CON ĐƯỜNG HẠT LÚA

CON ĐƯỜNG HẠT LÚA

  ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Khi đến Rôma, tôi thích đi viếng những hang toại đạo.  Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma.  Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất.  Không khí trong hang thật lạnh lẽo.  Hơi lạnh từ lòng đất toát ra cộng với hơi lạnh từ những nấm mồ càng làm cho khu hầm mộ trở nên lạnh lẽo đáng sợ.  Người sống phải đấu tranh với cái chết.  Sự chết luôn đe doạ rình rập cướp lấy mạng sống con người.  Tại nơi đây, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong 3 thế kỷ.  Có lẽ thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng đã từng đi lại sinh hoạt trong những hang này.  Người tín hữu sơ khai đã phải sống trong những điều kiện như thế để bảo vệ đức tin của mình.

  Nhưng thật kỳ diệu. Các vua chúa của đế quốc Rôma hùng mạnh đã tìm cách tiêu diệt một nhóm người nghèo khổ yếu ớt không một tấc sắt tự vệ.  Không phải chỉ bắt bớ trong một chiến dịch ngắn hạn mà là một chủ trương kéo dài suốt 300 năm.  Vậy mà các vua chúa qua đi rồi, nhóm người nghèo khổ yếu ớt đó không những chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết.  Đi dưới lòng hang toại đạo tôi mới thấm thía ý nghĩa của lời Chúa nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”  Hạt giống Giáo Hội đã bị chôn chặt dưới 3, 4 tầng đất.  Hạt giống đức tin đã bị vùi sâu đến 300 năm.  Tất cả các thánh Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã bị mục nát.  Và các ngài đã làm trổ sinh cả một mùa gặt dồi dào phong phú.  Cả châu Âu đã tin theo Chúa.

image002 Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, ta cũng thấy có sự tương tự.  Khi đạo Chúa mới được truyền vào Việt Nam, lập tức bị các vua chúa phong kiến bắt bớ.  Cuộc bắt bớ kéo dài khoảng 300 năm. Đủ mọi hình thức để tiêu diệt đạo.  Nào là cấm cách bắt bớ.  Nào là đe dọa bạc đãi.  Nào là xua đuổi ra khỏi những vùng trù phú phồn vinh.  Nào là phân sáp, tức là tách ly cha mẹ, anh chị em trong một gia đình bắt đi sống riêng rẽ trong các gia đình ngoại đạo.  Nào là lấy thép nung đỏ khắc chữ “tả đạo” trên má ngưới có đạo.  Và nhất là lên án tử hình những người có đạo.  Người tín hữu trung thành với đức tin phải trốn chạy chết trên rừng thiêng nước độc.  Nếu bị bắt có thể bị chết trong tù.  Nếu không cũng bị xử án tử hình.  Có đấng bị chém đầu.  Có đấng bị trói chân tay vào chân ngựa.  Bốn con ngựa kéo về bốn góc xé nát xác vị tử đạo.  Có đấng bị kết án cho voi dày.  Thê thảm nhất có lẽ là án bá đao.  Cứ sau một hồi chiêng trống, đao phủ xẻo một miếng thịt cho đến khi chết.

 Dù các vua chúa đã dùng đủ mọi cách tiêu diệt nhóm người bé nhỏ yếu ớt trong 300 năm.  Trong 3 thế kỷ đó có khoảng 100 ngàn người chịu chết vì đạo.  Nhưng số người tin Chúa ngày càng gia tăng. Từ một nhóm nhỏ người bị bắt bớ, nay số tín hữu tại Việt Nam đã hơn 6 triệu người.  Hạt giống đức tin gieo trồng vào quê hương Việt Nam đã bị vùi sâu, đã bị mục nát, và nay đã trổ sinh một mùa gặt phong phú.  Một lần nữa chúng ta lại xác tín lời Chúa dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

Nhìn lại lịch sử, ta càng thêm tin tưởng vào Lời Chúa.  Nếu đang gặp khó khăn trong đời sống đạo, ta hãy an tâm.  Như Đức Giêsu đã chịu gian nan khốn khó, phải chịu bắt bớ, nhục mạ, phải chịu chết tủi hổ trên Thánh giá, các môn đệ con cái Chúa không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Thánh giá.  Như các bậc tiền nhân xưa đã chịu vất vả khổ cực để xây dựng một Giáo Hội vững mạnh như ngày nay, ta tin tưởng những gian nan khốn khó của ta rồi cũng sẽ trôi qua.  Nếu ta biết chịu đựng những đau đớn, khó khăn, vất vả vì Chúa.  Nếu ta vẫn trung thành với Chúa, với đức tin qua mọi gian nan thử thách, chắc chắn Chúa sẽ ban cho ta một mùa gặt bội thu, kết quả phong phú ngoài sức tưởng tượng của ta.

 Lạy Các Thánh Tử đạo Việt Nam, xin dạy con noi gương bắt chước các ngài, luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.  Amen.

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,”

Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.”

(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)

(1 Timôthê 5: 13-16)

Trần Ngọc Mười Hai

Lại vẫn bảo: nếu hiểu tự-vựng “Em” khác hẳn ý của người viết nhạc, thì bạn và tôi, ta sẽ thấy khác và rõ hơn. Khác và rõ, là những gì “thắm vào mãi đáy tim tôi” “chiều chiều thấy đơn côi” cứ là thế.

Viết giòng này, bần đạo đây thấy rõ là việc: dùng tự-vựng “Em” thay cho cụm-từ “Tin Vui”/“Tin Mừng” hoặc Phúc Ấm/Lời của Đấng Tối Cao, vv.. có lẽ sẽ có bạn không đồng ý cho lắm hoặc sẽ phản-đối liên-hồi chuyện như trên.

Thế nhưng, với vị Tổng Giám Mục họ Spong tên John ở Mỹ, thì ý-nghĩ này, cũng có cái hay nhưng lại khác. Hay và khác, như câu nhạc ở bên dưới vẫn tiếp-tục hát tiếng “yêu Em”, là những xưng hô mà đôi lúc bạn và tôi, ta cứ hát hoài hát mãi những lời ca như sau:

“Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,

Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.

Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,

Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói “yêu em”.

(Tuấn Khanh – bđd)

Với Đức Tổng thuộc Giáo-hội “đàng ngoài” bên Anh Giáo, hoặc “đàng trong” bên Công giáo, thì việc trở về với giòng chảy “Lời Chúa” có nhận-định như sau:

“Tác-giả Paul Tillich có lần nói: “Kinh thánh là chủ-đề để ta diễn-nghĩa rồi chuyển-tải mà không một học-thuyết cũng như ngôn-sứ, linh-mục hoặc quyền-lực nào dám yêu cầu cấm vận không cho ai được tiếp-cận với Sách này hết! Đối với tôi, Sách thánh là Sách rất thâm-sâu/huyền-nhiệm chứa-đựng một thứ quyền-uy/sức mạnh rất lạ kỳ.

 Đã từ lâu, Sách này thuộc loại bán chạy nhất mỗi năm, kể từ ngày phát-hành đầu tiên. Không lạ gì, khi mọi người đều nhớ lại lúc nhà xuất bản Gutenberg làm cuộc cách-mạng đầu tiên ra mắt với thế-giới về in ấn, thì chính Sách thánh lại là ấn-phẩm đầu có được bản kẽm, mới sáng-chế.

 Thế-giới hôm nay, hoạ-hoằn lắm mới thấy có văn-chương/ngôn-ngữ hoặc thổ-ngữ nào không đem Sách này ra mà dịch-thuật cho con dân mình đọc. Truyện kể, lời lẽ và các câu văn trong Sách thánh lâu nay đã thẩm-nhập vào các nền văn-minh/văn-hoá khắp trần-gian, thậm chí còn thẩm-thấu đến tận đáy sâu của tiềm-thức của nhiều người.

 Ản-hưởng của Sách thánh cón đánh động nhiều vào các ngành nghệ-thuật văn-hoá của nhiều nước, đặc-biệt là nghệ-thuật phim-ảnh, còn gọi là “Nghệ-thuật thứ 7”, ở Âu Mỹ. Cụ-thể hơn, rất nhiều phim-bộ từng sử-dụng nội-dung hoặc truyện kể lấy từ Sách thánh làm đầu đề hoặc cốt truyện cũng như chủ-đề để mọi người suy nghĩ.

 Đặc-biệt như các bộ phim nổi tiếng thế giới, trong đó có phim “Hoa Huệ Ngoài Đồng” (rút từ trình-thuật Mát-thêu đoạn 6 câu 28), một bộ phim được sản-xuất vào năm 1968 đã giúp cho tài-tử Sidney Poitier đoạt giải Oscar về Tài-tử hay nhất. Phim “Thừa-Hưởng Từ Gió” rút từ sách Châm ngôn đoạn 11 câu 29) là bộ phim cổ-điển nói về cuộc kiện-tụng giữa Bang Tennessee chống lại John Thomas Scopes xảy ra vào năm 1925. Phim này do Spencer Tracy đóng vai Clarence Darrow và Frederic March thủ vai William Jenning Bryan.

 Và, bộ phim mang tự-đề là “Lờ mờ Trong Gương” (rút từ thư thứ nhất Côrinthô đoạn 13 câu 12), một tuyệt-phẩm tạo tên tuổi cho đạo-diễn Ingmar Bergman… Rồi cứ thế, lại có các phim nổi tiếng rút từ truyện Cựu-Ước như: 10 điều Giáo-lệnh, Samson và Đalilah, Đavít và Bétsêđa, Barabbas, và mới đây nhất là bộ phim kể tryện Thương Khó Đức Giêsu do Mel Gibson thực hiện…

 Lời lẽ cũng như tư-tưởng của Sách Thánh xưa nay từng giúp phong-phú-hoá các bài diễn-văn hoặc giảng-thuyết của nhiều đấng bậc vị-vọng. Có vị còn trích-dẫn cốt truyện hoặc câu nói của nhiều nhân-vật trong Sách thánh để diễn-giải mọi hành-xử khác nhau như dấu chỉ của sự an-bình, tự tại. Chí ít, còn gạn lọc và tẩy sạch nền văn-hoá của nhiều nước trong quá-trình hơn 2 ngàn năm nay.

 Ngay cả lịch-sử thế-giới ở Phương Tây vốn đa-dạng là thế, Sách Thánh vẫn để lại nhiều dấu vết của niềm đau, nỗi sợ và những vết đọng đầy những máu hoặc chết chóc; tức: những gì mà mọi người bình-thường không thể nào phản-bác, chối bỏ. Yếu-tố này, lại thường cho phép con người đi vào hệ-thống ý-thức thật rõ nét. Lời ở Sách thánh được nhiều người sử-dụng không chỉ với mục-đích giết-chóc ai khác, mà còn để biện-minh cho hành-tung chém giết lẫn nhau, nữa.

 Và, Sách Thánh vẫn không ngừng được cả những người từng cho rằng mình có niềm tin vào Lời của Chúa để o ép người khác, mà theo các kẻ tin này, thì họ là những người được định-nghĩa rất “trân-trọng” ở các trang giấy như đấng bậc linh-thiêng, thần-thánh…

 Nhưng, cuối cùng thì cũng có người đặt ra những thắc mắc, hỏi rằng: làm sao một cuốn Sách nổi tiếng là “thánh-thiện” được rất nhiều người ở trời Tây trân-quý đến như thế lại có thể là nguồn-gốc của rất nhiều chuyện tàn-ác, xấu-xa, được? Làm sao con người lại có thể sử-dụng Sách này để quay lòng vòng rồi đưa vào một kết-đoạn nào đó? Làm sao Sách Thánh như thế, một lần nữa, lại được coi như nguồn-gốc cuối cùng của sự sống? Hoặc, phải chăng cũng quá trễ, và Sách Thánh lại trở nên mờ-nhoè, lấm tâm nhiều vết nhơ, vết máu?” (X. TGm John S Spong, The Sins of Scripture, HarperCollinsPublisher 2005 tr ix-xvi)

Nhận-định của Đức “Tổng” thuộc Đạo Chúa ở Mỹ, thì như thế. Ca-từ nghệ-sĩ lại như sau:

“Một đời chờ mong nhau em ơi!

Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.

Này em! Hỡi em người yêu dấu.

Môi hồng tươi thắm biết đâu!

“Dành tặng mình anh”

(Tuấn Khanh – bđd)

Và, cứ thế bạn hoặc tôi, ta lại sẽ hát hoài/hát mãi những lời nối tiếp ở bài ca trên như sau:

“Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi và đường đời bước chung đôi.”

(Tuấn Khanh – bđd)

Với nhà Đạo, hỏi rằng: có tiếng hát nào như thế không? Thì, có lẽ sẽ có vị cho rằng: trả lời câu này không quan-trọng bằng đặt câu hỏi: hát bằng tiếng/giọng trổi-trang cả những điều thiên-hạ từng nghe và từng hát mãi. Duy có điều, là: nhiều vị vẫn không dám nói hoặc cãi lại chỉ vì lý-do nào đó, như lập-trường của đấng bậc khác, nói về Kinh Sách rất như sau:

“Nhà văn Leon Tolstoy bắt đầu học hỏi Kinh Thánh là từ năm 1879. Lúc đầu, ông nghĩ rằng làm thế chỉ để rọi sáng tâm-thân mình, thôi. Về sau, ông lại triển-khai tâm-tình mình tìm gặp vào những tháng ngày sau khi có dự-định án dịch lại cả 4 sách Tin Mừng và tổng-hợp vào chung một truyện kể, thôi. Công việc này khiến ông mất đến ba năm, nhưng đã biến-đổi con người ông rất nhiều. Về sau, ông gọi đó là “thời tập-trung cô-đọng” và là thời-khắc ông chú-tâm vào các nỗ-lực say mê chuyện tâm-linh, thần-hồn. Nếu sử-dụng ngôn-từ của Sofia Andreyevna, là vợ hiền yêu quí của ông, thì: đây là lúc khiến cho Tolstoy trầm-tĩnh, tập-trung im ắng hơn bao giờ hết.

 Mục-đích của Tolstoy khi ông điều-nghiên Tin Mừng của Đạo Chúa là cốt tìm gặp lại giáo-huấn thanh-khiết hữu-dụng của Đức Kitô, hầu giải-phóng nó khỏi lớp rỉ sét ở ngôn-từ nghi-thức với Kinh sách, để rồi bỏ đi phần tín-lý đầy giáo-điều và tính siêu-nhiên mà Giáo-hội gán-ghép vào đó. Để minh-hoạ phương-án rất riêng-tây này, bạn hiền Ivakin của ông nhớ đến lời lẽ ông từng bảo: “Việc Đức Kitô sống lại đã có ý-nghĩa gì đối với tôi không? Nếu Ngài sống lại thật, thì Thiên-Chúa sẽ chúc phúc Ngài. Vấn-đề quan-trọng với tôi, là: Tôi sẽ làm gì đây? Tôi phải sống thế nào chứ?”

 Dự-án do ông tạo cho chính mình, thật ra là đường-hướng triển-khải tâm-linh của chính ông. Điều đó, xem ra đã củng-cố kết-tinh với một thắng-lợi ông cảm nhận được khi tìm cách phiên-dịch 10 câu đầu trong Tin Mừng của tác-giả Gioan, qua đó ông thấy gần-gũi thiết-thân với câu nói ở “Lời Tựa” khi tác-giả viết: “Lúc Khởi-đầu đã có Lời” và câu tiếp theo lại nhấn mạnh rằng: “Mọi sự đã nhờ Ngài mà thành sự và không có Ngài thì không gì thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là Sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân-loại.”(Ga 1: 1, 3-4)

 Và, tác-giả Leon Tolstoy thấy việc ông sử-dụng “kiến-thức về sự sống” là do “Lời”, được xác-chứng theo triết-lý và khởi-đầu này, đã làm cho dự-án của ông nên tiêu-biểu. Ông đã quảng-diễn ngôn-ngữ ấy, gột bỏ đi một số ngôn-từ khỏi những điều mà Giáo-hội ta xưa nay hàm-ẩn, cốt để bộc-lộ một bản văn thích-hợp với sự-thật linh-đạo cho sâu-sắc hơn và ông thấy mình phát-hiện được điều này trong quá-trình học-hỏi Tin Mừng, cho riêng mình.

 Đặc-biệt hơn, ông lại diễn-ý các truyện kể Kinh thánh nói về việc Đức Giêsu từng làm nhiều sự lạ lùng. Với tác-giả Leon Tolstoy, việc nhân rộng cá và bánh trở-thành bài học sẻ-san mọi thứ cho cộng-đoàn; bởi những người theo chân Đức Giêsu đều học được cung-cách “cho đi” thức ăn, của cải và tiền bạc mình kiếm được.

 Và, truyện kể về người mù được sáng mắt, là ẩn-dụ nhẹ trong đó việc tái-tạo thị-kiến phải hiểu như một thứ “soi sáng tâm-linh”. Và, việc Đức Giêsu chịu cám dỗ thời mới sớm ở hoang-địa mang ý-nghĩa đối-thoại với chính Ngài, kiểu Socrates…” (X. Leon Tolstoy, The Life of Jesus: The Gospel in Brief, Harper Perennial 2011 tr. viii-ix)

 Tìm gặp sự thật ở dụ-ngôn/truyện kể hoặc nơi lời nói cũng như hành-xử của Đức Giêsu, là tìm và gặp bài học vô giá được tác-giả Leon Tolstoy khẳng-định khi ông nói về ẩn-dụ hoặc các sự lạ theo nghĩa bóng chứ không theo nghĩa đen tuyền, u-ám. Thế nên, từ đó ta có quyết-tâm sống Đạo ở đời. Tìm và gặp tư-tưởng làm nền, nơi thi-ca/văn-nghệ mà nghệ-sĩ xưa từng sáng-tác:

“Một đời chờ mong nhau em ơi.

Tìm nhau cuối trời, gặp nhau giữa đời.

Này em! Hỡi em người yêu dấu.

Môi hồng tươi thắm biết đâu!

“Dành tặng mình anh.”

 Có nhiều khi lòng quạnh vắng tựa mùa Đông.
Nhưng ngờ đâu một mùa Xuân đang triền tới.
Hồn chới với tình ngỡ đã chia phôi.
Chợt bỗng ngát lên ngôi

và đường đời bước chung đôi.”

(Tuấn Khanh – bđd)

 Cuối cùng thì, “Đường đời bước chung đôi” còn là ý/lời ở mọi nơi, mọi thời, người người đều muốn sống. Diễn-tả ý-tưởng này bằng thơ-văn/nhận-định và cuộc chuyện trò giữa thày/trò còn như câu truyện kể nhè nhẹ ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:

Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?

Sư phụ: Không đúng!

Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?

Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?

Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy Phật giáo luôn nhìn vấn đề tiêu cực. Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo? Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”

Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.

Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?

Sư phụ: Thay thế và hoán đổi!

Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!

Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?

Đệ tử: Không thể được.

Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?

Đệ tử: Con nghĩ không được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.

Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?

Đệ tử: Vậy thì được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.

Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán đổi. Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn. Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ; dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham; dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng; dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp; dùng chính niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng; dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ; dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được đau tim. Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán đổi.” (Theo SecretChina Tinh Vệ biên dịch)

             Theo dõi truyện kể nhẹ đầy nhận-thức sâu-xa rồi, tưởng cũng nên ghi thêm đôi lời khuyên-răn vàng ngọc từ bậc thánh-hiền, sau đây:

“Hãy chuyên-cần đọc Sách Thánh

trong các buổi họp,

chuyên-cần khuyên-nhủ và dạy dỗ.

Đừng thờ ơ với đặc-sủng đang có nơi anh,

đặc-sủng Thiên Chúa đã ban cho anh

nhờ lời ngôn sứ,

khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh.

Anh hãy tha thiết với những điều đó,

chuyên chú vào đó,

để mọi người nhận thấy những tiến bộ của anh.

Anh hãy thận trọng trong cách ăn, nết ở

và trong lời giảng dạy.

Hãy kiên trì trong việc đó.

Vì làm như vậy,

anh sẽ cứu được chính mình,

lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy.”

            (1 Timôthê 5: 13-16)

Tiếp-cận Lời Vàng đều-đặn, bạn và tôi cũng sẽ gặp toàn chuyện vui, trong đời. Rồi từ đó, sống Đạo cách đích-thực qua ẩn-dụ ghi ở Kinh Sách. Dù, mặt ngoài cuộc đời, người người đều đã và đang tiếp-cận với thực-tế ngang qua mọi chuyện.

Chuyện gì thì chuyện, dù tốt/xấu, hay ho hoặc đáng chán, cũng là thực-tế đời người có buồn/vui lẫn lộn.

Kể gì thì kể, tưởng cũng nên kể thêm một truyện kể ngăn ngắn để kết thúc buổi luận/phiếm đường dài “hôm nay” bằng đôi giòng kể ngắn như sau:

“Có một người nông dân muốn mua đất, ông ta nghe nói một người ở vùng khác có đất muốn bán, liền quyết định đến đó hỏi thăm. Người bán đất nói với ông ta rằng: “Chỉ cần giao một nghìn lạng bạc, ta sẽ cho ông thời gian một ngày, bắt đầu tính từ lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn xuống núi, ông có thể dùng bước chân khoanh tròn được bao nhiêu đất, thì số đất đó sẽ chính là của ông, nhưng nếu ông không trở về nơi khởi điểm, thì ngay cả một tấc đất ông cũng sẽ không có được”.

 Người nông dân đó nghĩ thầm: “Nếu như hôm nay ta vất vả một chút, đi nhiều đường hơn một chút, thì chẳng phải có thể đi được vòng rất lớn, theo đó sẽ có được một mảnh đất rất lớn hay sao? Làm ăn như vậy quả thật là rất có lợi!”. Thế là ông ta liền ký kết giao ước cùng người chủ đất đó.

 Mặt trời vừa mới nhô lên, ông ta liền cất bước thật dài đi nhanh về phía trước; đến giữa trưa, bước chân của ông vẫn không dừng lại giây phút nào, cứ mãi đi về phía trước, trong lòng nghĩ: “Hãy ráng chịu đựng một hôm nay, sau này sẽ có thể hưởng thụ hồi báo của vất vả hôm nay mang đến rồi”.

 Ông ta cứ thế tiếp tục đi về phía trước, đến khi mặt trời sắp lặn rồi mới chịu quay trở về, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không về kịp thì một tấc đất cũng chẳng có. Thế là ông ta vội vàng trở về theo đường tắt. Tuy nhiên, mặt trời sắp xuống núi, ông ta đành phải liều mạng mà chạy, cuối cùng chỉ còn thiếu vài bước thì đến vạch khởi điểm, nhưng sức lực đã cạn kiệt, ông ngã nhào xuống nơi đó.”

Và,người kể lại có thêm lời bàn, rất nhận-định, rằng:

 Dục vọng của con người và ranh giới với hiện thực mãi mãi cũng không cách nào vượt qua được, bởi lòng tham là vô đáy. Con người mãi mãi không biết thỏa mãn, đây chính là khuyết điểm lớn nhất trong nhân cách.

Kể và bàn như thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hướng về phía trước hăng say hát nhạc Việt mình, dù đôi lúc thấy nó cũng lạ nhưng vẫn hát. Hát lên rằng:

“Mỗi lần em về là gió lộng đường đi,
Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo.
Nhẹ gót thắm vào mãi đáy tim tôi.
Từ đó nhớ khôn nguôi và chiều chiều thấy đơn côi.

 Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi,

Nhưng hồn tôi tựa trời giông đang nổi gió.

Tình nghệ sĩ là thắm cánh môi tươi,

Là gió cuốn mây trôi là thì thầm nói “yêu em”.

(Tuấn Khanh – Từ Đó Khôn Nguôi)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn nghĩ rằng

Tiếng hát hay nhất đời

Là nói tiếng “Yêu Em”

Dù Em đây có là nhà Đạo

Hay trường đời. 

Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua

 “Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua”

(Dẫn từ thơ Hà Huyền Chi)

Mai Tá lược dịch

Đức Piô XI thiết lập lễ Kitô Vua, khởi đầu năm thánh 1925. Đại lễ bắt nguồn gần nửa thế kỷ trước, hồi thập niên 1880, khi mà nhiều Giám mục ở Châu Âu lo âu thấy rõ phong trào tục-hoá nhà Đạo đã nổi lên. May thay, trào lưu phàm tục này đã không lập lại vào các thế kỷ về sau.

Ưu tư lo lắng của các giám mục thời bấy giờ, là: sao ta lại để cho quyền hành trần thế ngày một lấn lướt, tạo thế “hơn hẳn”, chống trả thần quyền, đến như thế? Đặc biệt hơn, các Giám mục ở Pháp và Ý đã ý thức được tầm quan trọng cần thờ kính Đức Giêsu Kitô Vua-Cha của vũ trụ. Và, lòng sùng kính Đức Kitô-Vua từ đó phát triển mạnh, mãi đến hôm nay.

Năm 1922, Đại Hội Thánh Thể ở Rôma, có 69 vị Hồng-y Giáo-chủ đã thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng hãy cho phép thiết lập đại lễ mừng kính Vua Cha Cao Cả, cho mọi người. Suốt ba năm, đền Vatican tràn ngập những thỉnh nguyện thư, cùng đòi hỏi Giáo hội phải làm việc gì để mừng kính Đức Kitô Vua. Vua trần gian. Vũ trụ. Loài người. Và chung cuộc, thì lễ Đức Kitô Vua đã thành hình và tiếp tục đến ngày hôm nay.

Với Tân Ước, dù Chúa nói đến Vương Quốc Nước Trời, dù Ngài có được tung hô vạn tuế như Vị Vua Cao Cả, Đức Giêsu vẫn quả quyết: Vương quyền của Ngài hoàn toàn khác biệt vương triều của vua chúa trần gian như César, Hêrôđê, hoặc cả đến Đavít, và các Vua Do-thái nữa. Với tín hữu tiên khởi, người người thấm nhuần, ghi tạc tình Vua Tình Yêu chẳng bao giờ thiếu.

Trước năm 324, có rất ít tác phẩm nghệ thuật cũng như văn-bản sử-liệu trình bày Đức Giê-su như vị Vua Cha Cao Cả. Năm đó, hoàng đế Constantine vừa tham gia cộng đoàn dự tòng, đã biến Đạo Chúa thành Đạo uy phong lẫm liệt cho Đế quốc ông trị vì, để tỏ bày lòng yêu thương đức Vua, như một người Cha.

Cũng từ đó, nghệ thuật trong nhà Đạo đã xuất tác các tượng hình, ảnh mẫu diễn tả Đức Giê-su mặc long bào phẩm phục của Vua Chúa, tay cầm quả cầu, tượng trưng cho Vua Trái Đất. Vua Hoàn Cầu.

Thế đứng của Đức Kitô-Vua trông uy nghi, tráng lệ. Và, Đức Maria, Mẹ Ngài cũng trở thành Nữ Vương Thiên Đàng, đầy tình yêu thương của Mẫu Hậu. Điều này cũng dễ hiểu. Chí ít, là vào thời mà con dân Đạo Chúa bị triền miên bách hại, trong nhiều tháng. Từ đó, Đạo Chúa tôn kính Đức Kitô-Vua đã trở thành sức mạnh uy phong, tồn tại cùng với nhân gian, ở trần thế.

Có thể coi đây là thành công lớn của thần quyền, có dân gian. Tuy nhiên, dân gian phàm trần vẫn cần đề cập nhiều đến không gian thần thánh, cao cả hơn. Chốn không gian biểu lộ tính chân phương đích thực của Đức Kitô, Vua Vũ Trụ. Vua oai phong. Hiền từ. Nhân hậu.

Từng thế kỷ và thế kỷ, trôi qua. Cả đế quốc hùng mạnh của Constantine, cũng không tồn tại. Nhưng, các đặc trưng/đặc thù thời vua chúa nơi nhà Đạo, vẫn ở lại mãi với ngôn ngữ và phong cách của Giáo hội, rất hôm nay. Cần thí dụ, ta có thể dẫn chứng khi nói về nơi ăn chốn ở của các vị Giáo hoàng, các Giám mục mà ta có thói quen đặt cho cái tên như “dinh”, như “toà”. Và, phẩm phục đại lễ của các ngài, vẫn mang dáng dấp áo mũ/cân đai rất long trọng. Đắt tiền.

Vấn đề còn lại, là: các tài sản và báu vật lịch sử ấy, đã phần nào đối chọi và mâu thuẫn với điều mà Đức Chúa nói về Ngài. Về phong cách của vị Vua Cha vẫn trị vì cả và thế gian. Nói cho cùng, tính chất vua quan, lãnh chúa của Ngài, đã được ghi vào khuôn khổ của trình thuật Thương khó. Rất thống khổ.

Phúc âm thánh Gio-an hôm nay, được rút từ văn bản nổi tiếng của Tân Ước, trong đó có quả quyết của Chúa về tính Vua-Cha, đối với thần dân, ở cõi thế: “Ngài tự nói điều ấy. Chính ngài nói Tôi là Vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi”.

Với thế giới hôm nay, số vua quan nữ hoàng dám nói điều đó với dân đen/quần thần, quả rất ít. Tệ hơn, chẳng vua quan nào yêu dân đến độ sẵn sàng hy sinh cho họ. Chết cho họ. Ngược giòng lịch sử, ta hiểu rằng: khi sự thật về tình yêu Vua-Cha hy sinh như thế, đều mang sắc màu của một Thương Khó. Và, đây mới là sự thật về tính chất vua chúa/quan quyền mà trần gian không thể thấy.

Vua quan/lãnh chúa ở trần gian, bao giờ cũng thấy khó có thể hy sinh, cho một ai. Càng khó hơn, khi họ phải thương yêu thần dân của mình đến độ hy sinh mạng sống của riêng mình, cho dân đen. Nhưng với Đức Kitô, qua tư cách Vua-Cha của mình, Ngài giàu lòng thương mến. Chẳng gây thương tổn, cũng chẳng làm hại bất cứ người nào trong dân mình. Là Vua-Cha vũ trụ, Ngài không đầu hàng thoái thác trước thương đau. Nhưng, vẫn rao truyền tình thương, bất chấp khó khăn. Ngài khuyên răn, bảo vệ thần dân của Ngài. Vẫn luôn mãi.

Là Vua Tình Yêu, luôn chấp nhận những thương cùng khó, Đức Kitô-Vua chẳng bao giờ bỏ mặc dân con chốn điêu tàn lẻ loi, đầy chết chóc. Vua Kitô vẫn bộc lộ lòng thủy chung rất mực của Vua Tình yêu. Vẫn một mực thương yêu trung thành với dân Ngài, cho đến chết. Và, lại là cái chết nhục nhã như tên trộm. Thua kém cả dân đen, hèn hạ.

Theo gương Ngài, ta chớ để quyền uy, sức mạnh của trần thế uy hiếp, dẫn dụ. Chớ nên để mắt mình mờ loà trước mọi hào nhoáng chóng qua, của tiền tài vật chất, khó chối từ. Theo gương Ngài, ta chớ dại mà dấn thân đeo đuổi những mồi chài lợi lộc cùng quyền uy của vua quan/thủ lĩnh nơi gian trần, đang lôi cuốn.

Trái lại, hãy ngước mắt lên mà hướng thượng. Hướng về Đức Kitô, vị Vua-Cha nhân hiền hằng thương yêu dân của mình, hơn mọi hoàng gia/lãnh chúa, chốn nợ đời. Bởi, chỉ mình Đức Kitô-Vua mới dám nói về Sự thật, với lòng thương yêu, trìu mến. Ngài không chỉ nói bằng lời, mà còn nói bằng việc chấp nhận bỏ mình để chứng minh cho sự thật Tình yêu, Ngài phú ban.

Đó là Sự thật rất khách quan. Sự thật, đến với mọi người, nơi trần thế. Sự thật, gửi đến với thần dân, Hội thánh. Sự thật về lòng thương yêu không bến bờ. Yêu thương mọi người. Yêu cả dân đen yếu hèn, hạ cấp. Yêu đến độ bỏ thân mình vì người mình yêu mến. Bỏ áo mão cân đai tài sản, triều đình. Bỏ, để chung sống vực dậy thần dân yếu hèn, đối tượng của tình Vua-Cha.

Trong tinh-thần cảm nghiệm về ý-nghĩa của Vua/Cha, ta ngâm lại lời thơ Vua, rằng:

“Miễn tội, em đừng bỏ phế Vua,

Trẫm muốn tru-di đám ngoại thần.

Cô, dì tỷ, muội chẳng can-ngăn,

Nơi nào em tối niêm phong hết,

Cho hả lòng đây nhớ ái-tình. Hà Huyền Chi- Bỏ Phế Vua)

 Không bỏ phế, nhưng vẫn tôn-trọng và phò Vua Kitô, chủ-tể vũ-trụ. Không bỏ phế, nhưng vẫn tuân-thủ lời khuyên dạy Ngài, chỉ-thị để sống với mọi vua/quan lãnh chúa hết người. Ở đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn   

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Ga 18: 33b-37)

Khi ấy, quan Philatô nói với Đức Giêsu rằng: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?” Ông Philatô trả lời:”Tôi là người Do-thái sao?Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?” Đức Giêsu trả lời:“Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” Ông Phi-la-tô liền hỏi:“Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua.Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật.Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt

Vài bệnh mãn tính của trí thức Việt


Nguyễn Quang Dy

Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử (vì tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.

Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng ta. Nếu chịu khó quan sát, ta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!).

Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.

Hay định kiến và chia rẽ

Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khác. Bởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà còn chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhau. Không hiểu vì sao tính cá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông tây nhé!) Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽ, hay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực và không kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!

Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồi. Có lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?

Không chịu lắng nghe

Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng nghe được người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật số. Muốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảm. Người ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa số người Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ). Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc – Nam, trong – ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.

Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.

Học giả nhiều hơn học thật

Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tả, rất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.

Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây” thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đã bị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ “thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chức, một số khác có tài đã trở thành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàu lên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạng, đa số kinh doanh, một số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng.

Im lặng trùm chăn

Trong bối cảnh xã hội chuyển đổi, đầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triển. Nhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ tiềm tàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải cam đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đó, giới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).

Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao, ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).

Hội nhập quốc tế chậm

Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triển. Đáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông, riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.

Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.

NQD. 7/7/2015

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ


Một người Việt Nam lần đầu tiên tìm hiểu nền giáo dục Mỹ chắc chắn ngỡ ngàng và cảm thấy có nhiều chuyện ngược đời. Dưới đây tôi xin kể năm trong số đó.

1.

Chuyện ngược đời đầu tiên là trẻ em Mỹ không cần trường. “Không cần” theo nghĩa đen, chứ không phải một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so với giáo dục Việt Nam: nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục những công dân Mỹ tương lai. Nhà trường không và cũng không thể thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao…”Không cần” ở đây có nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại gia).

Chế độ “Học tại nhà” (Home schooling) cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365 ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà. Nhiều gia đình không hề sử dụng các tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ và thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp và nội dung cụ thể. Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện. Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang tăng lên khoảng 15% mỗi năm.

2.

Chuyện ngược đời thứ hai là nếu đến trường, trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất. Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin. Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn bị coi là phi pháp.

Vì không học theo một giáo trình thống nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau. Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết. Trong số 18 sinh viên lớp Học viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai chính tả và ngữ pháp. Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti. Không tự ti sao được khi một đứa trẻ từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.

3.

Chuyện ngược đời thứ ba là các trường phổ thông của Mỹ không có sách giáo khoa chung trong cả nước. Việc lựa chọn các loại sách để dạy trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John Steinbeck, “Of Mice and Men” (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là “Của chuột và người”), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là “The Adventures of Huckleberry Finn” (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Mark Twain và “To Kill a Mockingbird” (Giết chết một con chim Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học. Hai trường trung học Normal Comunity High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban, bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh. Bà Tripp, phụ huynh học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thô tục và báng bổ, “không thể hiện các giá trị truyền thống”, “gây phản cảm” đối với con gái bà. Đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12 chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông địa phương. Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề “ngôn ngữ dung tục” của cuốn sách “Of Mice and Men” khi có khiếu nại của một số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại “Of Mice and Men” cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.

4.

Chuyện ngược đời thứ tư là coi nhà trường như doanh nghiệp. Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.

Khác với Việt Nam, các trường đại học Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài. Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức, thì đó cũng là quyền của anh.

Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh hoá, sinh vật…Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2 đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ 10 – 12 năm!

Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10 ngàn USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35 ngàn USD. Vì thế, trừ một số người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.

5.

Chuyện ngược đời thứ năm là bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.

Vậy phải chăng chính chúng ta mới là ngược đời?

Ngô Tự Lập (theo báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Cám Ơn Hạnh Phúc – Cám Ơn Khổ Đau

Cám Ơn Hạnh Phúc – Cám Ơn Khổ Đau

Tác giả: Nguyễn Bích Thủy
Bài số 3662-18–30152vb3110315

Tác giả đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2014. Cô sinh năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1988 khoa Đồ Họa tại Việt Nam, từng làm công việc thiết kế sáng tạo trong ngành quảng cáo. Cô đến Mỹ tháng 4 năm 2000, hiện là cư dân Waxahachie, Texas, đang làm việc trong phân xưởng in một nhà máy tại địa phương. Bài viết của cô là chuyện 40 năm sau tháng Tư 1975.

* * *

Chúng ta là những người lữ hành đang đi tìm hạnh phúc ròng rã suốt cả một kiếp người cho bản thân mình, gia đình mình hay cho cộng đồng mình. Cái hạnh phúc mà chúng ta đi tìm lúc được lúc mất, lúc ẩn, lúc hiện khiến đôi khi làm ta chao đảo vì nó quá mong manh và mơ hồ. Lắm lúc ta cảm thấy mệt mỏi vì cố rượt đuổi theo nó, tưởng đã sở hữu được trong tầm tay nhưng rồi bỗng một ngày nó lặng lẽ bỏ ta đi để lại một nổi đau ê chề cả thân xác lẫn tâm hồn.

* Hạnh Phúc

Theo tài liệu cho biết hạnh phúc là trạng thái cảm xúc khi con người được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính nhân bản, chịu tác dụng của lý trí và chỉ có ở con người.

Cảm nhận về hạnh phúc ở mỗi độ tuổi, mỗi giới tính cũng thay đổi theo thời gian. Lúc còn nằm trong nôi hạnh phúc của bé thơ là được bú một bầu sữa đầy, được ôm ấp vỗ về. Ở tuổi đến trường hạnh phúc của các cô cậu học sinh là vào cuối tuần không phải làm homework, được cha mẹ cho đi chơi, gặp bạn bè vui đùa thỏa thích. Đến tuổi biết yêu hạnh phúc của các chàng trai, cô gái là tìm được một người như-trong-mộng. Khi đã lập gia đình hạnh phúc của những người trưởng thành đã thôi bay bỗng, nó bình dị như mỗi buổi chiều vợ chồng, con cái quây quần bên mâm cơm quên hết những nhọc nhằn, tất tả ở bên ngoài. Rồi đến tuổi gần đất xa trời hạnh phúc của những bậc làm ông, làm bà là được sống bên cạnh con cháu cho đến ngày “cưỡi hạc, quy tiên”!

Nhưng lại có những quan niệm cho rằng hạnh phúc là hy sinh, là cho đi không cần nhận về (nếu cần nhận về là đã có toan tính); hạnh phúc là biết bằng lòng với cái mình đang có; hạnh phúc là được sống một cách an nhiên tự tại giữa cuộc đời nhiều va vấp. Còn theo Dan Harris, người sản xuất chương trình “Nightline” và “Good Morning America” trên đài ABC cho biết Thiền là chiếc chìa khóa giúp ông cảm thấy sống hạnh phúc hơn. Một nền minh triết của con người đã khuyên nếu muốn hạnh phúc, hãy tập sống vô ngã để thấy được tánh giác của chơn tâm của mình.

Thế thì hạnh phúc của con người thật muôn màu, muôn vẻ. Nhưng muốn đạt những điều này đôi khi không dễ chút nào. Lại có lắm lúc người ta thường không đi tìm hạnh phúc dưới chân mình mà cứ ngó trên chín tầng mây. Nhiều khi họ không thấy hạnh phúc trong hiện tại mà cứ đau đáu nhớ về hạnh phúc của một thuở nào đã xa! Đó là tất cả tâm trạng của một anh bạn đồng nghiệp người Mỹ của tôi, có lần anh cho biết:

– Lúc còn nhỏ vào những dịp nghỉ hè bọn tôi thường được cha mẹ cho đến nhà của ông bà ở cạnh bờ biển thuộc vùng Atlantic City – New Jersey. Đây là dịp mấy anh chị em họ chúng tôi tha hồ vui chơi với nhau bằng thích! Có thể nói, cho đến bây giờ đó là những ngày tháng tuyệt vời nhất của đời tôi.

Giọng nói của anh như thầm tiếc nuối cả một thời quá khứ mà nơi đó anh đã có biết bao kỷ niệm đẹp. Anh cũng kể rằng sau khi vừa tốt nghiệp Trung Học, anh đã từ giã cha mẹ leo lên tàu lửa làm một chuyến xuôi Nam để thỏa mộng “tang bồng hồ hải”. Anh đã từng đi qua nhiều tiểu bang của nước Mỹ, cuối cùng đã đến đây và phải lòng một nàng thuộc xứ “cao bồi Texas”. Để rồi cho mãi đến hôm nay anh vẫn chưa một lần nào có dịp trở về thăm lại vùng biển tuổi thơ của mình!

Anh đã cưới vợ rồi ly dị do người vợ trước mắc chứng vô sinh! Anh kết hôn lần nữa với một nàng người Mễ kém anh gần 20 tuổi và cô đã cho ra đời ba mụm con. Tuy nhiên, anh cũng không hề cảm thấy hạnh phúc bên người vợ trẻ bởi những chông chênh về tuổi tác, ngôn ngữ và văn hóa. Thêm vào đó, anh luôn mặc cảm có lỗi với vợ cũ khi biết rằng cô đã không chịu “đi bước nữa” để toàn tâm toàn ý lo cho đứa con mà lúc trước họ đã xin ở cô nhi viện. Giờ đây con gái nuôi của hai người đã học thành tài, mẹ con cô có một cuộc sống rất ổn định còn anh thì vẫn cứ lao đao lận đận với một mái gia đình không bao giờ như ý! Có thể anh vẫn còn yêu vợ cũ của mình nhưng anh không mặt mũi nào để quay lại. Nhất là nếu ly dị lần nữa anh sẽ phải trả tiền trợ cấp cho ba đứa con chắc “te tua” lắm!!! Hiểu được tâm trạng của anh, tôi liền bảo:

– James! Cuộc sống của anh cũng quá tuyệt mà. Bây giờ anh không cảm thấy quý nó nhưng biết đâu khi đã 70 hay 80 anh sẽ thấy rằng đây mới chính là thời gian đẹp nhất đời mình. Bởi vì hiện nay anh vẫn còn sức khỏe, vẫn còn đầy đủ một mái gia đình khi con cái vẫn còn ở cạnh.

Anh chỉ nhìn tôi cười buồn:

– Thì cứ hy vọng là vậy!

Ôi có biết bao kẻ như James trên cuộc đời này? Họ sống với vợ (hay chồng) của mình một cách miễn cưỡng, hời hợt nên chỉ cần một chút va chạm nhỏ xẩy ra là có thể đưa đến nhiều xung đột lớn. Nhưng họ vẫn không tài nào “dứt ra” được chỉ vì “đã lỡ” đứng tên chung với nhau cái nhà, cái xe và đàn con! Họ cứ phải đi song đôi với nhau nhưng mỗi người nhìn về một hướng, chả ai buồn nói với ai lời nào như đã hết tình, hết nghĩa với nhau rồi. Họ nghĩ giờ chỉ còn sống vì bổn phận và trách nhiệm để chu toàn cho một mái gia đình!!! Chỉ thế thôi.

Rồi cũng đến một ngày có một người sẽ “đi trước”. Kẻ ở lại giờ mới thấm mùi cô độc. Chẳng còn ai nữa để nghe càm ràm, chẳng còn ai nữa làm cho mình tức tối, bực bội. Một mình. Vâng! Chỉ còn lại một mình mình, đi suốt quãng đời còn lại cũng… một mình! Ôi cái người đã đi bên mình mấy chục năm trời ròng rã, giờ mình mới biết thương, biết quý thì đã quá muộn màn. Nên mới có những câu thơ thành bài hát xiết bao ân tình:

Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi muộn làm sao nói lời tạ ơn …

Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết lụy người…
(Thơ Ngô Tịnh Yên, Trần Duy Đức phổ nhạc)

Người ta thường sống bằng kỷ niệm vì có lẽ kỷ niệm bao giờ cũng đẹp. Tôi cũng là một người đã từng sống với hoài niệm để nhớ về những tháng ngày cũ khi còn có đầy đủ một mái gia đình. Có lẻ không riêng gì tôi mà bất cứ ai mới bước chân đến Mỹ đều mang một tâm trạng na ná như nhau. Cái cảm giác thân xác ở bên này mà tâm hồn cứ để ở bên kia, ban ngày ở Mỹ nhưng ban đêm thì cứ mơ về Sàigòn với bao mộng mị, thật vô cùng khổ sở! Phải khó khăn lắm người ta mới có thể tạm quên được quá khứ của mình để làm-lại-từ-đầu tại vùng đất mới. Tôi biết có khá nhiều người đã không thể nào bước qua được chính mình nên họ cứ phải bay đi, bay về giữa hai bờ đại dương xa thăm thẳm để níu kéo quá khứ và vẫy vùng trong hiện tại!

Hạnh phúc luôn đòi hỏi sự nỗ lực và cố gắng liên tục! Một trong những triết lý sống của người Ấn Độ là “Những gì đã qua, cho qua”. Nội dung như sau:

Khi điều gì đó trong cuộc sống của chúng ta kết thúc, thì có nghĩa là nó đã giúp ích xong cho sự tiến hoá của chúng ta. Đó là lý do tại sao, để làm phong phú thêm trải nghiệm của mình, tốt hơn hết là chúng ta hãy buông bỏ và tiếp tục cuộc hành trình.

Người ta thường ước mơ về hạnh phúc với nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con xinh, tiền tài danh vọng, địa vị xã hội đủ đầy. Nhưng thật ra những điều đó hoàn toàn không có giá trị vĩnh hằng và không có gì bảo đảm sẽ tuyệt đối. Chẳng có ai trên đời này mong cầu đau khổ! Nhưng nếu đường đời cứ suôn sẻ, êm đềm không chông gai thử thách thì làm sao rèn cho con người có được tính chịu thương, chịu khó và đức nhẫn nại, hy sinh. Chỉ có đi qua khổ đau người ta mới biết thương yêu những người cùng khổ. Chỉ có đã từng sống trong cảnh đàn áp, bất công thì người ta mới biết hết giá trị của sự tự do, dân chủ. Chỉ khi đã đối diện với chiến tranh, loạn lạc thì người ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai chữ hoà bình…

* Và Khổ Đau

Dường như không phải chỉ có người nghèo mới khổ mà “người giàu cũng khóc”! Cái khổ không từ một ai! Từ hàng đế vương cho đến hạng cùng đinh thì mỗi người đều mang một nổi khổ khác nhau, không ai giống ai. Biển khổ thật mênh mông bất tận!

Con người phải đối diện với muôn vàn cái khổ trên cõi đời này. Khổ vì nghèo. Khổ vì bệnh tật. Khổ vì dốt nát. Khổ vì chồng (vợ) con. Khổ vì không con. Khổ vì đông con. Khổ vì thiên tai, đói kém, mất mùa. Khổ vì bị áp bức, bóc lột. Khổ vì đắm chìm trong dục lạc, cờ bạc, rượu chè. Khổ vì côi cút không cha, không mẹ, không anh em. Khổ vì nồi da xáo thịt. Khổ vì nước mất nhà tan. Khổ vì bom rơi đạn lạc. Khổ vì gia đình không hạnh phúc, con cái hư hỏng. Khổ vì tuổi già bệnh tật, neo đơn, nghèo túng… Lại thêm có cái khổ vì yêu mà phải chia lìa. Khổ vì ghét mà phải sống chung. Khổ vì mong cầu mà chẳng được. Khổ vì hy vọng bất thành. Khổ vì tán gia bại sản. Khổ vì nợ nần chồng chất. Có lắm người khổ vì quên, do bệnh lú lẫn của tuổi già nhưng lại cũng có người khổ vì nhớ! Mà càng già người ta càng nhớ nhiều, nhớ dai. Thế nên đã khổ càng thêm khổ!!!

Có những nổi khổ vì quên
Có những nổi đau vì nhớ
Có những điều cố quên vẫn nhớ
Có những điều cố nhớ lại quên
Khổ đau chất chồng bởi nhớ và quên (nbt)

Ôi! Còn biết bao nhiêu cái khổ khác trên đời này nữa, nên mới có câu: Hữu thân hữu khổ! Ngẫm chẳng sai chút nào! Với muôn vàn đau khổ vây quanh con người phải làm thế nào để hết khổ? Chính sự có mặt của Tôn giáo đã gian rộng đôi tay để cứu khổ cho muôn loài. Có khá nhiều tôn giáo đang hiện diện trên thế giới này và mỗi tôn giáo thường chiếm lĩnh một vùng lãnh thổ riêng biệt trên bình diện toàn cầu. Theo thống kê có bốn tôn giáo lớn trên hành tinh theo thứ tự sau:

– Kitô giáo: 2.1 tỷ người

– Hồi giáo: 1.5 tỷ người

– Ấn Độ giáo: 900 triệu

– Phật giáo: 376 triệu người

Vậy thì tôn giáo nào là tốt nhất. Kitô giáo ư? Hay Hồi giáo? Đức Đạt Lai Lạt Ma có lần đã phát biểu:

– Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất.

Đời sống tâm linh là điều gần như không thể thiếu được cho con người. Có lẽ chính vì thế mà ở Mỹ nhà thờ cũng nhiều ngang như trường học?! Tại một đất nước giàu có bậc nhất hành tinh này tưởng như giá trị của con người chỉ được đong đo bằng vật chất; nhưng thật ra cuộc sống càng văn minh, càng tự do thì người ta càng cần có một đức tin mạnh mẻ để nương tựa và quay về.

Tôi từng biết có rất nhiều vị Bác Sĩ đã giã từ thiên chức của mình để dấng thân vào con đường phục vụ nhân sinh qua chiếc áo thụng của các vị Linh Mục hay chiếc áo cà sa của những Nhà Sư… Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi tại sao họ lại từ bỏ sở học của mình trong khi có biết bao con bệnh đang ngày đêm cần đến bàn tay chăm sóc của họ? Phải đến khi đã hiểu Đạo và hiểu Đời tôi mới biết rằng một người Thầy thuốc có thể chữa được thân bệnh nhưng họ không thể nào chữa lành được tâm bệnh cho con người! Mà trong khi đó có rất nhiều những nổi đau của thân bắt đầu từ tâm. Nếu biết cách chữa cho tâm được yên ổn, bình an thì ắt thân sẽ khỏe và người ta sẽ biết cách sống tốt hơn. Người Bác sĩ có thể trị được bệnh cho tha nhân nhưng đứng trước cái khổ của chính mình đôi khi họ cũng phải đành…. bó tay!

Hơn thế nữa làm thầy thuốc có thể chữa được một số người nhất định trong một phạm vi nhất định nhưng lời nói của một đấng chăn chiên hay của một vị lãnh đạo tinh thần có thể cứu vớt hàng triệu triệu sinh linh ra khỏi vực thẳm của khổ đau! Trong một dịp hết sức tình cờ, cô bạn đồng nghiệp đã có lần hỏi tôi:

– Tôn giáo của you là gì?

Tôi hơi bị bất ngờ. Có lẻ cô ta tò mò vì thấy tôi là dân Châu Á hiếm hoi đang làm trong hãng hay chắc cô nghĩ tôi từ một nước Cộng Sản đến nên theo “vô thần giáo” chắc? Tôi cười và cho cô biết tôn giáo mà mình đang theo đuổi. Ngay lập tức cô liền hỏi tiếp, lần này thì có vẻ hốc búa hơn:

– Thế tôn giáo của you khuyên tin về điều gì?

Suy nghĩ giây lát tôi bèn trả lời thật chậm rãi:

– Tin vào chính mình!!!

Tôi đọc được cả một sự ngạc nhiên gần như sửng sốt từ người đối diện, không đợi cô phải hỏi tiếp, tôi đã giải thích cho rõ thêm:

– Tôn giáo của tôi dạy rằng nếu tôi làm một điều gì tốt tôi sẽ nhận được những điều tốt lành và ngược lại nếu như tôi làm điều gì không tốt tôi sẽ gặt lấy hậu quả khôn lường. Chính tôi sẽ là người tạo nên hạnh phúc và khổ đau cho chính cuộc đời tôi mà không phải bất kỳ ai khác.

Một thoáng nghi ngờ hiện trên gương mặt cô. Tôi lại phải nói cặn kẽ hơn:

– Nếu tôi làm một điều gì đó tốt cho bản thân hay cho cộng đồng, tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc và ngược lại nếu như đi cướp của, giết người thì tôi sẽ bị luật pháp trừng phạt. Không ai có thể ngồi tù thay cho tôi cả. Chính tôi là kẻ duy nhất có trách nhiệm với mọi hành vi của mình. Do đó tôi phải biết sống tốt và làm đúng!

Gương mặt của cô đã có phần giãn ra đôi chút. Tôi thêm vào ngay:

– You có định hỏi tôi làm thế nào để biết mình sống tốt và làm đúng không??! Xin trả lời luôn rằng gia đình, trường học và xã hội sẽ dạy chúng ta những điều đó nhưng đặc biệt hơn hết chính tôn giáo sẽ giúp cho chúng ta biết cách sống hướng thượng và thoát khổ!

Lần này cô đã cười thật tươi như đồng ý với tôi. Thật vậy! Tôn giáo chính là ngọn đuốc soi đường và những người hướng dẫn tâm linh đã trao ngọn đuốc đó vào tay chúng ta. Bổn phận của mỗi người chúng ta là cầm lấy nó và phải biết vận dụng trí tuệ sáng suốt của mình để tìm một quang đạo mà bước ra bể trầm luân này.

*

Trong cái khoảnh khắc không đầu không cuối của thời gian, con người đã lần lượt đến rồi đi trong cuộc đời này một cách hết sức chóng vánh. Mới thấy đó rồi mất đó!

Tôi cũng là một con người bình thường với những hạnh phúc và khổ đau rất bình thường đang có mặt hơn năm mươi năm qua trên cuộc đời. Tôi rồi cũng sẽ ra đi như biết bao nhiêu người đã giã từ cõi tạm này. Cũng sẽ chẳng còn ai nhớ đến tôi, một người đã từng gắn bó với thế gian; đã trải qua đủ hết những hỉ, nộ, ái, ố, tham, sân, si để rồi ra đi với hai bàn tay trắng cùng những nghiệp lành dữ khác nhau. Tuyệt nhiên, không ai biết tôi sẽ đi về đâu. Tôi cũng chẳng biết mình sẽ trôi lăn vào chốn nào. Nhưng! Dù sẽ về bất cứ nơi đâu thì tôi vẫn thật mong rằng vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình tôi sẽ nở một nụ cười thật toại nguyện để cám ơn những hạnh phúc, cám ơn cả những khổ đau đã giúp tôi vững vàng bước qua kiếp nhân sinh này.

Nguyễn Bích Thủy

Dân tộc Miến Ðiện đáng kính phục

Dân tộc Miến Ðiện đáng kính phục
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Người Việt Nam phải ngả mũ tỏ lòng kính phục dân tộc Miến Ðiện. Cuộc bỏ phiếu ngày Chủ Nhật vừa qua là một bước lớn trên tiến trình dân chủ hóa. Cả nước Myanmar đáng ca ngợi, từ những người dân nghèo nàn, ít học ở thôn quê cho tới các nhà tranh đấu vận động dân chủ; và cả đến đảng cầm quyền mới bị thất cử. Cả ba, chính quyền, đối lập và dân Miến cùng chung một bước vững chắc trên đường xóa bỏ chế độ độc tài lạc hậu đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, qua một cuộc bỏ phiếu trong sạch và tự do, hiếm đạt được ở những nước mới bắt đầu thí nghiệm “luật chơi dân chủ” lần đầu.

Phóng viên báo Washington Post phỏng vấn một ngư dân, ông Sein Kyaw Thee, 45 tuổi. Mỗi ngày ông Thee bán cá được số tiền tương đương với 15 đô la Mỹ. Ông nói ông bỏ phiếu cho đảng NLD vì ông kính trọng bà Suu Kyi. Ông hy vọng bà sẽ đem Miến Ðiện tới tương lai phồn thịnh.

Phóng viên hãng thông tấn Al Jazeera của Qatar, một nước Á Rập, thuật lời ông Kyi Win, một thường dân ở thủ đô Rangoon khi nghe tuyên bố đảng của bà Aung San Suu Kyi thắng 70% số ghế trong Quốc Hội: “Chúng tôi đã chờ suốt 50 năm nay! Kết quả này vượt trên cả điều tôi mong đợi!” Ông Kyi Win, 70 tuổi, đã chờ đợi gì? Ông không chỉ chờ ngày bà Suu Kyi chiến thắng. Năm mươi năm trước thì bà Suu Kyi chưa hoạt động chính trị. Ông Kyi Win và những người dân Miến cùng tuổi đã chờ 50 năm, kể từ năm 1962 khi các tướng lãnh cướp chính quyền rồi công bố một thứ chủ nghĩa xã hội bắt dân chúng phải theo, tới ngày hôm nay được sống tự do dân chủ!

Nhà báo cũng phỏng vấn bà Daw Khin Myo Sett, bà đi bỏ phiếu lần đầu tiên. Trong cuộc bỏ phiếu tự do sau cùng mà đảng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) do bà Suu Kyi lãnh đạo toàn thắng trước đây 25 năm thì cô mới 14, chưa đến tuổi được đi bầu. Nhóm quân nhân cầm quyền đã xóa bỏ kết quả cuộc bầu cử, bà Suu Kyi bị quản thúc, và từ đó đảng NLD tẩy chay không tham dự bầu cử, cho tới năm 2011. Cử tri Khin Myo Sett năm nay 39 tuổi, mong mỏi điều gì khi đi bỏ phiếu lần đầu? Bà nói: “Tôi hy vọng chính quyền mới sẽ cải thiện giáo dục và hệ thống y tế để cho cuộc sống của con cháu tôi tốt đẹp hơn thế hệ tôi.”

Ðó là niềm ước vọng của 30 triệu người dân Myanmar khi họ dùng lá phiếu hòa bình lật đổ chế độ độc tài trong ngày Chủ Nhật vừa qua! Mà đó cũng là ước vọng của mọi phụ nữ ở khắp Á Châu, đặc biệt ở Việt Nam: cải thiện giáo dục và y tế, vì thế hệ tương lai!

Hơn hai phần ba dân Myanmar sống ở thôn quê, kiếm ăn bằng vườn ruộng và sông hồ, nhiều nơi lợi tức dưới hai đô la một ngày. Phần lớn họ không biết chữ, thua xa nông dân và ngư dân Việt Nam. Phòng bỏ phiếu phải niêm yết những bảng chỉ dẫn bằng hình ảnh cho cử tri biết cách thi hành quyền công dân. Nhưng 80% các cử tri đã đi bày tỏ ý kiến của họ qua lá phiếu, trừ hơn một triệu người thiểu số Rohingya theo Hồi Giáo bị coi không phải là công dân. So với dân Việt Nam, các cử tri Miến Ðiện không phải là những người hiểu biết về chính trị nhiều lắm, họ cũng chưa có kinh nghiệm sống dân chủ bao giờ. Nhưng rõ ràng họ biết một điều: Phải thay đổi chính trị thì đất nước mới tiến bộ! Phải chấm dứt một chế độ tham nhũng bất công và bất lực, chế độ độc tài đã kìm hãm dân trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu hơn nửa thế kỷ.

Dân Myanmar may mắn vì những người cầm quyền còn theo luân lý cổ truyền, các tướng lãnh cai trị chuyên chế với các chính sách ngu dốt nhưng vẫn biết tôn trọng các quy tắc đạo lý do tổ tiên để lại chứ không thờ phụng một chủ nghĩa ngoại lai hủy diệt tôn giáo và gia đình. Các ông tướng trong đảng cầm quyền đã nghĩ lại, biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên quyền lợi đảng phái và cá nhân. Cho nên năm 2011, các tướng lãnh đã quyết định thay đổi hệ thống chính trị, dù biết họ sẽ mất những quyền hành, lợi lộc mà họ đã từng hưởng. Tổng Thống Thein Sein và bà Suu Kyi tin tưởng và hợp tác với nhau cùng hướng dẫn nước Myanmar trên đường dân chủ hóa.

Chính quyền và quân đội sẵn sàng tôn trọng kết quả cuộc bỏ phiếu vừa qua. Kết quả bầu cử công bố trên màn ảnh truyền hình cho toàn dân coi. Ngay tại thủ đô Naypyidaw do các ông tướng mới lập ra đảng NLD cũng thắng thế mặc dù đa số dân ở đó là gia đình các công chức và quân đội, thân chính quyền. Kết quả bất ngờ này chứng tỏ công việc bỏ phiếu và kiểm phiếu hoàn toàn trong sạch. Cả tờ báo của đảng cầm quyền cũng viết bài ca ngợi, gọi cuộc bỏ phiếu vừa qua là “Rạng đông mở đầu một thời kỳ lịch sử mới!” Ông Shwe Mann, chủ tịch đảng Liên Minh Ðoàn Kết và Phát Triển, USDP, đang nắm quyền, cũng là chủ tịch Quốc Hội đương nhiệm, gọi điện thoại chúc mừng đối thủ U Than Nyunt thuộc đảng NLD để chấp nhận thất cử. Gần đây ông còn có nhiều hy vọng sẽ lên làm tổng thống, nếu thỏa hiệp được với đảng NLD.

Bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD chiến thắng, Nhưng cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của họ, và của dân tộc Myanmar, chưa chấm dứt. Trong những ngày sắp tới, Liên Minh NLD và bà Suu Kyi sẽ tiếp tục đấu tranh, nhưng phải chấp nhận “giao đấu theo luật chơi,” mặc dù luật chơi chưa hoàn toàn dân chủ như họ mong muốn. Ðây cũng là một hiện tượng tự nhiên, vì thực ra dân chủ tự do là một cuộc vận động liên tục không biết bao giờ chấm dứt, vì xã hội loài người thay đổi và không một chế độ dân chủ nào có thể coi là đã hoàn hảo.

Một vết đen trong cuộc bỏ phiếu vừa qua là 1,300,000 người không được coi là công dân, vì họ thuộc sắc dân Rohingya và theo Hồi Giáo, đã từ bán đảo Ấn Ðộ chạy qua sống ở Miến Ðiện. Ðảng NLD cũng chưa dám lên tiếng bênh vực cho những người Rohingya bởi vì không dám chống lại đầu óc kỳ thị của những người không hiểu biết. Ðây là một điểm khiến dư luận quốc tế chỉ trích người dân Miến và đảng NLD cũng như bà Suu Ky. Nhưng họ đành phải chịu, không thể làm gì hơn được, vì cần phải nhiều thời gian mới có thể thay đổi dân trí.

Các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng NLD và bà Suu Kyi còn phải làm việc trong khuôn khổ một bản Hiến Pháp do chế độ quân phiệt soạn ra. Chỉ có một cách xóa bỏ óc kỳ thị nhanh chóng là ghi thêm một tu chính án vào Hiến Pháp, xác định quyền bình đẳng giữa các chủng tộc, tôn giáo; đồng thời Quốc Hội phải làm lại luật về quyền nhập tịch của các di dân. Cả hai điều này sẽ còn bị trở ngại vì dù thắng 70% số phiếu, đảng NLD chưa nắm được toàn quyền hành động.

Trước hết, trong cuộc bỏ phiếu ở Quốc Hội vào Tháng Ba năm tới đảng NLD không thể bầu bà Aung San Suu Kyi lên làm tổng thống. Vì bản Hiến Pháp hiện hành cấm những người có vợ, hay chồng, và con quốc tịch nước khác được ứng cử tổng thống. Bọn quân phiệt trước đây đã ghi điều này vào Hiến Pháp chỉ cố để ngăn cản bà Suu Kyi, vì chồng con bà đều quốc tịch Anh. Ðảng NLD cũng không thể bỏ phiếu thay đổi Hiến Pháp, vì muốn tu chính Hiến Pháp cần hội đủ hơn 75% số đại biểu trong Quốc Hội. Hiến Pháp hiện hành lại dành sẵn 25% số ghế cho quân đội, nghĩa là do các tướng lãnh chọn. Do đó, nếu khối đại biểu quân nhân đó không chịu thì không thể nào sửa Hiến Pháp.

Do đó, đảng NLD phải đưa ra mọt ứng cử viên tổng thống khác bà Suu Kyi. Trong năm qua họ đã điều đình với phe quân nhân tìm một người được họ chấp nhận để bầu làm tổng thống, có thể là ông Thein Sein, hoặc ông Shwe Mann, nếu phe quân nhân đồng ý sẽ tu chính Hiến Pháp. Cuối cùng họ không đồng ý. Ðảng LND cũng có thể đưa ra một tướng lãnh khác, như cựu tổng tư lệnh, Tướng Tin Oo, một người vẫn ủng hộ bà Suu Kyi; nhưng ông Tin Oo đã 88 tuổi.

Dù sang năm ai sẽ lên làm tổng thống thì cũng không thay đổi được bản Hiến Pháp, trong đó các chức vụ bộ trưởng quốc phòng, nội an và an ninh biên giới phải do ông tướng tổng tư lệnh chọn! Muốn sửa đổi điều này, cũng cần trên 75% số phiếu trong Quốc Hội!

Bà Suu Kyi và đảng NLD cũng sẽ phải làm việc trong khuôn khổ chật hẹp của bản Hiến Pháp; chờ đến ngày có cơ hội thay đổi Hiến Pháp. Dù chiếm đa số, đảng NLD cũng còn phải hợp tác với các đảng chính trị nhỏ, tổng cộng gần 90 đảng, rất nhiều đảng chỉ đại diện cho các nhóm thiểu số ở địa phương.

Tóm lại, dù thắng lớn trong cuộc bầu cử ngày Chủ Nhật, Aung San Suu Kyi sẽ còn phải hoạt động trong khuôn khổ một Hiến Pháp do chế độ cũ soạn ra.
Bà sẽ phải tôn trọng Hiến Pháp đó cho tới khi có thể thay đổi. Ðảng NLD quyết định tham dự cuộc bầu cử vừa qua cho thấy họ và bà Suu Kyi tin tưởng hai điều. Thứ nhất, cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra trong sạch, thẳng thắn, phe quân nhân không tìm cách gian lận. Thứ hai, dân chúng Miến Ðiện muốn thay đổi chế độ. Cả hai đều diễn ra như họ mong đợi.

Bây giờ, đảng NLD phải đóng vai trò mới, trở thành một đảng cầm quyền, dù quyền hành còn bị hạn chế. Họ không thể dành hết thời giờ cho việc tranh đấu đòi sửa Hiến Pháp. Dân bầu họ vào Quốc Hội để lo cho cả 30 triệu người, chứ không phải chỉ lo cho một số chính trị gia. Khi chấp nhận tham gia tranh cử, họ cũng chấp nhận các luật chơi, theo đúng luật chơi, chờ tới ngày có thể sửa luật chơi cho tiến bộ hơn. Dân chủ hóa là một con đường rất dài, tiến từng bước một, được một bước rồi lại tính thêm tiến thêm các bước khác.

Trong mấy năm tới đảng NLD sẽ phải chứng tỏ khả năng cai trị. Phải đưa ra những đạo luật thay đổi cuộc sống của người dân, cải thiện giáo dục, y tế, phát triển kinh tế, bảo vệ công bằng xã hội. Cầm quyền là một thử thách lớn, còn khó hơn khi đóng vai đối lập tranh đấu cho dân chủ tự do. Tranh đấu nhằm cổ động nâng Dân Khí lên cao. Qua những cuộc bầu cử vừa qua, dân tộc Miến Ðiện cho thấy Dân Khí đã rất cao. Dân tộc đang phục sinh. Bây giờ có quyền bính trong tay, đảng NLD còn phải lo nâng cao Dân Trí và phục vụ Dân Sinh nữa. Người Việt Nam nhìn tấm gương Miến Ðiện để tính sao cho dân tộc mình có thể cùng tiến bước được như họ.

Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Tỉ lệ thuế và phí dân VN phải chịu đóng/GDP cao từ 1,5 đến 3 lần các nước trong khu vực là để nuôi tới 3 bộ máy chồng chéo chéo chức năng, nhiệm vụ với nhau: đảng cộng sản, chính phủ, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội trong Mặt trận tổ quốc từ TW tới địa phương.

Võ Thị Hảo

Mai tôi ra đi chắc Cambodia mưa
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau ..

Tui cũng thơ thẩn vài câu cho ông Nguyên Sa vui lòng (nơi chín suối) chớ chuyến này “xa nhau”  luôn cũng được, cũng không có gì đáng tiếc. Sau hai mùa nắng (như đổ lửa) và hai mùa mưa (như thác đổ) tui đã ớn cái xứ Chùa Tháp này tới tận ngón chân út của mình rồi.

Từ phòng đợi của phi trường Pochentong, nhìn Nam Vang ảm đạm trong bầu trời xám xịt (nói thiệt) tôi cũng cảm thấy có hơi ái ngại nhưng tiếc thương hay vương vấn thì không. Nhất định là không.

  • Adieu Phnom Penh!

Tôi vừa thầm thì lời từ giã xong thì một cậu nhỏ bán báo (bất ngờ) xuất hiện, miệng mồm liếng thoắng:

  • The Cambodia Daily! The Cambodia Daily! The Cambodia Daily!

Còn báo chí mẹ rượt gì vào giây phút giã từ này nữa, cha nội?  Nói “vĩnh biệt” rồi là kể như hết chuyện. Từ nay, đường ai nấy đi; tiền ai nấy sài; hồn ai nấy giữ. Bận lòng chi nữa lúc chia phôi ?

Đã định lắc đầu nhưng cái tựa bản tin nơi trang nhất (“Hun Sen Announces Broad Cuts of Petty Taxes”) khiến tôi đổi ý:

“The country’s lower class will receive a series of tax breaks starting in 2016, Prime Minister Hun Sen announced Thursday, with tariffs on motorbikes, tuk-tuks and farm machinery to be waived, along with fees at stalls in state-owned markets. “From next year onward, the road tax for motorbikes, tuk-tuks and agricultural machinery such as tractors, tillers and boats will no longer be charged,” he said. “It will be cut off.”

“Từ năm tới, xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền sẽ không phải chịu thuế nữa,” ổng nói vậy đó. “Sẽ bỏ luôn.”

Trời, sao cái thằng cha Thủ Tướng Hunsen này bảnh dữ vậy cà? Tôi chưa bao giờ nghe ông Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải “tuyên bố” một câu ngon lành (bằng một phần ngàn) cỡ đó. Và qua tới “trào” ông Nguyễn Tấn Dũng thì chuyện thuế phí khiến cho cả nước đều muốn “trào máu họng” luôn:

          – NLĐ: Phí chồng phí.

          – VOV: Ra ngõ gặp trạm thu phí.

          – MTG: Kỷ lục khó phá: Gần 10 cây số có 5 trạm thu phí.

          – VOVGT: Bức xúc thu phí, tài xế dàn xe chặn huyết mạch Tây Bắc.

          – TTO: Lệ phí đăng ký mới ôtô tại TP.HCM tăng lên 11 triệu đồng/xe, gấp 5,5 lần so với trước.

          – BVSC: Vận tải biển – Đang khó khăn lại còn tăng phí.

          – TTO: Hầm chưa xong đã thu phí: hàng triệu lượt xe khi đi qua đèo Cả phải chấp nhận đóng một khoản phí   đường bộ hết sức vô lý khi hầm đường bộ đèo Cả chưa đưa vào khai thác.

          – BAB: Tăng phí công chứng các loại hợp đồng.

          – ĐSPL: Hà Nội tăng phí trông giữ xe đạp, xe máy, ô tô bắt đầu từ tháng 9.

          – VOV: Tăng phí tham quan các di tích lịch sử cố đô Huế.

          – V.J.T : Phí tham quan Vịnh Hạ Long sắp tăng gấp đôi.

Riêng chuyện “tăng phí tham quan” khiến tôi nhớ đến sự phẫn nộ của dân bản địa, ở khu du lịch Đambri. Ông K’Vếu, một người K’Ho gần 70 tuổi, đến từ huyện Bảo Lâm trút bầu tâm sự:

Ngọn thác Đambri hùng vĩ này đã ngàn đời nay thuộc về tổ tiên chúng tôi, thuộc về cha ông chúng tôi, thuộc về chúng tôi. Vùng đất Đambri xinh đẹp này đã ngàn đời nay là của chung các tộc người K’Ho, Châu Mạ. Trước đây, chúng tôi tự do vào ra Đambri, tự do hẹn hò ở Đambri, tự do tổ chức các ngày lễ ở đây, tự do đốt lửa rồi nhảy múa ca hát và uống rượu cần ở đây….

Thật đau xót và cay đắng. Họ đột ngột xuất hiện, và xây dựng lên ở Đambri này một khu du lịch mà không hỏi chúng tôi lấy một tiếng, không xin phép tổ tiên chúng tôi, ông cha chúng tôi và dĩ nhiên là cả chúng tôi nữa. Giờ đây, chúng tôi chỉ là những vị khách xa lạ trên mảnh đất đã từng rất thân quen và gắn bó với chúng tôi. Và, buồn đau thay, chúng tôi phải mua vé để chiêm ngưỡng và tận hưởng những vẻ đẹp đã từng thuộc về chúng tôi. Chúng tôi mất và họ được. Mất mát của chúng tôi quá lớn... (“Nỗi Buồn Đambri” – Tâm Don).

Tác giả bài báo thượng dẫn cũng cho độc giả biết thêm đôi chút kinh nghiệm của ông, về chuyện thu phí, khi đi du lịch ở nước ngoài:

Quần thể di sản văn hóa của nhân loại Angkor ở tỉnh Seam Reap, Cambodia là một quần thể di tích có một không hai trên thế giới. Chính quyền vương quốc Cambodia đã giao quyền bảo quản và khai thác quần thể di sản này cho một công ty tư nhân có ông chủ là một người Cambodia gốc Việt.

Vé vào tham quan quần thể di sản này rất cao. Nhưng điều lạ lùng là, trước cổng mua vé luôn có tấm bảng có dòng chữ: MIỄN PHÍ CHO NGƯỜI CAMBODIA. Người hướng dẫn viên du lịch người Cambodia gốc Việt giải thích cho những du khách Việt Nam: Miễn phí vé cho người Cambodia là một điều hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp tình thấu lý. Quần thể di sản Angkor là di sản của đất nước Cambodia, là thành tựu chung của người Cambodia...

Những người dân Châu Mạ, K’Ho – hy vọng – sẽ bớt “buồn đau” phần nào nếu biết rằng chuyện “tận thu” không chỉ xẩy ra ở Đambri. Đây là chủ trương xuyên suốt của Nhà Nước từ tuốt miền ngược xuống đến miền xuôi, không sót một nơi nào.

Báo Người Lao Động, số ra ngày 11 tháng 8 năm 2015, kêu Trời: “Đừng ‘siết’ nữa, dân khổ lắm rồi! Dự thảo với hơn 1.000 loại phí và lệ phí về nông nghiệp vừa được trình lấy ý kiến của Quốc hội làm cho bất cứ ai cũng phải giật mình. Nếu cứ mạnh tay thu phí như thế này thì người dân sẽ kiệt quệ và chẳng mấy lúc chẳng còn gì để thu.”

Ảnh: Tuổi Trẻ

Theo nguyên văn lời của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan thì chế độ hiện hành đã chuyển hướng từ “tận thu” sang “tận diệt.” Cách nói của bà khiến tôi liên tưởng đến chhuyện bắt cá (bằng điện) rất phổ biến hiện nay của người dân Việt. Họ kích điện bằng tay trong những cánh đồng hoặc sông rạch nhỏ, hay bằng ghe có hai gọng lưới  trên những dòng sông lớn.

Ghe dùng xung điện để bắt cá trên sông Sài Gòn. Ảnh & chú thích: Tuổi Trẻ

Dù giữa Biển Hồ hay trong những sông rạch lớn/nhỏ đan xen khắp xứ, tôi không hề thấy kiểu bắt cá “tân kỳ” như thế ở đất Chùa Tháp. Người Khmer không kiếm sống bằng cách tận diệt nguồn cá, và hủy hoại môi sinh. Chính phủ ở đất nước này cũng biết khoan sức dân nên không chủ trương tận thu thuế má.

Ngày 23 tháng 10 vừa qua, Hunsen đã tuyên bố cắt những khoản thuế lặt vặt đánh vào xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền…

Ở Cambodia, ít nhiều, dân chúng (cũng như những kẻ đang nắm quyền) vẫn còn đặt niềm tin vào tương lai của chế độ và đất nước. Niềm tin này, rõ ràng, không có ở  Việt Nam.

Cách đây chưa lâu, tôi nghe nhà báo Huy Đức bầy tỏ nỗi băn khoăn: “Bao giờ bằng được Campuchia?” Câu hỏi của ông e sẽ không có lời giải đáp vì dân Việt không chung hướng đi với toàn thể nhân loại.

Việt Nam hiện có khuynh hướng bước lùi. Giới lãnh đạo đang hối hả vơ vét hay ra sức tận thu, và dân chúng thì cố sức tận diệt (bất chấp sự hủy hoại môi sinh) để đáp ứng nhu cầu bức thíết cho cuộc sống hàng ngày.

Tình trạng đất nước, tuy thế, vẫn chưa lấy gì đáng lo cho lắm – theo ý kiến của TS Vũ Minh Khương:

“Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.”

“Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quý giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày…”

Tôi thực sự tán thưởng sự lạc quan của T/S Vũ Minh Khương, dù tự thâm tâm vẫn lo ngại rằng người Việt khó mà “sống xênh xang được được 20-30 năm nữa” – nếu vẫn tiếp tục phải chịu đựng cảnh một cổ ba tròng, và tình trạng tận thu cũng như tận diệt không chấm dứt nay mai.

Chuyện cục gạch của ‘Bác Hồ’

Chuyện cục gạch của ‘Bác Hồ’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện tượng khác có liên quan, có khi tương đồng nhưng có khi tương phản. Mấy hôm nay trời California trở lạnh, tôi nghĩ đến những ngày tuyết giá ở miền Đông, nơi mà tôi đã sống một thời gian mấy năm, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ đến một cái gì nóng và ấm. Thì ra tôi đang nhớ đến chuyện cục gạch của “Bác Hồ” mà tôi đã được nghe qua ở đâu đó.

Chuyện cục gạch này không phải là huyền thoại, nó cũng không là chuyện tiểu thuyết hư cấu, mà chính là chuyện thật của đời “Bác,” do chính “Bác” kể, và chính “Bác” viết thành sách, thì đương nhiên phải là chuyện thật. Tên cuốn sách là: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,” và tác giả là Trần Dân Tiên, không sai vào đâu, đó chính là “Bác.” Khổ nỗi, không ai nói cho bọn trẻ dưới chế độ XHCN biết Trần Dân Tiên “chính mi,” Hồ Chí Minh.

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết ở trang 36 về “cục gạch của Bác” như sau:

“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về mùa Đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ rét.”

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết, có thể xem qua rồi bỏ, nhưng khổ thay các con cháu của “Bác” lại cứ nhặng xị lên, làm như thật, vì cái gì của “Bác” lại không thơm tho, vĩ đại. Không rõ câu chuyện thực hư thế nào, các văn công thi sĩ cứ vung bút ca tụng lên cho có lập trường cái đã, rồi mọi chuyện tính sau.

Chế Lan Viên, chuyên viên nịnh bợ, đã viết một câu thơ chẳng ra thơ:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!”

Tố Hữu không quên “nghề của chàng” nhưng câu cuối xuống “xề” quá vụng:

“Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen
Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn
Một hòn gạch nóng nung tâm huyết
Mẩu bánh mì con nuôi chí bền.”

Sách “Bác” ghi rõ ràng là viên gạch, trước khi đi làm “Bác” bỏ vào lò bếp khách sạn, nhưng đời sau, sợ bếp khách sạn không đủ nóng, người ta lại nói “Bác” đem gửi cục gạch ở lò bánh mì. Con cháu đời sau, có người minh chứng rằng một “cục gạch hồng” không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên lầu hai nơi “Bác” ở được, tờ báo sẽ cháy và “Bác” sẽ bị phỏng tay. Một cục gạch nếu được đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá một tiếng đồng hồ.

Bác ở nhà số 9 ngõ Compoint từ ngày 14 Tháng Bảy, 1921 đến 14 Tháng Ba, 1923, mãi đến 56 năm sau, hơn nửa thế kỷ, kể cũng lạ, là khi phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt đến Paris, tìm đến thăm nơi “Bác” ở, mà tất cả hãy còn nguyên vẹn: “Một chiếc la-va-bô treo tường, có vòi nước chỉ để rửa mặt, ngay cạnh đó là một chiếc tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là một chiếc giường sắt đơn vừa đủ một người nằm. Đầu giường có một chiếc tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng…”

Báo Giáo Dục và Đào Tạo còn phịa chuyện: “Ta còn phải học Bác ở tinh thần vượt gian khổ để học tập. Thời gian Bác sống ở Paris, rất cực khổ. Bác thuê phòng trọ nhỏ trong một khách sạn rẻ tiền, mỗi buổi mai nấu cơm trong một cái sanh nhỏ đặt trên ngọn đèn dầu. Cơm ăn với một con cá mắm hoặc một ít thịt, ăn một nửa còn một nửa dành đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phó-mát là đủ ăn cả ngày.”

Ở Paris vào năm 1921, chưa có dân Việt tị nạn Cộng Sản chạy sang đông như dân Little Saigon ngày nay, mà “Bác” đã kiếm ra cá mắm để xơi nửa con, và gạo Ông Địa để nấu cơm, mà nấu cơm trên một ngọn đèn dầu, lòng tôi không thấy chút nào khâm phục “Bác” mà khâm phục người viết báo thối tha nào đã bịa chuyện kinh hoàng đến mức này.

Ông Nguyễn Trường Phú, chuyên viên Bảo Tàng Hồ Chí Minh, còn bạo gan nói rằng “hiện vật viên gạch hồng” cùng với nhiều đồ vật khác mà người thanh niên Nguyễn Ái Quốc sử dụng khi ở ngôi nhà số 9, ngõ Công-poăng, quận 17, thành phố Pa-ri (Pháp) nằm trong bộ sưu tập quý của Bảo Tàng Hồ Chí Minh.” Nhưng sau đó, thấy chuyện vô lý, ông này đã nói lại là viên gạch trưng bày ở đó hiện nay là viên gạch được phục chế trên cơ sở viên gạch đồng thời, đồng loại do ông tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn tặng viện bảo tàng!

“Năm 1974, chiếc tủ đựng quần áo, tủ con để đầu giường đã được đại sứ quán nước ta tại Pháp tổ chức lực lượng vận chuyển qua Béc-lin (Đức) bằng xe lửa, rồi gửi về nước!” Thật quá rắc rối!

Cũng không hiểu sao với chuyện nhà cửa đắt đỏ ở một thành phố lớn như Paris, mà bà chủ nhà Jammot lại để nguyên đồ đạc trong căn phòng của “anh Nguyễn” hơn nửa thế kỷ, để chờ phái đoàn Việt Cộng đi hội đàm ở Paris đến thăm và đòi mua lại. Hồ Chí Minh sinh năm 1890, hoạt động ở Paris đến năm 1921, tức là lúc ông đã 31 tuổi. Nếu bà cụ Jammot trẻ lắm thì phải trạc hay hơn tuổi “Bác,” như vậy năm 1974, bà đầm này cũng đã 84 tuổi, còn ở nguyên căn nhà ấy, còn minh mẫn để nhớ, kể chuyện vanh vách và dẫn lên tầng 2, nơi “anh Nguyễn” ở. Giá mà Bộ Chính Trị chở được bà này về Hà Nội trưng bày trong viện bảo tàng thì hay biết mấy!

“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” “là cuốn sách kể lại những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến những năm đầu trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược,” của chính một người viết để đánh bóng thân thế và sự nghiệp của chính mình. Chính “Bác” trong cuốn sách này đã tự tả vẻ “đẹp lão“của mình (vào năm 1946) “Tóc người đã hoa râm, trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng …”

Thế giới từng có chuyện suy tôn lãnh tụ, cũng có văn, thi sĩ đặt thêm bút hiệu để tự ca tụng mình, nhưng quả thật trên đời này, không ai vô liêm sỉ bằng “Bác!”

Trở lại huyền thoại “cục gạch hồng” của “Bác” người ta kể lại một câu chuyện “tếu” như sau:

“Một phái đoàn Hà Nội được thành lập, lên đường đi Paris, quyết tâm cao tìm cục gạch. Đến Pháp, họ tới ngõ làm bánh mì ngày xưa, thăm hỏi, lục lọi nhiều nơi, nhiều ngày, nhưng không ai nghe nói đến cục gạch của ‘Bác.’ Cuối cùng họ gặp một bà đầm đầu tóc bạc, móm mém ở một góc phố. Kiên nhẫn, nhân viên trong phái đoàn lập lại những câu hỏi về cục gạch.

-Các ông nói là các ông đi tìm cục gạch để sưởi ấm những đêm Đông tại nhà trọ, ngõ này của ông Nguyễn?

-Vâng ạ, chúng cháu đang tìm cục gạch đó ạ.

-Thế thì: Cục gạch, mà các ông đang đi tìm chính là… tôi đây!

Đừng tin những gì “Bác” nói và những chuyện chúng ca tụng về “Bác.”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Người Bắc gọi “bốc phét.”

Người Nam kêu “ba xạo!”

Những nỗi chia lìa

Những nỗi chia lìa
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Làm nghề truyền thông, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được điện thư của những người không quen biết ở nhiều nơi. Ngoài những chuyện trao đổi ý kiến, khen ngợi hay chê trách, nhiều lúc tôi lâm vào tình trạng khó xử về những lá thư nhờ tôi một vài việc nhỏ, mà tôi không làm được hay chần chờ không biết giải quyết, trả lời ra sao?

(Hình minh họa: Phil Eggman/US Navy)

Những bức thư này mang những hoàn cảnh khá giống nhau: “Tìm cha.” Không phải như những đứa con lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ mang về quê cha, nhưng không biết cha là ai, tác giả những bức thư mà tôi nhận được biết rất rõ về cha mình, qua lời kể của mẹ. Ngày chiến tranh chấm dứt, các em còn quá nhỏ, bây giờ 40 năm trôi qua, các em đã trưởng thành, có gia đình, nhưng có mẹ mà không có cha, các em có nhu cầu đi tìm lại người cha của mình với những lời gọi buồn thảm:

-“Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?”

– “Ba cháu tên là Nguyễn Văn Ba, cấp bậc trung úy thuộc Tiểu Khu Long An. Tháng Tư, 1975, trong cơn hỗn loạn, ba cháu xuống tàu đi Mỹ, từ ấy đến nay không có tin tức gì về với gia đình. Mẹ cháu đem con về nương náu bên ngoại, nhẫn nhục nuôi con, mong chờ tin cha, nhưng tin cha biền biệt. Nghe nói cha cháu hiện ở California, mong bác rộng lòng nhắn tin, tìm giúp ba cháu. Cháu và gia đình không quên ơn bác.” (Nguyễn Thị Hoài)*

– “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu đang còn ở trong bụng mẹ. Ba cháu là lính không quân, di tản trước khi Sài Gòn mất. Từ đó đến nay, mẹ cháu nói không có tin tức gì của ba cháu. Bà ẩn nhẫn sinh và nuôi con, lập gia đình với một người đàn ông khác và sinh ra những đứa con khác cha với cháu. Ông dượng sau này rất yêu thương cháu và rất thông cảm với hoàn cảnh của mẹ con cháu. Cháu lớn lên, hiện nay đã có gia đình và sinh hai con.

Cháu biết chuyện xưa qua lời kể của bà ngoại lúc cháu sắp đi lấy chồng. Mẹ cháu không bao giờ nhắc chuyện cũ, nhưng trong thâm tâm, cháu vẫn tha thiết muốn biết cha cháu là ai, không phải để nhờ cậy gì nhưng, ít ra cho lòng cháu khỏi ray rứt.” (Phan Thị Hoàng Oanh)*

Bức thư kèm theo chi tiết, tên tuổi, trú quán ngày trước của người đàn bà mang thai ở lại và tên của của người cha không bao giờ biết mặt của người con gái gửi thư.

Trong cơn hỗn loạn của Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi nghe Cộng Quân sắp vào, phản ứng bình thường là ai cũng mong tìm đường ra đi lánh nạn, và không ai nghĩ đến ngày một, ngày hai mình sẽ trở về, không ai có thể hứa hẹn với những người thân yêu ngày tái ngộ là bao lâu. Họ để tất cả dĩ vãng lại sau lưng, tất bật làm lại cuộc đời trên quê hương mới, học hành hay làm lụng vất vả để sống còn. Ngày tháng trôi qua, những bản tin từ quê nhà mỗi ngày mỗi xấu đi, và nỗi sum họp hay trở về hầu như tan biến. Có những người chung thủy, sắt son nhưng cũng có những người yếu đuối, buông xuôi trong dòng đời xô đẩy, và thời gian không dừng lại để chờ đợi ai. Những người bạn của tôi đã có công ăn việc làm, lập gia đình mới, sinh con đẻ cháu, những đứa con ra đời nơi đây đã thành đạt, dưới một mái nhà hạnh phúc.

Tôi nghĩ là họ không bao giờ quên chuyện cũ, nhưng đã không một lần nói ra thì không bao giờ có cơ hội nói lại. Nếu đây hẳn không là một điều tội lỗi thì họ cũng có những giấc ngủ không yên, một nỗi lo sợ ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại, một thứ hạnh phúc mong manh, không an toàn.

Ở trường hợp này, có thể nào tôi đi tìm họ, người sĩ quan hay người lính không quân đã bỏ lại những đứa con hay cái bào thai trong bụng người yêu, để nói với những người này những sự thật mà không bao giờ họ muốn nghe hay sợ hãi nếu phải nghe.

Tôi không sống qua những khoảnh khắc của đời họ, với những định mệnh bất ngờ và lo toan của riêng mỗi người. Tôi cũng không muốn đem lại một thảm họa cho những người bạn này, mà hạnh phúc họ đã vun xới trong vài chục năm qua, bỗng nhiên đổ vỡ.

Nếu bạn là họ, giờ đây bạn phải cư xử như thế nào.

Nếu bạn là người phụ trách phân xử trong hội đồng gia tộc, trong họ hàng hay đang là người phụ trách “Gỡ Rối Tơ Lòng,” “Giải Đáp Tâm Tình,” cho một đại nhật báo có uy tín nhất, hay bạn là bà Tùng Long ngày xưa, hay là quý bà Phillips của Dear Abby để cho tôi xin một lời khuyên, một lời khuyên tốt đẹp của đôi bề, không làm tổn thương hạnh phúc của một ai.

Tôi sẽ nói gì với những đứa con đi tìm cha đã viết thư cho tôi.

Cứ xem như cha cháu không còn nữa. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều gia đình hy vọng hay tưởng chồng mình đã lên được một con tàu nào đó để ra đi và mỗi ngày họ hy vọng có một tin tức hay một lá thư trở về. Nhưng sự thật, trên con đường vượt thoát, trong bom đạn, họ đã nằm lại trên một mảnh đất quê hương hay một bờ biển nào đó. Đó là trường hợp một quân nhân của Sư Đoàn 1, gia đình tưởng đã lên một con tàu nào đó ở Thuận An để ra đi, nhưng cuối cùng, 30 năm sau, người ta tìm thấy xương cốt của ông trên bãi biển An Dương cùng với đồng đội của mình.

Hay là tôi sẽ nói sự thật, là cha cháu còn sống, nhưng ông đã có một mái ấm gia đình khác, giàu có, thành đạt nhưng có thể không hạnh phúc, nếu mỗi khi ông nghĩ đến mối tình xưa và giọt máu của mình không biết giờ này ra sao, sống chết, phiêu bạt nơi nào? Nếu nói đến một người đang ray rứt khổ đau, thì người đó chính là ông, người cha mà con đang tìm kiếm, chứ không phải đó là mẹ của con hay chính là con.

Rồi ra, khi lớn lên, va chạm với những nghịch cảnh của cuộc đời, thấu hiểu số mệnh, con sẽ hiểu.

Chúng ta lên án ai bây giờ? Một người đàn ông phụ bạc hay là một người đàn bà không có lòng rộng lượng.

Chúng ta lên án chiến tranh, có hàng triệu nạn nhân, trong đó có mẹ, có cha cháu, và hiện nay là cháu.

Ở những đất nước bình an trên thế giới, không bao giờ nghe tiếng đạn bom, ít xảy ra những cuộc đổ vỡ, chia lìa, chết chóc như quê hương của chúng ta. Mang số phận Việt Nam, ở đó, đã có bao nhiêu nấm mồ chôn vội, bao nhiêu vành khăn tang, bao nhiêu nạng chống, bao nhiêu đứa trẻ không cha, và những người quả phụ, mất chồng khi chưa qua tuổi đôi mươi.

Nếu đêm nay cháu không ngủ, thao thức nghĩ đến một người cha không bao giờ biết, không bao giờ gặp, thì người cha ấy chắc cũng không tròn giấc, có khi lòng như lửa đốt, trên chăn êm, nệm ấm mà nghĩ như trên gai nhọn hằng đêm.

Có thể câu chuyện mà cháu nhờ đến tôi, tôi không bao giờ giúp cháu được.

Dù xót xa, tôi nghĩ rồi ra cháu sẽ hiểu, sẽ tha thứ và sẽ quên.

(*) Tên, tuổi, thông tin của những người trong cuộc đã được thay đổi.

Việt Nam không thể khác với Miến Điện

Việt Nam không thể khác với Miến Điện

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

Bản đồ Miến Điện và Việt Nam (minh họa)

Bản đồ Miến Điện và Việt Nam (minh họa)

File photo

Miến Điện cuối cùng sau 53 năm đã giành được quyền phổ thông đầu phiếu để bước tới một nền dân chủ mà người dân của họ mơ ước. Còn Việt Nam, với chính phủ hiện tại và điều 4 hiến pháp khẳng định sự cai trị duy nhất của đảng có thể áp dụng bài học Miển Điện được không? Mặc Lâm phỏng vấn GS Tương Lai, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu Xã Hội Việt Nam để biết thêm ý kiến một đảng viên lão thành của Đảng cộng sản Việt Nam trước câu hỏi này. Trước tiên GS Tương Lai cho biết:

Giáo sư Tương Lai:Đây là một tin vui lớn vì Miến Điện rất gần gũi với Việt Nam và bối cảnh của Miến Điện trong thời gian trước đây cũng ở trong một thể chế độc tài, phản dân chủ, mà trong chừng mức nào đó, nó lại còn gay gắt hơn Việt Nam. Thế nhưng, khi mà ông Then Sein có một chuyển đổi khiến người ta dùng từ “một chuyển đổi vĩ đại”.

Vì đấu tranh cho tự do dân chủ đã khó, tự giác “cho không” quyền tự do dân chủ còn khó hơn. Sự thật, trong lịch sử nhân loại thì chưa có nhà độc tài nào “cho không” quyền tự do dân chủ, kể cả khi đã nằm yên trong nấm mồ. Lúc mà ông ta quyết định như vậy thì sức mạnh cũng vẫn còn nằm trong tay ông ấy chứ không phải ông ấy đã bị tước hết trước một cái áp lực nào ( mà đương nhiên là có rồi) nhưng thực ra nếu ông ta vẫn kiên trì chế độ toàn trị phản dân chủ, chế độ quân phiệt thì chắc cũng là khó khăn. Nếu tiến đến dân chủ, bà Aung Shan Suu Kyi cầm quyền được hay là đảng của bà lên được thì có khi máu sẽ chảy thành sông. Tuy vậy, ông Then Sein nhận thức được cái xu thế không thể nào thay đổi và ông ấy cũng nhận thức được áp lực từ phía nhân dân lên chính quyền của ông, lên thể chế phản dân chủ của ông cho nên ông đã có một quyết định mà tôi nghĩ là vĩ đại.

Ông Then Sein thoát ra khỏi vòng kim cô, ra khỏi áp lực của TQ, theo chỗ tôi biết thì đường biên giới của Miến Điện với TQ còn dài hơn gấp hai lần đường biên giới giữa Việt Nam và TQ

Giáo sư Tương Lai

Mặc Lâm: Như chúng ta đã biết, Miến Điện đã rất mạnh mẽ để chặt đứt mối quan hệ lệ thuộc đối với Trung Quốc cho nên ông Then Sein mới có thể giải quyết được những gì mà ông ấy và đồng minh của ông ấy muốn. Tuy nhiên, với Việt Nam thì vừa qua, vấn đề đón Tập Cận Bình đã cho thấy là lãnh đạo Việt Nam không muốn rời bỏ mối quan hệ với TQ. Như vậy thì làm cách nào ạo được biến chuyển trong khi TQ vẫn muốn Việt Nam trong tình trạng như vậy?

Giáo sư Tương Lai: Ông Then Sein thoát ra khỏi vòng kim cô, ra khỏi áp lực của TQ, theo chỗ tôi biết thì đường biên giới của Miến Điện với TQ còn dài hơn gấp hai lần đường biên giới giữa Việt Nam và TQ. Áp lực của TQ do lính đánh thuê TQ nhân danh đảng Cộng sản Miến Điện nằm áp sát vào biên giới đó và vẫn tiếp tục đe dọa bằng vũ lực liên miên trong hàng chục năm. Đến bây giờ, bối cảnh đã thay đổi và áp lực đó bị đẩy lùi.

Không đẩy lùi được cái này, không cắt đứt cái vòi bạch tuộc của TQ thì dù ông Then Sein có muốn cũng không làm được. Trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, tôi biết rằng người ta cũng hiểu rất rõ trong cái tâm thế của người Việt thì theo Tàu là nhục nhã lắm, là tội đồ của lịch sử. Bây giờ ghét ai là cho là “thắng ấy thân Tàu”. Không phải là họ không điều đó đâu mặc dầu là họ bị lừa bịp bằng cái ý thức hệ XHCN; Vì vậy mới có Thành Đô nhục nhã và tai hại.

Cho đến hiện nay càng ngày càng thấy rõ rồi nhưng họ chưa đủ bản lĩnh vì họ còn sợ con “ngáo ộp” Tập Cận Bình, con “ngáo ộp” TQ cho nên không phải là chúng không lung lạc được một số người trong đội hình lãnh đạo Việt Nam đâu. Vì vậy, áp lực đó đang dồn vào trước cái thềm đại hội XII. Hiện nay, cho đến giờ phút này, người ta đang chờ đại hội trung ương XIII và không biết sau hội nghị XIII có còn hội nghị trung ương XIV không? Đại hội XII có họp được không là tùy thuộc vào bản lĩnh của những người lãnh đạo Việt Nam tách ra khỏi cái vòng kim cô, sức trói buộc của Tàu đến đâu.

Mặc Lâm: Thưa giáo sư, ai cũng thấy tập hợp giữa bà Aung Shan Suu Kyi và ông Then Sein đã làm nên lịch sứ cho Miến Điện. Tuy nhiên, muốn có một Then Sein ở Việt Nam mà không có Aung Shan Suu Kyi thì làm sao được, thưa ông?

Giáo sư Tương Lai: Mỗi một nước có một bước đi riêng của mình. Anh nhìn xem quá trình của sự sụp đổ của khối Xô Viết, mở đầu bằng Gobachov đến một anh say rượu là Yelsin, rồi đến anh độc tài Putin. Có ai ngờ được những bước đi như thế đâu. Không ai ngờ cả. Hồi ấy, cách đây đến 20 năm, trên một chuyến xe đi từ Phú Thọ về dừng lại trước cửa tòa báo Nhân Dân, lúc bấy giờ tôi còn nói với ông Đức Lượng là Phó Tổng biên tập và ông Đinh Thế Huynh là cán bộ đi theo ông Đức Lượng, tôi nói “báo Nhân Dân các ngài chửi ông Gorbachyov ít thôi. Rồi đây phải đúc tượng đồng, bia đá cho người ta đó”.

Đòi Việt Nam cũng có một Aung Shan Suu Kyi thì tôi thấy Aung Shan Suu Kyi đã nằm trong 90 triệu người Việt Nam đó! Nằm trong sự phẫn nộ của những người Việt Nam vì chế độ toàn trị này ở Việt Nam đã làm cho đất nước lụn bại, không đi lên được

Giáo sư Tương Lai

Các ông này trợn tròn mắt lên và nói “tại sao anh nói sai về nghị quyết Bộ chính trị?” Tôi nói là rồi đây sẽ được chứng minh, lịch sử sẽ trả lời cho các anh biết. Những cái chuyện mà các anh phân tích đó nó không đúng với xu thế chung đâu. Từ hồi ấy đến nay đã hơn 20 năm. Lịch sử nó đi chậm chạp đến như thế.

Đùng một cái, với sự kiện như Miến Điện thì tôi cho là lịch sử sẽ như bước nhảy thúc đẩy. Vậy thì đòi Việt Nam cũng có một Aung Shan Suu Kyi thì tôi thấy Aung Shan Suu Kyi đã nằm trong 90 triệu người Việt Nam đó! Nằm trong sự phẫn nộ của những người Việt Nam vì chế độ toàn trị này ở Việt Nam đã làm cho đất nước lụn bại, không đi lên được. Đã làm cho đất nước này trở thành một trong những đất nước lạc hậu nhất trong khu vực. Khi đã có một ngòi nổ ở Miến Điện như thế, có một tấm gương của tổng thống Then Sein, có một tấm gương của Aung Shan Suu Kyi thì ở Việt Nam sẽ tạo ra các nhân tố mới. Tất cả những cái đó đều nằm trong nội dung của lòng phẫn nộ và trong qui luật phát triển của lịch sử. Không có gì thay đổi được đâu.

Mặc Lâm: Vâng, một lần nữa xin cảm ơn giáo sư Tương Lai đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn ngày hôm nay.