Suy Nghĩ “Hai Biển Hồ”,

Suy Nghĩ “Hai Biển Hồ”,

Palestina có tới hai biển hồ…

Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêa. Ðây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Xung quanh hồ này là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi. Nhà cửa cũng mọc lên rất nhiều xung quanh biển hồ này… Chúa Giêsu đã gặp gỡ với những người môn đệ đầu tiên của Ngài tại đây và Ngài cũng nhiều lần đi thuyền xuyên qua biển hồ này.

Biển hồ thứ hai tại Palestina là Biển Chết. Ðúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi mà người cũng có thể trở thành bệnh hoạn nếu uống phải. Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên khiến không ai muốn sống gần đó.

Bien chet

Dead Sea

Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển hồ Galilêa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galilêa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ khác, nhờ đó nước của nó luôn luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muôn thú cũng như con người.

Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho nó do đó nước của nó trở thành mặn chát và hôi thối.

Thánh Phaolô đã ghi lại lời vàng ngọc của Chúa Giesu như sau: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Thật ra, càng trao ban, người ta càng nhận lãnh trở lại nhiều hơn.

Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan. Một vết dầu thả lỏng là một vết dầu loang. Ðôi môi có hé mở mới thu nhn đưc nhiều n cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng…

Càng trao ban, càng được nhận lãnh: đó là một định luật sống của con người trong mọi lĩnh vực. Tất cả con người chúng ta, tất cả sự sống của chúng ta, tất cả tài năng của chúng ta, tất cả những gì chúng ta có: tất cả đều do Chúa ban tng. Thiên Chúa ban tặng tất cả cho chúng ta để chúng ta trao ban cho người khác và như vậy, chúng ta mới cảm nhận được hạnh phúc đích thực… Cũng như biển hồ Galilêa tiếp nhận nước từ dòng sông Jordan để rồi ban tặng cho những sông lạch xung quanh và nhờ đó, trở thành trong xanh tươi tốt, cũng thế, sự sống chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa chỉ trở thành tươi tốt nếu nó được chia sẻ và trao ban cho người khác.

Càng giữ lấy riêng cho mình, sự sống trong chúng ta sẽ héo tàn và chết dần chết mòn. 

S.T.

DEAD SEA

Bien chet 2

TS Lê Đăng Doanh: Tối hậu thư cải cách

TS Lê Đăng Doanh: Tối hậu thư cải cách

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-02-23

Nghe hoặc Tải xuốngPhần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10257025-622.jpg

Báo cáo Viet nam 2035 vừa được Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim công bố trong cuộc họp báo sáng 23/2/2016 tại Hà Nội.

AFP

Thách thức cải cách chính trị và kinh tế

Báo cáo Việt Nam 2035 vừa được Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim công bố trong cuộc họp báo sáng 23/2/2016 tại Hà Nội. Đây là sáng kiến chung giữa World Bank và Chính phủ Việt Nam theo đó Việt Nam sẽ phải thực hiện cải cách lớn ở ba trụ cột, thứ nhất là thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường. Thứ hai, Công bằng và hòa nhập xã hội có nghĩa bình đẳng cho mọi người và thứ ba là Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Nếu thực hiện được những cải cách vừa nêu thì hy vọng tới năm 2035, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt từ 15.000 tới 18.000 USD tương đương người Malaysia ở thời điểm 2010. Để đạt tới mục tiêu này Việt Nam sẽ phải vượt qua thách thức cải cách chính trị và kinh tế đồng bộ và sâu rộng.

Nam Nguyên phỏng vấn TS Lê Đăng Doanh, Thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương trong khi ông đang dự một Hội nghị ở TP.HCM. Trước hết TS Lê Đăng Doanh phát biểu:

TS Lê Đăng Doanh: Sáng nay 23/2 Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế và nếu như những điều đó được giới lãnh đạo được Đại hội 12 đã bầu ra thực hiện, thì Việt Nam với tiềm năng của mình hoàn toàn có thể đạt được những tiến bộ như đã đề ra. Nếu như công cuộc cải cách không vượt qua được sự cản trở của nhóm lợi ích và không tự minh vượt qua được những ràng buộc mà mình tự buộc mình vào, tự hạn chế mình thì Việt Nam sẽ ngày càng bị tụt hậu xa hơn.

Tôi nghĩ rằng, báo cáo đó là nguồn khích lệ và sẽ là một trong những thách thức rất là nghiêm túc để Việt Nam có thể vươn lên được.
-TS Lê Đăng Doanh

Sáng nay ông Chủ tịch Ngân hàng Thế giới cũng có nói, vào những năm 1960 người ta đánh giá Hàn Quốc là một đất nước không hy vọng gì, không xứng đáng để nhận bất kỳ một sự trợ giúp nào. Vậy mà bây giờ Hàn Quốc vượt lên như thế và bây giờ Việt Nam có thể lại đưa ra một chứng minh, một ví dụ điển hình là Việt Nam có thể vươn lên mạnh mẽ. Tôi nghĩ rằng, báo cáo đó là nguồn khích lệ và sẽ là một trong những thách thức rất là nghiêm túc để Việt Nam có thể vươn lên được.

Nam Nguyên: Theo tình hình sau Đại hội Đảng 12 và dưới quyền lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân vật được cho là rất bảo thủ thì liệu có thể chấp nhận những cải cách như thế này hay không, giữa khi Dự luật Biểu tình đã bị các Bộ ngành phản đối cho là đổi mới chính trị quá, mặc dù đây là qui định Hiến pháp. Như vậy vướng mắc của Việt Nam phải cải cách ở ba trụ cột có là thách thức phải thay đổi thể chế dân chủ hay không ?

TS Lê Đăng Doanh: Tôi thấy ông Đinh La Thăng làm Bí thư Thành ủy TP.HCM thì cũng tạo ra được một số đột phá nhất định. Tôi hy vọng rằng, trước những sức ép, trước những đòi hỏi mà năm 2016 này đã là những đòi hỏi rất là gay gắt. Chúng ta chứng kiến việc cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, chúng ta đang chứng kiến hiện tượng khô hạn và xâm nhập của nước mặn đã gây tác động mạnh mẽ đến đồng bằng sông Cửu Long, thì tôi nghĩ trước tình hình này sẽ có những biện pháp rất mạnh mẽ đột phá để nâng cao năng lực của bộ máy, để phát huy nhân tài, phát huy sự sáng tạo, phát huy vai trò của các doanh nghiệp dân doanh. Tôi hy vọng trước các sức ép, dân tộc Việt Nam lại có sự vươn lên mạnh mẽ.

Nam Nguyên: Cải cách nêu ra ở cột trụ thứ nhất là thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường, cũng có đề cập tới những Bất cập về quyền sở hữu tài sản, bất công trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và tiếp cận thông tin của người dân, đặc biệt vấn đề sở hữu đất đai. Theo TS những cải cách này có quá lớn không ?

TS Lê Đăng Doanh: Vâng, đúng là Việt Nam hiện nay cần phải bảo đảm qui định pháp lý rõ ràng hơn nữa về quyền tài sản đối với đất đai và người dân. Hiện nay người nông dân chỉ có quyền sử dụng còn quyền sở hữu thì đấy là sở hữu toàn dân. Nhưng mà sở hữu toàn dân là ai thì đấy là một trong những điều chưa được rõ ràng. Bởi vì sở hữu luôn luôn phải là một người cụ thể, một pháp nhân rõ ràng thì mới có thể thực hiện được quyền sở hữu đó. Chứ còn bây giờ toàn dân sở hữu thì điều ấy không rõ ràng. Ngoài ra việc bảo hộ các quyền về tài sản cũng là một trong những vấn đề lớn. Nếu như mà không có sự bảo hộ một cách rõ ràng về pháp lý quyền tài sản thì chúng ta thấy doanh nghiệp Việt Nam sẽ không lớn lên được. Người ta sẽ ngại trở nên giàu có, có nhiều tài sản, bởi vì nếu như những tài sản đó không được pháp luật bảo hộ một cách rõ ràng thì tài sản đó có thể bị xâm phạm bị mất đi. Đấy là những thách thức mà Việt Nam cần phải giải quyết trong thời gian tới.

Vì vậy vấn đề cải cách bây giờ trở nên một vấn đề hết sức cụ thể và bước đi cũng rất là rõ ràng chứ không phải là trừu tượng được.
-TS Lê Đăng Doanh

Nam Nguyên: Thưa TS, có khả năng giải quyết vấn đề này hay không, khi vẫn còn vướng mắc như Hiến pháp vào kỳ sửa đổi 2013 đã không thực hiện được?

TS Lê Đăng Doanh: Trong công cuộc cải cách thì bao giờ cũng có những ý kiến khác nhau. Nhưng tôi thấy ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gần đây đã có những đòi hỏi rất rõ ràng và phía Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng có những đòi hỏi rõ ràng về Luật Biểu tình, cũng như là có những ý kiến về việc phải khắc phục bộ máy công kềnh, những thủ tục giấy phép… và ông ấy đã dùng những ngôn từ rất là mạnh mẽ. Tôi hy vọng rằng sau khi đã có những ý kiến khác nhau thì cuối cùng Hiến pháp 2013 sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng với tinh thần và lời văn của Hiến pháp là bảo đảm các quyền tự do của người dân về tự do ngôn luận, quyền biểu tình về những quyền như đã được quy định trong Hiến pháp.

Nam Nguyên: Thưa, nhiều chuyên gia đã từng nói không cải cách chính trị song hành thì không thể cải cách kinh tế. Có thể nào Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị hay không ?

TS Lê Đăng Doanh: Việt Nam đã cải cách kinh tế và cũng có một số chuyển biến nhất định trong cải cách chính trị, như vai trò của Quốc hội đã được tăng lên và đã có những nỗ lực nhất định trong hội nhập quốc tế. Nhưng bây giờ tình hình về hội nhập quốc tế đã trở nên rất cụ thể, như Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP đã qui định rất rõ về những quyền về Internet, về sự công khai minh bạch về sự cạnh tranh bình đẳng…. Và nếu như Việt Nam không thực hiện nghiêm túc những cam kết đó thì Việt Nam sẽ không được hưỡng những ưu đãi về mặt thương mại như giảm thuế quan…v..v..

Vì vậy vấn đề cải cách bây giờ trở nên một vấn đề hết sức cụ thể và bước đi cũng rất là rõ ràng chứ không phải là trừu tượng được. Ví dụ như theo Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP thì đến năm 2018 thời gian thông quan qua các cảng của Việt Nam là 48 tiếng đồng hồ. Trong khi đó theo Nghị quyết 19 của Chính phủ ngày 12/3/2015 thời gian thông quan là 10 ngày. Như vậy chúng ta thấy khoảng cách từ 10 ngày xuống 48 giờ là một khoảng cách khá xa và được qui định rất cụ thể rồi, cho nên Việt Nam cần phải cải cách một cách rất mạnh mẽ.

Nam Nguyên: Cảm ơn TS Lê Đăng Doanh đã dành thì giờ trả lời phỏng vấn.

NHỊN NHỤC HAY THA THỨ CŨNG ĐỀU GIÚP CON NGƯỜI SỐNG TRONG BÌNH YÊN

NHỊN NHỤC HAY THA THỨ CŨNG ĐỀU GIÚP CON NGƯỜI SỐNG TRONG BÌNH YÊN

(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Sự nhịn nhục và tha thứ nói thì dễ nhưng đã mấy ai làm được?.   Nếu được thì đất nước luôn được thanh bình, người dân luôn sống hiền hòa, gia đình êm thắm và chính bản thân ta cũng sẽ luôn là người tốt lành; chậm giận, dễ cảm thông và dễ tha thứ cho người.

Sự nhịn nhục và tha thứ cho người, cần lắm được học hỏi và luyện tập từ nơi gương gia đình và từ thưở còn bé.   Nếu không thì là phải do kinh nghiệm trải đời của một người gặp từ hết thất bại này cho đến thất bại khác nhất là người ấy lại được bọc kỹ lưỡng như hạt ngọc hay viên kim cương quý bởi xuất thân từ con nhà giầu.   Hay do lời khuyên nhủ dạy dỗ của ai đó mà người ấy phải kính phục và hết lòng tin tưởng.

Chớ ai thuở nhỏ cũng được học câu “Một sự nhịn, chín sự lành” hay  “Uốn lưỡi trước 10 lần hẵng nói” đều là lời hay ý đẹp dạy cho ta biết Nhịn Nhục.   Ai từng trải đời, ở tuổi xế chiều, hay cuộc đời ít khi được theo điều mong muốn đều học được sự Nhịn Nhục là cần thiết và là bửu bối đem lại sự thành công cho hết thảy mọi người.   Do đó nếu ai sớm học được và thực hành được điều Nhịn Nhục này thì bảo đảm cuộc đời sẽ dễ thở hơn, bình an hơn và không cần lắm để tranh dành với người qua cách phải làm hại nhau đâu.   Do vì không Nhịn được cái Nhục nên con người cứ phải thách thức nhau để dẫn đến sự ẩu đả đến người thì bể đầu, người thì gãy xương thưa có phải?.

Hy vọng trong Mùa Chay chúng ta nên vì bản thân đáng được hưởng sự bình an trong tâm hồn thì cố gắng học được sự Nhịn Nhục và Tha Thứ để Thiên Chúa trên cao cũng nhịn nhục và tha thứ tội lỗi cho chúng ta cách dễ dàng.   Vì ta đong đấu nào cho ai thì Thiên Chúa cũng đong lại cho ta đấu ấy nhưng nếu là đấu tốt lành thì Thiên Chúa sẽ ban thưởng cho ta gấp đôi hay gấp bội lần điều tốt lành mà ta đã làm cho anh chị em ta.

Và có phải điều gì Chúa dạy trước hết là cho sự tốt lành nơi chính chng ta? Và sự tốt lành ấy nó sẽ như hoa quả tốt tươi để chúng ta có thể để lại cho người và cho đời sau này được hưởng dùng.   Nếu như chúng ta là người có lương tâm thì sẽ luôn muốn gieo hạt tốt vào lòng đất thì chính ngay tại đời này chúng ta cũng sẽ được hưởng dùng những hoa trái tốt lành mà chúng ta đã gieo và nhờ đó Thiên Chúa cũng sẽ thưởng ban cho chúng ta những hoa quả không bao giờ hư nát, ở đời sau trên Nước Trời.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

23 tháng 2, 2016

TÂM SỰ MÙA CHAY

TÂM SỰ MÙA CHAY

 Trầm Thiên Thu

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng tự vấn: “Tôi là ai mà còn trần gian quá?”  Vâng, tôi chẳng là gì, chỉ là hư vô, có chăng chỉ là một “hạt bụi” nhỏ nhất mà tôi đã làm xốn mắt Thiên Chúa!

Gói thuốc lá nằm trên bàn viết trước mặt tôi.  Những đầu ngón tay ám vàng.  Đã bao lần hứa với lòng mình và người thân mà tôi vẫn chưa dứt bỏ hẳn được, dù vẫn biết “hút thuốc có hại cho sức khỏe.”

Chiều xuống mang đầy sắc tím – sắc màu sám hối.  Chợt nhớ câu: “Hãy xé lòng, đừng xé áo” (Ge 2:13).  Tiếng Chúa hóa thành tiếng lòng cứ mãi thôi thúc tôi không nguôi.  Tôi không thể không trở về gặp chính mình trước khi gặp Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá.

Nếu ăn chay là kiêng thịt và nhịn đói thì quá dễ, vì tôi thường xuyên làm việc đó, dù có thể chỉ miễn cưỡng làm theo hoàn cảnh “ép” tôi làm một cách vô thức.

Nếu ăn chay là “giữ miệng,” tôi cũng không phải chiến đấu nhiều, vì cả ngày tôi chỉ “trò chuyện” với cây bút và trang giấy.  Vả lại, tôi thường chẳng muốn tranh chấp gì với bất kỳ ai – dù là điều nhỏ.

Nếu ăn chay là giao hòa với tha nhân trước khi giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời biết rộng lượng hơn.  Điều này cũng chẳng khó đối với tôi.  Biết phận mình thế nào, tôi không phiền gì ai – dù nhìn bề ngoài “nghiêm”, và thường “bị” người ta cho tôi là… “khó tính”!

Nếu ăn chay là hãm dẹp bớt đam mê thì đối với tôi lại nan giải.  Thế mới hay “khi ta mạnh lại là lúc ta yếu.”  Tôi cứ tự biện hộ và chiều chuộng mình vô cớ nên hút thuốc lá nhiều đến nỗi đã trở thành thói quen, hút theo phản xạ – vui cũng hút, buồn cũng hút, no cũng hút, đói cũng hút, rảnh cũng hút, bận cũng hút, ngày cũng hút, đêm cũng hút, hút theo kiểu nói “điếu này vừa hạ rộng, điếu kia đã động quan” – hút quá nhiều và trở thành cố tật!

Ngày xưa, tôi có dạy lớp tình thương.  Thấy họ có loại “cao dán cai thuốc” và tôi đã xin họ.  Họ nói loại này dán vào bất kỳ nơi nào trên cơ thể, mỗi ngày một miếng, dùng bảy ngày thì sẽ “sợ” thuốc lá – nghĩa là khi hút thuốc hoặc ngửi mùi thuốc thì “người cai” sẽ cảm thấy khó chịu hoặc buồn nôn gì đó.  Sau một tuần “cai nghiện”, tôi càng thèm (vì “nhịn” lâu), tôi mua MỘT điếu duy nhất và… thử hút xem sao. Rít một hơi, rồi hai hơi, ba hơi… không thấy phản ứng gì, thế là tôi “an tâm” hút tiếp vô tư.  Thật tồi tệ! Bỏ một thói quen (dù nhỏ) cũng không dễ chút nào.

Một lần nữa Mùa Chay lại về.  Tôi mở lại “trang lòng” mình để gột rửa.  Con người tưởng là mạnh mẽ mà quá yếu đuối.  Thật đúng như Đại đế Napoléon đã nói: “Chiến thắng một đạo quân còn dễ hơn chiến thắng chính mình.”  Với Ơn Chúa, tôi hy vọng có thể dứt bỏ thêm một vài tật xấu riêng nào đó để có thể “giữ chay” theo đúng Tôn Ý Thiên Chúa.  Thoát khỏi “xiềng xích” của một thói xấu nào đó, dù chỉ là thói xấu bình thường, dù không hề vi phạm Luật Chúa và Luật Giáo hội, người ta cũng vẫn cảm thấy “nhẹ mình.”

Xin tẩy rửa tâm hồn con, lạy Chúa, Đấng thương con trọn vẹn từ thuở hồng hoang đến muôn đời, xin cho con cùng CHẾT và được SỐNG LẠI với Ngài.  Con thâm tín rằng tội lỗi con dù có thắm như son và đỏ như máu, ân tình Ngài vẫn tẩy sạch con nên trắng ngần như bông, như tuyết.  Con thật hạnh phúc vì có một “Thiên Chúa là tình yêu” (Ga 4:8).

 Trầm Thiên Thu

******************************

Chúa bị đóng đinh và sống lại,

Xin dạy chúng con đương đầu với những đấu tranh hằng ngày,

để chúng con sống trọn vẹn hơn.

 

Chúa đã đón nhận những thất bại trong đời người,

như nỗi đau khổ trên thập giá,

với lòng khiêm tốn và nhẫn nại,

xin cho chúng con biết đón nhận

những nhọc nhằn và đấu tranh mỗi ngày

như những dịp để lớn lên và giống Chúa hơn.

 Xin cho chúng con biết đương đầu với những thử thách đó

với lòng kiên nhẫn và bạo dạn,

vì được Chúa nâng đỡ.

 Xin cho chúng con hiểu rằng

chúng con chỉ sống trọn vẹn

khi chấp nhận từ bỏ mình luôn luôn,

với những thèm muốn ích kỷ.

Vì chỉ khi chết với Chúa,

chúng con mới sống lại với Chúa.

 Từ nay, xin cho chúng con đừng bao giờ đau khổ và khóc than

đến mức quên mừng rỡ vì Chúa đã sống lại !

Chúa là mặt trời rực rỡ của tình yêu Chúa Cha,

Chúa là hi vọng hạnh phúc muôn đời,

Chúa là ngọn lửa tình yêu sáng rực.

Ước gì niềm vui của Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta

Và liên kết chúng ta trong sự bình an, hiệp nhất và tình thương.  Amen.

 Hiền Hòa chuyển dịch

Nữ sinh Huế và nạn bạo lực học đường

Nữ sinh Huế và nạn bạo lực học đường

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-02-21

VTT.jpg

Bài viết trên báo Dân Việt trích lời cô Phạm Thị Ngọc Tâm, hiệu trưởng trường Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân: “Không đánh nhau sẽ không năng động”.

Screenshot of danviet.vn

Your browser does not support the audio element.

Tại thành phố Huế hôm thứ Năm 18 tháng 2, một nữ sinh Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân bị năm sáu bạn gái cùng trường xúm vào đánh đấm tới tấp trong lúc những học sinh khác chỉ đứng nhìn chứ không can thiệp.

Đây là lần thứ hai khi mà âm vang vụ nữ sinh đánh nhau lần trước ở Trung Học Cơ Sở Trần Phú, thành phố Huế, chưa kịp lắng xuống trong lòng mọi người.

Tin tức vừa nêu được các báo trong nước như tờ Thanh Niên hay tờ Dân Việt đăng lên với hình ảnh, thậm chí cả video clip cận cảnh năm sáu cô gái vừa chửi vừa đánh vừa đá vào mặt làm nạn nhân ngã bệt xuống đất, trong lúc bao nhiêu học sinh khác vây quanh chỉ đứng nhìn.

Đến khi giám thị của trường hay tin và chạy ra thì nhóm nữ sinh hung hăng kia đã tháo chạy sau khi có người la to là công an tới.

“Trường Bùi Thị Xuân là một trường vừa nam vừa nữ chứ không phải chỉ riêng là trường nữ. Hiện tượng nữ sinh đánh nhau không phải là trường hợp phổ biến ở Huế đâu. Nề nếp của người Huế mình thì đa số vẫn còn giữ được gia phong, tính cách của phụ nữ là dịu dàng và nhẹ nhàng , thấy như vậy thì thật sự cũng đau lòng.”

Thế giới bây giờ của bọn trẻ, không biết vì mạng xã hội nó mạnh quá, rồi an sinh xã hội, giáo dục không được tốt. Bây giờ thấy hắn hư hỏng quá mà không biết nguyên nhân do đâu nữa.
– bà Tuyết

Bà Thanh Nhã, cư dân Huế, đang trông coi Quán Cơm Xã Hội dành cho sinh viên học sinh nghèo trong thành phố:

“Có lẽ là do hiện trạng xã hội, có những cái nó làm biến đổi đi tính cách của nữ sinh Huế. Mình nghĩ cũng nên nhìn lại sự giáo dục của học đường cũng như là tác động của xã hội, tác động của gia đình đối với những con em của mình, mình phải nhìn lại.”

Theo một phụ huynh là bà Tuyết, chủ nhân nhà sách Hồng Đức, mọi người gần như bị sốc vì chuyện hai lần nữ sinh Huế sinh sự đánh nhau không nể nang ngay trước cổng trường. Nguyên nhân được báo chí nêu ra là do chuyện yêu đương cũng như xuất phát từ mâu thuẫn đã có trước đó. Tình trạng nữ sinh ngang nhiên thượng cẳng chân hạ cẳng tay trước mặt bạn bè, bà Tuyết nói tiếp, là tiếng chuông cảnh báo đối với những ai lơ là trong việc chăm sóc dạy dỗ con cái:

“Đây là nỗi đau của thế hệ bọn mình nhìn về thế hệ sau. Nhưng mà khi mình hỏi ra thì ba mẹ của em gái đó đi làm ở Lào, giao em lại cho ông bà ở đây, thì họ không có trách nhiệm chi hết trơn.

Mà cái thế giới bây giờ không còn thơ mộng, lãng mạn, nhẹ nhàng và dễ thương như hồi xưa của bọn mình. Thế giới bây giờ của bọn trẻ, không biết vì mạng xã hội nó mạnh quá, rồi an sinh xã hội, giáo dục không được tốt. Bây giờ thấy hắn hư hỏng quá mà không biết nguyên nhân do đâu nữa. Nếu con mình bị lôi kéo vô những trường hợp như rứa thì mình rất là đau lòng.”

Cùng với sự bàng hoàng thì dư luận Huế còn phát hoảng khi báo Dân Việt đi một bài tựa đề “Nữ Sinh Không Đánh Nhau Sẽ Không Năng Động”.

Được biết ngay buổi chiều 18 là ngày xảy ra vụ năm sáu nữ sinh đánh hội đồng một nữ sinh trước cổng Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân, phóng viên báo Dân Việt đã đến gặp hiệu trưởng trường là cô Phạm Thị Ngọc Tâm để tìm hiểu vụ việc.

vtt-2.jpg

Nữ sinh thành phố Huế đánh nhau trong trường.

Sau đó, bài báo của phóng viên tờ Dân Việt tường thuật lời cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm: vì gia đình em nữ sinh bị hành hung không muốn làm lớn chuyện nên nhà trường không truy tìm thủ phạm đã đánh đập em.

Báo Dân Việt còn trích nguyên văn lời cô hiệu trưởng là “Đây là tuổi mới lớn, nếu các em không đánh nhau, không xích mích nhau thì không bao giờ các em năng động được.”

Cô hiệu trưởng Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân còn giải thích sở dĩ khi đó có đông học sinh đứng xem mà không ai dám can ngăn vì chính các em cũng sợ mình bị đánh.

Một phụ huynh tên Tuyết nói rằng bà đã rất sốc khi nghe lời phát biểu của cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm:

“Phát biểu như vậy cho nên con em hư, giáo dục hư, bị xuống cấp. Cô giáo mà nói như vậy thì còn chi là giáo dục nữa. Phải nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng chứ cô giáo nói như vậy là cô giáo vô trách nhiệm.”

Chị Châu, có em gái đang học trung học, nói rằng chuyện xảy ra trước cổng trường thì trách nhiệm đầu tiên là thuộc về ban giám hiệu:

“Cái này phụ thuộc bên trường học và bên phía các giáo viên, phải quan tâm và phải định hướng lại. Thực sự phải là người trong ngành và thứ hai là những người chịu trách nhiêm bên giáo dục hiểu rõ vấn đề mới giải quyết được, còn nếu chỉ bề ngoài thì em nghĩ không hiệu quả đâu.”

Hình ảnh mà báo chí trong nước đưa lên cho thấy nhóm nữ sinh lớp Mười của Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân đã túm tóc, đánh vào mặt rồi đạp nạn nhân ngã xuống đất. Phải đến khi một người dân đưa máy lên chụp và hô to là công an đây thì nhóm học sinh nọ mới bỏ chạy. Bà phụ huynh tên Tuyết bày tỏ cảm tưởng:

“Nếu như phụ huynh, nếu như các trường ráp lại phong cách cho các em thì các trường nên cho các em mặt áo dài. Khi mặc áo dài là phong cách theo đó mà nền nã nhẹ nhàng hơn. Đây hắn ăn mặc lung tung, vô trật tự… Ít ra mỗi một tuần thì mỗi sáng thứ Hai mặc áo dài, để cho các em thấy được cái đẹp thùy mị đoan trang của con gái nói chung và gái Huế nói riêng.”

Nhà trường không giáo dục cách nào đấy để biết cách đối thoại, biết cách giàn xếp những xích mích. Không giáo dục thanh niên theo hướng đấy mà lại giáo dục theo hướng dùng vũ lực thì kết quả là giáo dục của nhà trường và của gia đình cuối cùng nó ra một sản phẩm như thế thôi.
– tiến sĩ xã hội Phạm Quỳnh Hương

Chuyện học trò đánh nhau trong trường xưa nay lúc nào cũng có, nhưng nếu chuyện nữ sinh trong độ tuổi sắp  làm người lớn mà đánh nhau hoặc cả  nhóm hành hung một em một cách dã man là hiện tượng xã hội đáng lưu ý và không thể coi nhẹ.

Tiến sĩ Pham Quỳnh Hương, Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội, Viện Xã Hội Học ở Hà Nội khẳng định:

“Chuyện con gái đánh nhau bây giờ người ta nói nhiều đến, người ta lên báo chí rồi quay phim lên các thứ gây một sự chú ý. Quan niệm của Việt Nam mình vốn là con gái phải thùy mị nết na hiền dịu này nọ. Đấy là  cách suy nghĩ tạm gọi là phân biệt giới nam và giới nữ. Chỉ có cái khi người ta giật tít đưa lên báo thì người ta theo để người ta phản đối này nọ.

Nói vậy  không có nghĩa rằng việc đấy là điều bình thường, là nên làm. Đã là học sinh trung học, chuẩn bị  đến tuổi thành niên mà có hành vi như thế đúng là điều đáng phê phán. Vì chuyện gì mà đưa nhau ra và xử lý nhau bằng vũ lực cũng một phần là do phim ảnh sách báo nhiều bạo lực ảnh hưởng  đến thanh niên.”

Mặt khác, tiến sĩ xã hội Phạm Quỳnh Hương nói tiếp, hành vi bạo động của nữ sinh bị phê phán thì ít mà phát biểu của hiệu trưởng rằng “không xích mích không đánh nhau thì các em không năng động được” mới là  điều vô cùng bất ngờ và đáng tiếc:

“Là hiệu trưởng chắc phải suy nghĩ và phát ngôn có chừng có mực, nếu đúng là bà ấy nói thế thì đúng là không có gì để nói nữa, cứ cho rằng thiếu suy nghĩ là đơn giản nhất.

Giáo dục cho thanh niên năng động là phải đánh nhau thì họ chả hiểu thế nào là năng động cả. Hơn nữa nhà trường không giáo dục cho thanh niên trong trường hợp có xích mích thì giải quyết bất đồng bằng cách gì. Nhà trường không giáo dục cách nào đấy để biết cách đối thoại, biết cách giàn xếp những xích mích. Không giáo dục thanh niên theo hướng đấy mà lại giáo dục theo hướng dùng vũ lực thì kết quả là giáo dục của nhà trường và của gia đình cuối cùng nó ra một sản phẩm như thế thôi.”

Đường dây viễn liên cũng đã nhiều lần được nối về số máy của cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm để hỏi cho ra lẽ về lời phát biểu của cô nhưng rất tiếc không có ai bắt máy.

 

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Những gì vừa xảy ra tại Hội Phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) khiến nhiều người khuyến cáo phải xem lại các lễ hội trong Tháng Giêng Âm Lịch, đặc biệt là ở miền Bắc.

Tranh cướp phết trong Hội Phết Hiền Quan. (Hình: Tuổi Trẻ)

Phết là một quả cầu được làm từ gốc tre. Vì phết được xem là vật đem lại may mắn nên Hội Phết là dịp mà những người dự hội giành với nhau để đoạt cho bằng được.

Trong Tháng Giêng Âm Lịch, tại miền Bắc Việt Nam có hai nơi tổ chức Hội Phết là Bản Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (mùng 7 Tháng Giêng Âm Lịch) và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (12 và 13 Tháng Giêng Âm Lịch).

Năm nào các Hội Phết cũng hỗn loạn và năm nay, mức độ hỗn loạn ở Hội Phết Hiền Quan khiến nhiều người, kể cả dân chúng ở đây kinh hoàng. Thanh niên ở xã Hiền Quan chia làm nhiều nhóm, lao vào tấn công nhau bằng cả tay chân, lẫn gậy gộc. Một số kẻ chạy trên đầu đám đông để giành cho bằng được “may mắn.” Cho đến nay, chưa có thống kê chính thức về số người bị thương nhưng báo chí Việt Nam khẳng định là rất nhiều.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, Tháng Giêng Âm Lịch – tháng của lễ hội dân gian – là thời điểm mà miền Bắc Việt Nam trở thành hỗn loạn vì rác rưởi của những đoàn người từ khắp nơi đổ về dự hội xả ra, vì trộm cắp, cướp giựt, lừa đảo. Đặc biệt là vì sự ái ngại khi càng ngày càng nhiều người nhận ra, các “lệ hội dân gian” đã trở thành dịp cho thấy sự u mê, man rợ trong đám đông càng ngày càng lớn.

Dù có nhiều khuyến cáo về tác hại nhưng năm nay, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, vẫn được tổ chức. Hàng ngàn con người tiếp tục háo hức chờ đợi hai người đàn ông dùng dao bén chặt đứt cổ hai con heo sống rồi lao vào chấm máu tươi bôi lên mặt, lên người hoặc dùng các vật dụng khác để thấm máu rồi giữ lại để cầu may.

Một trong những nạn nhân. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồi cuối Tháng Giêng vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tái khẳng định sẽ không in và phát hành các loại tiền có mệnh giá 500 đồng, 1000 đồng và 2000 đồng để phục vụ dịp Tết Bính Thân.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, tại miền Bắc Việt Nam có một phong trào, đó là đổi tiền lẻ để rải khắp các đình, đền, chùa, miếu cầu may. Tuy phong trào này chỉ phổ biến ở miền Bắc nhưng vì nhu cầu “hối lộ thần thánh” quá lớn, mỗi năm, ngân hàng phải chi hàng trăm tỷ đồng để in tiền lẻ. Sau đó phải chi thêm cả tỷ đồng nữa để kiểm, đếm, gom mớ tiền lẻ khổng lồ đó đem cất vào kho, ít năm sau phải tổ chức hủy vì tiền lẻ không có chỗ trong sinh hoạt hàng ngày.

Vào thời điểm vừa kể, một phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam khẳng định, nếu in tiền lẻ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “hối lộ thần thánh” trong dịp Tết thì đó rõ ràng là một sự lãng phí không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, từ Tết đến nay, các đình, đền, chùa, miếu ở miền Bắc Việt Nam vẫn ngập tiền lẻ. Báo chí Việt Nam kể rằng, hôm 17 Tháng Hai (mùng 10 Tháng Giêng Âm Lịch), ngày đầu tiên của Lễ Hội Yên Tử (diễn ra trên núi Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), tuy ban tổ chức kêu gọi khản giọng qua loa rằng đừng thắp quá nhiều nhang vì khói sẽ làm người khác ngộp, đừng dùng tiền chà xát vào chùa Đồng nhưng khu vực Yên Tử vẫn mù mịt khói và đám đông vẫn xô đẩy nhau để lấn tới, dùng đủ thứ mài vào chùa Đồng để lấy hên, trong đó có không ít kẻ là viên chức, đeo phù hiệu “khách mời.” Dù cấu trúc của chùa Đồng rất khít song đa số khách hành hương vẫn tìm đủ cách nhét tiền… lẻ vào các khe để “hối lộ thần thánh…”

Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 8,000 lễ hội dân gian. Khoảng hai phần ba diễn ra trong Tháng Giêng Âm Lịch và chủ yếu là ở miền Bắc Việt Nam.

Cuối năm ngoái, Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch xác nhận, nhiều lễ hội không còn phù hợp, có biểu hiện lợi dụng lễ hội để trục lợi. Một số lễ hội có biểu hiện mê tín, bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác,… cần hạn chế và chấn chỉnh.

Chưa rõ chính quyền sẽ “chấn chỉnh” thế nào nhưng nhiều người khẳng định, sở dĩ các lễ hội tại Việt Nam càng ngày càng u mê, xô bồ và man rợ vì những viên chức Việt Nam dẫn đầu trong việc cầu may ở mọi nơi, đồng thời cố tình tạo “nét riêng” nhằm tăng “tính hấp dẫn” để thu hút thiên hạ đến dự hội, mở rộng cơ hội tìm thêm nguồn thu. (G.Đ.)

Sao phải ‘né’ hoài luật biểu tình?

Sao phải ‘né’ hoài luật biểu tình?

Ảnh minh hoạ: Biểu tình chống Trung Quốc tại TP HCM, ngày 18//5/2014.

Ảnh minh hoạ: Biểu tình chống Trung Quốc tại TP HCM, ngày 18//5/2014.

Cao Huy Huân

21.02.2016

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình bày tờ trình của Chính phủ xin rút dự án Luật biểu tình ra khỏi chương trình nghị sự trong kỳ họp tới của Quốc hội. Không ít người theo dõi quá trình xem xét và thiết lập luật biểu tình tại Việt Nam nghe tin này mà cảm thấy thất vọng, hụt hẫng ít nhiều.

Không làm được hay không chịu làm?

Luật biểu tình là cụm từ người dân Việt Nam đã được nghe từ nhiều năm trước, nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Có người bảo các ngành chức năng liên quan giống như đang chơi trò cù cưa, tức đưa vào rồi lại rút ra khỏi các kỳ họp Quốc hội mà không cho biết vì sao, họa chăng cũng có  nêu lý do này lý do kia nhưng tất cả nghe qua đều thấy không mấy thuyết phục, trong khi nhu cầu từ thực tế là có thật. Báo chí Việt Nam dẫn lại cho biết nhiều thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình với đề nghị rút dự luật biểu tình. Chính Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện khẳng định rằng cần đảm bảo thời gian trình Luật biểu tình. “Quyền biểu tình là quyền cơ bản của công dân, đã được đề cập từ năm 1945 rồi, cứ lùi đi lùi lại mãi, bây giờ lùi đến bao giờ? Đây là vấn đề, nếu chúng ta cứ lùi mãi thì hoàn toàn không có lợi về mặt chính trị”, vị này bày tỏ bức xúc.

Còn nhớ dự án Luật biểu tình từng được nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị ban hành, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một trong những đại biểu tỏ ra cương quyết và nhiều lần nhắc đến luật này. Hồi tháng 12 năm ngoái, tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ Việt Nam, đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố không đồng tình với đề nghị rút dự án Luật biểu tình ra khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội.

Cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lẫn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, sau khi nghe Bộ trưởng Hà Hùng Cường xin rút dự án Luật biểu tình, đã thẳng thắn chỉ trích rằng việc xin rút như thế là “việc làm thiếu nghiêm túc”. Ông Hùng hoàn toàn có lý khi nói thẳng rằng “Tại sao cứ lùi đi lùi lại mãi, do làm không được hay không chịu làm? Chương trình là Quốc hội quyết định, Bộ Chính trị cũng đã quyết định đưa vào chương trình rồi, nhưng Chính phủ cứ xin lùi mãi”.

Không quyết liệt thì chỉ bàn lùi

Trình bày lý do tại sao cứ xin lùi hoài, Bộ trưởng Hà Hùng Cường cho biết phía Bộ Công an đã tiến hành tổng kết pháp luật về lĩnh vực này, tiến hành khảo sát, nghiên cứu, biên dịch tài liệu nước ngoài. Nhưng tại phiên họp thường kỳ tháng 1-2016, khi thảo luận vấn đề này, ý kiến của các thành viên Chính phủ còn rất khác nhau về nội dung của dự thảo luật. Thế nên cần có thêm thời gian nghiên cứu, chỉnh lý Luật biểu tình để đảm bảo chất lượng, và vì đó xin dời sang đến cuối năm 2016.

Nghe qua phần lý do thì thấy có vẻ như đơn vị chịu trách nhiệm soạn dự thảo không làm nổi, hay chí ít là chưa làm được. Tuy nhiên, dự luật vẫn chỉ là dự thảo, nghĩa là chưa phải luật chính thức thì cần gì phải hoàn thiện, hay cần gì phải thống nhất rồi mới trình ra Quốc hội – cơ quan đại diện của dân. Nói như ông Nguyễn Sinh Hùng không phải không có lý: “Thường vụ Quốc hội không đồng ý với việc lùi. Chính phủ chưa trình dự luật này ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chúng tôi đã biết nội dung như thế nào đâu mà bảo là cho lùi?”

Cần lưu ý rằng, luật biểu tình là dùng để đảm bảo quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp chứ không phải là để thay đổi hay làm mới nền chính trị. Và nếu như Việt Nam tiếp tục áp dụng Nghị định 38 để hạn chế quyền công dân, thì đó là một việc làm trái Hiến pháp. Điều này bất cứ ai quan tâm đến luật biểu tình đều biết cả, thậm chí bản thân Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Nguyễn Kim Khoa cũng thừa nhận như vậy.

Luật biểu tình có gây ra loạn lạc xã hội?

Khi bàn đến luật biểu tình, nhiều người cho rằng tình hình xã hội, an ninh hiện nay chưa thuận lợi để hoạch định và ban hành. Có người còn bảo làm như vậy là vẽ đường cho hưu chạy, tạo điều kiện để những thành phần không tốt trong xã hội có điều kiện lợi dụng cơ hội để làm loạn, hễ chút là kéo nhau đi biểu tình. Thế nên, có ý kiến nói rằng để khi nào tình hình an ninh trật tự đảm bảo thì mới làm luật này. Tuy nhiên, nhiều người không đồng ý với quan điểm cũ kỹ và phòng ngừa không chính đáng như vậy. Bởi lẽ bất kỳ quốc gia nào khi làm luật biểu tình đểu là để đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Nói nôm na “vẽ đường cho hưu chạy” sẽ hay hơn để hưu chạy lung tung, khó nắm bắt phương hướng và có thể mất khả năng kiểm soát hành vi của chúng.

Vài năm gần đây Việt Nam tuyên bố tiến hành cải cách mạnh mẽ nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành tư pháp bao gồm cả vấn đề luật biểu tình. Thật ra nếu làm tốt, đây sẽ là chỉ số cho thấy quyền con người của Việt Nam được cải thiện hữu hiệu. Nếu nhìn tiêu cực theo kiểu nhà nước không đủ khả năng kiểm soát những người biểu tình thì đó là cách nhìn tiêu cực, yếu đuối vì chưa có những tính toán chu đáo. Nhìn sang các quốc gia khác ở Mỹ lẫn châu Âu, nơi mà luật biểu tình  đã được ban hành từ lâu, dân được quyền xuống đường, phải chăng đã gây loạn lạc?

Các nước khác tại châu Á cũng đã ban hành luật biểu tình rất rộng rãi. Họ xem đó là một biểu hiện của quyền con người được thể hiện và bày tỏ sự bất đồng ý kiến với chính phủ – không phải để lật đổ hay đả kích, mà là để bày tỏ quan điểm trên cơ sở xây dựng một chính phủ tốt hơn, như khẩu hiệu do dân và vì dân. Đó cũng là một cách để chính phủ thấu hiểu được tình hình dân chúng, phát hiện ra những tiêu cực mà đôi khi chính bản thân các vị quan chức cấp cao và thanh liêm cũng không bao quát hết để có thể phát hiện ra. Luật biểu tình sẽ điều chỉnh hành động của các quan chức bởi khi đó sự giám sát và trao đổi hai chiều giữa dân chúng và nhà nước trở nên cởi mở hơn, đa chiều hơn, khách quan hơn, và hiệu quả hơn.

Còn nhớ năm 2014, khi Trung Quốc kéo giàn khoan HD-981 vào vùng biển Việt Nam, rất nhiều người Việt ở nước ngoài xuống đường để phản đối, góp phần gia tăng áp lực lên chính phủ Trung Quốc cũng như thể hiện ý chí và quyết tâm của dân tộc Việt Nam ở mọi miền. Tuy nhiên ngay tại Việt Nam, hoạt động biểu tình lại không diễn ra (thật ra là có xuống đường nhưng không gọi là biểu tình). Hơn nữa là vì chưa có luật nên người dân cũng ngại xuống đường vì sợ vi phạm luật pháp, điều đó ít nhiều cũng làm giảm đáng kể khả năng thể hiện ý chí của dân tộc.

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

Ảnh minh hoạ.

Ảnh minh hoạ.

Trà Mi-VOA

21.02.2016

Tết là dịp diễn ra nhiều lễ hội văn hóa và các sinh hoạt cộng đồng, cũng là lúc trỗi dậy những điệp khúc buồn quen thuộc về sự xuống cấp của văn hóa Việt Nam, với các lễ hội tranh giành hỗn loạn, tình trạng ẩu đả, cướp giựt gia tăng.

Văn hóa Việt Nam bị cho là đã xuống cấp trầm trọng, nhưng xuống cấp từ khi nào và làm cách nào để thay đổi?

Có người nhận xét rằng dường như cách hành xử cướp đoạt và tư duy chụp giựt đang ăn sâu vào thói quen, tiềm thức của mọi người, bất kể giàu-nghèo, và đang diễn ra trong mọi góc cạnh đời sống người Việt ngày nay, từ bệnh viện, trường học, chùa chiền, đến những nơi vui chơi ăn uống sang trọng.

Đạo đức, văn hóa ứng xử ngày càng tuột dốc tệ hại vì dân trí thấp, vì thiếu giáo dục văn hóa, hay vì môi trường sống xô đẩy?

Mời các bạn cùng Tạp chí Thanh Niên hôm nay tìm hiểu qua cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà sử học, nhà sư phạm, và cũng là một nhà nghiên cứu văn hóa-truyền thống Việt Nam, sáng lập viên Qũy Văn hóa Giáo dục Hãn nguyên Nguyễn Nhã.

TS Nhã: Hiện giờ văn hóa đang xuống cấp do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất chính là giáo dục làm người không được tôn trọng, không được quan tâm. Giáo dục bây giờ chỉ lấy bằng thôi.

Trà Mi: Nhiều người cho rằng dân trí thấp và môi trường sống cũng là nguyên nhân của nền văn hóa tuột dốc. Ý kiến của ông thế nào?

TS Nhã: Nếu do dân trí, phải nói nông thôn của mình hồi xưa trước 1945 dân trí đâu có cao, hầu hết là mù chữ. Nhưng người nông dân Việt Nam thời đó rất đàng hoàng. Ví như mẹ tôi dù mù chữ nhưng đã dạy cho tôi rất nhiều điều, khác với bây giờ. Đấy cũng cho thấy văn hóa sống trong gia đình, làng xóm, xã hội đã thay đổi. Sự thay đổi đó cho thấy cái hay mình lại bỏ đi, mất đi rất nhiều trong khi cái dở lại sinh ra nhiều.

“ Nông thôn của mình hồi xưa trước 1945 dân trí đâu có cao, hầu hết là mù chữ. Nhưng người nông dân Việt Nam thời đó rất đàng hoàng. Ví như mẹ tôi dù mù chữ nhưng đã dạy cho tôi rất nhiều điều, khác với bây giờ. Đấy cũng cho thấy văn hóa sống trong gia đình, làng xóm, xã hội đã thay đổi. Sự thay đổi đó cho thấy cái hay mình lại bỏ đi, mất đi rất nhiều trong khi cái dở lại sinh ra nhiều

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu văn hóa-truyền thống Việt Nam, nói.”

Trà Mi: Một sự thay đổi dẫn tới cái hay bị mất đi nhiều và cái dở lại sinh ra nhiều, phải chăng đây là một sự thay đổi tiêu cực?

TS Nhã: Vâng, đúng như vậy. Lối sống mới, giới trẻ vọng ngoại, ít theo và coi thường những cái gì truyền thống. Đó là cái dở nhất. Những người sống trong thời chiến hồi xưa, kể cả ở miền Bắc, dù nghèo khó lắm nhưng tinh thần không như bây giờ. Hiện giờ bị mất phương hướng từ trên xuống dưới, mọi sự bắt đầu từ văn hóa giáo dục.

Trà Mi: Về yếu tố môi trường sống, ông nghĩ sao? Có người cho rằng nâng cao giáo dục văn hóa mà môi trường sống xung quanh không được cải thiện cũng thế thôi. Sống giữa những bon chen, chà đạp, chụp giựt, mình có giáo dục văn hóa tới đâu cũng khó có thể giữ mình. Phải chăng yếu tố môi trường sống cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với văn hóa?

TS Nhã: Vâng, đa số thiếu giáo dục mà tăng nhiều thì làm ảnh hưởng tới môi trường sống. Đạo đức đang xuống cấp, nhưng tôi tin rồi sẽ có lúc phục dựng hoặc phát triển lại vì đó là quy luật của lịch sử.

Trà Mi: Tiến sĩ nhìn thấy sự phục hưng sớm muộn ra sao?

TS Nhã: Khó có thể nói được tương lai ra sao. Nếu những nhà giáo dục họ bình tĩnh, không bó tay như hiện nay thì mọi chuyện sẽ khác.

Trà Mi: Một nền văn hóa và một xã hội ‘mất phương hướng’ trở nên hỗn độn và thui chột. Lỗi này do đâu?

TS Nhã: Có người nói đây là ‘lỗi của hệ thống.’ Dĩ nhiên, bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử Việt Nam thì chính quyền cũng có vai trò quan trọng. Nhưng, theo tôi, mỗi người dân đều có trách nhiệm. Từ già tới trẻ đều có trách nhiệm thì mọi chuyện sẽ khác đi, nhưng bây giờ người ta không quan tâm điều đó.

“ Lối sống mới, giới trẻ vọng ngoại, ít theo và coi thường những cái gì truyền thống. Đó là cái dở nhất. Những người sống trong thời chiến hồi xưa, kể cả ở miền Bắc, dù nghèo khó lắm nhưng tinh thần không như bây giờ. Hiện giờ bị mất phương hướng từ trên xuống dưới, mọi sự bắt đầu từ văn hóa giáo dục.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã nhận xét.”

Trà Mi: Có thắc mắc rằng những thời trước không thấy tệ như vậy, phải chăng thời đại xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những đặc điểm như thế cho người Việt ngày nay?

TS Nhã: Không thể nói chủ nghĩa nọ chủ nghĩa kia có trách nhiệm. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm, tất cả các giới phải có trách nhiệm, mà giờ thì cảm thấy người ta không có trách nhiệm. Đó, căn gốc nằm ở ‘hệ thống’. Từ cá nhân cho tới cộng đồng, mọi người đều cảm thấy không phải trách nhiệm của mình.

Trà Mi: Người ta lập luận rằng trong một xã hội mà sự cướp đoạt lên ngôi cộng với sự mất niềm tin vào luật pháp thì mọi người phải tranh giành chụp giựt, đạp lên nhau để tồn tại, nếu không, sẽ bị thua thiệt. Nếu xã hội không tạo ra hoàn cảnh như thế, nếu thời đại không đưa ra những khốn khó như thế thì chắc con người sẽ tốt đẹp hơn, cư xử tử tế hơn?

TS Nhã: Tôi nghĩ vậy. Mỗi thời một khác, nhưng những căn bản để mà giữ thì hiện nay mình đã mất cả, mất căn bản của truyền thống.

Trà Mi: Điều này xuất phát điểm từ đâu, từ bao giờ trong xã hội Việt Nam?

TS Nhã: Thời đổi mới, thời chiến tranh và thời nay hoàn toàn khác. Thời chiến tranh người ta tập trung vào vấn đề đấu tranh, hy sinh. Còn bây giờ người ta lo hưởng thụ thôi mà. Về mặt đạo đức, con người thời chiến tranh và thời nay khác nhau nhiều lắm, cả miền Nam lẫn miền Bắc.

Trà Mi: Giải pháp nào cho thực trạng văn hóa  hiện nay?

TS Nhã: Chính quyền, người có chức có quyền, những người có trách nhiệm phải làm gương trước tiên. Theo tôi, khi mọi việc đến tận cùng thì phải biến chuyển thôi.

Trà Mi: Nhưng liệu có nên chờ mọi việc tự biến chuyển khi đến tận cùng hay không?

“ Không thể nói chủ nghĩa nọ chủ nghĩa kia có trách nhiệm. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm, tất cả các giới phải có trách nhiệm, mà giờ thì cảm thấy người ta không có trách nhiệm. Đó, căn gốc nằm ở ‘hệ thống’. Từ cá nhân cho tới cộng đồng, mọi người đều cảm thấy không phải trách nhiệm của mình.

Tiến sĩ Nhã nói.”

TS Nhã: Vấn đề hiện nay là giáo dục. Nếu nhà nước và tất cả các giới quan tâm đến giáo dục thì sẽ khác.

Trà Mi: Những người quản lý đổ lỗi rằng đây là hệ quả của kinh tế thị trường…

TS Nhã: Hiện nay hầu hết các nước đều kinh tế thị trường nhưng họ như thế nào thì mọi người biết rồi.

Trà Mi: Theo ông, giáo dục phải cải thiện, nhưng cụ thể phải cải thiện thế nào? Môi trường sư phạm Việt Nam hiện có giáo dục ý thức công dân từ cấp tiểu học lên tới đại học, theo ông, vì sao không hiệu quả?

TS Nhã: Tôi từng lo giáo dục nhiều thời, tôi biết mà. Hiện nay người ta quan tâm đến điểm số, thành tích thi đua, không thực chất. Bây giờ chỉ cần 2 điều. Một là không được nói dối, bởi vì gian dối thì chất lượng không cao. Bây giờ giáo dục phải làm sao không được nói dối nữa. Thứ hai, phải cư xử với nhau cho tử tế. Chỉ cần thay đổi hai điều đó thôi, mà tôi đã nói với rất nhiều người, ai cũng bảo là khó quá. Bây giờ nếu mình có một hệ thống chính trị rất minh bạch, trung thực thì chất lượng sẽ cao thôi. Lỗi hệ thống!

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Nhã đã dành cho Tạp chí Thanh niên VOA cuộc trao đổi hôm nay.

Hội chứng về vườn

Hội chứng về vườn

Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) – Chiều ngày 19/2/2016, ông Trương Tấn Sang đã có bản Dự thảo báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2011-2016 đọc trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Trong đó, ông Sang với cương vị Chủ tịch nước đã khẳng định mình “có phần trách nhiệm trước những hạn chế, yếu kém của đất nước hiện nay”.

Không chỉ dưới thời ông Sang làm Chủ tịch nước, mà trong suốt thời kỳ đảng cộng sản Việt Nam cai trị, đất nước đã trở nên yếu kém và tụt hậu đủ mọi mặt. Đó là một thực tế không thể bao biện hay chối cãi. Chín năm trước, tôi đã từng khẳng định điều tương tự trong một bài viết. Và chi tiết này cũng được Tòa án thành phố Hải Phòng dẫn chứng để kết tội tôi “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Nguyên văn câu ấy như sau: Chính sách này (của ĐCSVN) đã làm cho người dân thấp kém cả về dân trí lẫn dân khí, đẩy cộng đồng vào tâm thế ỷ lại, phó mặc.

Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới – qua tường thuật của bà Phạm Chi Lan- từng nhận xét Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!

Một số hình ảnh của trẻ em miền núi phía Bắc trong mùa đông 2015 (nguồn hình: Báo lề đảng)

Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, ông Lý Quang Diệu trong một lần thăm Việt Nam và gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bày tỏ mong muốn hai mươi năm sau đất nước ông sẽ phát triển và giàu có bằng một phần Sài Gòn. Câu chuyện này khiến cho bất cứ người Việt Nam nào còn quan tâm tới vận mệnh của đất nước phải hổ thẹn và xót xa, đau đớn. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn còn thảng thốt với những câu hỏi “Tại sao…?”. Tại sao người cộng sản lại có thể đưa cả một Dân tộc bước những bước thụt lùi với tốc độ đáng kinh ngạc đến vậy? Bao nhiêu năm nữa, đời sống của người dân Việt Nam thời cộng sản sẽ bằng đời sống của người dân Miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa của mấy chục năm về trước? Và cần bao nhiêu năm nữa để Việt Nam đạt được những thành tựu như của Singapore hôm nay? Định mệnh thật khéo chọn dân tộc này để giáng xuống một đòn lịch sử tàn khốc và trớ trêu, dị hợm như thế. Hai chữ “giải phóng” đã trở thành một cụm từ dơ dáy, tục tĩu mà một người tử tế, có lương tâm, có hiểu biết sẽ không bao giờ dùng để chỉ ngày 30/4/1975.

Một số hình ảnh Sài Gòn trước 1975:

Quay trở lại với phát biểu của ông Trương Tấn Sang. Không biết ông Sang nhìn rõ với mức độ thế nào về cái “hạn chế”“yếu kém” của đất nước trên cương vị người đứng đầu Nhà nước mà ông tự thấy mình “có một phần trách nhiệm”? Điều này lại một lần nữa khiến tôi… tủm tỉm cười khi nghĩ đến cái bình thường và cái không bình thường của giới cầm quyền xứ ta lẫn xứ người. Xứ người, tức ở những nước văn minh, ông tổng thống, thủ tướng hay bất kể một ông/bà lãnh đạo nào nếu để đất nước bị tụt hậu, yếu kém sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người dân. Để rồi nhẹ thì phải từ chức, nặng thì bị truy tố và ngồi tù tùy thuộc mức độ, hậu quả gây ra. Đấy là điều bình thường…. ở xứ người. Ở xứ ta, điều bình thường này không được áp dụng. Hình thức phổ biến nhất là… phê và tự phê (nghe qua tưởng dân chơi thuốc phiện), cùng lắm là kỷ luật về mặt… đảng.

Và khi “đồng chí” lãnh đạo nào đó lâu lâu nổi hứng phát biểu vài câu mang tính chất “tự kiểm điểm” thì báo chí tha hồ mà phấn khởi múa bút khen tài, khen cương trực thẳng thắn và liêm khiết. Phải tự mình phê bình mình trước quốc dân đồng bào để thiên hạ thấy cái chế độ này “dân chủ gấp triệu lần tư bản”. Hơn nữa, cái sự đồng thuận trăm phần trăm, tốt toàn phần toàn diện bây giờ đã trở nên lỗi thời rồi. Tốt quá dân nó nghi. Phải cho dân thấy rằng đảng và các vị lãnh đạo đảng tuy vĩ đại nhưng rất gần gũi và thẳng thắn. Trong một trăm phần trăm cái tuyệt đối đúng cũng có 1 đến 2 phần trăm cái chưa được chứ. Thế nó mới giống sự thật!

Cho nên có người nói: chưa có thời nào làm quan sướng như thời cộng sản. Và cũng chưa có thời nào làm dân khổ như thời cộng sản.

Ông Sang, cũng giống như nhiều người tiền nhiệm, đồng chí của ông. Tức chỉ khi xế chiều mới phát biểu những câu ra vẻ thẳng thắn hay mạnh mẽ. Mục đích để làm gì thì đã được nhiều người phân tích.

Gọi tên thêm một ông nữa cho bài viết được phong phú. Đó là chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Ông Hùng đã phát biểu về dự án Luật báo chí (sửa đổi) sáng 18/2/2016 như sau: “Quyền tự do ngôn luận là quyền hiến định… Các đồng chí nhớ rằng quyền mở mồm ra là quyền của mỗi người dân.

“Quản lý không có nghĩa là cấm đoán, quản lý mà để hiểu rằng siết lò xo lại không cho người ta làm cái gì là vi phạm Hiến pháp đấy. Nếu chúng ta đưa ra những điều cấm mà đúng thì tôi tin chắc là nhân dân ủng hộ, và cấm cái gì thì phải đưa vào luật.

“Tôi hỏi các đồng chí là Cụ Hồ lúc ở Pháp viết báo thì sao đây, Đảng ta khi còn hoạt động bí mật viết báo thì sao đây, Bác Hồ hoạt động bí mật ở Quảng Châu ra báo Thanh Niên thì sao đây? Xã hội cần tự do, dân chủ, cởi mở. Những gì cấm thì phải ghi cụ thể, không cấm thì người ta được làm”.

Cả ông Sang lẫn ông Hùng đều không có tên trong danh sách Bộ chính trị lẫn Ủy viên Trung ương khóa 12. Cả hai sẽ về vui thú điền viên sau khi hết nhiệm kỳ vào tháng 5/2016.

Đấy, vì thế cho nên tôi gọi những thể loại trên là “hội chứng về vườn”.

Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands

Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands

FB Trương Nhân Tuấn

20-2-2016

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa Kỳ tổ chức vừa qua (15,16-2-2016) tại Sunnylands, California, báo chí (lẫn học giả) trong nước ca ngợi hết lời VN thắng lớn, mặc dầu bản Tuyên bố chung không có một lời nhắc đến TQ. Còn ông Nguyễn Tấn Dũng thì đặc biệt được tán dương vì đã yêu cầu Mỹ “có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông”. Vấn đề là VN thắng cái gì và yêu cầu của ông Dũng, Mỹ có thể nói (hay làm) được cái gì?

Về chuyến đi của ông Dũng, một người bị “trợt đài” quyền lực trong Đại hội 12, đáng lẽ không còn tư cách để được đảng CSVN ủy nhiệm đi tham dự Hội nghị Sunnylands. Có người nói rằng ông Dũng được đi là do vận động của cả hai phía, Việt Nam và Hoa Kỳ. Nếu đọc nội dung Tuyên bố chung được công bố (khoản 17), theo tôi, ông Dũng được đi là do áp lực của Hoa Kỳ chớ không do áp lực của phe thân ông Dũng trong đảng.

Bởi vì Hội nghị Sunnylands là hội nghị “cấp cao”, ở cấp “lãnh đạo nhà nước hay chính phủ”. Ban đầu Phạm Bình Minh được đảng ủy nhiệm cầm đầu phái đoàn đi tham dự. Nhưng ông này chỉ là “bộ trưởng bộ ngoại giao”, không phải là người đứng đầu nhà nước (hay chính phủ). Ông Dũng ở thời điểm này tuy rớt đài quyền lực, nhưng danh nghĩa vẫn còn ở cương vị thủ tướng (cho đến hết tháng 5-2016). Dĩ nhiên phía Hoa Kỳ không thể chấp nhận ông Minh, do nghi thức ngoại giao, buộc VN phải cho ông Dũng đi tham dự.

Lời lẽ của ông Dũng phát biểu trong hội nghị, hay trong buổi gặp mặt Obama, cũng như nội dung bài viết của ông này được đưa lên báo chí, cho thấy việc thiếu chuẩn bị của ông Dũng.

Trong nước, hiện tượng “nhổ cỏ tận gốc” của phe Bắc kỳ do ông Trọng cầm đầu đang có khuynh hướng trỗi lên. Cứ địa Phú Quốc mà con trai ông Dũng là lãnh chúa, hiện đang bị “chiếu tướng”. Các bài báo, phóng sự… có tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia như việc phá hoại môi trường, hay việc cẩu thả ở cách thức nuôi thú làm hàng loạt cả ngàn con thú (hiếm) chết…

Rõ ràng phe Bắc kỳ của ông Trọng muốn lấy lại miếng bánh đang ở trong miệng của con trai ông Dũng.

Trong khi phe thân ông Dũng (nếu còn lại một nhóm nào đó gọi là thân ông Dũng) thì không thấy lên tiếng (hay có phản ứng đáp trả).

Vì vậy khi nói rằng ông Dũng được tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa kỳ ở Sunnylands là do áp lực của phe thân Dũng trong nước là không có cơ sở.

Về nội dung Tuyên bố chung, nhà báo (và học giả) VN tán dương rằng VN “thắng lớn”.

Vấn đề là Tuyên bố không đề cập một dòng về TQ.

Khoản 8 của Tuyên bố nói “mập mờ” về việc “cam kết duy trì hòa bình an ninh và ổn định trong khu vực… phi quân sự hóa và tự kềm chế trong các hoạt động”.

Vấn đề là TQ đã quân sự hóa đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đã xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, tương lai gần sẽ củng cố các đảo nhân tạo này như các căn cứ quân sự (hải và không quân). Các việc này đã làm thay đổi hiện trạng và đe dọa an ninh khu vực.

Báo chí nước ngoài cảnh báo rằng, một tình huống như chiếc MH 317 của hàng không Mã Lai có thể sẽ xảy ra trên vùng trời Hoàng Sa.

Về câu chữ, việc “tự kềm chế” không có ý nghĩa cụ thể, giải thích sao cũng được. Lại còn không nói đến đối tượng là ai (phải phi quân sự hóa và tự kềm chế?)

Vì vậy người ta hiểu rằng nội dung tuyên bố là cam kết giữa HK và các nước ASEAN hơn là có mục tiêu (hay ám chỉ) Trung Quốc.

Ngược lại, theo tôi, Tuyên bố Sunnylands phần nhiều là ám chỉ cho Việt Nam.

Thật vậy, mặc dầu trước khi Hội nghị khai mạc, báo chí Mỹ đã lên tiếng rằng Obama đón tiếp 10 tên độc tài. Phê bình này thái quá vì dầu sao các nước Mã Lai, Phi, Indonesia, Miến Điện… đã là các nước dân chủ. Mặc dầu không thể so sánh vởi Mỹ hay các nước Châu Âu, nhưng thực chất chế độ các nước này có nền tảng dân chủ. Nhưng phê bình lại đúng cho trường hợp VN.

VN hiện nay là con “chiên ghẻ” trong bầy chiên ASEAN.

Khoản 4 của Tuyên bố hiển nhiên dành cho VN.

“4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;”

Các nước ASEAN, ngoài Việt Nam (Brunei và Lào), đều ít nhiều tôn trọng khoản 4.

Về dân chủ, VN là nước độc tài tệ hại nhứt, vì là nền độc tài cộng sản công an trị. Người dân VN không có một cơ hội nào, vì pháp luật không bảo đảm sự công bằng về quyền (tức mọi người bình đẳng trước pháp luật).

Đường vào đồn công an là đường ngắn nhứt để vào nhà thương hay nghĩa địa.

Còn về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ? VN luôn đứng đầu sổ trong các bản thống kê của thế giới về chà đạp, vi phạm nhân quyền. Còn tự do, mỗi người VN đều ở trong tù, khác biệt là tù nhỏ hay tù lớn.

Khoan dung ? cuộc chiến đã qua gần 1/2 thế kỷ, đến nay việc phân biệt bắc-nam, phân biệt hồ sơ lý lịch vẫn còn tồn tại trong các cách đối xử ở cấp lãnh đạo cao nhứt.

Cho đến các bản nhạc (vốn vô tội) viết trước 75 đến nay vẫn còn cấm hát. Một cậu nhỏ mặc quần áo “giống như” quần áo lính VNCH cũng bị kết án ở tù. Huống chi đến các việc khác liên quan đến chế độ cũ…

Còn về môi trường, trong khu vực chỉ có VN là nước mà môi trường bị tàn phá hơn hết. Cái gì bán được là CSVN bán hết, từ rừng gỗ cho đến hầm mỏ, bất kể việc khai thác có tác hại cho môi trường đến mức nào.

Vấn đề đặt ra là VN có tôn trọng và thực thi Tuyên bố này hay không ?

Đây là một tuyên bố về “ý định” hay một tuyên bố mang tính bó buộc pháp lý ?

Người ta sẽ xem xét thái độ của nhà nước CSVN đối với những người tự ứng cử quốc hội vào tháng 5 tới để kết luận.

Những nhà tranh đấu trong nước từ nay cảm thấy yên tâm khi dấn thân ra ứng cử.

Nếu đây là một “tuyên bố” có giá trị pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên nó có giá trị cao hơn là hiến pháp của VN.

Người đã đặt số 4 cho khoản này là có thâm ý ám chỉ điều 4 của HP VN.

Khoản 2 và 3 bản Tuyên bố dĩ nhiên cũng ám chỉ VN. Nhưng hai khoản này chỉ là “ghi nhận” mà không phải là “cam kết”. Dầu vậy cũng nên nhắc tới, nếu có dịp.

Về yêu cầu của ông Dũng, Mỹ cần có “có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông”, cũng không có giá trị thực sự.

Những gì Mỹ có thể nói (ở Biển Đông) Mỹ đã nói. Và Mỹ cũng đã làm những gì có thể làm.

Nguyên tắc cơ bản tạo thành nền tảng của luật lệ quốc tế (và nguyên tắc bang giao quốc tế) là “bình đẳng về chủ quyền giữa các nước”.

Hoa Kỳ không thể cho tàu hải quân làm hơn các việc mà luật quốc tế cho phép.

Ông Dũng muốn Mỹ can thiệp để TQ ngưng làm thay đổi hiện trạng cũng như ngưng việc quân sự hóa Biển Đông.

Mỹ chỉ có thể làm các việc này khi (các nước) chứng minh được các hành vi của TQ là sai luật.

Mỹ lên tiếng cảnh cáo TQ phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Phi-TQ. Đây là việc làm “tối đa” mà Mỹ có thể làm để giúp đồng minh Phi của họ.

VN là gì để Mỹ phải giúp ? Và TQ làm gì sai luật (với VN) để Mỹ có thể can thiệp ?

Câu trả lời là không là gì cả (và không có gì cả).

Trước luật quốc tế, các hành vi của TQ là phù hợp, ngoại trừ khi VN thuyết phục được dư luận thế giới ủng hộ chủ quyền của mình ở HS và TS.

Nhà nước CSVN hiện nay chỉ có thể thuyết phục được dân chúng và các học giả (dễ dạy) của mình chớ không thuyết phục được ai.

Trong khi HS và TS hiển nhiên là của VN. Lịch sử chủ quyền của VN, từ thời các chúa Nguyễn cho tới thời bảo hộ Pháp, sang đến VNCH thì được chứng minh. Sự liên tục chủ quyền của VN chỉ bị gián đoạn sau khi CSVN nắm quyền cả nước.

Tức là VN hiện nay vẫn có thể thuyết phục được Mỹ (và dư luận quốc tế) ủng hộ VN nếu vấn đề kế thừa VNCH được thể hiện. Điều này đã nói nhiều lần, không nhắc lại.

Tức là Mỹ chỉ có thể can thiệp sâu xa hơn trong vấn đề HS và TS, như trường hợp Mỹ ủng hộ vụ Phi kiện TQ, nếu vấn đề kế thừa VNCH được CSVN nghiêm túc thực hiện.

Về nội dung bài viết của ông Dũng, rõ ràng đã nói lên việc thiếu chuẩn bị của ông này. Tức là ông Dũng đi tham dự Hội nghị Sunnylands là do áp lực của Mỹ chớ không phải áp lực của phe thân ông này trong nội bộ đảng.

Bài viết có điều gì đáng chú ý?

Theo tôi chỉ có hai điểm. Thứ nhứt là “hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực” để VN có thể “tự vệ” khi gia nhập TPP.

Điều này tôi đã khuyến cáo, sau khi đọc tin “rò rỉ” của wikileaks về nội dung hiệp định TPP. Ý kiến của tôi như sau:

“Về phạm vi pháp quyền (juridiction – quyền xét xử, quyền tài phán), trước đây xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ (do cán bộ lãnh đạo thiếu khả năng) thì “trời mưa có đất chịu”, theo luật rừng XHCN, người dân nai lưng trả nợ. Bây giờ, xí nghiệp nhà nước làm ăn “cà chớn” (thí dụ vi phạm các điều khoản về sở hữu trí tuệ, về “hàng nhái”, về vệ sinh an toàn thực phẩm…) việc phân xử sẽ do một “tòa án của TPP”, tức là tòa án “tư nhân” đảm trách. Tức là “chủ quyền” của quốc gia bị mất vào tay tập đoàn tư nhân. Trong lâu dài, nếu VN vẫn không kịp đào tạo những chuyên gia luật học, chủ quyền quốc gia sẽ chuyển sang các tập đoàn luật gia quốc tế.”

Điều thứ hai là “hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và thượng tôn luật pháp”.

Điều này tôi cũng đã khuyến cáo từ lâu “nhà nước pháp trị” và việc “thượng tôn pháp luật”.

Khi ông Dũng nói “hoàn thiện nhà nước pháp quyền”, tức là “nhà nước” này có vấn đề. Và khi nói “thượng tôn pháp luật” là nói đến “nhà nước pháp trị”.

Tức là, những điều quan trọng trong bài viết của ông Dũng đều lấy từ ý kiến của tôi.

Không phải nói điều này là chê trách ông Dũng, nhưng khen ngợi ông Dũng là người biết nghe lời phải.

Vấn đề là sự việc quá trễ để làm thay đổi hiện trạng.

Lúc còn tại chức, quyền lực trong tay, nịnh thần chung quanh tung hô lên tận mây. Ông Dũng đâu có ngó ngàng gì tới những ý kiến đúng đắn, có lợi cho đất nước.

Hồ sơ Biển Đông, nếu ông nghe tôi thì vấn đề (Biển Đông) VN đã không bị lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. (Mà số phận của ông cũng không đến đỗi). Ông chỉ nghe gian thần và kẻ nịnh.

Như là thói quen, các lãnh đạo VN chỉ “nói hay, nói đúng” khi không còn nắm quyền lực.

Mà tương lai ông Dũng thì bất định. Ra nước ngoài thì ông Hà Vũ, Điếu Cày, bà Phong Tần có thể kiện ông vì những hành vi bức hại (thể xác và tinh thần). Kiện nhà nước thì khó nhưng kiện ông Dũng thì dễ.

Trong nước thì con cái ông thì đang bị phe Bắc Kỳ tìm cách bứng gốc.

Âu đó cũng là do “tầm nhìn” mà thôi.

Ca ngợi ông Dũng quá, hay đánh giá cao thực lực của ông Dũng còn mạnh trong đảng là không đúng. Ở đời người ta phù thịnh chớ không ai phù suy. Ông Dũng qui tụ được quần hùng là nhờ miếng mồi “quyền lợi và quyền lực”, thì bây giờ cũng vì “quyền lợi và quyền lực” mà những người này trở áo với ông.

Bài học cho các lãnh tụ tương lai: hãy nghe lời đúng chớ đừng bao giờ nghe lời nịnh bợ.

CHÚA KHÔNG ƯA NHỮNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN

CHÚA KHÔNG ƯA NHỮNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN

(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Từ khi Chúa Giêsu đi Rao Giảng Tin Mừng về Nước Trời thì không một lúc nào mà chúng ta nghe thấy Chúa Giêsu lại giảng Nước Trời là điều giả dối, không có thật hay tin vào chính Ngài là tin vào mê tín dị đoan mà không ngược lại là những hành vi tin vào mê tín dị đoan là do chúng ma quỷ xúi biểu chúng ta làm vậy.

Bởi nếu chúng ta tin vào mê tín dị đoan có nghĩa là chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa Đấng quyền năng vô song có thể làm nên tất cả, hủy diệt tất cả và những điều thuộc về chúng quỷ Satan.   Mà hiện nay nhà thờ Satan đã dần mọc lên cách công khai để chiêu dụ nhiều người nhẹ dạ đến theo thờ chúng.

Chúng ta con cái Chúa hãy thành thật và tự kiểm điểm những hành vi bất xứng của mình với Thiên Chúa xem là chúng ta thường ngày đã tin vào những mê tín dị đoan đến bao nhiêu phần trăm và tin tuyệt đối vào Thiên Chúa bao nhiêu phần trăm? Và số còn lại đi hai hàng là bao nhiêu phần trăm?.

Bao nhiêu người hiện đang tin vào bói toán, Tử Vi, coi Phong Thủy hay thỉnh thoảng chơi Cầu Cơ vào ban đêm chỉ để muốn biết rằng khi nào thì chúng ta bỗng chốc giầu có mà không cần dùng đến tài năng, khả năng cùng sức khoẻ mà Chúa đã ban cho … Qua mua vé số, đánh đề, cờ bạc và mọi hình thức của đỏ đen?.

Ai còn nhớ Chúa đã dẹp tan hình thức cờ bạc, đổi tiền, gian xảo ở nơi thờ phượng Chúa như là Đền Thờ theo nghĩa xác thực đã được diễn tả trong Phúc Âm? Nhưng có phải nghĩa bóng thì Nơi thờ phượng Chúa là ngay trong tâm hồn của chúng ta?.   Vì Chúa dạy Đền Thờ của Chúa là ở ngay chính trong tâm hồn và thân xác không phạm tội của chúng ta.

Nên Mùa Chay là mùa chúng ta hãy cố gắng dành thời giờ mà liên kết với Thiên Chúa với Đức Maria nhiều hơn, đến Tòa Giải Tội để xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cùng ăn năn hối cải để được Chúa thương mà cứu vớt linh hồn của chúng ta, nhất là trong giờ lâm tử, trong phút thập tử nhất sinh, chết bất đắc kỳ tử.

Vì chả ai mãi sống đời ở Trần Gian này mà hằng ngày chúng ta cứ phải bám vào những của chóng qua ấy.   Những của mà khi thân xác chúng ta không còn thì của ấy sẽ vào tay người khác tiêu xài, vung vãi, phung phí và rồi nó cứ thế hết vào tay người này đến tay người khác.   Bởi thế mà Hỏa Ngục có vô số kể con người khi còn sống vì tham lam tích góp của cải đã phải mất linh hồn sống đời rất quý và rất vô giá … Thì quả thật là vô phúc lắm thay!!!.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

19 tháng 2, 2016

CHÚA BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABOR

CHÚA BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABOR

(CN II Mùa Chay, Năm C)

Tuyết Mai

Ôi loài người tội lỗi của chúng ta thì sao có thể tưởng tượng được những hình ảnh chợt biến đổi, biến dạng của Chúa Giêsu qua một hình ảnh tuyệt vời mà trên Thế Gian chưa từng có ai có được diễm phúc để thấy được.   Mà chỉ có Chúa muốn cho ai thấy thì người ấy mới thấy được mà thôi dù rằng thấy bằng con mắt thịt như ba tông đồ của Chúa là Phêrô, Giacôbê và Gioan trong bài Phúc Âm của ngày hôm nay.   Hay bằng con mắt Đức Tin mà Thiên Chúa đã biến đổi được tâm hồn của rất nhiều người trong chúng ta.

Và đấy mới thật sự là hạnh phúc Thiên Chúa dành ban cho loài người vì Người đã quá đỗi yêu thương nhân loại mà củng cố thêm Niềm Tin cùng Hy Vọng tràn đầy cho chúng ta thấy được hình ảnh cùng dung mạo sáng ngời qua Chúa Giêsu; thật sự là Con Thiên Chúa.   Từ đó chúng ta có thể hình dung thêm được Nước Trời.   Hình dung thêm được cuộc sống ở Đời Sau trên Thiên Quốc luôn là sáng láng, thánh thiện, trọn lành, đẹp đẽ, tuyệt Mỹ và không hạnh phúc gì bằng.

Quả Chúa Giêsu đã hé mở một tia ánh sáng rực rỡ, sáng ngời, trong luồng ánh sáng đã làm cho ba ông tông đồ không bị chói lòa cái nhìn của con mắt thịt.   Nhưng các ông đã cảm nhận được một thứ ánh sáng rất dịu êm mà tâm hồn cứ muốn được mãi đắm chìm trong luồng ánh sáng ấy.   Do đó mà các ông đã không biết mình đã nói gì?.   Nhưng khi luồng ánh sáng ấy đã biến đi và nghe tiếng Chúa Giêsu nói thì các ông mới hoàn hồn và tỉnh lại giây phút của hiện tại.   Vâng lời Chúa Giêsu các ông đã giữ kín trong lòng và đã không thuật lại điều thấy ấy cho ai hay biết.

Còn chúng ta là con người tội lỗi nhưng đã biết ăn năn, hối cải và Trở Lại cùng Thiên Chúa thì được Người biến đổi ở dạng nào? Có phải Người chọn mạc khải cho chúng ta thấy được qua Con Mắt Đức Tin hay không? Hẳn là phải thế vì chúng ta đã cảm nhận được sự thay đổi nên tốt lành trong ánh mắt nhìn, biết cảm thương, biết chia sẻ cho anh chị em khổ nghèo đang sống lang thang không cửa không nhà, không người thân thương để cảm thông và để an ủi họ!? … Từ tấm bánh, quần áo, thuốc men và những lời an ủi hay khích lệ thật lòng từ trái tim nhân ái.

Ở mọi thời đại đã cho chúng ta thấy hình ảnh Cỏ lùng nhiều hơn Lúa nhưng Thiên Chúa Người vẫn luôn có hy vọng trên chúng ta vì nếu không thì Thế Gian này đã bị sụp đổ và bị nổ tung từ lâu lắm rồi.    Nhưng chỉ cần một tấm lòng mở rộng như cậu bé tốt lành kia đã đem 2 con cá và 5 ổ bánh mì lại cho Chúa để Chúa Giêsu có thể làm phép lạ mà nuôi 5000 ngàn đàn ông, chưa kể số đàn bà và con nít.   Đã thế các tông đồ lại còn lượm lại được 12 thúng đầy những khúc bánh mì vụn.

Hay chuyện của bà góa nghèo có tấm lòng vàng đã bỏ hết 2 đồng xu mà bà có vào thùng tiền, được Chúa Giêsu khen thưởng vì là số tiền có thể nuôi bà sống được 1 ngày nhưng hẳn bà tin rằng Thiên Chúa sẽ luôn luôn nuôi cho bà được đầy đủ.   Do thế mà bà luôn sống trong sự tin tưởng, phó thác trong bàn tay đầy quyền năng của Thiên Chúa là Đấng tối cao và là duy nhất.

Bài Phúc Âm của tuần này Thiên Chúa đã hé mở cho chúng ta thấy một chút quyền uy, lạ lùng, chói ngời và sáng tỏa như phép lạ mà Chúa muốn biến đổi trong tâm hồn tăm tối của chúng ta.   Là có mắt nhìn hướng về những điều thiện cùng việc làm tốt lành để làm cho gia đình chúng ta thay đổi.   Giúp xã hội nên tốt lành và như một cây nến cùng những cây nến khác từ từ biến thành cây đuốc sáng, bùng to lên như lửa trại hay trở thành ngọn Hải Đăng chiếu rọi vào bóng đêm mà nhiều người đang đắm chìm trong biển đời tội lỗi biết đâu là bến bờ của Yêu Thương mà quay trở về để tìm lại được sự sống sung mãn cùng người Mục Tử là Chúa Giêsu và Ràn của Ngài là Nước Trời, Nơi có sự sống muôn muôn đời bên ba ngôi Thiên Chúa.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

21 tháng 2, 2016