Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô

Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô
(Lc 16, 19-31)

19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây : “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ.24 Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!25 Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

27 “Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con,28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!29 Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.30 Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.31 Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.”

***

Câu chuyện về ông nhà giàu và người nghèo, tên là La-da-rô, mà Đức Giê-su kể cho chúng ta nghe trong bài Tin Mừng, rất quen thuộc đối với chúng ta. Nhưng có một chi tiết quan trọng, có thể chúng ta đã không để ý, đó là câu chuyện này là một dụ ngôn : « Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây ».

Dụ ngôn là một chuyện kể phát xuất từ thực tế cuộc sống (hạt giống, nắm men, tiệc cưới, người cha có hai người con, con chiên đi lạc hay đồng bạc bị mất…), nhưng lại chất chứa những chi tiết lạ lùng để mặc khải cho chúng ta, không phải trực tiếp nhưng theo ngôn ngữ ẩn dụ, về Thiên Chúa, về tình yêu và lòng thương xót của Người, về Nước của Người, về cách thức chúng ta đón nhận và sống với Người ngang qua tương quan của chúng ta với tha nhân và với những thực tại thuộc về đời này.

Theo bối cảnh, dường như Đức Giê-su kể dụ ngôn « Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô » cho những người Pha-ri-sêu : « Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc… » (c. 14), nhưng vấn đế mà dụ ngôn nêu ra lại đụng chạm đến mọi người chúng ta ở chiều sâu. Vậy, Chúa muốn nói với chúng ta điều gì, hay đúng hơn chất vấn chúng ta về vấn đề gì, khi kể dụ ngôn này ?

 Thời gian và vĩnh cửu

Trước hết, đó là sự khác nhau giữa thời gian và vĩnh cửu, hay nói dễ hiểu hơn là sự khác nhau giữa đời này và đời sau. Đời này thì có giờ, có tháng, có năm ; đời sau thì không có giờ, có tháng, có năm, nghĩa là lúc nào cũng là hiện tại, không có thủy không có chung ; đời này thì chóng qua, đời sau thì tồn tại mãi mãi ; đời này thì có thay đổi, đời sau thì không có thay đổi.

Chính vì thế, trong dụ ngôn, tổ phụ Abraham nói với ông nhà giàu sau khi đã chết, nghĩa là đã bước vào đời sau :

Giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

(c. 26)

Trong khi đó, ở đời này, giữa bàn tiệc của ông nhà giàu và người nghèo trước cổng đâu có phải là vực thẳm. Hai bên có thể đi qua đi lại dễ dàng ! Ý nghĩa này cần phải đánh động chúng ta. Bởi vì đời sau sẽ không thể thay đổi được, nhưng một cách nghịch lí, lại luôn luôn mới (x. Tv 136), nên chúng ta được mời gọi thay đổi, nghĩa là hoán cải ngay bây giờ, đặc biệt là trong cách chúng ta sử dụng của cải cũng như tất cả « những sự khác » (Linh Thao, số 23), theo hướng phục vụ và chia sẻ cho người khác, nhất là những người nghèo, những người thiếu may mắn và bất hạnh, và với cả những anh em, chị em nhỏ bé, yếu kém hay đau yếu bên cạnh chúng ta nữa, trong gia đình hay trong cộng đoàn. Hơn nữa, đời này thì rất chóng qua, còn đời sau thì kéo dài mãi mãi.

 Người nghèo và người giàu

Dụ ngôn còn muốn nói với chúng ta điều thứ hai, đó là những người giàu có ở đời này, sẽ bị lưu đày ở đời sau ; còn những người nghèo khó, sẽ được an ủi. Vấn đề của ông nhà giàu không phải là vì ông giàu có, ông có nhiều của cải, nhưng là ông quá gắn bó với của cải, đến nỗi ông không muốn chia sẻ, không quan tâm đến những người thiếu thốn hơn đang ở trước cổng nhà mình. Ông làm tôi cho của cải, thay vì làm tôi Thiên Chúa.

Trước khi kể dụ ngôn này, Đức Giê-su đã nói: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16, 13). Điều này không có nghĩa là tiền của tự nó là xấu, và chúng ta phải từ bỏ, hay phải càng có ít càng tốt. Nếu hiểu như thế, chúng ta sẽ “tự lên án” mình, vì chúng ta không thể sống mà không có tiền của, nhất là trong cuộc sống và cách thức làm việc hiện đại hôm nay, càng ngày càng đòi hỏi những chi phí rất lớn và những phương tiện đắt tiền. Tiền Của trở nên xấu trong mức độ, chúng ta coi nó như thần linh, thay thế hay đối lập với Thiên Chúa (trong bản văn Hi lạp, đó là chữ “Mamon” viết hoa). Trong khi nó chỉ là phương tiện.

Làm việc để có tiền có của, qua đó mua sắp những phương tiện là điều cần thiết trong cuộc sống. Nhưng ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự tai hại của một cuộc sống “làm tôi tiền của”, nghĩa là chỉ chạy theo tiền của, chỉ chạy theo việc mua sắm các phương tiện, chỉ lo thỏa mãn những nhu cầu vật chất của mình. Lúc đó, người ta không còn làm chủ tiền của nữa, nhưng bị tiền của làm chủ, và hậu quả là gây đỗ vỡ những tương quan làm cho chúng ta sống hạnh phúc, đó là tình thương và sự liên đới. Bởi lẽ, chúng ta không chỉ sống bằng tiền của, bằng phương tiện, bằng việc thỏa mãn nhu cầu, nhưng còn sống bằng tương quan đón nhận, tin tưởng, bao dung, tha thứ, và nhất là hiệp thông, tình bạn và tình thương mà Lời Chúa đem lại cho chúng ta. Thiếu tình thương, thì dù có tiền của, đời sống của chúng ta cũng trở thành chết chóc, thậm chí trở thành địa ngục.

Đời này thì thay đổi được, còn đời sau thì không. Chúng ta hãy thay đổi trong cách chúng ta tìm kiếm và sử dụng của cải, để trở nên nghèo khó trong tâm hồn, và như thế sẽ được Chúa ban tặng Nước Trời mãi mãi ở đời sau.

 Lời Chúa và các bí tích

Điều thứ ba chúng ta cần lưu ý trong dụ ngôn, đó là ông Mô-sê và các ngôn sứ, nghĩa là Kinh Thánh, là đủ để cho người đang sống hoán cải, thay đổi cách sống của mình ; và không cần phải chứng kiến những điều lạ lùng, như người chết hiện về. Bởi vì, hiện về thì hiện về có một lần ; nhưng thay đổi cách sống là thay đổi suốt đời ; thế mà, sự thay đổi bền vững lại phát xuất từ sự biến đổi của con tim, nhờ tác động của Lời Chúa trong Kinh Thánh, chứ không phải từ những hiện tượng ngoạn mục ở bên ngoài. Những hiện tượng lạ lùng, chỉ là dấu chỉ mời gọi thôi, chứ không tự động đem lại cho chúng ta sự thay đổi sâu xa và bền vững.

Đời này thì thay đổi được, đời sau thì không ; đời này thì chóng qua, đời sau thì vĩnh cửu. Xin cho chúng ta không cần trông cậy vào những điều lạ lùng hay ngoại thường, nhưng hoàn toàn tín thác vào Lời Chúa và các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Vì nếu chúng ta hoàn toàn tín thác vào Lời Chúa và các bí tích, chúng ta sẽ nhận ra rằng, đó là những điều lạ lùng nhất, ngoại thường nhất, có sức mạnh hoán cải chúng ta, biến đổi chúng ta thành con của Chúa và thành anh chị em của nhau, làm cho chúng ta biết chia sẻ cách quảng đại. Vì qua Lời Chúa và bí tích Thánh Thể, Chúa chia sẻ cho chúng ta chính sự sống của Chúa cách quảng đại, và khi lãnh nhận sự sống của Chúa và nhận ra rằng, mọi sự chúng ta có là ân huệ Chúa ban, chúng ta được thúc đẩy để chia sẻ cho người khác cách quảng đại.

Như thế, dụ ngôn về ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô, mà Đức Giê-su kể cho chúng ta nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, chất vấn chúng ta thật mạnh mẽ về tương quan của chúng ta với người khác và với những thực tại thuộc về đời này. Xin cho chúng ta, nhờ Lời Chúa, Mình và Máu Thánh của Chúa, làm cho chúng ta thay đổi và hoán cải ngay bây giờ trong cách chúng ta liên đới với những những người chung quanh, nhất là người nghèo khổ và bất hạnh, và với cả những anh em, chị em nhỏ bé, yếu kém hay đau yếu bên cạnh chúng ta nữa.

* * *

Dụ ngôn « Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô » chất vấn chúng ta, nhưng đó chưa phải là sứ điệp chính yếu của dụ ngôn. Sứ điệp chính yếu của dụ ngôn, đó là Thiên Chúa trao ban sự sống viên mãn một cách quảng đại và nhưng không cho « người nghèo ». Chính vì thế mà Người nghèo được nêu tên đích danh « La-da-rô », còn người giầu thì không. Nhưng « người nghèo » là ai ? Đó là những người nghèo thật sự : những em bé bị giết hại ngay từ khởi đầu của sự sống, những em bé bị bỏ rơi, những em bé sinh ra tật nguyền hay mang những căn bệnh hiểm nghèo hay nan y, những người khuyết tật, những người sinh ra và lớn lên trong cùng khổ, trong những hoàn cảnh không xứng đáng với nhân phẩm, trong điều kiện xã hội thấp kém và thua thiệt…

« Người nghèo » còn là mẫu người mà chúng ta được mời gọi trở nên. Vậy, dù là chúng ta là ai, chúng ta được mời gọi sống như người nghèo, theo khuôn mẫu của Đức Giê-su, để đón nhận mọi sự từ lòng tốt của Thiên Chúa, ở đời này và đời sau, như chính Đức Giê-su đã nói trong Tám Mối phúc thật :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
(Mt 5, 3)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

 (Cuộc chơi giành vương quyền kiểu Châu Á)

Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân): “The Twilight of Communist Party Rule in China”  American Interest, 15-12-2015

Phạm Gia Minh dịch

Chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ sau sự kiện Thiên An Môn đang hết tác dụng và chiến lược mới dường như lại thúc đẩy nhanh hơn sự sụp đổ của nó.

Trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh chưa có chế độ chuyên chế nào trên thế giới lại thành công như ĐCSTQ. Năm 1989 chính quyền đã có một cuộc đàn áp đẫm máu và chết chóc nhưng được bưng bít khi hàng triệu người phản kháng biểu tình trên hầu hết các thành phố chính trong cả nước để kêu gọi dân chủ và trút sự căm giận của mình lên chính quyền tham nhũng. Đảng chỉ thoát chết nhờ sự trợ giúp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) với hàng đoàn xe tăng nghiến nát những người biểu tình ôn hòa trên khu vực quảng trường Thiên An Môn ở Bắc kinh ngày 4 tháng 6. Một phần tư thế kỷ kể từ thời điểm cuộc thảm sát Thiên An Môn đã trôi qua nhưng ĐCSTQ luôn phớt lờ mọi dự báo về hồi kết không tránh khỏi của mình. ĐCSTQ đã sống sót sau cú sốc của Liên Xô sụp đổ và còn thích ứng được với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Kể từ sự kiện Thiên An Môn, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng gần 10 lần theo các điều khoản thực tế. GDP tính theo đầu người đã tăng từ 980$ lên 13.216 $ tính theo sức mua tương đương (PPP) trong cùng giai đoạn, đưa quốc gia này lên hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình.

Một cách dễ hiểu thành tích đó đã khiến nhiều nhà quan sát, kể cả những người từng trải về Trung Quốc tin tưởng rằng ĐCSTQ đã trở thành một chế độ chuyên chế dẻo dai với nhiều sức mạnh nội tại mà đa phần các chế độ chuyên chế khác không có. Ngoài ra, ĐCSTQ được biết đã xây dựng một quy trình hiệu quả cho việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo kế thừa dựa trên các quy định, chuẩn mực để phát hiện những công chức có năng lực cho hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Khác với chế độ cứng nhắc kiểu Xô viết dưới thời Leonid Bregiơnhev, ĐCSTQ đã thể hiện năng lực đáng nể trong học hỏi và thích ứng (1).

Đáng tiếc là đối với những người ủng hộ lý thuyết về sự “chuyên chế dẻo dai” các giả định của họ, bằng chứng và những kết luận rút ra ngày càng khó bảo vệ dưới ánh sáng của những diễn biến gần đây ở TQ. Các biểu hiện của cuộc chiến quyền lực căng thẳng trong giới lãnh đạo cao cấp, tham nhũng tràn lan, tính năng động kinh tế bị đánh mất và chính sách đối ngoại hung hăng tiềm ẩn nhiều rủi ro, tất cả đều đang hiển hiện. Kết quả là ngay một số học giả mà công trình của họ gắn liền với luận đề về chế độ chuyên chế dẻo dai cũng đã buộc phải tự nhìn nhận lại (2). Càng ngày càng thấy rõ rằng những diễn biến gần đây làm thay đổi nhận thức về tính bền vững của ĐCSTQ không mang tính chu kỳ mà có tính hệ thống. Chúng là triệu chứng cho thấy sự suy kiệt, hết tác dụng của sách lược sinh tồn mà chế độ đã đề ra sau biến cố Thiên An Môn. Một số trụ cột của sách lược đó như sự đoàn kết của tầng lớp lãnh đạo cao cấp, tính hợp pháp dựa trên hiệu quả, sự tham gia của các giai tầng tinh hoa trong xã hội và chủ trương kiềm chế chiến lược trong đối ngoại đã hoặc là đã sụp đổ hoặc trở nên sáo rỗng buộc ĐCSTQ phải ngày càng phải dựa vào đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc để tiếp tục cầm quyền.

Bởi lẽ đó, giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang phải đối mặt với một sự lựa chọn quả quyết nhất kể từ sự kiện Thiên An Môn: mô hình phát triển tư bản thân hữu độc tài chuyên chế sau 1989 thì nay đã chết và giờ đây họ chỉ có thể hoặc là tham khảo Đài Loan và Hàn Quốc để dân chủ hóa, giành được cội nguồn bền vững cho tính hợp pháp, hoặc là sẵn sàng thực thi chính sách đàn áp gia tăng để duy trì chế độ một đảng cầm quyền. Việc họ sẽ lựa chọn như thế nào sẽ có ảnh hưởng không chỉ Trung Quốc mà cả châu Á và toàn thế giới.

Bất chấp hình ảnh có tính đại chúng về các cuộc cách mạng “quyền lực nhân dân” hay “mùa Xuân Ả Rập”, cội nguồn quan trọng duy nhất của sự thay đổi trong các chế độ chuyên chế chính là sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao. Diễn biến này có nguyên nhân chủ yếu là do gia tăng mâu thuẫn và xung đột trong giới lãnh đạo cấp cao đối với vấn đề sách lược tồn vong của chế độ và phân chia quyền lực cũng như lãnh địa bảo trợ. Kinh nghiệm chuyển đổi dân chủ từ giữa những năm 1970 cho thấy một khi chính quyền chuyên chế đối mặt với những thách thức đến từ các lực lượng xã hội đòi hỏi các đổi thay về chính trị thì vấn đề gây chia rẽ nội bộ giới lãnh đạo cấp cao chính là hoặc đàn áp các lực lượng đó thông qua leo thang bạo động hoặc là hòa giải với chúng thông qua quá trình tự do hóa.

Khi lực lượng cải cách chiếm ưu thế các bước ban đầu tiến tới chuyển đổi chế độ diễn ra tiếp theo thường là giảm nhẹ sự quản chế về chính trị và xã hội. Nếu như lực lượng cứng rắn thắng trong cuộc đấu thì đàn áp sẽ mạnh hơn nhưng các cuộc đụng độ xã hội và chính trị cũng sẽ leo thang và điều này sẽ tiếp diễn cho tới khi chế độ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng khác buộc nó phải xem xét lại câu hỏi phải chăng đàn áp là sách lược đúng đắn nhất (3). Một dạng chia rẽ phổ biến khác trong giới lãnh đạo cấp cao đó là những xung đột do phân bổ quyền lực và đi cùng với nó là ranh giới các lãnh địa của sự bảo trợ (đôi khi đó cũng là sự bảo kê về kinh tế và chính trị – ND).Trong các chế độ chuyên chế được hình thành vững chắc, ví như ở các quốc gia hậu toàn trị (post-totalitarian) do đảng CS Leninit lãnh đạo thì xung đột này có xu hướng gia tăng khi mà cuộc ganh đua giành quyền lực dẫn tới tình trạng vi phạm các quy tắc và chuẩn mực được thiết lập từ lâu (ví dụ như làm trái Điều lệ Đảng – ND) nhằm bảo vệ sự cân bằng tinh tế về quyền lực trong giới lãnh đạo tinh hoa cũng như vì sự an toàn thân thể của họ. Trong nhiều trường hợp, nếu như không phải là tất cả các trường hợp – và Trung Quốc cũng không là ngoại lệ – khi những vi phạm đó được cam kết bởi các nhóm gia đình và điều này thể hiện một sự cha truyền con nối trong chính trị (4).

Trong trường hợp Trung Quốc, sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao phát sinh không từ cuộc tranh cãi giữa những người theo đường lối cứng rắn với những người cải cách mà lại bởi cuộc đấu đá nội bộ giữa những người theo đường lối cứng rắn với nhau để giành thế thượng phong.

Dấu hiệu khởi phát của sự mất đoàn kết trong giới chóp bu chính là việc thanh trừng Bạc Hy Lai, một cựu lãnh đạo đang bay cao của ĐCS ở Tứ Xuyên ngay trước Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 năm 2012. Sau này các sự kiện đã cho thấy sự ra đi của họ Bạc chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc thanh trừng làm sạch nội bộ ĐCS lớn nhất kể từ thời Cách mạng văn hóa. Sau đó,Tập Cận Bình, người thắng cuộc đã chính thức đảm nhận vị trí TBT đồng thời là Chủ tịch quân ủy PLA vào tháng 11/2012 liền triển khai một chiến dịch chống tham nhũng hung hãn chưa từng thấy nhằm đạt được thế thượng phong chính trị qua con đường tiêu diệt các đối thủ của mình. Cho dù chiến dịch do họ Tập khởi xướng ngày một trở nên lan rộng nhưng dường như sau một đêm nó đã tháo rời toàn bộ hệ thống mà giới lãnh đạo tinh hoa của ĐCSTQ đã dày công xây nên trong thời kỳ hậu Thiên An Môn nhằm gìn giữ tính đoàn kết, thống nhất của họ.

Có ba trụ cột chống đỡ cho hệ thống này. Cái thứ nhất là sự cân bằng tinh tế của quyền lực chính trị ở chóp bu được biết đến dưới cái tên sự lãnh đạo tập thể được thiết kế ra nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của một lãnh tụ kiểu Mao Trạch Đông, người đã có thể áp đặt ý chí của mình cho toàn đảng. Trong hệ thống này mọi quyết định quan trọng đã được hình thành thông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận và thỏa hiệp nhằm bảo đảm quyền lợi của các lãnh đạo cấp cao cùng nhóm lợi ích của họ. Cột trụ thứ hai là an toàn cá nhân tuyệt đối cho các lãnh tụ chóp bu, được xác định bất kể đương chức hay đã về hưu đối với các Ủy viên thường vụ BCT cũng đã tiêu tan cùng với sự rớt đài của Zhou Yongkang (Chu Vĩnh Khang) – một cựu ủy viên thường vụ BCT, người đứng đầu ngành an ninh nội bộ đã lãnh án tù chung thân vào năm 2015 sau khi bị kết tội tham nhũng. Những nỗ lực chống tham nhũng và các biện pháp khắc khổ đi kèm theo đã chấm dứt ít ra là tạm thời thực trạng chia chác của cướp được trong giới lãnh đạo cấp cao, gây ra cho họ nhiều nỗi đắng cay và theo báo cáo thì điều này đã thúc đẩy họ chống đối bằng cách ngưng trệ công việc. Trong khi còn nghi vấn liệu cuộc chiến chống tham nhũng của họ Tập sẽ thực sự nhổ được tận gốc vấn nạn này hay không thì nó đã rất thành công trong việc phá nát cấu trúc khuyến khích bên trong của chế độ được hình thành sau biến cố Thiên An Môn.

Xét về bản chất riêng của mình, sự chuyển biến từ “ lãnh đạo tập thể” sang “ nguyên tắc một cá nhân mạnh lãnh đạo” chưa chắc đã làm sáng tỏ một cách cần thiết thứ chủ nghĩa Lênin mang màu sắc Trung Quốc. Tuy vậy, kết cục ban đầu dễ thấy nhất của sự chuyển biến này cho đến nay đó là sự bốc hơi của tính đoàn kết, thống nhất – chất keo đã gắn kết cả một hệ thống hình thành sau biến cố Thiên An Môn. Mặc dù vậy hiện nay chưa thấy những dấu hiệu thách thức quyền lực của Tập Cận Bình trong ĐCSTQ và có thể đánh cuộc một cách an toàn khi cho rằng các đối thủ của họ Tập đang đấu thầu thời gian để đợi tới thời điểm phù hợp thì sẽ đánh trả.

Nếu như sự mất đoàn kết và thống nhất trong giới tinh hoa đang bị biến thành cuộc đấu chính trị cuối cùng để giải quyết tranh chấp dẫn tới sự chối bỏ hệ thống mà họ Tập đang cố gắng xây dựng thì chỉ có thể xẩy ra hai kết cục. Một, đó là trở lại với hệ thống tham nhũng hậu Thiên An Môn. Nhìn bề ngoài, điều này có vẻ như một giải pháp nhiều cám dỗ và hứa hẹn nhất, tuy nhiên lại bất khả thi bởi lẽ một số điều kiện cơ sở làm nền móng cho hệ thống hậu Thiên An Môn, cụ thể là sự tăng trưởng kinh tế do đầu tư mang lại và sự hài lòng về chính trị của tầng lớp trung lưu được bảo đảm bởi sự thịnh vượng gia tăng chưa từng có phần lớn đã biến mất. Nếu như nguyên trạng như trước đây không thể phục hồi thì ĐCSTQ sẽ cần một lối thoát khác. Trong khi mà chưa ai có thể biết ĐCS sẽ lựa chọn gì thì cũng đáng để nhớ lại rằng,vào những thời khắc đó ĐCS sẽ cố thử lại và tận dụng đến cùng ba mô hình quản trị chuyên chế: đó là Maoit (chủ nghĩa Cộng sản cực đoan), Đặng (chủ nghĩa tư bản thân hữu) và Tập (cá nhân mạnh lãnh đạo). Thật mỉa mai là ĐCSTQ có thể bị rơi vào tình thế tuyệt vọng và tàn khốc như ĐCS Liên Xô vào giữa những năm 1980: đó là thiếu ý tưởng và chiến lược phục vụ việc duy trì mãi mãi hệ thống lãnh đạo độc đảng và khi đó nó có thể đủ tuyệt vọng tới mức dám đánh cược vào bất cứ thứ gì, kể cả cải cách dân chủ và đa nguyên chính trị như là sách lược lâu dài để giúp ĐCS có sức sống trong một đất nước Trung Hoa đã chuyển biến hoàn toàn bởi quá trình hiện đại hóa đời sống kinh tế – xã hội.

Nếu như tính đoàn kết, thống nhất là chất kết dính của hệ thống hậu Thiên An Môn thì hiệu suất kinh tế như mọi người đều thừa nhận đó chính là cội nguồn quan trọng cho tính hợp pháp trong quần chúng của đảng cầm quyền. Một phần tư thế kỷ phát triển với tốc độ cao đã đem lại cho ĐCSTQ thời kỳ tương đối ổn định xã hội cùng với những nguồn lực khổng lồ để tăng cường năng lực đàn áp và mua chuộc những giới tinh hoa xã hội mới cùng tầng lớp trung lưu đang nổi lên ở các vùng đô thị. Tuy nhiên, hiện nay khi mà “sự thần kỳ kinh tế của TQ” đã kết thúc thì cột trụ thứ hai của hệ thống hậu Thiên An Môn cũng đang sụp đổ theo.

Nhìn bề ngoài, sự suy giảm mạnh của kinh tế Trung Quốc có vẻ như là một sự giảm tốc tự nhiên sau mấy thập kỷ tăng trưởng nóng. Nhưng một cái nhìn gần hơn vào nguyên nhân dẫn đến “ sự rớt đài vĩ đại của TQ” cho ta thấy chính những trở ngại mang tính cơ cấu và thể chế chứ không phải các yếu tố mang tính chu kỳ mới là chủ đạo và Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn phát triển kinh tế từ thấp tới khiêm tốn nên điều này sẽ rất nguy hiểm đối với tính hợp pháp của ĐCSTQ.

Tin tức của báo chí về những rắc rối kinh tế của Bắc Kinh gần đây phần lớn chỉ tập trung vào các biểu hiện dễ thấy và đầy kịch tính của căn bệnh kinh tế Trung Quốc chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán mang tính bong bóng hay việc đồng Nhân dân tệ mất giá một cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc có cội rễ sâu xa hơn.

Về mặt cơ cấu, sự tăng trưởng nhanh của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn đã được thúc đẩy chủ yếu bởi các nhân tố và hoàn cảnh xảy ra một lần và không lặp lại (one-off) chứ không nhờ tính ưu việt có mục đích của nhà nước chuyên chế. Trong số các nhân tố và hoàn cảnh đó thì nhân tố “cổ tức nhân khẩu học” (demographic dividend) là quan trọng nhất vì nó đã cung ứng gần như không có giới hạn đội ngũ công nhân Trung Quốc trẻ, khỏe lương thấp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa. Ngoài chuyện lương thấp, các công nhân từ nông thôn lên thành phố có thể tạo ra một sự gia tăng nhanh chóng năng suất lao động khi kết hợp với máy móc, thiết bị mà không cần đào tạo thêm nhiều. Kết quả là chỉ riêng việc tái bố trí lực lượng lao động dư thừa từ nông thôn sang các nhà máy, cửa hàng thương mại và công trường xây dựng ở thành phố nền kinh tế đã đạt năng suất lao động cao hơn. Theo số liệu của Trung Quốc, năng suất lao động của một công nhân ở thành thị cao gấp bốn lần một nông dân. Trong ba thập kỷ vừa qua có khoảng 270 triệu người lao động nông thôn (không tính gia đình của họ) đã dịch chuyển ra thành thị và hiện nay chiếm tới 70% lực lượng lao động nơi đây. Một số nhà kinh tế ước tính rằng khoảng 20% tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm 80 và 90 thế kỷ trước là do tái bố trí lực lượng lao động nông thôn tạo nên (5). Tuy nhiên bởi vì dân số Trung Quốc đang già đi khá nhanh nên sự dịch chuyển dân số ào ạt từ nông thôn ra thành thị đã đạt điểm đỉnh. Nhân tố thuận lợi mang tính cơ cấu này chỉ xảy ra có một lần mà không lặp lại.

Một cú hích tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn chính là việc quốc gia này ra nhập WTO vào năm 2001.Vào  những năm 1990 tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc trung bình đạt 15.4% hàng năm nhờ có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên sau khi ra nhập WTO Trung Quốc đã đạt tăng trưởng xuất khẩu 21.7% trong suốt giai đoạn 2002-08. Sự gia tăng nhờ xuất khẩu bắt đầu chậm lại sau 2011. Giữa các năm 2012 và 2014 xuất khẩu chỉ tăng trưởng có 7.1% tức là bằng 1/3 tăng trưởng của thập kỷ trước đó. Bảy tháng đầu năm 2015 xuất khẩu co lại khoảng 1% , sự việc diễn ra có lẽ đã khiến Bắc Kinh nhanh chóng hạ giá đồng tiền của mình.

Nhưng có lẽ khía cạnh gây rắc rối nhất trong triển vọng phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc chính là sự suy giảm lãi suất từ các khoản đầu tư được hoạch định bởi chiến lược tăng trưởng của quốc gia này. Trong tư cách là một nước đang phát triển với số vốn tương đối thấp, ở thời kỳ ban đầu Trung Quốc đã hưởng lợi lớn từ sự tăng trưởng bền vững của các khoản đầu tư. Trong các năm 1980 Trung Quốc đã đầu tư trung bình khoảng 35.8% GDP vào các nhà máy, hạ tầng cơ sở và nhà ở. Tỷ lệ này đã tăng lên 42.8% trung bình trong các năm 2000 và đạt 47.3% từ năm 2010. Sự gia tăng đầu tư ào ạt này đã tạo ra hơn một nửa mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc và là động cơ tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế trong hai thập kỷ rưỡi.

Tuy nhiên tăng trưởng dựa vào đầu tư trong bối cảnh của Trung Quốc có 3 hậu quả xấu. Một là lãi xuất từ các khoản đầu tư giảm dần  bởi lẽ mỗi đơn vị gia tăng của đầu ra đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn và được tính bởi tỷ lệ vốn/sản lượng (capital output ratio – lượng đầu tư cần thiết để sản xuất ra thêm một đồng nhân dân tệ trong GDP). Trong những năm 1990 tỷ lệ sản lượng vốn của Trung Quốc là 3.79, đến  những năm 2000 đã tăng lên 4.38. Xu hướng tăng trưởng đòi hỏi phải tăng đầu tư rõ ràng không mang tính bền vững. Trung Quốc gần đây  đầu tư gần như một nửa GDP của mình, một con số phi thường  đã trở thành hiện thực  nhờ sự quản lý của nhà nước trong phát triển hạ tầng cơ sở. Mức độ dư thừa công suất và phân bổ vốn bất hợp lý cũng là một con số phi thường.

Một tác hại nữa gây bất lợi cho nền kinh tế đó là các khoản đầu tư đã vắt kiệt tiêu dùng của các hộ gia đình (36% GDP năm 2013 nếu so với 60% ở Ấn độ) làm nảy sinh tình trạng mất cân đối cơ cấu khiến sự tăng trưởng bền vững hầu như là không thể. Sự tăng trưởng đó cần bắt đầu từ  việc quay lưng lại với phương thức lấy xuất khẩu làm chủ đạo để trở lại với tăng trưởng thị trường trong nước, tuy nhiên điều này không thể đạt được khi mà tiêu dùng hộ gia đình đang ở mức thấp một cách giả tạo.

(Xin bổ sung thêm một ý giải thích vì sao tiêu dùng hộ gia đình nói riêng và thị trường trong nước ở Trung Quốc luôn ở mức thấp đó là do chính sách hộ khẩu và an sinh xã hội mang tính kỳ thị người nhập cư từ nông thôn ra thành thị khiến họ phải gia tăng tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng để đề phòng khi ốm đau, hết tuổi lao động thì còn có nguồn dự trữ – ND).

Chi phí sau cùng của tăng trưởng dựa vào đầu tư, đó là quá trình này được cung cấp tài chính bởi các khoản tín dụng và sau đó đầu tư vào vào những ngành công nghiệp đã dư thừa công suất tới mức nguy hiểm. Với tỷ suất dư nợ / GDP vượt ngưỡng 280% GDP hiện nay (so sánh với 121% năm 2000) rủi ro của sự bùng nổ toàn diện một cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng cao bởi lẽ những con nợ lớn là chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp phát triển bất động sản chỉ sở hữu năng lực chi trả yếu kém do nền tảng các nguồn thu từ thuế khá eo hẹp (với các chính quyền địa phương), dư thừa công suất và lợi nhuận thấp (với các doanh nghiệp nhà nước), bong bóng bất động sản xì hơi (với các doanh nghiệp phát triển bất động sản).

Nếu những rắc rối trong tương lai phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc đơn thuần chỉ mang tính cơ cấu thì tương lai của đất nước chưa đến mức tàn khốc. Những cuộc cải cách hiệu quả có thể tái phân bổ nguồn lực một cách hữu hiệu giúp cho nền kinh tế có năng suất cao hơn. Tuy nhiên thành công của những cải cách đó lại gắn kết chặt chẽ với bản chất của nhà nước Trung Quốc và các thể chế chính trị của nó. Việc tạo ra của cải một cách bền vững chỉ có thể tồn tại ở các quốc gia nơi mà quyền lực chính trị bị giới hạn bởi luật pháp, quyền sở hữu tư nhân được bảo đảm thực sự và có nhiều phương tiện để tiếp cận các cơ hội. Ở các quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ cầm quyền thì xảy ra điều ngược lại: những kẻ nắm quyền điều hành chính trị sẽ trở thành dã thú, sử dụng những công cụ cưỡng bách của quốc gia để bòn rút của cải từ xã hội, bảo vệ đặc quyền của mình và làm nghèo người dân (6).

Quả thực các chính sách kinh tế của ĐCSTQ đã thay đổi tới mức không thể nhận ra kể từ thời Mao. Tuy nhiên, đảng và nhà nước Trung Quốc còn chưa từ bỏ bản năng dã thú cùng các thể chế của mình. Bất chấp những lời tự nhận hùng biện về tôn trọng thị trường và quyền sở hữu, thực tế chỉ đạo và chính sách của các tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc cho thấy họ không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân và cũng chẳng muốn bảo vệ nó. Bằng chứng về sự thiếu vắng mong muốn hạn chế những bản năng và thèm muốn dã thú của nhà nước độc đảng lãnh đạo chính là việc giới lãnh đạo chóp bu không dấu diếm sự thù hằn đối với bất kỳ ý tưởng nào về chủ nghĩa hợp hiến mà bản chất của nó là đặt ra những giới hạn phải được thực thi đối với chính quyền và những người nắm quyền lực. ĐCSTQ khước từ mọi giới hạn đối với quyền lực của mình và trên thực tế đã dẫn đến việc Trung Quốc không thể có thể chế tư pháp độc lập hoặc các tổ chức điều hành đủ năng lực thực thi pháp luật. Bởi lẽ, các nền kinh tế thị trường đích thực không thể hoạt động nếu thiếu những thể chế và tổ chức như vậy, cho nên rõ ràng là một khi đảng tự đặt mình cao hơn luật pháp thì cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường là điều bất khả thi.

Nhiều nhà quan sát lập luận rằng chế độ độc đảng này tuy thế vẫn đủ năng lực thực hiện các cải cách mang tính thị trường với dẫn chứng là diễn biến lịch sử của thời kỳ sau Mao. Lý lẽ này đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng đó là những cải cách sau Mao tuy tạo ra ấn tượng bề nổi nhưng nay đã cạn kiệt tiềm năng bên trong. Hơn thế nữa, cần phải hiểu rằng hệ thống Maoit kém hiệu quả tới mức dù chỉ một vài cải cách mang tính bộ phận đã có thể giải phóng sự gia tăng mạnh mẽ năng suất lao động, đặc biệt là trong một xã hội mà năng lượng kinh doanh của người dân còn đang bị sự khủng bố chuyên chế đè nén trong ba thập kỷ vừa qua. Điều quan trọng hơn là những cải cách từng phần đó còn chưa đi vào các bộ phận quan trọng trong nền móng kinh tế do ĐCSTQ lãnh đạo: đó là khu vực sở hữu nhà nước với những tài sản có năng suất cao nhất như ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên, sản xuất điện, viễn thông, ngân hàng, các dịch vụ tài chính và công nghiệp nặng. Chắc chắn không phải khu vực kinh tế tư nhân năng động đang kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc mà chính là các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu năng vẫn tiếp tục được nhận hỗ trợ và tiêu phí dòng vốn quý giá (7).

Cải cách kinh tế toàn diện và đích thực nếu được chấp nhận trên thực tế sẽ đe dọa phá vỡ nền móng đó. Khả năng nhiều nhất là nó sẽ xóa bỏ phần lớn sự kiểm soát hiện hữu đối với nền kinh tế và khối tài sản quốc gia khổng lồ của Trung Quốc, kết cục sẽ là sự sụp đổ về mặt tổ chức của ĐCSTQ. Đảng này cấp kinh phí và hỗ trợ một mạng lưới tổ chức hạ tầng cơ sở rộng khắp của mình – các đảng bộ, đảng ủy các cấp và chi bộ… thông qua số lượng lớn các quỹ đảng nhưng chính xác là bao nhiêu thì còn là một ẩn số. Phần lớn kinh phí cho các tổ chức và hoạt động của đảng được tài trợ từ ngân sách không minh bạch của nhà nước TQ. Nếu như ĐCSTQ từ bỏ sự kiểm soát nền kinh tế của mình và các khoản chi tiêu của chính phủ được minh bạch hóa thì đảng sẽ không còn nguồn tài chính để tồn tại. Sẽ không thể duy trì các đặc quyền và bổng lộc hậu hĩ của đảng ví như chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, quỹ cho các hoạt động giải trí, nhà công vụ và còn nhiều khoản phụ cấp đối với các quan chức như là tiêu chuẩn được hưởng khi là thành viên của câu lạc bộ tầng lớp tinh hoa.

Còn một hậu quả thảm khốc nữa của cải cách theo hướng thị trường đó là sự sụp đổ của hệ thống bảo trợ mà ĐCSTQ sử dụng để đảm bảo có được sự trung thành từ những người ủng hộ mình. Nền móng của hệ thống này là các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan kinh tế và các tổ chức điều hành do đảng kiểm soát. Nếu như cải cách định hướng thị trường dẫn tới tư nhân hóa thực sự các doanh nghiệp nhà nước (nhóm doanh nghiệp này sản xuất ít nhất cũng vào khoảng 1/3 GDP) thì ĐCSTQ sẽ không thể ban phát cho đội ngũ trung thành với mình bằng những hợp đồng và công việc béo bở và điều này đe dọa sẽ lấy đi sự ủng hộ của họ. Xin cung cấp thông tin rằng trong bản hướng dẫn chi tiết kế hoạch kinh tế của ĐCSTQ phát hành mùa Thu năm 2013 lãnh đạo đảng đã nhắc nhở đảng sẽ không bao giờ từ bỏ các doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, sự tiếp tục của các thể chế mang tính dã thú và bòn rút, cướp đoạt ở Trung Quốc đang ngăn chặn những cải cách thị trường triệt để, toàn diện và thành công. Tính bất khả thi của nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế thị trường đích thực được hậu thuẫn bởi nguyên tắc thượng tôn pháp luật có thể minh họa bằng câu ngạn ngữ Trung Quốc khôn ngoan yuhumoupi có nghĩa là đừng mặc cả với hổ về bộ da của nó. Triển vọng lâu dài cho sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là đáng bi quan bởi vì khu vực tăng trưởng nhanh nhờ có cải cách từng phần và các nhân tố cũng như hoàn cảnh thuận lợi chỉ diễn ra một lần đang chấm dứt. Một sự tăng trưởng bền vững cho Trung Quốc sẽ đòi hỏi phải nhìn nhận lại triệt để thể chế kinh tế và chính trị để đạt được hiệu quả cao hơn. Nhưng bởi lẽ bước đi quan trọng có tính quyết định này sẽ hủy hoại nền tảng lãnh đạo của ĐCSTQ cho nên khó có thể tin được rằng đảng sẽ cam kết tự vẫn về kinh tế và do đó cả về chính trị. Những ai còn chưa bị thuyết phục bởi lập luận này hãy nên đếm lại có bao nhiêu nhà độc tài trong lịch sử đã tự nguyện từ bỏ các đặc lợi cùng đặc quyền kiểm soát nền kinh tế của mình nhằm mục đích bảo đảm cho một tương lai thịnh vượng dài lâu của quốc gia.

Lừ lừ hướng tới đàn áp và chủ nghĩa dân tộc

Nếu như tình trạng kinh tế trì trệ trong dài hạn đã được khẳng định thì sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu Trung Quốc với hiện trạng sẽ bị mai một. Sự tham gia của tầng lớp đang tăng trưởng nhanh này là một trụ cột chủ chốt nữa trong sách lược sinh tồn của ĐCSTQ thời kỳ sau biến cố Thiên An Môn và đã góp phần vào sự bùng nổ kinh tế trong ¼ thế kỷ vừa qua. Kinh tế phát triển chậm lại chắc chắn sẽ giảm bớt cơ hội, kỳ vọng và hạn chế tính năng động đi lên đối với các thành viên của nhóm xã hội quan trọng này và sự chấp nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ từ nhóm này chỉ là ngẫu nhiên do vừa qua đảng đã mang đến sự phát triển kinh tế liên tục và đáng hài lòng.

Cùng với sự bốc hơi của (chất keo gắn) sự đoàn kết, thống nhất trong giới lãnh đạo cấp cao, nguy cơ kinh tế trì trệ và thái độ xa lánh rất có thể xảy ra của giới trung lưu thì mô hình hậu Thiên An Môn chỉ còn có hai cột trụ: đó là đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc. Các chế độ chuyên chế ngày nay vì thiếu tính hợp pháp trong công chúng (mà đáng ra phải đạt được qua quá trình cạnh tranh chính trị) chủ yếu dùng ba phương tiện để giữ quyền lực của mình. Một là mua chuộc quần chúng bằng các lợi ích vật chất. Hai là đàn áp nhân dân bằng bạo lực và nỗi sợ. Ba là kêu gọi tình cảm dân tộc của họ. Ở những chế độ chuyên chế tinh vi và thành công những kẻ cầm quyền thường dựa vào tính hợp pháp có được nhờ thành tích đạt được (mua chuộc) hơn là sử dụng nỗi sợ hãi và chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến. Nguyên nhân chính là đàn áp thì tốn kém mà chủ nghĩa dân tộc thì có thể trở nên nguy hiểm. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn có thể tin chắc rằng ĐCSTQ đã sử dụng cả ba phương tiện, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thành tích phát triển kinh tế nhưng vẫn dùng phương tiện đàn áp và chủ nghĩa dân tộc một cách có chọn lọc như các biện pháp cầm quyền dự phòng.

Tuy nhiên, những xu hướng kể từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền vào cuối năm 2012 cho thấy đàn áp và chủ nghĩa dân tộc được coi là đóng vai trò ngày càng nổi bật trong chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ. Lời giải thích hiển nhiên là tăng trưởng kinh tế không chắc chắn của Trung Quốc đang gây nên căng thẳng xã hội và bào mòn sự ủng hộ của quần chúng đối với ĐCS, và như vậy buộc chế độ phải ngăn cản những thách thức tiềm ẩn từ xã hội bằng sức mạnh và chuyển hướng sự chú ý của công chúng sang chủ nghĩa dân tộc. Vậy mà nhiều nhà quan sát đã bỏ qua lời giải thích có giá trị này.

Một chiến lược sinh tồn phụ thuộc vào việc đem lại tăng trưởng kinh tế nhằm duy trì tính hợp pháp vốn dĩ không bền vững không chỉ bởi lẽ tăng trưởng kinh tế là điều không thể bảo đảm chắc chắn và sự kỳ vọng của công chúng thì bao giờ cũng gia tăng nên cũng không thể luôn luôn đáp ứng được mà còn vì sự tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ làm phát sinh những thay đổi kinh tế- xã hội mang tính cơ cấu. Và chính những thay đổi đó ắt sẽ đe dọa độ bền vững của chế độ chuyên chế như các nghiên cứu xã hội học và lịch sử các cuộc chuyển đổi dân chủ đã cho thấy.

Các nhà nước chuyên chế khi buộc phải chấp thuận tính hợp pháp dựa trên thành tích phát triển (nguyên văn là faustian bargain – giao kèo với quỷ dữ – ND) thì mặc nhiên là chúng sẽ thua cuộc bởi lẽ những đổi thay kinh tế – xã hội do tăng trưởng kinh tế đem lại sẽ củng cố năng lực tự trị của các lực lượng xã hội ở thành thị, ví dụ như các nhà kinh doanh tư nhân, trí thức, người làm nghề, các tín đồ tôn giáo, công nhân phổ thông nhờ trình độ học vấn cao hơn, tiếp cận với thông tin dễ dàng hơn, tích lũy được tài sản cá nhân nhiều hơn và năng lực tổ chức hoạt động tập thể cũng được cải thiện. Nhiều công trình nghiên cứu hàn lâm đã chỉ ra sự tương quan chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế với sự hiện diện của dân chủ cũng như giữa thu nhập gia tăng với khả năng sụp đổ của các chế độ chuyên chế (8). Trong thế giới ngày nay, mối tương quan tích cực giữa tài sản (được tính bằng GDP theo đầu người) và dân chủ có thể được thể hiện trong biểu đồ (9) và nó cho thấy tỷ lệ phần trăm các nền dân chủ (được định nghĩa bởi tổ chức Freedom House) tăng đều đặn cùng với mức tăng của thu nhập. Có một bộ phận các quốc gia dân chủ giảm trong khi thu nhập tăng lên. Sự phân bố các quốc gia không dân chủ hoặc độc tài trên biểu đồ đã hình thành nên đồ thị hình chữ U. Trong khi có nhiều hơn các chế độ độc tài tồn tại ở những nước nghèo hơn (phần đáy của 2/5 các quốc gia có thu nhập trên đầu người ) thì sự hiện diện của chúng ở phần trên của danh sách 2/5 các quốc gia dường như đã phản bác lại nhận định cho rằng sự thịnh vượng có tương quan cùng chiều (nguyên văn tương quan dương tính – ND). Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn số liệu sẽ thấy hầu hết các quốc gia giàu có nhưng nằm dưới chế độ độc tài đều là những nước sản xuất dầu mỏ, nơi mà giới tinh hoa cầm quyền có đủ năng lực tài chính để mua chuộc người dân của mình để họ chấp thuận chế độ chuyên chế (9).

clip_image001

Nguồn: Tính toán sử dụng dữ liệu thu nhập dựa trên sức mua trên đầu người (PPP) do Ngân hàng Thế giới cung cấp. Chỉ số tự do do Freedom House cung cấp.

Những nhà cầm quyền Trung Quốc nếu như nhìn qua biểu đồ sẽ cảm thấy lo lắng cho triển vọng trong trung và dài hạn của mình. Hiện nay 87 quốc gia có thu nhập theo đầu người (chuẩn PPP – sức mua tương đương – ND) cao hơn Trung Quốc và 58 quốc gia trong số đó được đánh giá là có dân chủ, 11 quốc gia được Freedom House sếp hạng “ tự do một phần” và 18 quốc gia bị coi là độc tài (nguyên văn là “ không tự do” theo Freedom House). Tuy nhiên trong số 18 quốc gia “ không tự do” có thu nhập theo đầu người cao hơn Trung Quốc thì có tới 16 quốc gia sản xuất dầu mỏ (Belarus được tính trong nhóm này bởi vì được Nga trợ cấp đáng kể nhu cầu năng lượng), hai quốc gia không sản xuất đầu mỏ là Thái Lan (chính quyền quân sự độc tài đã lật đổ chính quyền nửa dân chủ vào năm 2014) và Cuba (cũng là một quốc gia Leninit độc đảng, độc tài). Trong số 11 quốc gia tự do một phần Mexico và Malaysia là những nhà sản xuất dầu mỏ đáng kể trong khi Côoét và Venezuela là những nước sản xuất dầu mỏ kinh điển. Điều làm cho các lãnh đạo của ĐCSTQ có thêm lý do để lo ngại đó là thu nhập tính theo đầu người của Trung Quốc vào khoảng $13.216 (PPP) năm 2014 cũng chỉ bằng mức của Đài Loan và Hàn Quốc vào cuối những năm 1980 khi cả hai quốc gia này bắt đầu tiến trình dân chủ hóa (10). Nếu như kinh nghiệm chuyển đổi thể chế ở các nước có thu nhập trên trung bình như Đài Loan và Hàn Quốc có thể được đem ra tham khảo và áp dụng thì ĐCSTQ cần phải tính đến nhu cầu và những sự vận động xã hội đang dâng cao để tiến hành những thay đổi chính trị trong thập kỷ tới (một vài tín hiệu của sự vận động này đã được ghi nhận).

Hàm ý duy nhất có thể rút ra từ phân tích này đó là trừ khi Trung Quốc muốn đi theo tấm gương của Cuba và duy trì một nền kinh tế đóng để đảm bảo sự tồn vong của chế độ độc đảng, quốc gia này sẽ phải đối mặt với tình trạng lợi thế ngày một suy giảm trong nỗ lực giữ nguyên quyền lực (miễn là Trung Quốc một cách kỳ diệu không trở thành một nước giống như Ả Rập Saudi). Nhưng bởi lẽ Trung Quốc sẽ không bao giờ là quốc gia dầu lửa nên ĐCSTQ vì sự tồn vong của mình trong dài hạn còn có cơ hội khai mở một số hình thái của thể chế chính trị có cạnh tranh và trở thành một chế độ “ tự do một phần” – và đây là một bước trọng yếu tiến về phía trước so với chủ nghĩa Leninnit hiện nay. Một cách khác, Trung Quốc có thể chống lại ngay cả những cải cách khiêm tốn nhất và đặt cược sự tồn vong của mình vào việc leo thang đàn áp và nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc.

Đánh giá những chính sách và biện pháp được ban lãnh đạo hiện nay của ĐCSTQ thông qua thì dường như đảng này có ý định đặt cược chống lại lịch sử. Trong ba năm gần đây đảng đã rất nỗ lực gia tăng đàn áp. Trong số các bước đi đáng để ý nhất: ĐCSTQ đã mạnh mẽ thắt chặt kiểm duyệt Internet, truyền thông xã hội, báo chí, thông qua Luật về an ninh quốc gia chủ yếu nhắm tới việc ngăn chặn các tổ chức phi chính phủ để bảo đảm an ninh cho chế độ, phá hủy hàng trăm cây Thánh giá của nhà thờ Thiên Chúa nhằm hạn chế tự do tín ngưỡng, tăng cường kiểm soát tư tưởng trong các ký túc xá trường Đại học, cao đẳng và bắt bớ hàng chục luật sư nhân quyền, nhà hoạt động vì quyền công dân trên cơ sở các bằng chứng ngụy tạo. Theo nhiều cách nhìn nhận, mức độ đàn áp của ngày hôm nay là cao hơn bất kỳ giai đoạn nào kể từ cuộc trấn áp Thiên An Môn.

Cũng không kém phần đáng lo ngại và còn nguy hiểm hơn đó là những tuyên bố dân tộc chủ nghĩa có tính leo thang của Trung Quốc. ĐCSTQ nhận thức mọi điều nhưng lại từ bỏ chủ trương đối ngoại của Đặng Tiểu Bình là dấu mình chờ thời và không đối đầu để ủng hộ cho một chiến lược đối ngoại khoe cơ bắp và điều này đã làm cho Trung Quốc đi theo một tiến trình xung đột với Hoa Kỳ. Bằng chứng về lời kêu gọi mới đây kích động chủ nghĩa dân tộc và chính sách ngoại giao quả quyết của Bắc Kinh có thể tìm thấy trong màn diễu binh lần đầu tiên kỷ niệm sự kiện bại trận của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới lần thứ II (mặc dù Trung Quốc và ĐCSTQ chỉ đóng vai trò rất phụ trong cuộc chiến đó), đó còn là chiến dịch tuyên truyền kỷ niệm “giấc mơ Trung Hoa” (nội dung chủ yếu là sự phục hưng của Trung Quốc với vị thế một siêu cường) và đòi hỏi gần như công khai vị thế ngang hàng với Hoa Kỳ (được diễn đạt bằng ngôn từ “quan hệ kiểu mới giữa các siêu cường” trong tuyên bố của Bắc Kinh), những cuộc tấn công trên mạng không ngơi nghỉ nhằm vào các cơ quan chính phủ và các cơ sở thương mại Hoa Kỳ cùng với những cuộc khiêu khích và thủ đoạn gây hấn đẩy tình hình tới miệng hố chiến tranh ở Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND). Cụ thể là thiết lập vùng nhận dạng hàng không ADIZ trên vùng trời đảo Senkaku, cải tạo hàng loạt bãi chìm và xây dựng trên các đảo thuộc vùng lãnh hải còn đang tranh chấp ở Biển Đông).

Nếu như ĐCSTQ tin rằng leo thang đàn áp và chủ nghĩa dân tộc sẽ giúp cho đảng duy trì quyền lực trong giai đoạn đang có hỗn loạn trong giới lãnh đạo cấp cao, kinh tế suy thoái và căng thẳng xã hội dâng cao thì đảng cũng nên nhìn nhận những rủi ro to lớn và cái giá phải trả cho chiến lược sinh tồn mới này. Ngoài việc khiến Trung Quốc bị lạc hậu chiến lược này tỏ ra không bền vững và nguy hiểm. Trấn áp có thể có tác dụng trong một thời điểm nhưng các chế độ chuyên chế quá phụ thuộc vào nó sẽ phải sẵn sàng gia tăng việc sử dụng bạo lực liên tục và áp dụng những biện pháp hà khắc để ngăn cản các lực lượng chống đối.

Đàn áp có thể là không tốt cho việc kinh doanh, vì khi đó nhà cầm quyền buộc phải ngăn chặn dòng thông tin và tự do kinh tế để bảo đảm an ninh cho chế độ (quả thực, các hãng phương Tây đang phàn nàn về những bất tiện do tường lửa Vạn lý Trường thành gây ra). Gia tăng mức độ đàn áp trong lúc kinh tế đang chìm đắm trong đình đốn sẽ gây căng thẳng và áp lực lên các nguồn lực của ĐCSTQ bởi lẽ việc trấn áp đòi hỏi phải duy trì mạng lưới tốn kém những kẻ nội gián chuyên cung cấp thông tin, công an chìm, nhân viên kiểm duyệt và các lực lượng bán vũ trang. Đàn áp còn làm phát sinh những chi phí khổng lồ về đạo đức và có thể nhóm lửa cho những cuộc tranh luận bên trong chế độ.

Hãy đặt câu hỏi một cách rõ ràng: liệu Trung Quốc có thực sự sẵn sàng để trở thành một Bắc Triều Tiên khác?

Sử dụng chủ nghĩa dân tộc và khoe cơ bắp có thể đem lại những lợi ích chính trị nhất thời nhưng ĐCSTQ sẽ phải trả giá bằng an ninh của mình trong dài hạn. Một trong những lựa chọn chiến lược khôn ngoan nhất của Đặng Tiểu Bình là phát triển các mối quan hệ bạn bè với phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa Trung Hoa. Trong thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình hai nhân vật tiền nhiệm của họ Tập là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào cũng đã học bài học cốt tử từ sự sụp đổ của Liên Xô: xung đột chiến lược với Hoa Kỳ sẽ gây nguy hiểm cho chính sự tồn vong của ĐCSTQ. Chi phí cho một cuộc chạy đua vũ trang sẽ ở mức không chịu đựng nổi và sự thù địch công khai trong quan hệ Trung – Mỹ sẽ phá hủy mối quan hệ kinh tế song phương.

Không rõ ban lãnh đạo ĐCSTQ có nhận thức được những rủi ro mà chiến lược sinh tồn mới đang hoàn thiện của họ sẽ mang lại hay không nhưng nếu các thành viên trong ban lãnh đạo tin chắc rằng chỉ có chiến lược đó mới cứu vãn được sự lãnh đạo của đảng và do hiện đang lo sợ bởi sự sụp đổ của những trụ cột quan trọng trong mô hình hậu Thiên An Môn thì rất có thể họ sẽ tiếp tục đường lối hiện nay. Và thật mỉa mai, đường lối đó, nếu như phân tích ở trên là đúng thì chắc chắn sẽ thúc đẩy sự kết thúc của ĐCSTQ thay vì ngăn chặn nó.

Thăng Long – Hà Nội 24/02/2016

Bản dịch của Phạm Gia Minh

Tài liệu tham khảo

1The literature on China’s “resilient authoritarianism” is large. Representative works include Andrew J. Nathan, “Authoritarian Resilience,” Journal of Democracy (January 2003); David L. Shambaugh, China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation (University of California Press, 2008).

2Andrew Nathan acknowledged in 2013 that, “The consensus is stronger than at any time since the 1989 Tiananmen crisis that the resilience of the authoritarian regime in the People’s Republic of China (PRC) is approaching its limits.” Nathan, “Foreseeing the Unforeseeable,” in Andrew Nathan, Larry Diamond, and Marc Plattner, eds., Will China Democratize? (Johns Hopkins University Press, 2013); David Shambaugh published a much-noted long essay, “The Coming Chinese Crackup,” in the Wall Street Journal on March 6, 2015 arguing that the endgame for the CPC regime has begun.

3Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993); Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Johns Hopkins University Press, 2013).

4See Aviezer Tucker, “Why We Need Totalitarianism”, The American Interest (May/June 2015).

5Cai Fang Wang Dewen,Impacts of Internal Migration on Economic Growth and Urban Development in China,” in Josh DeWind and Jennifer Holdaway, eds., Migration and Development Within and Across Borders (The Social Science Research Council, 2008.)

6The literature on the predatory state and extractive institutions is vast. The most influential works are Daron Acemoğlu and James Robinson, Why Nations Fail (Crown Publishing, 2012); Douglass North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance (Cambridge University Press, 1990).

7The huge inefficiency of state-owned enterprises, as compared with the dynamism of the Chinese private sector, is detailed in Nick Lardy, Markets over Mao: The Rise of Private Business in China (Peterson Institute for International Economics, 2014)

8Seymour Martin Lipset, “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,” American Political Science Review (March 1959); Adam Przeworski, Democracy and Development: Political Institutions and Well-Being in the World, 1950–1990 (Cambridge University Press, 2000).

9Academic research has also established a strong link between oil and dictatorship. See Michael Ross, “Does Oil Hinder Democracy?” World Politics (April 2001).

10Yu Liu and Dingding Chen, “Why China Will Democratize,” Washington Quarterly (Winter 2012).

Minxin Pei is the Tom and Margot Pritzker ’72 Professor of Government at Claremont McKenna College and a non-resident senior fellow of the German Marshall Fund of the United States. His latest book, China’s Crony Capitalism: Dynamics of Regime Decay, will be published by Harvard University Press in 2016. This article is drawn from a larger research project on China’s likely regime transition that has received financial support from the Smith Richardson Foundation, the Carnegie Corporation of New York, and the John D. and Catherine T. MacArthur Foundation.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/Pei_CCPTwilighlt_trans.htm

Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Ngô Nhân Dụng –

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 2 năm 2016


Những hành động hung hăng của cộng sản Trung Quốc trong vùng Biển Đông nước ta nhắm khích động tự ái quốc gia của dân lục địa, trong khi Tập Cận Bình đang tìm cách củng cố uy thế và quyền hành cá nhân. Ngày hôm qua, Thứ Sáu 19 tháng Hai năm 2016, Tập Cận Bình đã được Lưu Vân Sơn (Liu Yunshan, 刘云山), người đứng đầu bộ máy tuyên truyền trong Bộ Chính Trị, dẫn đi thăm báo Nhân Dân, đài truyền hình Trung Ương, và Tân Hoa Xã. Mỗi nơi này đều trương khẩu hiệu “Tuyệt đối Trung thành.”

Gần đây, Tập Cận Bình vận dụng tối đa bộ máy tuyên truyền để tăng uy thế trong lúc cố dẹp tan những thành phần đối kháng. Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân chưa bao giờ làm lộ liễu như vậy. Báo, đài Trung Cộng đã suy tôn Tập là “hạt nhân cốt lõi” của lãnh đạo; kêu gọi quân đội và quan chức phải “tuyệt đối trung thành” với “Đảng,” tức là với họ Tập. Tháng 12 năm ngoái, Tập đã tới thăm báo Quân Đội Nhân Dân, trước khi công bố kế hoạch đại cải tổ quân đội, sa thải 300 ngàn người. Tin tức tiết lộ về phiên họp Bộ Chính Trị vào cuối tháng 12 năm 2015 kể rằng Tập Cận Bình đã yêu cầu “Các thành viên Bộ Chính Trị tuân thủ đường lối của Trung Ương và trung thành với Đảng.”

Trong ba năm nắm quyền, Tập Cận Bình dần dần nắm đầu tất cả các ngành trong bộ máy cầm quyền: Đảng, Quân Ủy trung ương, Bẩy ủy ban đặc trách các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, vân vân. Kể từ thời Mao Trạch Đông, chưa có lãnh tụ Trung Cộng nào uy quyền lớn như vậy, kể cả Đặng Tiểu Bình. Tân Hoa Xã mới nhắc lại câu của Mao Trạch Đông: “Trong đảng, trong nhà nước, trong quân đội, trong nhân dân, cả bốn phía đông, tây, nam, bắc và ở giữa, tất cả phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.”

Trong một tháng qua, một nửa lãnh tụ ở các tỉnh đã công khai thề “tự nguyện trung thành bảo vệ chính sách căn cốt của Tổng bí thư Tập Cận Bình!” Đây là một hiện tượng hiếm hoi, từ những năm sau cùng của Mao Trạch Đông bây giờ mới lại thấy.

Tin tức trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị mà lại tiết lộ là điều hiếm khi xẩy ra, chứng tỏ thế lực của Tập Cận Bình chưa vững, vẫn cần đề cao uy thế cá nhân. Dùng guồng máy tuyên truyền để củng cố uy quyền cho thấy Tập Cận Bình biết mình đang ngồi trên lưng cọp, không biết lúc nào có thể ngã rồi bị cọp ăn thịt. Con cọp đó là kế hoạch cải tổ cơ cấu kinh tế.

Trung Cộng biết cần phải thay đổi. Nếu không thì kinh tế sẽ ngày càng lụn bại sau khi đã vận dụng đã hết khả năng của các chính sách cũ: Chú trọng đến tỷ lệ tăng trưởng cao; đặt trọng tâm vào xuất cảng, đổ tiền đầu tư vào xây dựng, ngân hàng nhà nước nuôi dưỡng các xí nghiệp quốc doanh. Hai năm nay họ đã chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng thấp; tìm cách hướng vào tiêu thụ nội địa; giảm bớt vai trò nhà nước để thị trường quyết định nhiều hơn. Việc cải tổ chắc chắn bị các cán bộ từ trên xuống dưới cản trở và chống đối ngầm, vì đụng tới những quyền lợi họ đang được hưởng. Vì thế, Tập Cận Bình cần phải thâu tóm quyền hành, dẹp hết các phe nhóm trong đảng có khả năng thay thế mình, dọa các cán bộ còn lại bằng cái máy chém “chống tham nhũng.” Cần phải “thống nhất sơn hà” mới có thể tiến hành một chương trình cải tổ chắc chắn sẽ gây nhiều xáo trộn.

Đó là một “thế cưỡi cọp.” Nếu việc cải tổ sẽ tiến hành chậm và có lúc vấp ngã, con cọp sẽ lồng lên, hất thằng cưỡi cọp xuống. Mà công việc chuyển hướng cơ cấu kinh tế không thể tiên đoán sẽ gây ra những hậu quả như thế nào. Tỷ lệ tăng trưởng đã xuống 6.9%, thấp nhất trong một phần tư thế kỷ (Trong thực tế, con số đúng là 3% đến 4%).

Trong năm 2015 uy tín Cộng sản Trung Quốc xuống rất thấp, ở trong nước cũng như bên ngoài, vì mấy lần đổ hàng tỉ đô la cố nâng giá thị trường chứng khoán nhưng thất bại. Việc phá giá đồng nguyên vụng về trong cùng thời gian đó khiến thị trường càng mất tin tưởng.

Một hình ảnh tiêu biểu cho cái lưng con cọp bấp bênh là chính sách tiền tệ của tập đoàn lãnh đạo.  Hiện nay, họ đang lo lắng trước mối đe dọa “giảm phát” (deflation), khi các nhà sản xuất và bán hàng hạ giá đồng loạt để cạnh tranh. Giá cả xuống sẽ khiến người tiêu thụ ngưng mua hàng, để chờ giá xuống thêm; nhà sản xuất thấy khó bán hàng sẽ hạ giá xuống nhiều hơn; tạo một cái vòng luẩn quẩn.

Để giữ mức lạm phát không xuống quá thấp, Ngân hàng trung ương ở Bắc Kinh (tên chính thức là Nhân Dân Ngân Hàng) đã in thêm tiền. Số tiền tệ lưu hành gia tăng 14% một năm, gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chính thức. Họ theo đúng từng chữ trong “sách vỡ lòng” kinh tế học: Khi nhiều đồng tiền cùng đuổi theo một số hàng hóa thì giá cả sẽ tăng. Giá tăng, sẽ không lo giảm phát.

Nhưng đây có phải là cách điều hành kinh tế đúng nhất hay không? Nếu ở trên đời này cứ việc in thêm thật nhiều tiền, mà đồng tiền vẫn giữ nguyên được giá trị, thì người ta có thể biến thế giới này thành cõi thiên đường rồi!

Muốn giữ giá trị đồng tiền, Nhân Dân Ngân Hàng lại đem đô la Mỹ ra mua đồng nguyên, thu bớt tiền nội địa vào. Thế ra họ vừa in thêm tiền, vừa đổ đô la ra mua, thu lại các đồng tiền đó.  Một nhà phân tích đầu tư đã ví hai hoạt động đồng thời này giống như một người vừa uống thuốc aspirin vừa uống rượu whiskey!

Đồng nguyên mất giá vì chính người dân Tàu không tin tưởng vào đồng bạc của mình. Tức là không tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của guồng máy đảng và nhà nước. Nhiều người đã đổi đồng nguyên lấy đô la để đưa ra nước ngoài, theo nhiều ngả. Trong tháng Giêng vừa qua, số ngoại tệ dự trữ của Ngân hàng trung ương đã giảm bớt 100 tỷ đô la; sau khi đã giảm 108 tỷ trong tháng 12, 2015. Số ngoại tệ dự trữ gần 4,000 tỷ nay chỉ còn 3,200 tỷ đô la. Con số chênh lệch lớn hơn cả ngân sách quốc phòng của chính phủ Mỹ trong năm tới (600 tỷ)!

Cũng trong ngày hôm qua, 19 tháng Hai, bản báo cáo hàng tháng của Ngân hàng trung ương mới công bố đã làm cả thị trường thế giới kinh ngạc, vì nó thiếu hẳn mục tổng số ngoại tệ mua bán trong tháng Giêng vừa qua. Họ chỉ cho biết con số mua bán của riêng ngân hàng trung ương mà không nói đến các cơ sở tài chánh kinh tế khác, như thường lệ. Giới đầu tư chắc chắn sẽ tìm ra các con số bị bỏ sót, nhưng người ta tự hỏi tại sao Nhân Dân Ngân Hàng lại cố ý bỏ sót như vậy? Một lý do dễ đoán là chính quyền muốn che giấu số đô la được chuyển ra nước ngoài; một phong trào phát động mạnh từ tháng Tám năm ngoái, khi thị trường chứng khoán sụp đổ hai lần liên tiếp.

Trong khi đó, thế giới vẫn đang chờ coi bao giờ thì “quả bom nợ” Trung Quốc sẽ bùng nổ. Riêng số nợ “khó đòi” đã lên tới 5 ngàn tỷ mỹ kim, tương đương với một nửa tổng sản lượng nội địa tạo ra trong một năm. Thế giới phải lo lắng vì nếu hệ thống ngân hàng Trung Quốc sụp đổ vì các món nợ khó đòi thì ảnh hưởng dây chuyền sẽ kéo theo tất cả các nước đang buôn bán với Trung Quốc, tức là không nước nào thoát nạn!

Cho nên Tập Cận Bình phải tìm cách bảo đảm chỗ ngồi của mình còn vững dù ngồi trên lưng cọp! Trong hơn một năm nữa, Đại hội Đảng kỳ thứ 19 sẽ diễn ra, Tập Cận Bình phải xếp đặt ngay từ bây giờ. Trong đại hội sắp tới, năm trong số bẩy người Thường Vụ Bộ Chính Trị sẽ đến tuổi phải nghỉ, chỉ Tập và Thủ tướng Lý Khắc Cường được miễn. Trong số 25 người thuộc Bộ Chính Trị, còn sáu người khác sẽ phải về hưu vì quá 68 tuổi. Trong số 12 người còn lại, cuộc chạy đua vào Thường Vụ sẽ rất gay go. Chưa hết, 250 người thuộc Trung Ương Đảng cũng chạy đua vào Bộ Chính Trị.

Vì vậy, từ năm ngoái Tập Cận Bình đã nâng cao các “con gà” của mình để chuẩn bị chiếm chỗ trong hai cơ quan đầu não của đảng cộng sản. Năm 2015, họ Tập cho chánh văn phòng của mình là Lật Chiến Thư (Li Zhanshu, 栗战书) bay qua gặp Putin ở Matx Cơ Va, mặc dầu ông này không có vai trò ngoại giao nào, trong đảng cũng như nhà nước. Trong tháng Giêng năm nay, một phụ tá khác của họ Tập là Lưu Hạc (Liu He,) đã điện thoại với bộ trưởng Tài chánh Mỹ bàn chuyện giao thương, qua mặt Phó thủ tướng Uông Dương (Wang Yang, 汪洋), một người cấp bậc cao hơn. Lưu Vân Sơn, trưởng ban tuyên giáo, cũng là người đang được Tập Cận Bình nâng đỡ để chuẩn bị lên các cấp bậc cao hơn sau này.

Lưu Vân Sơn lo việc “tung hô vạn tuế” đẩy ngôi sao Tập Cận Bình trong các năm tới để nếu công việc cải tổ cơ cấu kinh tế có vấp ngã thì họ Tập vẫn ngồi vững trên lưng cọp, chờ cho tai qua nạn khỏi. Tất cả chiến dịch tô son vẽ phấn cho Tập Cận Bình chứng tỏ họ Tập chưa cảm thấy địa vị an toàn. Tuy đang nắm nhiều quyền hành trong tay, vượt qua cả Hồ Cẩm Đào lẫn Giang Trạch Dân, ít nhất ngang với Đặng Tiểu Bình, nhưng Tập Cận Bình vẫn còn lo dùng bộ máy tuyên truyền để củng cố địa vị. Nếu thực sự an tâm về chỗ ngồi của mình, chắc họ Tập sẽ dành hết thời giờ và năng lực để thúc đẩy cho việc cải tổ cơ cấu kinh tế tiến tới. Con cọp này quả thật khó điều khiển!

CHỈ TRONG THINH LẶNG

CHỈ TRONG THINH LẶNG

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành.  Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó.  Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

THINH LANG

Nỗ lực đương cự với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta.  Xa lánh mọi tiếng nói của thế giới, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật tránh mặt sự khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng.  Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì.  Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, và tiến trình này cũng như là băng qua hoang mạc nóng bức vậy.  Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng.  Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta.  Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc.  Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: “Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí.  Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài.  Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ.  Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững.  Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng.  Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người.  Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt.  Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh.  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát.  Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.”

Đây là một sự thật thâm thúy:  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.  Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một sự cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối mặt với cái chết của chính mình.  Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo lời Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa.  Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình.  Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đã chỉ ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng.  Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: “Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào.  Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.”  Thật đúng.  Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay đâu.  Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể.  Điều này nghĩa là, “không tốt nếu để con người một mình.” Chúng ta được định sống trong sự thông hiệp với người khác.  Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện đeo bám, càng tối càng không thấy, nhưng khi nhìn gần, nhìn có ánh sáng soi chiếu sẽ thấy rõ cả những nhện con, những mạng lưới chằng chịt.  Tâm hồn con người cũng như thế, sống trong bóng tối thì không thấy mình tội lỗi, trái lại khi sống trong ánh sáng lại biết mình là tội nhân.

Môisen, có một lần lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi.  Trước Thiên Chúa thánh thiện, Môisen thấy mình nhỏ bé, tội lỗi (Xh. 3, 1-5).

Phêrô, trước mẻ cá lạ lùng cũng thấy mình yếu hèn, bất xứng, liền nói với Chúa Giêsu: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi (Lc 5, 8).

Trước Thiên Chúa là Đấng Thánh, Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh, con người chỉ là tội nhân cần đến lòng thương xót của Người.  Vì thế mỗi người luôn cần đến sám hối và hoán cải.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay kể câu chuyện: Nhân sự kiện hai vụ án Philatô giết người vô tội và tháp Silôa đổ xuống đè chết 18 người, Chúa Giêsu cảnh tỉnh: nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy (Lc 13:3-5).

Người đời thường nghĩ rằng: những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai hoạ là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại.  Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại.  Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó.  Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nước đem lại lợi ích cho toàn dân.  Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp.  Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ.  Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ.  Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng.  Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết 18 người vì lý do thiếu kỷ thuật trong việc xây cất.  Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu.

Những tai họa đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác.  Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo.  Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn.  Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải.  Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn.  Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang.  Nó chỉ có tội làm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả.  Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai.  Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm.  Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối?  Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện.

Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ.  Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn.  Bỗng dưng có tiếng gõ cửa.  Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đên khuya.  Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẩy với một bàn tay xoè ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân.  Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẻ trao cho hành khách.  Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ.  Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghỉ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm.  Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn.  Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa.  Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang.  Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân.  Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngủ trên tuyết.  Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ.  Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét.  Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nỗi thao thức: điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ.  Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả.  Mục đích cây vả là sinh trái.  Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt.  Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái.  Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải.  Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sinh hoa trái tốt.  Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người.  Ai cũng phải làm lành lánh dữ.  Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng cỏn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình.  Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Ðã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy.”  Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng.  Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta.  Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa.”  Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái.”  Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi.”  Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.  Ðức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Mùa chay là mùa ân sủng.  Người chủ vườn nhẫn nại và quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái.  Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức.  Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào.  Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình.  Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa.  Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-02-26

000_Hkg10247998

Các đại biểu tới dự lễ khai mạc Đại hội đảng lần 12 tại Hà Nội ngày 21 tháng 1 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Xã hội dân sự là các hội nhóm dân sự góp phần tạo dựng đời sống xã hội thăng tiến qua việc xây dựng, thúc đẩy tiến trình dân chủ mà một trong những hình thái quan trọng nhất là ứng cử và bầu cử. Tại Việt Nam trước phong trào tự ứng cử trong thời gian qua chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 5 sắp tới, vai trò của các hội nhóm xã hội dân sự hiện nay còn quá rời rạc và thiếu sự phối hợp với nhau khiến sức mạnh tập thể không phát huy được để có thể hổ trợ hữu hiệu phong trào này.

Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 22 tháng 2 có bài viết: “Cần tỉnh táo trước những thủ đoạn phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV” tập trung lên án các cá nhân tự ứng cử vào quốc hội khóa này. Với những lập luận quen thuộc tờ báo nhắc lại “việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và tự ứng cử phải bảo đảm theo đúng quy trình, trong đó phải bảo đảm việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật”

Lập luận trên cho thấy tờ báo Đảng đã tỏ ra lo ngại về phong trào người dân tự ứng cử ngày một nghiêm túc và bài bản hơn mặc dù ai trong số những người tự ứng cử cũng biết chắc một điều khó mà qua được ba cửa ải hiệp thương để có tên trên lá phiếu cử tri. Lo ngại này cho thấy phong trào nói không với chính sách Đảng cử dân bầu tuy còn yếu ớt nhưng đã thành hình một cách rõ nét trong một bộ phận người dân, bắt đầu từ xã hội dân sự, nơi tập hợp những con người cùng chung mục đích.

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, một nhà báo tự do trong Hội nhà báo độc lập Việt Nam cho biết nhận xét của ông về khó khăn và thuận lợi của người ứng cử độc lập qua hệ thống mạng xã hội, ông nói:

Hiện nay các nhóm ứng cử viên độc lập không có truyền thông nhà nước mà họ chỉ có truyền thông mạng xã hội hay là nói nôm na là truyền thông lề dân. Nhưng dù sao thì nó cũng phản ảnh một phần cái ưu thế của truyền thông độc lập. Chúng ta cũng nên tận dụng cái ưu thế trước, trong, và sau đại hội 12 thì mạng xã hội đã chiếm một vai trò nổi bật không ngờ tới và thậm chí một số phe phái trong đảng đã phải dùng mạng xã hội để tung ra các đòn triệt hạ lẫn nhau.

Từ đó vai trò của mạng xã hội không chỉ trong việc ủng hộ cho các nhóm ứng cử viên độc lập mà còn giúp cho về mặt truyền thông và làm cho anh chị em ứng viên độc lập được nhiều người biết tới.

Vai trò của xã hội dân sự có lẽ đậm nét nhất trong việc cáo giác vi phạm luật ứng cử và bầu cử cho cộng đồng. Trường hợp của Mục sư Nguyễn Trung Tôn là điển hình cho hành vi cưỡng bức có chủ đích ngăn cản người tự ứng cử, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn kể lại việc ông nộp đơn tự ứng cử mới đây:

Hai nhân viên đem hồ sơ lại và nói lãnh đạo không ký vì hồ sơ anh khai lý lịch như vậy không được. Cái mẫu lý lịch không phải mẫu này mà anh ra ngoài chợ anh mua mới được. Khai lý lịch thì khai tôn giáo: không, đừng khai là Tin lành đừng khai là mục sư khia lý lịch đơn giản thì bọn em xác nhận. Còn cái đơn xin ứng cử thì nói thật với anh là theo quy định thì phải tốt nghiệp đại học mới được.

“ Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.
– TS Phạm Chí Dũng “

Ông Nguyễn Huy Vũ, người có nhiều bài viết đóng góp cho phong trào tự ứng cử cho biết nhân xét của ông:

Lực lượng ứng cử tự do hiện nay ngoài những vấn đề những khó khăn về truyển thông, về cơ chế, về tổ chức thì cái rào cản lớn nhất hiện nay họ chưa được sự ủng hộ rộng rãi của các trí thức lớn của chế độ. Nếu họ có được một sự ủng hộ rộng rãi và vận động ủng hộ của các trí thức nhằm đòi hỏi một cuộc bầu cử nghiêm túc và ủng hộ họ ra ứng cử thì tôi nghĩ tình hình nó sẽ thay đổi nhanh chóng bởi vì tiếng nói của trí thức lớn của chế độ sẽ giúp lập ra tính chính danh của phong trào tự ứng cử. Dù sao nó chỉ đòi hỏi một cái quyền bầu cử và ứng cử vốn đã được hiến đinh trong hiến pháp Việt Nam.

Khi người ta thấy được rằng ra ứng cử và được sự ủng hộ có tính chính danh của xã hội thì sẽ có nhiều người ra ứng cử hơn và lúc đó nó sẽ phá vỡ cơ chế hiện nay. Cho nên cái điểm mấu chốt nhất hiện nay giúp cho phong trào là có được sự ũng hộ rộng rãi hơn và lên tiếng mạnh mẽ hơn của các trí thức lớn trong chế độ.

Vai trò của truyền thông độc lập

Sự ủng hộ của xã hội dân sự quan trọng như vậy nhưng khó mà tập trung trong hoàn cảnh hiện nay. Tuy nhiên nếu kết hợp được với truyền thông ngoài luồng thì vẫn có thể đánh động được quần chúng, ông Phạm Bá Hải, điều phối viên của hội Cựu tù nhân lương tâm cho biết:

Xã hội dân sự người ta có thể đóng vai trò cử tri để ủng hộ ứng cử viên độc lập. Những người mà chúng ta ủng hộ họ rất cô đơn vì hệ thống truyền thông là lực lượng của nhà nước đều bị kiểm soát cả. Các tổ chức xã hội dân sự chúng ta nên vận động những thành viên và dùng truyền thông để ủng hộ cổ xúy cho các quan điềm của ứng cử viên tạo nên cái lực truyền thông để dân chúng người ta biết quan điểm là lập trường xây dựng đất nước của ứng cử viên nhằm tác động vào quần chúng nói chung và đất nước.

TS Phạm Chí Dũng cũng cùng chung quan điểm về truyền thông mạng, một kênh quan trọng bậc nhất hiện nay đối với xã hội dân sự:

Với tình hình một nửa dân số Việt Nam đang có Internet mà trong đó có khoản 10 % quan tâm đến vấn đề dân chủ nhân quyền thì tôi hy vọng rằng trong số 10 % đó, khoảng gần 5 triệu người Việt Nam họ sẽ quan tâm tới vấn đề ứng cử viên độc lập và nó có lợi ích thế nào đối với quốc hội Việt Nam, đối với việc cải cách Việt Nam trong tương lai và họ sẽ ủng hộ một phần cho ứng cử viên độc lập.

Tôi nghĩ rằng đó là những vấn đề chính ngay trước mắt mà giới truyền thông, giới luật sư cũng như các ứng cử viên độc lập cần phải thực hiện ngay để có thể thúc đẩy quá trình ứng cử độc lập. Đồng thời một việc nữa là để đối phó với những tình huống bất trắc của các ứng cử viên độc lập thì từng ứng cử viên độc lập nên thường xuyên thông báo cho các cơ quan truyền thông độc lập về tình trạng an ninh rủi ro của mình. Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.

Cho dù còn quá sơ khai và tập trung không đồng bộ, xã hội dân sự vẫn là một giải pháp cần thiết cho ứng viên độc lập vì xã hội dân sự là số đông, nếu tập trung được những khối óc và sức mạnh tập thể cũng như biết sử dụng, khai thác sức mạnh ấy thì phong trào tự ứng cử sẽ đạt được những thành công nhất định ban đầu, để từ đó làm bước đệm cho các hoạt động dân chủ sau này.

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

 Bút ký của : Đòan Thanh Liêm.

Tôi còn đang ở lại thành phố Denver Colorado, sau chuyến hành trình bằng xe lửa

dài trên 2,000 dặm kéo dài đúng 48 giờ liên tục, xuất phát từ thành phố Lancaster

Pennsylvania vào ngày 30 tháng Sáu, xuyên qua nhiều tiểu bang qua các thành phố

lớn như Philadelphia, Washington DC, Chicago để tới Denver vào sáng thứ Sáu

mồng 2 tháng Bảy. Đây có thể là chuyến xe lửa dài nhất mà tôi thực hiện trong

mấy năm gần đây. Tôi phải tranh thủ làm như vậy, thì mới kịp có mặt tại Denver để

tham dự đám cưới của hai người cháu gái tên là Việt Trâm và Việt Tiên gọi tôi là “

ông chú”, mà cùng được tổ chức trong cùng một ngày Thứ Bảy mồng 3 tháng Bảy.

Cha mẹ của các cháu, chính là anh chị Tống Đình Thỉnh là chủ nhân của hãng

Hương Duyên chuyên chế biến giò chả có tiếng ở Denver. Anh Thỉnh là trưởng

nam của người anh bà con của tôi. Đây cũng là một dịp Họp Mặt Đại Gia Đình của

dòng họ chúng tôi, gốc gác từ một thôn xã trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc

tỉnh Nam Định Bắc phần.

Sau chuyến đi mệt nhọc này, tôi phải ở lại Denver một thời gian, vừa để gặp gỡ

hàn huyên tâm sự với bà con trong dòng họ từ nhiều nơi xa quy tụ về đây, vừa để

nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để phục hồi sức lực hầu đi tiếp thêm vài đọan đường nữa,

trước khi về lại California với gia đình. Bài viết này, tôi đã manh nha từ lâu, chủ ý

ghi lại cái sự chăm sóc rất ư là chân tình chu đáo, mà tôi nhận được từ nơi những

người chị, người em rất mực thân thương quý mến của mình, trong chuyến đi dài

ngày của tôi vào mùa xuân và mùa hè năm 2010 này. Để quý bạn đọc tiện bề theo

dõi, tôi xin viết về các chị em người Mỹ trước, rồi sau đó sẽ viết về các chị em

người Việt của mình.

I – Các Chị Em người Mỹ.

Tôi đã có dịp viết về gia đình của Sandy và Jim Foster tại thành phố Knoxville

Tennessee, là nơi tôi thường xuyên lui tới để tham dự các khóa hội thảo quốc tế

Xây dựng Hòa bình vào các mùa hè mỗi năm. Liên tiếp trong 3 năm gần đây, mỗi

lần đến Knoxville, thì tôi thường ở với gia đình Foster. Chị Sandy lúc nào cũng lo

lắng chăm sóc chu đáo cho tôi. Đặc biệt năm nay tôi ở lại nhà anh chị đến 10 ngày,

mà lại đúng vào lúc tôi bị bệnh gout hòanh hành nơi đầu gối, khiến cho việc đi

đứng rất khó khăn, thì Sandy tìm ngay lọai thuốc giảm đau cho tôi (pain relief).

Chị lại làm món ăn có nhiều rau dành riêng cho tôi. Thấy tôi không đem theo đủ áo

ấm, chị bèn kiếm ngay cho tôi một áo len để tăng cường bảo vệ sức khỏe cho tôi.

Chị còn luôn nhắc chừng tôi là : “ Anh không được say mê công việc quá đáng,

khiến làm hại đến sức khỏe đấy !” Khi tiễn tôi ra xe để đi Indiana, chị còn gửi theo

cả một túi đày đồ ăn và trái cây, thật là tươm tất.

Chị Marylou Matteson cũng vậy. Từ 2 năm nay, anh chị rời khỏi Knoxville để tới

làm việc cho tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) tại nơi trụ sở

chính đặt tại thành phố Akron, gần với Lancaster thuộc tiểu bang Pennsylvania. Và

vào ngày 29 tháng 6 vừa đây, tôi đã từ Philadelphia ghé tới thăm anh chị trong một

ngày. Ngay buổi chiều hôm tôi đến, Marylou đã rủ tôi cùng với anh chị và một số

gia đình bạn để đi coi trận đấu base ball (bóng chày) tại Lancaster giữa đội chủ nhà

là Lancaster Barnstormers với đội khách là Southern Maryland Blue Crabs. Đây là

lần đầu tiên tôi đi coi một trận baseball như thế này, thật là hào hứng với rất đông

khán giả tòan là dân Mỹ ở địa phương. Marylou hỏi tôi : “Anh có dự định viết bài

báo nào về trận đấu này không?” Tôi lắc đầu, nói : người Việt nam thì hiện đang

mê say theo dõi World Cup ở Nam Phi, chứ họ không có quen với lọai baseball này

đâu. Marylou là con người đôn hậu dịu dàng và có đời sống đao đức tâm linh thật

là sâu sắc. Niềm vui lớn nhất của chị hiện đặt nơi đứa cháu nội tên là Mila mới

được chừng 3 tuổi. Marylou luôn gửi email cho các bạn bè cùng khắp để trao đổi

các suy nghĩ về sinh họat thường ngày của gia đình, cũng như của đại gia đình

MCC mà hai anh chị đã dấn thân nhập cuộc với mọi công tác từ thiện nhân đạo, từ

khi đã bắt đầu bước vào tuổi cao niên. Chị luôn khích lệ, cổ võ cho công việc

nghiên cứu tìm kiếm của tôi để hòan thành cuốn sách về sự phục hồi Xã hội Dân

sự tại Đông Âu, mà tôi đã theo đuổi từ 10 năm nay. Cũng giống như Sandy, chị gói

cho tôi ít đồ ăn khô và trái cây để cho tôi ăn trên xe lửa. Chị còn cho tôi cả một

cuốn sách về suy ngẫm tâm linh để tôi mang theo đọc trên xe. Anh Matt thì nói đùa

:’ Marylou sợ anh Liêm không có gì để đọc, nên đã gửi thêm cho cuốn sách đó

đấy’. Và chúng tôi đều cười ngất lúc chia tay.

Chị bạn khác nữa là Sherry Hall, người bạn đời của Dick Hughes ở New York. Hai

anh chị có người con gái là Tara Hughes-Hall, nay đã trưởng thành và đi ở riêng để

làm việc tại Buffalo. Lần nào đến New York, thì tôi cũng đều được Dick và Sherry

rủ đi dùng bữa và đi thăm viếng nơi này, chỗ nọ. Lần này hai người rủ tôi đi xem

triển lãm tranh ảnh của nhà báo ảnh nổi danh quốc tế là Henri-Cartier Bresson

(photo-journalist) tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA = Museum of Modern

Art), do sự hướng dẫn của một người bạn, đó là Adrian Kitzinger là một trong các

tác giả của cuộc triển lãm vĩ đại này.

Khi nghe tôi nói là tôi được cho ở free tại một khách sạn tại khu thị tứ nhất của

New York là Times Square, thì Sherry cười ngất, chị bảo chỉ có Mister Liêm mới

có được một sự đãi ngộ đặc biệt như vậy (such a special treatment!). Sherry có lần

còn kể là : Trong một dịp chở cháu Trực con trai tôi ra phi trường để về lại

California, thì luýnh quýnh thế nào mà chị lại chở đến một phi trường khác. Thế

nhưng may là nhờ đi sớm, nên vẫn còn kịp thì giờ để chị có thể trở lại cho đúng

với phi trường ghi trong vé máy bay. Sherry cười ngất : Thằng cháu Trực nó chắc

không thể nào quên được cái vụ tôi chở đi lộn phi trường này đấy nhỉ. Hồi trước,

lúc cháu học về Pharmacy ở Boston, thì Trực thường về New York và ở nhà với cô

chú Dick và Sherry. Là một cô giáo, Sherry thật là dịu hiền dễ thương đối với mọi

người.

Còn riêng với tổ chức Human Rights Watch (HRW), thì ngòai chị luật sư Dinah

Pokempner ra, tôi còn thân thiết với chị Sara Colm vẫn làm việc ở Phnom Penh.

Có lần tôi đến thăm Sara ở New Orleans vào dịp chị về nghỉ tại nhà, thì Sara cũng

dẫn tôi đi ăn trưa, xong còn dẫn tôi về nhà và gặp ông xã cũng chuyên họat động

về bảo vệ môi sinh và lọai động vật hiếm quý trên thế giới. Sara làm việc âm thầm,

mà rất hiệu quả, đặc biệt trong việc bênh vực người thiểu số ở vùng cao nguyên

Việt nam sát với ranh giới Cambodia. Ngòai ra, thì mỗi khi ở thủ đô Washington,

tôi đều gặp lại chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở gần khu vực Dupont

Circle. Sophie mới ngòai 30 tuổi là một chuyên gia đặc trách về khu vực Á châu

của HRW. Chị được nhiều bà con trong cộng đồng người Việt tại Washington biết

đến và mến chuộng vì sự tích cực bảo vệ nhân quyền cho Việt nam. Chị thường

hẹn tôi đến gặp bàn chuyện và đi ăn trưa luôn thể, theo lối mà người Mỹ gọi là

“working lunch”. Nói chung, thì cả ba vị nữ lưu trí thức Dinah, Sara và Sophie này

của HRW đều rất mực duyên dáng dễ thương và đều hăng say với lý tưởng tranh

đấu cho phẩm giá và quyền con người tại khắp nơi trên thế giới ngày nay vậy

II – Các Chị Em người Việt.

Trong các bài bút ký trước đây, tôi đã viết nhiều về những gia đình tại các thành

phố tôi đã đi qua, mà đã cho tôi chỗ trú ngụ cũng như cho tôi mọi thứ cần thiết cho

sự sinh họat đi lại của tôi. Vì thế ở đây, tôi chỉ xin viết thật vắn tắt về những người

chị người em, tất cả đều dễ mến dễ thương đó thôi.

Tại thành phố Houston năm nay, thì tôi ngụ tại nhà của hai anh bạn, mà đều có tên

là Bằng cả. Đó là, anh Nguyễn Công Bằng với bà xã là chị Anh Trinh, rồi đến anh

Chu Bá Bằng với bà xã là chị Ánh. Chị Anh Trinh cũng như chị Ánh đều rất sung

mến Đạo Phật, mà cả hai chị đều lo lắng chăm sóc cho tôi rất chu đáo tận tình. Chị

Ánh gợi lại cho tôi những kỷ niệm rất đẹp về anh Nguyễn Xuân Nghiên là bạn ở

cùng lều vải trên khu Khám Lớn Saigon hồi xưa với anh Bác sĩ Bằng và tôi, khi

chúng tôi mới di cư vào miền Nam năm 1954. Anh Nghiên trước 1975 là một giáo

sư dậy môn Lý Hóa có tiếng ở Saigon, nhưng sau đó anh bị tai nạn xe trên xa lộ

Biên Hòa và mất vào khỏang năm 1977. Còn chị Anh Trinh thì hay dẫn tôi đi tham

dự các buổi sinh họat cộng đồng ở Houston, mà chị thường được mời ra làm công

việc giới thiệu chương trình ( MC = emcee).

Tại vùng thủ đô Washington, thì tôi được nhiều chị lo lắng chăm sóc cho việc ăn ở

rất chu đáo, gọn gàng. Cụ thể như trường hợp của chị Lệ bà xã của nhà báo Phạm

Bá Vinh, với chị Ngọc Lan bà xã của ký giả Nguyễn Văn Khanh của Đài Á châu

Tự Do RFA, của chị Như Lan bà xã của Thẩm phán Nguyễn Văn Thành (Thành

Em, để phân biệt với vị Thẩm phán Quân sự lớn tuổi hơn, mà cũng có tên là

Nguyễn Văn Thành hiện cũng định cư tại Virginia), và của chị Trương Anh Thụy

bà xã của anh Nguyễn Huy Long.

Đặc biệt là lần nào ở Washington, thì tôi cũng đều được chị Jackie Bông giúp đỡ

cho bất kỳ việc gì tôi cần đến, điển hình như vào chiều ngày 30 tháng Sáu, tôi phải

ở lại nhà ga Union Station đến 3 giờ trong khi chờ đổi tàu khác để đi Chicago, thì

chị Jackie đã đến nhà ga gặp gỡ chuyện trò và dẫn tôi đi ăn ở Mc Donald. Chúng

tôi cùng hợp tác với nhau trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam. Và các con tôi

vẫn gọi chị là Cô Út Jackie, vì tụi chúng đọc cuốn Hồi Ký “Autumn Cloud” (Thu

Vân = Mây Mùa Thu), thì biết được cô Jackie là con út trong gia đình nhà họ Lê

với tên đày đủ là Lê Thị Thu Vân.

  • Tại thành phố Rochester NY, thì chị Dung bà xã của anh Nguyễn Xuân Sơn – bào

đệ của họa sĩ Thái Tuấn – cũng lo lắng chăm sóc cái ăn cái uống cho tôi rất chu

đáo. Cái món xôi chị gói cho tôi mang lên xe lửa để ăn dọc đường, thì thật là tuyệt

vời, đến nỗi tôi chia bớt cho cô bạn người Đức cùng ngồi chung trong một băng

ghế, thì cô bạn này hết sức khen ngợi tài nấu nướng của các bà nội trợ Việt nam.

Rồi tại thành phố Worcester MA, anh chị suôi gia Võ Hồng Phước, cũng như anh

chị Nguyễn Hữu Sơn cũng đều ân cần chăm sóc cho tôi về mọi phương diện. Và

sau cùng, tại thành phố Philadelphia PA, cô Mỹ Linh con dâu của bác Nguyễn

Ngọc Chương lại còn cung cấp thêm cho tôi cả món quà đặc sản cô mới đem từ

Việt nam về Mỹ – để tôi đem tặng cho gia đình anh chị Marylou và Matt Matteson

ở Lancaster gần đó – như tôi đã ghi ở đọan trên đây nữa.

Thật là mọi bề chu đáo gọn gàng, nhờ bàn tay khéo léo và tấm lòng quý mến yêu

thương của các người chị, người em thật là tuyệt vời – dù là người Mỹ cũng như

người Việt của tôi vậy.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong một vài dòng thật

ngắn gọn như sau. Trên bước đường rong ruổi khắp nơi trên đất Mỹ suốt trên 3

tháng trong mùa hè năm 2010 vừa qua, nhiều lúc tôi cũng thấy mệt mỏi lắm đấy

chứ, vì một phần đường xa, xe cộ lắm khi bị trục trặc và trễ giờ, và nhất là vì phải

ngồi suốt cả nhiều đêm trên xe khiến làm mất ngủ.

Nhưng đi tới nhà nào, thì tôi cũng đều gặp được sự tiếp đón ân cần chu đáo, với

tất cả tình yêu thương đầm ấm chan hòa. Nhờ vậy mà mọi sự mệt nhọc thể xác đều

tan biến đi hết, và tinh thần tôi được vỗ về an ủi, trong trạng thái lâng lâng thanh

thóat vô cùng tuyệt diệu. Đó là lý do chính yếu đã giúp cho tôi luôn giữ được sự

lạc quan thanh thản – để mà có thể tiếp tục công việc hoạt động xã hội – với tấm

lòng yêu mến thiết tha đối với cuộc đời và với niềm yêu thương nồng thắm đối với

mọi con người trong xã hội vậy./

Sơ thảo tại Denver Colorado vào Tháng Bảy 2010

Bổ túc tại Costa Mesa California vào Tháng 12 – 2011

Đòan Thanh Liêm

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-02-25

tichhopmonlicsu-622.jpg

Sách giáo khoa môn lịch sử

File photo

Your browser does not support the audio element.

Sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 trước đây chỉ vẻn vẹn 11 dòng về chiến tranh Biên giới năm 1979. Song đến nay, Bộ GD&ĐT quyết định đưa vào SGK đầy đủ các vấn đề, kể cả vấn đề nhạy cảm như chiến tranh Biên giới 1979 và HS-TS… Vấn đề này có ý nghĩa như thế nào?

“Quan hệ tế nhị”

Nhiều năm nay, khác với các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ được tuyên truyền rầm rộ, thì cuộc chiến tranh Biên giới chống quân TQ xâm lược năm 1979 được dư luận đánh giá là vấn đề tế nhị và nhạy cảm, truyền thông ít được phép nhắc đến.

Từ Hà nội, Nhà văn Phạm Viết Đào một người đã tìm hiểu và bạch hóa nhiều vấn đề “nhạy cảm” trong cuộc chiến tranh Biên giới 1979 với TQ nói với chúng tôi:

“ Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.
-Nhà văn Phạm Viết Đào”

“Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.”

Mới đây, GS Vũ Dương Ninh  đồng chủ biên cuốn SGK Lịch sử lớp 12 khi trả lời phỏng vấn của VnExpress đã thừa nhận, vào năm 2000, khi thảo luận vấn đề soạn SGK Lịch sử lớp 12 nên viết thế nào về những sự kiện có liên quan đến vấn đề hải đảo và biên giới giữa VN và TQ? Đã có ý kiến chỉ đạo là không viết vì khi đó ta vừa bình thường hóa quan hệ với nước bạn. Vì lý do “quan hệ tế nhị” với nước bạn nên nội dung này bị sửa đi sửa lại và rút bớt rất nhiều. Từ 4 trang xuống chỉ còn lại 11 dòng.

Việc hạn chế đưa các thông tin về các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên giới, hải đảo vào SGK Lịch sử để giảng dạy cho học sinh, sinh viên sẽ gây ra một hậu quả khôn lường. Ông Vũ Bằng, một thầy giáo giảng dạy môn lịch sử ở Bắc ninh bày tỏ:

“Lịch sử luôn cần phải ghi lại những sự kiện khách quan đã diễn ra và có tác động lớn đến sự phát triển của đất nước. Các sự kiện lịch sử về việc đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, là những sự kiện rất quan trọng, không thể không được nói tới. Với tư cách một người thầy giảng dạy môn Lịch sử, tôi rất lo nếu cứ cắt xén sự kiện thế này, thế hệ sau sẽ không tiếp nhận được thông tin đúng đắn, để có định hướng rõ ràng. Sự bưng bít thông tin một cách cố ý tạo nên hậu quả nguy hiểm khôn lường.”

Theo báo Dân trí cho biết, số đông người VN hiện nay không biết về cuộc chiến Biên giới 1979, cũng như không hề biết rằng Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974, vì không có tài liệu chính thống nào nói về việc này. Điều đó đã ảnh hưởng đến ý thức và lòng yêu nước của công dân đối với tổ quốc.

Hinh02-400.jpg

Tích hợp môn lịch sử với những môn khác trong chương trình sách giáo khoa, ảnh minh họa. Courtesy photo.

Theo báo Giáo dục, GS Vũ Dương Ninh cho rằng việc chọn lọc các sự kiện thì cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc, cả đất liền và hải đảo, đều là sự kiện rất quan trọng, không thể không nói tới. Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thực khách quan này, vì thế cần phải viết các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc trong SGK, vì tính khách quan của lịch sử, tính giáo dục truyền thống của sử học và vì yêu cầu, đòi hỏi của xã hội.

Không thể nói rằng nếu đưa thông tin lịch sử về các sự kiện như chiến tranh biên giới 1979 sẽ ảnh hưởng tới quan hệ hữu nghị Việt – Trung. Đây là một sự nguỵ biện thiếu cơ sở. NV. Phạm Viết Đào tiếp lời:

“Họ làm như thế là họ sai quá đi chứ, nhưng rất khó hiểu là chuyện ấy họ (chính quyền) có bị TQ lũng đoạn hay không? Nhưng dù sao, việc tìm cách che dấu lịch sử như vừa qua cũng như việc sát nhập môn lịch sử vào các môn học khác là việc không thể nói là vô tình được. Mà nó phải có một sức ép nào đó đối với công tác tuyên giáo về vấn đề lịch sử. Tôi nghĩ đó phải có một âm mưu nào đấy.”

Phải tôn trọng sự thật

Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thật và cần phải viết đầy đủ, trung thực các sự kiện đó, để đảm bảo tính khách quan của lịch sử, cũng như tính giáo dục truyền thống của sử học. Bản thân cuộc chiến tranh đã diễn ra như thế nào thì ta phải nói đúng như thế ấy. Thầy giáo Vũ Bằng nhận định:

“Việc bưng bít thông tin đang khiến nhiều người nghi ngại là nếu tình hình tương tự xảy ra chúng ta sẽ xử lý như thế nào?  Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.”

Theo VnExpress ngày 22/2/2016, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết sách Lịch sử trong thời gian tới, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét để đưa nội dung các cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Tây Nam, hải chiến Hoàng Sa… vào sách giáo khoa sắp biên soạn với dung lượng phù hợp.

“ Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.
-Thầy giáo Vũ Bằng”

Nói về ý nghĩa của quyết định này của Bộ GD&ĐT, NV. Phạm Viết Đào thấy rằng, lịch sử dẫu thế nào thì chúng ta vẫn cứ phải bạch hóa, đã là lịch sử thì không được phép thêm bớt, vì thêm là bất nhân và bớt là bất nghĩa và thế hệ này không làm thì thế hệ sau họ cũng phải làm. Ông nói:

“Song bây giờ tình thế đã thay đổi, mọi sự thật lịch sử phải được trả lại và có lẽ đã đến lúc chúng ta với TQ phải sòng phẳng với nhau, chứ không thể úp mở như ngày xưa được nữa. Đó là cái xu thế tất yếu nó buộc phải như thế thôi. Vấn đề là đến bây giờ, họ không thể lấy ta để che mặt trời mãi được nữa. Theo thông tin mới nhất là Ban Tuyên giáo đã chỉ đạo phải đưa các sự kiện lịch sử ấy vào biên soạn. Điều đó cho thấy, đã đến lúc họ phải bạch hóa các thông tin này thôi. Tôi nghĩ, chúng ta phải sòng phẳng với TQ, chứ không thể kiểu úp mở, ôm nhau như hiện nay được.”

Đây là một quyết định hợp lòng người đáng hoan nghênh, góp ý về việc biên soạn SGK Lịch sử trong thời gian tới, thầy giáo Vũ Bằng đề nghị:

“Cách viết các nội dung về chiến tranh biên giới trong sách giáo khoa phải tuân thủ tính khách quan, sự thật lịch sử nhưng phải ngắn gọn, đầy đủ bản chất, dễ hiểu và dễ nhớ. Sách giáo khoa mới, nhất thiết phải nhắc tới các sự kiện về chiến tranh bảo vệ biên giới đất liền và hải đảo. Các vấn đề như: Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc năm 1978-1979, hay trận đánh Gạc Ma bảo vệ Trường Sa năm 1988… phải được phản ảnh đầy đủ.”

Được biết từ tháng 1/2014, sau buổi làm việc với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giao Bộ GD&ĐT và các cơ quan nghiên cứu đưa vấn đề Biển đông và chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo HS-TS vào sách giáo khoa các cấp để phổ biến tri thức lịch sử nhằm giáo dục truyền thống dân tộc và lòng yêu nước cho mọi người. Theo Bộ GD&ĐT, trong lúc chưa có bộ sách giáo khoa mới, thì Bộ khuyến khích các trường học, tổ bộ môn sử đưa nội dung trên vào bài giảng, hoặc có thể là hoạt động ngoại khóa, chuyên đề, như nhiều trường hiện nay đã làm.

Hãy trả lời đi!

Hãy trả lời đi!

 Phạm Lê Vương Các

clip_image001

Đây là Tuấn.

Tuấn tên đầy đủ là Nguyễn Mai Trung Tuấn, chuẩn bị đón sinh nhật lần thứ 16 của mình vào ngày 31/3 tới trong nhà tù tỉnh Long An.

Tuấn có một tuổi thơ đầy bất hạnh và bi hùng.

Năm lên 10 tuổi, Tuấn đã phải sống một cuộc sống bất an với một tương lai vô định đã được dự báo trước khi chủ tịch UBND huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An ra quyết định thu hồi nơi ở của gia đình Tuấn.

13 tuổi Tuấn đã phải mang biểu ngữ đi lang thang tố cáo cường quyền địa phương thu hồi đất đai bồi thường không thỏa đáng.

14 tuổi Tuấn cầm loa nói dõng dạc nói bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt trước ngôi chợ đông người qua lại: “Human Rights for Vietnam. Nhân quyền cho Việt Nam”.

15 tuổi Tuấn cùng gia đình lập bàn thờ trước nhà, đeo khăn tang và cầm vũ khí sẵn sàng chống trả trong tuyệt vọng để bảo vệ nơi ở của gia đình.

Rồi một ngày,

Lực lượng cưỡng chế gần 300 người hùng hậu kéo đến, Tuấn dùng nạn bắn bi, bắn từ xa uy hiếp,

Khi lực lượng cưỡng chế tiến gần hơn Tuấn dùng chai thủy tinh chứa xăng ném ra cảnh báo.

Khi lực lượng cưỡng chế vẫn quyết tâm xông vào, Tuấn sử dụng acid (của cha Tuấn hành nghề sửa xe máy, mua về trước đó một năm dùng để sạc bình ắc quy) tạt vào những người đã xông vào nhà mình.

Trưởng công an xã lãnh trọn ca acid này, bị thương tật ở lưng 35% theo cáo trạng mô tả.

Tuấn cùng những thành viên trong gia đình tham gia phản kháng bị bắt giữ ngay lúc đó, nhưng Tuấn được thả sau hai ngày bị giam giữ.

Tôi đã liên hệ với Tuấn và nói rằng:

“Nếu như em chọn sự im lặng. Tập trung học hành thì tụi nó có thể tha cho em. Còn em chọn con đường tiếp tục đấu tranh thì tụi nó sẽ bắt em lại đó”.

Tuấn cho biết: “Em đã nghỉ học trước đó rồi. Một tuần trước khi xảy ra vụ cưỡng chế em không dám đi học. Em sợ nhân lúc em đi học, tụi nó sẽ xông vào cưỡng chế”.

Tôi vẫn khuyên Tuấn hãy đi học lại vì tương lai và vì an toàn của chính em vào lúc này, thì Tuấn cho biết: “Em không sợ! Gia đình em như vậy em không còn tâm trí để đi học nữa. Em sẽ nghỉ học để đi tìm cách cứu cha mẹ em”.

Và Tuấn hành động,

Tuấn đi tìm luật sư bào chữa cho cha mẹ mình,

Tuấn tố cáo hành vi sai trái của chính quyền trên truyền thông,

Tuấn bây giờ không còn đòi nhà đòi đất, mà đòi nhân quyền, đòi những quyền căn cản của con người trong đó có quyền bất khả xâm phạm vào nơi ở và cần được bảo hộ trước sự tước đoạt tùy tiện.

Tuấn bị bắt lại khoảng hai tháng sau đó bằng một lệnh truy nã.

Buồn cười là lệnh truy nã không được công khai để quần chúng nhân dân biết, mà lại đóng dấu mật.

Bản giám định pháp y của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Long An (một cơ quan không độc lập với chính quyền) kết luận thương tích 35% cho Trưởng công an xã, để đủ để truy tố Tuấn cũng được đóng dấu mật.

Chính quyền Thạnh Hóa đem Tuấn ra tòa xử sơ thẩm vào ngày 24/11/2015.

Khi xét xử,

Tuấn bình thản,

Và bình tĩnh,

Nói năng lưu loát,

Thái độ này đã thể hiện Tuấn không còn là một đứa trẻ nữa, mà như một chiến binh được tôi luyện qua một trận đánh lớn, và như một chiến sỹ đấu tranh kiên cường thật sự.

Luật sư Mieng bào chữa, viện dẫn Công ước Quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã gia nhập năm 1991 để bảo vệ Tuấn, nhưng vị Công tố đã phản bác rằng “luật sư đưa ra cái công ước quốc tế gì đó tước quyền trẻ em là không hợp lý”, cho thấy có lẽ đây là lần đầu tiên vị ấy nghe đến Công ước này trong sự nghiệp làm công tố của mình.

Tuấn bị kết án 4,6 năm tù.

Trước đó 11 thành viên gia đình và bạn bè của gia đình Tuấn bị kết án tổng cộng 33 năm tù trong vụ phản kháng này.

Tuấn nhỏ tuổi nhất, nhỏ con nhất nhưng lĩnh án nặng nhất.

Bức xúc trước một quy trình đưa Tuấn vào tù, ông Dũng Hoàng gọi điện chất vấn một trong hai người đã ký vào biên bản giám định pháp y về thương tật do Tuấn gây ra là 35% để dẫn đến việc truy tố Tuấn, thì bà bác sỹ này đã trả lời là “không biết”.

Thương cảm trước hoàn cảnh và nhận ra những sai sót trong việc kết án Tuấn, 9 luật sư cùng tham gia bào chữa miễn phí cho Tuấn ở phiên tòa phúc thẩm – một việc chưa từng có về số lượng luật sư tham gia bào chữa cho một người ở Việt Nam.

Tòa phúc thẩm Long An diễn ra vào ngày 1/2/2016 tiếp tục mắc sai sót cơ bản khi đem Tuấn ra xét xử lưu động là trái nguyên tắc luật định khi xét xử trẻ em.

Phiên tòa phúc phẩm đã hủy khi xét xử được vài tiếng vì sự phản ứng của các luật sư.

Sau đó, ngày xét xử lại được ấn định vào ngày 2/3 tới.

Cho đến lúc này Hội Bảo vệ quyền trẻ em (thuộc Bộ LĐTBXH) vẫn “im hơi lặng tiếng”, và không cử người tham gia, theo dõi phiên tòa đối với một vụ án kinh điển và được dư luận quan tâm như trường hợp của Tuấn.

Từ một đứa trẻ được thầy cô đánh giá là học khá, ngoan ngoãn, lễ phép trên ghế nhà trường đã phải bỏ học, về nhà cầm vũ khí bảo vệ nhà cửa đất đai và sau đó phải bị tù đày, lỗi tại ai?

Chính quyền được lập ra là để bảo vệ an toàn và phục vụ hạnh phúc cho người dân hay là để đưa đẩy một người dân vào thế khốn cùng, để buộc một trẻ em như Tuấn phải nổi dậy cầm vũ khí chống lại áp bức?

Thế hệ này cần trả lời cho Tuấn. Trước tiên là chính quyền huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An.

Hãy trả lời đi!

Nguồn: FB Phạm Lê Vương Các

Bao giờ mới hết ‘tháng ăn chơi’

Bao giờ mới hết ‘tháng ăn chơi’

VOA

Cao Huy Huân

24.02.2016

Một phụ nữ đang xem đèn lồng trang trí ngày Tết ở phố cổ Hà Nội, Việt Nam, ngày 6/2/2016.

Một phụ nữ đang xem đèn lồng trang trí ngày Tết ở phố cổ Hà Nội, Việt Nam, ngày 6/2/2016.

Dù đã có nhiều cảnh báo trước, nhưng lễ khai ấn Đền Trần vẫn trở thành một ngày đen tối của một sự kiện mà người dân cho rằng là chốn linh thiêng. Lúc 23h30 ngày 21-2, lễ khai ấn Đền Trần (Nam Định) kết thúc, người dân được phép vào lễ. Bất chấp sự có mặt của lực lượng an ninh canh giữ, nhiều người cố tình lao vào cướp hoa, lộc cúng ở ban thờ trước sân điện Thiên Trường. Xem mà thấy ngán ngẫm khôn cùng.

Hết thuốc chữa?

Năm ngoái, còn nhớ lễ khai ấn Đền Trần cũng trở thành thảm họa “cướp giật hợp pháp” mà bất kỳ ai, cả người nước ngoài lẫn người Việt, nhìn vào là ngán ngẫm. Không chỉ riêng lễ khai ấn mà nhiều người bạn nước ngoài của tôi cho là “lạ lùng” khi xem những bộ ảnh qua mạng, rất nhiều lễ hội khác tại Việt Nam vẫn diễn ra rải rác trong những ngày xuân đến Tết về. Có một người bạn từ Mỹ sang chơi đúng vào những ngày chuẩn bị đón Tết tâm sự trên mạng xã hội rằng nhìn người Việt chuẩn bị tết tinh tươm, chu đáo, ấm cúng và đăc sắc thấy rất thú vị và thích thú.

Nhìn những tấm ảnh về gói bánh chưng, những chiếc áo dài thướt tha đến chùa, cùng những nhánh hoa đào, hoa cúc, hoa hồng… người ta mới cảm nhận được ý nghĩa của lễ hội mà người Việt gọi là Tết. Nhưng những bức ảnh khi diễn ra các lễ hội không khỏi khiến người xem hốt hoảng và đau lòng. Rác bị vứt bừa bãi khắp mọi nơi, cây cối bị đạp nát không thương tiếc, quán nhậu mở cửa thâu đêm với những âm thanh quen thuộc nhưng ám ảnh, những trận đua xe trên các tuyến đường lớn và rộng vốn nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước, những sòng bạc tự phát mở suốt ngày đêm, và hàng ngàn thứ khác đáng than phiền.

Kinh hoàng nhất là những lễ hội mang tính tín ngưỡng. Tiền mệnh giá nhỏ, tiền lẻ được rải khắp các tuyến đường đến các chùa, suốt mọi ngỏ ngách, thậm chí trên đầu, cổ, tay, mũi,…của các tượng Phật thánh, thần linh… Nghĩ cũng lạ, người Việt đi làm vất vả thu gom từng đồng tiền lẻ; ra chợ mua con cá, bó rau vốn đã rẻ rề mà vẫn cố gắng mặc cả một vài nghìn đồng để có thể mua về những món hàng với giá hạ nhất. Thế nhưng tiền cúng thần linh, dù chẳng có thần nào dùng tiền trần thế, thì họ không hề biết tiếc, thậm chí còn tỏ ra hào phóng.

Đó là chưa kể, họ sẵn sàng đến chùa cầu bình an, hạnh phúc, với mọi lời hứa làm việc thiện, không hại người, để hưởng phước lành… nhưng cũng không ngại động tay động chân với nhau, lấn ép nhau, thậm chí đánh nhau để có thể mang về những món đồ tín ngưỡng. Nhìn lễ khai ấn Đền Trần sẽ hiểu ra điều bất cập này. Lễ dâng hương, rước kiệu ngọc và khai ấn do chính quyền Nam Định chủ trì, diễn ra tại Đền Thiên Trường, thu hút hàng chục nghìn người dân dự.

Dù là lễ hội dân gian nhưng chính quyền cũng can thiệp mạnh để mong đảm bảo an toàn. Địa điểm diễn ra chương trình được lực lượng chức năng ngăn lại để tránh dân xâm nhập từ phía bên ngoài. Nhiều người đề nghị Ban tổ chức nên đặt một màn hình ngoài cổng để người dân được xem đầy đủ nghi lễ khai ấn. Một người dân nói trên báo rằng lễ khai ấn để giáo dục con cháu biết về truyền thống cha ông, hào khí nhà Trần mà người dân không được xem đầy đủ thì có ý nghĩa gì. Không biết có phải vì cái “hào khí” đó hay không mà ngay cả khi lực lượng an ninh canh giữ, nhiều người cố tình lao vào cướp hoa, lộc cúng ở ban thờ trước sân Đền Thiên Trường, tạo thành một khung cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Đã vậy rất nhiều người chen chúc vào sâu trong bàn thờ, mặc sức chen lấn, xô đẩy dữ dội rồi còn la ó, chửi rủa ầm ĩ. Không biết tự hào chỗ nào khi mặc cho người khác ngất xỉu vì bị “tấn công”, nhiều người cũng cố tiến lên để chạm kiếm, đặt tiền, mặc cho cảnh sát dồn đám đông xuống phía dưới, không cho tiếp cận bàn thờ.

Ăn chơi đến cả tháng trời

Ở Mỹ và nhiều nước khác, việc đóng mừng năm mới đối với họ nhiều lắm cũng chỉ vài ba ngày đến một tuần là hết cỡ. Những nơi thật sự nghiêm khắc thì người ta chỉ nghỉ tết khoảng 3 ngày, rồi mọi thứ trở về nhịp sống cũ. Nhóm bạn tôi “ăn tết” cũng chỉ đi chơi cùng nhau vài ngày rồi trờ lại với những ngày thánh cần lao. Họ nhập cuộc mừng năm mới bằng sâm banh, thức ăn và những câu chuyện của năm cũ, những dự tính năm mới. Nói như vậy không có nghĩa họ nghèo, mà ngay khi họ là tỷ phú, họ cũng biết cân đối chuyện đi làm và giải lao.

Thế nhưng ở Việt Nam thì khác, bất chấp tình trạng nhiều người còn nghèo, làm nông là chủ yếu, nhưng “tháng giêng là tháng ăn chơi” là điều vẫn chưa thể xóa bỏ. Thật ra bạn tôi kể ở Sài Gòn, không khí Tết đến rồi đi cũng giống như nhịp sống hội nhập của vùng đất này. Nhưng ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội, thì quả đúng là tháng giêng là tháng ăn chơi. Mạng xã hội vẫn đều đặn hiển thị hình ảnh hết Tết cha, Tết mẹ, rồi Tết thầy, sau đó còn Tết bạn bè, bằng hữu, sếp cơ quan, đồng nghiệp,… Rồi sau đó nữa là hội, đủ thứ hội mà người ta bỏ ra cả tháng vẫn chưa đi hết được. Có người bảo rằng “mùa này đang rảnh nên làm hội”, nhưng với một đất nước tuyên bố công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì “tháng ăn chơi” đã không còn thực tế. Ấy thế nhưng họ vẫn cứ đi lễ, dự hội, chè chén và bất chấp an toàn, hao tốn, lãng phí và thiếu lành mạnh.

Nhiều lãnh đạo đơn vị nhà nước lẫn tư nhân, đặc biệt người nước ngoài, cứ hết ngày nghỉ tết là ngao ngán nhắc nhở, yêu cầu nhân viên phải quay lại ngay với công việc, nhưng thực tế không hề dễ dàng. Nhớ bài thơ mà người Việt truyền tai nhau:

“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.

Tháng Tư đong đậu nấu chè,

Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm.

Tháng Sáu buôn nhãn bán trâm,

Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân.

Tháng Tám chơi đèn kéo quân,

Trở về tháng Chín chung chân buôn hồng.

Tháng Mười buôn thóc bán bông,

Tháng Mười Một, tháng Chạp nên công hoàn thành.”

Có nhiều phiên bản về bài thơ về “tháng ăn chơi” nói trên, nhưng một điểm chung là không thấy tháng nào người Việt nhắc nhở mình phải đi làm, ngừng ăn chơi lại. Có lẽ một phần vì thế mà người Việt nghèo hoài. Chẳng có ai lười biếng lao động, ăn chơi cả tháng trời mà trở nên giàu có. Nhiều người hiểu chuyện đến thăm Việt Nam vào dịp Tết, vài ba ngày thấy vui, nhưng rồi than thở “bao giờ mới hết tháng ăn chơi?”.

Chuyên gia chém gió: “Thà nghèo mà được an toàn”?

Chuyên gia chém gió: “Thà nghèo mà được an toàn”?

FB Trần Trung Đạo

24-2-201

Hoang Hai

“Đại ca chém gió” Hoàng Trung Hải. Nguồn ảnh: internet

Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải phát biểu tại buổi làm việc với huyện Ba Vì sáng 23/2/2016: “Thà sống nghèo nhưng công bằng, yên bình còn hơn giàu mà bon chen, không an toàn”. Thiệt tình!

Nếu không có nguồn từ VNExpress với bài tường thuật kèm theo, thật khó tin lời phát biểu trên đây là của một trong những lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN.

Phát biểu ngu ngơ, nói năng bừa bãi vốn là đặc điểm của các lãnh đạo CSVN nhưng khi đóng vai trò mặt nổi phải biết tập uốn lưỡi bảy lần. Nếu không tập được thì nên im lặng. Càng nói càng chứng tỏ lãnh đạo CS không hề đọc sách, chưa hề đi xa, chỉ biết thừa hưởng gia tài cai trị theo kiểu cha truyền con nối thời phong kiến.

Vì bản tin cho biết ông Hoàng Trung Hải “nhấn mạnh đến việc đảm bảo an ninh quốc phòng” chứ không chỉ nói về trộm cắp, rác rưới thôi nên tôi cũng nêu lên vài điểm về “an ninh quốc phòng”.

Vậy theo ông Hoàng Trung Hải, Việt Nam cần làm gì để bảo vệ Hà Nội trước xâm lăng quân sự của Trung Quốc, ngoài việc “thà sống nghèo” ?

Ông hãy kể giùm một nước, đâu cũng được, nước nào cũng được, nằm giữa hai thế lực thù địch mạnh nhất nhì thế giới mà lại nghèo khó nhưng vẫn được sống trong “công bằng, yên bình” ?

Nếu muốn “trừng phạt Việt Nam” hôm nay, Trung Quốc không cần phải xua vài trăm ngàn quân đi bằng ngựa, lừa như thời 1979 mà chỉ đặt vài giàn hỏa tiển từ bên kia biên giới bắn sang hay ngoài hạm đội bắn vô. Dĩ nhiên để trấn an dư luận thế giới chúng cũng sẽ tuyên bố “trừng phạt có giới hạn”. Đừng quên, Hà Nội chỉ cách biên giới Trung Việt phía Bắc 106 dặm hay 171 km. Một vài giờ thôi, Hà Nội đã tan nát rồi.

Hoàng Trung Hải nghĩ rằng khi đó Liên Hiệp Quốc, Mỹ, Nhật sẽ đến cứu Việt Nam hay những củ khoai lang, nồi cơm trắng của Việt Nam nghèo nàn như Hoàng Trung Hải khuyến khích đồng bào nên sống sẽ làm Tập Cận Bình chột dạ xót thương?

Không ai xót thương hay cứu giúp Việt Nam nếu Việt Nam không biết tự xót thương và cứu lấy chính mình. Mà muốn cứu mình Việt Nam trước hết phải có tự do, dân chủ và giàu mạnh.

Không chỉ ông bà Việt Nam mà hầu hết các nhà nghiên cứu quân sự thế giới cũng đều đồng ý “mạnh dùng sức yếu dùng chước”.

Nhiều quốc gia nhỏ giữ vững được nền độc lập vì họ biết dùng chước, dùng thế, dùng vị trí chiến lược của quốc gia mình để mặc cả với các nước lớn như trường hợp Thụy Sĩ trong Thế chiến Thứ hai hay Ai Cập trong xung đột Trung Đông. Một khi vị trí chiến lược mất đi, quốc gia đó không còn giá trị đổi chác và trở thành mồi tự do cho cả hai bên.

Một ví dụ khác. Trước Thế Chiến thứ nhất Áo là một quốc gia chiến lược trong đế quốc Áo Hung nhưng trước Thế chiến Thứ hai vị trí đó của Áo không còn nữa. Hitler chiếm Áo không tốn một viên đạn vì cả Anh, Pháp đều xem đó là phần thực tế của trật tự mới tại Âu Châu. Anh và Pháp cố gắng giữ Tiệp Khắc nhưng khi Hitler tiếp tục vẽ lại bản đồ Châu Âu, TT Anh Neville Chamberlain và TT Pháp Édouard Daladier đành nhịn nhục cho đến khi Hitler tấn công Ba Lan mở đầu thế chiến thứ hai.

Tập Cận Bình đang vẽ lại bản đồ Châu Á và Việt Nam đang nằm trên mũi bút chì của họ Tập.

Việt Nam từng là một quốc gia có vị trí chiến lược nhưng vị trí đó đang mất dần như David Brown viết trên báo Asia Sentinel “Mỹ dường như đang vẽ lại vòng an ninh chung quanh Nhật Bản, Hàn Quốc và có thể Singapore và Eo biển Malacca …” . Bên trong vòng đai an ninh đó không có Việt Nam.

Sau Thế chiến Thứ hai, Mỹ gần như độc quyền trên vùng Nam Thái Bình Dương. Vị trí đó không còn nữa. Việc TT Barack Obama yêu cầu Tập Cận Bình ngưng bành trướng Biển Đông cũng chẳng khác gì TT Neville Chamberlain yêu cầu Hitler lấy vùng Sudetenland đủ rồi đừng thôn tính hết Tiệp Khắc. Tuy nhiên, kế hoạch Châu Âu của Hitler không dừng lại ở vùng Sudetenland và tương tự kế hoạch Á Châu của Tập Cận Bình không dừng lại ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Nếu Việt Nam tiếp tục bị cai trị bằng những người có cái đầu như Hoàng Trung Hải và nếu các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục bị tiêm thuốc mê “Thà sống nghèo nhưng công bằng, yên bình còn hơn giàu mà bon chen, không an toàn”, rồi đất nước sẽ tan hoang và một ngôi sao nữa gắn trên cờ Trung Quốc cũng không phải là điều ngoài tưởng tượng.

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Sau Ðại Hội 12 của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhiều người đoán rằng nhóm lãnh đạo mới vốn nổi tiếng thân Trung Cộng thì họ sẽ không cần phải bày tỏ thái độ quá khúm núm trước các “đồng chí anh em” nữa vì tất cả đã được Bắc Kinh chuẩn y rồi. Thỉnh thoảng cứ cho dân Việt được kêu la khóc lóc chống đế quốc xâm lược, không cần phải đàn áp nặng nề. Miễn là những món dâng lên các “đồng chí anh em” ăn miếng nào ra miếng nấy, là “hẩu lớ!”

Cho nên trong ngày 17 Tháng Hai năm 2016 vừa qua ở Hà Nội, buổi lễ tưởng niệm 60,000 đồng bào và tử sĩ bị quân Trung Cộng tàn sát trong cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979 không bị phá. Phản ứng của chính quyền Cộng Sản khác hẳn hai năm trước. Ngày 16 Tháng Hai năm 2014, không những công an cộng sản ngăn chặn những người muốn đi dự lễ tưởng niệm từ lúc mới bước chân ra cửa nhà, mà còn xua công an côn đồ trai gái tới “nhảy múa” ngay tại chỗ trong giờ hành lễ. Nhảy múa trên xác chết là một cách chửi thề: “Chúng mày muốn lễ hả? Bà múa cho mày mở mắt ra! Lễ cái này này!”

Năm 2014, đảng Cộng Sản cố ý “chửi cha đồng bào và các chiến sĩ.” Vì đám công an côn đồ phát ra một bài hát Tầu để nhảy theo điệu nhạc Cha cha cha! Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi tiết lộ điệu nhạc cổ này có tên “Trung Quốc cáp cáp” (中國恰恰).  Lời ca Tàu dịch sang tiếng Việt khoe rằng: “Cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi / cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi/ cha cha cha…” Những người không biết tiếng Tàu cũng hiểu rằng họ chửi cha mình!

Năm nay Ðảng không “chửi cha” đồng bào Hà Nội nữa. Ông Nguyễn Phú Trọng có thể xoa bụng tự khen: “Ðấy nhé, đứa nào dám bảo tớ thần phục Trung Quốc?”

Nhưng trong tuần trước, lễ tưởng niệm được nhiều người dân Sài Gòn tổ chức thì công an vẫn tới từng nhà ngăn chặn và đánh phá cuộc lễ. Những bông hoa dâng cúng bị đám côn đồ đạp nát dưới chân. Tại sao lại phân biệt đối xử như vậy? Có lẽ bởi vì ông Ðinh La Thăng, mới nhậm chức thành ủy, rất táo bạo. Khi làm bộ trưởng Giao Thông Vận Tải ông đã từng ra lệnh đốt hết những chiếc xe gắn máy chạy đua “cho chúng nó hết đua!” Phải bao nhiêu người can ông mới tha. Hoặc vì ông biết dân Sài Gòn “khó dạy” hơn dân Hà Nội; cho nên cứ cấm tiệt cho xong chuyện.

Ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng có thể yên tâm cho người ta đi thắp hương khấn vái các tử sĩ và đồng bào chết oan trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 vì biết rằng mấy nén hương thắp lên rồi cũng tàn, đâu lại vào đó, tượng đài Lý Thái Tổ mai mốt lại chỉ còn “rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.” Ngay những tấm bia tưởng niệm các liệt sĩ, kể cả bia ghi công “Sư Ðoàn 33 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” cũng bị đục bỏ tàn nhẫn, mà cả một sư đoàn cho đến dân địa phương không ai dám hó hé nói một tiếng! Dân và quân Việt Nam hiền lành, dễ bảo như vậy, các đồng chí anh em Trung Quốc không có gì phải lo!

Giới lãnh đạo Trung Nam Hải, từ Mao Trạch Ðông tới Tập Cận Bình đều rất thực tế. Họ cần kết quả cụ thể, chứ không phải chỉ muốn nghe nịnh hót, mặc dầu có nịnh hót thì vẫn hơn. Năm 1950 khi tiễn phái đoàn các cố vấn Trung Cộng qua chỉ đạo Cộng Sản Việt Nam, Mao Trạch Ðông đã nhắc nhở họ hãy nhớ chuyện Mã Viện đánh Hai Bà Trưng ở nước ta. Ông ta dặn dò các cố vấn giữ ý tứ, đừng khiêu khích tự ái dân tộc của người Việt. Ðám cố vấn này, mỗi khi khuyến cáo mà quân đội Việt Minh không nghe đều phải làm áp lực qua Hồ Chí Minh mới được toại ý. Năm 1951, Hồ Chí Minh gặp Mao đã phải lên tiếng xin Mao chỉ thị cho cố vấn La Quý Ba hãy đáp ứng lời mời đến dự các phiên họp của Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam. Mao đã cho Hồ được thỏa mãn! Chẳng khác nào triều đình Huế mời viên công sứ Pháp dự các phiên họp của cơ mật viện!

Theo đúng tấm gương này, đáng lẽ bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng phải mời đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội tới dự các phiên họp Bộ Chính Trị mới xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ! Nhưng Bắc Kinh không cần lý đến hình thức bên ngoài. Trung Cộng sẽ tiếp tục bảo vệ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, miễn là cứ cho họ khai thác mỏ bô xít, coi là “chiến lược lớn lâu dài của đảng và nhà nước” như lời ông Nguyễn Tấn Dũng. Miễn là Hà Nội vẫn ký hợp đồng cho người Tầu khai thác rừng Việt Nam ít nhất 50 năm. Miễn là các công ty Trung Cộng vẫn trúng hầu hết các mối thầu xây dựng. Miễn là cứ cho công nhân Trung Cộng sang làm việc không giấy phép, lập các thành phố Trung Cộng khắp ba miền Nam Trung Bắc và cao nguyên! Miễn là hải quân Việt Nam không được phép bén mảng tới gần những hòn đảo Hoàng Sa đã bị Tàu chiếm. Miễn là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám thưa kiện Trung Cộng ra các tòa án quốc tế sau khi cho tầu hải giám cướp phá, giết hại các ngư dân Việt Nam.

Cộng Sản Trung Quốc có thể yên tâm cho phép dân Việt lâu lâu thắp hương tưởng niệm các tử sĩ năm 1979, năm 1988, cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử chiến ở Hoàng Sa năm 1974 cũng được. Bởi vì họ biết đảng Cộng Sản Việt Nam không thể nào rời bỏ cái “vú mẹ!” Công an an cộng sản có khẩu hiệu “Ðảng còn thì mình còn.” Các lãnh tụ Cộng Sản thì biết: “Trung Cộng còn ủng hộ thì mình mới còn!”

Vì thế, ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Cộng đã có lần lo lắng đến nỗi hốt hoảng nói: “Tôi thấy lo lắng lắm! Không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già đều có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.” Từ trẻ con đến người già ai cũng ghét Trung Quốc, nguy hiểm quá!

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, chưa nghe người Việt Nam nào nói một câu như vậy, ngoài các quan cai trị như Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình! Tô Ðịnh đã bị Hai Bà Trưng đánh đuổi. Trần Bá Tiên không đánh lại Triệu Quang Phục phải bỏ về Tàu lo việc trong nhà. Phùng Hưng đánh cho Cao Chính Bình phát bệnh mà chết. Nhờ thế dân tộc Việt Nam mới “Ðứng Vững Ngàn Năm!”

Nhưng thời nay, đảng Cộng Sản Việt Nam biết rằng Trung Cộng còn được ăn thì mình còn! Mất lòng đồng chí anh em thì chính số phận đảng Cộng Sản ở Việt Nam cũng mất. Cho nên ngày mùng 8 Tháng Mười Hai năm 2015, ông Nguyễn Phú Trọng đã thổ lộ tâm sự trước kỳ đại hội đảng thứ 12. Ông Trọng rất lo làm mất lòng Trung Nam Hải. Không dám kiện Bắc Kinh trước các tòa án quốc tế. Không dám cho hải quân ra biển bảo vệ các thuyền ngư dân đang bị “tàu lạ” tấn công. Chỉ vì sợ “đụng độ!” Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình thế nào? Giờ ta có ngồi đây mà bàn tổ chức đại hội đảng được không?”

Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng lo cho vận mệnh dân tộc. Còn Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng bây giờ chỉ lo bảo vệ đảng Cộng Sản! Nước mất không lo, miễn đảng đứng vững được năm nào hay năm đó!

Sang năm sẽ còn một số người Việt Nam vẫn làm lễ tưởng niệm 60 ngàn đồng bào và chiến sĩ bị quân Trung Cộng sát hại. Số người có thể sẽ không đông bằng năm nay. Trong sách giáo khoa môn lịch sử bậc trung học, cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 chỉ được ghi trong 11 dòng! Rồi năm này qua năm khác, dần dần người ta sẽ quên. Những người còn nhớ vẫn được phép khấn vái. Miễn là đảng Cộng Sản vẫn còn ngồi đó để ăn. Mà phần ăn lớn nhất vẫn thuộc về các vị tân thái thú, tân tiết độ sứ, nối gót Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình!