảng hốt giữa rầm trời tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hô đả đảo. Trong một không khí khủng bố chính trị như thế, quần chúng dân đen không chút quyền hành sống khác gì chết. Họ đến nói năng cũng phải giữ mồm, không cẩn thận là bị hàng xóm thậm chí chính vợ (chồng) con cái mình phản ánh, tố giác.

Trong thời buổi Cách Văn hóa, ai cũng run sợ cho bản thân, ngay cả người thân cũng không được tin. Lúc bấy giờ, “tin tưởng” đã trở thành từ đồng nghĩa của từ “nguy hiểm”. Bạn bè tri âm trở thành người cáo giác, người dám nói thẳng chẳng khác gì đang đào huyệt cho mình. Cả nước từ trên xuống dưới chỉ mỗi Mao là người hưởng quyền “tự do ngôn luận” ghi trong hiến pháp. Mọi công dân của cộng hòa quốc này đều đã bị tước bỏ quyền phát ngôn. Mọi hành động đều chờ chỉ huy của Mao, vạn vật sinh trưởng cũng nhờ sự tưới tắm của “lời dạy của chủ tịch” (ngữ lục).

Trong những năm tháng gọi là “cách mạng” đó, mở miệng là “muôn năm”, kiểm thảo ngày nào cũng có, tự sát trở thành ước mơ. Tất cả là để làm gì? Vận động quần chúng là để chặn đánh tâm lí phản nghịch của quần chúng. Vận động lãnh đạo cao cấp là để chống lại “lửa bất bình” nơi họ, làm cho họ cụp tai cúi đầu cam nô lệ. Mao gây bao án oan, bức đồng chí không ngừng tự kiểm thảo. Mao muốn tinh thần “tội tổ tông” thấm sâu vào thần dân. Chỉ như thế thì mới có thể khiến cho dự trù chính trị của mình thực hiện thông suốt. Ham sống sợ chết là thiên tính của con người.

Trong một xã hội mà không khí khủng bố nhuốm mùi tanh của máu, dân chúng xô dạt theo dòng lớn là chuyện không khó hiểu cả về tình lẫn về lí. Hẵng xem một người tài năng tót vời như Quách Mạt Nhược đã phải sống một cuộc sống run rẩy kinh hãi ra sao là đủ biết quần chúng thường dân vì sao lại phải “ngây cuồng”. Hẵng xem biết bao nhà văn nổi tiếng bỗng chốc tất cả cùng im lặng tập thể, gác bút tập thể là đủ thấy Mao Trạch Đông đã không chế thành công xã hội Trung Quốc đến mức nào. Cũng đủ để thấy dân chúng vì sao phải “ba phải a dua”. Bởi vì họ chỉ mỗi việc phải phục tùng, “ngây cuồng” hay “ba phải vào hùa” là kết quả của việc phải phục tùng. Không thế thì sẽ “dần dần chết đói”.

Dám chắc giáo sư Mao Vu Thức cũng ở trong đội ngũ đó. Đó quyết không phải là tội lỗi và trách nhiệm của nhân dân Trung Quốc (gồm cả giáo sư trong đó). Quả đúng như giáo sư đã nói: “Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm Cách mạng Văn hóa thì khẳng định là làm không nổi”. Sở dĩ những việc tương tự Cách mạng Văn hóa không thể phát động nổi ở Mĩ là bởi vì chế độ chính trị quốc gia này không cho phép các nhà chính trị muốn làm gì thì làm. Điều còn quan trọng là, các nhân vật chính trị ở Mĩ là do dân chúng bỏ phiếu chọn ra.

Tất cả những người đó (bao gồm cả tổng thống) đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thế nên chính trị gia tại Mĩ không thể hành động khinh suất hay tùy ý trái phản ý dân. Ai cũng biết chính trị Trung Quốc thời Mao và chính trị Hoa Kì không giống nhau. Vậy đương nhiên là ngón nghề của Mao làm sao mà thi hành được ở Hoa Kì! Bản thân Mao cũng biết rõ điều đó. Sau lúc Liên Xô hạ bệ Stalin, chính Mao từng nói nếu như ở các nước phương Tây thì đã không có chuyện kiểu Stalin.[8]

Thế nhưng Mao hoàn toàn không rút ra bài học gì cả. Sau vụ Watergate, Richard Nixon bị điều trần. Bill Clinton vì chuyện quan hệ ngoài hôn nhân mà bị quốc hội điều tra và ông đã buộc phải xin lỗi dân Mĩ.

Ngược lại Mao chưahề có một lời xin lỗi nào về những việc sai lầm của mình. Bành Đức Hoài[9] dũng cảm vì dân cuối cùng cũng chỉ là “Tôi không uống thuốc của Mao Trạch Đông” “Tôi không ăn cơm của Mao Trạch Đông”.[10] Một nguyên soái chiến công hiển hách cũng chỉ biết dùng cách đó để phản kháng thì còn yêu cầu được người dân phải làm thế nào?

Một chế độ tốt đẹp có thể khiến một người xấu không dám làm việc hư, một chế độ bất lương có thể khiến người tốt làm việc xấu.

Đây là lí do vì sao người ta yêu cầu phải cải cách thể chế. Giả sử, nếu xưa kia các bậc tiên hiền buổi đầu nước Mĩ kiến quốc không dựng nên chế độ dân chủ, nếu G.Washington sau 8 năm làm tổng thống không sáng suốt và dứt khoát rút lui khỏi đời sống chính trị, nếu không có việc những người kế thừa Washington thể chế hóa hành động của ông, nếu Washington thực hiện triệt để chế độ chính trị kiểu Mao thì hoàn toàn có thể khẳng định – việc xuất hiện thảm cảnh Cách mạng Văn hóa hay việc nảy sinh bi kịch tương tự bi kịch của những Trương Chí Tân[11], Vương Bối Anh là hoàn toàn có thể.

Vì vậy, tất cả những bi kịch hay những chuyện hoang đường xuất hiện trong Cách mạng Văn hóa chỉ có thể là trách nhiệm của kẻ phát minh Mao Trạch Đông. Nếu không sẽ là không công bằng đối với lịch sử và cũng là một điều sỉ nhục đối với người dân Trung Quốc – những kẻ không có chút quyền kinh tế và quyền chính trị nào trong tay.

Lê Thời Tân dịch từ nguyên bản tiếng Trung
(Nguồn: tạp chí Thế giới mới số 14-2013 (1031) ngày 22-4-2013)
đăng lại từ trang khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
________________________________________
[1]Học giả Nhật gốc Hoa. Bài đăng trên 《明鏡月刊》nhan đề “文革”究竟誰之罪:與茅于軾先生商榷” (xin xem city.mirrorbooks.com).

[2]茅于軾 (Mao Yushi 1929- ), nhà kinh tế học Trung Quốc đương đại. Năm 1958 bị quy “phái hữu” đình chỉ công tác. Trong Cách mạng Văn hóa bị khám nhà và đấu tố rồi bắt đi lao động. Nhận Giải thưởng kinh tế học Milton FriedmanLiberty Prize của Mĩ năm 2012.

[3] 吳稼祥(Wu Jiaxiang 1955 – ), nhà nghiên cứu kinh tế học, từng thỉnh giảng tại Đại học Harvard. Sau sự kiện mùa xuân Thiên An Môn bị bắt giam. Mãn hạn tù năm 1992. Ngô là một trong những học giả đề xuất sớm nhất ý hướng cải cách xí nghiệp quốc doanh và thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc.

[4] 王佩英(Wang Peiying 1915-1970), nguyên là một nữ nhân viên ngành đường sắt, do phản đối Mao Trạch Đông mà bị bắt vào viện chữa bệnh tâm thần. Trong Cách mạng Văn hóa bị gán tội phản cách mạng, nhét gạch vụn vào mồm và giong phố đấu tố. Sau đó bị phán quyết “lập tức tử hình”. Cuộc xử bắn ngày 27/1/1970 được truyền hình làm gương. Năm 1980 sửa án sai, kết luận bị bệnh nhân tâm thần không nên kết án hình sự. Năm 2011 kết luận lại Vương vô tội và rút lại lời kết luận Vương mắc bệnh tâm thần.

[5] Xem Ngô Giá Tường, 《雖億萬人,吾往矣 – 紀念一位聖女》đăng trên《明镜月刊》số tháng 8/2010 (kì 6), tr.78.

[6] Xem Vương Minh Nghị dịch, 《通向奴役之路》, Trung Quốc Xã hội Khoa học Xuất bản xã, 1997, tr.116 (The Road to Serfdom của Friedrich August von Hayek có bản dịch tiếng Việt Đường về nô lệ của Phạm Nguyên Trường, Hà Nội, Nxb Tri thức –ND).

[7]Xem劉松,《文化大革命的目的-確立繼承人》introng日本大學大學院國際關係研究科《大學院論集》, kì 11, 2001, tr.61~85. Hoặc xem 關心 dịch,《毛澤東最後的革命》, Thinker Publishing (HK) Limited xuất bản, 2009, tr.328 (tức cuốn Mao’s Last Revolution của Mac Farquhar và Roderick – ND)

[8] Xem《鄧小平文選》, quyển 2, tr.333

[9] Bành Đức Hoài (1898-1974), nguyên soái, từng là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chống lại chính sách Đại nhảy vọt của Mao từ Hội nghị Lư Sơn (1959). Bị quy tội phản đảng cách chức và kỉ luật. Trong Cách mạng Văn hóa bị đấu tố đánh đập rồi quy tội gián điệp. Bị thầm vấn hàng trăn lần. Mắc bệnh không được chạy chữa, chết ngày 29/11/1974. Trước lúc chết xin được gặp vợ đã li hôn đang lao động cải tạo ngoại ô Bắc Kinh nhưng bị vợ từ chối. Bình đựng tro cốt ghi thành họ tên khác. Được khôi phục danh dự năm 1978. Ghi chép trong tù xuất bản thành sách nhan đề “Bành Đức Hoài tự thuật” (ND).

[10] Xem 馬輅,佩璞,馬秦泉,《彭德懷廬山起禍》(Bành Đức Hoài – Tội khởi từ Hội nghị Lư Sơn), Nhã Lâm xuất bản xã, 1990, tr.36.

[11] Trương Chí Tân (1930-1975), đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị bắt tù từ 1969 cho đến 1975 vì dám phê phán sùng bái cá nhân và bệnh tả khuynh. Khác biệt giữa hai người phụ nữ Trương Chí Tân và Vương Bối Anh ở chỗ Trương trước sau không phủ nhận tư cách đảng viên của mình, trong lúc Vương sớm xin ra khỏi đảng. Trương trước lúc đem ra tử hình đã bị tra tấn đến phát điên nhưng vẫn bị cho là giả vờ trong lúc Vương khi đưa ra bắn bị xem là điên. Vương bị siết cổ khi đem ra pháp trường còn Trương bị cắt yết hầu trước khi xử tử. Năm 1978 Trương được khôi phục danh dự, năm 1979 công nhận liệt sĩ (ND).

Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Hoàng Dung, thông tín viên RFA

08092015-life-protct-activites.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

AFP

Hoạt động của một số các bạn trẻ tại Việt Nam với danh xưng ‘bảo vệ sự sống’ được tiến hành lâu nay; khi mà theo Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.
Công tác đó tiến triển ra sao và mục tiêu giúp giảm bớt nạn phá thai trong nước đạt được mức nào?

Tiến triển của hoạt động ‘bảo vệ sự sống’.

Phong trào ‘bảo vệ sự sống’ phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã có từ lâu. Ở Việt Nam phong trào này mới được xây dựng và phát triển khoảng hơn 20 năm nay và khởi đi từ thành phố Huế và hiện nay thì đã có khắp cả nước.

Còn một bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở giáo xứ Thái Hà, thành phố Hà Nội cho biết.

“Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ. Hoạt động bảo vệ sự sống ở Hà Nội thì gồm có truyền thông, trong truyền thông thì có các hoạt động như thuyết trình ở các giáo xứ, giáo họ về bảo vệ sự sống chống phá thai, ngoài ra còn có các hoạt động quần chúng như các ngày lễ ngày 8 – 3, ngày Valentina ..tổ chức đi xe đạp phát tờ rơi. Ngoài ra có trang Web và Facebook. Còn có văn phòng tư vấn ở nhà xứ Thái Hà, do cha Quỳnh trực tiếp tư vấn hoặc cũng có thể qua Fanpage của nhóm, bên cạnh đó còn có các tình nguyện viên đến trực tiếp các bệnh viện để gặp gỡ các trường hợp nạo phá thai để tư vấn mong họ giữ lại các thai nhi. Còn có các ngôi nhà mở để các thai phụ để các bạn gần sinh đến đó để chăm sóc. Hoạt động cuối cùng là mỗi buổi tối có các bạn trẻ đến các bệnh viện xin các thai nhi về tắm rửa, khâm liện cho các em và an các thai nhi. Nhờ có những hoạt động”

” Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ

Một bạn trẻ trong nhóm BVSS”

Anh Trịnh Nguyễn một người trong nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II ở Nghệ An nhớ lại.

“Em tham gia trung tâm BVSS Gioan Phaolo II từ năm 2008 khi đó em còn là sinh viên trường CĐSP Nghệ An, lúc đó phong trào đang trên đà phát triển mạnh, tuy nhiên đến năm 2011 khi một số thành viên nòng cốt của nhóm bị bắt như anh Fx Đặng Xuân Diệu, Pet Trần Hữu Đức, Ant Đậu Văn Dương, Jb Hoàng Phong…và bị quy chụp là tuyên truyền chống phá nhà nước cũng như hoạt động chống phá nhà nước, lúc đó nhà cầm quyền CS Nghệ An cũng quy chụp trung tâm BVSS Gioan Phaolo II là phản động và dùng nhiều cách để phá hoại nên trung tâm sau đó không lâu đã tan rã.”

Sự tan rã của nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đối với anh Trịnh Nguyễn như là một sự mất mát tinh thần vô cùng lớn.

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

“Sự tan rã của trung tâm đối với em, nó như là một sự mất mát rất lớn vì đó cũng là bao tâm huyết mà em và mọi người đã xây dựng, thực sự khi nghe tin đó em đã không cầm được nước mắt.”

Thành quả

Công việc bảo vệ sự sống là một việc cần sự dấn thân, tuy nó không lớn lao gì, nhưng việc đó cũng đã mang lại sự sống cho các em bé được cứu từ tay tử thần hoặc cũng giúp cho các em được chết như một con người.
Tuy thời gian trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng những việc mà các thành viên trong nhóm làm được cụ thể như lời anh Trịnh Nguyễn sau đây.

“Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi bé bỏng bị bố mẹ của họ từ chối sự hiện diện của họ trên cõi đời này.”

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội tiếp lời.

” Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi

anh Trịnh Nguyễn”

“Từ năm 2009 đến nay Từ năm 2009 đến nay nhóm bảo vệ sự sống Thái Hà Hà Nội đã an táng cho khoảng 14.000 thai nhi tại nghĩa trang Thạch Bích và khoảng 33.000 thai nhi tại nghĩa trang Từ Châu. Nhóm cũng đang cưu mang và chăm sóc cho khoảng gần 200 em nhỏ ở các nhà mở.”

Tác động.

Phong trào bảo vệ sự sống ở Việt Nam còn non trẻ nên hiệu quả của nó có thể chưa cao, nhưng không thể phủ nhận được những công việc được thực hiện giúp cho thêm nhiều người đã quan tâm hơn đến việc bảo vệ các thai nhi, không phá thai bừa bãi.

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội cho biết.

“Tôi nghĩ là từ năm 2009 đến nay, thì hiệu quả của chúng tôi đạt chưa cao, nhưng trong phạm vi thành phố Hà Nội nó cũng góp một tiếng nói trong thảm trạng nạo phá thai để giúp bảo vệ sự sống cho các thai nhi”.

Tuy hiện nay trung tâm mẹ là trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đã tan rã, nhưng bên cạnh đó lại còn đang có nhiều trung tâm khác đã được thành lập và hiện đang hoạt động rất mạnh ở Nghệ An.
Anh Trịnh Nguyễn cho biết thêm.

“Trong thời gian tham gia bảo vệ sự sống, ngoài việc đi đến các bệnh xin xin các thai nhi về chôn cất, đi tư vấn các thai phụ bỏ ý định phá thai, nuôi dạy các thai phụ cũng như chăm sóc các em nhỏ thì chúng em còn tổ chức các buổi thắp nến cầu nguyện cho BVSS ở các giáo xứ để giúp mọi người thức tình, từ đó nhiều nhóm BVSS  thành lập ở một giáo xứ ở GP Vinh, như nhóm ở GX Bột Đà, ở xứ Yên Lý, xứ Chân Thành và có một sự kiện đáng nhớ là vào tháng 7 năm 2009 nhóm chúng em đã tổ chức đi bộ 2 ngày với hơn 70km để cầu nguyện cho phong trào BVSS cũng như thức tỉnh mọi người cùng chung tay góp sức để BVSS, từ đó mọi người đã chú ý đến hơn đến chúng em và công việc bảo vệ sự sống”.

Theo Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là khoảng 300.000 ca mỗi năm. Trong đó có khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. Trung bình cứ mỗi một đứa bé được sinh ra thì có một bào thai bị phá bỏ. Việt Nam là nước đứng thứ 3 trên thế giới và đứng thứ nhất ở Đông Nam Á về tình trạng nạo phá thai.

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Còn nói đến Tạp Chí Cộng Sản thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo Nhân Dân không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì…

Nguyễn Dương

Thông Tấn Xã Việt Nam vừa hân hoan loan một tin vui:

“Sáng 4-8, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 85 năm Ngày Tạp chí ra số đầu tiên (5-8-1930 / 5-8-2015) và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước – Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai.”

Giữa thời đại internet, báo bổ ở khắp mọi nơi – trên toàn thế giới – đang dẫy chết hàng loạt mà Tạp Chí Cộng Sản vẫn sống hùng, sống mạnh để  “đón nhận phần thưởng cao qúi” thì quả là một kỳ tích vô cùng đáng kể, và đáng nể.

Cả làng báo Việt Nam đều xuýt xoa chia mừng, và râm ran tán thưởng, chỉ riêng có mỗi ông Nguyễn Dương (nghe đâu là bạn bè của Trương Duy Nhất, hay chính thằng chả không chừng) là không biểu đồng tình. Ổng chê cái tạp chí này “là cơ quan đánh bóng lư đồng” và “chả có ma nào đọc” cả!

Châm chọc và mỉa mai đến vậy mà (chắc) vẫn chưa đã miệng nên đương sự còn viết cả một bài báo dài thòng (“Những Chiếc Lồng Son”) với rất nhiều lời lẽ cay đắng, cùng dè bỉu. Bài này tuy dài thiệt nhưng vì trang S.T.T.D bữa nay còn trống (hoàn toàn) nên xin được “ịn” lại toàn văn, nghĩa là “copy & paste” nguyên con,” để đọc … cho nó đã:

Sáng nay gặp mấy thằng bạn dân báo lề đảng “khạnh khẹ” nhau: Mày làm báo TW sướng thật, đi đến đâu cũng được ở nhà to, hưởng lộc lớn, chẳng bù cho bọn tao suốt ngày phải cắp cặp chạy theo. Tay kia không phải vừa: Bọn ông cũng đâu thua gì, cũng ăn trên ngồi trước thiên hạ.

Hỏi ra mới biết các chú báo đảng địa phương Sài Gòn đang phân bì thiệt hơn với mấy bác báo đảng TW vì các anh í  vừa được về ở nhà to, được trang bi xe cộ, phương tiện tác nghiệp tân thời hơn.

Nhà Khách Báo Nhân Dân Ở Tam Đảo. Nguồn ảnh: toa-soan-bao-nhan-dan-tam-dao-hotel

Số là tạp chí Cộng sản (TCCS), cơ quan lý luận và chính trị của TW đảng CSVN (cơ quan thường trực miền Nam, số 19 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) và báo Nhân dân (ND), cơ quan TW của đảng CSVN (cơ quan thường trú tại Tp HCM, số 40 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) vừa được dọn về nhà mới.

Đúng là không hẹn mà gặp, cả hai anh phát ngôn của đảng cùng chọn một con đường khá đẹp nằm ở trung tâm Sài Gòn để đặt bản doanh của mình. Tuy chỉ là cơ quan thường trực ở Tp HCM nhưng cả hai đều tọa lạc trong tòa nhà cao hơn chục tầng, mới xây dựng khang trang khiến người qua lại phải choáng ngợp.

Khi tôi đứng chụp hình trước cơ quan thường trú báo ND, một anh mặc áo quần tươm tắt chạy ra cự nự đầy vẻ nghiệp vụ báo chí “ông chụp hình đây làm gì?”

Ảnh: Nguyễn Dương

Tôi nói xạo: Thấy tòa nhà đẹp quá em chụp về in lịch. Hắn ta khoái chí cười hè hè. Mặc dù không được các ảnh mời “nhân dân” vào chơi xem nhà mới, nhưng tôi đoán chắc rằng trong đó là những căn phòng sang trọng với máy lạnh mở suốt ngày, bàn ghế bóng ngời, các bộ máy vi tính, laptop đời mới trưng bày la liệt.

Đúng là những con họa mi ở đây cả phần hồn lẫn phần xác được chăm lo nơi đến chốn, “nắng không đến đầu, mưa không đến tóc”. Thảo nào các chú chim trống, các ả chim mái ở đây lại “hót” hay đến thế.

Trong làng báo chí mọi người vẫn khẳng định: Làm báo ND là sướng nhất. Quanh năm suốt tháng chỉ việc đi dự hội nghị, khai trương, động thổ, trao huân chương… Đi đến đâu các anh báo ND đều được trọng vọng, ăn trên ngồi trước.

Các cơ quan từ TW đến địa phương họp hành, khai trương gì báo nào cũng có thể bỏ qua nhưng báo ND thì không bao giờ dám thất lễ.  Tôi có anh bạn trước đây chỉ làm báo địa phương làng nhàng, thế nhưng từ khi được chuyển qua làm phóng viên thường trú của báo ND là khác hẳn; ăn nói cũng khệ nệ, cha chú hơn, nhưng đổi lại chẳng còn bài viết nào ra hồn, tay nghề cũng lụn bại từ  ấy.

Thế nhưng, nếu cho đọc giả bình chọn thì có lẽ tờ ND là báo tào lao nhất, tẻ nhạt và… xạo nhất. Hầu như trên tất cả các sạp bán báo đều không thấy bóng dáng anh ND.

Nói không ngoa, báo chí cách mạng thời hoạt động bí mật còn kiếm dể hơn kiếm một tờ báo ND ngày nay. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một bài viết ngắn trên blog có tên laothayboigia, trong đó có câu: Từ khi các gia đình Việt dùng quen giấy vệ sinh cuộn, báo Nhân dân càng trở nên khó tiếp cận với quần chúng.

Còn ông hàng xóm của tôi đã gần 30 năm tuổi Đảng nói một câu rất “thiệt tình”: Bọn tau bây giờ đọc báo ND chỉ đọc mục… cáo phó.

Thử hỏi bao nhiều vụ tham ô, tham nhũng lớn có anh phóng viên báo ND nào mò ra đâu, bao nhiêu chuyện bức xúc, khẩn thiết của người dân các anh có lên tiếng đâu. Các anh chỉ nói theo kiểu “định hướng”, vuốt đuôi. Các anh chỉ giỏi lo chuyện trên trời, bận phân tích bao giờ kinh tế Mỹ sụp đổ, tỷ lệ thất nghiệp của châu Âu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, lo Gaddafi còn trụ lại được bao lâu nữa…

Thực tế là ngày nay báo ND chỉ được “lưu hành” trong các cơ quan nhà nước, các chi bộ mà phần lớn là  moi tiền của ngân sách ra mua, đa số người ta đọc báo ND là đọc chùa, chứ chẳng mấy ai  bỏ tiền túi ra mua cả. Nực cười là báo làm ra không bán được nhưng bộ sậu báo ND vẫn sống khỏe, hưởng mọi bổng lộc của đảng ban phát, sống trên đầu trên cổ người khác. Tiền đó ở đâu ra??

Còn nói đến TCCS thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo ND không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì vì ở đây chỉ toàn là những cây bút cỡ đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Quang.

Phối cảnh Tòa nhà Tạp chí Cộng sản. Tọa lạc tại số 19 đường Phạm Ngọc Thạch,

phường 6, quận 3, TP HCM. Ảnh: PVV.COM

Những chuyện đơn giản mấy ảnh làm cho phức tạp lên với mớ lý luận chỉ để hù dọa mấy anh các bộ chưa xóa mù chính trị. Các anh cứ nhai đi nhai lại mớ tín điều cũ rích, ngồi mơ mộng bao giờ thì chủ nghĩa tư bản giãy chết.

Không quá khi nói rằng đây là cơ quan đánh bóng lư đồng, chân đèn. Các anh suốt ngày ca ngợi sự ưu việt, bách chiến bách thắng của CN Mác – Lê Nin, các anh tô son, vẽ thêm râu cho ông Mác, ông Hồ mà ngay các ông ấy có sống dậy cũng không nhận ra mình.

Xin thưa các anh TCCS. Sản phẩm các anh làm ra chẳng ma nào đọc đâu, từ Bộ chính trị cho đến mấy anh đảng viên quèn đều biết tỏng các anh nói xạo, là đồ ba trợn nhưng họ buộc phải nuôi các anh, vỗ béo các anh vì các anh là những con vẹt đầu đàn, các anh có nhiệm vụ là người lĩnh xướng cho dàn đồng ca của hàng triệu con vẹt khác.

Thú thật tự thâm tâm tôi các anh làm gì thì mặc xác các anh, hôm nay các anh cưỡi voi thì rồi ngày mai các anh cũng xuống chó. Thế nhưng thằng dân đen tôi không thể nào không uất khi đối lập với hình ảnh ăn trơn mặc trắng, nhà cao cửa rộng của các anh là cảnh bần cùng của người dân. Trong những chiếc lồng son của các anh các anh có thấy được nỗi cơ cực của người dân nghèo như thế này không:

– Bệnh viện quá tải, 7 bệnh nhân/giường: Thông tin này được ông Lương Ngọc Khuê – Cục    trưởng Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm của khu vực phía Bắc, tổ chức ở Hà Nội ngày 13.9.2011 (Dân Việt).

– Quá tải bệnh viện, bệnh nhân nằm gầm giường, hành lang: Hầu hết bệnh viện tại TP HCM đều  trong tình trạng quá tải, bệnh nhân nằm kín các hành lang. Ở các bệnh viện nhi, trẻ em nằm một giường 4-5 cháu, thậm chí người nhà phải giành nhau một chỗ ở gầm giường để trải chiếu cho bé nghỉ (Vnexpress).

– Quá tải bệnh viện lên đến con số “khủng” 364% (Lao Động).

– Bệnh viện Báo động xuống cấp, quá tải. Bệnh nhân… mặc áo mưa truyền nước biển (ykhoanet.com).

– 30 HS nghỉ học chăn bò do… trường xuống cấp: Hơn 30 em học sinh đã tốt nghiệp tiểu học ở thôn Mai Hạ (xã Mai Đình, Hiệp Hòa, Bắc Giang) không được nhận vào trường huyện bạn – THCS Đông Tiến, với lí do cơ sở vật chất của trường đã xuống cấp (Tiền Phong).

– Một trường học đã hết chỗ để xuống cấp: Đó là trường Tiểu học Liên Trì, xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Ngôi trường này có 6 phòng học cấp 4 được xây dựng từ hơn 40 năm trước nên hiện đã hết chỗ để… xuống cấp. Trong số 6 phòng học thì đã có 3 phòng bị mưa lũ làm sập hoàn toàn, các phòng còn lại thì tường bị nứt toác, cửa sổ chắp vá đủ loại ván, nhiều thanh gỗ trên trần bị mối gặm gần hết làm mái ngói cong vẹo có nguy cơ chờ… sập. Hằng ngày 200 học sinh phải “bám trường, bám lớp” dù tính mạng luôn bị rình rập (Thanh Niên).

– Vừa học vừa lo… trường sập: Hơn 400 học sinh và giáo viên trường Tiểu học số 1 Triệu Phước (xã Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) ngày ngày vừa học vừa nơm nớp lo sợ khi phải ngồi bên những chiếc bàn mục ruỗng chỉ chờ gãy, những tấm ngói thủng lỗ chỗ nhìn thấu mặt trời (Dân Trí).

– Một trường mầm non 40 tuổi xuống cấp trầm trọng (Đất Việt).

Nói vậy thôi chứ có bao giờ các anh chị gặp những “cảnh đời” như thế. Các anh chi có đau ốm gì thì đã có bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế lo, con cái của anh chị đều được “cơ cấu” vào các trường điểm, trường chuẩn quốc gia, quốc tế. Các anh chị cứ yên tâm mà luyện thanh, luyện giọng để cất cao tiếng hót ca ngợi đảng, ca ngợi chế độ.

Chào thân ái và sẽ quyết toán!

Người Cùng Khổ NGUYỄN DƯƠNG

(Nguồn: Trương Duy Nhất blog)

Trương Duy Nhất blog đã bị đóng từ lâu nhưng bài viết thượng dẫn thì có thể tìm thấy nơi nhiều trang mạng khác. Thiệt là một bài báo thấm thía. Chỉ tiếc là cách dùng từ, đôi chỗ (“những con họa mi” –  “những chiếc lồng son”) có hơi bị … cliché!

Ông Trương Tấn Sang chơi chữ tân kỳ hơn thấy rõ. Chủ Tịch Nước gọi những người làm báo – kiểu như báo Nhân Dân và Tạp Chí Cộng Sản – là một “bầy sâu,” chớ không phảì là “bầy chim họa mi.”

Tương tự, ông Nguyễn Phú Trọng cũng “tân kỳ” không kém. Ông mô tả đây là một … bầy chuột. Tuy thế, vì bầy chuột này có công trạng làm loa tuyên truyền cho chế độ nên không bị “ném” mà còn được tuyên dương – vẫn theo như bản tin (thượng dẫn) của TTXVN:

“Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai tặng tập thể cán bộ, công chức, viên chức người lao động của Tạp chí Cộng sản.”

Thỉnh thoảng lại mang huân chương đem trao cho cả bầy sâu hay lũ chuột, rồi kêu gọi chúng phải là “lực lượng đi đầu trong đấu tranh phòng chống tham nhũng” thì quả là một chuyện khôi hài – một kiểu giễu dai, và diễu dở!

Cầm tay em anh hỏi

“Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ.”

(Nhạc: Hoàng Nguyên/Lời: Hồ Hoàng Phương – Đường Nào Lên Thiên Thai)

(Mt 14: 5-8/17: 3-4)

Trần Ngọc Mười Hai

Cầm gì thì cầm, tay hoặc chân của ai đó cũng chẳng sao. Thế nhưng, chớ có “cầm nhầm” thứ gì khác, kẻo không những chỉ mình em, mà cả thế giới đều lên tiếng.

Hỏi gì thì hỏi, hỏi-han hay han-hỏi điều gì, cũng đừng nên hỏi các đấng bậc nhà Đạo những câu như thế! Bởi, chưa cần nghe anh hỏi, Đấng bậc tôi tớ của các bầy tôi đây sẽ tranh nhau mà trả lời. Ngoại trừ các chi tiết về Lưu Nguyễn, rượu Đào, suối Ngọc ở đâu đó, như câu hát cứ liên hồi, rằng:

“Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,

gặp đường lên Thiên Thai,

Nhạc vàng ai mê say,

Rượu Đào ai ngây ngây

Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,

Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,

ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Bởi, như lời bọn tôi vừa nói, anh hoặc em có hỏi cho nhiều, thì nghệ-sĩ ở đời cũng chỉ có thể bảo ban với em hoặc anh những điều rằng:

“Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi trời đất còn vương thương đau,

khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu

Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi lòng còn như băng buốt giá

Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Thế đó, là chuyện ngày xưa. Còn, hôm nay và mai ngày, chỉ cần anh cất tiếng hoặc ầm ừ đôi ba chữ, chứ chẳng cần biết anh có cầm tay hay cầm chân ai đó không, cũng sẽ có đấng bậc này nọ ví von Thiên Thai với Nước Trời, ngay tức thì.

Thế nhưng, trước khi đi vào chi tiết những gì chưa hỏi đã trả lời một “chia sẻ”; nay, mời bạn và mời tôi, ta nghe sơ những chuyện “chưa hỏi đã có đáp án” như sau:

“Hai chàng trai nọ cầm tờ giấy xét nghiệm ở bệnh viện ra cửa đọc mà chẳng hiểu, bèn ngơ ngác đầy chất hỏi han, như sau:

-Tình-hình cậu thế nào? Có khả-quan không thế?

-Không dám “khả quan” đâu! Bác-sĩ khám tớ xong bèn kết luận bằng chữ BT tức “bó tay” to đùng thế này làm sao khả với quan được cơ chứ!

-Không bằng tớ đâu! Tình-hình của tớ còn tệ lậu hơn nữa.

-Ấy chết! Cậu nói gì mà “lậu” với tệ? Thế, ỗng nói là cậu bị lậu sao?

-Lại cũng không dám đâu! Chả lậu liếc gì đâu. Chả là, ngài phê cho tớ mấy chữ RLTH có nghĩa “Ruột lòi tới háng”, thế có chết không cơ chứ!

Than vãn ỉu xìu xìu một hồi, hai chàng trai gặp cô y-tá đầy chữ nghĩa bèn ráp tới hỏi và han thêm lần nữa, bèn được câu “đáp án” rất sáng tỏ như thế vầy:

-Các anh “cầm nhầm” kết-quả rồi! Đâu nào “cho em xin”… Anh đây Bác-sĩ phê hai chữ BT có nghĩa là “Bình thường” chứ chẳng phải bó tay bó chân gì hết đó! Còn, anh đây mấy chữ RLTH có nghĩa là “Rối loạn tiêu hoá”, chứ chẳng có gì hết đó. Uống viết thuốc xôi là xong ngay…”

Quả là đáp-án của dân “chuyên-nghiệp” khi thấy thiên-hạ những hỏi han như thế. Riêng nghệ-sĩ xưa, hay đưa ra câu hỏi không rõ có tính chuyên-nghiệp không mà sao cứ hát mãi những lời rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Nghe hát rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng vào vấn-đề về hỏi-han “Đường Nào Lên Thiên Thai” hay “đường nào dẫn đến Nước Trời, ở đâu đó?

Hễ cứ hỏi, là có thưa. Những thưa cùng hỏi rất tận-tình như bao giờ. Thế nên, hôm nay đây, thay vì trả-lời câu: “Đường nào lên Nước Trời hoặc Thiên Thai? Thì, đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo lại nói về đức tính đích-thực của các kẻ tin đang sống ở chốn Nước Trời, như sau:

“Đức Phanxicô nói rằng muốn nên chứng nhân đích thực trong đời sống Kitô hữu đòi phải có 3 đặc tính.

Trong bài giảng thánh lễ sáng hôm qua 11.06 tại nguyện đường Santa Marta, Đức Giáo Hoàng nói đến 3 đặc tính đó là: “Hành trình, phục vụ, lãnh nhận nhưng không.

Hành trình.

Đức Giáo Hoàng nhắc đến bài đọc Tin Mừng trong ngày nói về việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng. Là một môn đệ của Chúa đòi hỏi phải mang lấy sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng.

Nếu người môn đệ không đi ra và không làm cho người khác lãnh nhận bí tích Rửa tội thì người ấy chưa phải là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Người ấy thiếu sinh khí truyền giáo. Anh ta không thể ra khỏi chính mình để mang lại những điều gì tốt lành cho người khác.

Các môn đồ của Chúa Kitô cần phải lên đường mang lấy Tin Mừng, cần có một hành trình nội tâm không ngừng tìm kiếm Chúa, qua đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nếu người môn đệ không theo đuổi cách thức này, công cuộc rao giảng Tin Mừng sẽ nên suy yếu.

Phục vụ.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc tính thứ hai nơi người kitô hữu đó là phục vụ. Không phục vụ không phải là Kitô hữu. Một người môn đệ không biết phục vụ người khác thì không phải là Kitô hữu. Người môn đệ cần phải theo những gì Chúa Giêsu rao giảng như được mời gọi nơi hai trụ cột của Kitô giáo: 8 Mối Phúc Thật và ‘Chứng thư’ như được liệt kê trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu chương 25.”

Nếu cuộc sống của chúng ta không biết phục vụ thì không có giá trị gì trong đời sống Kitô hữu. Người môn đệ đích phải biết phục vụ người khác đặc biệt là những người bị bỏ rơi.

Lãnh nhận Nhưng-không.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc-tính thứ 3 cần phải có nơi đời sống Kitô hữu đó là ‘nhưng không’. Đức Giáo Hoàng nhắc lại những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng “anh em đã được nhận nhưng không thì cũng hãy trao ban nhưng-không”.

“Thật buồn khi thấy có những Kitô hữu đã quên đi Lời này của Chúa Giêsu. Thật buồn khi thấy trong các cộng đoàn, giáo xứ, các dòng tu, giáo phận đã quên đi điều này. Vì như thế hóa ra ơn cứu độ đến từ sự giàu có, từ sức mạnh của con người.”

“Niềm hy vọng của ta đặt nơi Chúa Giêsu Kitô. Ngài ban cho ta niềm hy vọng để không bao giờ thất vọng. Niềm hy vọng giúp chúng ta vững mạnh lên đường; niềm hy vọng giúp chúng ta ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để phục vụ người khác; niềm hy vọng làm cho chúng ta nên giàu có chứ không bó hẹp nơi thế giới vật chất chóng qua này”. (theo zenit)

Thế đấy, là cuộc sống ở Nước Trời rất như thế. Như thế và như vậy, giống hệt một khẳng- định của thánh-nhân hiền-lành nhà Đạo từng lập đi lập lại rằng:

Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy

và nhận khá nhiều người làm môn đệ,

hai ông trở lại LýtRa, Icôniô và Antiôkia.

Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ,

và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin.

Hai ông nói:

“Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”

Trong mỗi Hội Thánh,

hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục,

và sau khi ăn chay cầu nguyện,

hai ông phó thác những người đó cho Chúa,

Đấng họ đã tin.”

(Cv 14: 22-23)

Sống ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời, thì như thế. Còn, đường lên Thiên-Thai/Nước Trời thì sao? Và đây, mời bạn và mời tôi, ta nghe tiếp đoạn khác ở trình-thuật Tin Mừng thánh Mát-thêu như sau:

Bấy giờ Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người:

“Thầy bảo thật anh em,

người giàu có khó vào Nước Trời.

Thầy còn nói cho anh em biết:

con lạc đà chui qua lỗ kim

còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.”

Nghe nói vậy,

các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói:

“Thế thì ai có thể được cứu?”

Đức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói:

“Đối với loài người thì điều đó không thể được,

nhưng đối với Thiên Chúa,

thì mọi sự đều có thể được.”

(Mt 19: 23-26)

Hỏi rằng: ta hiểu câu trên như thế nào? Phải chăng người muốn nói: muốn vào chốn Thiên-Thai/Nước Trời, phải trở nên nghèo khó, bé nhỏ, sống túng-thiếu chứ không sang giàu hoặc dư dật? Bởi, nếu đã giàu sang/dư dật rồi, lại sẽ khác.

Sống ở chốn Thiên-thai/Nước Trời, là sống tình-trạng thanh-thoát, trống-trải để rồi sẽ không có gì và sẽ chẳng còn gì để sợ mất và cũng chẳng có gì để phải lo “con bò trắng răng”. Dù, mối lo đó lại sẽ là mối lo và sợ những người giàu-có đến chiếm hữu/rút rỉa những gì mình có.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời, là có sống rất thật nhưng không chỉ cho mình mà cho người khác. Là, như thánh Phaolô khi xưa từng bảo: “Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời là sống giống như câu ca vẫn tiếp-tục hát:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai.

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

À thì ra, cả trong Đạo lẫn ngoài đời đều công-nhận: “Hồn anh lạc vào tận tim ai”, thế mới là Thiên-Thai/Nước Trời ở phía trước. Có vào tận “tim anh” hay “tim em” cũng sẽ không khó như “Lạc đà chui qua lỗ kim” đâu. Cái khó, là lòng người chẳng muốn “đưa hồn lạc” vào đâu đó, dù chốn đó có là Thiên Thai hay Nước Trời, nhiều con tim rất vang hoặc rất ngọc.

Bởi lẽ, Thiên Thai/Nước Trời, vẫn cứ là và sẽ là chốn miền ta cùng sống trong và sống với cộng-đoàn dân con Đức Chúa ở xã hội. Bởi lẽ, Thiên-Thai/Nước Trời ở đây, lúc này, chính là cộng-đoàn ta chung sống, trong đó có giúp giùm, đùm bọc, không ngại ngần.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, lại chính là Thánh-hội ở trần-gian, trong đó không còn ai chỉ mỗi lo-toan, tranh giành, kèn-cựa đạp nhau mà tiến chức, lên lương hoặc nắm trọn quyền. Ở chốn Thiên Thai/Nước Trời hôm nay hay mai ngày, là ở với cộng-đoàn có Thánh Thần Chúa soi sáng, ngự trị.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, vẫn là và sẽ là chốn thánh-thiêng, trong đó có vị thánh Đá Tảng rất Phêrô, từng kêu lên vui sướng, những câu nói rất trung-thực như:

Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!

Nếu Ngài muốn,

con xin dựng tại đây ba cái lều,

một cho Ngài, một cho ông Môsê,

và một cho ông Êlia.”

(Mt 17: 3-4)

“Thật là hay! nếu Người muốn mà sao người người nay chẳng nhớ đến ai để rồi người người cùng tôi sẽ đóng lều để ở, mà chỉ nhớ có Môsê hoặc Êlya thôi? Thế đó là vấn đề. Chính đó, là nỗi chết. Bởi thế nên, Đức Giêsu lại đã phản-hồi bằng câu nói rất đáng nhớ, mà rằng:

Ông còn đang nói,

chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông,

và có tiếng từ đám mây phán rằng:

“Đây là Con yêu dấu của Ta,

Ta hài lòng về Người.

Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng,

ngã sấp mặt xuống đất.

Bấy giờ Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo:

“Trỗi dậy đi, đừng sợ!”

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa,

chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi.”

(Mt 14: 5-8)

Xem như thế, tức như thể bảo: Thiên-Thai/Nước Trời không ở đâu khác, ngoài Đức Giêsu, là Con Thiên Chúa. Bởi, Ngài là tất cả trong mọi sự. Có nghe và làm theo lời Ngài dạy, tôi và người rồi ra, ai ai cũng đạt chốn Thiên Thai Nước Trời, vẫn mong muốn.

Để minh-chứng và minh-hoạ điều này, tức: chỉ một điều rằng: Thiên-Thai/Nước Trời là chốn miền ta đang sống hiện-tạiở đây, ngay lúc này không gồm tóm chỉ mỗi chuyện tốt đẹp mà thôi, nhưng vẫn có những chuyện không hay ho, thực-tế như trang nhật-ký của vị y-sĩ thuộc loại thượng-thừa, như sau:

“Đêm trực lúc 0 giờ

Một người đàn ông đến cấp cứu vì đau quặn bụng. Khi mình đến khám, ông ta cứ luôn miệng nói: Tôi quen anh giám đốc A. Tôi có làm ăn với chị trưởng phòng B. Có lẽ do ông ta nghĩ rằng, khi nói ra những mối quan hệ ấy, mình sẽ làm việc chu đáo hơn. Mình đã đáp lời rằng :

-Anh có thể thôi nói tên và chức vụ của người khác. Anh hãy nói về chính anh đi, tên, chức vụ và bệnh của anh.

Ông ta trố mắt ra nhìn mình, phải mất vài phút sau ông ta mới có thể bắt đầu khai bệnh.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng hay như vậy, bạn nhỉ? Cứ vỗ ngực tự hào chứng tỏ với nhau rằng : tôi là con ông D, cháu bà C, tôi quen biết ông E và có mối quan hệ thân thiết với bà F, thay vì chúng ta nói về chính mình. Nhưng một người trưởng thành thật sự lại là người luôn tự đứng vững trên đôi chân mình, can đảm chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, không dựa vào ai cả, không đổ thừa ai cả.

0 giờ 30 phút

Một người phụ nữ 70 tuổi, được đưa đến phòng cấp cứu trong tình trạng suy kiệt nặng, da xanh niêm nhạt, thở ngáp cá, toàn thân khai mùi phân dãi. Khi mình xử trí cấp cứu xong, mình hỏi hai người con gái ăn bận rất bảnh bao và thơm tho : Bệnh nhân bị bệnh gì trước đây, điều trị ở đâu, và diễn tiến nặng bao lâu rồi?

Mình đã ngỡ ngàng khi nhận được một câu trả lời : Bệnh tim mạch và u hạch gì đó không rõ, mẹ tôi đã khó thở cả tháng nay rồi, nhưng tôi nghĩ không sao nên không đưa đi khám bệnh.

– Hai chị là con ruột?

– Ừ con ruột.

Mình im lặng thở dài khi kết quả xét nghiệm và MSCT trả về là bệnh Lymphoma ác tính di căn não, di căn phổi, đái tháo đường, suy thận… Làm sao mà cứu chữa? Mẹ thì chỉ có một trên đời.

Tuần trước mình có đi dự đám tang của một bệnh nhân rất thân. Và đã chứng kiến những giọt nước mắt ăn năn của người con út.

– Bác sĩ biết sao không, cả bốn tháng nay tôi chưa gặp mẹ, dù nhà tôi và nhà mẹ cách có vài bước chân. Ai ngờ trưa hôm thứ 7, nhận điện thoại báo mẹ đã mất rồi… Giá như tôi …

Thật, càng lớn tuổi, mình càng sợ trực cấp cứu. Không phải vì sức khoẻ vì chuyên môn hay vì áp lực phải tiếp xúc phơi nhiễm với những bệnh lây nhiễm hay vì có thể bị hành hung bất cứ lúc nào. Mà vì cứ phải chạm vào thật sâu bên sau mỗi con người dù mình không muốn…

1 giờ sáng

Bệnh nhân nam 23 tuổi, cơ thể gầy teo, nấm trắng đầy miệng đến cấp cứu vì tiêu chảy. Khi mình giải thích tình hình bệnh và đề nghị nhập viện thì bệnh nhân không chịu vì không có tiền.

– Em điện thoại kêu ba mẹ vào viện đi.

– Ba mẹ em li dị hồi em còn nhỏ xíu. Em sống với bà, mà bà ở tuốt dưới Vĩnh Long, em nói thiệt, em bị nghiện ma tuý đá và bị nhiễm HIV.

– Nhưng nếu em không nằm viện thì phải làm sao?

– Em cũng không biết nữa.

Nhìn cơ thể bệnh nhân chi chít những hình xăm, mái tóc nhuộm vàng khè … sao mà khác quá với cách bệnh nhân trả lời.

– Em chỉ nghĩ mình đau đến đây để bác sĩ cấp cứu…

Mình lại thở dài, dù tiếng thở dài chẳng làm đêm ngắn lại. Phần lớn những người sa ngã và lầm lạc thường được lớn lên trong gia đình không có hạnh phúc, cha mẹ ly dị, hay nghiện rượu, cờ bạc và thuốc lá. Có bao giờ mỗi bước chân đi, mỗi quyết định trong cuộc đời, chúng ta đều cẩn trọng? Sinh con rất dễ, nhưng nuôi dưỡng con lại rất khó! Khó vô cùng.

2 giờ sáng

Một thanh niên sỉn rượu đến để may những vết thương vùng mặt và lưng do bị chém. Khi điều dưỡng hỏi phần hành chính, thì anh ta nạt nộ đập bàn : Sao không khâu liền đi, cứ hỏi mấy cái vớ vẩn làm gì?

– Muốn khâu thì phải làm hồ sơ khai tên tuổi bị đánh ở đâu chứ, rồi còn phải kí tên yêu cầu khâu chứ.

– Tao (cóc) khai. Bây giờ tao hỏi tụi mày có khâu không thì bảo? Tụi mày có tin tao chém tụi mày bây giờ không?

Mấy anh bảo vệ nghe ồn ào, báo ngay cho công an. Và thanh niên sỉn rượu vừa thấy bóng công an lập tức bỏ chạy. Mới đó còn hùng hổ đòi đâm đòi chém …Thật, những người có xu hướng hung bạo và dễ kích động thường là những người sống trong sự sợ hãi và yếu đuối.

Vì sao khi đi trên phố mấy thanh niên trẻ hay nẹt bô rồ ga? Vì sao giữa đám đông mấy người trung niên kia ăn bận diêm dúa trang điểm cầu kì? Bởi vì trong sâu thẳm họ khát khao được chú ý, khát khao được công nhận… nhưng họ chẳng có gì đặc biệt, buộc họ phải hành động như thế. Họ lạc loài!

3 giờ sáng

Một người đàn ông, 50 tuổi được đưa vào cấp cứu vì đau đớn vùng hạ sườn phải. Ông ta la hét inh ỏi:

– Bác sĩ đâu rồi? Tụi bây chết hết rồi hả? Tao vào bệnh viện cả tiếng rồi mà chẳng thấy tụi bây đâu…

– Bác sĩ đây, anh mới vào mà, y tá còn chưa kịp lấy dấu hiệu sinh tồn…

Người nhà vội nói bệnh nhân và quay qua nói với mình : Bác sĩ thông cảm, tại ảnh bệnh ung thư đường mật di căn gan, di căn hạch giai đoạn cuối rồi nên đau đớn và hay la hết. Bệnh Viện C đã cho về, khuyên gia đình, bệnh nhân muốn ăn gì thì cứ cho…

Đêm dường như sâu hơn với tiếng thở dài.

Nỗi đau niềm thống khổ là có thật, luôn hiện diện bên trong mỗi con người. Ai cũng đau cũng khổ, có người nhờ nỗi đau mà vượt lên được chính mình, tìm ra được con đường giải thoát và an lạc, nhưng cũng có người bị chết chìm trong đó. Lẽ thường, khi người ta gần đến bên kia con dốc cuộc đời, cận kề cái chết, người ta sẽ buông bỏ hết những sân si, người ta sẽ chấp nhận và mỉm cười… Đằng này …

Bốn giờ sáng

Một người phụ nữ đến cấp cứu vì đau đầu ngủ không được. Trong khi mình đang viết bệnh án thì nghe bà ta kêu lên: Chú bác sĩ và cô y tá kia, mau trả điện thoại lại cho tôi.

– Bà coi lại cẩn thận đi, tụi con đâu có lấy điện thoại của bà.

– Cô nói gì? Chỉ có cô và chú bác sĩ kia lại gần tôi… Không cô thì chú kia lấy. Báo bảo vệ hay công an ngay đi.

Bệnh nhân ngồi bật dậy, khác với lúc mới vào nhăn nhó khó chịu mệt mỏi.

– Ôi mẹ ơi, mẹ nói cái gì kì lạ vậy? Con giữ điện thoại của mẹ đây. Tại con đi đóng tiền tạm ứng nhập viện nên mẹ không biết.

– Vậy hả? Tao tưởng hai đứa này nó ăn cắp.

Bé Khánh vừa định lên tiếng, mình vội ngăn lại và thì thầm: Thôi bỏ đi em.

Mình nhớ một câu chuyện trong Phúc Âm, có người đến hỏi: Nếu ai đó tát vào má con thì sao? Chúa Giêsu đã trả lời : Con hãy đưa luôn má còn lại cho người ta tát. Và nếu có ai xin con cái áo khoác bên ngoài, con cũng hãy cởi luôn cái áo khoác bên trong mà cho.

Thường chúng ta chỉ đến với Thượng Đế khi bị đau khổ, mất mát, muốn mà chưa được…Và khi chúng ta bị ức hiếp bị bắt nạt, chúng ta mong là luật công bằng, luật nhân quả được thực thi.

Nhưng Thượng Đế luôn im lặng. Ngài dạy: Hãy tha thứ, hãy cho đi nhiều hơn. Bởi chỉ những người yếu đuối, thiếu thốn, bị bỏ rơi … mới dùng đến bạo lực và đi xin. Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng nói: Cây lúa nào hạt non hạt lép thì nó đứng thẳng vươn cao. Còn những cây lúa nặng trĩu hạt luôn oằn mình xuống dưới thấp. Cái Tôi của ai nhỏ bé thì tâm-lượng người đó mênh mông! (trích Nhật-ký của Giáo sư Tôn Thất Tùng)

Nghe kể chuyện thực-tế ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn hoa văn-nghệ có những câu hát không xa vời thực-tế như câu ca do nghệ-sĩ trích ở trên cứ hát đi hát lại mãi rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp, lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai, kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta đã tìm ra con đường lên Thên-Thai nay cứ sống sự thật cuộc đời, với đời và trong đời, giữa mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ sống một đời rất thực;

Nhưng ít khi hỏi người, hỏi mình

tự bao giờ.

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được”

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài, vẫn là Tình Yêu tuyệt vời, Lời Chúa phán. Áo cơm ấy, Tình-Yêu này, lại vẫn được diễn-tả theo kiểu cung cách rất thời thượng mà bậc thánh-hiền còn viết mãi đến hôm này.

Hồi đầu thập niên bẩy mươi, một trong các ấn bản của nhà sách Readers Digest thời bấy giờ đã thuật lại sự kiện về chiếc phản lực cơ lâm nạn rơi xuống vùng núi Andes, chỉ một ít người còn sống và họ phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại.

Trong buổi thảo luận về khía cạnh luân lý đặt ra với hiện tượng “khác thường này, các nhà thần học đã bàn về tư thế của Giáo hội bên sau hiện tượng ‘người ăn thịt người, để sống còn’. Câu hỏi mà tác giả bài viết lúc ấy đưa ra, là: Giáo hội quan niệm thế nào về luân thường đạo lý khi gặp trường hợp ‘người ăn thịt người’?

Dù có ai đưa ra luận cứ vững chắc nào để bênh vực cho tục ‘ăn thịt người để sống sốt’, thì cảnh tượng đứng đứng ngồi ngồi gắp từng miếng thịt của người đồng hành, đưa lên miệng, cũng đủ khiến ta lợm giọng, rất ghê tởm. Cũng như vậy, khi ta rước Mình Máu Cha, người ngoài Đạo có thể nghĩ và gán cho ta mũ chụp là “tội đồ, mọi rợ chuyên ăn thịt người khác”. Tức, tội đồ đi Đạo dám ăn cả thịt và uống cả máu Đức Chúa của mình.

Có lẽ, người ngoài Đạo cũng cho rằng: ta còn mừng kính việc ăn Mình và Máu Đức Giê-su, là ta còn mang tiếng trở thành kẻ ‘ăn thịt người’. Truyền thống Giáo hội xưa nay vẫn luôn thận trọng khi sử dụng ngôn từ chỉ việc Đức Giê-su hiện diện nơi Thánh Thể.

Dẫu có thế nào đi nữa, dứt khoát ta vẫn không phải là ‘kẻ ăn thịt người’. Trăm ngàn lần như thế. Bởi, có bao giờ ta ăn tim gan, phèo phổi hoặc xương, óc của Đức Chúa, bao giờ đâu. Giáo lý trong Đạo, tuy đề cập đến sự hiện diện đích thực, bằng xương bằng thịt, của Đức Chúa nơi Thánh Thể, rất thật.

Nhưng, ta có qui về Đức Giêsu đâu! Tín lý trong Đạo chỉ nói về Đức Kitô, Đấng đã hiến trọn con người của Ngài cho ta. Điều ấy có thật. Nhưng, Ngài muốn ta ăn thịt Ngài như cơm bánh hằng sống, thức ăn miên trường chủ yếu tháp nhập con người của ta vào với bản thể của Ngài. Hiển nhiên là như thế.

Ở đây, sự phân biệt danh phận và tên gọi của Đức Chúa là điều rất cần. Thánh Thể là Bí tích thánh thiêng về mầu nhiệm Phục sinh. Khi cử hành Tiệc Thánh Thể, ta vinh danh Đức Kitô đã sống lại, và hiện Ngài đang thực sự có mặt với ta, ở trong ta. Đây là sự có mặt trọn vẹn dưới dạng thức bánh và rượu. Hai chất thể phàm tục đã trở thành Mình thánh và Máu thánh của Ngài trong buổi Tiệc của Lòng Mến.

Truyền thống đạo giáo vẫn công khai tuyên xưng đặc tính chất loại của Mình Thánh. Như thế, không có nghĩa là đã giúp ta suy tư đầy cảm tính. Là Công giáo, ta tin Đức Kitô được Đức Chúa cất nhắc khỏi sự chết và Ngài đã sống lại thật và đang thực sự hiện diện với ta, bằng xương bằng thịt, ở đây, trong Tiệc Lòng Mến này.

Thế còn, vấn đề ý nghĩa ‘quà tặng’ của Thánh Thể, thì sao?

Nói cụ thể, chương 6 Tin Mừng thánh Gioan là thiên nghị luận bàn nhiều về Thánh Thể. Đằng khác, cũng trong chương này, thiên nghị luận của thánh sử là để đề cao sự thống khổ, cái chết của Đức Giê-su và sứ mạng của ta biết noi theo con đường Ngài đã đi.

Đức Giêsu, trong cương vị một Môsê mới, không chỉ ban tặng cơm bánh hằng sống cho con người, mà thôi. Ngài còn trao ban chính Thân mình của Ngài, qua sự thống khổ, cái chết và sự sống lại vinh hiển, nữa. Chính vì lý do này, Hội thánh Cha vẫn nối kết sự kiện Vượt Qua với việc cử hành Tiệc Thánh Thể. Đây là Tiệc của Lòng Mến, nơi đó ta ăn mừng và tôn kính Thân Mình rất thánh của Đức Chúa.

Vấn đề đặt thêm hôm nay, là: tại sao ta lại được trao ban cho quà tặng có một không hai ấy? Tiệc Thân Mình rất thánh của Đức Chúa không mang dáng dấp của một lễ hội dành cho một nhóm người nào đó, rất ưu đãi. Đây cũng không phải là việc sùng kính riêng tư, rất trầm buốn. Đây chẳng có nghĩa của một thứ gì đó nhằm đảm bảo cho ta ơn cứu rỗi riêng lẻ, của từng người.

Tiệc Thánh Thể mang ý nghĩa đích thực là ở chỗ: tiệc ta nhận lãnh Thân Mình Đức Chúa để bổ sức giúp cho kẻ tin vào Đức Kitô biết dấn bước ra đi, theo con đường khổ hạnh của Ngài. Ra đi, để biến đổi thế giới đương đại. Ra đi, luôn mang theo tình thương yêu dâng trào và sự công chính Chúa ban, vì Đức Kitô, nhân Danh Đức Kitô, cho Đức Kitô.

Hội thánh, người của Đức Chúa, vẫn luôn nối kết những gì ta sẽ hành động sau tiệc Thánh Thể với những gì ta cử hành việc ăn uống trong buổi Tiệc mừng. Điều này có nghĩa, là: người dự tiệc sẽ hối hả ra đi chăm lo nuôi sống những người đang đói thức ăn. Đang thiếu nước uống, trên thế giới.

Điều này còn có nghĩa: đa số chúng ta quyết giúp đỡ các người anh người chị khác, những nhóm người vẫn thực hiện công tác thiện nguyện, rất âm thầm. Điều này cũng có nghĩa, là: khi nghĩ đến các ứng viên ta sẽ bầu làm lãnh đạo hay thủ trưởng, ta buộc họ phải bận tâm lo toan cho nhiều người đau khổ, phiền muộn tại xứ sở, địa phương, và cả ở xã hội.

Trước đây, cố bề trên tổng quyền Dòng Tên, linh mục Pedro Arupe đã có lần bộc bạch rằng: Bao lâu, ở đâu đó trên thế giới, còn có người đói thức ăn, thèm khát nước uống, thì việc cử hành tiệc Thánh Thể của ta ở bất cứ nơi nào trên quả đất này, vẫn như còn thiếu thứ gì đó, theo một cách nào đó. Bởi, đôi lúc, ta vẫn cứ ảo tưởng cho rằng: Tiệc Thánh Thể có phép mầu thần thông của một ảo thuật gia, biến đổi được tất cả.

Đấy cũng là điểm nhấn mà Giê-su Đức Chúa đặt nặng trong Tin Mừng hôm nay, khi quả quyết: Ngài tặng ban Thân Mình Ngài cho sự sống của thế giới, đang tồn tại. Tiệc Thánh không biến ta thành những tay “tội đồ” ăn thịt người. Dứt khoát, không phải thế. Ngàn lần không là như thế. Tiệc Thánh còn có nghĩa thực tế, là: biến ta trở nên triệt để hơn. Triệt để, trong quyết tâm tiếp tục hiên ngang tồn tại làm con dân của Đức Chúa khắp nơi, trên địa cầu này.

Trong cảm-nghiệm tình thương-yêu rất như thế, ta lại sẽ ngâm tiếp lời thơ, rằng:

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

Áo cơm hành bủn rủn thiên-tài.

Học thói người xưa ta cạo đầu bán tóc,

Chưa đủ tặng em nửa chiếc áo dài.”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Cuối cùng thì, có cạo đầu bán tóc nhiều chăng nữa, cũng chỉ để chứng-tỏ tình thương yêu anh tặng cho em, cho mọi người. Cả một đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 51-58)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi và thực thi quyền làm chủ của tôi!

Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi và thực thi quyền làm chủ của tôi!

FB Xuân Sơn Võ

07-08-2015

Cách đây 15 năm, khi đang học ở Mỹ, tôi ở nhà của GS Yeung. Bố mẹ vợ của GS Yeung thường chở tôi đi chơi. Tôi hết sức ngạc nhiên khi đi hoài trên những con đường cao tốc mà không thấy trạm thu phí nào. Khi tôi hỏi về điều đó, ông bố vợ GS Yeung nói: chúng tôi đóng thuế, chính phủ phải có trách nhiệm xây dựng đường sá.

Một lần, GS Yeung đi công tác vắng 1 tuần. Tôi xin ông cho tôi vào bệnh viện ở. Bệnh viện của GS Yeung là bệnh viện trong ngày, không có phòng lưu bệnh. Tối tối, không còn ai ở đó, bệnh viện lại không có hàng rào. Mọi người hướng dẫn tôi cách sử dụng hệ thống an ninh, và đặc biệt, hướng dẫn tôi cách gọi cảnh sát khi có trường hợp khẩn cấp.

Họ bắt tôi thực tập, và đặt giả thiết là cảnh sát sẽ đến sau 5 phút, họ hướng dẫn tôi phải làm gì trong 5 phút ấy. Tôi hỏi lại: vậy lỡ họ không đến thì sao, lỡ sau 1 giờ họ mới đến thì sao? Tôi nhớ mãi câu trả lời của một nhân viên của GS Yeung: Họ ăn lương từ tiền thuế của chúng tôi, họ phải có mặt khi chúng tôi cần họ. Nếu họ không đến, nếu họ chậm trễ, chúng tôi sẽ kiện họ.

Sinh ra và lớn lên trong một chế độ mà tôi luôn được dậy, tôi chính là người chủ của đất nước. Tôi nhận thức rằng, đất nước này như một ngôi nhà. Đảng, Chính phủ là cha, là mẹ. Bổn phận làm con, tôi luôn phải biết ơn Đảng, ơn Chính phủ khi mình vẫn còn tồn tại, khi mình có cơm ăn, áo mặc, khi mình biết đọc chữ… Câu nói “ơn Đảng, ơn Chính phủ” là câu cửa miệng của nhiều người. Bổn phận làm con, tôi không được phán xét cha mẹ. “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Tương tự vậy, cái gì xấu xa, cái gì gây thiệt hại, đích thị đó là tàn dư của phong kiến, thực dân, sau này là đế quốc, phản động, và gần đây là các thế lực thù địch, là diễn tiến hòa bình… Khái niệm làm chủ đất nước dần được hiểu theo nghĩa đóng thuế, đóng phí, đóng tiền lao động công ích, đóng góp cái gì bảo đóng, họp tổ dân phố là luôn phải đồng ý, tới ngày lễ là phải treo cờ, đến ngày bầu cử, cán bộ phường gọi là phải đi bầu sớm, cán bộ gợi ý bầu cho ai thì bầu cho người đó, chủ trương chính sách đưa ra thì phải nhiệt liệt hưởng ứng… Nếu khác đi, nếu nghi ngờ, lăn tăn thì không phải là làm chủ.

Và, cái tinh thần làm chủ đất nước ấy dậy tôi rằng, ngân sách là tiền của Đảng, của Nhà nước. Lãnh đạo sử dụng tiền đó để xây dựng và bảo vệ đất nước này. Đừng nghi ngờ, đừng thắc mắc, đừng hỏi tại sao. Đó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là đọc những gì lãnh đạo cho đọc, nói những những gì lãnh đạo cho nói, làm những gì lãnh đạo bảo làm, hi sinh cho lí tưởng mà lãnh đạo ca ngợi.

Trở lại câu chuyện tôi đi học ở Mỹ. Với tôi khi ấy, chuyện kiện cảnh sát, chuyện nói các quan chức phải làm thế này thế khác, rồi tiền ngân sách là tiền đóng thuế của người dân… là những tư tưởng rất phản động.

Nhưng rồi, tôi để ý, cứ mỗi khi các quan chức của chúng ta lên TV, nói rằng dứt khoát không có chuyện tăng giá, là y như rằng giá sẽ tăng ngay sau đó, khi họ nói, rằng không có tham nhũng, là y như rằng bao nhiêu tiền, tài sản bị mất… Dần dần, cứ như là qui luật, khi lãnh đạo khẳng định điều gì, thì sự thật ngược lại, khi lãnh đạo phủ nhận chuyện gì, chuyện đó đúng. Do vậy, tôi không thể không đặt câu hỏi.

Thì ra, đất nước này thực sự là của tôi, của những người dân như tôi, nó không thể là của riêng ai cả. Ngoài cha mẹ đẻ ra tôi, chẳng có ai khác làm cho tôi tồn tại trên cõi đời này. Để cho tôi có thể kiếm cái ăn, cái mặc, người đầu tiên giúp tôi là cha mẹ tôi, sau đó là thầy cô tôi, các đàn anh, đàn chị, các đồng nghiệp. Tôi cần biết ơn những người đó, chứ không phải ơn cái gì đó xa vời vợi.

Thì ra tiền ngân sách thực sự là tiền của tôi, của đồng bào tôi đóng góp vào. Đồng tiền ấy phải phục vụ cho lợi ích của tôi, của đồng bào tôi. Mọi hành động nhắm chiếm riêng những đồng tiền đó đều là ăn cắp, ăn cướp tiền của tôi và đồng bào tôi. Những kẻ ăn cắp, ăn cướp ấy phải bị vạch mặt và trừng trị.

Rồi tôi nhận thức được rằng, nếu tôi cứ im lặng, nếu tôi không cùng mọi người lên tiếng chống lại bọn ăn cắp, bọn đục khoét, có nghĩa là tôi góp phần đưa đất nước này đến sự diệt vong. Nếu tôi không chống lại cái xấu, có nghĩa là tôi nuôi dưỡng cái xấu.

Khi nhận thức được như vậy, tôi lên tiếng. Tôi lên tiếng để bảo vệ đất nước tôi, để thực thi quyền làm chủ đất nước của tôi. Nhưng một số kẻ bảo rằng, tôi phản động.

Ai mới là người yêu nước, và ai là kẻ phản động?

Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Thăm dò dư luận: Chỉ có Việt Nam ưa Putin

Nguoi-viet.com

WASHINGTON (NV)  – Một tổ chức thăm dò dư luận đưa ra kết quả cho thấy chỉ còn có người Việt Nam là có vẻ ưa được tổng thống Nga Vladimir Putin, ngược hẳn với người dân khắp thế giới.

Tổng Thống Vladimir Putin. (Hình: Mikhail Klimentyev/AFP/Getty Images)

Ngày Thứ Tư vừa qua, tổ chức thăm dò dư luận PEW, trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn, công bố kết quả thăm dò dư luận qua phỏng vấn tất cả 45,435 người tại 39 quốc gia trên thế giới khắp 5 châu lục để tổng kết ý kiến mọi người về tổng thống Nga  Vladimir Putin.

Nhìn chung, kết quả không mấy ai ngạc nhiên vì ông này đang có những hành động bá quyền bành trướng, cướp một phần nước Ukraine làm các nước Đông Âu rúng động, nhớ lại thời kỳ nằm trong gông cùm đỏ. Nền kinh tế của Nga và khu vực Âu châu đang bị ảnh hưởng nặng vì các biện pháp trừng phạt hành động của Nga.

Câu hỏi được PEW đặt ra là “Quý vị tin tưởng được bao nhiêu về việc tổng thống Nga Putin hành động đúng trong các vấn đề quốc tế?”

Theo kết quả thăm dò của PEW, nếu kể điểm trung bình thì câu trả lời tốt cho ông Putin là 24%, tức là khá thấp. Đa số người dân tại nhiều nước rất không ưa cách hành xử của ông Putin. Nước ghét nhất là Tây Ban Nha chỉ có 6%. Dân Ba Lan từng bị Nga cắm đầu chính trị dưới thời Cộng Sản ở Đông Âu chỉ có 9% trả lời thuận lợi cho ông.

Chỉ có người dân Nga với 88% là tin ông Putin đúng. Bên cạnh đó, tới 70% người Việt Nam cũng nghĩ như vậy trong khi nước có tỉ lệ cao thứ ba là Trung Quốc với 54%. Còn lại, vài nước có tỉ lệ dưới 50% và đa số dưới 30% hay thấp hơn.

Bị Tây phương cô lập, Matxcơva tìm đến các đồng minh cũ. Ngày 29 tháng 5, 2015, Liên Bang Nga và các nước trong Liên Hiệp Kinh tế Á-Âu ký một hiệp ước trao đổi mậu dịch tự do với Việt Nam trong bối cảnh quan hệ căng thẳng giữa Nga với Tây phương.

Vốn là một chư hầu cũ của Nga Xô, có rất nhiều người được gửi sang Nga du học về đủ mọi ngành. Võ khí các ngành của Việt Nam phần lớn do Nga cung cấp từ máy bay, tàu chiến đến trang bị bộ binh.

Trong bản thăm dò dư luận của PEW,  cũng đáng để ý là sự nhìn nhận tích cực của người Mỹ về Nga cũng giảm đi đáng kể. Trong khi năm 2011 có 49% người Mỹ tỏ thái độ thiện cảm với điện Kremlin, thì con số này đã giảm xuống chỉ còn 22% trong thăm dò mới nhất.

Ngược lại, niềm tin của người Nga đối với Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng xuống thấp kỷ lục. Chỉ có 11% người Nga tin ông Obama đã giải quyết đúng đắn các vấn đề thế giới. Người tiền nhiệm của ông là Tổng thống George W. Bush cũng chịu số phận tương tự với chỉ 8%.

Hồi cuối năm ngoái, PEW đưa ra kết quả cuộc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia “mê” tư bản nhất trên thế giới, với 95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%. Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất. (TN)

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

20 ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP HƠN

Trích EPHATA 653

Ai cũng mong muốn sống một cuộc đời thành công và hạnh phúc, nhưng điều đó không phải tự nhiên mà có được. Nếu muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, hãy ghi nhớ 20 điều dưới đây:

1. Bạn sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Vậy nên đừng quá bận tâm tới những gì người khác nói về bạn, hãy cứ là chính mình.

2. Nếu bạn muốn đạt được những thứ bạn chưa từng có, bạn phải làm những điều bạn chưa từng làm.

3. Nếu bạn tin rằng những đường chỉ tay nói lên số phận của bạn, thì bạn cũng đừng quên rằng, chúng cũng chỉ nằm trong lòng bàn tay bạn mà thôi.

4. Cuộc sống luôn cho bạn cơ hội thứ hai. Nó được gọi là ngày mai.

5. Toàn bộ đại dương cũng không thể làm đắm được một con tàu, trừ khi nước ngập vào trong. Tương tự, toàn bộ những gì tiêu cực trên đời, cũng không thể nào hạ gục được bạn trừ khi bạn cho phép nó thấm vào người mình.

6. Hãy học cách trân trọng những gì bạn đang có trước khi thời gian, dạy cho bạn biết trân trọng những gì bạn đã từng có.

7. Chính trải nghiệm chứ không phải thứ gì khác, là thứ làm nên con người bạn.

8. Hãy ở bên người làm cho bạn cười, ngay cả khi bạn mệt mỏi, không vui.

9. Đừng vội vàng từ bỏ người mà bạn yêu thương, bởi tình yêu đâu phải ai cũng may mắn tìm được nhau.

10. “Hãy đếm số tuổi của bạn bằng số bạn bè, chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời của bạn bằng nụ cười chứ không phải những giọt nước mắt” ( Ca sĩ John Lennon của nhóm The Beatles ).

11. Không có ai hoàn hảo cả. Đó là lý do tại sao bút chì có cục gôm.

12. Thứ đắt giá nhất trên đời này là lòng tin. Để có được có khi cần rất nhiều thời gian, nhưng để đánh mất thì chỉ cần vài giây ngắn ngủi.

13. Một cái đầu đầy nỗi sợ hãi sẽ không còn chỗ trống cho những ước mơ.

14. Tiền xu luôn gây ra tiếng động, nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Bởi vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình khiêm tốn và ít nói đi.

15. Đôi khi bạn phải tự mình đứng dậy và bước tiếp, bởi không ai làm điều đó thay bạn đâu.

16. “Tôi không biết chìa khóa của thành công là gì, nhưng tôi biết chìa khóa của thất bại là cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người” ( Bill Cosby ).

17. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” ( Trịnh Công Sơn ).

18. Mỗi ngày hãy sống như thể đó là ngày cuối cùng của bạn.

19. Khóc cũng sống, cười cũng sống. Tại sao ta không chọn nụ cười để sống ?

20. Thứ quý giá nhất đối với mỗi người không phải là tiền bạc hay địa vị, mà chính là sức khỏe. Bởi vậy, hãy quan tâm tới sức khỏe trước khi quá muộn bạn nhé !

Nhận được từ Vui Sống Trên Đời

TẠ ƠN CHÚA

TẠ ƠN CHÚA

Trích EPHATA 653

Con tạ ơn Chúa vì chồng con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải ở bên một người đàn bà nào khác.

Con tạ ơn Chúa vì con con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọn dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng chở nên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ nhìn con làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, máng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của nhà con quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sử dụng nhiều tiện nghi khá hiện đại.

Con tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau con trong Nhà Thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa là tai con vẫn còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo thật to vào sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại được, còn hít thở và cười nói, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn đang còn sống mạnh khỏe.

Và cuối cùng, con tạ ơn Chúa vì đã nhận quá nhiều E-Mail gửi về, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con…

KHUYẾT DANH, bản dịch của cố giáo sư TRẦN DUY NHIÊN ( 1941 – 2009 )

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

 

Bức thư của cố tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học. Được viết ra từ gần 200 năm trước, lại là ở nước Mỹ, nhưng bức thư vẫn giữ nguyên tính “thời sự” và gợi nhiều suy nghĩ cho chúng ta.

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực, cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ gặp một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng mỗi một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kị. Xin hãy dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách, nhưng cũng hãy cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng đối với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn thận trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng. Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình. Nếu được như vậy thật là điều tuyệt vời đối với con trai tôi.

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

Quân Trần, SJ

Có một lần được đến, sống và làm việc tại một nhà tĩnh tâm ngay giữa sa mạc của nhà Dòng trong suốt mùa hè, tôi chợt nhận ra một thói quen vô thức của mình: cứ tìm đến một góc vắng vẻ nhất và ngồi đó trong thinh lặng.  Nhiều khi tôi dùng thời gian ấy như là một giờ tâm sự với Chúa, nhưng cũng lắm khi chỉ để hồn phiêu lãng với những chùm tư tưởng khác nhau.  Điểm lạ là nơi tôi đến chẳng có dáng của hoa thơm, cũng không có bóng của cỏ lạ.  Có chăng chỉ là cái nắng chói chang chiếu rọi trên những gốc xương rồng cằn cỗi.  May lắm thì được yên vị trong một căn chòi nho nhỏ đủ làm dịu đi đôi chút cái gay gắt của trưa hè.  Ấy vậy mà cứ ngày này qua tháng nọ, nó dường như trở thành một chốn rất đỗi thân quen.  Và muôn lần như một, câu nói trong sách Luca cứ vọng về: “Đức Giêsu thường lui vào một nơi hoang vắng mà cầu nguyện” (Luca 5:16).  Ừ nhỉ, có gì hấp dẫn hay lãng mạn nơi hoang địa cơ chứ?  Nhìn quanh nhìn quất chỉ toàn một màu của cỏ úa, ban ngày thì nóng cháy thịt da, về đêm thì lạnh buốt tận xương tuỷ.  Người đã tìm gì trong hoang địa?  Thế đó tôi bắt đầu một cuộc tìm tòi.

Hoang địa, nơi tôi luyện đức khiên nhường.  Một ngày lang thang qua khắp nẻo đường.  Một ngày rộng tay với muôn vàn ân phúc.  Thành công có, thất bại có.  Giữa sự ồn ào của lời khen tiếng chê, thật khó mà nhận ra tiếng nói âm thầm của con tạo, của trái tim.  Đi hay ở, làm hay không, có dễ đâu mà nhận định ý Ngài?  Ấy là chưa kể cái êm đềm của đời thường sẽ làm lòng người mau quên và đôi chân chợt mỏi, chỉ muốn dừng lại bám rễ, chỉ muốn hài lòng với một chút vinh vang mờ nhạt.  Vào hoang địa thôi!  Bởi nơi ấy sẽ chẳng vang vọng những lời khen tiếng chê, sẽ chẳng bị âm thanh hỗn tạp của cuộc sống bao phủ.  Nơi ấy, thành công sẽ chẳng có cơ hội tạo hào quang và thất bại sẽ không còn cơ may làm nên những làn mây ảm đạm.  Tất cả chỉ là hư vô, là trống rỗng.  Trong im lặng tuyệt đối đó, liệu có cần không cho bao vất vả hầu đạt được những hứa hẹn hão huyền?  Khi trước mặt ta, sau lưng ta, bên phải, bên trái, bên trên, và bên dưới ta chẳng còn ai khác hơn là chính mình, trốn đâu cho được.  Mà khổ nỗi khi phải đối diện với chính mình, ta mới nhận ra được một sự thật phũ phàng nhất: ta chỉ là hư vô trước mặt Chúa.  Ta chỉ là một công cụ không hơn không kém.  Những tràng pháo tay không dứt hay những lời rủa xả lê thê của hôm qua không nói lên được con người thật của ta.  Rồi ta chợt thấu hiểu lời mời gọi tuyệt vời của hoang địa: hãy trở nên khiêm hạ; hãy nhận ra nguồn gốc của mọi sự vốn chẳng xuất phát hoặc chấm dứt nơi ta.  Có lẽ vì thế mà Đức Giêsu mê không khí của sa mạc.  Quả vậy, nơi đó đã nhắc nhở Ngài một sứ vụ to lớn hơn: tất cả vì sự cả sáng của Danh Cha.

Hoang địa, nơi hình thành và nung nấu niềm tin.  Dẫu nắng có gay gắt cỡ nào đi nữa thì từng khóm xương rồng vẫn còn đó.  Dẫu muôn vàn ngọn cỏ có nhuốm màu của lá úa, thì bên dưới vẫn hàm chứa cái khao khát của mầm sống, của ý chí muốn tồn tại.  Có ai đi giữa sa mạc mênh mông mà lòng không thèm khát một vạt nước vọt lên từ giữa những dải cát vô tình?  Hẳn ta còn nhớ một đoạn của Thánh Vịnh: “Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu, khiến nước tuôn tràn cho dân được uống” (TV 78:15).  Có ai vật vờ giữa cơn lạnh cắt da của trời đêm mà không mong muốn một ánh lửa bập bùng sưởi ấm?  Cái khao khát được uống nước của ân sủng, được sưởi ấm với tình yêu sẽ trổi mạnh hơn bao giờ khi ta đi vào sa mạc của tâm hồn.  Và đằng sau cõi thinh không, đằng sau sự đối đầu với những giới hạn của bản thân, lòng ta chợt bừng lên một niềm tin, một thao thức, một ước muốn theo Ngài.  Ta biết ta đã không lẻ loi.  Ta tin Ngài đang cùng ta dấn bước.  Và niềm tin ấy được nung nấu qua bao thử thách của trời trưa và bao cô quạnh của đêm dài.  Nếu không bước vào hoang địa, nếu lòng vẫn bị phủ tràn với muôn ngàn tín hiệu, thì e rằng cơ hội để hình thành và tôi luyện đức tin sẽ bị nhiễu đi.  Ra vậy, Đức Kitô đã rất có lý khi tìm đến nơi hoang vắng.

Hoang địa, nơi hun đúc lòng trông cậy.  Nhiều hôm ngồi tư lự ở góc vắng của nhà tĩnh tâm, tôi chợt thấy áo mình đẫm ướt mồ hôi.  Nắng và nóng quá đỗi.  Những cơn gió nhẹ thoảng qua bỗng nhiên trở thành một món quà quý giá.  Thoảng hoặc một vài giọt nước của một cơn mưa hiếm hoi biến thành báu vật.  Gió và mưa tuy hiếm nhưng vẫn đến đấy thôi.  Thiết nghĩ người lữ khách giữa hoang địa không vì sự hiếm hoi của chúng mà trở nên thất vọng.  Rất có thể họ còn đón nhận chúng cách trân quý hơn, tri ân hơn.  Cũng vậy, khi gặp gỡ nội tâm và Thiên Chúa giữa sa mạc khô cằn, lòng người lữ thứ luôn nung nấu những khát khao.  Chúng giống như quân canh mong chờ hừng đông đến hoặc như cái đấu ao ước được đong đầy, được lèn chặt.  Rồi hồn họ chợt vút cao ngong ngóng chờ trông con tạo.  Cái ‘kết hiệp’ tưởng như rất thường đã trở nên linh thánh hơn bao giờ.  Phải chăng Đức Kitô vào hoang địa ngày nào để nuôi dưỡng lòng trông cậy tuyệt đối vào Đấng mà Ngài hằng tuân phục tin yêu?

Hoang địa, chốn xuất phát của tình yêu, của hiến mình.  Lúc thanh vắng là lúc ta có thể đối thoại với chính mình.  Quả thế, khi thành công không là áp lực và thất bại chẳng là điều làm ta bận tâm, thì đấy là lúc ta trở nên chân thành nhất.  Ta sẽ tự hỏi chính mình xem ta có muốn tái đầu tư cho những gì ta đang đeo đuổi?  Ta sẽ tự vấn lương tâm xem hồn ta có thanh thản, tim ta có khao khát, có muốn tiếp tục yêu và sẵn sàng xả thân vì tình yêu?  Câu trả lời vào giây phút đó sẽ không mang hơi hướm của những lời chúc tụng bề ngoài hoặc những sợ hãi của bao thất bại ngập tràn.  Trong thinh lặng ta có cơ hội nhìn lại và chọn lựa cách kỹ lưỡng, để rồi khi trở về đời thường ta có một lời đáp rõ ràng hơn, mạch lạc hơn.  Hẳn ta còn nhớ, ta chỉ là một loài thụ tạo rất tầm thường.  Tình yêu ta dành cho nhau không phải lúc nào cũng ướm đượm hương thơm.  Trái lại, cũng có những phút giây ta ngậm phải những trái đắng và lòng ta thoáng xôn xao.  Thế nên lâu lâu có cơ hội nghiềm ngẫm về mối tình ta dành cho nhau cũng là một điều kỳ thú.  Đức Giêsu khi xưa đã yêu và yêu thật nhiều.  Nhưng tình yêu ‘nhân tính’ của Ngài không phải không gặp nhiều thử thách.  Và để đáp trả lời mời gọi tiếp tục yêu, để tìm lại cái đơn sơ, tinh tuyền và chân chất của con tim, hơn một lần Ngài đã vào hoang địa để suy nghĩ, để nguyện cầu.  Cũng chính qua những phút giây thần thánh đó, Ngài đã lựa chọn con đường yêu thương một cách tự do và mãnh liệt.  Bởi từ đáy thẳm tâm hồn, Ngài hiểu rõ Giêsu sẽ không còn là Giêsu nếu nơi Ngài thiếu vắng sự cho đi của trái tim.  Ngài đi vào sa mạc để rồi khi trở về lòng Ngài lại chân chất những ước mơ và thân xác Ngài lại một lần biến thành của lễ.

Hoang địa, nơi ẩn náu một kho tàng vô tận.  Bất chấp nắng hay mưa, nóng hay lạnh, từng đàn ong mật cứ vần vũ quanh đám cỏ hoang.  Những cánh chuồn, cánh bướm vẫn ưỡn lượn nhịp nhàng.  Về đêm tiếng dế rả rích tỉ tê như một điệu luân vũ tuyệt vời.  Cha giám đốc nhà tĩnh tâm cho biết bên dưới sự khô cằn của hoang địa lại là một cõi mênh mông trù phú của nguồn nước dồi dào cho bao thế hệ. Những làn nước mát trong mà tôi cùng bao người thao luyện viên tận hưởng đến từ một mạch ngầm quý giá.  Từng ngụm từng ngụm đi vào lòng mát lạnh.  Chưa bao giờ tôi lại quý nước hơn những ngày này.  Hỏi liệu có khi nào nguồn nước ấy vơi đi, cha cho biết có thể lắm, nhưng đã có bao chục ngàn con người dừng chân và nhà tĩnh tâm này đã đi vào năm hoạt động thứ 50 mà chưa ai phải vất vả kiếm tìm một nguồn nước mới.  Còn nữa cứ mải mê với cõi riêng của mình, hơn một lần tôi thấy bóng dáng của những chú nai tơ tuyệt đẹp, hay vẻ dềng dàng của mẹ con gấu đen hóm hỉnh, hoặc cái giả dạng tuyệt tác của các nàng rắn đất.  Chúng luẩn quẩn quanh tôi, chợt dừng lại ngõ sững rồi lại lững thững bước đi cứ như thể thế giới này lớn đủ, rộng đủ và hòa bình đủ cho mọi loài.  Xem ra cõi hoang vu đã dạy cho tôi những bài học mà chưa trường lớp nào từng dạy.  Nó cho tôi thấy một thế giới thật mà Thiên Chúa muốn tạo nên: một loại thế giới yêu thương nhau, chấp nhận lẫn nhau, vui vẻ chung sống và chia cho nhau những gì có thể.  Thế nên khi đi vào sa mạc của tâm hồn, tôi thấy lòng mình bừng lên những ước mơ.  Bởi bên dưới cái tưởng chừng khô cằn và nặng nề nhất lại là nơi tôi học hỏi nhiều nhất.  Có lẽ Đức Giêsu cũng có một tâm trạng giống tôi khi Ngài tìm vào nơi hoang vắng.

Nhà tĩnh tâm này, đã có bao con người đến rồi đi, đã có bao trái tim trở về, và đã có bao tâm hồn biến đổi.  Nếu nói đó là do công của các Cha linh hướng của trung tâm cũng chưa hẳn sai.  Nhưng sẽ không hoàn thiện khi ta không nhắc đến bối cảnh tuyệt vời của hoang địa, nơi mà mỗi thao luyện viên có dịp sống và lắng nghe tiếng thầm thì của tạo hoá qua những giây phút trầm mặc linh thánh.  Để rồi khi trở về với thế giới vội vã, họ biết đâu là con đường mà Thiên Chúa muốn họ đi, họ hiểu ý nghĩa của những vui buồn sướng khổ trong cuộc sống.  Họ đã được Thiên Chúa, qua thinh lặng của hoang địa biến đổi.  Họ không còn là họ của hôm qua, nhưng là của những lớp người mãi bước tới theo tiếng gọi của tình yêu.  Sa mạc cũng có lắm loại nhiều thứ.  Có loại là một thứ sa mạc nóng bỏng như tôi đã sống và làm việc trong mùa hè qua.  Nhưng cũng có thứ sa mạc lặng lẽ hơn, tinh tế hơn: thứ sa mạc của tâm hồn.  Thế nhưng dẫu ở đâu hay loại nào, chúng cũng đều là thao trường tuyệt vời cho bao nhân đức.

Bạn mến, có bao giờ bạn tìm đến với sa mạc nội tâm?  Có bao giờ bạn bắt chước Đức Giêsu dành một phần trong ngày để vào nơi hoang vắng?  Có bao giờ bạn ước ao được lớn dậy trong tình yêu và đời mình được nuôi dưỡng với bao nhân đức?  Nếu có thì đừng ngại đi vào hoang địa bạn nhé.  Vào đi, đừng sợ.  Chắc chắn khi vào rồi, bạn sẽ phát hiện ra nhiều điều mới lạ.  Khi ấy thói quen tìm nơi vắng vẻ mà tâm sự với Thượng Đế và trở về với lòng mình sẽ không bao giờ rời xa bạn nữa.  Và như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn bạn cũng sẽ trông mong được gần Chúa và tha nhân hơn bao giờ.

Quân Trần, SJ

http://www.donghanh.or