Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một bộ phim tài liệu nói về những thuyền nhân Việt Nam vực dậy sau đau thương từ những chuyến vượt biển tìm tự do đầy nghiệt ngã tới những thành tựu rực rỡ đóng góp cho quê hương thứ hai sau 4 thập niên tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ được ra mắt ở thủ đô Washington DC ngày 17/10/15 đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một phân đoạn trong phim dài 18 phút được trích ra dự thi các liên hoan phim quốc tế đã dành được một số giải thưởng và được chọn trình chiếu tại 15 buổi liên hoan phim trên thế giới.

Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).
Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).

Bộ phim gợi nhớ biến cố 30/4/75 khiến hơn 2 triệu dân Việt bỏ nước ra đi, tạo nên một trong những làn sóng thuyền nhân lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại với hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển vì bão, vì đói, hay vì hải tặc.

Trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, 3 khán giả trẻ trong cộng đồng tị nạn chính trị lớn nhất tại Mỹ đã xem qua Vietnamerica khi phim được ra mắt tại thành phố họ sinh sống sẽ chia sẻ với chúng ta những ấn tượng về bộ phim và ý nghĩa của nó đối với lịch sử thuyền nhân Việt Nam cũng như đối với các thế hệ người Việt tị nạn. Trà Mi xin giới thiệu khách mời của chương trình: Thị trưởng Tạ Đức Trí của thành phố Westminister bang California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất nhì nước Mỹ; anh John Hùng Vũ hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Denver bang Colorado; và chị Christine Quỳnh Nguyễn kinh doanh địa ốc ở Houston bang Texas.

 Chrisine Quỳnh: Ba của Christine là đại úy an ninh quân đội. Khi mất nước, ba bị ở tù 11 năm. Tuổi thơ của Christine không hy vọng, không tương lai. Christine trải qua thời niên thiếu rất khổ cực. Vì thế, khi xem phim Vietnamerica, Christine rất xúc động khi thấy nhiều người phải trải qua giữa cái sống và cái chết vì hai chữ tự do. Cuốn phim này khích lệ tinh thần chúng ta khi nhìn lại tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải cố gắng thế nào để không hổ thẹn với những người đã đi trước.

Trà Mi: Anh Hùng là một thuyền nhân, anh có nhìn thấy chính mình và người thân của mình qua những phút phim tài liệu này không?

Hùng Vũ: Xem cuốn phim gợi lại quá khứ mình đã đi qua, không biết làm sao diễn tả được vì nó làm sống lại những phút giây đối đầu với tử thần khi mình trên con thuyền nhỏ rời Việt Nam đi tìm tự do.

Trà Mi: So với các phim tài liệu khác về lịch sử cuộc chiến Việt Nam, Vietnamerica có điểm nào đặc biệt nổi bật?

Tạ Đức Trí: Bộ phim này đã lột tả hết tất cả sự hy sinh và cái giá mà các thuyền nhân Việt Nam đã trải qua trên hành trình tìm tự do. Ưu điểm của bộ phim là các nhân vật trong phim không cần phải đóng. Họ đều là những chứng nhân minh chứng cho những kinh nghiệm kinh hoàng. Đây là một bộ phim có thể đánh động được lương tâm của thế giới.

Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: "Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản."
Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: “Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản.”

Trà Mi: Người Việt đã trải qua quá nhiều thương đau và nước mắt và một số phụ huynh lưỡng lự không muốn cho thế hệ trẻ thấy những điều tàn khốc ấy qua các bộ phim tài liệu. Là thế hệ trẻ, các anh chị chia sẻ thế nào về điều này?

Tạ Đức Trí: Tôi cũng hiểu suy nghĩ của các phụ huynh. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, các em nên xem những bộ phim về chính nguồn gốc của mình để hiểu lý do cộng đồng người Việt có mặt và phát triển tại Mỹ cũng như hiểu giá trị của sự tự do mà thế hệ đi trước đã phải trải qua.

Trà Mi: Có ý kiến cho rằng chiến tranh đã chấm dứt 4 thập niên, Việt-Mỹ cũng bình thường hóa quan hệ 20 năm nay thì nhắc nhớ những nỗi đau đó để hận thù dai dẳng có ích lợi gì đâu, hãy để thế hệ trẻ hướng tới chân trời sáng lạng phía trước. Với quan điểm đó, các anh chị có suy nghĩ thế nào?

Tạ Đức Trí: Tuy nhiên, Việt Nam sau 40 năm vẫn chưa có nhân quyền-tự do, các nhà tranh đấu dân chủ trong nước vẫn đang bị đàn áp, bắt bớ. Với chính sách độc tài của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, tập thể người Việt tị nạn tại hải ngoại không thể nào làm ngơ, không quan tâm. Vì vậy, sự ra đời của bộ phim càng làm cho chúng ta quan tâm nhiều hơn về thực trạng tại Việt Nam, cố gắng nhiều hơn nữa để tranh đấu với hy vọng Việt Nam sẽ sớm có tự do-dân chủ trong tương lai.

Trà Mi: Khát vọng nào cũng có cái giá của nó, khát vọng tự do cũng vậy, vì sao phải nêu bật cái giá của tự do. Nếu có một người trẻ nêu câu hỏi này, chị Christine sẽ trả lời thế nào?

Christine Quỳnh: Chúng ta phải đề cao tinh thần bất khuất của người Việt để cho thế hệ mai sau hiểu nguồn gốc sự có mặt của chúng ta ở đây và những giá trị chúng ta có được hôm nay không phải tự nhiên mà có. Chúng ta phải nên trân quý.

Trà Mi: 90 phút phim dĩ nhiên không thể khắc họa lại tất cả những nghiệt ngã, những mất mát đau thương để đánh đổi lấy tự do. Qua lăng kính Vietnamerica, các anh chị thấy những khía cạnh nào đã được soi rọi đầy đủ và những khía cạnh nào cần lột tả thêm để thế hệ sau được nhìn rõ một bức tranh toàn cảnh, trực diện về lịch sử thuyền nhân tị nạn Việt Nam?

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.

Hùng Vũ: Bộ phim đã nói lên được khát vọng của con người cần được tự do. Là một thuyền nhân, mình nghĩ nếu cuốn phim có thể nói thêm về hành trình tìm tự do gian khổ, khó khăn như thế nào thì sẽ xác thực hơn ý nghĩa của việc đi tìm tự do.

Trà Mi: Bộ phim ra mắt giữa bối cảnh các mốc kỷ niệm lịch sử và giữa cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thế giới. Là một người tị nạn Việt Nam, từ bộ phim này, các anh chị muốn chia sẻ thông điệp gì tới những người tị nạn trên thế giới”?

Tạ Đức Trí: Tất cả người tị nạn đều có khát vọng tìm tự do, mưu cầu hạnh phúc tương lai. Với khát vọng đó, chúng tôi rất hy vọng rằng các quốc gia sẽ chào đón, giúp đỡ người tị nạn. Hai chữ tự do sau thế kỷ 21 này vẫn là một thứ trân quý nhất cho nhân loại. Cũng vì hai chữ tự do mà cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã vươn lên hình thành và phát triển.

Trà Mi: Khát vọng tự do cho bản thân và gia đình giờ đã đạt thành, với những người còn đang hướng tới nó, các anh chị có thể làm gì để có thể truyền tiếp khát vọng của họ?

Christine Quỳnh: Ước mong rằng khi thành công ở Mỹ, chúng ta nên truyền bá lại cho con cháu mình có được tinh thần giống thế hệ của chúng ta, lúc nào cũng phấn đấu.

Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.

Tạ Đức Trí: Tập thể người Việt hải ngoại chúng ta luôn sẵn sàng hỗ trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ những thông tin cần thiết về một chính thể tự do thật sự. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể chia sẻ cho đồng bào trong nước về một bộ máy chính trị tự do, dân chủ bầu cử để người dân trong nước hiểu được thế nào là tự do-dân chủ thật sự, giá trị của một nền chính trị dân chủ quan trọng như thế nào để giúp cho quốc gia đó phát triển một cách toàn diện.  Chúng ta thấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sau 40 năm vẫn áp dụng chính sách độc tài , đàn áp tôn giáo, bắt bớ trí thức trẻ. Người trí thức trong nước chưa thể nói lên sự quan tâm của mình về hiện trạng đất nước thì thử hỏi làm sao Việt Nam có thể phát triển một cách toàn diện? Cho nên, chúng tôi rất hy vọng các bạn trẻ trong cộng đồng tại hải ngoại hãy quan  tâm nhiều hơn nữa về tình hình Việt Nam. Sự dấn thân của các bạn là một động lực hỗ trợ thêm cho giới trẻ trong nước. Chúng tôi biết nhiều bạn trẻ trong nước hiện nay cũng rất quan tâm về sự tự do-dân chủ trong nước chưa có và các bạn cũng có khát vọng để thay đổi. Chúng tôi xin đồng hành với các bạn trẻ tại Việt Nam để tranh đấu cho hai chữ tự do.

Trà Mi: Thông điệp về khát vọng tự do đó cũng chính là điểm nhấn của bộ phim tài liệu Vietnamerica mà 3 khán giả trẻ tham gia chương trình hôm nay đã cảm nghiệm và chia sẻ với thính giả đài VOA. Cảm ơn các anh chị rất nhiều.

Cô gái Việt Nam ơi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi,
Tôi biết tình cô u uất lắm,
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.

Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa,
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha,
Khi cô vui thú, là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già.

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi,
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Tôi đến đây tìm lại bóng cô,
Trở về đường cũ, hái mơ xưa,
Rau sam vẫn mọc chân rào trước,
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ.

Dải lúa cô trồng nay đã tươi,
Gió xuân ý nhị vít bông cười…
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa,
Trong một làng con, đã héo rồi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

HỒ DZẾNH (1916-1991)

Từ Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ nghĩ về chiến tranh VN

Từ Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ nghĩ về chiến tranh VN

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-10-20

Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ

Nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ

AFP

<

Nghĩa trang Quốc gia Arlington tại Washington DC hiện là nơi yên nghĩ của hơn 400 ngàn tử sĩ và người thân của họ. Những người lính này không chỉ ngã xuống vì lý tưởng tự do của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ mà còn đã hy sinh cho nền hòa bình, dân chủ của thế giới. Vào hôm 17/10/2015, một phái đoàn người Mỹ gốc Việt viếng thăm nghĩa trang này. Hòa Ái ghi nhận cảm xúc của những người có mặt trong lần “Tảo mộ Mùa thu” năm nay.

Hòa vào dòng người đông đúc đến thăm Nghĩa trang Quốc gia Arlington trong một ngày cuối tuần đầu mùa Thu năm 2015, nhiều gương mặt trong phái đoàn người Mỹ gốc Việt bùi ngùi xúc động. Họ chậm rãi từng bước chân xuyên qua các dãy mộ thẳng tắp với lòng tri ân sâu sắc những người lính đã bỏ mình nơi trận địa khắp thế giới vì cuộc sống thanh bình của nhiều người, trong đó có chính họ. Họ lặng lẽ viếng ngôi mộ tập thể có mộ bia với tên của các binh sĩ Hoa Kỳ và những người lính thuộc QLVNCH đã hy sinh trong một tai nạn trực thăng tại chiến trường miền Nam VN vừa tròn đúng 50 năm.

“ Hôm nay, các cộng đồng, các cô chú bác đến viếng thăm nghĩa trang này, tôi rất cảm ơn đã nhớ và đến thăm con tôi. Một chút nào hồi tưởng lại việc làm có ý nghĩa của một chiến sĩ VN mà chết đi để lại tiếng thơm cho cộng đồng mình. Và đối với những người lính thì đó là một danh dự, sự tự hào của người VN rất kiên cường, bất khuất

Thân mẫu của Hạ sĩ TQLC Bình Lê”

Cựu Trung tá Hải quân Hoa Kỳ Tuấn Nguyễn, đại diện Ban tổ chức cho Đài ACTD biết Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt và cộng đồng người Việt từ các tiểu bang duy trì viếng thăm “Tảo mộ Mùa thu” hằng năm ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington để tri ân và nhắc nhở những thế hệ người Mỹ gốc Việt tiếp nối về các anh hùng thuộc QLVNCH và Quân lực Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh VN cũng như những binh sĩ Mỹ gốc Việt đã ngã xuống ở chiến trường Afghanistan và Iraq.

Lần theo bước chân của phái đoàn người Mỹ gốc Việt, chúng tôi dừng lại ở phần mộ của các chiến sĩ gốc Việt đã tử nạn ở mặt trận các quốc gia Trung Đông. Thân mẫu của Hạ sĩ Thủy quân Lục chiến Bình Lê chia sẻ cảm xúc của bà trong lần viếng mộ đứa con trai duy nhất đã ra đi vĩnh viễn khi tuổi đời còn rất trẻ:

“Hôm nay, các cộng đồng, các cô chú bác đến viếng thăm nghĩa trang này, tôi rất cảm ơn đã nhớ và đến thăm con tôi. Một chút nào hồi tưởng lại việc làm có ý nghĩa của một chiến sĩ VN mà chết đi để lại tiếng thơm cho cộng đồng mình. Và đối với những người lính thì đó là một danh dự, sự tự hào của người VN rất kiên cường, bất khuất. Con tôi được chôn trong Nghĩa trang Quốc gia này, tôi cảm thấy nơi yên nghỉ của con mình rất bình yên và đẹp đẽ. Tôi cứ nghĩ con tôi ở trong 1 ngôi nhà mới. Thỉnh thoảng tôi đến thăm và hôn con tôi. Và thế là tôi sống”.

Trong lần viếng Nghĩa trang Quốc gia Arlington năm nay, một số người trong phái đoàn Người Mỹ gốc Việt còn dành thời gian đến viếng khu an nghĩ của các chiến sĩ Bắc-Nam Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh giữa các Tiểu bang hay còn gọi là “Nội chiến Hoa Kỳ” từ năm 1861 đến năm 1865. Phía sau Nhà tưởng niệm Tướng Robert Lee chỉ huy Quân đội Phương Nam là ngôi mộ của các chiến sĩ vô danh, nơi chôn chung hài cốt của 2111 tử sĩ cả 2 miền Nam-Bắc. Tại lô 16 trong nghĩa trang này còn có gần 500 mộ phần của các tử sĩ miền Nam. Và tại đây, tượng đài Tưởng niệm những người lính miền Nam-Confederate Memorial được xây vào năm 1914. Trong ngày khánh thành có sự hiện của Đại tá Robert E. Lee, cháu nội của vị “bại Tướng” Lee, người đã thảo lá thư ngỏ ý kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Các lá cờ của phe “thua trận” miền Nam vẫn tung bay tại nghĩa địa và các khu lưu niệm trong ngày Chiến sĩ Trận vong Hoa Kỳ hằng năm.

“ Cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới là hậu quả của nó ít có nước nào theo được. Là vì sau cuộc nội chiến, người sống không bị trả thù và người chết cũng được đối xử bình đẳng. Tất cả các nghĩa trang của miền Nam được tu bổ, được kính trọng. Và đặc biệt tại Nghĩa trang quốc gia Arlington, những tử sĩ của miền Nam được chia sẻ phần đất với những tử sĩ của miền Bắc

Thiếu tá Đạt Nguyễn/QLVNCH”

Có mặt trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington, cựu Thiếu tá Đạt Nguyễn, thuộc QLVNCH bày tỏ cảm nhận của ông về sự xúc động khi nghĩ đến nơi an nghĩ vĩnh hằng của các tử sĩ Nam-Bắc trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ hồi giữa thế kỷ 19:

“Cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới là hậu quả của nó ít có nước nào theo được. Là vì sau cuộc nội chiến, người sống không bị trả thù và người chết cũng được đối xử bình đẳng. Tất cả các nghĩa trang của miền Nam được tu bổ, được kính trọng. Và đặc biệt tại Nghĩa trang quốc gia Arlington, những tử sĩ của miền Nam được chia sẻ phần đất với những tử sĩ của miền Bắc. Đó là bước đầu và chính là chìa khóa của sự hòa hợp hòa giải dân tộc mà họ chỉ tốn một thời gian 18 năm để hàn gắn tất cả những đổ vỡ do cuộc nội chiến mang lại”.

Nghĩa trang Quốc gia Arlington mở cửa suốt 365 ngày trong năm để đón những dòng người đến viếng. Ngôi mộ các chiến sĩ vô danh cả 2 miền Nam-Bắc trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ có lẽ được viếng thăm nhiều nhất. Khách viếng nghĩa trang không tìm hiểu binh lính 2 miền Nam-Bắc đã thắng và thua như thế nào nhưng họ đề cao tinh thần nhân văn và tính nhân bản của người dân Mỹ luôn ghi ơn các tử sĩ đã đổ xương máu trong cuộc nội chiến vì 1 đất nước Hoa Kỳ hùng cường trên thế giới của ngày hôm nay.

Nhiều người Mỹ gốc Việt viếng thăm Nghĩa trang Quốc gia Arlington chạnh lòng nhớ về tượng “Thương Tiếc” dựng trước cổng Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa bị kéo đổ sau ngày 30/4/1975. Nghĩa trang này là nơi yên nghĩ của hàng chục ngàn binh sĩ miền Nam. Và dù chiến tranh VN đã kết thúc 40 năm qua nhưng sự khác biệt giữa Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM với Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa còn quá xa. Họ ngậm ngùi tự hỏi phải chăng đến khi mộ phần của những người lính Nam-Bắc VN không còn sự khác biệt thì đó là thời điểm trang sử mới hòa hợp hòa giải dân tộc được mở ra cho những người còn sống?

KHÔNG GIAN CHỮA LÀNH CỦA THINH LẶNG

KHÔNG GIAN CHỮA LÀNH CỦA THINH LẶNG

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Quyển sách mới đây của Robyn Cadwallander, “Nữ ẩn sĩ” (The Anchoress) kể về Sarah, một phụ nữ trẻ chọn khép mình khỏi thế giới và sống như một ẩn sĩ (như Julian thành Norwich vậy).  Đây không phải là đời sống dễ dàng và cô sớm ra mình phải đấu tranh với lựa chọn này.  Cha giải tội cho cô là cha Ranaulf, một tu sĩ trẻ, không nhiều kinh nghiệm.  Mối liên hệ giữa họ cũng không dễ dàng. Cha Ranaulf là người ngại ngùng và ít nói nên Sarah thường thấy chán khi gặp cha, cô muốn cha nói thêm, muốn cha đồng cảm hơn và đơn giản muốn cha hiện diện rõ hơn với cô.  Họ thường xuyên bàn luận, hy ít nhất là Sarah thường cố moi thêm lời nói và đồng cảm từ cha Ranaulf.  Nhưng bất kỳ lúc nào cô cố gắng làm thế, cha Ranaulf đều gián đoạn buổi xưng tội và rời đi.

Một ngày nọ, sau một buổi xưng tội cực kỳ đáng chán khiến cha Ranaulf cứng lưỡi và Sarah giận dữ, cha chỉ đóng cánh cửa tòa giải tội, một phản ứng thông thường của cha khi căng thẳng, khi có điều gì đó trong cha không muốn cho cha bỏ đi.  Cha biết là mình phải cho Sarah một điều gì đó, nhưng cha không có lời lẽ nào để làm được.  Và, khi không có gì để nói ngoài cảm giác mình buộc phải rời đi, cha đơn giản là ngồi đó trong thinh lặng.  Ngược đời thay, sự bất lực câm nín của cha lại đạt được một điều mà những lời nói của cha không làm được, đó là một bước đột phá.  Lần đầu tiên, Sarah cảm thấy sự quan tâm và đồng cảm của cha, cũng như sự hiện diện của cha với mình.

CHUA LANHVà lời văn của Cadwallander mô tả đoạn này như sau:

“Cha hít một hơi thật sâu rồi từ từ chậm rãi thở ra.  Cha không còn điều gì để nói, nhưng cha không để cô ấy ở đây một mình trong tâm trạng cay đắng được.  Vậy nên cha vẫn ngồi lại trong tòa giải tội, cảm nhận sự trống trải của phòng xưng tội quanh mình, cảm nhận sự thất bại của việc học, của những từ ngữ mà cha đã ghi khắc trong đầu, trang này đến trang khác, tầng này đến tầng khác.  Cha không thể mở miệng, nhưng cha có thể ở lại, và cha làm thế.  Cha bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng không biết bắt đầu thế nào, không biết phải xin gì.  Cha bỏ cuộc, và thở chậm rãi từ từ.

Sự thinh lặng bắt đầu như một điều gì đó thật vụn vặt và đáng sợ, đậu trên rìa cửa sổ tòa giải tội, nhưng khi cha Ranaulf ngồi đó trong tĩnh mịch, nó dần dần, rất chậm rãi, lớn lên, và tràn khắp gian phòng, cuộn chặt quanh cổ và vòng lấy lưng cha, cuốn quanh đầu gối và đôi bàn chân cha, tràn lên các bức tường, lấp đầy các ngóc ngách, len lỏi vào cả các khe tường đá.…  Sự thinh lặng trườn qua các khe hở và len vào cả gian phòng bên trên.  Dường như nó thật êm ái mềm mại.  Nó tràn ra và vững vàng, nó chiếm lấy mọi khoảng không.  Cha Ranaulf ngồi bất động, không nhúc nhích, cha đã mất hết mọi khái niệm về thời gian.  Mọi sự cha biết là một có một phụ nữ đang cách cha một sải tay, trong bóng tối, và đang thở.  Vậy là đủ.

Khi ánh nến trong gian phòng mờ dần đi, cha nhúc nhích, cha nhìn vào bóng tối.

‘Chúa ở cùng con Sarah.’ ‘Và ở cùng cha.’ Giọng của cô tươi sáng hơn, thân thiết hơn.”

Có một ngôn ngữ vượt ngoài ngôn từ.  Sự thinh lặng dành chỗ cho ngôn ngữ đó.  Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực không thể nói được gì có ý nghĩa, chúng ta phải đi trở vào sự vô tri và vô lực, nhưng khi ở lại trong tình trạng này, sự thinh lặng tạo một không gian cần thiết cho một điều thâm sâu hơn xuất hiện.  Nhưng thường, lúc đầu, thinh lặng thật không dễ dàng gì.  Nó bắt đầu “như một sự đáng sợ vụn vặt” và dần lớn lên thành hơi ấm xua tan đi căng thẳng.

Nhiều lần chúng ta không có lời nào đáng để nói.  Chúng ta, ai cũng cảm nghiệm việc đứng bên giường người hấp hối, tham dự một đám tang, đứng trước một tâm hồn tan vỡ, hay rơi vào thế bí khi cố gắng vượt qua tình huống căng thẳng trong quan hệ, lại thấy mình cứng lưỡi, không có từ nào để nói, rồi cuối cùng rơi vào thinh lặng, biết rằng nói bất kỳ điều gì cũng chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn này.  Trong tình thế bất lực đó, bị hoàn cảnh làm câm nín, chúng ta học được một điều: Chúng ta không cần phải nói gì, chỉ cần ở đó.  Sự hiện diện thinh lặng, bất lực của chúng ta là điều đang cần.

Và tôi phải công nhận, đây không phải là điều dễ học đối với tôi, không phải là điều theo khuynh hướng của tôi, và thực sự nhiều khi tôi không làm thế khi đáng ra phải làm.  Cho dù tình thế có ra sao đi nữa, tôi luôn cảm thấy mình phải nói lên một điều gì đó có ích, một điều gì đó giúp giải quyết căng thẳng này.  Nhưng tôi đang học được rằng, hãy để sự bất lực lên tiếng, và cũng học được rằng điều này thật mạnh mẽ biết bao.

Tôi nhớ có lần, khi còn là một linh mục trẻ, đầy kiến thức học được trong chủng viện và háo hức chia sẻ kiến thức đó, tôi ngồi trước một người có tâm hồn đang bị tan vỡ, tôi cố gắng tìm câu trả lời và thấu suốt trong đầu mình, tôi không tìm thấy gì, cuối cùng tôi xin lỗi thú nhận sự bất lực của tôi với người đối diện.  Câu trả lời của cô làm tôi kinh ngạc, và dạy tôi một điều mà tôi không hề hay biết trước đây.  Cô đơn giản nói rằng: Sự bất lực của cha là món quà quý báu nhất cha có thể chia sẻ với con ngay bây giờ.  Con cám ơn cha.  Không một ai kỳ vọng bạn có chiếc đũa thần để chữa lành những phiền muộn của họ.

Đôi khi, thinh lặng lại thành một sự êm ái mềm mại len lỏi và chiếm lấy, lấp đầy mọi khoảng không

Rev. Ron Rolheiser, OMI

: ngocnga_12 gởi

NHẪN

NHẪN

Người biết nhẫn là người hoà hiệp
Sống bình tâm ăn nói cũng nhẹ nhàng
Họ luôn luôn thanh thản trước nguy nan
Và lịch sự lẹ làng ngoài xã hội

Người biết nhẫn làm trọng tài lúc rối
Chẳng giận hờn trách móc kẻ chung quanh
Nét căm thù không bộc lộ phát nhanh
Nói hoà nhã vui cùng niềm vui bè bạn
Người biết nhẫn sống hài hòa bình thản
Biến những lời gay gắt trở thành không
Biết can ngăn khi sự việc nổ phồng
Hoá giận dữ hoà đồng cho vui vẻ
Người biết nhẫn không bao giờ chia rẽ
Đưa bạn bè xích lại sát gần nhau
Chỉ cho nhau sai trái buổi ban đầu
Hay an ủi vỗ về người lầm lỗi
Người biết nhẫn trong cuộc chơi mở lối
Với tấm lòng hàn gắn kịp can ngăn
Sống hiếu đời hoà giải mọi lỗi lầm
Để tình bạn đời đời thêm gắn bó
Người biết nhẫn là người không thách đố
Mọi ưu phiền giải tỏ biến thành vui
Đem tấm lòng rộng mở với mọi người
Không chèn ép biết hoà mình chung cảnh ngộ ….!

Anh chi Thu Mai goi

Ông Robert Funseth và ngưòi tù chính trị Việt nam.

Ông Robert Funseth và ngưòi tù chính trị Việt nam.

Tác giả: Phùng văn Phụng 

Theo tin từ báo Người-việt :

“Ông Robert L. Funseth, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và được xem như là một ân nhân của chương trình H.O vừa mất sáng nay, Thứ Sáu ngày 25 Tháng Chín, 2015 lúc 10 giờ 20 tại bệnh viện ở Arlington, Virginia. Hưởng thọ 89 tuổi”.

“Ông bị té từ ngày Labor Day, té trong nhà, không ai biết. Vài ngày sau thân nhân mới biết ra, và cảnh sát đến nhà, mở cửa. Vì hàng xóm không thấy báo picked up trước nhà nên hàng xóm mới gọi con cháu của ông ở xa và họ kêu cảnh sát đến, cảnh sát mở cửa thì mới thấy ông té trong nhà chắc cũng 1,2 ngày rồi.”

Funsett

 

 

 

 

Di ảnh ông Robert  L. Funseth

Ông Robert Funseth từng giữ chức Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ và là Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam.

Với nỗ lực không ngừng của ông Funseth, sau bảy năm, kể từ năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ và nhà cầm quyền Việt Nam đã ký xong bản thỏa hiệp vào ngày 30 Tháng Bảy năm 1989 đồng ý đưa 300,000 tù nhân chính trị, những cựu quân nhân VNCH cùng gia đình họ, đến định cư tại Hoa Kỳ theo Chương trình H.O (Humanitarian Operation).

Ông là người “được trao trách nhiệm đàm phán với giới lãnh đạo Hà Nội để yêu cầu thả tù chính trị và cho họ cùng với gia đình sang Hoa Kỳ định cư (báo Nguoi-viet)

Ông Robert Funsett nhớ lại: Khi tôi được đề cử về làm việc cho văn phòng Đặc trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao kế hoạch cứu tù chính trị được đạt trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự và nằm dưới sự hổ trợ của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc .

Năm 1982 tôi gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Hà Văn Lâu và đưa đề nghị cho thân nhân của những người đang cư ngụ tại Mỹ và thành phần tù chính trị được nộp đơn định cư “

Gặp gỡ rất nhiều lần khác nữa mãi đến ngày Ngày 30/07/1989, Phụ tá Robert Funsett và thứ Trưởng Vũ Khoan ra thông báo chung loan báo hai bên thoả thuận về ” một chương trình tái định cư tại Hoa Kỳ những người được thả ra từ các trại “cải tạo” và gia đình mà có ý muốn di cư sang Hoa Kỳ”

Tâm Tình Tri Ơn

Sau năm 1975, đa số viên chức, quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa “thơ ngây” đi trình diện, rồi ở tù khổ sai trong các trại cải tạo miền rừng núi Bắc Việt (Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng…hay ở trong các miền rừng núi âm u của miền Trung , hay nhiều trại cải tạo ở vùng xa vùng sâu ở miền Nam v.v..). Sống trong trại cải tạo, trong nhà tù của cộng sản, bị đói triền miên, còn phải lao động vất vả cuốc đất, trồng khoai, cày bừa, trồng lúa dưới trời nắng như đổ lửa vào mùa hè, trời lạnh thấu xương dưới những cơn mưa phùn gió bấc hai ba tháng liên tục vào mùa đông, sống chết không biết ngày nào, lúc đó mới biết hy vọng được đi Mỹ từ trong các trại cải tạo là nguồn an ủi vô biên, động viên cho anh em lý do hy vọng để tiếp tục sống.

Đến khi được về với gia đình, họ đâu có được tự do, luôn luôn có người theo dõi, kiểm soát, kềm kẹp .

Mỗi sáng thứ hai phải trình diện công an, trong tuần qua làm gì, gặp ai, nói gì.

Đi đâu khỏi phường, khỏi quận cũng phải xin phép công an.

Khi cần họ bắt chúng tôi, những tù chính trị, đào đất, làm mương, đấp đường đi, cơm nước phải tự túc mang theo .

Nếu không có ông Funsett thì cuộc đời của tù chính trị và con cháu ngày hôm nay sẽ ra sao?

Tất nhiên ai cũng biết là rất khổ sở, con cái không được học hành tới nơi tới chốn. Làm ăn lam lũ, không đủ sống. Còn bị công an theo dõi trông chừng kiểm soát, đâu có làm ăn gì được.

Khó khăn, nghèo đói, khổ sở là tất yếu.

Đa số những tù nhân chính trị có trình độ lớp 11 trở lên vì có Tú Tài I mới được đi sĩ quan Thủ Đức, mang cấp bậc chuẩn úy. Ngày xưa, trước năm 1975 muốn đậu Tú Tài I rất khó khăn thường kết quả các kỳ thi chỉ khoảng 30 phần trăm thi đậu, còn 70% thi rớt.

Thành phần đi tù sau năm 1975 thông thường là thành phần ưu tú của người miền Nam. Thành phần này cộng sản không dung, mà nhà nước cộng sản còn muốn tống xuất tất cả những quân nhân, công chức có trình độ, có khả năng dưới chế độ VNCH ra khỏi Việt Nam (khoảng 300,000 người)

Vì sao vậy? vì họ dùng “ hồng hơn chuyên” hầu như đa số người tài được đào tạo từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa hay ở Mỹ, Pháp, Anh, Úc đều bị loại trừ vì nghi ngờ, không tin cậy họ. Thành phần ưu tú này khi ra nước ngoài họ đã đem tài năng, sức lực đóng góp rất nhiều cho các nước mà họ định cư, các nước đã cưu mang họ trong bước đầu khó khăn và con cái của thành phần ưu tú này đã rất thành công trong môi trường mới nếu không tốt nghiệp Đại Học thì cũng làm ăn khá giả hơn so với đất nước mà họ đã sinh ra, đã loại trừ họ, không cho con cái họ học hành vì thuộc thành phần “ ngụy quân, ngụy quyền”.

Còn ở trong nước cùng dòng máu da vàng, cùng ngôn ngữ, cùng huyết thống nhưng do lòng căm thù, nghi ngại họ đã bị phân biệt đối xử, không phải chỉ công chức, quân nhân dưới chế độ cũ mà ngay cả thành phần làm ăn khá giả cũng bị loại trừ bị đánh tư sản và con cháu ba đời của họ cũng bị loại trừ không cho học hành và không được làm nghề nghiệp đúng với khả năng của họ.

Định cư ở đất nước văn minh, họ tìm thấy được sự tự do, bình an và hạnh phúc thực sự vì họ không bị kỳ thị cũng như bị làm khó dễ, kiểm soát, canh chừng như ở Việt Nam.

Khoảng ba trăm ngàn H.O. thành phần ưu tú miền Nam bị tống xuất đi Mỹ chưa kể số người ưu tú khác như kỹ sư, bác sĩ, kỹ nghệ gia, thương gia giỏi thành công ở miền Nam đều tìm các trốn chạy khỏi chế độ cộng sản như vậy có phải :

Đó là một hiện tượng “chảy máu chất xám” vĩ đại chưa từng có bao giờ trong lịch sử Việt nam.

Lòng khoan dung của người Mỹ

Nếu không căm thù lấy sự khoan dung để đối xử với người miền Nam thì ngày nay chắc chắn chẳng có ai sống lưu vong ở nước ngoài, cùng nhau chung lo xây dựng đất nước, tài năng họ được trọng dụng thì ai lại bỏ đi . Nếu học được bài học khoan dung của người Mỹ trong cuộc nội chiến Nam Bắc của Mỹ bắt đầu vào ngày 12 tháng 04 năm1861. Bốn năm sau ngày 9 tháng 04 năm 1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc. Tướng bại trận và binh lính miền Nam được đối xử tử tế, không có ai bị đi tù mà mồ mả của tử sĩ miền Nam cũng được tôn trọng .

Nếu lấy tình thương đối xử với nhau thay vì lấy căm thù, phân biệt đối xử thì ngày hôm nay đất nước đã phát triển đâu có thua gì Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan…mà sự chia rẻ trong dân tộc cũng đã được hòa giải từ lâu rồi.


Tượng vị tướng Robert E Lee

Tại sao người Mỹ đã đối xử với đối phương có lòng khoan dung và tha thứ như vậy, nhờ đó mà nước Mỹ đã đoàn kết được dân tộc và giữ vai trò lảnh đạo thế giới như ngày hôm nay. Phải chăng họ đã thấm nhuần tinh thần Ki tô giáo: “ Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em” (Mt 5 câu 44)

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

10/2015

Đọc bài dưới đây mới thấy sự hoà hợp, hòa giải thực sự đúng nghĩa.

Nước Mỹ sau nội chiến và bài học hòa hợp dân tộc của Nguyễn Hòa Bình

Robert Funseth, ân nhân của HO, qua đời ( báo Nguoi-viet.com)

Là người Việt Nam!

Là người Việt Nam!
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Cách đây khoảng 10 năm, sau một chuyến đi xa, trên đường trở lại California, vợ chồng chúng tôi và hai người bạn đang ngồi chờ đổi máy bay tại phi trường Atlanta, thì bất chợt một ông Việt Nam trung niên, áo vest, thắt cà vạt, tiến về phía ghế ngồi của chúng tôi. Một cách mừng rỡ và vội vã, không kể người trước mặt mình là đàn ông hay đàn bà, quen hay lạ, y thọc tay về phía chúng tôi: – “Các bác là người Việt Nam!” Không đợi câu trả lời, quơ được bàn tay của chúng tôi đưa ra một cách phản xạ, y lắc đấy lắc để.

Phải nói là chúng tôi phản ứng quá chậm hay gần như không có phản ứng gì.

Cho đến lúc người đàn ông lạ mặt này thấy không mấy phấn khởi với cuộc làm quen này, quay lưng đi, chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, lặng lẽ và ngao ngán không nói một câu gì. Phải, chúng tôi là người Việt Nam, nhưng cuộc gặp gỡ với một người Việt Nam kỳ này không đem lại điều gì hứng thú cho chúng tôi, qua ngôn ngữ và cách xử thế, chúng tôi thấy có một khoảng cách khá lớn, và cũng là người Việt Nam, nhưng tôi cảm thấy y không giống tôi, ngoài một thứ ngôn ngữ đã khá dị ứng, con người này như đến từ một xứ sở nào khác.

Như thế, ít ra tôi cũng đã hiểu vì sao một người Tàu ở Hồng Kông trước năm 1999 chỉ nhận họ là người Hồng Kông, hay sau 1949, những người Tàu ở Đài Loan, cho rằng mình là người Đài Loan (“Trung Hoa Dân Quốc” hay “Trung Hoa Đài Bắc”) để khỏi nhầm với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Hoa lục địa hay Cộng Sản Trung Hoa). Hẳn không một người Nam Hàn nào thích hiểu lầm họ là người Bắc Hàn (được Việt Nam gọi là Triều Tiên) và trước đây giữa người Đông và người Tây Đức mặc dầu nguồn gốc của họ là người Đức. Người ta không thể phủ nhận nguồn gốc của mình nhưng có thể phủ nhận chính thể đương thời và lựa chọn quốc tịch cho mình.

Chỉ có hai tiếng Bắc Kỳ thôi, và chỉ trong vòng 30 năm, người Việt Nam cũng đã chọn chỗ đứng rõ ràng khi phân biệt ai là Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới, ai là Bắc Kỳ “chín nút” (54), ai là Bắc Kỳ 75! Nếu trong câu chuyện nói, còn có chút gì kỳ thị, thì chúng ta cũng không nên trách, đây không phải là chuyện đoàn kết dân tộc, mà là chuyện văn hóa và chính kiến, nó phát xuất từ những khổ đau và bất hạnh mà con người ta phải gánh chịu, qua những thăng trầm của lịch sử.

Tôi là người Việt Nam, và những ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường hãnh diện mình là người Việt Nam, với “bốn nghìn năm văn hiến,” “con Rồng cháu Tiên,” lớn lên trong thời loạn lạc, người chẳng ra người, ta lại được hãnh diện thêm vì quê hương mình “rừng vàng biển bạc,” thủ đô “là đỉnh cao trí tuệ của loài người,” “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ!” “mỗi buổi sáng thức dậy ước mơ mình trở thành một người Việt Nam,” “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần các nước Tây phương,” “vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế!” thì không còn gì để có thể hãnh diện hơn được nữa!

Gom tất cả tinh hoa của người Việt trên thế giới để làm những tác phẩm vĩ đại để ca tụng con người Việt Nam là điều không khó, vì những khuôn mặt thành đạt vẻ vang này ở nước ngoài, sau ngày phải bỏ nước ra đi, chúng ta không chỉ có hàng chục nhân vật đủ làm một tác phẩm mà con số này có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn người. Nhưng nếu tập họp họ lại, xếp hàng ngay ngắn như trong một cuộc “diễu hành,” có một mỹ nhân mặc quốc phục dẫn đầu cầm một tấm bảng lớn mang dòng chữ “Tôi là người Việt Nam” thì điều này quả còn quá nhiều gượng ép.

Đồng ý nguồn gốc họ đều là những người Việt Nam, có người bỏ nước ra đi từ ngày chủ thuyết Cộng Sản đến Việt Nam, nhưng cũng có người sinh ra ở nước ngoài, mỗi người có một cuộc đời, hoàn cảnh, tình cảm và chính kiến khác nhau. Nếu có ai hỏi họ: – “Ông bà là người Việt Nam?” thì câu trả lời sẽ là: – “Phải, tôi là người Việt Nam! Nhưng đó là câu chuyện cách đây 40 năm. Đó là một câu chuyện dài!”

Trong chúng ta, ai cũng có một câu chuyện dài phải được kể lại, hay bây giờ mới được kể lại!

Những nhà tuyên truyền thường nhắc đến tình tự dân tộc, biểu tượng từ một tiếng đàn bầu, một tiếng hò trên sóng nước để gợi cho con người nhớ đến quê hương. Người ta lập lại mãi câu nói “quê hương chỉ một” hay anh em đi xa là “khúc ruột ngàn dặm” và không ngừng kêu gọi một sự trở về tha thiết, – “Nếu đi hết biển thì đến đâu hở mẹ!”- “Đi hết biển thì sẽ trở về làng cũ!” Vì sao con chim phải bay trở lại cái lồng đã giam hãm nó, có khi là cái thòng lọng hay cái cũi nhốt của một con vật. Đó là con người của tự do, có ý thức, không phải chiếc xe lửa chạy lui tới trên đường ray.

Có người đem chuyện người Việt lưu lạc của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (1136-1175) là con thứ sáu của vua Lý Anh Tông, đã cùng họ hàng vượt biển Bắc vào đầu thế kỷ thứ 13 vì bị phe cánh Trần Thủ Độ hãm hại, sau đó trôi giạt đến Cao Ly, để nói chuyện người Việt trở về tìm lại nguồn cội. Xin quý vị yên tâm đi, không cần phải nói chuyện đạo lý, nhân nghĩa, Cộng Sản thôn tính miền Nam mới nửa thế kỷ, dòng dõi Lý Long Tường bỏ nguồn cội đã bảy tám thế kỷ này. Thời gian hãy còn quá sớm để cho những người Việt lưu lạc tha phương trở về.

Hình ảnh tìm về cội nguồn hẳn là đã được ca ngợi rất nhiều.

Truyền thống dân gian cho rằng loài cá hồi trở về đúng nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng, nhưng cuộc nghiên cứu đã cho thấy hành động quay lại nơi ra đời này đã được thể hiện phụ thuộc vào ký ức khứu giác và thói quen, hẳn không hề có ý nghĩa về cội nguồn. Và trong một câu chuyện khác, hàng năm vào mùa Xuân, những đàn én từ phương Nam đã bay trở về nhà nguyện San Juan Capistrano (California) và về phía Nam Mỹ là để trốn mùa Đông giá rét. Đến mùa nắng ấm, chúng lại bỏ gác chuông nhà thờ để ra đi, không hề có có ý niệm trở về hay qui cố hương.

Nếu câu hỏi đặt cho một người và câu trả lời dành cho một người, nó mang một ý nghĩa khác, nhưng khi chúng ta tập trung họ lại, cố tình hướng dẫn họ thành một đám đông và mở đường, sắp xếp cho họ có chung một câu trả lời theo dụng ý của những nhà đạo diễn, tôi cho đây là điều thiếu đạo lý.

Vả lại, điều dễ thấy rõ, hàng chục người vừa tuyên bố mình là người Việt Nam ở đây đều nằm trong 3 triệu người, bỏ nước ra đi, bằng lý do này hay lý do khác; họ không có nổi một tờ giấy tùy thân hay một “sổ đăng ký hộ khẩu thường trú” của chế độ đương thời, vậy thì họ là ai, người Việt nhưng người Việt nào? Câu trả lời gần như được xếp chung một loại “thấy sang bắt quàng làm họ!” Quơ vào những cái quả thực không phải của mình. Mục đích của người làm phim đã quá rõ ràng. Chẳng qua là khán giả của loại chương trình này quá dễ dãi, họ dễ chấp nhận một cái vui nhỏ, một cái cười cợt dính ngoài môi, để quên đi những điều cốt lõi mà họ đang được mời tham dự, mà nội dung đã được tính toán, có dụng ý chính trị, của ông chủ chi tiền.

Phải chăng trong không khí rộn ràng của màu sắc, âm nhạc, da thịt, phấn son, ít ra trong một thời gian ngắn người ta quên được những khuôn mặt Việt Nam cần phải được cởi áo che tại Nhật, hàng nghìn khuôn mặt phụ nữ khổ đau xấu hổ không dám nhìn ai trên quê hương nhầy nhụa hôm nay.

Rõ ràng là chế độ tham lam, ham muốn chạy theo những thành công nhất thời của mỗi con người không phải trong xã hội của mình để áp đặt hai chữ Việt Nam, mà không chịu xây dựng được một con người tử tế ngay trong xã hội của mình.

Chúng ta hãy nghe phát biểu của ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẫn, cố bí thư thứ nhất đảng CSVN, trên vietnam.net trong vài ngày gần đây: “…tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: ‘Chẳng lẽ đây là người Việt Nam chúng ta?’”

Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

RFA

Trong bối cảnh Nga đang căng thẳng với Mỹ, cùng nhiều nước Châu Âu, không ít người tin rằng việc trao giải Nobel Văn Chương 2015 cho bà Svetlana Alexievich là có động cơ chính trị. Nhưng bên cạnh đó, rất nhiều người được biết về bà Svetlana Alexievich, đã hiểu rằng cuối cùng là Nobel cũng đã chọn đúng được một con người đã âm thầm cống hiến cho các số phận và biên niên sử về đổ nát và cai trị trên thế giới này.

Và có lẽ để tránh gây ra những tranh cãi không cần thiết, tên của bà Svetlana Alexievich chỉ bất ngờ được xướng lên vào giờ chót, vượt qua các tên tuổi được đề cử năm nay là Haruki Murakami (Nhật), Ngugi Wa Thiong’o (Kenya), Jon Fosse (Na Uy), Joyce Carol Oates (Mỹ). Trong số những cái tên đề cử của Nobel Văn chương 2015, tỉ lệ cá cược phần thắng giành cho bà Svetlana Alexievich là rất ít ỏi. Thậm chí, bà Alexievich chỉ nhận được tin mình đoạt giải Nobel trước bản tin chính thức loan ra, cách đó 15 phút.

Đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng nhiều tờ báo vẫn quen gọi bà Svetlana Alexievich là nhà báo, bởi việc bà đã bỏ ra nhiều năm để đi, tìm hiểu và ghi chép về những số phận con người trãi qua chiến tranh và sự cai trị chế độ Sô Viết cũ. Khi có người hỏi rằng bà có phải chỉ đang làm công việc chép lại lịch sử như một nhà báo hay không, bà Svetlana Alexievich dã lập tức trả lời rằng “tôi ghi lại lịch sử, nhưng bằng cảm xúc với những con người đã sống sót qua lịch sử”.

Số phận của bà Alexievich chứng kiến nhiều nghịch cảnh. Bà người Belarus, nhưng sinh ra tại Ukraine vào năm 1948. (mẹ bà là người Ukraine.) Khi cha của bà đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình, gia đình chuyển lại cho Belarus, nơi Alexievich học báo chí tại Đại học Minks. Nhưng nhờ vậy mà bà lại có cơ hội nhìn và cảm nhận được toàn bộ về chiến tranh, xung đột, thảm kịch ở Liên Xô cũ, cũng như các nước chịu ách thống trị của cộng sản Nga. Giới nghiên cứu và sinh viên vẫn luôn coi các tác phẩm của bà Alexievich là nguồn cảm hứng quanh các đề tài Chiến tranh thế giới II, Chiến tranh Xô-Afghanistan và các thảm họa Chernobyl.

Công việc của bà Alexievich được giới thiệu ở giải Nobel như một điều mới mẻ. Chưa bao giờ Nobel Văn chương lại nhìn thấy công việc của một nhà văn nào như bà. Bà không sáng tác, bà vẽ lại thế giới, làm đầy những phần bị mất hoặc sẽ lãng quên cùng nỗi đau và tội ác. Trong thông cáo của mình, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nói về nhà văn 67 tuổi này “Giải thưởng xin dành cho cho các tác phẩm đầy âm điệu của bà, một tượng đài ẩn nhẫn và quả cảm trong thời đại chúng ta”.

Thư ký thường trực mới của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Sara Danius nói rằng 40 năm nghiên cứu con người của Liên Xô, mà nhà báo Belarus Svetlana Alexievich làm nên là “một cái gì đó vĩnh cửu, một cái nhìn thoáng qua để thấu đạt cõi đời đời.”

Nhà bình luận văn học Sarah Begley viết trên tờ Time rằng bà Alexievich là một bậc thầy về lịch sử truyền miệng. Khi phỏng vấn những người lính, phụ nữ và người dân về những cuộc đời của họ, bà Alexievich đã viết lại một cách tài tình, khiến cho câu chuyện của họ sống động trong một hình thức văn chương quyến rũ nhất.

“Tôi đã tìm kiếm một thể loại mà sẽ là thích hợp nhất để chuyển tải được cái nhìn của tôi về thế giới, để truyền đạt được cách tai tôi nghe, mắt tôi thấy về cuộc sống này”, bà Alexievich viết trên website của mình như vậy, “Tôi đã cố gắng tìm kiếm và cuối cùng chọn một thể loại là để con người cất lên tiếng nói của chính họ.”

Alexievich trở thành người phụ nữ thứ 14 giành được giải Nobel về văn học, nhà báo đầu tiên và những nhà văn đầu tiên của dòng văn chương phi hư cấu, trong nửa thế kỷ qua. Lúc này bà Alexievich đang viết diễn từ của mình, để đọc tại lễ trao giải Nobel vào 10 tháng 12 tới đây trong sự lo ngại của chính quyền Belarus và Nga, bởi bà là người luôn viết và nói về những thứ mà cả hai chính quyền này đều muốn dân chúng phải lãng quên.

Bà Alexievich cũng là một trong những trí thức đấu tranh ôn hoà, chán ghét độc tài và cộng sản. Khi báo chí Nga bình luận, tỏ vẻ muốn “giành” giải Nobel của bà cho dòng văn học Nga, bà Alexievich đã tuyên bố với báo giới rằng “Tôi mang trong mình một phần đời của Belarus, một phần của văn hoá Nga và còn lại thuộc về thế giới. Tôi yêu điều tốt đẹp, sự nhân ái của đời sống Nga, gồm cả văn chương, ballet, âm nhạc… Nhưng tôi không thể yêu nổi phần của Satlin, Beria, Putin và Shoigu” (chú thích: Sergei Shoigu là Bộ trưởng Quốc phòng Nga hiện nay). Vì không chấp nhận được xu hướng độc tài ở Belarus, bà Alexievich rời đi và định cư ở Tây Âu từ nhiều năm nay, viết sách bằng tiếng Nga. Alexievich đã dành nhiều năm sống bên ngoài Belarus, sau khi chỉ trích rằng Tổng thống Alexander Lukashenko cũng đang học đòi phong cách độc tài không khác gì Putin.

Cuộc đời của bà Svetlana Alexievich cũng cô đơn như những nhân vật trong tác phẩm của bà. Trong khi cả thế giới lên tin tức về một người mang văn hoá Nga, văn hoá Belarus vừa đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng tất cả giới quan chức của Belarus và Nga đều im lặng như tờ, không khác gì Trung Quốc nghe tin Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao giải Nobel Hoà Bình. Khi được hỏi về điều này, bà Svetlana Alexievich nói “chính quyền Belarus lâu nay đã coi như tôi không tồn tại, họ đã không cho phát hành sách của tôi, và tôi cũng không được quyền nói trước công chúng ở bất cứ đâu”.

Trước bà Svetlana Alexievich, nữ văn sĩ người Đức Herta Muller, cũng là người ẩn nhẫn và kiên định với văn chương và thái độ tố cáo tội ác của cộng sản, cũng đã nhận giải Nobel vào năm 2009.

Kể từ tháng 1, nàm 2006, khi Hội đồng nghi viện của Uỷ Hội Châu Âu (gồm 46 quốc gia) thông qua nghị quyết 1481 tại Strasbourg (Pháp), khẳng định chủ nghĩa cộng sản chính là tội ác chống lại con người, dường như, văn chương phản ánh nỗi đau con người dưới các loại chế độ cộng sản luôn được trân trọng vinh danh. Đây là chi tiết mà nhiều báo tiếng Việt trong nước vẫn không muốn nhắc đến.

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Luật Sư Đào Tăng Dực

RFA

timthumb1-305

Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”.

Courtesy vnwhr.net
 

Sự hiện diện đông đảo các nữ anh hùng

Khi so sánh cùng giới đấu tranh Trung Quốc với những nhân vật đối kháng đại đa số thuộc nam giới, thì điểm nổi bật của phong trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của dân tộc Việt Nam là sự hiện diện đông đảo của những anh thư hào kiệt như Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Phương Uyên, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, cụ Bà Lê Hiền Đức…

Trong khi đó, từ thuở khai sinh nhân loại, người phụ nữ luôn lại là một giai cấp bị đối xử thiếu công bằng. Nếu chúng ta nhìn xuyên lịch sử từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á đến Phi Châu, người phụ nữ thông thường chỉ là công dân hạng nhì, trong xã hội do đàn ông ngự trị, thuộc xã hội truyền thống.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, một chính quyền Việt Nam hậu cộng sản, sau khi đã xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên cho đất nước, nếu không giải quyết được vấn nạn bạo hành trong gia đình (family and domestic violence), trong đó đa số các nạn nhân là phụ nữ, thì chính quyền đó vẫn chưa xứng đáng là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (government of the people, by the people and for the people).

Nếu chúng ta phân tích thêm về nguyên nhân của bất công này, sẽ có hai nguyên nhân chính nổi bật xuyên suốt lịch sử: đó là chiến tranh và tôn giáo. Dĩ nhiên còn nhiều nguyên nhân khác không thể nói hết.

Chiến tranh, nhất là chiến tranh cổ điển, luôn luôn đem lợi thế về cho nam giới. Khi xã hội loài người còn đơn sơ chưa phát triển, chiến tranh căn cứ trên sức mạnh của bắp thịt. Chính vì thế giới nữ thường chịu lép vế, nương tựa vào sự bảo vệ của giới nam và chấp nhận những việc làm phụ thuộc tại hậu cần. Khi kỹ thuật chiến tranh tiến bộ hơn, với những phát triển khoa học về vũ khí có hỏa lực và tầm sát thương cao, vai trò của nam giới vẫn nổi bật, mặc dầu có sự tham gia nhiều hơn của các nữ quân nhân (Do thái là một ví dụ điển hình nhất cho vao trò của các nữ quân nhân). Tuy nhiên vẫn thua xa nam giới. Lý do là vì nhiều người tin rằng, trong DNA của nam giới, bản năng sát thương và sát địch mạnh hơn nữ giới. Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng, chiến tranh là một trong nhiều nguyên nhân củng cố cho vai trò vượt trội của nam giới, trong tương tranh quyền lực giữa hai phái tính.

Thuở xưa, phụ nữ thường trở thành những vật hy sinh, vật tế thần hoặc trở thành chiến lợi phẩm của kẻ chiến thắng.

Thời bình cũng bất công

Trong thời chiến, bất công cho nữ giới là như thế. Câu hỏi là, trong thời thái bình thịnh trị, thì nữ giới có được đối xử công bằng hơn hay không?

Theo tôi nghĩ câu trả lời không những là không, mà còn tệ hại hơn nữa.

Đáng ngạc nhiên hơn hết là lý do người nữ bị đối xử bất công nằm nơi các định chế tôn giáo. Nơi đây, tôi xin nhấn mạnh sự khác biệt giữa tôn giáo (religions) và các định chế tôn giáo (religious institutions).

timthumb-250
Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”. Courtesy vnwhr.net

Tôn giáo là nội dung lời dạy của các đấng giáo chủ khai giáo như (theo thứ tự thời gian): Bà La Môn (Ấn Độ Giáo), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Giáo), Đức Lão Tử (Đạo Giáo), Đức Khổng Phu Tử (Nho Giáo), Đức Chúa Giê Su (Thiên Chúa Giáo), Đức Mahomet (Hồi Giáo), Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ (Phật Giáo Hòa Hảo) , Đức Ngô Văn Chiêu (Cao Đài Giáo) …thông thường là những lời dạy cao cả và công bằng.

Các định chế tôn giáo trái lại, là các cấu trúc quyền lực, do những người bình thường tạo ra hầu đoàn ngũ hóa và hệ thống hóa các tôn giáo. Các định chế này đôi khi có rất nhiều khuyết điểm. Tùy theo bản chất từng tôn giáo, và hoàn cảnh xã hội sở tại, các định chế tôn giáo có sức mạnh và ảnh hưởng khác nhau. Khi duyệt xét lịch sử, chúng ta nhận thấy các định chế tôn giáo sau đây nhiều quyền lực nhất: Giai Cấp Giáo Sỹ Bà La Môn, Tòa Thánh Công Giáo La Mã tại Âu Châu, Giáo hội Chính Thống Giáo tại Nga, Giai cấp Tống Nho tại Trung Hoa và các nước Đông Á, Giai cấp Giáo Sỹ Hồi Giáo tại Iran và một số quốc gia Hồi Giáo.

Một trong những bất công mà nữ giới phải chịu là: không những các vị giáo chủ đều là nam giới, mà quan trọng hơn hết là các định chế quyền lực, còn tồn tại lâu đời sau khi các giáo chủ đã ra đi, đều do nam giới thống lĩnh.

Hậu quả là các định chế ấy không những trực tiếp có những chính sách tôn giáo trói buộc người phụ nữ, mà còn ảnh hưởng đến xã hội dân sự và chính quyền. Hậu quả là toàn bộ các chính sách quốc gia và toàn bộ nền văn hóa của quốc gia sở tại, thiên vị cho nam giới.

Những câu châm ngôn sau đây của Nho Giáo, lưu truyền hàng ngàn năm trong nền văn hóa Đông Á, tiêu biểu cho sự bất công đó:

“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Đại ý nói rằng, người phụ nữ trước khi lấy chồng thì phải nghe lời cha (không phải mẹ). Khi lấy chồng phải nghe lời chồng (không được cãi) và tệ hơn hết là khi chồng chết phải nghe lời con trai (không phải ngược lại hoặc nghe lời con gái).

Hoặc:

“Lấy chồng theo chồng; lấy gà theo gà, lấy chó theo chó”, không có quyền phê phán hành vi của chồng hoặc ly dị ly thân nếu người chồng không xứng đáng.

Tất cả những giáo điều trên, đều là những giáo điều có tính ý thức hệ, cùng một bản chất hạn hẹp và phi lý, như ý thức hệ giáo đều Mác-Lê mà CSVN đang tôn sùng.

Chính vì thế, giới nữ, vốn chịu nhiều bất công, có nhu cầu làm cách mạng cao hơn nam giới.

Khi nữ giới tham gia cuộc đấu tranh giải trừ cộng sản, vai trò của họ không dừng tại nơi đây. Vai trò của nữ giới không những là lật đổ bạo quyền, mà còn xây dựng một trật tự xã hội mới hoàn toàn khai phóng trên phương diện tư tưởng. Châm ngôn của những phụ nữ tranh đấu ngày hôm nay phải là câu tuyên ngôn bất hủ của tư tưởng gia người Pháp Raymond Aron:

“Ý thức hệ giáo điều cần phải triệt tiêu, hầu cho tư tưởng được tái sinh”

Thật vậy, ý thức hệ giáo điều Tống Nho đã tiêu diệt tư tưởng tự do của con người Đông Á, giam hãm sự sáng tạo (creativity) và nữ giới (womenfolk) trong sự cùm kẹp của giáo điều ngu muội, làm chậm bước tiến của nhiều dân tộc Đông Á, cho đến khi rơi vào vòng nô lệ và sự chinh phục của các đế quốc tây phương.

Chiều cao của một dân tộc lệ thuộc vào phẩm chất của những tư tưởng luân lưu trong nền văn hóa dân tộc đó. Một nền văn hóa lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều kém cỏi như Tống Nho, và sau đó, lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều càng kém cỏi hơn nữa như Mác-Lê, là một nền văn hóa với những tư tưởng tồi tệ nhất của nhân loại. Dân tộc Việt kém cỏi và chịu nhiều nỗi nhục nhằn ngày hôm nay, là vì Ý thức hệ giáo điều Mác- Lê đã thổi vào nền văn hóa chúng ta những tư tưởng thấp hèn nhất của nhân loại.

Trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam là đứng lên, đạp đổ bạo quyền CSVN. Và cùng một lược với tác động cách mạng này, dùng chút oai thừa, xóa tan những tàn tích của giáo điều Tống Nho oan khiên, đã giam hãm tâm thức và sự sáng tạo của nữ giới trong nhiều thế kỷ.

Ý thức được như thế, người phụ nữ Việt Nam mới nhận ra vị trí chiến lược của mình, trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam không những chỉ là xây dựng một chế độ chính trị dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, mà phải đi xa hơn nữa, đó là gạn lọc những cặn bã của nền văn hóa truyền thống, khai sáng một kỷ nguyên văn hóa hoàn toàn khai phóng, phi ý thức hệ giáo điều trong đó, tư tưởng được tuyệt đối thăng hoa.

Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã giúp người phụ nữ Tây Phương đạt nhiều thành quả trong công cuộc tranh đấu cho phụ nữ quyền. Tiến trình dân chủ hóa đất nước chắc chắn sẽ đưa đến một cuộc cách mạng kỹ nghệ, kinh tế và xã hội tại Việt Nam, hầu bắt kịp các quốc khác trong cộng đồng nhân loại.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy, phụ nữ Việt Nam đã nhập cuộc đông đảo. Đỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Phương Uyên, Cụ Bà Lê Hiền Đức, Huỳnh Thục Vy, các chị em trong Hội Phụ Nữ Âu Cơ ..là những nữ lưu hào kiệt, đội trời đạp đất. Chắc chắn các chị đang và sẽ là những lãnh đạo xứng đáng, trong thời điểm lịch sử này của dân tộc và trong số họ sẽ có những lãnh đạo tương lai của một nước Việt Nam dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên hậu cộng sản.

Bài Nguyên thủy viết cho Đặc San Hội Phụ Nữ Âu Cơ.

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

clip_image001

Trần Phan

18-10-2015

Ngày 28/9/2015, báo Tuổi Trẻ online đăng bài “Cần người nói thật, dám nghĩ, dám làm” nói về quan điểm của ông Vũ Ngọc Hoàng về đề tài này qua trả lời các câu hỏi của báo Tuổi Trẻ, do Đà Trang và Võ Văn Thành thực hiện. Ông Vũ Ngọc Hoàng hiện là ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương.

Bài này xin thảo luận cũng về đề tài nói trên, dựa trên phát biểu của ông Hoàng.

Phát biểu của ông Hoàng: “Đây không phải lần đầu tiên Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật”

Ý kiến tiếp theo của người viết: Tôi xin được hiểu “nhìn thẳng vào sự thật” nghĩa là tìm hiểu, tiếp cận Sự Thật, thảo luận Sự Thật một cách công khai, công bố Sự Thật một cách trung thực, minh bạch…

Nếu hiểu như thế thì dựa trên quan sát những gì đảng CSVN đã làm ngoài thực tế, dựa trên học hỏi những gì được ghi chép trong tài liệu, người viết chưa thấy “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật”.

Thế nào là Sự Thật

Bài viết chỉ xin đề cập tới các Sự Thật trong xã hội con người. Sự Thật trong xã hội con người tồn tại cùng với sự hiện diện của con người, và trong sự đồng ý của đa số con người trong xã hội đó.

Thí dụ: Dân chúng tỉnh bang Quebec (Canada) không chấp nhận tách khỏi Canada. Đây là Sự Thật xã hội vì: a) nếu không có sự hiện diện của dân chúng Quebec thì không có sự kiện này, và b) đa số dân chúng tỉnh bang Quebec đồng ý với phát biểu trên (sự đồng ý của đa số dân chúng được chứng thực bởi kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý được đa số dân chúng tin là trung thực).

Làm sao để tìm hiểu Sự Thật

Một đặc tính của lòng lương thiện trung thực là sự thực tâm đi tìm Sự Thật. Trong một xã hội thiếu vắng lòng lương thiện trung thực đó, Sự Thật bị giấu giếm, bóp méo hay đảo lộn bởi các thế lực cầm quyền  muốn lừa dối dân chúng. Xã hội như vậy sẽ rối loạn rồi đổ vỡ. Luôn luôn trong lòng xã hội, quần chúng nhân dân, chứ không phải chính quyền, là lực lượng chính đòi hỏi quyền được đi tìm Sự Thật. Hơn thế, đó còn là nhân tố của Sự Thật, bởi vì, như trình bày bên trên, Sự Thật của xã hội là Sự Thật được chấp nhận, được đồng ý bởi số đông.

Người đi tìm Sự Thật không thể tiếp cận được nó nếu không có tinh thần tự do suy luận, không có bản lãnh vượt ra khỏi định kiến.

Do đó, người thực tâm đi tìm Sự Thật, thực tâm muốn nhìn thẳng vào Sự Thật, từ trong bản chất là người khát khao tự do và tin tưởng vào tự do nơi người khác. Từ trong bản chất, đó là người luôn muốn hợp tác với mọi người, muốn chia sẻ thông tin, tri thức với mọi người để cùng nhau bước lên những tầng nấc cao hơn của tri thức trên con đường tìm kiếm Sự Thật.

Nếu thực sự “Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật” thì các tính chất nói trên phải được Đảng CSVN biểu lộ rõ ràng cho dân chúng thấy.

Thái độ của Đảng CSVN đối với Sự Thật

1) Đảng luôn biểu hiện là người không có tự do. Sự thiếu tinh thần tự do của Đảng biểu hiện ở việc 70 năm trôi qua, bao biến cố lịch sử nối tiếp nhau mà Đảng không có gì đổi mới. Tôi muốn nói tới các đổi mới to lớn ở thượng tầng kiến trúc. Vẫn bám vào cương lĩnh Đảng từ thời Trần Phú. Vẫn là xây dựng chủ nghĩa xã hội dù Liên Xô và các nước Đông Âu đã vất bỏ chủ nghĩa đó 25 năm rồi. Vẫn tụng Mác-Lê, vẫn tôn thờ ông Hồ Chí Minh. Vẫn lặp đi lặp lại công ơn trời biển của Đảng, từ Cách mạng tháng Tám, tới hai cuộc chiến dài 30 năm. Vẫn tuyên truyền thành công của cuộc Cải cách ruộng đất trời long đất lở… Bao nhiêu Sự Thật được phơi bày, một cách khoa học, khách quan với đầy đủ chứng cứ, và được loan truyền trong dân chúng với tốc độ internet. Sự ngoảnh mặt của Đảng với Sự Thật và bám víu vào những luận điệu sai lầm cũ kĩ càng chứng tỏ mức độ mất tự do suy nghĩ và suy luận của Đảng là khủng khiếp dường nào!

2) Đảng không có tự do, và bởi vì Đảng nắm vũ khí trong tay, nên Đảng cũng tước đoạt tự do của dân chúng. Dân chúng dưới chính thể độc đảng toàn trị của Đảng CSVN không có một tí gì các quyền tự do căn bản. Các biểu hiện cho thấy Đảng thù ghét tự do nơi dân chúng. Đảng sợ hãi tự do nơi dân chúng.

Do đó, Đảng đã đóng sập mọi cánh cửa dẫn tới Sự Thật. Không tự do ngôn luận. Không báo chí tư nhân. Không hội đoàn độc lập. Người dân không có lối đi tìm Sự Thật.

3) Chưa thấy Đảng hợp tác với dân chúng tìm Sự Thật. Chỉ thấy Đảng “định hướng” thông tin cho dân. Những bức tượng Lê-nin bị giật đổ tại thủ đô một số nước Đông Âu không bao giờ xuất hiện trên báo chính thống của đảng. Các tin tức về những cuộc tàn sát khủng khiếp do Stalin hay Mao Trạch Đông gây ra, công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa -Trường Sa thuộc Trung Quốc, các thông tin về Đảng, về ông Hồ Chí Minh khác với tuyên truyền của Đảng đều bị giấu kín…

Các Sự Thật lịch sử bị giấu kín, các Sự Thật thời sự cũng bị giấu kín. Những tòa nhà quá hoành tráng của quan chức nhà nước chưa bao giờ xuất hiện trên báo chính thống. Chỉ có các trang mạng đăng lên, và những nhân vật bị nêu tên im lặng. Im lặng một cách thách thức! Thi thoảng có vài trang báo chính thống đăng tin: sự trấn áp đến liền. Khi báo Tuổi Trẻ đăng tin ông Hồ Chí Minh có người phụ nữ riêng, tổng biên tập Vũ Kim Hạnh mất chức. Khi các bài báo về vụ tham nhũng PMU xuất hiện, các nhà báo bị bỏ tù!  Khi báo Người Cao Tuổi đăng chứng cớ về sự tham nhũng của các quan thanh tra cao nhất nước, tổng biên tập Kim Quốc Hoa bị truy tố.

Có ai điều tra về việc ống nước Sông Đà? Về dự án đường sắt trên cao Hà Nội mà mức độ đội vốn lên hàng tỉ đô la? Về những con đường nghìn tỉ, giá thành cao gấp mấy lần so với Mỹ, mà vừa làm xong đã hư? Về trên 200 mạng người chết trong đồn công an? Về bauxite Tây nguyên? Về vụ án Đoàn Văn Vươn? Chỉ có chính quyền, làm sai rồi tự điều tra.

Những sự việc lớn hơn càng bị giấu kín hơn. Vụ công án xôn xao dư luận là Hội nghị Thành Đô bị bưng bít triệt để. Vài nhân chứng đề cập sự việc, báo nước ngoài tung tin, Đảng càng bưng bít. Dân chúng, trong khi cảm nhận sự việc là quá có hại cho quyền lợi tổ quốc, càng xôn xao phẫn hận trước trò bưng bít Sự Thật một cách công khai đó, và vẫn chưa tiếp cận được Sự Thật.

Do đó, đa số dân chúng Việt Nam bị mù, phải sờ soạng trong bóng đêm lần mò tìm chính sách ngoại giao dưới cây gậy thao túng chỉ đường của Đảng.

Kết Luận

Tôi hiểu không dễ để ông Vũ Ngọc Hoàng có những phát biểu khác hơn, rõ rệt hơn về Sự Thật. Cho nên tôi không có lời phê phán nào về ý đồ của ông, chỉ xin nói thẳng thắn rằng:

Trong khi ông Hoàng tuyên bố: “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật” thì tôi có nhận định ngược lại 180 độ: “Đảng sợ Sự Thật, giấu giếm Sự Thật và cấm đoán dân chúng tìm Sự Thật”.

Thưa ông Hoàng, thời đất nước chia đôi, nếu Sự Thật về đời sống của dân chúng miền Nam tự do giàu mạnh, ấm no đến được với dân chúng miền Bắc, thì có cuộc nội chiến hủy diệt sinh lực đất nước 20 năm không?

Nếu Sự Thật về hậu quả của Cải cách ruộng đất miền Bắc và Cải tạo công thương nghiệp miền Bắc đến được với dân Việt, thì sau 1975, nước ta có các chiến dịch tiêu diệt lực lượng công thương giàu kinh nghiệm của miền Nam không? Nếu Sự Thật về đời sống và các biến chuyển chính trị thế giới đến được với dân Việt thì đất nước ta có sớm nghiêng về nếp sống tự do dân chủ hơn không? Có tránh được thảm họa thuyền nhân không? Tiềm năng dân tộc có sớm được khai phóng và GDP nước ta có thể cao gấp 3-4 lần hiện nay không? Ta có lệ thuộc Trung Cộng như bây giờ không?

Sự Thật quan trọng như vậy, cho nên nếu có thành tâm, xin ông Hoàng cùng với các đảng viên thực lòng muốn “Nhìn Thẳng Vào Sự Thật” hoạt động theo hướng này. Bên trong Đảng, các ông cùng phối hợp góp ý, đấu tranh với Đảng, vận động người cùng ý hướng. Bên ngoài Đảng, các ông phối hợp với các nhà báo tự do, lực lượng trí thức rộng rãi trong xã hội cùng nhau tìm, công bố và bảo vệ Sự Thật. Bảo vệ những con người hoạt động vì Sự Thật. Đấu tranh cho các quyền tự do ngôn luận, báo chí tư nhân, tự do lập hội…

Chỉ cần tiếp cận được Sự Thật, dựa trên Sự Thật, nhờ Sự Thật soi sáng, dân tộc Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vươn cao.

T.P

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/dang-co-muon-nhin-vao-su-that/3011953.html

TỰ DO Ở XỨ NGƯỜI

TỰ DO Ở XỨ NGƯỜI

 Tác giả:  Fr. Huynhquảng

Cuộc sống của những người mới nhập cư tại đất Mỹ quả thật không dễ dàng chút nào. Khi chưa qua Mỹ thì nôn nóng phấn khởi, nhưng đặt chân vào vùng đất “tự do” nhiều người mới thấu chạm cái giá của sự tự do tại đất nước này thật quá đắt. Không phải vì đất nước này khắc nghiệt, nhưng chỉ đơn giản chỉ vì sự thay đổi địa lý, môi trường, văn hoá làm cho con người không dễ thích ứng trong thời gian ngắn.

* * *

Sau một thời gian khá lâu, cuối cùng chị Năm và hai con được ông bà ngoại bảo lãnh qua Mỹ với mục đích là để con cháu xum vầy, tạo điều kiện cho hai cháu gái, 16 và 18, được học hành để có tương lai cho cháu. Sau khi đặt chân xuống sân bay, thời gian mừng mừng, tủi tủi dần dần cũng trở về với cuộc sống thật của xứ “tự do” này. Đăng ký việc học, tìm trường, bảo hiểm, công việc… Thấm thoát thời gian trôi nhanh, các cháu dần quen với lối sống muốn độc lập, đi học về trể, đóng cửa phòng, nói chuyện điện thoại, text, facebook liên tục…ông bà ngao ngán thở dài. Mong ước để được cho gia đình xum vầy giờ đã được, nhưng xum vầy theo tiêu chuẩn nào thì ông bà ngoại không nghĩ tới; hoá ra, tụi nó không nghe mình nữa!

Than ngầm bắt đầu bén, lửa bắt đầu nhum chỉ chờ cơ hội là bùng phát. Ông bà ngoại không vui ra mặt khi thấy chiếc Mercedes dừng trước cổng nhà nhiều lần; một cậu học trò bước xuống và mở cửa cho cháu gái mình. Chúng nhìn nhau, hug (ôm nhẹ) nhau một cái và chia tay.

Nhìn cháu giận giữ, bà ngoại la lớn, “Con gái mới qua đây mấy bữa mà bày đặt thằng này thằng khác; tau cấm mày. Mày không lo cái thân cùa mày thì có ngày…”

Một lần khác ông bà ngoại lớn tiếng với mẹ hai cháu, “Mày coi con người ta kìa; chừng đó tuổi đã học thành tài. Còn con mày, hư đốn, đã qua đây thua kém người ta, đã không lo học, bây giờ lại thêm đàng đúm ăn chơi… Tau nói hết nỗi rồi. Ra khỏi nhà tau, tau không không muốn tụi mày làm ô uế dòng họ; tau không muốn bị người ta chê cười.”

* * *

Bạn thân mến, mục Sống Sao Cho Đẹp chia sẻ hoàn cảnh trên không phải để nhằm mục đích xem câu chuyện nó kết thúc thế nào, nhưng quan trong hơn, qua bối cảnh này chúng ta cùng nhau xem xét lại khái niệm tự do và tình thương chúng ta dành cho nhau ở mức độ nào, đặc biệt những gia đình sống xa quê hương với bao hụt hửng, thiếu thốn về mặt tinh thần.

Những người mới tị nạn tại Hoa-Kỳ phần nào chưa thích ứng với đời sống quá tự do và dễ dãi tại vùng đất này. Không đủ tự do thì bị chết do cằn cỗi, thiếu thốn, nhưng tự do nhiều quá thì cũng bị chết vì quá nhiều điều để chọn lựa. Sự thay đổi môi trường bên ngoài xã hội quá nhanh chóng, trong khi tinh thần và lối suy nghĩ vẫn chưa bắt kịp được. Chính vì lẽ đó, sự không hoà điệu giữa thể lý và tinh thần đã tạo nên những bồn chồn, mất bình an, lo lắng  diễn ra ngay trong mỗi con người. Về mặt thể lý, con người cố để hoà nhập với cuộc sống mới; còn về mặt tinh thần, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá xứ người đã không thể đáp ứng cho nhu cầu tinh thần như mình mong đợi. Nên theo lẽ tự nhiên, con người co rút lại, bảo vệ mình bằng được những giá trị đạo đức, truyền thống mà mình đã tiếp nhận từ cha ông. Một trong những cách bảo vệ những giá trị ấy chính là giáo dục con cháu. Tuy nhiên, sự xung khắc bắt đầu khi phương pháp mà mình áp dụng cho con cháu nó không còn phù hợp với không gian, thời gian, và văn hoá. Chân lý thì không thay đổi, nhưng cách truyền đạt cần thay đổi cho phù hợp với thời đại, lứa tuổi khác nhau. Làm sao để con cháu hiểu được những gì mình truyền dạy là giá trị? Làm sao ông bà cha mẹ có thể giúp con cháu mình khôn lớn thành người mà chúng không phải bị dồn nén, ức chế?

Thưa bạn, hoàn cảnh điển hình như câu chuyện trên giúp ta đặt lại những câu hỏi cho chính mình về khái niệm tình thương và tự do. Biết rằng ông bà thương cháu, nhưng ông bà dùng phương pháp “cấm” có phải là phương pháp hữu hiệu nhất không? Ông bà có đồng hành với những thay đổi tâm lý về môi trường, sự hụt hẩng tình cảm khi xa quê của cháu? Phương cách “hù” đuổi ra khỏi nhà có phải là cách biểu lộ tình thương che chở? Sợ cháu bị hư hỏng vì là sự hư hỏng hay là vì sự sĩ diện của mình? Khi chúng ta bị ràng buộc bởi dư luận về “sĩ diện” là chúng ta mất tự do trong việc giải quyết vấn đề. Vấn đề là mình thương và lo cho cháu chứ không phải do sĩ diện của mình. Hiểu đúng như thế, ta mới hành động hợp tình hợp lý qua đối thoại cởi mở, lắng nghe, và tôn trọng sự tự do của nhau.

Nếu không may gia đình bạn đang gặp vấn nạn tương tự, xin mời bạn suy nghĩ và tìm giải pháp đối thoại trong sự tôn trọng, chia sẻ chân tình với con cháu mình. Ai ai cũng cần tình thương, vấn đề là tình thương ấy cần được biểu lộ cho người mình thương qua lời nói và hành động.

Fr. Huynhquảng

TIN VÀO TÌNH YÊU

TIN VÀO TÌNH YÊU

Chuyện xảy ra vào thế kỷ 16 tại Ấn Độ. Trong triều đình có hai vị sĩ quan nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tỵ, một người thì tham lam.

Ngày kia, nhà vua có sáng kiến rất độc đáo để sửa đổi những tính xấu ấy. Ông cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình, loan báo sẽ tưởng thưởng họ vì đã phục vụ trong nhiều năm qua. Họ có thể xin gì tùy thích, xong người đầu tiên mở miệng xin chỉ được những gì mình muốn, còn người thứ hai sẽ được gấp đôi.

Nhiều phút trôi qua, không ai mở miệng nói trước. Người tham lam nghĩ trong lòng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. Còn người ganh tỵ lý luận: thà tôi không được gì còn hơn mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi. Vì thế, không ai muốn lên tiếng trước.

Cuối cùng, vua yêu cầu người ganh tỵ nói trước. Người này lại nghĩ: thà không được gì còn hơn để tên tham lam được gấp đôi. Hắn liền tuyên bố: “Tôi xin được chặt đứt một cánh tay…”. Hắn cảm thấy sung sướng với ý nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay.

***

Người ghen tỵ thà chịu mất một cánh tay còn hơn nhìn thấy người kia được của cải gấp đôi mình. Người ghen tỵ trước khi tiêu diệt kẻ khác, họ đã tự hủy diệt chính mình.

Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay kể lại, người đi làm vườn nho từ sáng sớm ghen tỵ với người chỉ làm một tiếng, mà cũng được trả một quan như mình. Giá như ông chủ trả cho người làm một tiếng ít tiền hơn, thì người làm từ sáng đâu có bực tức khó chịu. Chúng ta thấy ông chủ đâu có xử bất công, vì ông đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền. Ông trả hậu hĩ cho người mới làm một tiếng, là vì ông tốt bụng, ông có quyền làm điều đó chứ!

Qua dụ ngôn “ông chủ vườn nho”, Đức Giêsu muốn mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cõi lòng của Thiên Chúa. Người không chỉ là Thiên Chúa công bình, mà còn là một người Cha đầy yêu thương. Người đã không hành xử theo luật lệ, nhưng lại dựa trên tiêu chuẩn của tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta đổi mới cái nhìn về Thiên Chúa. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra Người là Thiên Chúa tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được lòng tốt của Thiên Chúa nơi bản thân mình, chúng ta mới không còn ghen tỵ với anh em.

Chúng ta nhớ lại lời ông chủ vườn nho nói với người ghen tỵ: Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20,15). Anh ta ghen tỵ vì anh ta chỉ thấy lòng tốt của ông chủ nơi người khác. Sao anh ta không nghĩ rằng ông chủ tốt bụng này đã thuê anh làm và trả lương cho anh sòng phẳng không thiếu một xu. Sao anh ta không nghĩ rằng anh đã rất an tâm vì chắc chắn đến cuối ngày là anh có một quan tiền; còn người kia vì không có ai thuê làm nên phải chờ đợi cả một ngày trong lo âu chán chường, vì tối nay vợ con anh sẽ phải lên giường mà không có gì cho vào bụng.

Cứ nghĩ đến muốn ngàn phúc lộc Chúa đã ban cho chúng ta, cứ nhìn xem bao niềm đau nỗi khổ của anh em, chúng ta sẽ không còn lý do nào để mà ghen ty. Chính vì không cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu thương, không nhận ra hồng ân của Người trong cuộc đời mình, mà Cain dã ghen tỵ và giết chết Aben, người anh cả ghen tỵ với đứa em đi hoang nên không nhìn nhận người em lầm lỡ, người Pharisêu ghen tức với người tội lỗi được Chúa tha thứ, người làm sáng sớm ghen tỵ với kẻ làm chỉ một giờ.

Ai cứ nghĩ mình xứng đáng được Chúa ban ơn, mà đi ghen tỵ với những ơn lành Chúa ban cho người tội lỗi, chính là kẻ bất hạnh nhất. Họ hãy nghe lại lời Kinh Thánh: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng hàng đầu sẽ phải xuống hàng chót (Mt 20,16a). Thông điệp của dụ ngôn hôm nay muốn loan báo rằng: Nước Trời là phần thưởng nhưng không của Thiên Chúa, hoàn toàn là do lòng quảng đại yêu thương của Người, chứ không do công nghiệp của chúng ta. Thiên Chúa ban ơn cho con người chỉ vì lòng yêu thương của Người mà thôi.

Đừng bao giờ ghen tỵ, đố kỵ nhỏ nhen khi thấy kẻ khác được nhiều ơn, mà muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa.

Đừng bao giờ tính toán sòng phẳng theo lẽ công bình giao hoán: có công thì được hưởng, có tội thì bị phạt. Vì nếu Thiên Chúa tính toán lại, chắc chắn số tội của chúng ta sẽ nhiều hơn công phúc, và người thiệt thòi nhất không ai khác là chính chúng ta.

***

Lạy Chúa, Chúa là một người Cha đầy yêu thương, luôn ban ơn cho mọi con cái, cả những đứa con không đáng thương, vì Chúa không muốn một ai phải hư mất. Xin cho chúng con một tâm hồn quảng đại như Chúa, không hẹp hòi ghen tỵ với những ai được Chúa ban nhiều ơn, nhưng luôn biết “vui với kẻ vui”, để chúng con được nên giống Chúa nhiều hơn. Amen!

Thiên Phúc

Ngọc Nga sưu tầm