Lạy Chúa, Con Đây!

Lạy Chúa, Con Đây!

Cao Gia An, S.J.

Lạy Chúa
mỗi khi có dịp bước chân vào nhà thờ
rất nhiều bạn bè không công giáo hay hỏi con:

Tại sao ở giữa lòng ngôi thánh đường đẹp đẽ như thế
lại là cây Thập Giá, treo một con người chết trần trụi?
tại sao ở nơi trang trọng và tôn nghiêm như thế
lại đặt hình ảnh tột cùng của sự khổ đau
của thất bại, của nát tan, của cái chết?…

Thập giá là hình ảnh lý tưởng
của một sự từ bỏ hoàn toàn và mất mát vĩnh viễn
của một lời một mời gọi và chất vấn không ngừng
cho những người dám bước theo Chúa.

Lạy Chúa, con đã làm gì, con đang làm gì,
và con sẽ phải làm gì cho Chúa?
Xin dạy con chiêm ngắm không ngừng
Đấng chịu đóng đinh trên Thập Giá
Đấng đã dám liều mình chết đi vì yêu con,
để từ nơi cội nguồn Thập Giá
con không chỉ học được cách sống
mà còn học được cách chết,
chết để cho nhiều người khác được sống.

Xin cho con đủ can đảm và trung thực để nhận ra:
nếu Thập Giá của Chúa không được đặt ở trung tâm
của trọn vẹn đời sống đức tin của con thì việc bỏ mình

vác thập giá mình mà theo Chúa chỉ là một lý thuyết

bóng bẩy và đẹp đẽ, nhưng lại chẳng có một âm hưởng thực tế nào!
Ước gì cách con đón nhận Thập Giá mỗi ngày
là một lời chứng sống động và hữu hiệu
về tình yêu, về giá trị cứu độ của Thánh Giá Chúa.

Cao Gia An, S.J.

Lời ru mộ gió

Lời ru mộ gió

Tuấn Khanh

image

Trong những câu chuyện về biển, mộ gió là một trong những điều khi nói đến, bất kỳ ai cũng cảm nhận được sự bi ai của kiếp người. Mộ gió là nơi gọi hồn trở về đại dương mênh mông sau khi người đi biển đã đặt cược đời mình với biển cả.

Từ đời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 -1635 ), cùng với lời khuyên của học giả Đào Duy Từ (1572-1634), biển được lưu tâm là nơi đánh dấu bờ cõi Việt Nam, nhưng cũng là nơi mà những người lính – ngư dân đầu tiên đi mà không hẹn ngày về. Mộ gió có từ đó. Những ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng là những ngày mà người ta vẽ lại hình người bằng đất sét, thương nhớ thịt xương đã nằm sâu dưới đáy biển hay trong bụng cá. Lúc đó, kẻ thù của ngư dân chỉ là bọn cướp vặt hoặc là thời tiết chứ chưa đầy hiểm nguy như hôm nay, bởi những chiếc tàu Trung Quốc dữ tợn vượt hơn tất cả.

Mộ gió hôm nay, lại nhiều hơn bao giờ hết. Nhìn những nắm đất xếp cạnh nhau trãi dài trên bờ cát mới thấy thiên nhiên không thể khốc liệt bằng con người. Con người không có bão táp không tay như sẳn sàng nhấn chìm đồng loại của mình, sẳn sàng tàn phá mọi thứ không phải vì quá nghèo khó, không phải vì thù hận, mà chỉ điên cuồng vì thách thức và cưỡng đoạt. Những ngôi mộ gió giờ không còn lính, chỉ những người đàn ông hiền lành đi biển, mong kiếm thêm bữa cơm cho gia đình mình. Những ngôi mộ gió đó uất nghẹn và bàng hoàng không hiểu vì sao mình lại ở đây.

“Giờ thì ít ai dám đi biển xa. Cách bờ biển mình chừng 12 hải lý tàu cá Trung Quốc nó đậu dày đặc. Mà không biết nó có phải là tàu cá chi không vì cần thì tụi nó rút súng bắn đùng đùng như cơm bữa”, một người dân miền Trung kể với chúng tôi, những người ở thành phố vẫn ăn cá mà thật là thờ ơ, ít khi nào hình dung sự sống và cái chết chung quanh thuyền cá Việt hôm nay ra sao.

Trên bãi biển mà chúng tôi thấy, những chiếc tàu đánh cá vội vã trở về lúc bình minh ở bãi. Họ đi và canh cánh nỗi sợ hãi ngay trên mép biển của mình, sẳn sàng quay đầu chạy khi xa xa có bóng cờ của Trung Quốc láng giềng. Giờ thì lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc ban hành, ngư dân Việt Nam cũng thì thầm nhắc nhau vì không khéo, đó là những chuyến đi đầy mạo phạm không có ngày về. Tổ quốc trong lời thì thầm. Tổ quốc mộ gió.

Chuyện mộ gió hôm nay với ngư dân không chỉ là sự thương tiếc cho người ở lại biển, mà còn là sự cảnh báo: Biển không còn bình yên bởi con người và trò chơi chính trị. Biển bị bao vây trong những cái bắt tay và nụ cười hữu nghị cộng sản, trao về mộ gió.

Tôi gọi điện thoại cho một ngư dân ở Quảng Ngãi, khi nghe tin Việt Nam có nghị định mới (71/2015 ) về chuyện tàu hải quân Việt Nam được phép dùng vũ khí để truy đuổi những tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải. Người đi biển này im lặng một hồi rồi nói “liệu mọi thứ rồi sẽ tốt hơn không?”. Chuyến đi dọc miền Trung mới đây, tôi chợt nhận ra rằng người miền Trung trực tính, hay nói và dễ gần… như đã thay đổi. Họ hay nói lãng sang chuyện khác và né tránh về những câu chuyện biển mà họ đang sống chết với nó. Ở trên biển, họ lo sợ tàu Trung Quốc, nhưng ở trên bờ, họ ngại ngùng điều gì đó thật khó hiểu. Thậm chí, có người lỡ bộc bạch, đã canh cánh gọi vào 2, 3 lần chỉ để dặn rằng thôi đừng nhắc gì về những điều ông đã nói. Ngay cả trong đời sống, nỗi niềm của những ngư dân Việt cũng đã chôn vào mộ gió sao?

Thật võ đoán, nếu liên hệ chuyện tàu hải quân Việt Nam được dùng vũ khí với chuyện có đến 4 tàu cá của ngư dân Việt bất ngờ bị “tàu lạ” liên tục tấn công ở vùng biển Kiên Giang, kề với người bạn láng giềng tính tình khó đoán Campuchia. Nhưng chắc chắn phải có điều gì đó khiến các vụ tấn công dã man này hoàn toàn khác, so với những vụ cướp và tấn công vặt trước khi Việt Nam có tuyên bố mạnh hơn trên biển. Các “tàu lạ” này xông thẳng và nhắm bắn trực diện vào ngư dân. Anh Ngô Văn Sinh, 38 tuổi, người cha của một gia đình, người đứng lái tàu, đã bị những “kẻ lạ” biết nói tiếng Việt bắn thẳng vào mặt và chết ngay trên buồng lái. Kể từ khi Campuchia có vẻ gần hơn với Trung Quốc, biển Việt Nam ở phương nào cũng đầy nguy nan.

Mọi thứ dường như hiện rõ hơn, chứ không khó khăn để phỏng đoán. Cách thức của “kẻ lạ” tấn công ngư dân Việt chẳng khác gì tàu cá Trung Quốc áp sát bờ biển miền Trung. Ông Lê Thế Hưng, đại tá Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng nói rằng từ đầu năm đến nay, lượng tàu Trung Quốc tiến vào biển Việt Nam ngày càng có thái độ nguy hiểm. Ngoài chuyện đánh bắt, tàu Trung Quốc còn đưa máy móc vào thăm dò biển Việt Nam, uy hiếp, cướp tài sản của tàu cá Việt… Thậm chí tàu đánh bắt gần bờ hướng Hoàng Sa cũng bị tàu Trung Quốc rượt đuổi và cướp.

Kiên Giang không có mộ gió, vì lâu nay, nơi này chỉ là vùng làm ăn thanh bình của cực Nam nước Việt. Nhưng có lẽ đến lúc người dân đi biển ở đây nghĩ về mộ gió, thứ mà biển đã muốn giữ lại con người hiền lành chăm chỉ, chỉ trả lại gió – như cái kết buồn của những số phận vô danh và luôn yêu đất nước này.

Một người quen từng kể về câu chuyện bà mẹ hóa điên khi đứa con trai út đi biển, và không trở về. Bà hay ngồi trên mộ gió của con mình và hát như một bài hát ru vào vô tận. Giọng hát miền Trung à ơi mà tôi đã được nghe khi đi qua vùng đất này – liệu có đổi giọng thành những giọng hát miền Nam hay miền Bắc vào những ngày sắp tới? Những tiếng hát Việt Nam đau thắt trong vòng vây của tình hữu nghị.

Để ghi lại những gì mình thấy, tôi hỏi ông chủ nhà trọ rằng nơi đây có internet không. Ông ngớ người ra giây lát rồi nói “Dạ chụ, nơi đây không cọ internet, chỉ có wifi thôi”. Thật buồn cười và dễ thương. Người miền Trung vậy đó, hiền lành và chất phác với đời sống. Con cá không có tổ quốc, nhưng người đi biển biết mình thuộc về nơi nào. Họ không quá dũng cảm để chọn hy sinh nhưng ra khơi là bổn phận sinh tồn mà họ không thể làm khác.

Vì vậy, dù bên tai có văng vẳng tiếng hát ru Việt Nam của bà mẹ hoá điên trên mộ gió, ngư dân Việt lại vẫn im lặng giong buồm ra biển  – như một cách để tự nhận thấy mình thật cô đơn, ngay trên chính tổ quốc của mình.

Đất Nước Nhìn Từ Phi Trường Changi

Đất Nước Nhìn Từ Phi Trường Changi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Con gái Việt Nam đẹp lắm!

Nguyễn Minh Triết

Dân Việt – khi giận – họ mắng nhau hơi kỹ, và hơi quá. Ít nhất thì cũng kỹ hơn, và quá hơn vài ba dân tộc khác mà tôi đã có dịp “chung đụng” qua ngôn ngữ thường ngày. Người Anh, người Mễ, người Pháp không chửi “đối phương” là đồ mặt mo, đồ mặt mẹt, đồ mặt dầy, hay đồ mặt thớt …   Người Tiệp, người Tầu, người Nga, người Lào, người Miên, người Miến – tôi đoán – chắc cũng không luôn.

Chúng ta, qua cách chửi, đã biểu lộ một tâm lý chung của dân tộc mình: rất sĩ diện. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi chuyện lùm xùm (làm “mất mặt” dân Việt) ở phi trường Changi đã khiến cho những người cầm viết Việt Nam – trong cũng như ngoài nước – đều nóng như hơ. Riêng nhà văn Huy Phương thì nóng như lửa:

“Những người Việt này bị đối xử như tội phạm, bị đưa vào phòng riêng, kiểm soát chặt chẽ giấy tờ, bị phỏng vấn và bắt tự đếm số tiền mang theo trước mặt nhân viên sân bay. Những người khách này buộc phải trở lại Việt Nam trên các chuyến bay đưa họ đến, hay lưu lại những khách sạn gần phi trường mà hãng hàng không Việt Nam phải đài thọ chi phí…

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể ‘khúc ruột ngàn dặm’ trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng…

Geyleng là một con lộ dài, cắt ngang bởi vài chục con hẻm lớn, ở Singapore. Nó được mệnh danh là Phố Đèn Đỏ Quốc Tế, với hàng ngàn người hành nghề bán dâm thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Riêng hai con hẻm 20 và 21 (Lorong 20 & 21) hiện nay thì gần như là giang sơn của những cô gái Việt. Ảnh: Nguyễn Công Bằng, chụp khuya 19 tháng 10 năm 2014.

Chuyện không phải bây giờ mà cách đây vài năm Singapore đã loan tin cảnh sát tổng càn quét vào khu mại dâm Việt ở Geylang và Joo Chiat, bắt giữ hàng chục gái mại dâm người Việt lẫn bảo kê. Liên tục trong vòng một tuần, chỉ riêng tại khu Joo Chiat, 52 cô gái Việt đã bị bắt giữ. Các cô trang điểm diêm dúa, ăn mặc hở hang đón xe buýt hoặc xe taxi đến quán karaoke, vô từng bàn khách, ăn uống, rượu bia, lả lơi, ôm ấp, bán dâm tại bàn rượu hoặc đi ngủ đêm với khách, cố moi tiền bằng đủ mọi cách…

Nếu danh dự phụ nữ Việt Nam bị coi thường hay chà đạp là danh dự của cả dân tộc cũng bị coi thường. Ai có trách nhiệm trong việc đàn bà con gái Việt Nam bị cấm cửa và cái mặt Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể nói xa hơn là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị lấm lem đến mức tồi tệ.”

Bài báo (“Cái Mặt Việt Nam”) của Huy Phương được phổ biến trên nhiều trang web, cùng với không ít những lời tán thưởng. Nhân tiện, tôi cũng xin mạn phép được giới thiệu một cách nhìn khác (có thể là chính xác và thấu đáo hơn) của nhà thơ Trangđài Glassey-Trầnguyễn. Theo tác giả này thì vấn đề không phải là cái mặt Việt Nam” mà là “cái khác” cơ:

chém cha cái kiếp dâm nô

đã đau đô hộ, xuống mồ càng đau

 

ai bảo chế độ thực dân chấm dứt

khi Pháp rút khỏi Việt Nam 1954?

nếu bạn Google Search, hôm nay, 2013

tìm “lịch sử nhân linh Việt”

bạn sẽ thấy

đường Trường Sơn

là ngõ tắt gần nhất

tới đường âm-đạo-bị-đô-hộ

thuộc địa của chế độ “đô hộ trắng”

tên gọi hết sức nhẹ nhàng: “white slavery”

 

trắng nỗi gì?

nó đen đặc!

khi những con cặc của bọn mua dâm toàn cầu

chen nhau lao vào

xé rách âm hộ

hùng hục

cày xới

giày xéo

giẫm nát

âm đạo nôn thốc tháo

âm đạo chết ngất

âm đạo túa máu

âm đạo ung thư

âm đạo đau lòng

công nghệ mua dâm

đã vạc hết nạc ở Đông Âu, ở Thái, ở Phi,

và ở tất tần tật những “đệ tam quốc gia”

và đây, Việt Nam, miền đất mới

độc lập, tự do, hạnh phúc!

tự do khủng,

rất hoàn cảnh,

nên bạn có thể vô tư lấy trinh của một đứa bé lên ba

(để mua vui, hay xã xui như vị Đảng viên cấp cao kia)

có thể cưới bốn (hoặc nhiều hơn) cô vợ còn trinh ở tuổi vị thành niên cùng một lúc

và có thể thản nhiên hiếp dâm hàng loạt nữ sinh trung học

mà vẫn nghênh nghênh giữ chức Hiệu Trưởng

đô hộ từ ngoài

đô hộ từ trong

cái âm đạo của phụ nữ Việt

trong thiên niên kỷ thứ ba

là nơi gánh chịu nhiều oan khiên đàn áp khổ nhục nhất

trong cả lịch sử cộng lại

cái nắng thực dân đổ dài trên âm đạo

thấm vào từng thớ thịt

đốt rụi đường về

Thúy Kiều của Nguyễn Du được hóa kiếp

nhưng Thúy Kiều ở ngoài đời thì vẫn còn lênh đênh

truyền kiếp lầu xanh

Ngô Tất Tố đưa Chị Dậu

trốn chạy con quỷ râu xanh

chống cự cái tham dâm của quan anh, quan cụ

mà cả một thế kỷ sau

Chị Dậu vẫn còn chạy

chạy đi khắp thế giới

tiền đồ vẫn tối đen

không phải mãi đến thế kỷ 21

mới có gái quê ra tỉnh đi làm nuôi gia đình

người ta gọi “đô thị hóa” nông thôn

Chị Dậu (và có lẽ nhiều cô gái quê trước cả Chị nữa)

đã đứt ruột bỏ quê, bỏ con, bỏ chồng, bỏ nhà lên tỉnh

đi ở, làm vú sữa cho quan cụ 80 thừa tiền, chuộng uống sữa người,

ngại uống sữa bò, sợ nóng

cụ chuộng luôn đôi ngực đang đau nhói của người đàn bà con mọn

xót con thơ

cái tiền đồ tối đen như mực của Chị Dậu

truyền đời

truyền kiếp

truyền lại đến hôm nay

mà vẫn tối đen như mực!

lính Mỹ đổ bộ lên âm đạo

lập những quán trắng da

phát triển ‘nền kinh tế về đêm’

âm đạo chèn giữa súng và đạn

từ trên đe dưới búa của phong kiến và đô hộ

đến dưới búa trên đe của Đảng và áp lực hiện đại hóa

đô hộ âm đạo

đó là cách giết chết một dân tộc nhanh nhất

một cách bỉ nhục nhất

một cách rốt ráo nhất

trên đe

dưới búa

âm đạo Việt Nam 2013

nát như tương

lưu lạc tứ phương

lầu xanh khắp cõi

ngay cả ở những quốc gia nghèo nhất thế giới

cũng có âm đạo Việt Nam bị đưa đến

và bị đô hộ

những đứa bé gái lên năm, lên bảy

khi được cứu ra khỏi nhà chứa

đã dùng gòn và thuốc đỏ chà nát cơ thể mình

hết ngày này sang ngày khác

để tẩy uế

thuốc đỏ cùng màu với máu

chỗ nào là máu đổ, chỗ nào không?

những đứa bé chưa kịp tuổi đến trường

bị công an Cambốt bắt giam khi soát nhà chứa

và bị tòa án Cambốt kết án là nhập cư trái phép

ôi, mỉa mai!

chẳng lẽ những đứa trẻ này tự dắt mình

từ một miền quê hẻo lánh nào đó ở Việt Nam

để vượt biên giới sang nhà chứa ở Cambốt hay sao?

hay tại ông quan tòa mù mắt và mù lương tâm?

Việt Nam đã từng bị đô hộ

bởi láng giềng phương Bắc

bởi mẫu quốc Phú Lãng Sa

nhưng mỗi lần là một quốc gia

bây giờ

Việt Nam bị đô hộ

bởi cả thế giới

và tự đô hộ mình

đô hộ ở ngay cái nơi tế nhị nhất,

riêng tư nhất,

cái nơi thiêng liêng nhất

để đón nhận yêu thương

để hòa hợp âm dương

để đưa con vào đời

để duy trì sự sống

nơi ấy bây giờ

đã thành cánh đồng chết

đã thành cửa tử

đã thành bãi tha ma

đã bị đô hộ bởi những hạng người tồi tệ nhất

từ khắp nơi đổ về

và ở khắp nơi mà người phụ nữ Việt bị đưa đến

bị bán

bị nô lệ hóa

bị chôn sống từng ngày mấy chục lượt

bị biến mất mà không có ai đi tìm

Công an V.N. đang tác nghiệp. Ảnh: banvannghe.com

ai có thể đếm được

bao nhiêu triệu cái màng trinh

đã bị chọc thủng trong tức tưởi

–         với một cái giá rẻ mạt

để trả tiền thuốc cho mẹ, tiền cơm cho cha, tiền học cho em?
mà cuối cùng vẫn không thoát ra được cái ngõ cụt mang tên “bần cùng”

–         hay không cả một xu

khi kẻ cưỡng trinh có búa liềm và cờ đỏ?
và những hứa hẹn không cần thực hiện…

trong những cái phòng lạnh bị cấm khẩu…

vì cái mạng nhện dày kệch

đói nghèo, tiền kiếp đô hộ, hiện kiếp dâm nô

tham nhũng, bóc lột, những chính sách ngu dốt sai lệch

cái cán cân lệch giữa nước đang (chưa) phát triển và những nước công nghiệp

sự bần cùng hóa nữ giới trên toàn cầu từ thời con người săn bắn và thu nhặt

vân vân và vân vân

 

cố đấm ăn xôi

xôi bị cúp

cầm bằng làm điếm

điếm không lương

quê-hương-âm-đạo

tràn đô hộ

biết đến bao giờ

tỏa được cương?

 

kẻ đô hộ chỉ có thể đô hộ

khi kẻ bị đô hộ chịu để bị đô hộ

 

hãy xoá sổ đô hộ

chặt đứt lối mòn của suy nghĩ nhược tiểu

dẹp những kềm hãm của nhịn chịu bất công

đứng lên phá đổ thành trì đô hộ

đưa ù lì trì trệ vào gông

 

đã đến lúc những âm đạo vùng lên!

Vùng lên là phải!

Tuy nhiên, viển ảnh của một cuộc nổi dậy (hay nói theo nhà văn Phạm Thị Hoài là “nổi loạn”) của âm hộ Việt Nam e còn xa xăm lắm – như Luận Văn Nghiên Cứu Về Khu Kinh Tế Mại Dâm tại Thành Phố Hồ Chí Minh (*) của tiến sĩ Kimberly Kay Hoang:

“Khách của số lớn trong nhóm phụ nữ này là những đàn ông Việt Nam nghèo với thể xác làm họ buồn nôn. Nếu thủ dâm và khẩu dâm không làm khách đạt thỏa mãn, thì giao cấu là biện pháp cuối cùng những người đàn bà này sẽ làm. Chín trong số mười hai phụ nữ mại dâm đã cho tác giả biết họ đều nôn mửa khi mới vào nghề sau khi cảm thấy tinh dịch của khách hàng trên tay hay trong miệng vì họ tởm lợm thể xác của những khách mua dâm…

Mỗi bao cao su giá khoảng 40 xu, một giá quá đắt đối với những phụ nữ mại dâm bậc thấp. Vì thế, họ thường cố gắng làm cho khách xuất tinh bằng những cách khác hơn là giao cấu…”

Khi còn rất nhiều phụ nữ Việt Nam vẫn chưa sắm nổi một cái bao cao su (“giá khoảng 40 xu”) để tự bảo vệ lấy thân, và không ít người còn phải “bán trôn rồi, lại bán cả mồ hôi” (“mà đói rách vẫn quần cho sớm tối”) thì chúng ta sẽ còn “mất mặt” đều đều – ở rất nhiều nơi khác nữa – chứ chả riêng gì ở phi  trường Changi.

Tưởng Năng Tiến

(*) Hai luận văn, “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City’s Sex Industry”(1) và “She’s Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” (2) là những công trình đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác cuả ASA và giải Cheryl Allyn Miller, Những nhà Xã hội học cho Phụ nữ trong Xã hội (2011). Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara và theo học Xã hội học tại đại học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley. [Theo Trần Giao Thủy (dcvonline.net)].

Khi lòng dân hết chịu nổi!

Khi lòng dân hết chịu nổi!

Bùi Tín

Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc Khánh 2/9 , các bài diễn văn của những nhà lãnh đạo đầy những danh từ sáo rỗng, trái hẳn với thực tế. Nào là thành quả vĩ đại, sự nghiệp vẻ vang, chiến thắng lịch sử, thời đại vinh quang, tương lai đầy hứa hẹn…

Nhưng tình hình đúng vào dịp này, đảng CS hình như cố tình trình diễn bộ mặt thật của mình. Nhà báo Đỗ Trường chỉ đùa cợt giải trí tinh thần với bài viết gồm toàn các chữ dấu sắc trên mạng cá nhân đã bị rút thẻ và sa thải, bất chấp hiến pháp và luật pháp. Sinh viên Phạm Lê Vương Các của trường Kinh Doanh và Công Nghệ bị buộc phải viết đơn xin thôi học chỉ vì em có tinh thần dân chủ và thật sự dấn thân cho dân chủ. Nghiêm trọng hơn, khi các bạn chiến đấu của tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật đến thăm, chúc mừng anh, gồm có giáo sư Phạm Minh Hoàng, các bạn Trần Thị Nga, Đặng Xuân Hoà, Trương Minh Tâm, Chu Mạnh Sơn, khi ra về đã bị một bọn côn đồ lưu manh hành hung rất táo tợn, gây thương tích. Bà con địa phương nhận diện bọn hung thủ là tay chân cộng tác viên của công an Lâm Đồng, chúng được CA thuê đi đâm thuê chém mướn, có tên là tội phạm hình sự đang thụ án sẽ được giảm án và thưởng tiền, cho về thăm nhà (theo mạng Dân luận cuối tháng 8/2015).

Theo nhà báo Đoan Trang kể lại trên mạng Dân Luận, khi cô và các bạn lên sân bay để đón anh Nguyễn Quang A từ Hoa Kỳ về  bị công an giữ lại 15 tiếng, trong khi ngồi chờ, cả nhóm bị bọn du côn cũng do công an thuê đánh đập tàn bạo, một tên rất to lớn đã bẻ tay cô, chửi rủa cô; tên này đã được chụp hình.

Lẽ ra tất cả mọi cấp công an cần phải học thuộc lòng Điều 20 của Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm thân thể, được pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.  Điều 23 còn ghi: “Công dân có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”.  Anh Nguyễn Quang A và cô Đoan Trang có quyền kiện ngành công an, những kẻ tự nhận là công bộc, đầy tớ của dân!

Với hàng chục vụ như trên xẩy ra hàng ngày, cuộc sống xã hội thật ngột ngạt, không có bình an cho mọi công dân. Bộ Chính trị đã tỏ ra vô cảm, bất động trước cuộc sống lam lũ, bất an của nhân dân. Không những vậy, cuộc sống còn ngột ngạt , đầy uất hận tăng thêm hàng ngày. Nền thống trị của một đảng tự nhận là cách mạng vì dân, đã phá sản hoàn toàn trong cuộc sống, lại còn tệ hại cay nghiệt hơn trước.

Sức chịu đựng của người dân là có hạn. Sự kiên nhẫn của toàn dân là có hạn.

Cuộc “xoay trục” để thoát Trung và gắn bó với các nước dân chủ mà nhiều đảng viên cấp cao hy vọng, toàn dân trông chờ có vẻ chỉ là đóng kịch, động tác giả. Đúng vào lúc Hoa Kỳ là nước hùng mạnh nhất khẩn thiết dang tay kết bạn, đúng vào lúc anh láng giềng lớn giở trò trở mặt có hành động xâm lược tạo điều kiện cho ta dứt tình, thì Bộ Chính trị run tay không dám bẻ lái vào con đường sáng sủa đầy triển vọng, vẫn cứ theo con đường mòn cũ kỹ, đầy ải dân tộc không biết đến bao giờ. Dân tộc Việt Nam ta với truyền thống giữ nước và dựng nước vẻ vang không thể cam chịu sự thống trị độc đoán kéo dài thêm nữa, để bất công lan rộng, người thật lòng yêu nước thương dân đòi tự do cho mọi người thì vẫn bị đầy đọa trong nhà tù.

Dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống một cuộc sống khác hẳn thực tế hiện nay, một xã hội dân chủ, công dân được tự do, bình đẳng, sự phân phối thành quả lao động và đổi mới công bằng hợp lý, một xã hội an bình, thân ái, phồn vinh, có hạnh phúc thật sự cho mỗi gia đình, cho toàn xã hội, nghĩa là một cuộc sống đáng sống, một cuộc sống hạnh phúc. Nếu không có Đảng CS, xã hội ta ắt sẽ được như thế.

Thái độ bảo thủ giáo điều, vô trách nhiệm với đất nước lâm nguy của Bộ Chính trị hiện tại chỉ làm  cho nhân dân thức tỉnh thêm, như cố tình đổ dầu vào ngọn lửa phẫn nộ đến căm giận của quần chúng mong chờ một sự đổi thay rõ rệt.

Tinh thần các chiến sỹ dân chủ đối lập trong các tổ chức xã hội dân sự lên cao thêm với số lượng hơn hẳn trước. Anh chị em rủ nhau lên tận cổng nhà tù để đón mừng công khai những người tù lương tâm được trả tự do, còn rủ nhau ra sân bay đón bạn chiến đấu từ xa về, còn tranh luận tay đôi với các viên chức chính quyền, vạch mặt bọn du côn ác ôn tay sai của công an gây sự, hành hung, với lý lẽ chặt chẽ và tư thế người giảng giải lẽ phải cho họ.

Anh em anh Đoàn Văn Vươn ra tù, tuyên bố vô tội và tiếp tục đấu tranh đòi công lý và quyền làm ăn trên đất vườn ao hồ do các anh lấn biển khai phá; bạn bè người thân đón chào các anh như những anh hùng trong các vòng tay thân thiết. Nhà các anh luôn nhộn nhịp đón các bạn xa gần trong tình thương yêu đùm bọc nhau trong cơn hoạn nạn. Đại tá đối lập Nguyễn Đăng Quang, anh Hoàng Xuân Phú và các bạn trẻ cũng về Tiên Lãng để thăm 2 anh và đặc biệt ca ngợi 2 chị Báu và Thương, vợ của hai anh.

Cũng với tinh thần cao như thế, nhà báo Trương Duy Nhất ra tù lập tức tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh vẫn với “Blog Một Góc Nhìn khác”, không mảy may e ngại sau những ngày tháng gian nan trong tù CS. Nhà tù CS đã vô tình tôi luyện anh.

Đông đảo bà con dân oan mất đất đã liên kết lại trong từng tỉnh, từng vùng, với tình nghĩa keo sơn cùng cảnh ngộ, chung lòng thương yêu đùm bọc nhau.

Thái độ ngang ngược của Bộ Chính trị, hứa hẹn hão với thế giới “sẽ giải quyết các vấn đề nhân quyền”  cũng làm dấy lên sự giận dữ và bực bội của thế giới. Nhiều nghị sỹ Hoa Kỳ, Úc, Thuỵ điển … lên tiếng đòi tự do cho các tù lương tâm, kết nghĩa với một số anh chị em, nêu đích danh các tù nhân họ đỡ đầu, như nhà báo Tạ Phong Tần, cô Bùi Minh Hằng, anh Trần Huỳnh Duy Thức. Một thượng nghị sỹ Hoa Kỳ còn công bố thư riêng gửi cho cô Hằng ở trong tù để ca ngợi, khích lệ an ủi cô.

Tất cả những sự việc trên đây trước kia là rất hiếm. Nay tình hình đối với một bộ phận lớn nhân dân là hết chịu nổi. Ai gây nên cảnh bất công, lạc hậu triền miên của đất nước? Bao nhiêu ý kiến kiến nghị tâm huyết chân thành đã bị bỏ qua, những người yêu nước, thương dân nhất thì bị cầm tù, trong khi ngành công an chà đạp Hiến pháp, luật pháp tha hồ hoành hành kết hợp với bọn con đồ lưu manh.

Lãnh đạo đảng CS hãy dành thì giờ đọc những bài tâm huyết đầy sức thuyết phục của nhà nghiên cứu – nhà ngoại giao Nguyễn Trung về Đại hội đảng XII sắp đến. Các bạn hãy đọc tiểu thuyết chính trị của Nguyễn Trung với đầu đề ngắn gọn: . Tác giả dùng hình ảnh để cảnh báo rằng Đảng CS đã phạm quá nhiều sai lầm, là nguyên nhân chính của tình trạng lạc hậu bất công kinh hoàng của đất nước trong 70 năm cầm quyền, 40 năm thống nhất đất nước. Tốt nhất là lãnh đạo đảng tỉnh ngộ sáng suốt giữ cho đảng CS tồn tại bằng cách tự thay đổi, vượt lên chính mình, chủ động cùng giới trí thức và giới kinh doanh lương thiện thỏa thuận một sự thay đổi triệt để mang tính chất cách mạng, cùng toàn dân phấn chấn đi vào kỷ nguyên Dân chủ. Đó cũng là con đường sáng, khôn ngoan sống còn duy nhất của Đảng CS.  Nếu như Bộ Chính trị vẫn giữ con đường toàn trị quay lưng lại với nhân dân, một mực mù quáng coi dân như cỏ rác thì nhân dân hết chịu nổi và tất yếu phải cùng nhau đứng dậy dành quyền sống cho mình, cho gia đình, cho quê hương, tổ quốc.

Lòng kiên nhẫn, sức chịu đựng của nhân dân là có giới hạn. Đến quá “ngưỡng” của kiên nhẫn, chịu đựng thì sẽ xảy ra, cuốn phăng mọi rác rưởi không ai chống lại nổi. Đó là lũ của lòng dân, được giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự cảnh báo trước, đã từng diễn ra tại nhiều nước bị gông cùm toàn trị đè nén quá lâu.

Mong rằng Bộ Chính trị ghi nhớ chân lý  “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.

HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

Chu Tất Tiến.

Rất nhiều người bi quan cho rằng “hạnh phúc chỉ là ảo tưởng”, một sự không có thật trên gian trần. Người khác cho rằng “hạnh phúc” là cái bánh vẽ do các nhà truyền giáo trong mọi tôn giáo đưa ra để cho người đi theo phải bám theo chân mình mãi mãi. Một số người lại tin theo một ví dụ căng thẳng hơn: Hạnh Phúc giống như miếng mồi nhử chó đua trong sân trường đua chó. Một miếng mồi được gắn vào một cái cần di chuyển rất nhanh vòng quanh vòng đua chó. Những chú chó thấy mồi liền phóng theo với hết sức mạnh, hầu đoạt được miếng mồi đó trước các chú chó cùng cạnh tranh với mình. Vì chạy hết sức như thế, đến khi bập được miếng mồi thì đã hết hơi, không còn có thể ăn được nữa.

Ngược lại, một số lạc quan lại cho rằng hạnh phúc có thật: hạnh phúc ở việc có nhiều tiền, muốn mua sắm gì thì có ngay. Người khác thấy hạnh phúc ở cái xe đẹp, nhà đẹp, vợ đẹp và con khôn. Mỗi khi đi cạnh bên người vợ trẻ đẹp thì thấy như hạnh phúc ngất trời, hãnh diện và kênh kiệu. Một số lớn thấy hạnh phúc khi thành công trong việc học hay được làm lớn. Nhìn chung, đa số những ai cho rằng hạnh phúc là có thật đều quy vào một điểm: Làm cho cá nhân mình sung sướng, thỏa nguyện vọng về vật chất tức là hạnh phúc.

Thực tế, cả hai phe, bi quan hoặc lạc quan đều chưa nhìn rõ cốt lõi của vấn đề. Người bi quan, vì lý do cá nhân nào riêng biệt, hoặc vì liên tục gặp những chuyện không may mắn mà không thể tìm ra đáp số giải quyêt vấn nạn của mình, đã không nhìn ra được hạnh phúc ở ngay trong tầm tay của họ.Thí dụ như với người phàn nàn về việc thiếu tiền để mua xe mới, nhà đủ tiện nghi cho gia đình họ, không có tiền để cho con học trường đạo, không có tiền để sửa chữa chỗ dột trên mái nhà, hoặc phải chi gần hết tiền lương hàng tháng cho tiền thuê nhà… người ấy đã không thấy rằng họ hạnh phúc hơn cả chục triệu người đang sống vất vưởng  trong các căn lều nát hay trên hè phố, chỉ mong có một bữa cơm nóng hổi là đã sung sướng cả bao ngày. Với người phàn nàn là vợ hay chồng không biết chăm nom đến gia đình, không biết chú tâm đến sức khỏe người thân, họ không nhìn thấy rằng, trong cùng giờ phút đó, cả triệu binh lính, đang phải đối đầu với bom đạn, với chết chóc lúc nào cũng sẵn sàng chụp trên đầu làm cho da thịt văng tứ phía. Kẻ buồn bực vì con mình không được học hành tử tế, không được sự quan tâm tốt đẹp của các bà Sơ và thầy cô giáo trường tư, họ quên rằng ngay trên quê hương Việt Nam, hàng triệu trẻ em đang sống dưới gầm cầu, khe hẻm, trong những cái lều dựng ngay trên bãi rác, mỗi ngày các em phải cầm chiếc que cời bước đi trên đống rác cao nghệu, mong kiếm được một vài cái hộp nhựa, chai nhựa, thậm chí vài cái bao nylong đựng rác, có  thể đựng đồ thối kinh khủng hay đôi khi có cả chân, tay em bé… Như thế, hạnh phúc có thể đã ở trong tay họ mà chính chủ nhân không hề biết.

Đối diện với nhóm người bi quan trên, người lạc quan cho rằng mình đang đầy đủ hạnh phúc đã quên rằng: cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao. Tiền bạc thì rồi cũng sẽ biến mất, như biến cố 9-11 đã làm cho hàng vạn, triệu người trắng tay. Đang là triệu, tỷ phú bỗng chốc biến thành kẻ nghèo khổ, phải sống bằng tiền trợ cấp của chính phủ. Có nhiều người đã tự tử vì không còn có khả năng thanh toán nợ nần sau 9-11. Xe đẹp hôm nay, thì biết đâu lại gây ra tai nạn ngày mai? Vợ đẹp lại như một quả bom không biết nổ giờ nào, nếu không bị ai “cua” mất, thì cũng có một ngày bất ngờ bạo bệnh mà mất đi. Chồng đẹp hoặc chồng tài năng cũng thế, ra đường dễ bị cám dỗ chẳng biết ngày nào khăn gói, gió đưa.. Còn chính con người, nói chung, tuổi trẻ thì da dẻ mịn căng, tinh thần phấn chấn, lúc nào cũng muốn bay bổng trên mây, rồi cũng tới một ngày, tự nhiên da chùng, mắt xụp. Rồi nhức mỏi, đau lưng, đau thận, buốt đầu gối, cổ vẹo cọt kẹt.. Tim đang đập đều bỗng tỏ  ra mệt mỏi, cùng với gan, ruột, phổi… mỗi ngày mỗi yếu đi, thuốc uống đầy nhà.. rồi đến lúc mọi cơ phận ngưng hoạt động.. Thế là hết. Hạnh phúc rồi đi đâu?

Cho nên, câu hỏi “Hạnh phúc có thật không? Ở đâu? Làm sao tìm được?” vẫn luôn bám vào các khuôn mặt đăm chiêu, trụ lại tại nụ cười méo mó, và tràn đầy trên những đuôi  mắt nhăn nheo. Trả lời sao bây giờ?

Thật dễ! Như lời người xưa: “Nothing is impossible!”. Hoặc “Hãy tìm, thì sẽ thấy, hãy gõ, thì cửa sẽ mở!” Hạnh phúc đầy dẫy chung quanh chúng ta, nằm trong lòng bàn tay chúng ta và sẽ tồn tại mãi trong tâm hồn chúng ta cho đến ngày chúng ta rũ bụi hồng trần: Hạnh Phúc ở việc cho đi và không hề đòi lại. Hạnh Phúc ở chỗ dùng hết khả năng của mình để tạo Hạnh Phúc cho thiên hạ. Hạnh Phúc ở trái tim Nhân Từ, tâm hồn rộng lượng, thấy chỗ nào đau khổ, thì tìm đến và an ủi, thấy ai thiếu thốn thì mang phần tài sản, vật liệu của mình mà bù đắp cho họ. Những người theo Phật Giáo thì lấy lòng Từ Bi mà đãi ngộ chúng sanh. Theo Thư Viện Hoa Sen: “Từ là cho vui, Bi là cứu khổ diệt khổ, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho tất cả mọi loài chúng sanh, đó là hành động lợi tha cứu đời.” Những Phật Tử có lòng Từ Bi thật thì tâm luôn an hòa, chỉ nhìn vào sắc diện cũng biết ngay là người lúc nào cũng hạnh phúc.

Với Tín đồ Công Giáo hay Tin Lành, thì muốn theo Chúa, phải có lòng yêu Người. Riêng đạo Công Giáo thì có “thương xác bẩy mối”: “Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn. Thứ hai: Cho kẻ khát uống. Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc. Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Thứ năm: Cho khách đỗ nhà. Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi. Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết.” Những hành động trên được thực hiện chỉ vì dựa vào hai chữ Bác Ái mà thôi.

Đạo Cao Đài lại có riêng một “cơ quan Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên con đường sinh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát hoặc giúp tay cho bên hành chánh thi hành luật pháp dễ dàng.” (Wikepedia).  Các tín hữu Hòa Hảo thì lấy Nhân, Nghĩa làm đầu: “Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân, Muốn về cõi Phật lập thân cõi trần”.

Tóm lại, người có lòng Nhân, cho dù thuộc bất cứ tôn giáo nào, lúc nào cũng thấy Hạnh Phúc trùng trùng điệp điệp, không bao giờ thiếu thốn. Kẻ có tâm tốt, khi nhìn thấy một thân xác bệnh tật, đói khổ mà nhờ bàn tay mình, mà khỏe mạnh, vui tươi, thì nhất định lòng mừng vui, hớn hở còn hơn người khỏi bệnh kia. Thấy hình ảnh một gia đình Thương Phế Binh, vui cười khoe cho mình chiếc xe lăn mới, hay một giấy chứng chỉ học giỏi của đứa con nhỏ, người Ân Nhân nhất định sẽ nhỏ giọt lệ mừng vui khôn tả. Để suốt đời, mỗi khi nhớ lại niềm hạnh phúc của người mà mình giúp đỡ, thì chính mình lại thấy hạnh phúc trào dâng, không bao giờ hết, cho đến giờ từ giã gian trần, vẫn nở nụ cười hạnh phúc. Thật ra, cũng không cần thiết phải làm chuyện lớn mới là Hạnh Phúc. Chỉ cần một nụ cười chia xẻ với người đang buồn bực, một góp ý chân thành với người đang khổ đau, một sự kiên nhẫn lắng nghe kẻ bất hạnh kể chuyện… cũng là những hành động vì lòng thương người. Cho nên, với tất cả những ai có lòng thương người thật, thì Sự Chết chỉ là một lần di chuyển đến miền Hạnh Phúc miên viễn trong đấng Tạo Hóa mà thôi.

Tiếc thay, bên cạnh những con người đi cầu Hạnh Phúc lại có những kẻ Bất Hạnh, vì tâm hồn khô héo, ích kỷ lúc nào cũng bo bo tìm hạnh phúc vật chất cho chính mình nên không bao giờ thấy Hạnh Phúc thật. Chỉ  vì lòng ghen ghét, tị nạnh, vị kỷ mà đầu óc luôn vận động suy nghĩ cách này, cách khác để cho mình được đứng trên, ngồi trước thiên hạ, nên căng thẳng chập chùng. Những kẻ này, ngay cả lúc đi ngủ cũng thấy mưu kế hiện ra trong óc, phải triệt hạ thằng này, phải làm cho con nọ táng gia bại sản, phải làm sao cho mình được bầu làm Chủ Tịch, Hội Trưởng, Trưởng Ban.. Như thế, thì mãi mãi không có bao giờ óc não được sự nghỉ ngơi, và nếu hệ thần kinh không được nghỉ ngơi, thì nhất định chóng già, chóng bệnh, và chóng chết.

Suy nghĩ đến chỗ này, lại một câu hỏi đặt ra cho những người mưu cầu Hạnh Phúc thật: “Làm thế nào để giúp cho những kẻ bất hạnh kia được hạnh phúc như mình?” Đây là câu hỏi khó có giải đáp, nhưng như đã nói ở trên, hạnh phúc không tự nhiên đến, mà phải kinh qua bao hy sinh, nhẫn nhịn, và chấp nhận thiệt thòi cho chính cá nhân mình. Vậy, “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi, e sông.” Có phải không, những ai đang tìm Hạnh Phúc thật?

Chu Tất Tiến,

9 tháng 9 năm 2015.

Một vài kỷ niệm nho nhỏ với Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Một  vài  kỷ  niệm  nho  nhỏ  với  Thi  sĩ  Nguyễn  Chí  Thiện

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Thi sĩ, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện (1939 – 2012) là một nhân vật được nhiều người quý trọng mến phục vì tinh thần kiên cường bất khuất của ông chống lại chế độ độc tài tàn bạo của đảng cộng sản tại Việt nam. Đã có rất nhiều người viết về ông, đặc biệt kể từ ngày ông lìa trần tại California vào tháng 10 năm 2012. Nay nhân ngày giỗ đọan tang của ông, tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm thật dễ thương và đáng nhớ với một người bạn đã từng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQ) có trụ sở chính đặt tại miền Nam California.

Từ hồi năm 2001, khi dọn về cư ngụ tại California, anh Thiện đã thường xuyên sinh họat với MLNQ chúng tôi. Anh được mời tham gia với tư cách là một thanh viên trong Ban Cố vấn của MLNQ – trong đó có những nhân vật có tên tuổi như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách là bào đệ của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Luật sư Trần Thanh Hiệp, Giáo sư Đoàn Viết Họat v.v…

Trong các phiên họp định kỳ mỗi tháng, anh Thiện thường có mặt và anh luôn đóng góp những ý kiến thật là xây dựng tích cực và quý báu cho Ban Điều hành chúng tôi.

Với sự hiểu biết sâu sắc về tình hình chính trị xã hội ở trong nước và nhất là qua những thông tin chính xác mà anh thu thập được từ nơi các bạn bè thân tín của anh tại quốc nội – anh Thiện đã góp ý hướng dẫn rất tận tình cho anh chị em chúng tôi trong MLNQ trước những vấn đề quan trọng tinh tế liên quan đến công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt nam. Anh luôn biểu lộ một lập trường kiên định dứt khóat đối với chế độ độc tài thâm độc của người cộng sản từ xưa đến nay. Mà anh cũng được tất cả anh chị em chúng tôi quý mến vì cái phong cách điềm đạm nhân ái của một sĩ  phu quân tử, theo đúng với truyền thống xưa nay của dân tộc chúng ta.

Và qua anh Thiện, chúng tôi còn được biết thêm về cái tư cách đáng quý của những người bạn tù chính trị thân thiết lâu năm với anh, cụ thể như các anh Kiều Duy Vĩnh, Phan Hữu Văn v.v…

Anh Thiện không lái xe, nên nhiều người trong số anh chị em chúng tôi thay phiên nhau đến đón anh và chở anh về mỗi khi có các buổi họp của MLNQ. Và mỗi lần đi chung xe với anh Thiện, chúng tôi lại còn được anh chuyện trò tâm sự về nhiều khía cạnh trong cuộc sống riêng tư ở Việt nam, cũng như ở nhiều quốc gia trên thế giới mà anh đã có dịp đi qua. Còn ngòai ra, thì anh Trần Phong Vũ mới là người tài xế thường xuyên lo chuyên chở anh Thiện đi khắp nơi.

Vào khỏang năm 2008, trong lần đi chung xe với anh sau một phiên họp của MLNQ, thì anh Thiện có than thở tâm sự riêng với tôi đại để như thế này: “Ở vào cái giai đọan già yếu bệnh tật như lúc này, sao tôi thấy chán nản bi quan quá đối với cuộc đời tại thế này đấy, anh ạ…” Nghe vậy, tôi không khỏi thắc mắc, vì đối với một con người chiến sĩ kiên cường sắt đá như “Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện” vốn đã từng vượt qua được bao nhiêu đày đọa áp bức trong nhà tù cộng sản suốt gần 30 năm ròng rã – ấy thế mà lúc này đang sinh sống tại một nơi có đày đủ tự do và tiện nghi thỏai mái như ở nước Mỹ, anh lại đâm ra chán chường yếm thế đến như vậy!

Và tôi nhớ mình đã trả lời anh như sau: “ Thông thường vào lúc cuối đời, sau khi đã trải qua bao nhiêu sóng gió đọan trường trong cuộc sống, thì các cụ xưa hay nói đến chuyện “Tu Thân Tích Đức” để rồi chuẩn bị “về với ông bà tổ tiên” thôi. Nói cách khác, người lớn tuổi thì tìm cách nâng cao tâm hồn mình lên một bình diện tâm linh và tôn giáo – như trong tiếng Pháp người ta gọi đó là một thứ “dimension spirituelle/religieuse” vậy mà… Nghe tôi nói như vậy, anh Thiện tỏ vẻ trầm ngâm và không nói gì thêm nữa cho đến lúc chúng tôi chia tay nhau ở một địa điểm mà anh phải đến để tham dự một phiên họp khác nữa.

Vào năm 2013, nhân dịp Đại Hội lần thứ XI của MLNQ được tổ chức tại miền Nam California, Bác sĩ Lâm Thu Vân, một đại biểu đến từ Canada đã phát biểu trong phần Tưởng niệm hai vị Cố vấn vừa mới qua đời mới đây, đó là Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện và Bác sĩ Nguyễn Tường Bách. Bằng một giọng thật xúc động Bác sĩ ThuVân nói :”Đây là hai người chiến sĩ mà tôi luôn kính trọng như là thần tượng gương mẫu cho công cuộc tranh đấu gian khổ vì lý tưởng Tự do, Dân chủ và Nhân quyền của dân tộc Việt nam chúng ta vậy…”

Như dân gian vẫn thường nói: “Cọp chết thì để lại bộ da, người ta chết thì để lại cái nết”. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã đi xa, lìa khỏi cõi tạm này. Nhưng cái nết na, đạo hạnh và cái chí khí kiên cường bất khuất của anh thì vẫn còn lại mãi như là một tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau vậy./

Westminster California, tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

ĐỨC MẸ SẦU BI

ĐỨC MẸ SẦU BI

LM Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.

Hôm nay, chúng ta cử hành lễ nhớ “Đức Mẹ Sầu Bi”.  Như thế, trong đời sống của Đức Mẹ, cũng có những điều sầu bi, như trong đời sống của tất cả mọi người chúng ta.  Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta có nhiều lễ tôn vinh Đức Maria, Mẹ của chúng ta, nhưng hầu như luôn luôn là vì những ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho Mẹ (chẳng hạn ơn vô nhiễm, ơn lên trời, ơn làm Nữ Vương…), hay vì những biến cố đặc biệt trong cuộc đời của Mẹ (Sinh Nhật, Truyền Tin, Thăm Viếng…)  Chính vì thế mà, lễ Đức Mẹ Sầu Bi là một ngày lễ rất đặc biệt, bởi vì lễ này mời gọi chúng ta tôn vinh Đức Mẹ, với một khuôn mặt rất đời thường, và vì thế rất gần gũi với chúng ta: Đức Mẹ Sầu Bi, và chúng ta cũng sầu bi, không phải một lần, nhưng nhiều lần trong cuộc đời!

Vậy chúng ta đã có và đang có những sầu bi nào?  Tuy nhiên, trong ngày lễ hôm nay, chúng ta được mời gọi hướng về Đức Mẹ và “suy chiêm” những đau khổ của Mẹ.  Bởi vì, những đau khổ của Mẹ sẽ làm cho chúng ta hiểu biết Mẹ hơn và như thế, yêu mến Mẹ nhiều hơn.  Ngoài ra, những đau khổ của Mẹ còn soi sáng và dẫn dắt chúng ta trong cuộc sống đầy khổ đau này.

Bảy sự đau khổ của Đức Mẹ

Như chúng ta đều đã biết, Truyền Thống của Giáo Hội thích dựa vào các Tin Mừng, để kể ra những đau khổ của Đức Mẹ, và Giáo Hội kể ra được bảy đau khổ; vì thế, ngày lễ hôm nay, còn được gọi là lễ “Đức Mẹ Bảy Sự”.  Con số “bảy” cũng thật là ý nghĩa, bởi vì số 7 đối với người Do Thái, là con số hoàn hảo, cũng giống như số 9 đối với chúng ta.  Điều này làm cho chúng ta nhớ lại các con số bảy của bài một Tin Mừng theo thánh Mát-thêu: bảy lần; bảy mươi lần bảy (x. Mt 18, 21-35); bảy giỏ (x. Mc 8, 8).  Sau đây là “bảy sự” của Đức Mẹ:

1.     Lời của cụ ngôn sứ Simêon về Đức Maria (Lc 2, 25-35), là bài Tin Mừng chúng ta có thể đọc trong ngày lễ hôm nay, theo sách Phụng Vụ các bài đọc.

2.     Trốn sang Ai-cập (Mt 2,13-15)

3.     Lạc mất Đức Giê-su (Lc 2,41-52)

4.     Đức Mẹ nhìn Đức Giê-su vác thập giá (Lc 23,27)

5.     Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá (Ga 19, 25-27), là bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay.

6.     Đức Mẹ đón nhận thân xác đã chết của Đức Giê-su (Ga 19,38-40)

7.     Đức Mẹ ở bên mộ Đức Giê-su (Ga 19,41-42)

Điều phải đánh động chúng ta, khi đọc qua danh sách bảy sự đau khổ của Đức Mẹ, đó là mọi sự đau khổ của mẹ đều có liên quan đến Đức Giê-su, con của Mẹ; một cách cụ thể, những đau khổ của Mẹ đến từ biến cố Giáng Sinh, đến từ đời sống ẩn dật, đến từ sứ mạng rao giảng Nước Trời, đến từ cuộc Thương Khó, đến từ Thập Giá, và sau cùng đến từ cái chết của Ngài.

Như thế, chính khi Đức Mẹ thưa “xin vâng”, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, để đón nhận Đức Giê-su, Con Thiên Chúa vào trong cuộc đời của mình, và chính khi Đức Mẹ sống lời xin vâng của mình mỗi ngày và sống cho đến cùng, đến tận chân Thập Giá và cho đến hết cuộc đời, thì tất yếu đau khổ xẩy ra cho Mẹ.  Bởi vì, như chúng ta có thể nhận ra trong bảy đau khổ của Mẹ: Đức Mẹ sinh ra Đức Giê-su, nhưng Đức Mẹ lại được mời gọi không nuôi nấng và dưỡng dục Ngài theo ý riêng của mình, theo chương trình hay kế hoạch riêng của mình, nhưng là để cho Ngài lớn lên theo chương trình của Thiên Chúa; Đức Mẹ đón nhận Đức Giê-su vào cung lòng và vào cuộc đời mình, nhưng Mẹ lại được mời gọi, như tất cả chúng ta cũng được mời gọi, đi theo Đức Giê-su trên con đường của Ngài; mà con đường của Đức Giê-su là con đường dẫn đến Thánh Giá.

Những đau khổ của Mẹ đến từ việc Mẹ đi theo Đức Ki-tô, Mẹ gắn bó thiết thân với Đức Ki-tô, Mẹ trở nên một với Đức Ki-tô, nhất là với “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.  Và tất cả chúng ta đều có cùng một kinh nghiệm này, giống như Đức Mẹ.  Thật vậy, từ khi chúng ta trở thành Ki-tô hữu, và nhất là từ khi chúng ta đáp lại tiếng gọi đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi gia đình hay trong ơn gọi dâng hiến, và cố gắng sống ơn gọi của chúng ta mỗi ngày, chúng ta phải cho đi chính mình, cho đi thời gian, cho đi tất cả những gì rất thiết thân đối với chúng ta, đó là quyền làm chủ, giới tính và tình cảm, ý muốn…, thì tất yếu sẽ có nhiều đau khổ.  Nhưng tại sao chúng ta lại mang vào mình những đau khổ, nếu không phải là muốn noi gương Đức Mẹ?

Thật vậy, như Đức Mẹ, vì tình yêu đối với Đức Ki-tô, chúng ta ước ao trở nên nữ tì, trở nên tôi tớ của Ngài, chúng ta ước ao sống theo Lời của Ngài.  Và chính tình yêu và lòng ước ao này làm cho chúng ta hạnh phúc bất chấp những đau khổ, và ngay trong những đau khổ, bởi vì có một niềm hạnh phúc đặc biệt, đó là hạnh phúc đau khổ vì tình yêu.  Như thánh Augustino nói: “Trong tình yêu không có đau khổ, và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

Đau khổ thứ năm: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá

Hình ảnh Đức Mẹ đứng dưới chân Thập Giá, mà bài Tin Mừng mời gọi chúng ta chiêm ngắm trong ngày lễ hôm nay, nói lên sự nghịch lí này của Tin Mừng và của mầu nhiệm Vượt Qua.

Dưới chân thập giá, Mẹ sầu bi, nhưng Mẹ vẫn đứng vững chứ không ngã quị.  Chúng ta nên đi lại hành trình của Mẹ Maria, từ biến cố truyền tin, để hiểu được tại sao Mẹ đứng vững.  Chúng ta cũng cần đi theo Đức Kitô như Mẹ, để có thể đứng vững dưới chân thập giá.  Và không cần phải đợi đến biến cố phục sinh, nhưng ở tột đỉnh của sự trao ban, nghĩa là trao ban đến không còn gì, chúng ta được mời gọi nhận ra sự sống mới phát sinh, phát sinh thật đồi dào, phát sinh từ Lời sự sống của Đức Giêsu được thốt lên ngay nơi chết chóc và lúc Ngài đang chết đi.  Thật vậy, ngay trong đau khổ của sự chết, một Gia Đình mới phát sinh: Đức Giê-su, nhìn Mẹ, và nói:

–       Thưa Bà, đây là con của Bà.

Như thế, chính lúc Mẹ đang mất đi người con này, mẹ trở thành Mẹ của người con khác; và từ người con này, dưới sức mạnh của Đấng Phục Sinh, sẽ trở thành đông đúc, trong đó có cả con trai lẫn con gái.  Chính lúc Mẹ bình an dâng hiến người con Duy Nhất, Mẹ nhận lại gấp trăm, nơi Người Môn Đệ Đức Giê-su thương mến.  Và Mẹ cũng không mất đi Người Con Duy Nhất của Mẹ, vì Ngài sẽ hiện diện ở nơi anh chị em mới của Ngài.

Từ hi sinh thập giá, giữa cơn thử thách, ngay trong sự chết, một nhân loại mới phát sinh: những gì của con là của Mẹ; những gì của Thầy là của anh.  Cái chết của Đức Giêsu đã làm phát sinh sự sống:  Mẹ trở thành Mẹ của Người Môn Đệ Đức Giêsu yêu mến, đại diện cho tất cả các môn đệ thuộc mọi thời; khi dâng hiến người con duy nhất, Mẹ không mất đi, nhưng nhận lại Ngài nơi các môn đệ, nơi cả một đàn con đông đúc.  Bởi vì, Đức Giêsu sẽ đi vào sự sống mới và hiện diện bên cạnh, ở giữa và bên trong các môn đệ nam nữ.

Xin Chúa cũng ban cho chúng ta có cùng một kinh nghiệm của Đức Mẹ: dưới chân thập giá đau thương của cuộc đời, của hành trình ơn gọi, xin chúng ta cảm nhận với niềm vui và hạnh phúc, sự sống mới của Đức Ki-tô đang phát sinh ngay hôm nay, và phát sinh thật dồi dào.

LM Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.

Sức mạnh của sự tập trung.

Sức mạnh của sự tập trung.

“Cuộc sống đem đến nhiều mối bận tâm, nhưng nếu không biết loại bỏ và tập trung cho những điều mình mong muốn thì bạn mãi là người vô danh.”

Ở một vùng quê nọ, có hai cha con một nhà trồng hoa đang sinh sống trong một khu vườn rộng lớn. Người cha chăm chỉ, yêu lao động và rất thành công trong lĩnh vực trồng hoa. Còn người con có rất nhiều tài.

Anh lớn lên trong vòng tay yêu thương và đầy đủ vật chất mà người cha ban cho. Anh đã học được nhiều nghề, làm được nhiều điều hay. Nhưng ở tuổi 35, anh vẫn là một người vô danh trong xã hội. Anh luôn suy nghĩ về điều này, vẫn không thể hiểu tại sao mình làm nhiều điều mà đến giờ vẫn là “con số 0”.

Người cha hiểu ý, liền đưa anh đến vườn hoa mà ông chuẩn bị thu hoạch. Ông chỉ vào cây bông hồng to nhất, đẹp nhất và rực rỡ nhất nằm giữa vườn cho cậu con trai và hỏi:

– Con có biết tại sao cây bông hồng kia lại to và đẹp rực rỡ hơn các cây khác không?

– Có phải vì cha mua giống mới không?

– Không phải – người cha đáp – tất cả đều chung một giống hoa con ạ.

– Thế có phải cha tưới cho nó nhiều nước và bón cho nó nhiều chất dinh dưỡng hơn không?

– Cũng không phải. Điều kiện chăm sóc và môi trường sinh trưởng của chúng đều như nhau.

– Vậy thì chắc là đất ở chỗ đó tốt hơn?

– Con lại sai nữa rồi. Đất cũng giống nhau.

Người con không biết trả lời sao nữa. Anh nghĩ mãi nhưng vẫn không thể giải thích nổi. Lúc này, người cha mới ôn tồn bảo:

– Con có nhận thấy cây bông hồng này ít lá và ít nụ không?

– À đúng rồi. Nhưng có nghĩa là gì hả cha?

– Trong khu vườn này, chỉ duy nhất có cây bông này là ta thường xuyên nhìn tới. Khi thấy nhiều lá mọc quanh nó, ta tỉa bớt. Khi thấy nó có nhiều chồi, nhiều nụ đâm ra, ta cũng tỉa bớt.

Người con có vẻ hiểu ra điều gì đó, gật đầu liên tục. Người cha tiếp lời:

– Tất cả các cây hồng đều có điều kiện sống như nhau, nhưng cây này lại được đặc ân của ta là tỉa bớt cành, nụ và lá nên chất dinh dưỡng sẽ tập trung vào bông hoa, không bị phân tán đi nơi khác. Chính vì thế nó to hơn, đẹp hơn và rực rỡ hơn.

Trầm ngâm một lúc, ông lại tiếp:

– Cũng như con, tuy con rất giỏi, rất nhiều tài, làm được rất nhiều việc nhưng vẫn giống như những người khác vì con thiếu tập trung, bị phân tán năng lượng và thời gian vào quá nhiều thứ. Con cần phải xác định mình sẽ trở thành người như thế nào trong 5 năm tới. Con đam mê gì nhất, điều gì khiến cho con trăn trở nhất, điều gì khiến con có thể sống chết với nó dù có khó khăn? Lúc đó con sẽ là người thành công, con trai ạ.

Lúc này, người con đã hiểu ra vấn đề. Anh khóc rồi quỳ xuống hôn vào tay người cha và cảm ơn ông về câu chuyện đã giúp anh nhìn nhận cuộc đời tốt hơn.

Trong mỗi người chúng ta, ai cũng có nhiều mối quan tâm, nhiều sự lựa chọn cho cuộc sống và sự nghiệp. Nhưng nếu biết cách sắp xếp công việc một cách hợp lý, tập trung vào mục tiêu quan trọng thì chúng ta sẽ thành công trọn vẹn hơn.

Ngọc Nga sưu tầm

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!


Bài phát biểu của ông Nguyên Ngọc
tại lể khai giảng Trường Đại học Phan Châu Trinh

Hôm nay, mồng 9 tháng 9 năm 2015, kỷ niệm ngày sinh của nhà chí sĩ, nhà văn hóa và nhà giáo dục kiệt xuất Phan Châu Trinh, cũng là ngày truyền thống của trường ta, trường Đại Học Phan Châu Trinh làm lễ Khai giảng khóa K 15, khóa học 2015-2019.

Thay mặt lãnh đạo nhà trường, tôi xin chào mừng và chân thành cám ơn các vị đại biểu đã đến chia vui cùng thầy trò chúng tôi. Xin chào mừng tất cả các thầy cô, các cán bộ nhân viên, các sinh viên và cựu sinh viên của trường. Và đương nhiên, lời chào nồng nhiệt nhất hôm nay của tất cả chúng ta là dành cho các tân sinh viên, chào mừng các em nữ và nam từ khắp nơi, có em từ tận Thái Bình cuối Đồng bằng sông Hồng, có em từ tận Thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, đã đến với không gian Phan Châu Trinh thân yêu của chúng ta. Tôi xin phép, và tôi tin chắc tất cả quý vị đều đồng ý cho phép tôi hôm nay dành diễn từ khai giảng này để chủ yếu nói với các tân sinh viên, những thành viên mới mẻ và trẻ trung của gia đình Phan Châu Trinh.

Các em thân yêu,

Như các em đều biết, trường của chúng ta có tên là trường Đại học Phan Châu Trinh. Và tôi xin nói: Những người sáng lập ngôi trường này đã chọn cái tên ấy với tất cả tâm huyết và với một ý tứ sâu xa. Bởi vì đấy là tên của một con người rất đặc biệt, cũng có thể nói rất kỳ lạ, hết sức độc đáo và là người sáng suốt nhất trong lịch sử cận đại và hiện đại của nước ta. Sự sáng suốt của ông còn soi đường cho chúng ta đến tận ngày nay.

Phan Châu Trinh sinh ra khi đất nước chìm đắm trong vòng nô lệ tối tăm và thảm khốc. Và khi ông bước vào đời, nghĩa là đến tuổi như tuổi các em hôm nay, thì tất cả các cuộc nổi dậy cứu nước của tất cả những người anh hùng dũng cảm và tài năng nhất để chống ngoại xâm giải phóng dân tộc bấy giờ đều thất bại đau đớn. Cha của Phan Châu Trinh là một vị tướng anh hùng đã chết trong một cuộc khởi nghĩa anh hùng, tuyệt vọng và thất bại cay đắng như thế … Trước tình hình bức thiết đó, nảy sinh câu hỏi nóng bỏng: Vì sao? Và làm thế nào? Tất cả bấy giờ đều chỉ có một câu trả lời: Phải anh hùng hơn nữa! Dám hy sinh nhiều hơn nữa ! Tất cả. Trừ một người. Người đó là Phan Châu Trinh. Ông nói: Không, không phải như vậy, không thể đi con đường ấy nữa. Ông là người duy nhất đi tìm và đã tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc bị đày đọa vào vòng nô lệ thảm khốc, không phải trong sự thiếu anh hùng của nhân dân, mà là ở trong văn hóa, trong sự lạc hậu nguy hiểm về văn hóa của đất nước, so với thế giới, một thế giới đã đổi khác về căn bản – ngày nay ta gọi là thế giới toàn cầu hóa – mà ông cũng là người duy nhất hồi bấy giờ nhận ra. Ông nói chính sự tăm tối và ngu dốt, sự lạc hậu quá xa so với thế giới hiện đại là nguyên nhân khiến Việt Nam mất nước. Ông khẳng định căn bệnh chết người của dân tộc là căn bệnh về văn hóa, ngu dốt và lạc hậu về văn hóa. Và để chữa trị một căn bệnh về văn hóa thì chỉ có một phương thuốc duy nhất, đó là Giáo dục. Phan Châu Trinh chủ trương một cuộc cải cách giáo dục căn bản, hiện đại, triệt để, toàn diện, rộng lớn, đưa Việt Nam thành một nước văn minh, tiên tiến, cùng nhân loại năm châu. Có như vậy thì nền độc lập đươc dành lại dù bằng cách nào mới là độc lập thật sự, độc lập mới bền vững, nhân dân mới thật sự có hạnh phúc …

Tiếc thay, những điều kiện éo le của lịch sử đã khiến cho chương trình vĩ đại của Phan Châu Trinh bị dở dang. Lịch sử đã đi theo con đường khác. Độc lập và thống nhất đã được dành lại. Nhưng, tôi nghĩ hôm nay chúng ta cần dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau, chúng tôi có trách nhiệm thẳng thắn nói với các bạn trẻ sự thật này: nay chúng ta đã có độc lập rồi, nhưng căn bệnh chết người Phan Châu Trinh đã thấy và thống thiết muốn chạy chữa cho dân tộc hơn một trăm năm trước thì về cơ bản vẫn còn nguyên đấy. Vẫn là nguy hiểm chết người. Việt Nam vẫn là nước lạc hậu, đứng ở hàng cuối không chỉ của thế giới, mà ngay của khu vực, của châu Á và Đông Nam Á. Chúng ta phải dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau sự thật ấy. Chính vì vậy mà ngôi trường này mang tên là trường Phan Châu Trinh. Ngôi trường này được thành lập, tất cả chúng ta có mặt ở đây, các thầy cô giáo, các cán bộ nhân viên của trường, và các em sinh viên trẻ trung, quan trọng và chủ yếu nhất là các em, chúng ta có mặt ở đây là để góp phần, dù là nhỏ nhoi, tiếp tục chương trình sống còn do nhà giáo dục vĩ đại Phan Châu Trinh khởi xướng và còn bị dở dang. Trường của chúng ta nhỏ, còn non trẻ và nghèo, sức của mỗi chúng ta hạn chế, nhưng chúng ta có một lý tưởng lớn, chúng ta, người dạy, người học, chúng ta biết chúng ta tham gia vào một chương trình to lớn và có ý nghĩa sinh tử đối với đất nước này, hôm nay và ngày mai.

Thưa quý vị,

Các em thân yêu,

Ở trên tôi có gọi Phan Châu Trinh là một nhà giáo dục lớn, có lẽ điều ấy hơi lạ, xưa nay người ta thường vẫn coi và vẫn gọi ông là một chí sĩ yêu nước, hoặc có nhiều hơn nữa, là một nhà văn hóa. Song như ta vừa thấy, một trong những đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh là ở chỗ ông đồng nhất giáo dục với giải phóng, theo ông chỉ có giáo dục mới thật sự giải phóng được con người, thật sự giải phóng được dân tộc. Ông quan niệm giáo dục tức là giải phóng. Ở đây có một ý tứ rất thâm sâu, mà hôm nay tôi muốn được nói với các em vì trường chúng ta thiết tha đi theo quan niệm này, sẽ cố gắng tối đa thực hiện nó trong mọi hoạt động của mình, đến cả trong “khí quyển’’ của không gian Phan Châu Trinh mà thầy trò chúng ta cố gắng cùng nhau xây dựng nên, cùng sống và làm việc trong đó. Suốt 4 năm. Và rồi các em sẽ mang theo ra đời, suốt đời.

Nhà thơ lớn của nước Anh John Keats có một câu nói thâm thúy về giáo dục, Keats nói: ‘’Giáo dục không phải là chất cho đầy, mà là đốt lên ngọn lửa’’. Chất cho đầy (kiến thức) tức là rót từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống, đổ cho đầy vào đầu con người được coi là một cái thùng ù lì, bị động. Đốt lên ngọn lửa là khêu cháy từ bên trong. Giáo dục khêu cháy từ bên trong, vì giáo dục bắt đầu bằng lòng tin rằng trong mỗi con người đều có, tiềm ẩn, mầm mống của một ngọn lửa, tức những năng lực có thể và cần được đánh thức dậy để phát triển. Giáo dục là giải phóng, là đánh thức. Đánh thức cái vốn đã có sẵn trong từng con người, từng người học, từng sinh viên. Hôm nay, trong ngày đầu tiên các em bước chân vào trường, tôi muốn nói với các em điều này: ở trường này có một phương châm, một niềm tin: không có sinh viên kém. Em nào cũng giỏi, tất cả, không trừ một ai, tạo hóa rất công bằng, mọi người đều giỏi, mỗi người giỏi một cái, một cách, người giỏi toán, người giỏi văn, người giỏi ngoại ngữ, người giỏi tin học, người giỏi nhạc, người giỏi đá bóng, người hát hay, người vẽ đẹp, người năng nổ trong giao tiếp, người thâm trầm trong suy nghĩ …, đều quý, xã hội đều cần vì xã hội có những nhu cầu hết sức đa dạng. Sở dĩ ta coi người này hay người kia là kém, dốt, vì ta thường có lối đòi hỏi chủ quan, vô lý và kỳ quặc, cứ một mực đòi mọi người đều phải giỏi cùng một thứ mà ta cũng rất chủ quan coi là quan trọng nhất, ai không giỏi theo đúng đòi hỏi chủ quan của ta thì ta cho là dốt, khinh miệt và đẩy qua một bên trên đường đi tới của cộng đồng. Nói cho đúng, đấy là một tội ác, bởi vì người bị ta chủ quan coi là dốt sẽ đinh ninh mình dốt thật, chẳng đáng gì trong xã hội, mất hết tự tin, tự coi thường, tự khinh bỉ chính mình, sẽ lủi thủi với cái dốt tưởng tượng, thành một ám ảnh tủi nhục suốt đời.

Ở trường này chúng ta nhất quyết không làm như vậy, không đi theo con đường phi nhân bản, phi giáo dục đó. Chúng ta chủ trương làm một kiểu giáo dục khác, một kiểu giáo dục hạnh phúc, giáo dục đem lại cho con người hạnh phúc, giáo dục khiến cho con người hạnh phúc hơn, giáo dục làm cho con người tự tin và tự hào về chính mình, tôi muốn đề nghị chúng ta gọi là ‘’kiểu giáo dục Phan Châu Trinh’’. Trong 4 năm tới, bắt đầu từ hôm nay, trường chúng ta, thầy trò chúng ta quyết cùng nhau làm cho kỳ được một trong những việc quan trọng nhất: bằng mọi cách (trong đó có một cách rất quan trọng là chương trình giáo dục khai phóng mà chốc nữa thầy Chu Hảo sẽ trao đổi cùng các em), giúp cho mỗi em tự hiểu mình, tự khám phá và phát hiện chính mình, biết cho ra, hiểu cho rõ mình giỏi cái gì, đặc sắc nhất cái gì, từng em. Theo tôi, đó là công việc quan trọng nhất của mỗi thầy cô giáo, nằm trong chiều sâu căn bản của thiên chức nhà giáo nơi mỗi thầy cô. Nhưng cũng đương nhiên, trước hết, chủ yếu, đó phải là nổ lực của các em, từng em, với sự giúp đỡ của các thầy cô, của các bạn, của toàn bộ môi trường giáo dục mà chúng ta phải cùng nhau tạo ra ở đây. Trước hết ở các em, từng em, tôi nhắc lại. Bởi vì phát triển bao giờ cũng là tự phát triển, như cái cây phải tự nó lớn lên, không ai có thể lớn lên thay nó được.

Và một quá trình như vậy chỉ có thể có kết quả khi nó là một sự hợp tác khắng khít, dân chủ, tự do và bình đẳng giữa chúng ta, người dạy và người học, thầy và trò.

Ở trường này có một nhận thức rõ ràng: sinh viên là công dân đi học. Sinh viên cần ứng xử như một công dân có trách nhiệm, và cần được tôn trọng như một công dân tự do. Chúng ta tôn trọng đúng mức lễ độ truyền thống và hiện đại giữa thầy và trò, người lớn tuổi hơn và người ít tuổi hơn, người đi trước và người đi sau, nhưng chúng ta bình đẵng trước chân lý cuộc sống và chân lý khoa học. Trường có quy định: trên lớp học, sinh viên sẽ không xưng con, xưng cháu, mà xưng tôi, một cách bình đẳng và tự tin, hoặc cũng có thể xưng em với giáo viên, các giáo viên xưng thầy, cô với các em. Để cùng nhau trao đổi, và thảo luận, tranh luận, vì lẽ phải chung, trong một ngôi trường thật sự văn minh.

Các em thân yêu,

Giáo dục là việc khó, mà cũng là việc thật đẹp, rất khó mà cũng lại đẹp nhất. Bởi, như đã nói, đây là việc đánh thức dậy những gì những gì hay nhất, đẹp nhất trong mỗi con người để con người ấy phát triển tự do và hạnh phúc. Khó và đẹp còn ở chỗ con người là vô cùng đa dạng, mỗi em là một thế giới. Mỗi em một khác, mỗi lớp, mỗi năm, mỗi khóa một khác. Vừa rất căn bản, vừa rất mới lạ, luôn mới lạ. Vừa chắc chắn trên những nền tảng chung cơ bản, vừa lại rất cá biệt, bao giờ cũng mới mẻ, cũng khác thường. Cho nên tôi luôn nghĩ, nói theo cách nào đó, thì về cơ bản giáo dục là việc một thầy một trò, một người cùng với một người khó nhọc và tha thiết đi tìm ra chính mình. Tôi luôn mong ước, và tôi nghĩ các thầy cô giáo cũng vậy, luôn muốn được đến tận từng em, hiểu được từng em, gần gũi và là bạn của từng em, để ta cùng làm cho thành công công việc khó khăn mà đẹp đẽ này. Sẽ rất hạnh phúc cho cả thầy và trò ta.

Vậy đó, các em thân yêu, hôm nay ta lên đường.

Một lần nữa, thay mặt nhà trường, thay mặt các em, tôi xin cám ơn các vị đại biểu đã đến cùng thầy trò chúng tôi trong ngày lên đường của chúng tôi hôm nay.

Còn với các em, ta hãy cùng chúc nhau một hành trình khai phá thật đẹp và thật thành công.

Nguyên Ngọc.

Tâm sự cùng Vũ Đức Đam

Tâm sự cùng Vũ Đức Đam

Nguyễn Tiến Dân

14-9-2015

Nguyễn Phú Trọng, là đảng trưởng của cái đảng CS Việt nam. Hiển nhiên, trong cái đảng ấy, ông phải là, người thông tuệ nhất. Ông, đi như ngựa vía. Hôm nay, còn ở Mỹ  Ngày mai, đã bay sang Nhật. Tất bật, là thế. Chẳng biết, có nên cơm cháo gì. Và, ông học được, những gì ở đó? Trong đống sách, mà ông đã đọc: Có lẽ, không có sách, dạy cách “trị Nước– an Dân”. Bởi, thấy ông, không rành việc đó. Ông, gối đầu giường, quyển Tây du ký. Và, đã từng, trích dẫn nó, để bao biện: Cửa Phật, tôn nghiêm là thế. Vậy mà, Đường Tăng, cũng phải đi hối lộ. Ngụ ý, dưới sự lãnh đạo của “Đường Tăng” Nguyễn Phú Trọng: Hối lộ, phải coi là, chuyện bình thường  hết sức bình thường. Đừng có mơ, chống được tham nhũng.

Tôn Ngộ Không, là thần tượng của ông. Sang thăm Trung cộng, chẳng cần giữ “thể diện Quốc gia”: Ông, tìm gặp cho bằng được, anh hề Lục Tiểu Linh Đồng và, hãnh diện, đứng bằng vai – phải lứa với nó. Rồi, trơ trẽn, cho chữ kí của mình, lên… sách của người ta. Nhìn cảnh đó, nhiều kẻ thối mồm, chúng, bình phẩm rằng: Cả đời, ông chỉ thích, những trò khỉ. Và, chẳng làm được, một việc quái gì, cho ra hồn. Rõ là, 1 lũ láo khoét. Riêng tôi, hâm mộ ông lắm. Tôi thích nhất, câu nói của ông: “Kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch và phản động”.

Đã đành, là như thế. Nhưng, vẫn băn khoăn: Ối lúc, chính các ông, xuyên tạc sự thật và bịa đặt trắng trợn. Tốt, nói thành xấu. Đen, nói thành trắng. Ngày, nói thành đêm. Không biết, có nên, kiên quyết đấu tranh, chống lại các ông?

Vũ Đức Đam, kính mến. Được truyền cảm hứng, từ lời nói, đầy tính “trí tuệ” của ông: “Tại sao, chúng ta tốt, mà vẫn cứ nghèo?”. Tôi cầm bút, muốn tâm sự, cùng ông.

Tôi với ông, vốn “hai người xa lạ”. Lí tưởng, chẳng thể tương thông – Văn hóa, chẳng thể tương đồng. Xuất sứ khác nhau – Tuổi đời cách biệt. Cơm ông ăn – áo ông mặc – bổng lộc mà ông lĩnh: Tất thảy, đều do Nhân dân Việt nam và Đất nước Việt nam, cung phụng. Nhưng, trên hết và trước hết: Ông, chỉ phục vụ, cho cái đảng CS của ông. Còn tôi, tất cả, đều do Sư tử cung phụng. Vì vậy, phải nhất nhất nghe theo và, cúc cung phục vụ nàng. Không bao giờ, có chuyện: Ban ngày, ăn cơm của Sư tử. Nhưng, tối đến, lại mang tấm thân trai tráng, đi phục vụ, bà hàng xóm.

Khác nhau, là thế. Nhưng, “đôi bên chức tước, chẳng kém gì nhau”. Ông, là Phó Thủ tướng Chính Phủ. Cái Chính phủ, do những người CS, dùng lưỡi lê – xe tăng và nhà tù, để lập ra. Còn tôi, là Phó thường dân khốn khổ. Bị chính quyền CS của các ông lừa đảo và trắng trợn cướp đi, hàng chục tỷ VNĐ. Tất cả, đều là tiền mặt. Thế mà, tôi chẳng dám ho he. Khuất phục, trước cường quyền: Tôi, thật hèn hạ. Thiên hạ, đầy người dũng cảm. Tôi, kể ông nghe, chỉ 2 ví dụ.

Khi, giặc Pháp, kéo đến nhà của “Bà má Hậu giang”. Bà, thật bất khuất:

Má thét lớn, tụi bay đồ chó.

Cướp của tao, còn định bắt cả tao.

Tao già, vẫn dư sức cầm dao.

Đứa nào muốn chết, thì nhào vào đây.

Bọn giặc Pháp, chẳng đứa nào, muốn chết. Chúng gập lê và, cắp đít đi về. Anh hùng là thế. Nhưng, bà đâu có thật. Ai đó, đã bốc phét và, nhào nặn ra bà. Bà, sao có thể, so sánh được, với người Anh hùng, bằng xương – bằng thịt, Đoàn Văn Vươn. Giống như bà, Đoàn Văn Vươn, cũng bị cướp. Khi, chúng kéo đàn – kéo lũ đến, các anh đã định, “cầm lấy súng, nhằm thẳng quân thù, diệt chúng nó”. Nhưng, rồi chợt nghĩ: Những chiến sĩ, đi cưỡng chế nhà mình, họ chỉ là, con em của Nhân dân lao động. Họ, đâu phải là, kẻ thù của mình. Các anh, chỉ nổ súng cảnh cáo, 1 cách tượng trưng. Rồi, buông nó. Kết quả, các anh, những nạn nhân, bị lũ kẻ cướp, nhốt vào tù. Gia đình, bị li tán – Nhà cửa, bị san phẳng – Cá tôm, bị khoắng sạch. Tưởng chừng, các anh, thua thảm bại. Sự thực, không phải như thế.

Tiếng súng phản kháng của các anh, dẫu không đanh, như tiếng đại bác, chào mừng Quốc khánh. Nó, chỉ phát ra, từ đạn hoa cải. Nhưng uy lực của nó, gấp vạn lần, thứ hàng mã kia. Nó, đã đánh thức, lương tâm của cả xã hội. Cả nước, xiết chặt tay nhau, hướng về các anh và, lên án lũ kẻ cướp. Lần đầu tiên, chứng kiến cảnh này. Lũ kẻ cướp, phải khiếp sợ và chùn tay. Chúng, buộc phải: “Hủy bỏ, quyết định thu hồi đất. Thi hành các thủ tục, cho phép gia đình ông Vươn, tiếp tục được sử dụng đất”. Nhưng, đời nào, chúng chịu thua trắng. Chúng, là lũ thù dai: Án, vẫn được tuyên, cho những người con, vô tội và bất khuất.

Ông ơi, đã ăn cướp của người ta, lại còn, giở trò đê tiện: Vu khống, để bắt người ta vào tù. Những người CS các ông, có còn tình người nữa hay không? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với các ông hay không?

Lũ giặc cỏ, đầy đường. Chẳng có ai, bảo rằng, chúng là người tốt. Nhưng, ít nhất, chúng cũng còn biết “dây máu – ăn phần”. Theo chúng, đi ăn cướp, ai cũng được, chia phần. Nhiều ít, tùy thuộc “công trạng”. Nay, chính các ông, chẳng chút ngượng mồm, công khai thừa nhận: Đã xúi giục quần chúng, đi cướp Chính quyền của bọn Thực dân – Phong kiến. Trước khi đi, các ông hứa: “Ruộng đất, sẽ về tay dân cày – Nhà máy, sẽ về tay thợ thuyền”. Bây giờ, tất cả những thứ đó, đang nằm trong tay các ông. Các ông, đã thực hiện đến đâu, lời hứa của mình?

Ông ơi, đảng CS, “tham như mõ”. Các ông, một mình, hưởng hết mọi thành quả của cái gọi là, cuộc Cách mạng ấy. Ti tiện như thế. Nên gọi các ông, là “người tốt” hay là “kẻ xấu”? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với các ông. Để, đem lại, sự công bằng, cho Nhân dân Việt nam, hay không?

Các ông, thường phỉnh phờ, lũ quần chúng nghèo – hèn chúng tôi, rằng: Ừ, thì rõ là đảng CS, độc tài. Nhưng, ối nước, có chế độ độc tài, mà vẫn phát triển như vũ bão. Hàn quốc – Singapore – Đài loan, chẳng hạn. Xã hội của họ, ổn định. Đất nước của họ, giàu – sang. Dân chủ, như Thái lan: khủng bố, xảy ra như cơm bữa.

Đúng là, “nói lấy được”. Các ông, sao không dám, nhìn thẳng vào sự thực: Về mọi mặt, chẳng bao giờ, Việt nam, có thể bén gót Thái lan. Nói chi đến, Hàn quốc – Singapore – Đài loan, cho thêm phần, xấu hổ. Chưa kể, tuy độc tài, nhưng lãnh đạo ở các nước đó, trước hết: Họ, là những người tài giỏi và tử tế. Họ, hết sức công tâm – minh bạch – tự trọng. Nói, đi đôi với làm. Một lòng, vì Đất nước. Họ, không vun vén cho cá nhân và gia đình. Họ, trọng dụng nhân tài. Họ, huy động được, sức mạnh tổng hợp của cả Dân tộc. Cho nên, Nhân dân các nước đó, sống trong ổn định và Đất nước của họ, phát triển bền vững. Còn các ông?

Xưa, có câu: “Sâu – Bọ, lên làm người”. Ám chỉ, thời mạt. Nay, chính ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, xác nhận: Trong số cán bộ CS, có nhiều con sâu lắm. Không dừng lại, ở đó. Ông lo rằng, cứ cái đà này: Mai kia, tất cả, sẽ là sâu hết.

Sâu – Bọ, lên làm người, Xã hội đã hỗn loạn. Sâu – Bọ, mà lãnh đạo Quốc gia., thì chết mẹ nó, cả cái Đất nước này. Một viễn cảnh, khủng khiếp. Chắc, đảng CS, anh minh và sáng suốt, chỉ đưa Dân tộc chúng tôi, đến rìa rìa của cái viễn cảnh đó thôi. Ông nhỉ?

Các ông, ra rả, kêu gọi chúng tôi, phải sống theo “Tấm gương Đạo đức của Hồ Chí Minh”. Nhưng, liệu các ông, có dám: Mở cửa, nhà của các Tổng Bí thư – Mở cửa, nhà của các Ủy viên Bộ Chính trị – Mở cửa, nhà của các Bí thư và Chủ tịch các tỉnh, cho người dân chúng tôi, vào thăm quan. Để, chúng tôi còn biết: Ngày xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã sống như thế nào? Các ông, có dám: Công khai, tài sản của các vị đó – Công khai, con cái các vị đó, đã học ở đâu; học phí bao nhiêu, do ai đóng và, bây giờ, đang làm gì? “Cha truyền – Con nối”, có đúng là, bản chất của những người CS?

Tất cả, một cách Quang  Minh  Chính  Đại, trên báo Nhân dân. Cho, cả nước đều biết.

Không dám làm việc đó, chứng tỏ: Chính những người CS các ông, đang sống, còn quá Vua – Chúa ngày xưa. Nhưng, vẫn bịp bợm, mà nói rằng: “Những người CS, rặt 1 lũ thanh liêm – bần hàn. Không có lợi ích nào khác, ngoài lợi ích của Dân tộc”. Hiển nhiên, Nhân dân Việt nam chúng tôi, phải “kiên quyết, đấu tranh” với những luận điệu xuyên tạc và, bịa đặt của các ông. Như, chính lời hiệu triệu của Tổng Trọng.

Nhân nói chuyện Hồ Chí Minh, xin hỏi ông, một chuyện nho nhỏ.

Ông có biết, vì sao: Rất ít người Á đông, tự nguyện “hiến nội tạng sau khi chết”? Ông có biết, vì sao: Những kẻ tử tù, luôn coi, được hưởng đặc ân, khi nhận chỉ dụ: “Trẫm, ban cho ngươi, được chết toàn thây”? Nếu đã biết, xin hỏi tiếp:

Tỉ như, có 1 người, đức cao – vọng trọng, sắp mất. Các con ông, vì quí bố, đã chuẩn bị sẵn, một lũ lang băm. Ông bố, vừa tắt thở: Chúng, nhào vào, giằng lấy xác ông cụ – Chúng, đè ngửa và lột trần truồng ông cụ – Chúng, dùng dao bầu, mổ bụng ông cụ – Chúng, rút ruột ông cụ – Chúng, moi tim, móc óc ông cụ – Chúng, vạch mồm và cắt lưỡi ông cụ – Chúng, khoét mắt ông cụ – Chúng, xẻo 2 hòn dái của ông cụ – Chúng, cho tất cả, vào 1 cái bình thủy tinh, có chứa Formol. Chúng, đem tất cả những thứ đó, cất đi, ở 1 nơi thật xa. Rồi, chúng trưng bày cái xác, thiếu lòng – gan – phèo – phổi ấy. Và, huy động dân làng, hết ngày này – qua tháng khác, đến xem (nói chữ, là chiêm ngưỡng). Người xem đến ít, chúng khuyến mại: Mỗi người đến, được 1 cái bánh mì và 1 chai nước lọc. Ông hãy hỏi, những người, mà ông quen biết – Ông hãy hỏi, dòng tộc nhà ông: Các người, có cam tâm, đứng nhìn. Và, cho phép những đứa con kia, được làm cái việc “đại nghịch – vô Đạo”; “bất Nhân – thất Đức”: Để cho người quá cố, “chết chẳng toàn thây”, như thế hay không?

Chỉ có lũ điên, mới ngang nhiên, trả lời rằng: “”.

Vậy mà, cái việc tày đình như thế, các ông, vẫn ngang nhiên và công khai thực hiện. Trong khi, vẫn xoen xoét cái mồm, mà nói rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và muôn vàn kính yêu”. Chẳng thèm, chiếu cố tới nguyện vọng của Người: Sau khi chết, được hỏa táng. Và, chỉ cần, chôn tro cốt, ở 3 quả đồi thấp, ở khắp 3 miền Trung – Nam – Bắc. Một nguyện vọng: Tột cùng của sự bình dị. So với những gì, mà Hồ Chí Minh, đã đóng góp cho đảng CS của các ông.

Ông ơi, sách Luận ngữ, có 1 dòng, như thế này:  …三年无改於父之道,可谓孝矣: (Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ). Tạm dịch: Ba năm, sau khi cha mất, người con, không thay đổi, lời dạy của cha. Thì, có thể, được gọi là, có hiếu.

Đằng này: Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa nằm xuống, chính các ông, đã sửa Di chúc của Người. Người, dặn 1 đằng – các ông, làm 1 nẻo. Phải chăng, những người CS các ông, có hiếu với Người? Phải chăng, bất hiếu, vẫn có thể, được gọi là “người tốt”? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với những luận điệu xằng bậy, xuyên tạc và bịa đặt của các ông. Để, thực hiện trọn vẹn, Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Với, vài cái dẫn chứng đó, tôi chỉ muốn, hé cho ông, nhìn sơ qua, phần nổi của tảng băng “CS, là những người tốt”. Nếu tò mò, xin ông, hãy lập ra, 1 cái Diễn đàn hoặc, 1 phiên tòa công khai, cũng được. “Dân già” tôi, sẽ chưng, cho ông và, cả bàn dân thiên hạ, xem nốt, phần chìm của tảng băng đó. Ông, có muốn, nghe tiếp không?

Giờ, hãy bàn về, “người tốt Vũ Đức Đam. Chắc, ông biết câu này:

Trông mặt, mà đặt hình dong.

Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon.

Sách xưa, chép rằng: “Vua Quang Trung, cao lớn. Tóc quăn, da sần. Tiếng nói, sang sảng như chuông. Cặp mắt, sáng quắc. Không có ai, dám nhìn thẳng, vào mắt của ông”. Tướng mạo, dị thường – Tài năng, cái thế – Võ công, oanh liệt.

Bề ngoài của Vũ Đức Đam, nào có kém gì: Người ông, nhỏ thó. Tóc, xanh mươn mướt. Giọng, mượt như nhung. Da, mỏng và mai mái trắng. Cặp mắt, mơ màng. Hiền dịu, như thỏ non. Chẳng có gì, là uy vũ. Thậm chí, còn mảnh mai và ẻo lả, giống như… Hoa hậu Phường. Tài năng của ông, Thiên hạ, nào đã được kiểm chứng. Ngoại trừ, độc chiêu “vi hành”. Mỗi lần “vi hành”, đều dắt theo… 1 tay nhà báo. Để, sau đó, nó còn… viết bài.

Ông “vi hành”, tới bệnh viên. Trước đây, “3 bệnh nhân, 1 giường”. Sau đó, “1 giường, 3 bệnh nhân”.

Ông “vi hành”, tới doanh nghiệp. Nghe doanh nghiệp, kể khổ: “Ông, liên tục lắc đầu, tay nắm chặt và, đập vào góc bàn”. Cứ làm như, những thống khổ của họ, từ trên Trời rơi xuống. Chứ, không phải, do chính nhà cầm quyền CS của các ông, gây ra. Và, ông vô can, trong những sự việc ấy. Sau khi, ông “vi hành”: Mọi thứ, “đâu vẫn hoàn đấy”. Muốn tiến triển ư? Không phải, “Hãy đợi đấy”. Mà là, hãy đợi, đến “ngày 31 của tháng 2”.

Dựa vào đó, lũ thối mồm, chúng bình phẩm: Vũ Đức Đam, chỉ thạo “chém gió” và, thích “đánh bóng”, tên tuổi của mình (Bố khỉ. Tất tần tật, những cán bộ CS, đều thạo món này. Đâu chỉ riêng, mỗi mình Vũ Đức Đam. Ông nhỉ). Nào đã hết. Chúng, lại dè bỉu, mà cho rằng: Tấm bằng Tiến sĩ Kinh tế của ông, là bằng rởm. Bởi, cho đến tận bây giờ, đối mặt với 1 vấn đề, xưa như Trái đất: “nguyên nhân của đói nghèo”. Ông, cũng chẳng hề biết. Và, ngây ngô tự hỏi: “Tại sao, chúng ta nghèo?”

Ngoại trừ, những người CS các ông. Các ông giàu có, bởi các ông: Vơ vét của Đất nước – Bóc lột của Nhân dân và Bóp nặn của thuộc cấp(Thách các ông, chứng minh được, điều ngược lại). Còn lại, tất tần tật, những người giàu có, 1 cách chân chính: Họ, đều là, những người cực giỏi. Bill Gates, là 1 ví dụ.

Người dân chúng tôi, nghèo hèn – Đất nước chúng tôi, lạc hậu. Bởi, không giống như họ, chúng tôi, có dàn lãnh đạo: Tham lam – Bảo thủ và, cộng thêm, 1 chút Ngu dốt. Vũ Đức Đam, xin ông, chớ có vội, nhảy dựng lên. Hãy khoan, để nghe tôi nói.

Ai mà chẳng biết: Giá thành làm đường ở Việt nam, cao nhất Thế giới. Trong khi, chất lượng của nó, thuộc loại thấp nhất Hành tinh. Bởi, các ông, giao việc này, cho lũ quan tham và đầu đất. Chúng, rút ruột công trình, 1 cách vô tội vạ – Chúng, cố tình, làm sai qui chuẩn. Cho nên, nhiều con đường, vừa làm xong, đã hỏng. Tiền của, lại phải đổ ra, thêm nhiều lần nữa, để sửa. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Các ông, dồn dân về, ngập ứ trong nội thành Hà nội nói riêng và, các thành phố khác nói chung. Hệ quả, gây áp lực xấu và cực lớn, tới cơ sở hạ tầng: Giao thông – Điện – Nước – Sinh hoạt – Học hành – Môi trường… Để giải quyết chúng, các ông, không có giải pháp căn cơ. “Thủng đâu”, các ông “bịt đó”. Các ông, đổ hàng núi tiền vào, dựng nên, những con đường, “đắt nhất hành tinh”. Nhưng, nào có, giải quyết được, những vấn nạn đó. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Trong khi: Chưa có, đầy đủ nguồn nhân lực – Chưa có, đầy đủ cơ sở hạ tầng – Chưa có, thị trường của đầu ra ổn định… Các ông, vẫn cố tình, thành lập ra, những Tập đoàn kinh tế Nhà nước. Các ông, bóp mồm – bóp miệng, những người dân chúng tôi. Để, bơm vô tội vạ, những đồng vốn hiếm hoi của Đất nước, cho chúng. Đồng thời, đặt những “đứa trẻ chăn trâu”, vào vị trí lãnh đạo. Ngu và tham như chúng, biết gì về Quản lí. Kết quả, những Tập đoàn kinh tế đó, giống như, những chiếc thùng thủng đáy. Đổ, bao nhiêu tiền vào – mất sạch chừng đó. Ông, có cần, lấy dẫn chứng không? Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Đó, là chưa nói tới, những cái gọi là, “dự án”. Tỷ như Bauxite, ở Tây nguyên. Trong khi: Các nhà khoa học, đã chỉ rõ, những tác hại về môi trường – Các nhà kinh tế, đã tính toán, cho các ông thấy, hiệu quả âm của dự án – Các Nhân sĩ – Trí thức, đã vạch ra, những tác hại về Xã hội và, bản sắc Văn hóa của các Dân tộc Tây nguyên. Nhưng, các ông, nào có chịu nghe. Các ông, vẫn “bảo thủ”. Các ông, cho rằng: “Đây là chủ trương lớn của đảng và Nhà nước”. Nên, vẫn đâm đầu vào. Kết quả, càng làm – càng lỗ. “Mua đắt – Bán rẻ”. Chỉ có đồ ngu, mới làm như thế. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Bauxite, tai hại như thế. Nhưng, vẫn chưa phải, là thảm họa. Những “Đại dự án”, như: Sân bay Long thành; Đường sắt cao tốc Bắc – Nam… Nếu, được thực hiện: Đất nước này, chỉ còn có mức, đi ăn mày. Nghèo, đã là cái gì.

Suy cho cùng. Đất nước này, nghèo đi bao nhiêu – Các ông, sẽ giàu lên bấy nhiêu. Do đó, xá gì mà không làm. Ông nhỉ.

Vũ Đức Đam, xin hãy 1 lần, bớt u mê. Để, nhìn ra xung quanh. Có ai, “rượu cả vò – chó cả con”, mà vẫn giàu có? Có ai, “bóc ngắn – cắn dài”, mà vẫn giàu có? Có ai, đi vay nợ, với bất cứ giá nào, để ăn chơi, mà vẫn hãnh diện, về chuyện đó?

Không bao giờ. Và, vĩnh viễn, không bao giờ, có chuyện đó.

Sách “Đại học”, luận về sự “giàu có”, như sau: 生财有大道,生之者众,食之者寡. Sinh tài, hữu đại đạo: Sinh chi giả chúng – Thực chi giả quả. Tạm dịch: Đạo làm giàu: Làm nhiều – tiêu ít + Số người đi làm, phải nhiều – số người ăn theo, phải ít.

Dân gian, hóm hỉnh. Họ, dịch là:

Tiền vào, như nước sông Đà.

Tiền ra nhỏ giọt, như cà phê phin.

Ông còn lạ gì: Việt nam, đi lên, từ nền sản xuất Nông nghiệp. Qui mô của mọi thứ, đều nhỏ – lẻ – manh mún. Năng suất lao động, rất thấp. Của cải làm ra, lấy đâu được nhiều. Nhưng, các ông, tiêu như “phá mả”. Tỷ phú, cũng phải khiếp sợ. Thiên hạ, động có cái gì, các ông, phải sắm cho bằng được, những thứ đó. Không những thế, còn phải hoành tráng. Để, “xứng tầm Khu vực và Thế giới”: Thủ đô, to nhất – Tháp truyền hình, cao nhất – Tượng Phật, lớn nhất – Chùa, rộng và đẹp nhất – Đường sắt cao tốc, dài nhất… Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Xưa, mỗi xã, chỉ có 1 ông Chánh tổng. Mỗi làng, chỉ có 1 ông Lý trưởng, cộng thêm, vài chú Tuần đinh. Mọi việc, vẫn giải quyết băng băng. Nay, rỗi rãi, ông hãy ngồi, mà kiểm tra xem: Mỗi xã – Mỗi phường, có bao nhiêu nhân viên Hành chính? Có bao nhiêu nhân viên Công an? Hệ thống, Đảng – Chính (quyền) – Công (đoàn) – Thanh (niên), có bao nhiêu người? Sao công việc, vẫn ì ạch?

Nhân dân, “một cổ – ba tròng”: Vừa phải nuôi, bộ máy Nhà nước – Vừa phải nuôi, bộ máy của Đảng – Vừa phải nuôi, bộ máy “Đoàn thể”. Rặt những loại “ngồi chơi – xơi nước”. Không làm ra tiền, mà vẫn được ăn. Không những thế, lại còn ăn ngon và ăn nhiều. “Thằng còng làm – Thằng thưỡn xơi”. Các ông làm thế: Đất nước này, chưa lụn bại, là bởi vì: Hồng Phúc của Dân tộc Việt, vẫn còn quá lớn.

为之者疾,用之者舒,则财恒足矣Vi chi giả tật – Dụng chi giả thư. Tắc tài hằng túc hĩ. Tạm dịch: Làm ra của cải, phải thật nhanh và, hãy từ từ, khi tiêu chúng. Tiền trong túi, lúc nào, cũng rủng rỉnh.

Ông đã từng, ngồi nghe, Doanh nghiệp kể khổ. Dẫu có điếc lác và lú lẫn, ông cũng phải biết: Tốc độ quay vòng đồng vốn của Doanh nghiệp, là rất thấp. Tỷ suất khấu hao của Doanh nghiệp, là rất cao. Tỷ lệ lợi nhuận/ vốn, là thảm hại. Nguyên nhân, có cần phải nhắc lại không?

Chậm, làm ra của cải. Nhưng, hễ có đồng nào trong túi, các ông, móc ra tiêu rất nhanh. Có lẽ, các ông sợ: Để lâu một chút, tiền sẽ bị thiu – Để lâu một chút, mình hết nhiệm kì và, sẽ không còn có cơ hội, để xà xẻo nữa.

Ngẫm đi – nghĩ lại, phải cải chính đôi chút: Nói các ông “tiêu tiền”, là không hề chính xác. Sự thực là: Những người CS các ông, không hề, biết cách tiêu tiền. Các ông, chỉ thạo mỗi món đốt tiền. Để, tôi nói ông nghe.

Các ông, không hề che giấu tham vọng: “Việt Nam, sẽ trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại hóa, vào năm 2020”.

Mục tiêu này, có trở thành hiện thực? Trong khi, cái gọi là, nền Công nghiệp ấy, chủ yếu, đi bằng đôi chân: Xuất nguyên liệu thô và, gia công lắp ráp bán thành phẩm. Đến con ốc vít, đạt tiêu chuẩn Quốc tế, cũng không làm được. Nguyên nhân:

-Sự lãnh đạo, nói cho nhẹ nhàng, là yếu kém của các ông.

-Cơ sở hạ tầng của chúng ta, không tốt. Luyện kim và cơ khí chính xác của chúng ta, còn phọt phẹt. Nói gì đến, những chế phẩm Sinh – Hóa.

-Nhân lực của chúng ta, dồi dào. Nhưng, chất lượng rất kém. Thiếu trầm trọng, đội ngũ Kỹ sư và, Công nhân lành nghề. Cơ bản nhất, từ trên xuống dưới, chúng ta, không có Tác phong Công nghiệp: Trễ giờ – Lười nhác – Vô kỉ luật – Ăn cắp vặt, là những hiện tượng rất phổ biến.

Hãy bắt đầu từ đây và, dồn tiền vào đó. “Tất cả, cho sản xuất”. Có thế, ít nhất, mới mong “thoát nghèo”. Đừng vội đốt, những đồng tiền vốn, mà chúng ta, phải chắt chiu dành dụm, vào những thứ phù phiếm, vô bổ và, chưa thiết thực.Tỷ như:

-Xây cho mỗi tỉnh, một cái nhà hát. Chẳng ai đến xem đâu.

-Xây cho mỗi tỉnh, một khu tượng đài Hồ Chí Minh. Dân, còn đói lắm. Đến ngắm Bác, no sao được.

-Xây la liệt, những Viện Bảo tàng. Xây xong rồi, cho cái gì vào, để bày ở đó. Quan trọng hơn, ai sẽ đến xem.

Viết đến đây, thấy Sư tử, lừng lững bước vào. Nàng, đẩy tôi ra và, ngồi kiểm duyệt. Kiểm xong, nàng cười: “Ông điên rồi. Có 2 điều cần nhớ.Một, không nói chuyện phải – quấy, với những người CS. Hai, chừng nào, họ còn lãnh đạo – Chừng đó, Đất nước này, còn nghèo và hèn. Chấm hết”.

Ôi, Sư tử: Cả bài viết của anh, thua 2 cái gạch đầu dòng của em. Ai dám bảo: “Đàn bà sâu sắc, như cơi đựng trầu”.

Tự nhiên, thấy hết hứng. Và, đành phải, chào ông.

____

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Điện thoại:  0168-50-56-430

CS Lũng Đoạn Cộng Đồng: Vô Phương

CS Lũng Đoạn Cộng Đồng: Vô Phương

Trên Việt Báo số ngày 02/09/2015, có một bài viết CSVN “Nỗ Lực Lũng Đoạn của Hà Nội tại Mỹ”. Bài viết cho biết để đánh bóng cho Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng công du Mỹ, và vận động cho CSVN vào Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương, Đảng Nhà Nước CSVN đã chi ra nửa triệu dollars cho CSIS (Center for Strategic of International Studies), trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, một nhóm chuyên gia “think tank” về kinh tế, chính trị và ngoại giao của Mỹ. Và CSVN ở Hà Nội cũng đã trả mỗi tháng 30 ngàn dollars cho Podesta Group, một công ty lobby [vận động] hành lang chính trị tại Hoa Thịnh Đốn, vừa để giúp đánh bóng bộ mặt Hà Nội, vừa vận động cho Việt Nam lọt vào được TPP, bất kể thành tích bất hảo về nhân quyền.”

Và Trung Cộng, theo tin của báo chí Pháp, nhơn khi TC tổ chức cuộc duyệt binh rầm rộ ngày 3/9 ở Bắc Kinh, Nhân dân Nhật báo, tiếng nói chánh thức của Đảng CS TQ cũng thuê nhiều trang báo ở ngoại quốc để vinh danh sự hy sinh của kháng chiến quân và nhân dân Trung Hoa, về chiến công của đảng Cộng sản, nhưng hoàn toàn im lặng về vai trò «đứng mũi chịu sào» của quân đội Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo.

Người Việt hải ngoại nhứt là người Mỹ gốc Việt ở Mỹ chiếm trên phân nửa tổng số ngưới Việt hải ngoại, không lạ gì cái trò ma mãnh, mua chuộc này trong tuyên truyền quốc ngoại của CSVN và CSTQ. Riêng CSVN có cả một nghị quyết do Bộ Chánh Trị của Đảng Nhà Nước là bộ chỉ huy có mười mấy đảng viên nhưng quyền cao chức trọng nhứt của Đảng Nhà Nước CSVN. Ngày 10 tháng 4 năm 2007 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 36 về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Ngân sách dành cho nghị quyết này không phổ biến vì là mật quỹ, bí mật dùng để đài thọ cho tuyên truyền đen trắng xám và công tác tình báo mua chuộc, bôi bẩn các nhân sĩ và dân cử gốc Việt. Nhưng chắc chắn là lớn lắm vì cái gì chớ việc đánh bóng để tuyên truyền thì CS xài tiền không cần đếm. Như Bà Nguyễn thị Bình đi dự Hoà Đàm Paris, mua cái khăn choàng mắc nhứt nước Pháp; Lê đức Thọ đi chiếc xe DS của Pháp, sang trọng, mắc tiền nhứt nước Pháp. Nhưng hiệu năng công tác thì chẳng ra gì, sau 3 năm công tác, bộ Ngoại giao CSVN dưới sự chủ toạ của người đứng đầu bộ này là ông Phạm Gia Khiêm đã tổ chức một hội nghị gọi là sơ kết ba năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ chính trị và chương trình hành động về công tác đối ngoại với người Việt Nam ở nước ngoài, kết quả chẳng ra gì, những người có trách nhiệm ngoại giao, mật vụ, tuyên truyền bị kiểm điểm nặng.

Thất bại nhứt là vần đề nhân quyền và quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ vốn là trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Washington và Hà nội. Với Nghị Quyết 36, không những biến hai trở ngại thành trở ngại trung tâm mà thành trở ngại không thể vượt qua được. Với Nghị Quyết 36, người Việt hải ngoại thấy bằng giấy trắng mực đen “ý đồ” rõ “ý đồ” của CS muốn thao túng, lũng đoạn, đối phó với người Việt hải ngoại theo kiểu đấu tranh giai cấp của CS: “địch và ta một mất một còn”. Nghị Quyết 36 nhiều lần dùng tư ngữ “lực lượng thù địch” để chỉ người Việt hải ngoại.

Định luật sinh tồn, căn cước tỵ nạn CS đòi hỏi, cùng một mối lo thúc đẩy người Việt liên kết lại để chiến đấu tự vệ chánh đáng trước cuộc gây hấn của CS. Cách kết hợp của các đoàn thể tôn giáo, chánh trị, văn hoá, xã hội của người Việt sống trong chế độ tự do, dân chủ ở hải ngoại khác với CS như trắng và đen. Người Việt hải ngoại việc ai nấy làm, đoàn thể ai nấy giữ trong sinh hoạt bình thường của thực thể mình. Nhưng tất cả những đường đi nuớc bước của các thành tố của công đồng đều đứng chung trên một mẫu số chung, như đường local vào xa lộ khi có chuyện lớn. Đó là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Đó là một cách nói mới hợp xu thế thời đại nhưng căn cơ, nồng cốt vẫn là chống CS, giải thể CS. Vì nơi đâu có tự do, dân chủ, nhân quyền là không có CS. Vì tự do, dân chủ, nhân quyền là khắc tinh, huỷ thể của CS.

CS bản chất, bản tánh độc tài đảng trị toàn diện nên không hiểu tinh lý của tự do, dân chủ, nên tuyên truyền chê người Việt hải ngoại cộng đồng, đoàn thể chia đôi, chia ba. Họ không hiểu tinh lý của tự do, dân chủ là tuy hai nhưng là một (out of many, one). Nhờ vậy mà dân chủ có sức mạnh kết hợp luôn luôn mạnh mẽ, sáng tạo và bền vững hơn thống nhứt theo kiểu kim tự tháp thời độc tài chuyên chính vua chúa hay độc tài phác xít, Đức quốc xã và CS.

CS nói lớp già xuất thân từ VN Cộng Hoà theo ông theo bà chết hết thì người Việt hải ngoại hết đấu tranh. Một sai lầm rất lớn. Sự thật và xu thế của thế hệ 1 rưởi, 2 đang kề vai gánh vác việc chung của cộng đồng do phụ huynh để lại. Hầu hết những đại diện dân cử Mỹ gốc Việt và số dân biểu, nghị sĩ tiểu bang, liên bang đơn vị bầu cử ngay hay gần cộng đồng người Mỹ gốc Việt là ủng hộ cuộc đấu tranh, và tham gia đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN một cách bền vững và tích cực – có tăng số người chớ không có giảm. Yêu nước, thương dân, yêu mến, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền không có trẻ hay già.

Quốc kỳ VNCH nền vàng ba sọc đỏ không còn pháp nhân công pháp mà vẫn được cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố Mỹ công nhận là di sản, là biểu tượng của cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của người Mỹ gốc Việt. Một em bé học tiểu học ở Mỹ thấy cô giáo giở sách giáo khoa Mỹ chỉ cờ đỏ sao vàng là cờ VN, em ấy nói “no” với Cô, và khi về nhà thưa với ba má vào trường giải thích cho Cô biết. Ba má báo động và cộng đồng vào trường trình bày, tặng cho trường cờ VN nền vàng ba sọc đỏ thì trường không sử dụng cờ CSVN nữa. Riết rồi CSVN dù có bang giao với Mỹ nhưng chỉ treo ru rú như gián ngày trong khuông viên sứ quán và lãnh sự thôi.

Còn CSVN và TC tưởng “nén bạc đâm toặc tờ giấy”, dùng tiền triệu Đô la, mướn báo Mỹ đăng bài cậy đăng, mua chuộc các cơ sở sưu khảo nâng bi, đánh bóng lãnh đạo Đảng Nhà Nước CS đến thăm hay nói chuyện khi công du Mỹ. Nhưng kết quả như quăng tiền qua cửa sổ. Ở nước Mỹ thừa mứa thông tin, nghị luận trên truyền thông đại chúng, đọc không hết, nghe xem không kịp, ít có ai bỏ thì giờ xem những bài cậy đăng trả tiền.

Người Mỹ gốc Việt ở Mỹ đa số là những thành phần ưu tú của VNCH tỵ nạn CS ra hải ngoại, nên hiểu được sự vận hành của nền dân chủ đại diện, của những người đại diện dân, nhứt là những nghị viên, dân biểu, nghị sĩ ở trong vùng có cộng đồng Việt. Người Việt hải ngoại vận dụng tối đa sức mạnh của dân chủ. Ra ứng cử, ủng hộ người có lập trường giống mình, không phân biệt sắc tộc. Vì thế cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố đại diện cho phân nửa dân số Mỹ thừa nhận quốc kỳ VN nền vàng ba soc đỏ. Hạ Viện liên bang Mỹ hơn ba lần thông qua Nghị Quyết, luật Nhân Quyền VN có kèm chế tài với viên chức CS vi phạm; qui vị dân biểu liên bang Mỹ còn tổ chức thành một tập hợp gồm một số vị đấu tranh cho nhân quyền VN. Nhờ vậy xảy ra rất thường, rất nhiều các cuộc điều trần chất vấn về nhân quyền VN.

Thế nên khi Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng của CSVN, một số dân biểu như nữ Dân biểu Zoe Lofgren, đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối Tổng Thống Obama đã tiếp đón Trọng, khi mà Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp Nhân Quyền. Bộ Ngoại Giao phải trả lời việc CSVN vào được TPP hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào lãnh vực, có tôn trọng Nhân quyền hay không

Khi Ô Đại sứ Ted Osius tạo thành một xì can đan, không xuất hiện nơi có quốc kỳ VN sợ mất job. Một nữ công dân Mỹ gốc Việt bị lột dây đeo có quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ trong một cuộc gặp gỡ của Ted Osius. Dân cử Mỹ và gốc Việt gởi thơ phản đối với Bộ Ngoại Giao và có tin đang nhờ luật pháp điều tra coi ai đã xâm phạm quyền tự do phát biểu hiến định của nữ công dân Mỹ gốc Việt này.

Những điều trên cho thấy CSVN vô phương dùng tiền bạc mua chuộc báo chí, lợi dụng bang giao với Mỹ để thao túng hay lũng đoạn cộng đồng người Việt hải ngoại./.

Vi Anh