NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung

NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
      Nhập mô                                                          tả cho ảnh
1. Nga Mi
Núi Nga Mi còn gọi là “Đại quang Minh sơn” nằm ở Trung Nam tỉnh Tứ Xuyên, thuộc miền Tây Trung Quốc. Đỉnh cao nhất của Nga Mi sơn là Vạn Phật, nằm trên ngọn núi chính Kim Đỉnh với độ cao 3.099 m.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nga Mi cũng là ngọn núi có nhiều chùa miếu và là một trong Tứ đại
Phật giáo danh sơn của Trung Hoa, bên cạnh núi Ngũ Đài, núi Cửu
Hoa và núi Phổ Đà.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhắc đến Nga Mi, bạn sẽ nhớ ngay đến những nhân vật nổi tiếng trong
bộ truyện Ỷ thiên Đồ long ký của nhà văn Kim Dung là Chu Chỉ Nhược,
Diệt Tuyệt sư thái…Cũng theo bộ tiểu thuyết võ hiệp này, võ lâm Trung
Nguyên có ba phái lớn là Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi. Sư tổ sáng
lập ra võ phái Nga Mi là Quách Tương, con gái của Quách Tĩnh và Hoàng
Dung, 2 nhân vật trong bộ Anh hùng xạ điêu đã được ông sáng tác trước
đó khá lâu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Vạn Niên trên núi Nga Mi có kiến trúc mang đậm dấu ấn của Đạo 
giáo.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong chùa có bức tượng Phổ Hiền Bồ Tát cao 7,35 m, nặng 62 tấn,
được xem là bức tượng Phật cao nhất thế giới, được đúc bằng đồng
mạ 20 kg vàng bên ngoài và là điểm thăm viếng không thể bỏ qua khi
đến Nga Mi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh

Kim Đính hay còn gọi là Vạn Phật Đính, một trong những ngọn núi nổi
tiếng của Nga Mi. Điểm độc đáo khi đến đây là du khách có thể nhìn
thấy được 4 kì quan nổi tiếng của Nga Mi Sơn, gồm Nhật xuất (mặt
trời mọc), Vân hải (biển mây), Phật quang (hào quang của Phật) và
Thánh đăng (đèn Thánh).
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong đó Thánh đăng, hay còn gọi là Phật đăng, là hiện tượng kì bí nhất:
vào mỗi đêm tối không trăng, dưới địa danh “Xã thân nhai” thường xuất
hiện hàng vạn chấm tròn sáng màu xanh lục nhấp nháy như những chòm
sao dày đặc. Có nhiều lời giải thích khác nhau cho nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng này: do lửa lân tinh, hoặc do một loại nấm phát sáng mọc dày
đặc trên các thân cây …
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Núi Nga Mi còn là nơi tập trung nhiều chủng loại sinh vật phong phú cùng hệ thảm thực vật Á nhiệt đới.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện nay Núi Nga Mi có 242 loài thực vật cấp cao, 3.200 loài cây,
trong đó có hơn 100 loài đặc thù chỉ có ở núi Nga Mi và hơn 2.300
loài động vật quý hiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Báo Quốc nằm ở chân núi Nga Mi, trên lối vào Nga Mi sơn, đồng
thời cũng là nơi diễn ra các hoạt động Phật giáo chính. Chùa này được
xây dựng vào thời nhà Minh (cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17) còn có tên
gọi là “Hội Tông đường”. Đến thời vua Khang Hi nhà Thanh đổi tên
thành“chùa Báo quốc”. Chùa tọa trên diện tích 40.00 m2, bao gồm Sơn
môn, điện thờ Di Lặc, điện Đại Hùng, điện thờ Thất Phật, điện thờ Phổ
Hiền và lầu chứa kinh văn nhà Phật.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, khi đến thăm Nga Mi, du khách cũng nên đến thăm viếng
Bức tượng Đại Phật Lạc Sơn tạc trên vách núi lớn nhất thế giới, nằm
ở ngọn Thế Loan, đối mặt với Nga Mi sơn. Đại Phật Lạc Sơn cao 71m
và được chế tác trong 90 năm, kéo dài gần cả thế k. Thân tượng Phật
cao 59,98m, đầu cao 14,6m. Đỉnh đầu có 1.021 búi tóc và độc đáo nhất
là phần móng tay của bức tượng, dù là bộ phận nhỏ nhất cũng đủ cho
một người ngồi. Đại Phật Lạc Sơn cùng với Nga Mi Sơn đã được UNESCO
công nhận là Di sản thế giới năm 1996.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
2. Nhạn môn quan
Dưới ngòi bút của Kim Dung, Nhạn Môn quan trong bộ tiểu thuyết
kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ đã trở thành vùng đất huyền thoại. Đây
chính là nơi nhân vật Kiều Phong, một đại anh hùng võ công trác tuyệt,
dùng chính sinh mạng của mình để đổi lấy sự bình yên cho nhân dân
2 nước Tống – Liêu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đây cũng là nơi mà độc giả Thiên long Bát bộ đã phải nức nở trước
tình yêu trắc trở của Kiều Phong, cũng như ám ảnh với cái kết buồn
cho số phận của A Tử, một trong những nhân vật nữ được Kim Dung
xây dựng rất thành công trong bộ tiểu thuyết này.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhạn Môn Quan nằm trên một thung lũng ở huyện Đại, cách thành
phố Hân Châu, tỉnh Sơn Tây 20 km về phía Bắc và là cửa ải trọng yếu của Trường thành thời xưa.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Do nằm lọt thỏm giữa hai bờ vách núi dựng đứng với địa thế cực kỳ
hiểm trở, mà vùng đất này được đặt tên là Nhạn Môn Quan, hàm ý
chỉ có những con chim nhạn, chim én mới bay vượt qua được cửa ải
hùng vĩ này.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Vào thời xưa, có rất nhiều cuộc chiến khốc liệt đã diễn ra ở Nhạn Môn
Quan. Vì vậy, ngày nay khi đến với điểm du lịch này, du khách không
chỉ thăm thú các danh lam thắng cảnh trong khu vực, mà còn được dịp
tìm hiểu về lịch sử thăng trầm rất thú vị của vùng biên ải.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện tại, cả 3 cửa ải của Nhạn Môn Quan vẫn được bảo tồn tốt và địa
danh này đã trở thành một di tích quân sự cổ quan trọng của tỉnh Sơn Tây.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đồng thời, Nhạn Môn Quan cũng là một phần quan trọng của di sản
văn hóa thế giới và còn được biết đến với tên gọi “Trung Hoa đệ nhất
quan”.
 
3. Võ Đang
Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, sư tổ sáng lập ra phái võ Đang nằm trên
ngọn núi cùng tên, là Trương Tam Phong hay còn gọi là Trương Quân
Bảo. Nhân vật này cũng là người sáng tạo Thái Cực quyền và Thái
Cực kiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Tại đây, giữa vòng vây của các cao thủ võ lâm, Trương Tam Phong đã truyền thụ bí quyết Thái Cực quyền và Thái Cực kiếm cho Trương Vô Kỵ.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, tín đồ tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung cũng đã rất quen thuộc với phái Võ Đang, vì đây là 1 trong 3 môn phái lớn rất hay xuất hiện trong tiểu thuyết của ông, ngay từ bộ Anh hùng xạ điêu và Thần điêu hiệp lữ. Ngôi Cổ mộ của Tiểu Long Nữ cũng được Kim Dung mô tả có vị trí gần sát núi Võ Đang.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài đời thật, núi Võ Đang hay còn gọi là núi Thái Hòa, là một dãy
núi nằm ở phía Nam thành phố Thập Yển, Tây Bắc của tỉnh Hồ Bắc
với ngọn núi chính là Hải Bạt cao 1612 m.
 

Phong cảnh nơi đây rất hùng vĩ nên thơ, là đất thánh của võ thuật Đạo giáo với phái Thái Cực quyền và Bát Quái chưởng được phát triển từ thế kỷ 13.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đoạn đường dài 70 km từ chân núi đến đỉnh núi Võ Đang có đến 32
đền thờ Đạo Giáo chủ yếu được xây dựng theo lối kiến trúc thời nhà
Nguyên, Minh, Thanh. Đạo Giáo ở Võ Đang thịnh vượng nhất vào thời
Minh. Ngọn núi xinh đẹp này cũng được công nhận là Di sản thế giới
vào năm 1994.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Một kiến trúc độc đáo không thể bỏ qua khi đến thăm núi Võ Đang, đó là tòa Trúc Kim Điện làm bằng đồng mạ vàng nặng đến 405 tấn, được xây dựng từ năm 1416 trên đỉnh núi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với không gian hùng vĩ, u tịnh, Võ Đang thu hút du khách gần xa đến để không chỉ thưởng ngoạn mà còn là được đắm mình vào thiên nhiên trong lành, không gợn chút bụi trần.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với những ai say mê thế giới thần tiên của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tìm về Võ Đang là cuộc hành trình trải nghiệm lại thế giới nhân vật mà mình yêu thích qua hàng loạt bộ tiểu thuyết nổi tiếng có đề cập đến địa danh này như Ỷ thiên Đồ long ký, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ

Houston

Houston

  image

 Mỗi năm cứ vào độ tháng tư tôi lại bùi ngùi nhớ về quê cũ, những ngày bỏ nước ra đi. Nước mắt cũng đã chảy ra nhiều, những giấc mơ hãi hùng vẫn chợt đến chợt đi, tỉnh dậy ngơ ngác một lúc mới nhớ ra mình đang nằm trên giường, chăn ấm nệm êm trên đất Hoa Kỳ tự do và thịnh vượng. Vùng đất ngọt ngào luôn nâng đỡ, che chở, nuôi dưỡng tôi như một người mẹ hiền.  Ôi mừng hết lớn! Khi nghĩ đến quê hương vẫn là Việt Nam. Có ai đó, lạ mặt, hỏi tôi, bạn người nước nào? Từ đâu đến? câu trả lời vẫn là Việt Nam. Ôi cái nước Viêt Nam trong trí nhớ già nua của tôi, đọa đầy khốn khổ, chạy gạo ăn từng bữa, cả một mái nhà để chui ra chui vào cũng không có, bom đạn nổ ầm ỹ từng giờ, sống nay chết mai, anh em ly tán; Con cái, cha mẹ mong chờ biền biệt tháng ngày. Có lẽ đến đời cháu tôi, may ra chúng mới có thể tự nhiên trả lời “tôi là người Mỹ, đến từ Houston, Dallas,  LA, NY”

image

Ở đây, chẳng bao giờ tôi phải nghĩ đến cái ăn, cái mặc, phương tiện di chuyển, tối nay ngủ đâu, có gì ăn không nhỉ? Cả đến việc nhỏ nhặt tầm thường nhất, xin lỗi quý vị, như chạy quanh chạy quẩn đi tìm một chỗ làm công tác vệ sinh, tôi cũng chẳng phải lo. Nhưng tôi vẫn là người Việt Nam da vàng mũi tẹt, nói tiếng Việt rành hơn tiếng Mỹ, chỉ biết lịch sử Viêt Nam còn lich sử Mỹ thì mù tịt. Chính trường Mỹ thì càng không quan tâm tới. Vẫn nôn nao coi giải Túc Cầu Thế Giới, hơn là những môn thể thao của người Mỹ như foot ball, base ball, basket ball. Có ai trong sở hỏi: “Bạn cá ai sẽ thắng trong giải Super Bowl này?” -Super Bowl gì?. Hay người nào đó phang một câu “Anh chàng Yao Ming bị thương hoài chẳng làm nên trò trống gì!” – Yao Ming nào?, mặc xác hắn chứ!

image
Tại sao tôi chưa hội nhập được vào xã hội Hiệp Chủng Quốc này. Tôi vẫn chưa tan ra, hòa lẫn với các giống dân khác trong chiếc “The Melting Pot” vĩ đại này nhỉ?

Tôi đã sống hơn nửa đời người trong thành phố này, nhưng biết rất ít về nó. Một ngày nọ, người bạn thân từ hồi còn trai trẻ, lâu ngày không gặp, ca bản “Houston có gì lạ không em?” cho tôi nghe. Tôi chẳng thấy gì lạ cả, vẫn những cao ốc nhìn mỏi cổ, vẫn những xa lộ đầy ắp xe cộ chạy lên chạy xuống cả ngày lẫn đêm. Hình như thiên hạ chẳng biết làm gì cho hết giờ nên cứ lái xe ra xa lộ tiêu khiển, đốt săng chơi. Vẫn những ngày hè nóng nực chẳng khác gì Saigon, với những cơn mưa hạ xầm xập kéo đến rổi vội vã ra đi để lại bao nỗi tang thương trên hè phố! Mùa thu vẫn đến âm thầm nhẹ nhàng như cơn gió thổi sau vườn, lúc ra đi cũng chẳng hẹn trước, nhưng không quyên mang theo đám lá vàng xào xạc, chừa lại những hàng cây cao  trơ trọi khẳng khiu chào đón gió Đông Phong. Tuyết ư? Hơn 30 năm tôi chỉ thoáng thấy mặt nàng một đôi lần, nàng e lệ đến gõ cửa một buổi sớm mai, hỏi thăm dăm ba câu rồi bye bye ra đi biền biệt! Vâng Houston của tôi chỉ có thế. À, còn nữa chứ, ai đó hay ca bản Mãi Mãi Bên Em của nhạc sỹ Từ Công Phụng:

“Đôi khi có nhng mùa giông bão qua đây,

Em thy đi là nhng hư hao”

Vâng đôi khi cũng có bão tố như Cali có động đất nhưng không sao, ông Trời chỉ dọa hoảng vậy thôi, đâu có hư hao gì nhiều, nắm tay nhau, nhìn vào mắt nhau là thành phố lại hoàn toàn như cũ.

Hãy giả như một du khách nhìn từ ngoài vào, may ra có thể trả lời bạn tôi câu hỏi:

 *Houston có gì lạ không em?

Cứ vậy đi, bạn già, hãy nói về Houston của tôi:

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay.

image

Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi  vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng!.  Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng!  Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa .

image

 Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều.  Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người VietNam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

image


Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp…. Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn: Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt.  Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau:

Austin

New Orleans

Houston

San Antonio

Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền.

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, cỡ đường hầm Củ Chi, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất.  Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc,  làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

image

 Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

 *Houston sử lược

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quyên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh! Chỉ có tử chiến mà thôi!

Cuộc cách mạng giành độc lập của Texas

image

Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas  rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu giệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

Chuẩn bị phòng thủ

image

Alamo

 Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio,  thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị tổng chỉ huy nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn  theo 30 dân quân để  phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và  Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch!”  Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn.  Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

Tử chiến thành Alamo

image

 Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836  Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành.  Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha.  Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành!

Mỗi đêm, quân mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

image

 Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đòng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến  đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”

image

 Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

 

image

 

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

 

image

Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

TEXAS tuyên bố độc lập

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas gấp 6 lần!

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

Trận chiến cuối cùng

image

 

 Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo!”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận.

 

image

 

Cuối cùng  Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên.  Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bầu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

Cuộc đời của Sam Houston

image

 

Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết.  Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

 

image

 

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như Ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng Hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?

 Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

VOA

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

NEW YORK—Ông Trương Tấn Sang hôm nay, 28/9, đã lần đầu tiên phản hồi bình luận của Chủ tịch Tập Cận Bình rằng Trường Sa “thuộc về Trung Quốc từ thời xa xưa”.

Khi được VOA Việt Ngữ hỏi về phản ứng đối với tuyên bố của nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông Sang nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa “thực sự thuộc về tổ quốc Việt Nam của chúng tôi”.

Nguyên thủ Việt Nam nói tiếp: “Người Trung Quốc, trong những lần gặp gỡ Việt Nam, cũng thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc, không gì tranh cãi. Thì người Việt Nam chúng tôi cũng nói lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam, không gì tranh cãi. Chắc các câu này các bạn đã nghe suốt”.

Ông Sang nói thêm: “Vấn đề đặt ra là chúng tôi mong muốn rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế và con đường duy nhất dẫn đến chỗ đó thôi, chứ không thể nói mãi như thế này được. Một anh đứng ở bên đây sông thì nói là của tôi, và một anh đứng ở bên kia sông thì nói là của anh. Như tôi đã nói với các bạn vừa nãy, trong lúc quá độ, hai bên đều thống nhất 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo các vấn đề trên biển”.

Tuyên bố của ông Sang được đưa ra tại Hội châu Á ở New York, ít ngày sau khi Chủ tịch Trung Quốc trả lời tờ The Wall Street Journal rằng Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa.

Ông Tập nói hôm 22/9 rằng hoạt động mà Trung Quốc “thực hiện trên một số những hòn đảo và bãi cạn ở quần đảo Nam Sa không ảnh hưởng hoặc nhắm tới bất kỳ quốc gia nào khác”, và “việc này không nên bị diễn giải quá đáng”.

Trong bài phát biểu tại Hội Á châu, ông Sang cũng đề cập tới 6 nguyên tắc cơ bản mà Việt Nam đồng ý với Trung Quốc để giải quyết vấn đề biển Đông trong tình thế hiện thời.

Ông cho biết: “Chúng tôi hết sức chủ động bàn với Trung Quốc rằng trong khi tìm một giải pháp lâu dài, cơ bản mà hai bên có thể chấp nhận được, thì phải kiểm soát tình hình, kiểm soát hoạt động, không thể để cho xung đột xảy ra. Ý tưởng này đã dẫn tới thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản, chỉ đạo các vấn đề trên biển đã được ký cách đây mấy năm”.

“Rất tiếc rằng trong quá trình diễn ra trên thực tế ở trên biển diễn ra không đúng như mong muốn của cả hai bên bằng thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản”, ông Sang nói. Chủ tịch Việt Nam không nói rõ điều đáng tiếc này là gì.

‘Trước sau như một’

Về các nguyên tắc trên, Chủ tịch Việt Nam cũng cho biết là chính quyền Manila cũng quan tâm.

Ông nói thêm: “Nội dung đó, khi tôi gặp các bạn Philippines, họ cũng thắc mắc và lo lắng không biết Việt Nam thỏa thuận gì với Trung Quốc. Tôi có nói rằng vấn đề song phương thì Việt Nam và Trung Quốc bàn với nhau. Còn vấn đề đa phương, chẳng hạn như Trường Sa thì liên quan tới 5-6 bên, thì rất khoát phải có hành vi liên quan để cùng với các bạn giải quyết với Trung Quốc vấn đề tranh chấp trên biển”.

Chủ tịch Việt Nam nói tiếp: “Ngài Tập Cận Bình khẳng định Nam Sa từ lâu là của Trung Quốc thì chúng tôi cũng nói lại rằng đối với chúng tôi, lập trường trước sau như một không thay đổi. Chúng tôi gọi đó là Trường Sa và Hoàng Sa, trước sau như một thuộc về Việt Nam chúng tôi. Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về lịch sử và thực tiễn pháp lý để xác định chủ quyền của Việt Nam”.

Ông Trương Tấn Sang tới New York để tham dự các cuộc họp cấp cao của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc từ ngày 24 – 28/9.

Hôm 25/9, ông đã đưa vấn đề biển Đông vào bài phát biểu tập trung vào mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc.

Hôm nay, Chủ tịch Việt Nam sẽ rời Hoa Kỳ để đi thăm chính thức quốc gia cộng sản Cuba.

Trong một diễn biến mới nhất liên quan tới biển Đông, hôm nay, phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Barack Obama một lần nữa nhấn mạnh tới quyền lợi quốc gia của Mỹ đối với việc duy trì các nguyên tắc cơ bản về tự do hàng hải và dòng chảy thương mại.

Người đứng đầu Nhà Trắng cũng nói tới quyền lợi của Washington trong việc “giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, chứ không phải đe dọa vũ lực”.

“Chúng tôi sẽ bảo vệ các nguyên tắc đó, trong khi khuyến khích Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền khác giải quyết các khác biệt một cách hòa bình”, ông Obama nói.

Một bài hay về hạnh phúc.

Một bài hay về hạnh phúc.

    Nếu hạnh phúc là thứ dễ tìm thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy? Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian tìm kiếm?

   Hạnh phúc ở nơi đâu?

– Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn ?

Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”. Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

   – Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ?

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương chỉ sao lại phí hoài nó cho hận thù”.

Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy, bạn cho đi sự tha thứ cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.

Tôi không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau. Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao?

     – Hạnh phúc nằm ở chỗ Cho chứ không phải chỗ Đòi.

     Hãy cho đi những thứ bạn muốn, rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những gì mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.

   Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này không để bạn chịu thiệt thòi đâu.

    Hạnh phúc vào lúc nào?

– Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ?

Nói theo Đạo học là “Thái quá hay Bất cập đều là dở cả” (thái độ cực đoan là không tốt).

Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.

Do đó, chúng ta thấy hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, mà nằm ngay nơi chính ta, và hạnh phúc cũng chẳng phải là cái đích đặt ra để chúng ta đi đến, mà là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta trong cuộc sống, chỉ vì ta quá hướng ngoại mà không quan tâm quên mất nó đi thôi.

Vì thế, hạnh phúc của chúng ta hẳn phải do tự chúng ta xây lấy, chứ chẳng phải chạy theo một ai đó để xin ban. Thứ hạnh phúc xin ban chỉ là thứ hạnh phúc ảo, nó sẽ dần chết theo thời gian.

Suu Tam

Làm gì khi bị “nói xấu”?

Làm gì khi bị “nói xấu”?

Có khi nào bạn vô tình nghe được vài lời xầm xì về mình, ai đó chê trách điểm này, hay không hài lòng điểm kia…? Khi tự nhận xét, ai cũng sẽ liệt kê chủ yếu các điểm tốt, thế nhưng điều chúng ta làm và điều người khác nghĩ về mình lại có thể khá khác nhau. Nếu biết được những lời phàn nàn “bí mật” từ nhân viên hay đồng nghiệp, bạn sẽ làm gì?

Im lặng là vàng

Chẳng ích gì khi tự ái hay nổi giận, điều đó chỉ khiến mình đã bị “hiểu xấu” lại càng bị “hiểu xấu” hơn, mặc dù khi nghe những nhận xét không tốt về mình thì chẳng ai vui cả. Im lặng khi trong lòng đang “sôi lên” là cách tốt nhất tránh những xung đột đáng tiếc. Im lặng lúc này chính là cách để “mua sự bình tĩnh”, từ đó gạt bỏ những bảo thủ cá nhân để nhìn nhận sự việc khách quan cũng như đánh giá lại bản thân một cách nghiêm túc. Sự im lặng, không phân bua không phải là yếu kém hay thiệt thòi nếu biết vận dụng đúng cách, đúng thời điểm.

Hãy đối mặt với nó

Quá trình xác định “sự thật” chỉ như xem một cuốn phim ngắn. Tua lại những thước phim về hành động của mình tại buổi họp, cuộc tranh luận với đồng nghiệp gần đây hay những thói quen hàng ngày chốn công sở … Khi đó ta dễ nhận ra những khuyết điểm bị bỏ quên. Hãy đối mặt với “sự thật” là hiếm ai hoàn hảo như họ nghĩ, và nếu không có người “rỉ tai” thì còn nhiều lắm những nhược điểm vô hình mà chúng ta chả nhận ra.

Tập lắng nghe những “điều đáng sợ”

Ngay lúc này hãy thầm cảm ơn những chê trách nếu có, vì nhờ đó bạn được soi mình vào gương và thấy toàn diện cái xấu đẹp của chính mình. Hãy tập lắng nghe (và ghi nhận cả những “phản hồi không nói ra”) từ mọi người xung quanh nhiều hơn. Tuy không phải điều người khác nói luôn đúng, nhưng “Đúng hay sai” thực ra chả là vấn đề lớn nếu mình chú tâm hơn tới cơ hội hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Hữu xạ tự nhiên hương, tự nhiên chúng ta rồi cũng sẽ biến điểm 7 thành điểm 10 trong mắt người khác.

THẦY GIÊSU VÀ TÔI

THẦY GIÊSU VÀ TÔI

Tôi nổi giận thì Thầy lại bảo: Hãy nhịn nhục và thứ tha.

Tôi run sợ thì Thầy lại bảo: Hãy can đảm.

Tôi hoài nghi thì Thầy lại bảo: Hãy tín thác.

Tôi bồn chồn không ngơi thì Thầy lại bảo:
Hãy tĩnh lặng đi.

Tôi thích đi con đường riêng mình thì Thầy lại bảo:
Hãy theo Ta.

Tôi muốn lập kế hoạch riêng cho mình thì Thầy lại bảo:
Hãy quên đi.

Tôi nhắm tìm của cải vật chất thì Thầy lại bảo:
Hãy bỏ lại đằng sau.

Tôi muốn được bảo đảm ở đời này thì Thầy bảo:
Phần Ta, Ta chẳng hứa hẹn gì đâu.

Tôi thích sống cuộc đời riêng của mình thì Thầy bảo: Hãy từ bỏ chính mình đi.

Tôi nghĩ rằng mình tốt lành thì Thầy bảo: Tốt lành thôi thì chưa đủ đâu con.

Tôi thích làm ông chủ thì Thầy bảo: Hãy quỳ xuống mà phục vụ lẫn nhau.

Tôi muốn ra lệnh cho người khác thì Thầy bảo: Thôi, hãy vâng lời đi.

Tôi đi kiếm tìm tri thức thì Thầy bảo: Hãy tin.

Tôi thích sự rõ ràng thì Thầy lại dạy tôi bằng ngụ ngôn.

Tôi thích thi ca mơ mộng thì Thầy lại nói toàn chuyện hiện thực.

Tôi yêu sự yên tĩnh của mình thì Thầy lại muốn tôi bị quấy rầy.

Tôi thích bạo lực thì Thầy lại bảo: Bình an ở cùng các con.

Tôi rút gươm ra thì Thầy bảo: Vứt nó ngay lập tức.

Tôi nghĩ chuyện trả thù thì Thầy bảo: Đưa má bên kia cho người ta đánh luôn đi con.

Tôi nói về một trật tự thì Thầy bảo: Ta đến đem gươm giáo.

Tôi căm ghét thì Thầy bảo: Thôi, hãy yêu thương cả kẻ thù nhé.

Tôi muốn gieo sự hòa hợp thì Thầy nói: Ta đem lửa xuống thế gian.

Tôi muốn làm người lớn thì Thầy nói: Hãy trở nên trẻ nhỏ.

Tôi muốn ẩn thân, Thầy bảo: Ánh sáng thì phải chiếu rọi.

Tôi đi tìm chỗ nhất trong hội đường, Thầy lại bảo: Xuống chỗ chót hết mà ngồi.

Tôi thích được quan tâm, Thầy nói: Đóng cửa lại mà cầu nguyện.

Không, tôi không thể hiểu nổi ông Thầy Giêsu này,
Ông khiêu khích tôi, ông làm tôi bối rối.

Cũng giống như nhiều học trò khác, tôi rất muốn đi theo Thầy Giêsu này,

Thế nhưng, khổ quá, chắc là phải đi tìm ông thầy khác thì sẽ khá hơn,
Ít đòi hỏi hơn và lại có nhiều quyền lợi hơn.

Nhưng cuối cùng, tôi đã cảm nhận như anh trưởng Phêrô đã thốt lên:

“Tôi không biết ai khác lại có được Lời ban Sự Sống đời đời như Thầy Giêsu của tôi.”  Amen.

Khuyết danh,

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Bài Ghi Ngắn của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tại nông thôn của ta từ xa xưa, thì bà con sống đùm bọc gắn bó với nhau thật là chặt chẽ. Vì thế mà có sự liên đới tương trợ, gia đình này giúp đỡ gia đình khác một cách rất hồn nhiên, thỏai mái trong mọi trường hợp. Bà con trao đổi miếng ăn thường ngày với nhau hoặc chuyên giúp đỡ nhau trong các vụ hiếu hỷ như đám tang đám giỗ hay lễ cưới lễ hỏi v.v…

Chuyện bà con chia sẻ với nhau như vậy, thì trong tiếng Mỹ người ta cũng thường nói: “To live is to share” (Sống là Chia sẻ với nhau). Dân gian ta từ lâu cũng hay nói: “bánh ít gửi đi, bánh quy gửi lại” để diễn tả cái mối quan hệ trao đổi hai chiều giữa con người với nhau (two-way communication).

Ngày nay, với tình trạng đô thị hóa càng mở rộng, thì người dân sống tại các thành phố không còn giữ được cái khung cảnh nền nếp thân thương chan hòa giữa các gia đình với nhau như xua nữa. Đó là cái mặt trái không sao tránh khỏi do sự phát triển kỹ nghệ trong xã hội đem lại.

Để chấn chỉnh tình hình suy thóai như thế trong nếp sống tình cảm nơi các đô thị, nhiều tổ chức do các tôn giáo cũng như các nhóm chuyên họat động về văn hóa xã hội đã có sáng kiến phát động những chương trình cải thiện nếp sống cộng đồng tại các khu phố nghèo nàn chật hẹp – mà thường gọi là “khu ổ chuột” (slums).

Đồng thời họ cũng gây áp lực đòi hỏi cơ quan nhà nước phải đầu tư nhiều hơn nữa trong việc cung cấp những dịch vụ xã hội thiết yếu cho tầng lớp người dân lao động như nhà giữ trẻ, trường học, bệnh viện, viện mồ côi, nhà chăm sóc người già v.v…

Từ đó, mà chính sách “An ninh Xã hội” (Social Security) lần hồi được hình thành và với thời gian chính sách này đã đạt tới mức độ hòan thiện như ta thấy tại nhiều quốc gia văn minh tiến bộ ngày nay trên thế giới. Qua hệ thống An ninh Xã hội như vậy, những viên chức trong cơ quan chính quyền nhà nước hiện đang thực hiện đúng cái vai trò của người “đày tớ phục vụ quần chúng nhân dân” – mà trong tiếng Anh người ta gọi đích danh là “public servants”.

Rõ ràng nhân dân là những người “đóng thuế” cho nhà nước (taxpayers), thì đổi lại họ có quyền đòi hỏi phải được viên chức chính quyền phục vụ một cách thật là trân trọng tương xứng. Như thế, mói đích thực là “Có Đi, Có Lại – Mới Tọai Lòng Nhau” vậy./

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Đôi khi, một câu nói có thể làm thay đổi cuộc đời của một con người. Đôi khi, chỉ có lòng tốt và sự hiền lành thôi thì chưa đủ. Đôi khi, cuộc sống sẽ cho mỗi người một cơ hội nữa…

Một ngày, sau khi hết tiết giảng và trở về văn phòng, bảo vệ đưa đến cho tôi một số tiền cùng hóa đơn thanh toán. Cả chục triệu đồng tiền nợ… Tôi thấy rất kỳ lạ, không nhớ nổi là đã cho ai mượn số tiền này. Nhìn vào cột người gửi, tôi thấy viết “Cậu bé ăn xin của 20 năm trước“… mọi kỷ niệm chợt ùa về. Tôi tự hỏi, chẳng lẽ là cậu bé đó sao?

20 năm trước, hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh ở cổng trường học. Bà thấy nhiều đứa trẻ rất khổ và đáng thương nên luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán với giá rẻ. Vì thế học sinh đến mua cơm rất đông.

Hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh

Tôi vừa tốt nghiệp đại học, đang chờ được phân công tác, nên đã ra phụ mẹ bán cơm. Trong một lần bận rộn phục vụ những em học sinh vừa tan học, tôi bỗng nhiên cảm thấy ai đó đi qua quệt phải lưng mình. Đó là một cậu bé chừng 10 tuổi, mặc một bộ quần áo mỏng, rách tả tơi, trong khi trời đã bắt đầu vào đông.

Khi đó, như đã rất quen thuộc, mẹ tôi liền mỉm cười rồi đưa cho cậu bé một hộp cơm. Không đợi tôi cầm hộ, cậu bé vội giật lấy cơm, ném tiền vào hộp rồi chạy mất. Một học sinh bên cạnh tức giận nói: “Thằng ăn mày này toàn lừa tiền cơm, rất nhiều lần đều như vậy, nếu lần sau còn thế thì phải dạy cho nó một trận!” Tôi ngạc nhiên kiểm tra lại hộp tiền, thì thấy quả thực là cậu bé chỉ đưa có 1 tờ 200 đồng.

Khi tôi trách mẹ quá sơ ý, bà nói: “Mẹ biết mỗi lần thằng bé chỉ bỏ vào đó 1 tờ 200 đồng. Chỉ có điều ta cũng nên giữ đạo nghĩa. Đứa trẻ này đã mất cả cha lẫn mẹ, rất đáng thương, mẹ cũng chỉ có thể giúp nó đến như vậy.

Mẹ tôi luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán cho những đứa trẻ với giá rẻ bèo (Ảnh: Extraordinary Amazonaws)

Tôi không đồng ý nói: “Mẹ thật quá hồ đồ, đây mà là giúp cậu ta sao?” Nhưng tôi chưa kịp nói xong thì đã bị mẹ la mắng. Tôi biết rõ là dù có nói gì cũng vô dụng, mẹ suốt ngày niệm Phật, chỉ một lòng muốn giúp người khác, nhưng lại không nghĩ sâu hơn. Thế là tôi đột nhiên muốn xử lý thật tốt chuyện này.

Ngày hôm sau, cậu bé ăn xin lại tới. Cậu ta vẫn giành lấy cơm như những lần trước, ra vẻ rất vội vàng và chuẩn bị ném tiền vào hộp. Lúc đó tôi thình lình nắm lấy tay cậu… tờ tiền ít ỏi rơi ra ngoài. Mọi người đều quay lại nhìn, làm cậu bé rất bối rối, xấu hổ, và chực khóc. Lúc đó tôi cười nói: “Mua như vậy thì không đủ ăn đâu! Em cứ lấy cơm đi, phần còn thiếu sau này hãy trả.” Nói xong tôi thả tay cậu ra.

Cậu bé sợ hãi cầm hộp cơm, ánh mắt tràn đầy nghi hoặc. Tôi lại bảo: “Đi đi, anh biết rõ em nhất định sẽ trả! Nhớ nhé! Sau này phải trả cả vốn lẫn lãi!” Cậu bé suy nghĩ mất một lúc, rồi sau đó im lặng quay người, đi thẳng từng bước một, chứ không còn chạy như trước kia nữa.

Kể từ đó, cậu vẫn thường đến ăn, và trả 200 đồng…

Đang suy nghĩ miên man thì anh Trương lại vội vã quay lại nói với tôi: “Tôi quên! Còn một phong thư nữa!

Nhận lấy phong thư, tôi vội vàng mở ra đọc. Trong thư viết:

“Tôi cuối cùng đã tìm được địa chỉ của anh. Suốt bao năm tìm kiếm, tôi mới có thể đem tiền trả lại, mới có thể hoàn lại ân tình 20 năm về trước. Lúc đó tôi đã lang thang khắp nơi, thường xuyên chịu đói rét. Một lần tôi tới cổng trường học giả vờ mua một hộp cơm. Tôi ném thử tờ 200 đồng vào hộp rồi nói xin mua cơm. Lúc đó tôi nghĩ, dù có bị phát hiện đi nữa thì dì bán cơm cũng rất hiền lành, sẽ không trừng phạt tôi. Nhưng dì cũng không phát hiện ra, tủm tỉm cười rồi đưa tôi một hộp.

Sau đó tôi bắt đầu dựa vào thủ đoạn và mánh khóe để có được bữa ăn. Tôi cảm thấy người tốt trong xã hội rất dễ bị lừa. Tôi thường xuyên nói dối, và trộm đồ trong hành lang, còn định trộm cả trong cửa hàng nữa. Lần đó khi bị anh tóm lấy, tôi đã nghĩ mình vậy là xong rồi, bị đánh rồi. Nhưng tôi đã không phải chịu trận đòn nào, mà lại còn được anh thả đi. Những lời nói của anh đã bảo vệ danh dự cho tôi, khơi dậy trong tôi mong muốn làm người tốt thực sự. Trong những năm sau này, mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu. Và dù phải tìm kiếm khắp nơi, dù phải đi bao xa, mất bao nhiêu thời gian, tôi vẫn muốn hoàn thành lời hẹn ước cũ.”

Mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu ở những đứa trẻ ăn xin khác…

Và sự thành thật của cậu bé ăn xin cuối cùng đã được đền đáp…

“Một ngày nọ, khi nhìn thấy tôi ngồi co ro vì giá rét, một phụ nữ đã trở về nhà mang cho tôi mấy chiếc áo. Sau đó tôi phát hiện trong túi áo có rất nhiều tiền. Lúc đó tôi rất đói, rất muốn giữ lại số tiền này, nhưng ánh mắt của anh lại hiện lên làm tôi thay đổi ý nghĩ. Tôi phải mất cả ngày mới tìm được nhà người phụ nữ nọ. Hai vợ chồng họ đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi tới trả lại tiền. Họ khóc nức nở ôm tôi vào lòng, rồi liên tục nói tôi là đứa trẻ tốt. Khi đó con gái hai vợ chồng vừa bị bệnh mà qua đời, tôi may mắn trở thành con nuôi của họ. Cuộc sống từ đó trở nên tốt hơn, tôi được cha mẹ nuôi thương yêu hết mực, được đi học. Giờ tôi đã trở thành giáo viên…”

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc! (Ảnh: Nature World News)

Đúng là cậu ta! Quả là một niềm vui ấm áp. Tôi thầm cảm thấy may mắn vì đã không vô tình hủy hoại một con người. Cậu bé ăn xin học được đức tính thành thật ngay thẳng, vì vậy mà đã gặp một gia đình tốt.

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: “Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc!

Khúc ruột ngoài da

Khúc ruột ngoài da

Tạp ghi Huy Phương


Theo định nghĩa chữ “kiều” là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác” nên những người này thường được gọi là kiều cư, kiều dân. Chế độ Cộng Sản ở trong nước dùng chữ Việt kiều hay kiều bào để chỉ chung những người Việt hiện đang sống ở hải ngoại. Đây không phải là kiểu dốt chữ nhưng họ có thâm ý “nhận vơ” cho rằng những người Việt này là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài.

Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh ở Hà Nội, cơ quan phụ trách ra vào Việt Nam
của “Việt Kiều.” (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Do sự “nhận vơ” đó mà ông Trương Tấn Sang trong dịp được Tổng Thống Mỹ Barack Obama tiếp kiến ở Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Bảy, 2013, đã cám ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn vô duyên, khá trơ trẽn, có lẽ trong thâm tâm hay cố tình, ông Sang cho tất cả những người Việt ở Mỹ đều là con dân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, trong khi thực chất Việt kiều của ông chỉ là những người Việt du học tạm thời, nhân viên ngoại giao, mang thông hành Việt Nam đang ở Mỹ.

Trong một bài viết về Học Viện Quân Sự West Point của Hoa Kỳ bằng tiếng Việt, một tác gỉa trong nước đã hạ bút rằng: “Sinh viên người Việt ở West Point khá đông, nhưng đều là Việt kiều…” thật tình tôi không hiểu hết ý của tác giả, và đây là một câu khá ngớ ngẩn.

Tại Trung Quốc, khái niệm “Hoa Kiều” mang tính cách đứng đắn hơn, vì “Hoa Kiều” chỉ để nói đến những người còn mang quốc tịch Trung Quốc đang “ở nhờ” bên ngoài đất nước của họ. Còn nếu như muốn nói đến tất cả mọi người gốc Hoa tại nước ngoài, không kể họ đang tạm trú hay là thường trú nhân, có quốc tịch hay không có quốc tịch, thì các cơ quan truyền thông nước này dùng danh từ “Hải Ngoại Hoa Nhân” (người Hoa ở hải ngoại). Chúng ta, nhất là những người trong nước, phải dùng danh từ “người Việt hải ngoại” để gọi những người Việt đang sinh sống ở nước ngoài mà không thể cá mè một lứa, hễ cứ người Việt ở ngoại quốc, ai cũng là… “Việt Kiều.”

Những ai đã sống dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa hẳn đã không quên “Hoa Kiều” tập trung ở Chợ Lớn, họ di cư sang Việt Nam từ mấy đời trước, làm ăn buôn bán, sinh con đẻ cái, nhưng không chịu vào quốc tịch Việt Nam. Chính phủ Ngô Đình Diệm, không những đã ra sắc luật cấm ngoại kiều, bất cứ Chà Và hay Tàu Chợ Lớn, đang sinh sống tại Việt Nam làm tám nghề chính liên quan đến huyết mạch kinh tế, mà còn bắt buộc những người cư trú lâu đời phải nhập tịch Việt Nam, từ đó, họ không còn là “ngoại kiều” nữa, mà trở thành “người Việt gốc Hoa” tồn tại cho đến ngày nay. Vậy thì ngày nay chúng ta nhận là “người Mỹ gốc Việt” hay “người Úc gốc Việt” là chính danh.

Vậy thì chính phủ Cộng Sản cũng đừng bao giờ nhận vơ những Dương Nguyệt Ánh, Lương Xuân Việt, Alan Phan là Việt Kiều. Có điều lạ là chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19 Tháng Năm của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” có 2,199 chữ, nhưng không hề có một chữ “Việt kiều” nào. Tuy vậy trong Bách Khoa Toàn Thư tiếng Việt, người ta vẫn còn dùng chữ một cách lơ lửng: “Việt kiều hay người Việt hải ngoại…”

Nói chung toàn bộ người Việt hiện nay ở ngoại quốc, có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có gần 2 triệu người ở Mỹ là những người Việt ở hải ngoại, phần lớn là người tị nạn, không mang quốc tịch Việt Nam (khi ra đi đã bị “cắt” hộ khẩu) không thể gọi đây là Việt kiều!

Nếu nhắm vào các sinh hoạt của người Việt ở ngoại quốc, chúng ta sẽ khẳng định ai là Việt kiều, ai là không. Việt kiều là những người mang cờ đỏ sao vàng, thường tụ tập tại các sứ quán Việt Nam Cộng Sản trong các dịp lễ, Tết, sắp hàng đón tiếp các quan chức Cộng Sản sang thăm nước họ đang sinh sống hoặc “hồ hởi” về nước tham gia các buổi hội nghị hay đón tiếp để được mang thêm hai chữ “yêu nước!”

Nghĩa tốt xấu của mỗi Việt kiều tùy theo hoàn cảnh, được báo chí trong nước loan tin.

Nếu một Việt Kiều Mỹ hay Úc về nước lường gạt thì đó là một người Việt tha phương cầu thực đang sinh sống ở nước ngoài, nhưng nếu là một Việt kiều tiếng tăm, thành công vượt bực thì đó chính là một người gốc gác Việt Nam, khúc ruột ngàn dặm thương yêu trìu mến của chúng ta.

Cộng Sản là bậc thầy của chuyện đổi giọng và đổi trắng thay đen, cho nên Việt Kiều nguyên xưa kia, chỉ là “những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của Đế Quốc Mỹ” nay đã hóa thân thành “khúc ruột ngàn dặm, một thành phần không thể thiếu của tổ quốc.” Và chúng lên mặt kẻ cả dạy dỗ: “Ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống,” cũng như sẽ “phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú.”

Trước kia những nhà đại trí thức như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng nghĩ lầm là Việt Cộng yêu nước mà trở về, mới sống trong tai ương, chết trong vùi dập. Ngày nay, bài học của những Việt Kiều cỡ lớn như Nguyễn Trung Trực (Úc), Trịnh Vĩnh Bình, (Hòa Lan), Nguyễn Gia Thiều (Pháp), Nguyễn An Trung (Nhật), Nguyễn Đình Hoan (Mỹ)… đến Việt kiều “tép” như Trần Trường đã cho chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là Cộng Sản.

Gần đây việc một “Việt Kiều” tên Bùi Văn Tánh, nguyên dân Nha Trang, năm 1980 vượt biển đến Mỹ, định cư tại Mỹ đã 25 năm, trở về cố quốc bị công an bắt giữ về tội vượt biên trước đây. Tị nạn ở hải ngoại hiện nay có bao nhiêu người mang tội vượt biển, vượt biên trái phép, trốn trại, cướp tàu, trốn thuế, hối lộ chính quyền địa phương, mua bãi, “sở hữu hai bao cao su đã dùng rồi,” tội còn sờ sờ ra đó!

Chúng ta “được gọi” là “khúc ruột ngàn dặm” nhưng 40 năm qua chúng ta đã chịu bao cảnh “ruột héo, gan bầm,” đoạn trường (đứt ruột!) khi phải bỏ nước ra đi.

Tiền Baht và Tiền Bác

Tiền Baht và Tiền Bác

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Tôi dừng chân ở Bangkok (lần đầu) vào một buổi chiều Hè, năm 1980. Đây cũng là thời điểm tôi mới làm quen với cuộc sống tha hương nên đã ghi lại vài chục câu thơ (hơi) ướt át:

Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê

Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn

Chiều về trên xứ lạ
Excuses me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề

Chiều về trên xứ lạ
Thoáng thấy mình trong gương
Tôi nhìn tôi bối rối mặt lạ
Mong một người đồng hương
Sao trông mình thảm thương

Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)

Thì cũng nói cho nó bảnh, và nghe cho có vần điệu (chơi) vậy thôi chớ tiền đâu ra mà … “dừng chân nơi quán lạ” – hả Trời? Tui “chuồn” ra Bangkok, từ một trại tị nạn chuyển tiếp, và trong túi chỉ có vỏn vẹn mỗi một đồng đô.

Vào thời điểm này, một Mỹ Kim tương đương với 24 đồng tiền baht. Xe bus lượt đi lượt về đã mất hết 4 baht rồi, tô mì xe giá 5 baht, chai Coca Cola 3 baht nữa. Tiền còn lại chỉ đủ mua (lẻ) vài điếu thuốc lá Samit nữa thôi.

Không lẽ “dừng chân nơi quán lạ” uống (đại) dăm chai bia Singha rồi bỏ chạy sao? Mà chạy đi đâu giữa kinh đô Vọng Các xa hoa, và xa lạ này?  Đ… mẹ, tui chỉ (thường) say thôi chớ có điên hồi nào đâu – mấy cha?

Tiền Baht. Ảnh: fotolibra.com

Ba mươi lăm năm sau, tôi trở lại chốn xưa (vào mùa Hè năm 2015) với cả … đống U.S.A dollar trong túi. Tiền đã nhiều mà một Mỹ Kim hôm nay còn đổi được tới 35 đồng baht lận. Tuy vậy, mãi lực của tiền Thái không còn được như xưa nữa.

Giá xe bus đã lên hơn gấp bốn, tới 9 baht. Và đó là loại xe không máy lạnh, dành cho người nghèo. Nghe nói nay có loại xe điện mới, rất tân kỳ (lạnh ngắt và sạch bóng) đi lại trong thành phố rất tiện nhưng tôi chưa có dịp thử nên không biết giá cả ra sao.

Tô mì hôm nay đã giá gấp 7 rồi, 35 baht. Chai Coca Cola cũng vậy, 10 baht chớ không còn 3 baht như hồi năm cũ  nữa. Lương bổng, lợi tức của người dân Thái – tất nhiên – cũng tăng, và chắc là tăng kịp với đà lạm phát nên không nghe thiên hạ ca cẩm gì nhiều về nạn vật giá leo thang, như ở Việt Nam. Mọi người, xem ra, có vẻ hài lòng với cuộc sống tương đối an lành và phú túc mà họ đang được hưởng.

Khác với những quốc gia láng giềng, dường như, không có cái khoảng cách hay sự tương phản nào (rõ nét) giữa mức sống giữa nông thôn và thành thị ở Thái Lan. Những người chạy taxi, và ngay cả xe tuck tuck, hay xe ôm nữa –  nơi xứ sở này – trông cũng tự tin và thoải mái hơn đồng nghiệp của họ ở Cambodia, hay Lào.

E là mình chủ quan nên tôi viết thư hỏi một anh bạn, người đã sống ở Thái Lan từ năm 1992, hiện là một trong những thông tín viên thường trực của RFA ở Bangkok. Qua ngày sau, tôi nhận được hồi âm:

Anh Tư mến,

Em đọc thư anh viết từ hôm qua, song bận quá giờ mới viết trả lời anh được.

Đợt vừa rồi tìm hiểu để viết về cuộc sống của những người Việt tỵ nạn ở Thái lan, đặc biệt là những người Thượng Tây nguyên thì vượt quá sức tưởng tượng của em.

Họ khổ quá, thương họ quá dù rằng mình cũng hiểu phần nào song không hình dung trên thực tế thì nó là như thế.

Chuyện lương của cháu K. 300$/tháng (9,000 baht) là mức lương tối thiểu của một lao động phổ thông người Thái theo quy định của nhà nước. Mức lương đó mà dành cho 03 người thì khá vất vả, vì riêng tiền thuê nhà ở Bangkok một phòng 12-14 m2 có nhà vệ sinh tồi nhất cũng phải mất 2-2,500 baht. Số tiền còn lại còn trăm thứ phải tiêu: diện, nước, internet và ăn uống tiêu dùng.

– Lương của một Hạ sỹ quan CS Thái lan khoảng 18,000 baht

– Lương của một Sỹ quan CS Thái lan mới ra trường khoảng 20,000 baht.

– Lương cho giáo viên thì rất cao, bằng khoảng 130% của lương viên chức khác.

– Lương của một viên chức trung bình khoảng 23,000 baht.

Nhìn chung lương viên chức ở Thái lan thì thấp, song họ có các chế độ đãi ngộ khác kèm theo khá tốt như các vấn để an sinh xã hội dành cho người nhà của viên chức như bố, mẹ, vợ con v.v…

Mặt khác ở Thái lan có chế độ giáo dục miễn phí 12 năm, chữa trị y tế hoàn toàn free 100%, có trợ cấp cho người già, người tàn tật. Vì vậy với mức lương trung bình 23,000 baht/tháng cũng đủ sống không phải kiếm thêm. Hầu như không thấy hiện tượng viên chức người Thái phải làm thêm. Hầu như đối tượng này có nhà riêng và xe hơi.

Những người có khả năng thì họ đi làm cho các công ty tư nhân, lương cao hơn khoảng 140% so với lương viên chức.

Vật giá ở Thái lan khá rẻ. Thức ăn bán sẵn cho 03 người một bữa có 03 món thịt, cá và canh khoảng 100 baht là tạm ổn, cơm thì nấu ở nhà.

Lái xe taxi cũng là một nghề tự do kiếm tiền khá, song nếu phải thuê xe thì một ngày cũng phải trả tiền thuê khoảng 7-800 baht/ngày nên cũng chẳng thừa được bao nhiêu. Còn lại khoảng 7-800 baht/ngày sau khi trừ tiền mua gaz.

Có xe riêng thì được nhiều. Chạy xe ôm là việc dễ làm, chỉ cần có moto và trả phí hàng ngày chừng 50-60 baht cho chủ bến (Cảnh sát) thì mỗi ngày chịu khó cũng kiến được khoảng 1,000 baht.

Lạm phát ở nước Thái thì ít so với VN, em ở bên này 23 năm thì thấy vật giá mới tăng khoảng 150%, thế cũng là phù hợp với tốc độ suy thoái kinh tế toàn cầu. Tất nhiên cũng phải kể đến nguyên nhân chính là việc nâng mức lương tối thiểu của lao động phổ thong từ 6,000 baht/ tháng lên 9,000 baht/tháng.

Em viết vội cho anh như vậy, có gì cần biết anh cứ bảo em nhé.

Chúc anh khỏe.

Ở VN thì đơn vị tiền tệ không phải là tiền baht mà là tiền Bác. Đồng tiền này được lưu hành trên toàn quốc từ ngày 23 tháng 9 năm 1975. Sự kiện này được báo Sài Gòn Giải Phóng (số ra ngày 27 tháng 9 cùng năm) ghi lại thế này đây:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Tiền Bác. Ảnh: facebook

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức mới có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Thảo nào mà trong dân gian không thiếu những câu thơ (nghe) hơi thừa cay  đắng:

Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời

Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi

Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu: 

Cách mạng là đây: bọn giết người !

Mà đắng cay là phải vì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong mười quốc gia có đồng tiền trị giá thấp nhất thế giới, , theo như ghi nhận của dondwest.hubpages.com/hub/Worthless-Fiat-Currency:

1. Somalia
2. VIETNAM
3. São Tomé and Príncipe
4. Iran
5. Indonesia
6. Laos
7. Guinea
8. Zambia
9. Paraguay
10. Sierra Leone

Theo thời giá thì 100 baht, nếu tiện tặn, có thể đủ tiền chợ nguyên ngày cho một gia đình ba người. Còn 1.000 ngàn đồng tiền Bác thì ngay cả đến giới ăn xin cũng không muốn nhận – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, trên Vietnamnet:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Ảnh: vtc

Lý do khiến đồng Bác bị nhân dân, cũng như nhân loại, rẻ rúng được nhà báo Nguyễn Vũ Bình lý giải như sau:

“Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế.

Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng…”

Những cái “người dân đáng ra phải được hưởng” – xem chừng – mỗi lúc một xa khỏi tầm tay, và càng ngày thì cuộc sống càng thêm “điêu đứng.”  Đã đến lúc mà vấn đề được đặt ra theo một chiều hướng khác, thách thức thấy rõ:

“Liên tiếp trong một thời gian ngắn, xăng và điện tăng giá, một số thành phố sẽ thu phí đường bộ đối với xe máy từ ngày 1-7 tới… Tiền điện tăng 100%, giá xăng dầu được dự báo vẫn theo chiều hướng tăng vọt dù giá nhập giảm tới… 40%, nồi cơm của nhiều gia đình chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhập không tăng kịp theo tương xứng. Nhiều bà nội trợ chắc chắn sẽ chật vật vì phải cắt khoản chi tiêu này, giảm khoản kia để tổ ấm của mình tồn tại…

Ảnh: Pháp Luật

Trong cuộc sống sự nhẫn nại là một đức tính tốt nhưng vấn đề là nhẫn nại của chúng ta có giới hạn không?” (Benjamin Ngô. “Sự Nhẫn Nại Của Chúng Ta.” Báo Pháp Luật, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2015).

Tôi may mắn không “phải” sống ở Việt Nam nên không dám lạm bàn chi về mức độ “giới hạn nhẫn nại” của đồng bào mình. Lêu bêu ở xứ người, đôi lúc, tôi chỉ trộm nghĩ rằng giá mà đừng có Bác (và mấy đồng bạc của Người) thì thiệt là đỡ khổ cho dân Việt biết chừng nào!

Khi khó khăn ập đến, bạn sẽ là cà rốt, trứng, hay cà phê?

Khi khó khăn ập đến, bạn sẽ là cà rốt, trứng, hay cà phê?

Bạn là cà rốt, trứng, hay cà phê? (Ảnh: Internet)

Bạn là cà rốt, trứng, hay cà phê? (Ảnh: Internet)

Cô cháu gái tìm đến bà ngoại và thổ lộ với bà những tâm sự trong lòng mình. Cuộc sống dường như đang quay lưng lại với cô – người chồng cô tin tưởng bấy lâu đã bất ngờ phụ bạc khiến cô hoàn toàn tuyệt vọng. Không biết phải làm thế nào để đối mặt với sự thật phũ phàng này, cô chỉ muốn buông xuôi và từ bỏ tất cả…

Bà ngoại không trả lời mà chỉ dẫn cô vào bếp. Rồi bà đổ nước vào ba chiếc bình và đặt lên ngọn lửa. Chẳng mấy chốc, nước trong các bình sôi lên. Bà cho vào chiếc bình thứ nhất một củ cà rốt, chiếc bình thứ hai một quả trứng, và chiếc bình thứ ba là một nhúm hạt cà phê. Bà kiên nhẫn chờ nước sôi thêm lần nữa, trong khi vẫn không nói lời nào.

Một lát sau, bà tắt lửa rồi vớt cà rốt, trứng, và các hạt cà phê ra ngoài.

Quay sang cô cháu gái, bà hỏi: “Nói cho bà biết, cháu đang thấy những gì?”

“Cà rốt, trứng, và cà phê bà ạ”, cô trả lời.

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/09/carrot-egg-coffee-1.jpg

Bà đưa cô đến gần hơn và bảo cô hãy nếm thử củ cà rốt. Cô làm theo và nói rằng cà rốt rất mềm. Rồi đến lượt trứng, cô bóc vỏ và nhìn thấy bên trong lớp vỏ cứng, quả trứng đã cô đặc lại.

Cuối cùng, bà bảo cô thưởng thức các hạt cà phê. Bà chỉ mỉm cười khi cô cảm nhận hương vị nồng nàn của nó.

Sau đó, cô hỏi bà: “Vậy những điều này nghĩa là gì hả bà?”

Bà ngoại nhẹ nhàng vuốt tóc cháu yêu và từ tốn nói: “Cháu thấy đó, cả cà rốt, trứng và cà phê đều đối mặt với cùng một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi. Nhưng mỗi thứ trong số chúng lại có phản ứng hoàn toàn khác nhau. Cà rốt vốn cứng cỏi và mạnh mẽ, nhưng khi gặp nước sôi, nó lại trở nên mềm yếu. Trứng giòn và dễ vỡ, lớp vỏ bên ngoài quá mỏng manh, còn bên trong lại yếu mềm. Nhưng sau một thời gian ngâm trong nước sôi, bên trong quả trứng trở nên vững chắc”.

“Còn những hạt cà phê này lại phản ứng theo một cách khác, rất độc đáo. Sau khi chịu thử thách trong nước sôi, nó đã làm nước phải biến đổi”.

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/09/Coffee-cup.jpg

“Vậy cháu muốn làm gì?” bà trìu mến hỏi cô cháu gái. “Khi khó khăn ập đến, cháu sẽ là củ cà rốt, quả trứng, hay hạt cà phê?”

Là cà rốt? Rất mạnh mẽ, vững chắc, nhưng lại dễ dàng bị khuất phục trước khó khăn hay nghịch cảnh…

Là quả trứng? Một trái tim mong manh dễ thương tổn, nhưng luôn biết học hỏi từ khó khăn. Tôi sẽ không bao giờ lùi bước trước những thăng trầm của cuộc sống, bởi từ sâu thẳm bên trong, khó khăn đang giúp tôi trở nên cứng cỏi và kiên cường hơn.

Hay là hạt cà phê? Thay vì để hoàn cảnh làm tôi thay đổi, tôi sẽ cải biến chính nghịch cảnh ấy. Cà phê tỏa hương thơm để dòng nước không còn là ‘nỗi đau’, mà mang một hương vị mới rất nồng nàn và đậm đà. Nếu bạn cũng giống như những hạt cà phê ấy, thì mỗi khi cuộc sống trở nên tồi tệ, bạn không chỉ trở nên mạnh mẽ hơn, mà còn biến đổi tất cả những gì ở quanh bạn. Khi thế giới hỗn độn, mọi thứ chao đảo, khó khăn lại chồng chất khó khăn, liệu bạn vẫn có thể tự tin đưa mình lên một bước tiến mới?

Vậy, bạn sẽ là cà rốt, trứng, hay cà phê?

Ai đó từng nói… người hạnh phúc nhất không phải là người có trong tay những điều tốt đẹp, mà là người có thể biến mọi thứ trong tay họ trở thành những điều tốt đẹp. Hiện tại và tương lai hoàn toàn tùy thuộc ở bạn!

Chúc bạn sẽ có đủ hạnh phúc để biết luôn ngọt ngào, có đủ khó khăn để biết mình mạnh mẽ, có đủ nỗi đau để biết cách yêu thương, và có đủ hy vọng để hiểu rằng phía trước luôn luôn là một chân trời tươi sáng.

Khi bạn sinh ra, chỉ riêng bạn là khóc còn những người xung quanh bạn đều mỉm cười. Vì vậy, hãy sống hết mình vì cuộc đời này, để đến giây phút cuối cùng, bạn là người duy nhất mỉm cười trong khi những người ở lại đều khóc trong thương tiếc.

Cuối cùng, cảm ơn bạn đã lắng nghe câu chuyện hạt giống tâm hồn này…

(Sưu tầm)

Tông du của ĐGH Francis ‘rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo’

Tông du của ĐGH Francis ‘rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo’

Đỗ Dzũng/Người Việt

PHILADELPHIA, Pennsylvania (NV) – “Chuyến thăm Hoa Kỳ của Đức Thánh Cha đã rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo.”

Đó là nhận xét của Linh Mục Nguyễn Khắc Hy, giáo sư Thần Học tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ, Washington, DC, khi trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt qua điện thoại.

Đức Giáo Hoàng Francis (giữa) tặng sách Phúc Âm Thánh Luca cho hai người
trong một gia đình Việt Nam. (Hình: Carl Court/Getty Images)

Linh mục cũng là thông dịch viên chính thức cho cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại Đại Hội Gia Đình Thế Giới được tổ chức ở Philadelphia trong mấy ngày qua.

Linh mục giải thích thêm: “Về mặt chính trị, ba bài diễn văn của ngài tại Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội Mỹ, và Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã đánh động chính sách của Hoa Kỳ, nhất là trong hai đề tài di dân và môi trường. Tất nhiên, chúng ta chưa biết các chính trị gia Mỹ sẽ làm gì trong những ngày tới, nhưng kết quả cụ thể chúng ta có thể thấy là sự từ chức của Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner.”

“Về mặt tôn giáo, tôi nhận thấy người Công Giáo rất vui mừng, và họ nhận thức được thông điệp của Đức Giáo Hoàng, đó là ‘Sống Tin Mừng trong gia đình’ có nghĩa là ‘Sống Tin Mừng bằng đời sống hôn nhân và gia đình.’ Đây là sứ điệp được mọi người đón nhận rất nồng nhiệt,” vị linh mục nói thêm.

Giáo dân Việt Nam tham dự Thánh Lễ

Nói về Thánh Lễ tại Philadelphia, do Đức Giáo Hoàng Francis chủ tế, trong ngày cuối cùng của ngài ở Hoa Kỳ, Linh Mục Hy nhận xét: “Tôi thấy có rất nhiều người Việt Nam. Có hàng chục người trong ca đoàn, có hát tiếng Việt, có hát Đáp Ca bằng tiếng Việt, có đọc Thánh Thư bằng tiếng Việt, có Đức Hồng Y Nguyễn Văn Nhơn, tổng giám mục Tổng Giáo Phận Hà Nội, sang tham dự, rồi có Giám Mục Nguyễn Văn Hiếu, giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Toronto, Canada,… và rất nhiều linh mục Việt Nam.”

“Năm nay là ‘Năm Lòng Thương Xót’ của Vatican. Trong số năm gia đình đại diện năm châu mà Đức Giáo Hoàng chọn ra để trao Phúc Âm Thánh Luca, có một gia đình từ Việt Nam sang, đại diện cho Châu Á. Nói chung, người Việt Nam chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong giáo hội tại Hoa Kỳ,” Linh Mục Nguyễn Khắc Hy nói tiếp.

Được biết, người hát Đáp Ca trong Thánh Lễ là anh Võ Sinh, thuộc ca đoàn giáo xứ Thánh Helena ở Philadephia.

Còn người đọc bài Thánh Thư thứ hai là Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế, giám đốc chương trình gia đình, thuộc Tổng Giáo Phận Sài Gòn.

Được biết, Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế có mang đến Hoa Kỳ một bức tranh Đức Mẹ Maria làm bằng những hột gạo để tặng Đức Giáo Hoàng Francis.

Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế đọc bài Thánh Thư thứ hai tại Thánh Lễ.
(Hình chụp qua TV)

Kỹ sư Đỗ Ngọc Dũng, một giáo dân Công Giáo ở Brooklyn Park, Minnesota, cùng gia đình đến tham dự Thánh Lễ nói rằng lòng tin của ông được vững mạnh hơn sau khi trông thấy Đức Giáo Hoàng Francis.

“Đức Giáo Hoàng là người thay mặt Chúa. Khi đến gần ngài, tôi cảm thấy gần gũi hơn là nhìn qua truyền hình, cảm thấy niềm tin của mình đầy đủ hơn. Mặc dù Chúa nói rằng ‘Phúc cho những ai không thấy mà tin,’ nhưng với tôi, được thấy thì vẫn tốt hơn,” ông vừa cười vừa nói với nhật báo Người Việt qua điện thoại.

Ông nói thêm về Thánh Lễ do Đức Giáo Hoàng Francis chủ tế: “Có đến đây mới thấy đức tin của người Công Giáo rất lớn. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, không ai biết ai, nhưng đều hiểu nhau. Khi Đức Giáo Hoàng Francis làm lễ, lúc thì bằng tiếng Anh, lúc bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng tôi có cảm giác mọi người đều hiểu rất rõ và cảm thấy đức tin dâng cao.”

Bà Hoài Phạm, cư dân Buffalo, New York, có nhận xét như sau: “Trước khi đi cảm thấy mình tội lỗi vô cùng, nhưng bây giờ thì cảm thấy khá hơn, vì được nghe những lời giảng về gia đình, về thăng tiến hôn nhân, rất tốt.”

“Trong Thánh Lễ, tôi chỉ lo cho sinh mạng của Đức Thánh Cha. Lúc ngài bước ra khỏi xe để lên bàn thờ, tôi cứ cầu nguyện, sợ đứa nào nó bắn ngài. Tôi thấy mọi người dự Thánh Lễ rất sốt sắng,” bà nói thêm.

Bà cho biết, đây là lần đầu tiên được thấy Đức Giáo Hoàng, rất là vui, nhưng chưa bao giờ đến Vatican.

“Sau chuyến này về, tôi sẽ thúc chồng tôi đi Vatican một chuyến. Tôi muốn gặp ngài lần nữa,” bà quả quyết.

Nhà báo Trần Đông Đức, chủ nhiệm tuần báo Người Việt Đông Bắc, có mặt tại Thánh Lễ từ đầu đến cuối và cảm thấy tự hào.

“Tôi không phải là người theo Công Giáo, nhưng cảm thấy rất tự hào, vì thấy có nhiều người Việt Nam tham dự Thánh Lễ, và có cả tiếng Việt được đọc nữa. Tôi thấy người Việt là một lực lượng ‘chủ lực’ ở đây. Họ có tinh thần hiệp thông cao, tin vào Thiên Chúa, có sự bình đẳng, bác ái, không phân biệt đẳng cấp,” nhà báo Trần Đông Đức nhận xét.

Ông nói thêm: “Nói thật, tôi chỉ đến tham dự vì hiếu kỳ, nhưng thấy nghi thức rất trang trọng, tôn nghiêm, và đúng là một sự kiện lịch sử tại Philadelphia. Và một lần nữa, có tới dự Thánh Lễ mới chứng kiến là người Việt Nam mình rất mạnh. Tôi rất hãnh diện.”

Gặp nạn nhân lạm dụng tình dục

Trước khi cử hành Thánh Lễ, Đức Giáo Hoàng đã gặp một số nạn nhân tình dục và nói “Chúa đã khóc” cho họ, theo CNN.

Đức Giáo Hoàng gặp năm nạn nhân, ba phụ nữ và ba đàn ông, theo thông cáo báo chí của Vatican.

Tất cả năm người này đều bị các linh mục, thành viên gia đình, hoặc thầy giáo, lạm dụng tình dục khi còn là thiếu niên.

Đức Giáo Hoàng Francis đã nghe họ kể chuyện, nói với họ, từng cá nhân cũng như cả nhóm, và sau đó cầu nguyện cùng với họ.

Nơi đức giáo hoàng gặp các nạn nhân là nhà dòng St. Charles Borromeo, một nơi thuộc Tổng Giáo Phận Philadelphia, từng có hai vụ lạm dụng tình dục được đại bồi thẩm đoàn đề cập năm 2005 và năm 2011, trong đó, những người đứng đầu tổng giáo phận bị tố cáo không có biện pháp thích đáng để ngăn chặn tình trạng linh mục lạm dụng tình dục trẻ em.

Sau đó, trong cuộc họp với các giám mục, Đức Giáo Hoàng Francis hứa sẽ “xem xét cẩn thận” để bảo đảm trẻ em được bảo vệ và nói rằng những người lạm dụng phải chịu trách nhiệm.

“Những người chịu trách nhiệm chăm sóc trẻ em lại vi phạm lòng tin và làm họ đau đớn,” vị giáo chủ đứng đầu Vatican được CNN trích lời nói. “Những ai chịu đựng sự lạm dụng này đã trở thành những sứ giả của lòng thương xót. Chúng ta biết ơn họ, bởi vì họ bị lạm dụng một cách đau khổ, lạm dụng tình dục trẻ em.”

Tại Vatican năm 2014, Đức Giáo Hoàng Francis từng gặp nạn nhân lạm dụng tình dục. Trong một Thánh Lễ riêng tư với sáu nạn nhân, vị giáo hoàng đã xin lỗi và xin họ tha tội.

Gặp tù nhân trong nhà tù

Cũng trong ngày Chủ Nhật, Đức Giáo Hoàng Francis đã gặp một số tù nhân và cai tù trong nhà tù Curran-Fromhold, lớn nhất ở Philadelphia.

Đức Giáo Hoàng đã ngồi trên một chiếc ghế, do các tù nhân làm đặc biệt cho ngài, nói chuyện với một số tù nhân, và bài nói chuyện của ngài được loa phóng thanh truyền đi khắp nhà tù, theo NBC.

Đức Giáo Hoàng Francis nói với các tù nhân rằng họ không cô đơn, và không nên cảm thấy bị ruồng bỏ trong thời gian ở tù.

“Tôi đến đây như là một linh mục, nhưng trên hết là một người anh, để chia sẻ tình trạng của các bạn, và cảm nhận của tôi,” Đức Giáo Hoàng được trích lời nói. “Bất cứ xã hội nào, gia đình nào, mà không thể chia sẻ hoặc cảm nhận một cách nghiêm túc sự đau đớn của con cái, và coi đây là chuyện bình thường, hoặc là điều tất nhiên, thì đó là một xã hội đáng bị chê trách là tự trói mình.”

Đức Giáo Hoàng ban phép cho một tù nhân trong nhà tù Curran-Fromhold,
Philadelphia. (Hình: Todd Heisler-Pool/Getty Images)

Đức giáo hoàng cũng nói lòng tin sẽ giúp các tù nhân trong thời gian “hồi phục” bởi vì không ai là hoàn hảo.

“Tất cả chúng ta có một điều gì đó cần phải tẩy rửa, hoặc làm cho tinh khiết. Cầu mong những hiểu biết về chuyện này làm cho chúng ta sống trong sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau, và tìm thấy cái tốt nhất trong mỗi con người,” Đức Giáo Hoàng Francis nói.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới

Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ 8 diễn ra từ ngày 22 đến ngày 25 Tháng Chín tại Trung Tâm Hội Nghị Philadelphia, với chủ đề “Tình yêu là sứ mệnh của chúng ta: Để gia đình được sống dồi dào,” với cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Francis trong hai ngày 26 và 27 Tháng Chín, và kết thúc bằng Thánh Lễ do ngài chủ tế tại Benjanmin Franklin Parkway, có khoảng hơn 1 triệu người tham dự.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới năm nay là đông nhất, với 18,000 người ghi danh tham dự, mà theo Đức Ông Trịnh Minh Trí, chủ tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, kiêm chánh xứ giáo xứ Thánh Helena, có tới hơn 1,100 người Việt Nam.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới được tổ chức ba năm một lần, qua sáng kiến của Đức Giáo Hoàng John Paul II, với lần thứ nhất ở Rome, Ý, năm 1994. Sau đó, đại hội được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil (1997), Rome, Ý (2000), Manila, Philippines (2003), Valencia, Tây Ban Nha (2006), Mexico City, Mexico (2009), và Milan, Ý (2012).

Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ 8 ở Philadelphia năm nay là đại hội đầu tiên được tổ chức tại Mỹ.

Giã từ nước Mỹ

Sau sáu ngày thăm Hoa Kỳ, qua ba thành phố lớn, đọc 18 bài diễn văn, gặp gỡ hàng triệu người, Đức Giáo Hoàng Francis kết thúc chuyến viếng thăm đầu tiên của ngài đến Mỹ.

Tại bất cứ nơi đâu Đức Giáo Hoàng Francis cũng được mọi người hoan nghênh, dù là người Công Giáo hay không.

Trước khi đến Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Francis đã thăm Cuba trong bốn ngày, gặp cả hai anh em ông Fidel và ông Raul Castro, chủ tế Thánh Lễ, thăm người nghèo… Ngài là vị giáo hoàng thứ ba thăm đảo quốc này.

Đức Giáo Hoàng Francis bước lên cầu thang máy bay, chuẩn bị bay về Rome, Ý.
(Hình: AP Photo/Susan Walsh)

Tại phi trường Atlantic Aviation, Philadelphia, lúc 6 giờ chiều Chủ Nhật, Đức Giáo Hoàng Francis, đứng cạnh Hồng Y Charles J. Chaput, tổng giám mục Tổng Giáo Phận Philadelphia, đã ngỏ lời cảm ơn ban tổ chức, thiện nguyện viên, và các nhà bảo trợ Đại Hội Gia Đình Thế Giới.

Lúc 7 giờ 30 phút tối, Phó Tổng Thống Joe Biden có mặt tại phi trường để tiễn Đức Giáo Hoàng Francis bước lên chiếc máy bay của hãng American Airlines, cất cánh lúc 7 giờ 40 phút để bay về Rome, Ý, kết thúc chuyến thăm lịch sử nước Mỹ.

Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com