Ông bước theo chân cháu để hội nhập vào dòng chính trong xã hội Mỹ.

Ông bước theo chân cháu để hội nhập vào dòng chính trong xã hội Mỹ.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tôi đã ở vào lứa tuổi bát thập và đã định cư ở nước Mỹ được gần 20 năm nay. Hầu hết các cháu nội ngọai trong gia đình chúng tôi tức là lớp thế hệ thứ ba, thì đều sinh trưởng tại Mỹ. Các cháu theo học và tiếp cận thường xuyên với các bạn người Mỹ ngay từ các lớp nhà trẻ, mẫu giáo lên đến tiểu học, trung học và cả đại học. Do đó mà các cháu nói tiếng Mỹ thành thạo hơn là nói tiếng Việt. Và suy nghĩ cũng như hành động của các cháu cũng không khác gì nếu so sánh với các bạn người Mỹ cùng lứa tuổi. Nói khác đi, thì các cháu đã hội nhập hòan tòan vào với xã hội Mỹ. Nhờ vậy, mà sau khi tốt nghiệp đại học, các cháu mới dễ kiếm được việc làm và có chỗ đứng vững vàng trong xã hội sở tại.

Đối với mấy cháu ở vào độ tuổi 20 – 25, đủ khôn lớn rồi, thì từ mấy năm gần đây, tôi bắt đầu viết trực tiếp một số bài bằng tiếng Anh để giúp các cháu hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa Việt nam – cũng như là về một số công việc tôi làm trước đây và cả về chuyện tôi bị công an cộng sản bắt giam giữ trong nhà tù nữa. Xin liệt kê một số bài viết bằng Anh ngữ đó như sau:

– A very short introduction into the Vietnamese culture

(Giới thiệu thật ngắn về văn hóa Việt nam)

– Some brief notes on the Vietnam war (1945 – 1975)

(Mấy ghi chú ngắn về cuộc chiến tranh Việt nam)

– How I became a political prisoner in Vietnam in the 1990’s

(Làm sao tôi trở thành người tù chính trị ở Việt nam vào thập niên 1990)

– Reflection on my being an octogenarian

(Suy nghĩ nhân dịp bước vào tuổi bát tuần)

– From Social Action to Human Rights Advocacy

(Từ họat động xã hội đến bảo vệ nhân quyền)

v.v…

Những bài này thường ngắn gọn, chỉ chừng vài ba trang với cỡ trên dưới 1,000 chữ mà thôi. Tôi chủ tâm ‎viết thật ngắn như vậy, thì các cháu mới chịu đọc. Nhân tiện, tôi cũng gửi các bài này cho một số bạn người Mỹ nữa. Và thật là phấn khởi khi tôi nhận được phản hồi thuận lợi từ các bạn đó. Có bạn lại còn chuyển những bài đó lên internet, cụ thể là trên Google nữa. Vì thế, bạn đọc có thể mở Google và đánh chữ: “Doan Thanh Liem – articles in English”, thì có thể đọc các bài này một cách thật dễ dàng.

Thành ra, đàng nào tôi cũng có nhu cầu phải truyền đạt suy nghĩ và kinh nghiệm của bản thân mình cho lớp hậu duệ trong gia đình – mà việc này lại được các bạn người Mỹ tiếp nhận với mối thiện cảm chân tình. Như thế đấy, từ việc chuyện trò trao đổi trong chỗ thân mật riêng tư với các cháu trong nội bộ gia đình – mà tôi lại có cơ hội thông tin tiếp cận dễ dàng hơn với các bạn thuộc dòng chính trong xã hội nước Mỹ vậy. Rõ ràng đây là cái thứ “Một Công Đôi Việc” – như dân gian vẫn thường nói. Tôi viết bài dành riêng cho các cháu trong gia đình, mà bài viết đó cũng còn được dùng để gửi cho các bạn người Mỹ cùng đọc nữa.

Rốt cuộc là từ mấy năm gần đây, tôi lại có thêm cái nhu cầu và sự phấn khích để mà cố gắng viết trực tiếp những bài bằng Anh ngữ dành riêng cho các cháu nội ngọai của mình và nhân tiện cũng dành cho các bạn đọc người Mỹ nữa. Vì nhằm viết riêng cho những người thân thiết của mình, nên tôi không phải quá sức đắn đo gọt giũa về lối hành văn như trong các bài viết cho những người xa lạ mà mình chưa có dịp quen biết thân mật gì cả.

Hơn nữa, các cháu thành thạo tiếng Anh hơn tôi thì còn sẵn sàng góp phần sửa chữa bổ túc cho bài viết của tôi đạt được tiêu chuẩn để các độc giả người Mỹ dễ dàng chấp nhận hơn. Và đó cũng là dịp để ông cháu tôi cùng làm việc sát cánh với nhau hơn nữa.

Trước lạ, sau quen. Sau chừng trên một chục bài viết trực tiếp bằng Anh ngữ như thế, ngòi bút của tôi đã bắt đầu trở thành trôi chảy trơn tru – và tôi không còn thấy ngại ngùng, ngượng ngập như trước đây khi mình chưa quen viết  bằng tiếng Anh nữa. Tôi nghĩ nếu mình cứ kiên trì mỗi tháng cố gắng viết được một bài như thế để dành riêng cho các cháu – thì chỉ trong vài năm tôi có thể hòan thành được một cuốn sách bằng tiếng Anh được rồi vậy.

Trên đây là một chuyên riêng tư của bản thân tôi là một người đã ở vào tuổi bát tuần mà hiện đang cùng gia đình định cư tại tiểu bang California trên nước Mỹ. Tôi xin được chia sẻ cái kinh nghiệm nho nhỏ này với bà con người Việt tỵ nạn chúng ta vậy nha./

Costa Mesa California, Tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Tính chính đáng của đảng Cộng sản

Tính chính đáng của đảng Cộng sản

Nguyễn Hưng Quốc

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước;  hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính  thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh  cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Vấn nạn kinh tế của Trung Quốc? Chính là chuyện chính trị, ngốc ạ!

Vấn nạn kinh tế của Trung Quốc? Chính là chuyện chính trị, ngốc ạ!

Đăng trên Nikkei Asia Review 07 tháng 9 năm 2015 05:00 JST

http://asia.nikkei.com/Politics-Economy/Economy/The-root-of-China-s-economic-troubles-It-s-politics-stupid

Minxin Pei*

Nguyễn-Khoa Thái Anh dịch

Lời dịch giả: Trong bài nay “predatory state” “slow theft” và “fast plunder” được dịch theo thứ tự là: chế độ bóc lột “săn mồi, ăn thịt/hút máu con dân”, “slow theft”: ăn cướp tiệm tiến/chậm và “slow theft”: ăn cướp trắng trợn/ào ạt/nhanh. Chế độ thứ nhất “predatory state” thường được thấy trong các thể chế Cộng sản, phức tạp và tinh vi hơn các nhân vật độc tài như Ferdinand Marcos ở Philippines và Mobutu Sese Seko của Zaire.

Nhìn xem phản ứng các thị trường tài chính gần đây đối với môt loạt các tin kinh tế xấu từ Trung Quốc thì ta thấy rõ là cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đã không có một khái niệm mơ hồ nào vì sao “phép lạ kinh tế” Trung Quốc lại nổ bung một cách đột ngột như thế. Nhưng đối với những người quen thuộc với các đề cương kinh tế chính trị của các chế độ/nhà nước săn mồi, ăn thịt/hút máu con dân, không những vấp ngã của Trung Quốc đã được dự đoán mà còn là lẽ đương nhiên.

Có thể phần lớn các tổng giám đốc và các nhà đầu tư đã q

uá bận rộn để đọc một bộ sách kinh điển dày đặc như “Định chế, Thay đổi Định chế và Hiệu suất kinh tế”, của nhà kinh tế sử học đoạt giải Nobel Douglass North, hoặc một cuốn sách dễ tiếp nhận hơn, “Tại sao các Quốc gia sụp đổ” của Daron Acemoglu và James Robinson, hai nhà kinh tế học giảng dạy tại Đại học Công nghệ MIT (Massachusetts Institute of Technology) và Harvard. Sự thông tri của những học giả này, những người đã suy nghĩ sâu xa về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, đáng được trân trọng.

Chủ đề chính của họ nói về một “nhà nước ăn cướp của dân” một thuật/học ngữ cho một chính phủ bóc lột. Mặc dù có những khác biệt về cách giới cầm quyền “săn con mồi” dân dã trong xã hội, các tính năng cốt lõi của một nhà nước săn mồi là việc sử dụng quyền lực chính trị để tự làm giàu của lãnh tụ.

Nếu sức mạnh của nhà nước bắt nguồn từ sự đồng thuận của người bị cai trị và hạn chế bởi các quy định của pháp luật, giai cấp cầm quyền sẽ có một năng lực rất hạn chế để bóc lột người dân. Tuy nhiên, nếu nhà cầm quyền đặt mình trên luật pháp và sử dụng bạo lực chuyên chế của nhà nước để bảo vệ đặc quyền của họ để ăn cướp, họ có thể rút tỉa của cải của xã hội một cách tùy tiện. Các trường hợp nổi tiếng nhất trong lịch sử gần đây là Ferdinand Marcos ở Philippines và Mobutu Sese Seko của Zaire, cả hai đồng nghĩa với những lãnh tụ ăn cướp.

Một bòn rút chậm

Một khi những quốc gia bị chế độ bóc lột (ăn thịt, hút máu) dân chiếm đoạt xã hội của họ có thể bị bần cùng hóa. Các hình thức tồi bại và thảm khốc nhất của sự bần cùng hóa như thế là việc cướp bóc trắng trợn bởi những kẻ độc tài với một thời gian cai trị ngắn ngủi.

Các chế độ bóc lột (hút máu) dân tinh vi hơn, thường do các đảng phái chính trị độc tài kết cấu với nhau một cách chặt chẽ hơn với một khung thời gian cai trị dài hơn nhiều, họ thích chọn một chiến lược tinh tế và lâu dài hơn để bòn mót tiền trong xã hội họ. Thay vì bóc lột, ăn cướp một cách lộ liễu không che đậy và ngay lập tức để có thể phá hủy vốn liếng của các quốc gia của họ và do đó đe dọa lợi ích lâu dài của họ, chế độ hút máu dânđược kiểm soát bởi các đảng chính trị có tổ chức dựa trên các phương tiện gián tiếp, che giấu và hành vi ăn cướp đều đặn, có quy mô.

Thông thường, họ đặt ra những quy định phức tạp để hạn chế sự lưu thông của tiền vốn (vốn liếng được tự do lưu hành rất khó ăn cắp), làm cho quyền sở hữu tài sản không an toàn (tài sản không được bảo vệ thì dễ cướp hơn), kiểm soát các lĩnh vực ngân hàng (đánh thuế dân thông qua lãi suất tiêu cực và dành tín dụng cho khách hàng ưu đãi được vay các món nợ lớn), duy trì các doanh nghiệp quốc doanh lớn (để chuyển tài sản đến những lãnh tụ đang kiểm soát các công ty này), và độc quyền thao túng các ngành chủ chốt (đánh thuế xã hội thuế một cách gián tiếp).

Xét trên phương diện so sánh, rõ ràng là các chế độ ăn-thịt-dân có phe đảng tập thể hoạt động trên môt mô hình phức tạp hơn và có xu hướng duy trì quyền lực lâu hơn sự bóc lột trắng trợn của các lãnh tụ cá nhân độc tài. Tuy rằng hành vi cướp của tiệm tiến như vậy có thể dễ thở hơn chuyện tước đoạt một cách trắng trợn/nhanh, điều này không làm an tâm các doanh nhân tư và những người dân bình thường phải sống dưới một chế độ như vậy khi họ chứng kiến một phần đáng kể của sự giàu có khó kiếm của họ bị tước đi mà không có sự đồng ý của họ. Tuy rằng các phương tiện cướp bóc tiệm tiến có thể tinh vi và kín kẻ hơn, cuối cùng người dân và doanh nghiệp tư nhân cũng sẽ nhận thực được hệ thống này là gì và sẽ mất động cơ để làm việc. Hơn nữa, tuy rằng hệ thống ăn cướp tiệm tiến có thể đem lại nhiều thịnh vượng hơn so với hệ thống cướp bóc trắng trợn/ồ ạt, nó vẫn là một hệ thống kinh tế cực kỳ què quặt. Dưới một hệ thống như vậy, nguồn tài nguyên quý giá đang bị lãng phí trong các dự án được các nhà cai trị ưa chuộng bởi lẽ các dự án này có thể giúp họ đảm bảo được hậu thuẫn chính trị hay mang lại lợi ích cho gia đình và tay sai của họ.

Quan điểm nhà nước bóc lột cung ứng cho ta một cái nhìn sâu hơn và đáng lo ngại hơn về nguyên nhân sự suy thoái kinh tế của Trung Quốc. Nếu chúng ta nhìn lại các định chế và hoạt động kinh tế trọng tâm của Trung Quốc, chúng ta có thể nhanh chóng khám phá một hệ thống ăn cướp tiệm tiến kinh điển: một vốn tài chánh khép kín, không có một sự bảo vệ đáng kể nào đối với tài sản cá nhân, nhà nước độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng và các ngành công nghiệp chủ chốt (như viễn thông và năng lượng), các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ (chiếm ít nhất một phần ba tổng sản lượng trong nước), và một ngân sách chính phủ hoàn toàn mờ ám.

Cái xấu ít hơn của hai tệ nạn

Một chuyện khó hiểu là làm thế nào một hệ thống cướp ngày tiệm tiến như vặy đã có thể tạo ra một phép lạ kinh tế trong vòng 35 năm qua? Thật ra câu trả lời cũng chẳng khó tìm. Vì lúc nào hiệu suất xấu kinh tế cũng chỉ tương đối. Có lẽ chuyện ăn cướp một cách tiệm tiến kém hiệu quả hơn so với các hệ thống tư bản tự do vì được nhà cầm quyền chế tài chuyện bóc lột xuống mức tối thiểu, nhưng nó lại hiệu quả hơn cướp bóc nhanh. Trong trường hợp Trung Quốc, hai yếu tố – một lịch sử và một cơ cấu – đã cho phép các hoạt động ăn cướp tiệm tiến tiếp tục mà không làm suy sút nền kinh tế trong thời kỳ hậu-Mao Trạch Đông.

Một sự thật lịch sử là hoạt động ăn cướp chậm đã thay thế một hệ thống tồi tệ hơn nhiều: nguyên tắc chủ nghĩa toàn trị của Mao đã hoàn toàn cấm cản kinh doanh và làm giàu cá nhân. Chắc chắn, sự khởi động kinh doanh sau khi Trung Quốc từ bỏ chế độ Mao đã vục dậy nền kinh tế, mặc dù điều này rất khó đo lường chất lượng một cách chính xác.

Một yếu tố khác đã giúp cho chuyện bóc lột ăn cướp tiệm tiến kéo dài mà không phá hủy nền kinh tế đến từ một số các điều kiện và diễn tiến một lần vô cùng thuận lợi, chẳng hạn như cổ tức nhân khẩu học, di cư từ nông thôn ra thành thị, toàn cầu hóa và chuyện Trung Quốc tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những yếu tố hỗ trợ nền kinh tế với mức hiệu suất cao mà Trung Quốc có thể đủ khả năng cướp bóc tiệm tiến (chậm), điều này được hiểu như là một hình thức đánh thuế.

Nhưng khi kinh tế Trung Quốc đã hết đà và bị hụt hơi, Trung quốc đã không đủ khả năng để trang trải ở mức độ này. Quan trọng hơn, số liệu thống kê kinh tế và tài chính của Trung Quốc ngày nay (do truyền thông internet) cũng được công bố nhiều hơn, đặc biệt là món nợ to như núi của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước đã cho thấy rằng chuyện tích lũy ăn cướp chậm cũng tai hại không kém gì cướp bóc trắng trợn/ào ạt.

Phân tích đen đủi này cho thấy rằng sự thách thức cơ bản đối với Trung Quốc liên hệ đến phạm trù chính trị chứ không phải kinh tế. Các điều kiện tiên quyết cho một cuộc cải tổ thật sự cần thiết để hồi sinh một nền kinh tế là phải tháo gỡ các trạng thái ăn thịt dân và hệ thống ăn cướp tiệm tiến. Nhưng đây là một phương án không thể thực hiện được, bởi vì điều đó có nghĩa là phá hủy các nền tảng kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Những ai không được thuyết phục bởi lý giải định mệnh này nên đọc “Tại sao Quốc gia bị suy thoái” và cũng cần nhìn lại các nước giàu có nhất thế giới. Họ sẽ thấy rằng ngoại trừ các nước sản xuất dầu mỏ, nơi các nhà lãnh đạo có thể đánh cắp của thiên nhiên, tất cả các xã hội giàu có khác đều nằm trong một guồng máy pháp trị thật sự do đó đã tránh được cả hai hành vi ăn cướp tiệm tiến và ăn cướp trắng trợn (nhanh).

M.P.

*Minxin Pei là một giáo sư dạy về chính quyền tại Claremont McKenna College và một thành viên thâm niên không thường trực của Quỹ Marshall Fund dành cho Đức quốc của Hoa Kỳ.

Chúng ta đang học để ngu

Chúng ta đang học để ngu

“Dân trộm dăm ba trăm ngàn thì bị tù mấy năm trời, thế mà quan tham nhũng trăm triệu, chục tỉ nặng thì cách chức, cho tù vài năm còn bình thường thì đứng lên nhận khuyết điểm, bị khiển trách rồi mọi việc đâu lại vào đó. Dân có đánh chết người thì nhẹ cũng 10-20 năm tù nặng thì chung thân tử hình, ấy thế mà công an, quan chức làm chết người thì xét công trạng rồi thì nặng lắm cũng vài năm ba năm tù còn bình thường cứ mấy năm án treo, cách chức”.

Triết học Đường phố

Joseptuat

12-9-2015

 

 

 

 

 

 

 

Photo: Đại Học Y Dược TPHCM

Một bộ phận dân chúng Việt Nam hiểu được quyền của mình, trách nhiệm của nhà nước trong xã hội nhưng số này còn ít lắm. Dân Việt Nam mình vẫn còn nhiều, nhiều người ngu ngơ về quyền lợi của mình trong xã hội, và vẫn mù quáng tin tưởng vào nhà nước như thời phong kiến dân tin vua là con thiên tử.

Ở cái thời đại này rồi mà nhiều người vẫn còn chấp nhận cái chân lý “yêu đảng là yêu nước”, nó giống như thời kì lạc hậu ngày xưa “yêu vua là yêu nước” vậy. Lòng yêu nước đã bị lợi dụng để duy trì quyền lực cho một dòng họ theo cái tục cha truyền con nối ở thời phong kiến, và nay nó dùng để duy trì sự cai trị vô lý của một đảng phái.

Các cụ ta ngày xưa đã mổ xé văn hoá Hán tộc ảnh hưởng như thế nào đối với xã hội Việt Nam, nhưng tưởng nó đã không còn mấy đậm nét trong sinh hoạt xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Ơi thế mà nó có mất đi đâu, nó chỉ biến dạng theo một cách khác kể từ khi cộng sản nắm quyền mà thôi.

Người Hán chấp nhận Vua là trung tâm của xã hội như vẫn từng hô hào họ là trung tâm của thiên hạ. Người Việt dù có kiến cường chống phương bắc tới đâu thì vẫn bị lệ thuộc họ trong nhiều cách khác nhau. Điều dễ nhận thấy là trong triết lý giáo dục của người Việt Nam từ xưa cho tới nay. Dân Việt tại sao dễ chấp nhận quyền cai trị độc tôn của đảng cộng sản như vậy? Tại sao thích kiểu yên ổn chuyên chính của chính quyền như vậy? Xét kỹ thì nhận ra rằng đó là do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, nó ngấm vào máu, vào tận xương tuý và được truyền lại từ vô thức của xã hội lên từng gia đình và cá nhân.

Dân trí thấp không phải là ở chỗ đất nước có bao nhiêu người biết đọc, biết viết mà là ở chỗ còn bao nhiêu người tôn thờ nền quân chủ. Có người đã nói Việt Nam bây giờ chỉ là sự phát triển của chế độ phong kiến theo máu mũ ngày xưa. Vẫn chỉ là chế độ lấy nhân trị, tức là xã hội dù có luật pháp thì tính nghiêm minh phù thuộc vào quyết định, cảm tình của con người.

Dân trộm dăm ba trăm ngàn thì bị tù mấy năm trời, thế mà quan tham nhũng trăm triệu, chục tỉ nặng thì cách chức, cho tù vài năm còn bình thường thì đứng lên nhận khuyết điểm, bị khiển trách rồi mọi việc đâu lại vào đó.

Dân có đánh chết người thì nhẹ cũng 10-20 năm tù nặng thì chung thân tử hình, ấy thế mà công an, quan chức làm chết người thì xét công trạng rồi thì nặng lắm cũng vài năm ba năm tù còn bình thường cứ mấy năm án treo, cách chức.

Có người vi phạm luật pháp nghiêm trọng báo chí, nhà nước tung lên là bị kỷ luật, bị xử phạt nghiêm minh nhưng thực tế thì di chuyển công tác, có khi lại còn nhận chức vụ cao hơn trước khi phạm luật.

Nói ra để thấy, cái xã hội Việt Nam ngày hôm nay có khác mấy cái thời lạc hậu, man rỡ thời phong kiến ngày xưa đâu. Cụ Phan Châu Trinh ngày trước đã từng nói “chúng ta đã thua thế giới văn minh gần một thể kỷ về văn hoá, kinh tế, khao học kỷ thuật”, đó là cụ so sánh Việt Nam với Pháp, Anh, Nhật, Mỹ chứ bây giờ Việt Nam mình còn để cả Lào, Campuchia vượt mặt về nhiều mặt. Chả mấy chốc mà họ sẽ không để ta sau lưng mấy chục năm đâu.

Dân đen đã mù mờ về quyền công dân của mình trong xã hội đã đành, kể cả tầng lớp tri thức cũng đâu khá hơn là mấy. Ngày trước học là để thi khao cử với hi vọng kiếm chút công tước cho dòng họ nở mày nở mặt. Phục vụ đất nước cũng chỉ là trung thành tuyệt đối với vua, chứ đâu mấy ai nghĩ tới chuyện đem công bằng, bác ái đến cho tầng lớp dân đen đâu. Cái câu “một người làm quan cả họ được nhờ” chả phải là lý tưởng và mục đích của tri thức Việt Nam ngày xưa sao. Cái thói học với mong muốn kiếm chút bổng lộc từ triều đình đã đưa đất nước tụt quá xa so với thế giới. Tri thức thay vi nâng cao hiểu biết cho dân thì lại xem những gì mình có, mình học như là cái quyền để cưỡi lên đầu lên cổ người khác. Ấy là tôi nói về thời phong kiến ngày xưa, còn bây giờ nền giáo dục có khác nhau là mấy so với trước đây đâu, có khi nó còn tệ hơn chứ nói gì tốt với đẹp.

Nhìn hàng trăm, hàng nghìn tiến sĩ, thạc sĩ bám đít lũ quan tham, nhóm lợi ích để cầu danh, cầu lợi, cầu nhà, cầu xe là nhận thấy cái gọi là tri thức Việt Nam cũng chỉ là một lũ cộng nô. Ngay xưa học mà không đi đôi với thực tế thì gọi là hũ nho, ngày nay học để làm tôi mọi cho lũ quan to, bụng phệ dù trong đầu bọn tham ô câu chữ viết chấm phẩy còn không xong, thì tri thức không là cộng nô, hũ bại là còn gì.

Dân đen là thế, tri thức cũng không nhờ cậy được gì, thế còn chính quyền thì sao?

Nói ra thì nói là phản động, là bôi xấu lãnh đạo nhưng thực tế thì bọn họ cũng đâu khá hơn là mấy. Cái bọn này còn tệ hơn đám tri thức rơm kia, vì bọn chúng có trong tay quyền lực, được đi đây đó, hiểu biết thực tế nhiều hơn dân đen, ấy thế mà tụi nó lại đi làm Hán nô cho ngoại bang. Không đổ lội hết quan chức bây giờ là thân Trung Cộng, nhưng có mấy vị tại to mặt lớn mà không bám đít nhà Hán. Cái khác biệt lớn nhất của chính quyền hiện nay so với thời phong kiến là đây.

Quan chức phong kiến có thể vì lợi mà hà hiếp dân chúng, chứ ít khi vì lợi mà nhu nhược, bán đất, bán biển, bán rừng cho nhà Hán, ấy thế mà cái thời đại cộng sản bọn họ không chỉ tham lam, độc ác với dân mà còn nhu nhược, hèn nhát và đê tiện trước mặt ngoại bang. Bọn họ chơi chính trị theo kiểu đĩ điếm, sẵn sàng ăn nằm với bất kì ai nếu họ đem lại lợi ích cho mình.

Trước thì bám đít Liên Xô xem Trung Cộng là kẻ thù, gọi là phản động nên Trung Cộng nó xua quân đánh dọc các tỉnh biên giới bắc Việt Nam, đẩy hàng trăm nghìn con dân Việt chết vì mình. Đến khi Liên Xô sụp đổ thấy quyền lợi bị lung lay thì khúm núm, quỳ lại xin Trung Cộng chống lưng, và để thoả mản cái danh vọng quyền lực thì đi đến cái “hội nghị thành đô” chấp nhận nhường đất, nhường biển để làm chư hầu cho Trung Cộng.

Tri thức thì cộng nô, còn chính quyền lại là Hán nô thì thử hỏi đât nước mình là cái gì đây?

Cả một chăng đường lịch sử dài gần mấy ngàn năm, có cả một nền văn hiến lâu đời nhưng thứ hỏi xem có mấy ai biết hình hài đất nước mình như thế nào? Dân đen thì nghĩ phục tùng chính quyền, tôn thờ lãnh tụ là yêu nước. Tri thức thì khôn ranh hơn, yêu nước là yêu cái chức vụ của mình, cố làm sao đừng để nó lung lay là coi như yêu nước. Còn chính quyền thì toàn một lũ vừa tham, vừa thâm, vừa ác nên yêu nước là phải nhất quyết duy trì chế độ đến tính mạng dân đen cuối cùng. Đất nước là vậy đó, chỉ là nồi cơm, cái ghế và danh vọng của từng người, từng nhóm nhỏ nào đó. Thế mà nhiều kẻ vẫn hô hào lòng yêu nước, giảng dạy về lòng yêu nước, và bỏ tù những ai dám thể hiện lòng yêu nước.

 

 

 

 

 

 

 

Có viết trăm bài viết, kể trăm câu chuyện thì cũng chỉ là lập lại lời của tiền nhân trước đây. Các bậc tiền nhân có tâm, có tài đã mổ xé rất chi tiết, đã chỉ ra đâu là nguyên nhân khiến Việt Nam mãi mãi chỉ lết theo đít những nước phát triển chậm. Phương pháp cũng đã được nêu ra làm thể nào để đưa đất nước thoát khỏi cảnh “không chịu phát triển”, trong đó người viết ấn tượng về chủ trương “Khai dân tri”, “Chấn dân khí” và “Hậu dân sinh” của cụ Phan Châu Trinh. Không gì bền vững và ổn định cho bằng sự thay đổi tận căn các nguồn lực của đất nước, và chỉ có một con đường duy nhất là “học”.

Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

Song Chi.

RFA


Trong cuộc đời hoạt động “cách mạng” của mình, ông Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bút danh khác nhau. Bài “Sưu tầm tên gọi, bí danh và bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ” đăng trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, đã kê khai ông Hồ có khoảng 175 tên gọi, bí danh, bút danh, ngoài ra “Hiện vẫn còn khoảng 30 tên gọi, bí danh, bút danh được cho là của Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cơ sở để khẳng định chắc chắn hoặc chứng minh cụ thể Bác đã dùng vào thời gian nào, trong trường hợp nào, nên vẫn chưa thể công bố chính thức”.
Từ lâu, cũng chính nhờ đảng và nhà nước này công bố, mà người dân mới biết Trần Dân Tiên, người viết cuốn tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” xuất bản lần đầu tiên tại Trung Hoa năm 1948 và tại Paris năm 1949 (theo Wikipedia) chính là Bác Hồ. Trong một cuốn tiểu sử khác, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” xuất bản lần đầu năm 1950, Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi hành quân, vừa đi vừa hỏi chuyện Chủ tịch và ghi chép lại. Như vậy ông Hồ chỉ có 2 cuốn gọi là “tiểu sử” được phổ biến rộng rãi, in ra nhiều thứ tiếng, thì cả hai đều do chính ông Hồ viết ca tụng mình.
Việc ông Hồ từng làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô và đảng cộng sản Trung Quốc, nhận tiền của Liên Xô và Trung Quốc là chuyện chả phải mới mẻ gì. Chỉ cần ngay trong bài này cũng thấy.
Chẳng hạn, làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô:
“Chen Vang, 1923. Ngày 13 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Paris đi Liên Sô, Tổ Quốc Cách Mạng. Ngày 16 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Đức. Tại đây, Nguyễn được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Sô Viết Liên Bang tại Berlin cấp cho giấy đi đường số 1829. Trong giấy này Nguyễn Ái Quốc mang tên Chen Vang.”
Làm việc cho Trung Quốc:
“Hồ Quang, 1938. Hoạt động ở Trung Quốc cuối năm 1938. Nhờ quan hệ Liên Sô và Trung Quốc nên Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc dễ dàng. Tại Lan Châu thủ phủ tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc mang phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang.”
Lý Thụy cũng là một bí danh của ông Hồ.
“Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc.”
Có một dạo trên nhiều trang blog, trang mạng xã hội xôn xao trước thông tin Lý Thụy, tức ông Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp. Và thông tin đó từ đâu ra, từ thế lực thù địch nào? Không, từ cuốn “Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân Từ điển” của tác giả Trịnh Vân Thanh do NXB Văn học, Hà Nội phát hành năm 2008.
Ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
“Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn thể giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc”, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1. Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2. Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong Việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.”

Tất cả những chuyện này nhiều người cũng đã biết.
Tôi nhắc lại chỉ là vì gần đây được biết thêm cái bút danh Trần Lực của ông Hồ Chí Minh khi viết cái truyện ngắn “Giấc ngủ mười năm”. Trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam đăng toàn bộ truyện ngắn này, và cho biết: “Giấc ngủ mười năm” viết năm 1949, Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc năm 1949. In trong sách “Hồ Chí Minh, Truyện và ký” của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1985″.
Trong bài “Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam” đăng trên website Viet-Studies, nhà văn, dịch giả Ngô Tự Lập tìm cách chứng minh ông Hồ Chí Minh là cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng VN qua hai truyện ngắn “Con người biết mùi hun khói” “Giấc ngủ mười năm”.
Ở đây tôi không tranh cãi về văn phong, bút pháp của truyện “Giấc ngủ mười năm”, cũng không tranh cãi truyện này hay hay dở, nhưng điều làm tôi cảm thấy rờn rợn là những đọan mô tả tội ác của Pháp.
Đoạn đó như sau:
“Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà.
Có khi bắt được đàn bà có thai, chúng nó trói lại như trói lợn, rồi đánh đố với nhau. Thằng thì đoán chửa con trai. Thằng thì đoán chửa con gái. Rồi chúng nó mổ bụng người đàn bà chửa, móc đứa con trong bụng ra coi. Thằng nào đoán trúng thì được tiền hoặc thuốc lá.
Có khi chúng nó bắt đàn bà, trói chân, trói tay lại, lột truồng hết áo quần rồi cho chó con bú cụt cả đầu vú. Người đàn bà vô phúc van khóc chừng nào, thì Tây reo cười chừng ấy.
Bắt được người già và thanh niên, chúng nó chọc tiết, chôn sống, chặt đầu, phanh thây, hoặc treo thòng lòng trên cành cây, chất củi thui. Có khi chúng nó bắt ăn thuốc viên, nói là thuốc chữa bệnh. Nuốt xong chừng mấy phút đồng hồ thì trợn mắt lăn ra chết, cả mình mẩy tím bầm.
Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt.”

Tôi cảm thấy rờn rợn, không phải vì tội ác của Pháp (một người có nhận thức, hiểu biết bình thường nào cũng chẳng tin nổi những điều này là có thực) mà chính vì cái cách mô tả, cái khả năng tưởng tượng ra những tội ác kiểu như vậy và việc tuyên truyền bất chấp sự thật của những người cộng sản, như họ cũng đã từng tuyên truyền Mỹ ngụy ăn thịt người.
Cho đến nay, Hồ Chí Minh đối với rất nhiều người dân VN vẫn là thánh sống, là tượng đài không dễ gì bị lật đổ. Không chỉ trong những người còn tin tưởng vào đảng, vào chế độ, ngay nhiều người có tư tưởng chán ghét chế độ này, vẫn luôn luôn nói rằng “Nếu còn ông cụ, mọi chuyện sẽ khác, nếu còn ông cụ đất nước không thể như thế này” và mọi sai lầm, đổ đốn của đảng và nhà nước này là chỉ từ khi ông cụ mất, thậm chí mãi về sau này, chứ còn giai đoạn đầu thì không thế v.v…Nắm được điều đó, đảng và nhà nước cộng sản vẫn tiếp tục bám vào cái bóng của ông Hồ, từ việc phát động phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cho tới những tượng đài Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục được xây lên ở khắp nơi…
Rồi đây lịch sử sẽ được viết lại, nhiều sự thật sẽ được đưa ra ánh sáng. Tôi vẫn luôn tin rằng cuộc đời thật, chân dung thật của nhân vật Hồ Chí Minh sẽ còn có nhiều, nhiều “bất ngờ” hơn nữa, ngoài vô số những “bất ngờ” đã hé lộ dần trong thời gian qua, bất chấp việc đảng và nhà nước cộng sản VN cố công bưng bít, tô vẽ thành huyền thoại. Chỉ có điều, cho đến giờ phút này hình như vẫn chưa có người Việt nào chịu khó bỏ công ra viết những cuốn sách công phu như cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng, Trung Quốc hay cuốn “Những điều chưa biết về Mao” (“Mao-an unknown story”) của hai tác giả Jung Chang và Jon Halliday. Được biết, hai vợ chồng tác giả, cô Jung Chang và ông Jon Halliday đã bỏ ra gần 10 năm trời để viết, đã đi về Trung Quốc hàng mấy chục chuyến để thăm lại tất cả những vùng mà ông Mao Trạch Đông đã đi qua cũng như đã đi nhiểu nơi trên thế giới để gặp hàng trăm người từng biết, từng gặp Mao Trạch Đông khi còn sống hầu có được những tài liệu sinh động nhất, chân thực nhất, và cuối cùng họ đã hoàn tất tác phẩm đồ sộ này.
Tin rằng nếu ai đó bỏ công sức ra để viết về nhân vật Hồ Chí Minh cũng sẽ gặt hái được kết quả rất đáng công và chân dung của nhân vật Hồ Chí Minh có lẽ còn muôn mặt, muôn màu không kém, thậm chí hơn cả chân dung thật của Lenin hay Mao Trạch Đông

Chú viết báo tếu quá dám mó chúng nó

Chú viết báo tếu quá dám mó chúng nó

Ngô Nhân Dụng

Nguoi-viet.com

Nhà báo Ðỗ Hùng vừa mới bị một thứ trưởng bộ Thông Tin Truyền Thông (4T) rút thẻ nhà báo vì viết trên trang facebook của mình một bài “tếu.” Tếu nghĩa là đùa cợt, nói chơi để cười cho vui. Chỉ viết tếu thôi mà bị mất chức phó tổng thư ký, mất thẻ là mất cả quyền làm nghề viết báo, cúi đầu nhận lỗi mất luôn cả danh dự.

Cái tội chính của nhà báo Ðỗ Hùng, tức Mít Tờ Đỗ, là tếu. Cái óc hài hước này rất quý, loài người mà không biết cười thì chẳng khác gì đười ươi. Mít Tờ Đỗ nghĩ ra một trò tếu, kể một chuyện toàn bằng dấu sắc. Thích quá nhịn không được, bèn đưa vào facebook cho bạn bè đọc chơi. Thế là mang vạ!

Điều tội nghiệp cho nhà báo này, là ngay trong lúc tếu anh ta vẫn cố giữ “đúng lập trường” của một đảng viên cộng sản! Anh không hề chỉ trích mà chỉ ca tụng Đảng! Nếu quý vị chưa đọc đủ chuyện này thì tôi xin dẫn ra mấy câu trong bài của Ðỗ Hùng để coi có thể nào gán cho anh ta là “chống cộng” hay không: “Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát xít. Phía Phát xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía Đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc. Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh phát xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bốt, cứ thế đánh tới bến.”

Đỗ Hùng làm đúng bổn phận một đảng viên, đã ca tụng những công trạng đảng, như “bác Ái Quốc, tướng Giáp” … “đánh Phát xít, đánh Pháp,” dù đó là những chuyện không có thật. Thực ra ai cũng biết trước ngày 19 tháng Tám năm 1945 Nhật đã đầu hàng rồi; còn quân lính, sĩ quan Pháp còn đang bị Nhật nhốt trong tù. Các bác ấy chỉ cướp lấy quyền trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam kể từ thời Pháp thuộc. Nhưng là một đảng viên nên Ðỗ Hùng vẫn cứ ca tụng “các bác” theo đúng sách lịch sử đảng. Đỗ Hùng “giữ lập trường” rất kỹ, tránh không nhắc cả đến tên nước Mỹ. Ai cũng biết Mỹ đã đánh thắng Nhật Bản, nhưng Hùng viết rằng “Phía Đế quốc thắng lớn,” làm như Nhật Bản không phải là một đế quốc. Đỗ Hùng khen đảng mà lại muốn tếu viết toàn dấu sắc, tưởng quá lắm cũng như làm Thơ Bút Tre mà thôi! Ấy thế mới chết!

Một độc giả Người Việt, ông hay bà ký tên ClassicalMood đã nhại lối văn tếu này để tỏ lòng thông cảm với Đỗ Hùng: “Chú bốc máu, thiếu lý trí nói quá gáy nó giáng chức…. Nếu đám hiếu chiến nó nuốt sống, chú hết hí hoáy. Nhớ đến chết tránh chiếu ánh sáng cái trái hướng tới cái tốt; chớ mó máy lý thuyết, giáo phái, gái gú chắc chắn chú sống tới lúc chết.” Một vị độc giả khác, DukeVan còn giải thích: “chính cách viết thấu cáy thách đố đó mới giết chết chú viết báo xấu số, dám chống đối đám dốt nát” Và nhân đó khen: “Các chú viết báo trí thức khá lắm, khí phách lắm. Các chú có chức, có tiếng thế chứ, dám quyết chí tố Bác lí nhí lấp liếm quốc khánh, “móc” chú Giáp thấp kém. Viết thế đám cán ngố Pác Bó dốt nát tức ói máu muốn chết.”

Cái kiếp nhà văn, nhà báo phải sách cặp đi hầu các “cán ngố” rất tội. Vì đám cán ngố không biết tếu! Cán Trương Minh Tuấn, thứ trưởng bộ 4T sung sướng công bố rằng Đỗ Hùng đã ăn năn hối lỗi: “Hùng thừa nhận và cam kết (từ nay) chỉ sử dụng facebook để từ thiện, nghiệp vụ báo chí và không đề cập các vấn đề nhạy cảm, đã thừa nhận những sai phạm từ 2014, chấp nhận mọi hình thức kỷ luật.” Nhờ thế còn giữ được một chỗ ngồi ké trong toà báo. Theo Bích Minh, trong bài “Cuộc đấu đá ngầm đằng sau vụ nhà báo Ðỗ Hùng bị tước thẻ” trên trang mạng Viet Studies, thì nhà báo Ðỗ Hùng gặp nạn chỉ vì Thứ Trưởng Trương Minh Tuấn muốn lập công đánh báo chí, hy vọng sẽ được cất nhắc. Anh bị dùng như “một ‘xác chết’ được đạp xuống để Tuấn 4T tiến lên cao hơn trên bậc thang quyền lực.”

Đỗ Hùng đã bị Quan 4T cấm không cho cười! Dù chỉ cười trong đám bạn bè. Đúng là cười trong đám bạn bè, không ra công chúng. Bởi vì facebook dù gọi là “mạng xã hội” nhưng vẫn là một cõi riêng tư; không phải nơi công cộng như trên một tờ báo bán ra, ai coi cũng được.

Facebook là một mạng lưới của những người quen biết nhau, một nhóm riêng, tự nguyện gia nhập, không phải của cả “xã hội.” Viết trên facebook, người ta chỉ cốt nói riêng với một số bạn bè có liên lạc với mình, không viết cho cả “xã hội,” cho bàn dân thiên hạ đọc.  Người nào dịch “social network” là “mạng xã hội” đã dịch sai nghĩa; rồi mọi người cứ nhắm mắt dùng theo, lâu ngày quên cả cái nghĩa “riêng tư.” Chữ “social” đứng trước chữ network chỉ có nghĩa là “giao du,” đem dịch là “xã hội” tức là làm sai nghĩa gốc. Như một “asocial event” có nghĩa là một cuộc tập họp, tiệc tùng, vân vân, không phải công việc của cả xã hội. Ai không hiểu đúng nghĩa đó, mở tự điển coi rồi ghép hai chữ lại, dịch đại là “biến cố xã hội” là … giết cả chữ nghĩa. Từ “civil society” mà dịch là “xã hội dân sự” cũng vậy, chỉ ghép hai nghĩa dễ thấy trong tự điển mà thôi; mất luôn nội dung quan trọng nhất của civil society là cách gọi chung những tổ chức của các công dân tự do, tự nguyện và độc lập.

Viết trên facebook cũng giống như ngồi uống cà phê với nhau, tha hồ nói tếu, tha hồ chọc ghẹo, có khi vui đùa chửi nhau, văng tục ra cũng chẳng ai “để bụng.” Vì ai cũng biết, đó là chỗ riêng tư, nghe rồi bỏ qua. Nếu có ai vào facebook của một người rồi đem chuyển cho người khác, thì cũng giống như người ta thuật lại một câu nói tếu trong quán cà phê, ai cũng biết nghe qua rồi nên bỏ!

Nhưng các quan cộng sản không có thói quen nghe qua rồi bỏ. Họ đã được đào tạo trong một xã hội mà người dân có bổn phận lén nghe hàng xóm nói, rình mò coi hàng xóm ăn món gì, để báo công an lập công! Ai lỡ nói gì là họ ghim lấy trong đầu để có dịp là “mách bu” cho nó chết. Ngày xưa mấy văn nô tố cáo Trần Dần đã dùng chữ “Người” để nói về con người chung chung, thế là đủ chết, vì “phạm húy.” Chế độ cộng sản không chấp nhận một “không gian tư nhân.”

Tội của Đỗ Hùng là do cái tính tếu. Nhưng trong một chế độ do các ông “Nghiêm Văn Túc” cầm quyền thì không được tếu tự do! Trong chế độ cộng sản, óc hài hước cũng bị hạn chế giống như khi mua gạo, phải có tem phiếu. Ai cũng vẫn có thể mất hộ khẩu trong “làng tếu.” Tếu trên lề bên phải thì được, bước chệch một bước là bị chúng nó thiến! Vua Hài Liên xô Yakov Smirnoff kể rằng mỗi năm một diễn viên hài hước phải nạp trước các đề tài và câu chuyện cho Sở Kiểm duyệt, rồi suốt năm chỉ được nói trong vòng cái “giáo án” đó mà thôi. Nếu trong lúc đang diễn trên sân khấu mà có khán giả la lối chê bai, anh chỉ có thể hẹn: “Yêu cầu sang năm đồng chí trở lại đây, tôi sẽ có câu trả lời được sở kiểm duyệt chuẩn y!” Vua hài Smirnoff cho biết ông có thể kể chuyện cười về loài vật, về tôm cá, hay về các bà mẹ chồng, mẹ vợ; nhưng không được đụng tới chuyện chính trị, nhà nước, tôn giáo, và tính dục.

Thí dụ, Smirnoff kể chuyện cô anh kiến kết hôn với một anh voi. Sau đêm động phòng, chú rể lăn ra chết. Cô dâu khóc: “Anh ơi, từ nay suốt đời em sẽ chỉ lo đào hố chôn anh!” Chuyện tếu về kiến với voi thì được, không cấm. Nhưng thử nghe một câu chuyện khác. Một khách hàng đi mua xe hơi Lada. Sau khi thu tiền, người bán hẹn: “Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có xe, mời ông tới lấy.” Khách hỏi: “Thưa đồng chí, lúc mấy giờ?” “Ông này lạ, 20 năm nữa kia mà? Hỏi giờ trước làm cái gì?” “Thưa đồng chí, vì sáng hôm đó tôi đã có hẹn. Ông thợ sửa ống nước hẹn tới lúc 10 giờ!” Câu chuyện này thì bị cấm. Nó thuộc về một “vấn đề nhạy cảm,” theo lối nói của các cán ngố ở Liên xô thời 1950 – 1990, và Cán ngố Trương Minh Tuấn bây giờ.

Nhưng không ai có thể đoán trước tất cả những gì là nhạy cảm, cái gì không nhạy! Có lúc cái máu tếu nổi lên, quên hết cả. Trong thời còn chế độ cộng sản, Đông Đức là nơi sung túc nhất Đông Âu, thực phẩm đủ no. Ba Lan thì dân được nói tếu nhiều hơn nhưng đói hơn (vì con bò sữa Ba Lan có cái vú rất dài, bên Nga vẫn vắt sữa). Có một con chó Ba Lan đi trên đường qua Đông Đức kiếm mẩu xương, thấy có con chó Đông Đức đang đi ngược chiều. Nó hỏi: Sang bên tớ làm gì? Có cái chó gì mà ăn đâu? Con chó Đông Đức đáp: Tớ no bụng! Nhưng lâu lâu cũng muốn sủa mấy tiếng cho nó sướng miệng chứ!

Đấy, cái nhu cầu muốn nói cho sướng miệng nó làm hại một nhà báo! Đỗ Hùng ngứa miệng quá, quên mất mình đang làm công chức được đảng trọng dụng, phạm ngay cái tội mà ngày xưa nhà văn Chu Tử (báo Sống, xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1966) gọi là “mó dế ngựa.” Sờ một cái sẽ bị ngựa nó đá cho. Mó dế chó thì chắc chắn bị nó cắn tay.

Đỗ Hùng đã “phấn đấu vào đảng,” đã đạp lên trên bao nhiêu đồng đảng khác để leo lên được cái ghế phó tổng thư ký, có cơ hội “thắt cà vạt đỏ, đi giầy da vàng, ăn tiệc nhồm nhoàm, bay đó bay đây,” theo cách mô tả của nhà văn Nguyễn Tuân, mà tại sao lại dại dột đi “mó dế chó” như vậy? Có thể giải thích do cái máu tếu nó mạnh quá, quên đi cả những quyền lợi phải vất vả mới được hưởng. Nhưng có một lý do quan trọng, là khung cảnh xã hội chung quanh đang thay đổi.

Xã hội Việt Nam đã thay đổi rất nhiều. Như Lưu Quang Vũ đã viết từ thời 1980: Dưới hạ giới chúng nó hết sợ từ lâu rồi! Dân gian đổi trước, đảng viên đổi sau, cán bộ cũng đổi nhưng đổi chậm hơn. Xã hội giờ hiện đang thay đổi với tốc độ gia tăng, mỗi ngày một nhanh hơn, một bạo hơn. Sống trong cảnh chung quanh ai cũng hết sợ, chính những công chức nhu mì ngoan ngoãn nhất cũng “sinh nhờn!”

Một thay đổi lớn trong xã hội là người ta nhìn thấy chế độ đang rạn nứt rõ ràng. Từ trên xuống, đấu đá nhau công khai, không thằng nào nể mặt thằng nào. Bộ mặt thật hiện ra, chính chúng nó không thấy cần phải che đậy nữa. Nhà văn, nhà báo ý thức cảnh phá sản của đảng cộng sản nhậy bén hơn dân thường. Những người còn muốn giữ phẩm tiết đã lánh xa chúng nó. Các nhà văn lập văn đoàn độc lập. Các nhà báo lập Câu lạc bộ nhà báo tự do. Những người còn phải lụy chúng vì miếng cơm manh áo thì ngoài miệng vâng vâng dạ dạ nhưng trong bụng chửi thầm. Ai cũng chờ tới khi nắm chắc cái sổ lương là viết những lời “ai điếu” cho chính mình, như Chế Lan Viên, như Nguyễn Khải.

Chú viết báo tếu quá. Với máu tếu chú dám mó dế chúng nó, chúng nó mới cắn chú. Chú không biết đám cán ngố bắt chước bác chúng nó thích nói thánh nói tướng chứ không biết tếu!

Nhớ nhớ, quên quên!

Nhớ nhớ, quên quên!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Khi cố nhớ là đã quên một nửa,
Lúc muốn quên là nhớ đến tận cùng!
(Không biết của ai)

Lâu nay, bước vào tuổi già, tôi bắt đầu nhận thấy mình quên rất nhiều thứ. Bệnh mất trí nhớ, nôm na là bệnh quên của người già hiện nay rất phổ biến. Đó là “chứng hay quên” do tuổi tác, nhưng cũng có thể là biểu hiện ban đầu của sa sút trí tuệ của mình.

(Hình minh họa: Sebastien Bozon/AFP/Getty Images)

Trong khi có người quên chuyện xưa, quên quá khứ thì cũng có người quên mặt người, quên tên. Tôi là một người có chứng bệnh hay quên tên người, và đó cũng là một trở ngại trong lúc giao tiếp với bạn bè. Có lần gặp lại một người bạn rất thân ngày xưa, đáng lẽ phải kêu tên bạn lên một tiếng mừng rỡ cho vui lòng mình mà cũng toại lòng bạn, nhưng chỉ đứng đó mà ú ớ, gọi một tiếng “mày” mà lòng bấn loạn, có cảm giác tội lỗi vì nhớ tên bạn không ra.

Nhưng có lẽ trên đời này, không phải riêng tôi mắc bệnh quên!

Tôi kể bạn nghe một câu chuyện khá buồn cười.

Cách đây không lâu, hai vợ chồng tôi đi ăn cháo Chợ Cũ, mới mở cửa vào, tôi thấy vợ chồng một người ở trong Hội Đồng Quản Trị nhật báo Người Việt, người mà tôi rất quen biết, cũng có lần ngồi uống cà phê với nhau ngoài phố, mà lần này bất chợt, tôi không thể nào nhớ ra nổi tên anh. Hơi ngượng và biết cái bệnh của mình, lựa lúc anh chưa trông thấy tôi, tôi kiếm chỗ ngồi, chú ý lựa chỗ quay lưng lại với anh.

Trong khi vợ tôi gọi món ăn, tôi cố gắng nặn óc mãi mà nghĩ không ra cái tên ông này. Một ý nghĩ thoáng qua, tôi nói với vợ tôi: “Anh ra ngoài xe một tí.”

Ra đến xe, tôi lục tìm mấy tờ báo Người Việt cũ, vào trang hai, rà tìm ở chỗ Hội Đồng Quản Trị, thì ra ông này là Nguyễn Phước Quan!

Bước trở lại vào quán, lần này tôi hiên ngang bước lại bàn vợ chồng anh Quan đang ngồi, đưa tay ra, tự tin kêu lên một tiếng, “Chào anh chị Quan, lâu ngày!” Anh Quan đứng dậy bắt tay tôi, vẻ bối rối thấy rõ. Nửa nhìn tôi, nửa quay sang vợ, anh nói, “Ai đây, xin lỗi, tôi quên!” Có lẽ biết bệnh chồng, chị Quan cười, “Anh Huy Phương đây chứ ai!”

Nếu chị Quan không “cứu bồ” có lẽ anh Quan cũng sẽ phải lâm cảnh ngượng ngùng. Nếu như anh chị Quan biết tôi vừa chạy ra xe để tìm cho ra cái tên anh, có lẽ anh sẽ buồn cười hơn, nhưng tôi đã “ăn gian” không kể lại chuyện này.

Phụ nữ thường có trí nhớ tốt hơn đàn ông, bằng chứng là tôi gặp chị Quan có một lần ở tòa soạn, mà chị còn nhớ ra tôi, trong khi anh Quan và tôi khá thân mà lâm cảnh “quên” này. Có lần tôi gặp một người bạn cũ trong một quán cà phê, tôi cố gắng lắm cũng không nhớ ra tên. Lần ấy, tôi cũng chạy ra xe, không phải để lục tờ báo cũ, mà để gọi về nhà cho vợ. Tôi mô tả cái ông bạn, ngày xưa làm chung, nhà ở đường Trần Quốc Toản, có vợ người Nha Trang, ông tên chi, anh quên mất! Không một phút ngần ngại vợ tôi có ngay câu trả lời: – Ông Lâm!

Cũng vì cái trí nhớ tốt của phụ nữ, cho nên đàn ông mới khổ.

Câu hỏi mà tôi băn khoăn là ở một phần não thùy nào đó, chỗ để tên người của tôi đã bị hao mòn, thì tôi có tội gì không? Có lắm điều tôi muốn quên, mà càng về già, càng nhớ rõ, không quên được, nhất là chuyện cũ, trong khi có nhiều điều mới xảy ra đây thôi, cố nhớ mà nhớ không ra!

Muốn độ lượng thì phải quên, muốn sống vui thì nên quên. Muốn đạo đức thì tâm phải hư (tiết trực- tâm hư) lòng phải rỗng không, như cái ống tre rỗng ruột, không để bụng một điều gì, không vướng bận điều gì, không canh cánh bên lòng chuyện chi.

Càng về già người ta càng ít nhớ chuyện hôm qua, nhưng càng về già càng nhớ dai những chuyện đã như xa lắc xa lơ.

Người ta thường than các bậc già nua bắt đầu lẩm cẩm, quên không biết cái chìa khóa xe để đâu, cái ví vứt chỗ nào, nhưng vẫn thường nhớ nói chuyện cũ vanh vách. Đó là cái thời xa xưa, dễ chừng cách đây đã nửa thế kỷ. Những trận đánh để đời, vết thương này ở đâu ra, người bạn thân chết ở chiến trường nào. Rồi những ngày đi qua những trại tù non cao, nước thẳm, mịt mù những nỗi đau đớn, buồn phiền, không có một ngày vui. Có ngày về sum họp nhưng cũng có ngày về chia lìa.

Định mệnh Việt Nam vẽ nên những cảnh đời khác biệt, nên có những ngày vui mà cũng có ngày buồn. Mỗi người ra đi mang theo một cuốn tiểu thuyết của đời mình, nhưng chuyện kể có khi không người nghe. Có bầy con cháu nào đủ thời gian và kiên nhẫn để ngồi nghe một ông già ở xứ sở nào xa lạ đến, với những chuyện xa xôi như chuyện tiền kiếp, không thấy mà cũng khó tin. Trong đám bạn bè, cũng có lúc mệt mỏi, có người nói mà không có người nghe, vì ai cũng đang muốn kể chuyện mình.

Trong vòng 30 năm nay, từ khi bỏ nước ra đi, chúng ta có bao nhiêu truyện ký, viết về chuyện nước non, chuyện đời mình, cũng có những chuyện được phổ biến rộng rãi, nhưng cũng có những tác phẩm được xếp kín trong tủ sách của riêng mình, như một tâm sự giấu kín, ấp ủ cho hết một đời người. Người mất trí nhớ không còn cảm thấy khổ đau nhưng bất hạnh thay cho những kẻ muốn quên mà không quên được.

Chuyện khó quên nhất là chuyện quê hương đất nước. Có tắt TV, không vào Internet, không mở radio, cũng nghe chuyện bên nhà. Nói như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, gặp nhau nơi quê người, những người xa xứ 20 năm, 40 năm, không lẽ chỉ có một chuyện khoe nhà, khoe con, trong khi quê hương có bao nhiêu chuyện nặng lòng. Có câu chuyện, đọc một lần, có những bản tin chỉ mới nghe qua, đã hằn sâu trong tâm khảm, như vết chém xuống, không tài nào trở thành vết sẹo trong chốc lát. Có những hình ảnh in đậm trong trí nhớ, mỗi đêm trở giấc, không tài nào ngủ lại được.

Đó không phải là những chuyện qua đường, hay câu chuyện thị phi nhà hàng xóm mà chính là chuyện của chính chúng ta, là đau đớn, trăn trở xót xa từ tận đáy lòng, muốn xua đuổi, muốn quên đi mà quên không được.

Có một điều không phải ai cũng nhớ và cũng hiểu ra rằng: “Tôi là ai, mà tôi tới đây!”

Nhiều người thực sự đã quên, nhiều người lại không muốn nhớ, vì nhớ là mua sự khổ đau. Thương cho ai đã không còn nhớ, mà cũng hạnh phúc cho ai đã quên được.

Muốn cho lòng mình rỗng không, tâm muốn “hư” mà “hư” không được.

Nhưng không ruột với vô tâm, vô cảm cũng cùng chung một nghĩa.

Hứa đi sông ơi…

Hứa đi sông ơi…

canhco

RFA

Người lãnh đạo vốn được xem là ngôi sao dẫn đường của đất nước. Bất kể quốc gia theo thể chế nào, sự tỏa sáng của ngôi sao dẫn đường luôn là yếu tố cần thiết đầu tiên để dân chúng tin vào và hợp tác, hay chí ít tin vào với sự yên tâm rằng đã có người lo phần ăn ngủ cho gia đình mình một cách đáng tin cậy. Lãnh đạo càng tỏa sáng, niềm tin càng lớn mạnh trong lòng người dân.

Putin là một ví dụ của nước Nga.

Dù ông ta độc tài và cách quản trị đất nước chuyên chế không khác mấy với thời ông còn trong tổ chức KGB trước đây: độc tài, quyết đoán và bè phái.

Độc tài làm Putin liên tục nắm chức vụ cao nhất trong chính phủ Nga trong nhiều năm. Quyết đoán khiến nhân dân Nga tin rằng mình có một tổng thống mạnh mẽ có thể đối phó với Mỹ và nguyên khối EU và bè phái làm cho chiếc ghế của ông tăng thêm sức chịu đựng của giông gió đến từ các thành phần đối lập. Mặc dù cơn hồng thủy cấm vận và các vấn đề khác làm cho Putin mất niềm tin ngày một nhiều nhưng dân Nga biết rằng sau Putin sẽ là một con số trắng, không ai đủ sức nắm một nước Nga từ suy yếu tới cường mạnh và lại suy yếu tiếp tục như một hình vẽ Parabol. Nga cần Putin và Putin biết rõ điều đó. Putin không cần lo chiếc ghế vì khác với Việt Nam, Putin không bị ai giành giật vị trí của mình.

Việt Nam khác Nga, tuy cũng độc tài, cũng quyết đoán và nhất là cũng bè đảng như Putin.

Độc tài thì không cần chứng minh, cả thế giới đều biết. Quyết đoán cũng đã rõ bởi các chính sách đưa ra mặc dù phần lớn đều nông nổi, mang tính đối phó hay nhiều khi chỉ để vỗ béo một nhóm nào đó nhằm bảo vệ chiếc ghế của mình. Còn phe đảng thì rõ ràng dữ dội, âm thầm và ghìm nhau từ động thái.

Tuy nhiên khác với Putin, một mình một chợ, nắm chắc dân Nga trong lòng bàn tay, lãnh đạo Việt Nam muốn ngồi yên phải thỏa hiệp với nhau, cân bằng thế và lực để ngồi trên chiếc thuyền quyền lực. Hơn quá cũng nguy mà yếu quá là chết…mọi cử động phải nhìn ngắm trái phải sau trước và cứ thế cùng nhau ngồi chung trên một con thuyền không người lái cũng chả ai chèo, cứ mặc cho giòng nước cuốn tới đâu thì tới.

Lãnh đạo ngồi trên thuyền còn nhân dân thì bơi dưới nước.

Muốn dân đừng lật thuyền lãnh đạo Việt Nam làm nhiều chuyện éo le và nhân dân trong lúc lo bị sặc nước đã không có thời giờ chú ý.

Một trong những éo le ấy là hứa. Hứa như bợm và nuốt lời như chơi.

Ông Nguyễn Tấn Dũng là một trong những lãnh đạo hứa nhiều nhất, mà éo le ở chỗ chưa lời hứa nào trọng đại của ông ấy được thực hiện, hay ít nhất được các cấp dưới quyền thực hiện.

Trước tiên khi bắt đầu nhậm chức, ông hứa sẽ quét sạch tham nhũng nếu không ông sẽ về vườn.

Và ông về vườn thật, vườn Thiên đàng, nơi ông không thiếu thứ gì ngoài Thượng đế.

Ông hứa với dân là sẽ tranh đấu để quyền biểu tình của dân được quốc hội chính thức làm thành luật. Quốc hội nghe rồi để đó. Ông nói rồi bỏ qua. Người dân đang bơi bên cạnh chiếc thuyền của các ông được vất một cành cây lời hứa xuống nhưng hỡi ơi lại là cành mục chưa rơi tới nước đã bị sóng đánh tan tành.

Ông còn hứa nữa, mỗi lần có sự cố xảy ra là ông hứa. Lời hứa không mất tiền mua, thế thì cứ hứa cho vừa lòng dân.

Khi anh nông dân Đoàn Văn Vươn bị bắt, bị chiếm ruộng đập nhà ông lại hứa. Lần này ông ra lệnh hẳn hoi, Thành phố Hải Phòng nhận được chỉ thị của ông và anh Đoàn Văn Vươn được ra khỏi tù sau…ba năm 6 tháng.

Lần ông hứa cuối cùng là vụ 1.400 tỷ xây tượng Bác tại Sơn La. Ông đập bàn đập ghế đòi Sơn La phải giải trình tại sao lại xử dụng vốn nhà nước một cách hoang phí như vậy. Sơn La bấm nhau cười, đâu đó đám trẻ chăn trâu ngoài đồng hát bài “giải trình, giải rút chắc là đồng môn”

Sơn La chính thức công bố dự án sẽ được thực hiện trong khi không đá động gì tới Thủ tướng. Của đáng tội, không phải Sơn La coi thường lệnh  Thủ tướng nhưng họ biết rằng Thủ tướng chỉ quát khẽ cho đám dân bơi dưới kia yên tâm rằng một chốc nữa ông sẽ quăng phao, những chiếc phao lời hứa ấy cho tới nay vẫn tỏ ra hiệu nghiệm đối với người dân, nhất là những người không bao giờ quên được cảm giác ngộp nước. Họ cần thở còn bơi dưới dước bao lâu thật không quan trọng lắm.

Thủ tướng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước… cả ba ngôi sao ấy không tỏa sáng bao giờ nhưng tại sao lại không chịu tắt? Người dân chăng? Trí thức chăng? Đảng viên tỉnh thức chăng? Không ai cả, đất nước loe hoe lạc loài trong sa mạc và bộ sậu trên chiếc thuyền đất nước ấy vẫn không ai là người thuyền trưởng. Thuyền cứ xoay và dân cứ bơi…..hình ảnh của Việt Nam hôm nay trên mọi trang báo trong hay ngoài nước đều lộ rõ tầm nhìn một thước sáu lăm của lãnh đạo.

Một thước sáu lăm vừa vặn với số đo của ba người cộng lại chia ba.

Và lời hứa của Thủ tướng tuy chưa thực hiện nhưng dân vẫn tin rằng một lúc nào đó cán bộ sẽ nghe ông. Cũng như bây giờ dân vẫn tin rằng mọi chính sách trên đưa xuống đều đúng chỉ có cán bộ làm sai.

Không thấy cái nón nào lại vừa vặn cho tất cả mọi vấn đề như thế. Thủ tướng làm đúng nhưng Tiên Lãng, Sơn La làm sai. Ngay cả vụ biểu tình thì lỗi của Quốc hội còn tham nhũng thì…một mình ông làm sao lo xuể?

Vậy thì còn chờ gì nữa mà chúng ta không tiếp tục…bơi bên cạnh Thủ tướng và chờ một ngày đẹp trời nào đó cán bộ cấp dưới của ông giật mình thức tỉnh làm đúng một lần cho đất nước được nhờ?

Âu Châu Là Nạn Nhân Của Nạn Di Dân

Âu Châu Là Nạn Nhân Của Nạn Di Dân

Vụ khủng hoảng có nguyên nhân kinh tế, nhưng hậu quả chính trị…

Âu Châu đang gặp một vụ khủng hoảng di dân nghiêm trọng nhất từ Thế chiến II. Khối Liên hiệp Âu châu cố giải quyết bằng cách phân phối di dân cho các thành viên, với nước Đức được coi là ân nhân. Hậu quả lâu dài lại thúc đẩy nhiều sức ly tâm gây thêm phân hóa trong nội bộ Âu Châu….

Âu Châu có trào lưu chung của các nước công nghiệp hóa tiên tiến là có tỷ lệ sinh sản thấp hơn và tuổi thọ trung bình cao hơn. Dân số hay nhân khẩu là định mệnh trong ý nghĩa đó.

Sau Thế chiến II, Âu Châu áp dụng chiến lược phát triển với niềm tin rằng lực lượng lao động đông đảo sẽ góp đủ thuế để chu cấp cho thành phần ở ngoài tuổi lao động – dưới 15 và trên 64 tuổi. Khi thấy tỷ lệ sinh sản giảm dần, một số quốc gia có tăn trợ cấp cho gia đình đông con nhằm khuyến khích việc sinh đẻ – đứa con thứ ba là “miễn phí” – với kết quả thật ra cũng giới hạn trước một chiều hướng văn hóa phổ biến và khó cưỡng.

Vì vậy, Âu Châu mới có giải pháp di dân, là nhập cảng sức lao động từ bên ngoài.

Di dân sẽ nâng sức lao động và mức cầu kinh tế để tạo thêm việc làm và sự thịnh vượng. Thành phần di dân có tay nghề cao thì giúp kinh tế phát triển các ngành sản xuất chuyên biệt để khai thác lợi thế tương đối của từng quốc gia. Thành phần thiếu chuyên môn thì lao động trong những ngành cực nhọc mà dân bản xứ không muốn làm. Đã vậy, lực lượng lao động càng đông thì thành phần thọ thuế càng nhiều sẽ tăng mức thu cho ngân sách để nhà nước lo toan cho những người ở ngoài tuổi lao động.

Nhưng lý luận kinh tế lạc quan ấy lại đụng vào thực tế cứng đầu. Và Âu Châu đang bị khủng hoảng với làn sóng di dân thứ ba, dữ dội nhất, kể từ 10 năm qua. Xin hãy nói về ba làn sóng đó trước.

Sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, các nước Âu Châu lạc quan thúc đẩy việc hội nhập để thành lập Liên hiệp Âu châu. Từ đó, Liên Âu đã “Đông tiến”, kết hợp dân số đông đảo của các nước Đông Âu, nhất là các quốc gia có mật độ dân số cao như Ba Lan hay Romania (Lỗ Ma Ni là cách gọi ngày xưa). Lao động Đông Âu đã “Tây tiến” và góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt dân số của các nước tân tiến hơn ở miền Tây. Đấy là đợt di dân đầu tiên, vào thời 2004-2007.

Nối tiếp là đợt thứ nhì vào các năm 2009-2010, khi khủng hoảng tài chánh tại các nước miền Nam mở ra phong trào “Bắc tiến”. Dân cư của các nước lâm nạn ở miền Nam đi tìm việc làm trong các quốc gia giàu mạnh hơn ở “vùng cốt lõi” là miền Bắc, từ Pháp qua Đức và các lân bang.

Trong hai đợt ấy, hiện tượng di dân vẫn có tính chất nội bộ Âu Châu và dù có gây va chạm, kể cả phản ứng chống di dân, thì cũng chẳng dẫn tới khủng hoảng khi 22 thành viên trong số 28 nước Liên Âu đã ký Hiệp ước Schengen về quyền tự do lưu thông người và vật từ năm 1995.

Đợt thứ ba là ngày nay thì khác.

Làm sóng di dân bùng lên từ Trung Đông và một số quốc gia bị nội loạn ở nơi khác đã dập vào bến bờ Âu Châu để xin tỵ nạn. Di dân là nạn dân và gây vấn đề trước tiên cho các nước lâm nạn kinh tế tại miền Nam, như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, rồi lan qua nước khác, với cao điểm là Hungary.

Trong đợt trước (2009-2010), nếu làn sóng “Bắc tiến” có nhất thời hạ giảm thất nghiệp thì cũng gây ra nạn “xuất não” là thành phần có chuyên môn và tốt nghiệp đại học bỏ xứ đi làm trong các doanh nghiệp Đức Pháp. Các nước lâm nạn chưa kịp phục hồi thì lại bị làn sóng nạn dân đập vào bờ. Thành phần di dân tỵ nạn này không có thông hành Âu Châu nên vừa khó kiếm việc ở tại chỗ lại cũng chẳng thể tạm “quá quan” để đi vào các nước Âu Châu khác. Làn sóng đó bị ứ tại miền Nam và chờ đợi quyết định thu nhận hay phân bố di dân của Liên Âu.

Sự kiện đa số của thành phần này lại theo Hồi giáo, đã chẳng phù hợp với văn hóa hay tôn giáo Âu Châu mà chưa chắc là đã muốn hội nhập, càng dễ gây phản ứng ngược từ phong trào quốc gia dân tộc cực đoan hoặc tinh thần chống di dân tại Âu Châu. Thí dụ như nhiều trại tạm trú di dân tại miền Đông nước Đức đã bị cư dân đập phá, hay đảng Mặt trận Quốc gia theo xu hướng cực hữu đã lên như diều tại Pháp, và đảng Dân Chủ chống di dân đang thắng thế tại Thụy Điển.

Một thí dụ khác là Ba Lan sẽ có bầu cử vào tháng tới và đảng bảo thủ đang cầm quyền lại mất phiếu vào phe đối lập theo khuynh hướng quốc gia. Chính quyền Hung Gia Lợi cũng gặp bài toán tương tự trước sức ép của phong trào quốc gia bên cánh hữu, trong khi Chính quyền Đức chưa kịp mở cửa biên giới để nhận thêm nạn dân ứ đọng tại các trại tạm trú của Hung.

Vì thế, khi thương thuyết việc phân bố hay nhận “hạn ngạch” (định mức di dân) do Liên Âu quyết định, mỗi chính quyền lại cân nhắc lợi hại chính trị trong nội bộ, và đối chiếu với yêu cầu hội nhập và tinh thần liên đới của Âu Châu. Vốn dĩ đã có quá nhiều dị biệt về thực tế kinh tế và lập trường chính trị, Liên Âu lại bị thêm một sức ly tâm mới.

Nhìn về dài, “định mệnh” của một quốc gia là cơ cấu dân số hay nhân khẩu cũng có nhiều khác biệt.

Thí dụ như có nền kinh tế mạnh nhất và tinh thần rộng lượng nhất với nạn dân nên đã quyết định đón nhận 800 ngàn người một năm, nước Đức là một nạn nhân của nạn lão hóa dân số. Theo dự phóng của Liên Âu, từ năm 2020 đến 2060, dân số Đức sẽ mất 10 triệu người. Và “tỷ số lệ thuộc” của thành phần cao niên sống nhờ hưu bổng và trợ cấp y tế do lực lượng lao động (ở tuổi 15-64) tạo ra lại từ 36% trong hiện tại tăng đến mức 59%, cao nhất của Âu Châu. Nhìn cách khác, lực lượng lao động tại Đức sẽ mất một phần tư. Bài toán ngân sách của đệ nhất cường quốc kinh tế Âu Châu là thiếu tiền. Người đi làm ít hơn mà phải gánh vác một loại chi phí chỉ có tăng chứ khó giảm (sống lâu hơn và càng lớn tuổi thì càng lắm bệnh!)

Vì lẽ đó, Đức mới hào phóng với di dân: để nhập cảng sức lao động. Hai năm trước, Đức còn có luật lệ quy định rằng một nạn dân chỉ được phép đi làm 12 tháng sau khi được nhập cư. Thời hạn này vừa được giảm xuống ba tháng. Thà như vậy còn hơn là gặp hiện tượng lao động chui và trốn thuế khá phổ biền trong thành phần di dân nhập lậu vào Mỹ!

Bên kia biển Bắc, Anh quốc (United Kingdom) thì bị tiếng ích kỷ vì có chủ trương hạn chế di dân.

Là quốc gia hải đảo đã chẳng ký Hiệp ước Schengen, nước Anh cũng đứng ngoài vòng tranh luận – dù bị đả kích – vì không gặp bài toán nhân khẩu như Đức. Anh quốc sẽ là nước đông dân nhất Âu Châu: từ 67 triệu vào năm 2020 dân số Anh sẽ lên tới 80 triệu vào năm 2060. Nhìn cách khác, tỷ lệ sinh sản tại Anh thuộc loại cao nhất Liên Âu: trung bình một phụ nữ đẻ được 1,9 trong quãng đời sinh sản của mình. Nhờ các bà lạc quan yêu đời như vậy, tỷ số lệ thuộc tại Anh sẽ chỉ tăng từ 30% đến 43% trong khoảng thời gian dự phóng của Liên Âu (2020-2060).

Cho nên sự chuyển động chậm rãi của dân số trong trường kỳ có thể giải thích nhiều khác biệt về đối sách với di dân.

Nhưng trước mắt thì vụ khủng hoảng đang gây nhiều thách đố cho Liên Âu. Các nước nghèo, hoặc lâm nạn như mấy quốc gia miền Nam, thì không đủ công quỹ giải tỏa sức ép của làn sóng nạn dân. Họ cần tiền. Nhiều nước khác, giàu như Bắc Âu hoặc nghèo như Nam Âu, thì hoài nghi chủ trương hội nhập loại di dân không muốn làm công dân và chẳng muốn tự hội nhập vào xã hội mới. Họ cũng sợ khủng bố Hồi giáo, là điều không phải là vô lý. Vì vậy, họ chỉ muốn cứu nạn dân theo Thiên Chúa giáo mà thôi.

Các nước Đông Âu (nhìn theo trục Đông-Tây) hay Trung Âu (nhìn theo trục Nam-Bắc) thì có quan niệm khác. Sau khi xuất cảng dân công về phía Tây từ đợt sóng trước, các quốc gia này, như Ba Lan, Romania và Bulgaria, lại cần di dân vì cuộc sống cải thiện cũng dẫn tới trào lưu ít đẻ con. Nhưng hậu quả chính trị của nỗ lực kinh tế là các quốc gia ấy trở thành “hành lang quá quan”. Họ phải nhận di dân từ các nước nghèo hơn mà lại mất dần thành phần có chuyên môn và sức lao động cho các nước giàu hơn ở phía Tây, hay thậm chí cho Hoa Kỳ. Khi đả kích các quốc gia này là vội quên việc các nước khác đã giúp họ khi Liên Xô tan rã, người ta chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề mà thôi.

* * *
Chúng ta thấy gì từ những vấn đề quá đỗi phức tạp như vậy?

Bản chất bài toán di dân thành rõ nét hơn từ vụ khủng hoảng hiện nay: không có giải đáp ổn thỏa để đảo ngược trào lưu dân số của Âu Châu: không muốn có con nữa. Mọi thử nghiệm cấp thời chỉ gây thêm phân hóa trong nội bộ Âu Châu sau này. Lý tưởng Âu Châu về một thế giới vô cương, không biên giới, thật ra chỉ phản ảnh nhu cầu thực tế về dân số của từng xã hội và đặt ra nhiều vấn đề khác.

Ngược lại, khi lạc quan ca tụng giá trị đạo đức của mô hình Âu Châu vì thu nhận người Hồi giáo từ các quốc gia có lập trường chống Âu Châu, Thiên Chúa giáo hay nguyên tắc dân chủ thì ta cũng nên hỏi rằng những người Hồi giáo ấy có muốn là dân Âu Châu không? Hay chỉ muốn có một đất tạm dung mà họ không cho là quê hương vì nhiều người còn nín thinh khi trong cộng đồng của họ có những kẻ mưu đồ việc khủng bố để làm sáng danh Thượng Đế. Trong làn sóng nạn dân từ Syria, chúng ta thấy vắng bóng các giáo sĩ của đạo Hồi. Tại sao vậy?

Thế giới đa đoan!

BÀ NGÔ ĐÌNH NHU, 50 NĂM CÔ ĐƠN.

BÀ NGÔ ĐÌNH NHU, 50 NĂM CÔ ĐƠN.

Kim Thanh

Tin từ Ngô Đình Trác báo cho ông bạn tôi, Luật sư Trương Phú Thứ, hay rằng Bà quả phụ Ngô Đình Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, đã về Nước Chúa lúc 2 giờ sáng ngày lễ Phục Sinh, 24/4/2011, hưởng thọ 87 tuổi.

Tôi viết bài này gửi các thân hữu, bạn bè, và những người mà tôi biết chắc vẫn còn ái mộ, quý mến –hoặc ít ra không thù ghét– Bà Ngô Đình Nhu, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Không như những phản tướng 1963, tôi chưa hề gặp mặt Bà Nhu, chưa hề nhận ân sủng nào của Bà hay của chế độ, ngoài một trăm đồng Bà gửi tặng Hội JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) năm xưa, được Ngô Đình Lệ Thủy trao cho tôi (xin đọc bài “Ngô Đình Lệ Thủy, hồng nhan mệnh yểu”).

Bà Ngô Đình Nhu là người nổi tiếng thuộc dòng họ Ngô Đình và người liên hệ trực tiếp với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa duy nhất còn sống sót vừa ra đi. Dù thương hay ghét Bà, ai cũng phải công nhận Bà là một nữ lưu thông minh, có tài có sắc, một cộng sự viên đắc lực, quả cảm của chồng và anh chồng. Qua hai nền Cộng Hòa, chưa có một phụ nữ tầm cỡ public figure (người của quần chúng) Việt Nam nào làm tôi thấy cảm phục và hãnh diện như Bà Ngô Đình Nhu. Cho dù, dĩ nhiên, Bà chưa hoàn hảo, cũng như bất cứ ai trên đời. Trước và sau vụ đảo chánh 1963, Bà là mục tiêu tấn công của những nhà báo và chính khách Việt Nam và ngoại quốc, nhất là Mỹ, chưa nói Cộng sản đội lốt tôn giáo, đối lập, “cách mạng”, đã không ngần ngại vu khống, xuyên tạc, đổ lỗi, thêu dệt đủ điều, kể cả về đời tư của Bà. Đọc tất cả những tài liệu đã được giải mật, và những sách báo cũ, và những sách báo mới trên các Diễn Đàn Hải Ngoại –những diễn đàn của Đui Chột, của Thù Hận, của Ác Độc– tôi thấy bất nhẫn và buồn nôn trước sự hèn hạ, nhỏ nhen của con người, vì dù sao Bà cũng chỉ là một phụ nữ và không giữ một chức vụ chính thức nào trong chính quyền. Bọn họ, kể cả Mỹ và Tây Phương, không mã thượng, anh hùng đủ, than ôi, để đánh Bà bằng một cành hoa hồng, nhưng đã dùng mọi thứ dao búa. Họ dã man, trên phương diện tinh thần, không khác chi một Gia Long đã hành hình, về thể xác, nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái 16 tuổi bằng cách cho voi dày.

Bà là hiện thân và nạn nhân của Bất Hạnh như một trong những nữ nhân vật chính tuyệt đẹp của những vở bi kịch Hy Lạp. Nhưng khác với họ luôn vùng lên, phản kháng, chất vấn Thượng Đế, Bà đã im lặng, chấp nhận mệnh số nghiệt ngã, và âm thầm chịu đựng tất cả những sầu khổ, oan khiên, bất công, suốt một nửa thế kỷ.

Một điểm nữa, sáng ngời, về con người của Bà, mà tôi tin rằng đến cả kẻ thù cũng không thể phủ nhận. Khi chồng bị thảm sát, Bà còn trẻ đẹp lắm –điều mà báo chí Mỹ thiên vị và ác độc cũng phải ca ngợi. Nhưng Bà ở vậy, thờ chồng, nuôi đàn con còn vị thành niên, không có của chìm của nổi, không lầu son gác tía, nhờ tham nhũng hoặc ăn cắp của công. Nếu có bằng chứng Bà phạm vào hai điều cấm kỵ này, chắc chắn báo chí và công luận Mỹ và Việt Nam, vốn thù nghịch, đã không bao giờ để Bà yên. Bà sống khép kín như một nữ tu tại gia. Không xuất hiện trước đám đông. Không cho nhân gian thấy tóc đổi màu, những dấu chân chim in trên đuôi mắt và những tàn phai bởi thời gian, theo gương những mỹ nhân tự thuở xưa. Không tuyên bố này nọ. “Thời của tôi qua rồi”, bà thường nói với những người quen biết, như một lời giã biệt thế gian. Không mang tiếng, không bồ bịch, không bước thêm bước nữa. Không vì tiền bán thân cho tỷ phú. Nếu sống vào thời quân chủ, Bà xứng đáng nhận lãnh bằng khen “Tiết Hạnh Khả Phong”.

Bấy nhiêu thôi cũng đủ làm tôi yêu mến Bà như một người mẹ (bà kém mẹ tôi một tuồi). Ca ngợi Bà như một nữ chính khách một thời sáng giá, đảm lược, dám nói dám làm, như chồng Bà, trước vòng vây khốn của thù trong giặc ngoài. Kính trọng Bà như một thần tượng. Làm sao tôi không xúc động khi nghe tin Bà đã bước vào một cuộc hành trình cuối cùng, ngày Chúa chết trên cây thập giá và sống lại, để từ nay vĩnh viễn thuộc về của Tuổi, nói theo Edwin Stanton, belongs to the Ages.

Nhà danh họa thuộc phái ấn tượng Auguste Renoir của những tuyệt phẩm chan hòa ánh sáng và màu sắc, những năm cuối đời, bị bệnh thấp khớp hành hạ, không đứng được nữa, phải ngồi vẽ tranh một cách đau đớn với bàn tay co quắp, nhức buốt. Người học trò của ông, danh họa Matisse, thấy vậy, thương ông, đã hỏi: “Tại sao Thầy phải tiếp tục ngồi vẽ một cách khổ sở như thế?” Renoir ngước nhìn khung vẽ, trả lời: “Đau đớn sẽ qua đi. Cái đẹp sẽ còn lại.”

Tôi muốn nhắc lời của Renoir, để nói về Bà, trong một nghĩa nào. Đau đớn tinh thần của Bà Ngô Đình Nhu sẽ qua đi. Cũng như đau đớn thân xác của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nhưng vẻ đẹp của Bà sẽ tồn tại. Vĩnh viễn.

Tôi biết những kẻ chống và ghét Bà sẽ khó chịu vì bài viết của tôi. Không sao. Đời mà. Tuy nhiên, xin những kẻ ấy xử sự cao thượng một chút, như một con người. Hãy để Bà yên nghỉ, ít nhất trong thời gian này. Chờ sau ba tháng, một năm, mười năm nữa, rồi hãy chìa ra nanh vuốt, cũng chưa muộn.

Tôi muốn báo tin cho các thân hữu của tôi và xin họ đọc một kinh, cầu nguyện cho linh hồn Bà mau về Cõi Vĩnh Hằng, và tìm được Bình An đích thực. Sau năm mươi năm cô đơn.

Kim Thanh
Ngày Chúa sống lại 8/4/2012

Món quà của người đàn bà bán ve chai

Món quà của người đàn bà bán ve chai

Người đàn bà bán ve chai vô danh ấy, có lẽ chẳng bao giờ hình dung ra những con số dài dằng dặc để ghi lại số tiền đã hóa hơi trong những đại án tham nhũng đang làm nghèo đất nước. Càng không bao giờ biết đến chuyện, để chạy chức và chạy án, các quan chức ngày nay xách đến nhà nhau hàng vali tiền mà người nghèo có đếm cả đời cũng không hết.

Tôi cứ nghĩ mãi về một bức ảnh được lan truyền trên mạng xã hội facebook mấy ngày nay khiến cộng đồng mạng xôn xao, xúc động. Bức ảnh chụp một người đàn bà với khuôn mặt đen sạm, nghèo khổ, trước mặt chị là một bao gạo và chai dầu ăn.

Bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội Facebook.

Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13/01/2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, Phường 16, Quận 11 (TP.HCM). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Biết được câu chuyện này, chẳng phải chúng ta đang cảm thấy trái tim mình ấm áp, tâm hồn mình thư thái và hạnh phúc hay sao? Bởi người đàn bà bán ve chai ấy, chẳng ai biết tên chị là gì, giờ đang tá túc ở đâu, nhưng hành động của chị đã cho chúng ta có thêm niềm tin, rằng những người tốt và những tấm lòng cao cả ở đời còn nhiều lắm. Họ là con người đúng nghĩa với những điều tốt đẹp nhất của danh từ này.

Tôi tin những người như chị, nếu làm người bán hàng sẽ không bao giờ gian tham dối trá hay bớt xén của ai một đồng một hào nào. Nếu làm người công nhân, sẽ có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình. Nếu làm một công chức, sẽ cống hiến tận tâm cho xã hội.

Một cộng đồng muốn tốt đẹp thì không thể không dựa vào từng cá nhân tốt đẹp, một cái cây muốn tươi tốt, bền chắc thì phải có bộ rễ khỏe mạnh. Đạo đức là gốc rễ của mọi vấn đề. Tiếc là ngày nay, xã hội vì quá coi trọng đồng tiền nên đã xem thường nó, coi rẻ nó, khiến cho mọi thứ lộn xộn, đảo điên.

Chị chỉ quanh quẩn sáng tối với cái vỏ chai, mảnh giấy vụn. Hạnh phúc của chị chỉ là sau một năm làm ăn cần mẫn, mua được bao gạo, chai dầu đến cảm ơn quán cơm đã cứu đói chị và san sẻ tình thương cho những người đồng cảnh ngộ. Nhưng cuộc đời của chị, thanh sạch và đáng kính trọng biết bao nhiêu.

Những bài học lý thuyết về đạo đức, tình người sẽ không bao giờ khiến chúng ta thấm thía bằng hành động của người đàn bà bán ve chai ấy.

Cầu mong cho những tấm lòng cao cả ấy sẽ được tiếp nối, sẽ lan rộng ra để duy trì sự tốt đẹp và làm sáng thêm hai chữ “đạo nghĩa” trong đời sống này.

BA CUỘC ĐỜI – BA CÁCH CHẾT

BA CUỘC ĐỜI – BA CÁCH CHẾT

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

Trên đồi Golgotha cách đây hơn hai ngàn năm, có 3 tử tội trên thập giá.  Ba con người đều chết trên thập giá với ba thái độ khác nhau.  Đó chính là Thầy Giêsu ở giữa.  Một người bên hữu được gọi là trộm lành.  Một người bên tả truyền thống vẫn gọi là trộm dữ.  Tại sao cùng một hoàn cảnh mà cách thức đón nhận lại khác nhau?  Đâu là điểm khác biệt giữa ba con người?

Trước hết đó là Thầy Giêsu, một con người đã tự nguyện vác thập giá để cứu độ chúng sinh.  Ngài chấp nhận đi vào cái chết không phải do tội của mình mà vì tội của nhân gian.  Ngài đã chết để thí mạng vì bạn hữu.  Cả cuộc đời của Ngài đã sống vì người khác.  Ngài đã sống một cuộc đời để yêu thương và yêu thương cho đến cùng.  Ngài đã đi đến tận cùng của yêu thương là thí mạng mình vì bạn hữu.  Cái chết của Ngài là bằng chứng cho tình yêu.  Đau khổ Ngài chịu cũng vì yêu thương nên Ngài không than vãn, không uất hận vì đời đen bạc.  Không nguyền rủa cuộc đời vì những gánh nặng đang đè trên vai.  Vì yêu đối với ngài không chỉ là tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, mà còn dám chết cho người mình yêu được sống và sống dồi dào. Thế nên, đau khổ đối với Ngài là niềm vui.  Và ngài đã đi vào cái chết trong thanh thản vì đã hoàn thành sứ mạng đời mình: “yêu thương và phục vụ cho” người mình yêu.  Ngài không hối tiếc về cuộc sống đã qua.  Ngài không hối hận vì việc mình đã làm.  Ngài rất vui vì đã đi trọn con đường của tình yêu.  Ngài đã trút hơi thở cuối cùng trong an bình khi Ngài nói cùng nhân loại “mọi sự đã hoàn tất” và nói cùng Chúa Cha “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn trong tay Cha.”

Người thứ hai là anh trộm lành. Anh là một tội nhân.  Anh đón nhận hình phạt và cái chết vì chính tội của mình.  Nhưng anh là một con người biết phải trái.  Anh biết việc mình làm là đáng tội, là đáng phải chịu hình phạt.  Cuộc đời anh chưa làm điều gì tốt cho tha nhân . Anh đã sống một cuộc đời chỉ làm hại người khác.  Thế nên, anh đã nói với Chúa: “Tôi đã bị như thế này là xứng đáng với tội của tôi.”  Anh đón nhận thập giá để đền bù những lầm lỗi đã qua.  Anh chấp nhận cái chết nhục nhã như là hình phạt đích đáng vì tội của mình.  Anh đã tìm được bình an trong giờ phút cuối cùng của đời người.  Anh cũng biết rằng anh không xứng đáng chung phần hạnh phúc thiên đàng với Thầy Giêsu, anh chỉ mơ ước Thầy Giêsu nhớ tới anh khi Thầy về thiên đàng.  Đối với anh thập giá là cơ hội để anh để anh đền bù lầm lỗi.  Thập giá là nhịp cầu đưa anh vào thiên đàng.  Thế nên, anh đón nhận thập giá với lời xin vâng theo mệnh trời.  Anh không oán trời, oán đất.  Anh đi vào cái chết với tâm hồn thanh thản vì anh đã đền bù những lầm lỗi của quá khứ cuộc đời.

Người thứ ba là anh trộm dữ. Anh lao vào cuộc đời như con thú đang tìm mồi.  Cuộc đời anh chỉ tìm hưởng thụ cho bản thân.  Vì ham muốn danh lợi thú anh đã sẵn sàng hạ thấp nhân phẩm mình và chà đạp phẩm giá của tha nhân.  Anh đang có nhiều toan tính để hưởng thụ.  Thế nên, anh không chấp nhận thập giá trên vai anh.  Anh không chấp nhận kết thúc cuộc đời bằng cái chết bi thảm trên thập giá.  Anh đòi quyền sống.  Sống để hưởng thụ.  Anh nổi loạn vì đời anh còn quá trẻ, còn quá nhiều tham vọng nên anh không thể chấp nhận cái chết đến với mình.  Thế nhưng, anh vẫn phải chịu hình phạt vì tội của mình.  Công lý đòi buộc anh phải thi hành, dầu anh không muốn.  Thập giá làm cho anh đau khổ.  Cái chết làm cho anh nổi loạn.  Anh nguyền rủa trời, nguyền rủa đất và xúc phạm cả đến Thầy Giêsu, một con người đang phải chịu cái chết vì đã liên đới với anh.  Anh đã chết trong sự hoảng loạn và khổ đau.

Mỗi người chúng ta đang sống một cuộc đời cho chính mình.  Mỗi người chúng ta đang đón nhận thập giá với thái độ khác nhau.  Có người chấp nhận thập giá để đền tội.  Có người chấp nhận thập giá vì lòng yêu mến tha nhân.  Và cũng có người đang từ chối thập gía trong cuộc đời.  Hạnh phúc hay đau khổ tuỳ thuộc vào việc chọn lựa sống của chúng ta.  Nhưng dù con người có muốn hay không?  Thập giá vẫn hiện diện.  Thập giá của bổn phận.  Thập giá của hy sinh từ bỏ những tham lam bất chính, những ham muốn tội lỗi, những ích kỷ tầm thường.  Đón nhận thập giá sẽ mang lại cho ta tâm hồn bình an vì đã sống đúng với bổn phận làm người.  Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta đền bù những thiếu sót trong cuộc sống của mình và của tha nhân.  Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta tiến tới vinh quang phục sinh với Chúa trên thiên đàng.

Nguyện xin Chúa là Đấng đã vui lòng đón nhận thập giá vì chúng ta, nâng đỡ và giúp chúng ta vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa.  Xin giúp chúng ta biết sống một cuộc đời hy sinh cao thượng để chúng ta không hối hận vì quá khứ, nhưng luôn bình an vì đã sống chu toàn bổn phận của mình với lòng mến Chúa, yêu người.  Amen.

LM Giuse Tạ Duy Tuyền