Chuyện đầu năm xứ Việt, ai vô văn hóa hơn ai?

Chuyện đầu năm xứ Việt, ai vô văn hóa hơn ai?

Blog RFA

VietTuSaiGon

29-2-2016

Đầu năm, bắt đầu từ mồng Một tháng Giêng, câu chuyện đầu năm xứ Việt có vẻ như không giống xứ nào bởi có quá nhiều chuyện để kể và càng kể càng thấy sợ. Từ chuyện các lễ hội cho đến chuyện đi chùa xem bói, đi chùa xin lộc, đến đền miếu vay vốn cõi âm rồi ngày thơ Việt Nam, dâng bánh chưng nặng vài tạ cho mẹ bác Hồ… Kính thưa các loại lễ. Đó là chưa muốn nói đến số lượng người chết, bị thương vì đi chơi Tết, gặp tai nạn xe, đánh nhau, cướp lộc, tranh lộc, đâm chém nhau vì lộc… Dường như chuyện nào cũng nổi cộm.

Từ thị trường lộc đầu năm béo bở

Chỉ riêng chuyện đánh nhau và tai nạn, con số đã lên đến vài vạn, môt con số kinh đầu Bác! (nói theo cách của người miền Bắc), miền Nam gọi là con số kinh đầu gà! Đó là chuyện tai nạn, đánh nhau, chặt chém, chuyện mà nhà nước xem là vô văn hóa, là nằm ngoài khả năng quản lý của họ, họ đang cố gắng khắc phục và chấn chỉnh. Còn chuyện lễ hội, chuyện tranh ấn, cướp lộc, chà đạp lên nhau thì sao?

Phải nói rõ rằng đây là những lễ hội do nhà nước tổ chức. Nếu không có nhà nước đứng ra tổ chức thì không có đền miếu, ông từ hay ông thầy nào dám đứng ra tổ chức một lễ hội to lớn như vậy. Và cũng không phải ngẫu nhiên hay vô tư mà các đài truyền hình nhà nước đưa tin, loan tải những hình ảnh tranh ấn, cướp lộc. Nói cách khác, đây là một kiểu PR cho lễ hội mà nhìn bề ngoài khó thấy được. Mọi năm, lễ hội chỉ có những người nông dân xứ Bắc tranh lộc, giành giật nhau một cách vui vẻ, không đến mức đổ máu, ngất xỉu như hai năm trở lại đây. Vì sao?

Vì cách đây năm năm, các đài truyền hình đã đưa hình ảnh tranh giành, cướp lộc một cách hồ hởi, vui vẻ của người nông dân miền Bắc. Và điều này gây tò mò cho những nhà giàu miền Nam. Đương nhiên những người giàu họ không có thời gian, sự liều lĩnh cũng như sức khỏe để xông vào cướp lộc mà họ chỉ mua lại lộc của người đã cướp được. Ví dụ như lộc hoa tre ở Đền Gióng chẳng hạn, giá sẽ dao động từ vài trăm triệu đồng đến một tỉ đồng. Tương đương với vài chục ngàn đến năm chục ngàn đô la Mỹ. Một con số có thể kích thích cho các băng nhóm, các tổ chức xã hội đen vào cuộc để giành lấy.

Trước lễ phát lộc một ngày, giới nhà giàu cả Bắc lẫn Nam có một cuộc đấu giá bên ngoài đền, họ làm rất có tổ chức, ngồi đấu giá hẳn hoi, có giá sàn, giá trần. Giá sàn lộc hoa tre của lễ hội đền Gióng năm nay là một trăm triệu đồng, và mức đấu cuối cùng là bốn trăm bảy chục triệu đồng, sau năm lần bảy lượt mua qua bán lại, giá cuối là một tỉ một trăm triệu đồng, rơi vào một tay nhà giàu người Bình Dương.

Thường những tay nhà giàu rất tin vào lộc và phép ở các lễ hội miền Bắc. Kể cả giới nghệ sĩ, ví dụ như Hoài Linh và Xuân Hinh, hai nghệ sĩ này thường đến các các đền ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai… để hầu đồng và hát chầu văn.

Riêng Hoài Linh có cả một CD anh ngồi đồng và cậu nhập vào anhh để hát múa, cho lộc, CD này bán khá nhiều ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội. Nhưng trong giới đi đền miếu phía Bắc kháo nhau rằng Hoài Linh ngồi đồng xấu hơn Xuân Hinh và cho lộc cũng không linh nghiệm bằng Xuân Hinh ngồi đồng. Nhưng đó chỉ là những chuyện ngoài lề, vấn đề vẫn là cướp lộc.

Một khi lộc ở đền miếu được biến thành một sản phẩm có giá hời, trong đó có cả những quan chức đứng sau những “đại gia” mua lộc thì câu chuyện sẽ còn đi xa nữa. Bởi tay mua lộc hoa tre người Bình Dương mua lộc một tỉ một trăm triệu đồng không phải để mang về nhà mà để mang đến biếu cho một anh cả đang công tác trong trung ương đảng. Đương nhiên không có cách đầu tư và lót tay nào chắc và khôn hơn cách lót tay này. Vài chục tỉ lót tay cho anh cả cũng chỉ là cái phong bì. Nhưng một tỉ mốt trầy vi tróc vảy để có được lộc hoa tre mang về cho anh cả thì còn gì hơn!

Và cũng theo thông tin của giới giang hồ phía Bắc, hai năm nay họ tổ chức được những đội chuyên đi tranh lộc, cướp lộc để bán. Những nông dân không bao giờ vào tranh được lộc và nếu có tranh được chăng nữa cũng sẽ bị cướp trên đường về. Lộc chỉ rơi vào tay các quan và giới quyền lực, có nhiều tiền, lộc ở các đền miếu không bao giờ rơi vào tay dân nghèo. Điều này giống như một chân lý thời bây giờ.

Và chuyện tranh cướp lộc, giẫm đạp lên nhau, chém giết nhau vì cướp lộc chỉ dừng lại, chỉ chấm dứt khi nó không còn giá tiền tỉ. Hay nói cách khác, chuyện tranh lộc, cướp ấn sẽ không còn lộn xộn như hiện tại nếu các quan biết từ chối món quà cầu may đầu năm của đàn em tặng. Thị trường lộc cầu may ở các đền miếu trở nên lộn xộn và phức tạp bởi vì các quan quá tin vào lộc và đàn em sẵn sàng bỏ ra hàng núi tiền để mua lộc tặng cho các quan. Một khi các quan cùng với đàn em trọc phú biến các lễ hội thành thị trường mua bán lộc đầu năm thì chuyện người ta giết nhau vì lộc vẫn có thể xảy ra.

Đài truyền hình nhà nước, trong thời điểm này đưa tin về chuyện cướp lộc và thả sức chê trách người dân vô ý thức là một chuyện hoàn toàn sai phạm với nhân dân. Bởi không có người dân nào sai trong chuyện cướp lộc, không những thế, người dân đi lễ với tâm thành kính bị ảnh hưởng không nhỏ do giẫm đạp cướp lộc. Nếu các đài trong nước còn một chút tự trọng thì phải tìm hiểu, điều tra tận gốc rễ vấn đề. Mà vấn đề dễ tìm nhất là thử điều tra các ấn, lộc, hoa tre, tú cầu may… trong ba năm nay đang nằm trên bàn thờ gia đình nào. Kết quả điều tra này sẽ nói lên tất cả!

Đến cúng nhương sao và ngày thơ Việt Nam

Nếu như chuyện mua bán lộc đầu năm béo bở chừng nào thì chuyện nhương sao và ngày thơ Việt Nam cũng béo bở không kém phần. Bởi theo qui luật, người ta gây bao nhiêu tội thì sợ bấy nhiêu, tham nhũng, hối lộ, đút lót càng nhiều thì lễ nhương sao, cầu an càng đắt đỏ bấy nhiêu. Khi cả một xã hội nháo nhào lên vì lòng tham thì cái xã hội đó cũng cuống cuồng lo sợ tội lỗi. Chính vì vậy những ngày tháng Giêng là ngày hốt bạc ở các chùa chiền, đền miếu nhờ vào lễ nhương sao, cầu siêu…

Nhưng còn ngày thơ Việt Nam thì liên quan gì đến lộc? Có đó, đây là ngày mà những ban bệ tổ chức (gồm các nhà văn, nhà thơ quốc doanh) hốt bạc. Họ hốt ở cả hai phía, từ tiền tổ chức đến thành phần tham gia, tham dự. Về phía tiền tổ chức, một đêm thơ nguyên tiêu cấp huyện tốn ít nhất ba trăm triệu đồng, cao nhất chừng một tỉ đồng. Tiền chuẩn của nhà nước rót là ba trăm triệu, tiền mạnh thường quân cho thêm thì không biết được. Ban tổ chức thả sức chi tiêu và ghi hóa đơn.

Về phía người tham gia, hầu hết những đêm nguyên tiêu đều là đêm thăng hoa của các nhà thơ hưu trí. Họ làm thơ Đường, thơ lục bát, vè lục bát và kính thưa các loại ò e í e vần vèo. Nếu xét về mặt nghệ thuật thì không có gì nhưng họ lại được lăng xê hết mức như những nghệ sĩ lớn trong đêm nguyên tiêu. Và, phía ban tổ chức đã có sẵn những tham luận về thơ của mấy vị hưu trí. Họ viết phê bình, tham luận, bình luận để đọc trước khi vị nhà thơ hưu trí lên đọc thơ.

Và để được như vậy, các nhà thơ hưu trí đã có một cuộc chạy đua ngấm ngầm trước đó, từ tháng Chạp, họ đã quà cáp, biếu xén, lót tay ban tổ chức. Thậm chí có những vị hưu trí mạnh tiền sẵn sàng bỏ ra vài trăm triệu đồng để ban tổ chức mạnh tay làm riêng cho mình một đêm thơ nguyên tiêu.

Xét trên khía cạnh này, ngày nhà thơ cũng là một ngày cầu lộc, cầu siêu. Nếu như việc đọc thơ của các nhà thơ hưu trí là một cái lộc cho ban tổ chức thì đêm thơ nguyên tiêu lại là nơi cầu siêu, làm cho những bài thơ hưu trí được siêu thoát sau một năm mắc kẹt trong giấy bút của các vị. Và không chừng, tuy nghỉ hưu nhưng các vị vẫn còn đàn em, chân rết trong hệ thống nhà nước rất mạnh. Như vậy, nịnh những nhà thơ hưu trí cũng là cách để nhanh chân bước lên ghế cao của ban tổ chức nếu các nhà thơ hưu trí thấy đẹp lòng, chịu cúi xuống để gởi gắm, nhờ đàn em giúp đỡ cho “đứa cháu văn nghệ” đang công tác tại chỗ cơ quan A, B, C… nào đó!

Có thể nói rằng câu chuyện đầu năm ở Việt Nam là một câu chuyện hết sức lộn xộn và chợ búa. Mà sở dĩ nó trở nên lộn xộn và chợ búa như vậy là do hệ thống lãnh đạo đã không những tìm cách làm cho nó giảm đi mà còn nhúng tay vào để khuấy cho nó đục thêm. Nó đục đến cỡ nào thì phải hỏi chính các ông lãnh đạo. Và các ông lãnh đạo, các đài truyền hình nhà nước cũng nên thôi huênh hoang chê dân vô văn hóa. Chính các ông và hệ thống tuyên truyền, truyền thông của ông mới là những kẻ vô văn hóa đúng nghĩa!

Những Quả Nho Dữ Dội

Những Quả Nho Dữ Dội

Nancy Nguyễn
QUA NHO

Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quanh năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.

Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy khinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: niềm đau.

Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?

Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: Đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. “Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông”. “Niềm đau” có là một danh từ quá nhẹ?

Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.

Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: Một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.

Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.

Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.

Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau “giải phóng”, những-tháng-năm-cấm-vận.

Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quạnh hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao? cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.

Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì … hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi … “đưa ánh nắng vào nhà” (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.

Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép “uyên ương”. Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày Tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không … vá đít là đủ hấp dẫn rồi!

Và quả nho, những quả nho … dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất Tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mỹ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp Tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mỹ, giống y chang mấy chùm nho … giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàn toàn mộng muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay … vẫn tiếp tục công cuộc … mưu cầu hạnh phúc. Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa … sung sướng , vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ còn trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần … ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng … và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.

Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận.

Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: “Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác”.

Cứ mỗi mươi năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi “thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm”, còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng “đặc thù” và cái nào cũng “nhất”!

Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?

BÍCH-VÂN-THIÊN

BÍCH-VÂN-THIÊN

Lang Thang Chiều Tím

“Bích-Vân-Thiên” là một trong những tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Dao.  Chuyện kể về mối tình tay ba giữa hai người phụ nữ Bích, Vân và một người chồng chung tên Thiên.  Vì người vợ không thể sinh con nối dõi tông đường cho chồng, nên nàng đành chấp nhận người em kết nghĩa như người vợ lẽ cho chồng.  Dù là tự nguyện, nhưng những ích kỷ ghen tương của kiếp nhân sinh đã khiến họ nhận ra rằng, cả ba không thể cùng hạnh phúc chung dưới một mái nhà.  Một người chấp nhận ra đi để hai người ở lại hạnh phúc hơn.
Những tưởng chuyện tình thơ mộng sầu muộn chỉ có trong tiểu thuyết, qua sự tưởng tượng phong phú của nhà văn.  Nhưng đâu ai biết rằng cuộc sống muôn màu sắc cũng đang dệt nên một chuyện tình tay ba đẹp lãng mạn như một bài thơ, trắc trở với những cảnh đời éo le, với phần kết vẫn còn dang dở.   “Bích-Vân-Thiên” của đời thực là một chuyện tình tay ba giữa Thu Bích, người con gái vô tư hồn nhiên, duyên dáng như viên ngọc xanh biếc giữa đời, và một Đình Vân thư sinh trắng trẻo nho nhã với cặp kiếng cận, như một áng mây lững lờ quyện lấy viên ngọc bích trong trời thu.  Hiện diện giữa họ là một Thiên Chúa vô hình lúc ẩn, lúc hiện, lúc hiền hòa yêu thương, lúc thinh thặng đến lạnh lùng.

Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình sùng tín đạo Phật có lòng thờ kính ông bà tổ tiên, Vân đến với Bích khi chẳng biết Thiên Chúa là ai.  Đúng rồi, Thiên là Trời, là Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, dạy cho con người những điều hay lẽ phải.  Thiên Chúa của Đạo Công Giáo cũng là Ông Trời thân thiện gần gũi của dân tộc Việt Nam đấy mà, người quen cả chứ có phải ai xa lạ đâu.  Nhưng ngược với sự suy nghĩ đơn giản của Vân, người con gái mà anh đem lòng yêu mến ở đảo, trước biến cố 30 tháng Tư năm 1975 là một đệ tử đã từng được nuôi dưỡng bởi câu kinh ê a mỗi sáng chiều trong nhà dòng các Sơ.  Nàng mong muốn vợ chồng sẽ cùng chia sẻ và đồng hành bên nhau trong đời sống tự nhiên cũng như trong đời sống thiêng liêng.
Bản chất vốn dĩ hiền lành và chân thật, mang trong tâm hồn phần nào vẻ đẹp của Đấng Chân Thiện Mỹ, Vân tự ý tìm hiểu Thiên Chúa của Bích là ai.  Khởi đầu Vân cảm thấy khó hiểu, chuyện một Thiên Chúa từ bỏ vương quyền cao sang để sinh ra làm người trong máng cỏ nghèo nàn, rồi lại lang thang bồng bế nhau đi tị nạn xứ người.  Cũng là kiếp tị nạn cả thôi, nghe sao đồng cảm quá, giống như cảnh đời của Vân-Bích đang vất vưởng ở đảo chờ ngày định cư.  Lạ thay, càng tìm hiểu anh lại càng thấy mến thương một Thiên Chúa với tình yêu bao la dành cho con người hay phản bội chóng quên, một Thiên Chúa mặc lấy xác phàm để rồi cuối cùng bị chết thảm thương nhục nhã trên cây thập giá.

Sau những tháng ngày học hỏi tìm hiểu về Đạo Thiên Chúa, năm 1984 Vân cúi đầu nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội trong nỗi ưu phiền của người cha già ở phương xa, mà sau này khi đại gia đình được đoàn tụ, ông thường hay trách cứ: “Anh con theo Đạo để lấy vợ thì ba không buồn, nhưng con theo Đạo thì ba rất buồn vì con quá sùng tín.  Con là một đứa con bất hiếu, bỏ ông bà cha mẹ mà theo Đạo vợ.”  Trái tim Vân tan nát, anh chỉ biết cúi đầu im lặng mỗi khi nghe lời phiền trách của người cha yêu dấu.  Cha Vân đâu ngờ rằng đứa con trai này chịu phép rửa tội bằng con tim thổn thức của tuổi trẻ đi tìm chân lý, bằng nỗi khát khao nhiệt tình của người vừa tìm ra được lẽ sống đời mình, chứ không phải rửa tội chỉ để lấy vợ, như người đời thường nói: “Con quỳ lạy Chúa trên cao, con lấy được vợ con thôi nhà thờ.”

Từ đó Thiên Chúa luôn luôn hiện diện giữa Bích-Vân trong mọi biến cố buồn vui, thăng trầm của cuộc sống.  Cuộc tình nhẹ nhàng êm đềm như một bài thơ qua dòng thời gian lững lờ trôi.  Mối tình tay ba “Bích-Vân-Thiên” được triển nở khi Bích-Vân chính thức nên một trong Thiên Chúa qua bí tích Hôn Phối vào tháng 12 năm 1985.  Hạnh phúc gia đình thêm viên mãn với sự góp mặt của hai thiên thần nhỏ, một trai một gái.  Hơn 30 năm trôi dạt xứ người, phồn hoa phú quý nơi xứ sở giàu có văn minh chỉ làm Vân tăng thêm lời tạ ơn.  Đức tin của Vân ngày càng lớn dần theo thời gian cùng với tình yêu anh dành cho cả hai, Thiên Chúa và Bích.   Không chỉ giữ riêng đức tin cho mình, với tình yêu mãnh liệt mà anh cảm nhận được từ Thiên Chúa, anh mạnh dạn chia sẻ đức tin đó cho người cha và anh em trong gia đình mình.  Gương sống và hạt giống đức tin đã sinh hoa kết trái nơi người em gái mà lần này với sự đồng thuận của người cha: “Con đã quyết định theo Đạo Công Giáo thì theo cho đến nơi đến chốn.” Người anh kế và cậu em trai cũng một lòng tin kính Chúa mặc dầu chưa chính thức vào Đạo, nhưng bản thân họ đã tự nhận mình là Kitô hữu.  Vân không chỉ ngừng lại nơi đây, anh tích cực chia sẻ đức tin đó cho những người nghèo khó bệnh tật, cho những người già yếu trong viện dưỡng lão, cho ban Giáo Lý Dự Tòng, ban Tĩnh Tâm Linh Thao, phong trào Cursillo, cho các sinh hoạt mục vụ khác của giáo xứ, và là cánh chim đầu đàn cho phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Thung Lũng Hoa Vàng.  Với cây đàn guitar, với giọng hát sôi nổi trầm ấm, với những lời nguyện chân thành bộc phát từ trái tim cháy bỏng, đức tin mạnh mẽ của anh đã sưởi ấm bao cõi lòng băng giá vì vắng bóng niềm tin.  Trong bất cứ sinh hoạt mục vụ nào, Bích-Vân cùng sát cánh, chia sẻ và hổ trợ cho nhau như hai người bạn thiêng liêng tâm đầu ý hợp.

Ấp ủ trong tim lời mời gọi thầm thì nhưng tha thiết yêu thương của Thiên Chúa, Bích-Vân mơ ước dành trọn cuộc đời còn lại để ra đi phục vụ tha nhân.  Nhưng cuộc đời không như là mơ, dẫu giấc mơ đó thật là cao quý!  Làm chứng cho đức tin của mình bằng cuộc sống tông đồ nhiệt thành hình như chưa đủ.  Thiên Chúa muốn đức tin của Bích-Vân và gia đình phải được thử thách tôi luyện, chứng nhân của Ngài phải đổ máu trong một bi kịch oan nghiệt trớ trêu.  Trong một buổi sáng định mệnh ngày 3 tháng 3 năm 2011, khi bệnh tình trở nặng vì những ảnh hưởng nguy hại của các thuốc an thần, anh cần phải được khẩn cấp nhập viện.  Tổng đài 911 đã nhận được thông báo để cấp cứu…  Xe cứu thương và xe cảnh sát đã tới.  Nhưng than ôi, trong khoảnh khắc tích tắc, một viên đạn oan nghiệt từ một người cảnh sát không quen biết, không thù oán đã kết thúc cuộc đời anh.  Anh ra đi đột ngột không hiểu tại sao mình lại bị giết ngay trong chính ngôi nhà của mình, nơi vừa được một vị linh mục làm phép nhà cách đó ba hôm, nơi mà hai vợ chồng mơ ước sẽ làm nhà tĩnh tâm, là nơi hội họp cầu nguyện cho anh chị em… Cuối cùng anh đã trở về bên Giêsu, Đấng mà anh được rước vào lòng mỗi ngày qua bí tích Thánh Thể.  Anh đã vĩnh viễn trở về với Đấng Tạo Hóa, Đấng Chân Thiện Mỹ, Đấng mà suốt cả cuộc đời anh khát khao tìm kiếm, và cũng chính vì Ngài mà anh mang tội bất hiếu.
Từ khi bị bịnh, anh đã chuẩn bị sẵn sàng để ra đi, cho dù là cách nào, vào bất cứ lúc nào.  Nhưng thực tế cái chết tức tưởi oan ức của anh đã gây đau khổ, khó chấp nhận cho những người thân còn ở lại.  Đức tin của người vợ, hai con đang chập chững bước vào đời, hai bên cha mẹ già, anh em đạo cũ, đạo mới, chưa theo đạo bị thử thách dữ dội.  Trong giây phút mà sự dữ lên ngôi, thần chết tưởng như chiến thắng, cái ác cười ngạo nghễ trên sự thiện, người ta khó lòng mà giải thích được tại sao một người đạo đức, sống tốt lành thánh thiện như anh lại có một cái kết thúc bi thảm như vậy.  Người đời sẽ chẳng bao giờ giải thích được, trừ phi họ nhìn lên cây thập giá, nơi Chúa Giêsu Kitô chịu chết treo ô nhục trên đồi Canvê.  Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi ai trùm kín một màu tang tóc buồn bã, không phải là đích đến của những Kitô hữu.  Đàng sau ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chúa Nhật Phục Sinh chiến thắng khải hoàn.  Nhưng trong cơn sầu khổ tuyệt vọng, lệ nhòa mi mắt thì bóng dáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh xa vời mờ nhạt quá.

Giữa những tiếng xì xầm của thế gian, tiếng cười đắc chí đắc thắng của thần dữ, người thiếu phụ gục xuống trước nỗi mất mát quá tang thương này.  Chị rút vào thanh vắng một thời gian dài, xa lánh phần lớn bạn bè người thân quen.  Chị tránh những ánh mắt thương hại tội nghiệp, né những câu hỏi han tò mò, ngại ngùng khi phải nghe những lời an ủi nhiệt tình nhưng vô duyên lạc điệu:  “Thôi đừng khóc, đừng buồn nữa, hãy chấp nhận thánh giá Chúa gởi đến, như thế Chúa và anh mới vui.”  Không, Bích không muốn che dấu nỗi buồn vô tận của mình.  Bích càng bối rối hơn khi nghe người ta đổ tội cho Thiên Chúa.  Vô lý quá, làm sao mà một “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”  (Ga 3,16), lại có thể gởi những sự dữ đến cho con cái của mình được.  Sự dữ đâu đến từ Thiên Chúa!  Ngài tôn trọng sự tự do chọn lựa của người cảnh sát vô cảm kia, cũng như Ngài đã từng tôn trọng sự tự do lựa chọn của Bích-Vân vậy.
Trong bóng tối cô đơn trước cây thánh giá, với cõi lòng tan nát, Bích muốn để những tiếng rên xiết quằn quại trong cõi lòng của mình được tự do òa vỡ.  Chị kiệt sức gục đầu lên vai Chúa để mặc cho dòng nước mắt thỏa sức tuôn rơi.  Chúa không bảo chị thôi đừng khóc, bớt buồn, mà chị lờ mờ thấy Chúa lau nước mắt cho mình, cùng buồn, cùng khóc với mình.  Chị để mặc cho Chúa vuốt ve, an ủi trái tim đang gào thét lên nỗi thương nhớ.  Chúa xót xa băng bó vết thương tâm hồn bê bết máu, xoa dịu nỗi buồn gặm nhấm tâm can.  Trong cõi một mình vắng lặng, Bích cố gắng tìm lại Lời Chúa, Ý Chúa, và hình ảnh Thiên Chúa ngày xưa của mình đang ở đâu trong biến cố này.  Bích cũng đang tập làm quen dần với cảnh đời mất chồng nơi xứ lạ.

Hơn hai năm sau, khi cơn đau vẫn chưa nguôi trong trái tim mới chớm lành của người goá phụ, Bích lại tiếp tục nhận được thất bại khác.  Chị đã thua trong vụ kiện người cảnh sát bắn chồng chị.  Bích kiện không phải vì tiền, vì chẳng có đồng tiền nào có thể đánh đổi được sinh mạng của anh.  Kiện để chân lý được sáng tỏ, để tránh cho người dân thấp cổ bé miệng sau này khỏi lâm vào hoàn cảnh oan ức như anh.  Kiện để những người cầm súng đại diện cho pháp luật ở một xứ sở tự do phải ý thức hơn về những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm.  Nhưng thương thay, tiếng nói yếu ớt của một sắc dân tị nạn thiểu số, tại một nơi mà đa phần là da trắng, tiếng bào chữa của một văn phòng luật sư bé nhỏ, làm sao có thể thắng được với một tập đoàn luật sư hùng hậu của thành phố, của quận hạt.  Chân lý một lần nữa lại đứng về phía kẻ mạnh.  Thần dữ lại một lần nữa vỗ tay cười hả hê, khoái trá chờ ngày người vợ và hai con đang tuổi nổi loạn từ bỏ đức tin, trút cơn giận lên Thiên Chúa chẳng chút nhân từ.  Chuyện tình ba người “Bích-Vân-Thiên” chắc rằng sẽ tan rã từ đây….

Dù không còn cảm giác với tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa, nhưng Bích cũng ráng đến nhà thờ mỗi ngày theo thói quen, đến nhóm cầu nguyện hàng tuần dù không cảm nhận được gì.  Sự thinh lặng của Ngài trong những giây phút cầu nguyện, trong các khóa tĩnh tâm dài ngày càng làm cho chị thêm khó hiểu.  Mỗi lần nhìn lên cây thánh giá, Bích không bao giờ dám hỏi Chúa tại sao những sự dữ lại xảy đến với gia đình mình.  Người Con Một của Ngài cũng có tội tình gì đâu sao phải chết treo trên thập giá?  Nhìn vào quan tòa xét xử Giêsu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhìn vào đôi tay Người Con Một Thiên Chúa đang bị trói chặt lại trước những tiếng la hét đòi xử tử, như chân lý và tình yêu bị trói buộc trước sự dữ, chị không muốn tiếp tục vụ kiện nữa.  Chúa Giêsu có thắng đâu trước quan tòa ngày hôm ấy!  Ngài đã thua thảm bại trước một tên tướng cướp giết người khét tiếng, đã thất bại chua cay trước những vị kinh sư Pharisêu đại diện cho tôn giáo của dân tộc mình.  Cũng như viên đạn bắn anh không phải xuất phát từ một tên cướp, mà là từ một nòng súng của người thi hành pháp luật dành cho một người dân vô tội.  Cay đắng quá!  Trò mà làm sao hơn được thầy!  Chén đắng đã hai lần nhấp thử, chị phần nào cảm nhận được nỗi thống khổ tột cùng của Chúa Giêsu trong vườn Gethsemane.  Cũng như Giêsu ngày xưa, Bích xuôi tay chấp nhận mình thua để khép lại vụ kiện, chị không muốn kháng án lên toà trên, không muốn vết thương lòng lại bị khơi ra khuấy động lên, chị muốn sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, thấm thía mầu nhiệm thập giá… Từng ngày, từng ngày, trong tâm hồn chị vẫn vang lên lời nguyện xin tha thiết: “Chúa ơi, xin cứu con!  Chúa cho phép sự việc xảy ra như thế này thì sinh ích gì cho con?  Con xin tạ ơn Chúa mặc dù giờ này con chưa hiểu, nhưng con tin vào Ý Muốn Tốt Lành của Chúa vì Chúa đã nói mọi đau khổ đều sinh ích cho những ai yêu mến Chúa.”

Qua những tháng ngày đau khổ đến tê dại không còn cảm giác, qua những lúc ngã lên gục xuống, thầm khóc đến không còn nước mắt, qua những cay đắng khi nhận được tin thất bại của vụ kiện, người goá phụ từ từ cảm nhận được những nâng đỡ ủi an kín đáo của Người Cha Nhân Từ đang ẩn mặt đâu đó trong lúc này.   Gia đình, bạn bè, cộng đoàn Đức Tin, các Bí tích, Lời Chúa, Thánh Vịnh, và những bài Thánh Ca đong đầy yêu thương là những điểm tựa nương của Bích trong lúc sầu khổ lao đao: “Lạy Chúa, khi con nói: “Này chân con lảo đảo”, tình thương Ngài đã đỡ nâng con” (TV 94, 18), “Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành” (TV 147, 3), “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:4-5).  Bích không trách Thiên Chúa đã cất anh về sớm, trong cõi lòng sâu thẳm chị chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa đã ban cho chị một người chồng tốt lành, một người cha gương mẫu cho các con, một người bạn thiêng liêng thánh thiện đã cùng đồng hành với chị trong suốt hai mươi lăm năm hôn phối, mà anh chị vừa long trọng lập lại lời thề hứa ba tháng trước ngày anh đi về cõi vĩnh hằng.  Bích tạ ơn cho những gì đã có, chứ không trách móc về những gì đã mất.  Chị biết, anh vui khi được ở bên chị và anh cũng hạnh phúc khi được xum vầy cùng Thiên Chúa, Đấng mà anh hằng khát khao được diện kiến.  Chị tin rằng hình ảnh của chị và hai con luôn ở trong tim anh, và anh sẽ tiếp tục cầu khẩn cùng Thiên Chúa cho ba mẹ con.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thế mà đã năm năm trôi qua kể từ ngày Vân về với Thiên Chúa.  Trên bia mộ đá nơi anh an nghỉ, có hình của cả ba “Bích-Vân-Thiên”, với một bên còn trống để dành chỗ cho Bích, với lời ca Hallelujah của ngày Chúa Nhật Phục Sinh khải hoàn trong vinh quang.  Thiên Chúa chưa bao giờ vắng bóng trong cuộc tình của Bích-Vân.  Trong những tháng năm đầu, trên mộ Vân không lúc nào thiếu vắng hoa tươi do Bích mang lại.  Bạn bè kẻ khen người chê trước hành động lãng mạn không thiết thực đó, lãng phí cả thời gian và tiền bạc.  Nhưng Bích có cần gì đâu, chị làm theo tiếng nói con tim.  Sự chết không chia rẽ được tình yêu của anh chị.  Mỗi lần viếng nghĩa trang nơi anh an nghỉ, chị cảm nhận được tình yêu ba người “Bích-Vân-Thiên” quyện lẫn vào nhau trong gió, trong mây để chỉ còn là một.  Chẳng còn thế giới vô hình hay hữu hình nữa, cũng chẳng còn ranh giới sự sống hay sự chết.  Bích đến không để khóc than, chị đến để trái tim chị được sưởi ấm, đến để cảm nhận tình yêu chung thủy của ba người được thăng hoa.  Bó hoa tươi trên mộ anh là ngôn ngữ tình yêu nói thay cho con tim chị.  Anh yêu nhạc, chị thích hoa, cả hai cùng say mê vẻ đẹp chân thiện mỹ, Bích-Vân đang cùng hát lên bản Tình Ca Tạ Ơn bên Thiên Chúa – Hallelujah!

Năm năm với biết bao ân sủng tuôn đổ từ trời cao đủ để làm sống dậy tin yêu hy vọng trong Bích.  Tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn sự mất mát và thất bại đã làm tươi mới lại con người Bích, chị trở lại với con người hồn nhiên yêu đời như những ngày trước có anh đi bên cạnh.  Nụ cười rạng rỡ lại trở về trên khuôn mặt nhân hậu duyên dáng của chị.  Không những thế, chị được mời gọi để làm chứng cho những mảnh đời bất hạnh, những tâm tư giận hờn Thiên Chúa vì những khổ đau bịnh tật, hay những mất mát chia lìa đớn đau, những con chiên tự tách mình ra khỏi đàn vì mải mê oán than…. Chị đến để mang câu trả lời cho những câu hỏi không lối đáp, tại sao Thiên Chúa lại để sự này xảy đến với tôi, với gia đình tôi?  Tại sao Ngài không nhận lời?  Tại sao Ngài không ngăn cản sự dữ xảy ra?  Tại sao Ngài không cất đi căn bịnh hiểm nghèo cho tôi, cho người thân của tôi?  Tại sao và tại sao?  Chị đến không để nói, để thuyết phục hay hùng biện, chị chỉ nhẹ nhàng kể về câu chuyện tình của đời chị… và Thiên Chúa sẽ làm việc với những tâm hồn tan nát đó.

Tác phẩm “Bích-Vân-Thiên” của nữ văn sĩ Quỳnh Dao được khép lại khi trang sách cuối cùng được lật qua.  Trong đầu người đọc chỉ còn lưu lại thoang thoáng vài nét về một cốt chuyện hay, một tình yêu lai láng sầu muộn chỉ có trên tiểu thuyết.  Còn “Bích-Vân-Thiên” trong đời thường, không chỉ là tên của ba người trong một cuộc tình ghép lại, mà còn là tựa đề của cuốn sách mang niềm hy vọng – cuốn sách chứng nhân đức tin – đang được tiếp tục lật từng trang mỗi ngày.  Ba nhân vật chính “Bích-Vân-Thiên” vẫn luôn nắm tay cùng đồng hành với nhau.  Đình Vân đã đi xong quãng đường của mình.  Chặng đường của Thu Bích vẫn còn dài đăng đẳng trước mắt nhưng Bích không đi lẻ loi một mình.  “Vân-Thiên” vẫn luôn cùng đồng hành với Bích và chờ ngày đoàn tụ để đóng lại cuốn sách chứng nhân đức tin “Bích-Vân-Thiên”.

Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu chúc lành cho thiên tình sử tay ba “Bích-Vân-Thiên” được đẹp mãi đến trang sách cuối cùng.  Mong rằng trong ngày sau hết cả ba sẽ được tái ngộ để cùng nhau kết hợp nên một mối tình tuy ba nhưng chỉ là một.

Lang Thang Chiều Tím

Kỷ niệm năm năm ngày giỗ anh Phêrô Lê Đình Vân, 03/03/2011 – 03/03/2016

10 sự thật của xã hội hiện đại

  10 sự thật của xã hội hiện đại

 Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

Rõ ràng chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, và việc quay trở lại xã hội trước đây là điều không thể.

Một trong số những ảnh hưởng lớn nhất tới xã hội ngày nay một cách tiêu cực cũng như tích cực chính là truyền thông xã hội.

Truyền thông xã hội vốn được thiết kế để cho phép con người chia sẻ những điều thú vị trong cuộc sống của họ với bạn bè, nhưng giờ đây mọi chuyện không chỉ đơn giản như vậy.

Truyền thông xã hội giờ đây là con đường vận chuyển thông tin toàn cầu. Nhiều khi chúng ta biết về những sự kiện đang diễn ra thông qua Twitter hay Facebook trước khi biết về nó qua các nguồn tin chính thống.

Chúng ta cũng bắt đầu dựa vào các thiết bị công nghệ trong hầu hết mọi việc. Ngày nay con người dường như không thể đi bất kỳ đâu hay làm bất kỳ điều gì mà không mang theo điện thoại thông minh, máy tính bảng,máy tính xách tay

Họ cần có một mối liên lạc thường trực với nhau thông qua các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, kết nối quá nhiều với truyền thông xã hội và các thiết bị có liên quan cũng có mặt tiêu cực của nó.

Chúng ta có thể trở nên phụ thuộc quá mức, hoặc trở nên thờ ơ với những gì chúng ta đang làm với cuộc sống của chúng ta.

Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

1. Facebook đang ngấu nghiến thời gian của bạn

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian trên Facebook hoặc các trang mạng xã hội khác? Điều này có đang ảnh hưởng tới hiệu quả công việc của bạn không? Bạn có thấy mình lãng phí thời gian tới mức bạn không hề nhận ra nó đã trôi nhanh thế nào không? Nếu bạn trả lời “có,” tôi tin chắc rằng bạn không phải là người duy nhất.

2. Chúng ta trở thành những kẻ ‘nghiện Like’

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Nói tới Facebook, khi bạn đăng tải một thứ gì đó, bạn có làm vậy chỉ để xem sẽ có bao nhiêu bạn bè ấn ‘Thích’ không? Đối với một số người, những cái ‘Thích’ trên Facebook cũng như một loại chất gây nghiện họ cần bơm vào mạch máu của mình.

3. Các thiết bị điện tử còn quan trọng hơn mạng sống

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Lựa chọn giữa việc điện thoại hết pin và mạng sống của bạn, bạn sẽ chọn thứ gì? Trong trường hợp này, người đàn ông trong hình vẽ đã chọn chiếc điện thoại thay vì thiết bị hỗ trợ sống của chính anh ta. Xã hội loài người cần đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn.

4. Các thiết bị đang hủy hoại sự thân mật

Bạn và những người thân yêu đã bao giờ dành thời gian bên nhau chỉ để mỗi người cầm một chiếc điện thoại nhắn tin, đăng tweet, Facebook hay lướt web thay vì giao tiếp với nhau chưa? Xã hội phải chăng đã tới mức chúng ta không thể dành thời gian cho nhau mà không cầm trên tay chiếc điện thoại?

5. Các gia đình không còn dành thời gian quây quần bên nhau

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Đây là một bà mẹ đang nướng bánh quy cho cả gia đình. Nhưng những đưa con thì đang làm gì kia? Chúng không cùng làm bánh với mẹ, mà đứa con nào cũng đang dán mắt vào thiết bị của mình. Trước đây, các bậc cha mẹ dùng TV để trông con; giờ đây máy tính bảng, điện thoại, laptop hoặc trò chơi điện tử đang đảm nhận công việc đó.

6. Chúng ta thà quay video một ai đó còn hơn giúp đỡ họ

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Một người đàn ông da màu đang đuối nước và giơ tay ra cầu xin sự giúp đỡ. Một kẻ đang chĩa súng, còn kẻ còn lại thì chĩa chiếc iPhone về phía người đàn ông- cả hai đều không có ý định giúp đỡ người bị nạn.

7. Xã hội đang lãng phí thời gian

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Thời gian là tiền bạc. Khi chúng ta tiêu phí thời gian trên các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đang đánh mất thứ quý giá nhất chúng ta có: thời gian.

8. Dù đã có công nghệ, chúng ta vẫn muốn thứ thuộc về người khác

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

“Đứng núi này trông núi nọ” là một câu tục ngữ đã có từ lâu đời. Dù đã có những gì ta có, nhưng ngay cả những người giàu vẫn cần tình yêu, gia đình, … để được hạnh phúc.

9. Chiêu giật gân vẫn câu kéo được khách

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Với lượng thông tin tràn đầy như hiện nay, truyền thông vẫn luôn tìm kiếm yếu tố giật gân. Người phụ nữ này rõ ràng đang muốn nói lên điều gì đó quan trọng, nhưng liệu giới truyền thông có còn quan tâm tới cô nữa hay không nếu cô không còn trong tình trạng bán khỏa thân nữa?

10. Cuối cùng, chúng ta vẫn đang tàn phá trái đất

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Dù đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, song con người vẫn đang tàn phá trái đất tới mức chúng ta gần như đang chĩa súng vào “Mẹ Thiên nhiên”. Với những thành phố ngày càng lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đến khi nào những gì chúng ta làm sẽ khiến chính chúng ta sụp đổ?

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

 National Interest

Tác giả: Robert Beckhusen

Dịch giả: Phạm Ðức Duy

25-2-2016

Ảnh: National Interest

Hoa Kỳ không còn có thể dựa vào các căn cứ không quân của mình tại Thái Bình Dương để tránh khỏi các cuộc tấn công tên lửa trong một cuộc chiến tranh với TC. Trái lại, một bài báo đăng vào năm ngoái 2015 của cơ quan RAND đã lưu ý rằng trong trường hợp xấu nhất, “nếu phòng thủ thiếu kín đáo, các cuộc tấn công lớn hơn, chính xác và kéo dài có thể sẽ đưa đến những tàn phá, thiệt hại lớn về máy bay và đóng cửa các phi trường trong một thời gian dài”.

Căn cứ không quân Hoa Kỳ Kadena ở Okinawa tại Nhật, tương đối gần đại lục, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Vào tháng 9 năm 2015, TC cũng đã công khai tiết lộ loại tên lửa đạn đạo mới DF-26, từ đại lục có thể tấn công căn cứ không quân Hoa Kỳ Andersen ở Guam, cách xa 3.000 dặm. Andersen và Kadena là hai căn cứ lớn nhất và quan trọng nhất của quân đội Hoa Kỳ ở nước ngoài.

Tinian, hòn đảo nhỏ gần đảo Guam đang từ từ trở thành một trong những căn cứ dự bị của Không quân Mỹ. Ngày 10 tháng 2 vừa qua, Tinian đã được chọn như một sân bay chuyển hướng “trong trường hợp căn cứ không quân Andersen ở Guam, hoặc các căn cứ khác ở vùng tây Thái Bình Dương bị hạn chế hoặc phong tỏa.”

Trong ngân sách dành cho năm 2017, Ngũ Giác Ðài đã yêu cầu 9 triệu đô la để mua 17,5 mẫu đất “trong việc hỗ trợ các hoạt động chuyển hướng và các đề nghị ​​tập luyện quân sự”, báo Saipan Tribune đưa tin. Trong thời bình, Không quân Mỹ ước lượng sân bay Tinian sau khi được mở rộng sẽ chứa “lên đến 12 máy bay tiếp nhiên liệu và một đội ngũ nhân viên hỗ trợ cho các hoạt động chuyển hướng”.

Tinian hiện giờ là một nơi buồn tẻ.

Trong Thế chiến II, Sư đoàn 2 và 4 Marine của Mỹ đã chiếm hòn đảo, và sau này các phi cơ B-29 Superfortress Enola Gay và Bockscar đã cất cánh từ sân bay North Field tại Tinian và thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasakị Từng là một kho vũ khí trong thời chiến, hiện nay hầu hết các đường băng tại North Field bị bỏ hoang, không được sử dụng. West Field, một căn cứ không quân khác trên đảo lúc trước, hiện chỉ là một sân bay quốc tế nhỏ, ít được biết đến.

Lúc đầu Hoa Kỳ muốn dùng Saipan làm phi trường quân đội. Cách Tinian không xa, Saipan có dân số 15 lần hơn Tinian, một phi trường lớn hơn và một bến cảng. Nhưng đề xuất này đã gặp phải sự phản đối của các nhà hoạt động địa phương do các hiệu ứng về “san hô, nước sạch, giao thông vận tải địa phương và các yếu tố kinh tế xã hội đối với cộng đồng xung quanh,” báo Stars and Stripes đã đề cập.

Phe chống đối lập thậm chí bao gồm cả giới ủng hộ việc kinh doanh trong đó có cả Phòng Thương mại của Saipan. Họ lo ngại rằng phi trường rỉ sét Tinian sẽ bị bỏ rơi trong lần chi tiêu lớn của Ngũ Gia’c Ðài kỳ này. Phi trường Saipan hiện cũng đang quá tải, và dân địa phương không hài lòng về triển vọng của hàng trăm phi công bay đến cho các khóa diễn tập quân sự kéo dài tới tám tuần mỗi năm.

Có thể nói đây là một sự lập lại quá khứ. Lúc trước Hoa Kỳ đã phân tán các căn cứ không quân ở những mức độ khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới trong thời chiến tranh lạnh. Nhưng từ khi mối đe dọa của một cuộc tấn công tên lửa từ phía Liên Xô không còn nữa và lúc ngân sách quốc phòng sau Persian Gulf War bị cắt giảm nhiều trong thập niên ‘90, Hoa Kỳ đã chuyển sang xu hướng dùng những căn cứ rất lớn (mega-base) hoạt động theo quy mô kinh tế.

Tuy nhiên trong thời chiến mô thức phân tán các căn cứ quân sự có xác suất tồn tại nhiều hơn, Alan Vick của RAND đã nghiên cứu và kết luận trong năm 2015:

“Phân chia những phi cơ trên nhiều căn cứ khác nhau tạo ra khả năng phòng hờ, dư bị trong lãnh vực điều hành trên mặt đất và các cơ sở. Điều này giúp tăng cường sự an toàn cơ bản của các chuyến bay bằng cách cung cấp nhiều chỗ đáp hơn cho những trường hợp cần chuyển hướng khẩn cấp hoặc lúc thời tiết xấu. Nó còn làm tăng số lượng các sân bay mà địch phải theo dõi và có thể gây khó khăn hơn cho kẻ thù lúc nhắm mục tiêu (một phần vì số lượng di chuyển giữa các căn cứ của các lực lượng bạn gia tăng).”

“Ít nhất, so với mô thức tập trung, phân tán (vì làm tăng tỷ lệ đường băng và máy bay) buộc phía địch phải sử dụng nhiều năng lực đáng kể hơn để tấn công những đường băng. Mô thức phân tán cũng làm tăng chi phí xây dựng và điều hành các phi cơ trên nhiều căn cứ chính. Để giảm thiểu những chi phí này, mô thức phân tán có xu hướng dùng những căn cứ nhỏ, khiêm tốn hơn, đôi khi, có thể chỉ là những đường băng.”

Dân oan đến thế là cùng

Dân oan đến thế là cùng

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao)Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó. Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng!….

*

Nếu Đạo Phật và Đạo Chúa dạy rằng, lấy oán báo oán, oán chồng chất, thì trong “Đạo Bác” đang hành dân trong nước Việt Nam, Dân oan kêu oan, chỉ chuốc thêm oan.

Như ai cũng đã biết, “đức tính” của oán và oan: chữ chỉ khác nhau một cái dấu sắc, ý thì cùng là “của nợ” cả, song “tinh thần” mỗi thứ “của nợ” lại khác nhau xa: một bên nên quên đi, một đàng phải đòi lại.

Đã bị oán rồi, nay lại lấy oán đi báo oán, tuy có được “đã nư” chốc lát nhưng hậu quả là chuốc thêm oán vận mãi vào thân, nên người ta có thể bỏ qua việc báo oán. Trái lại, khi bị oan, mấy ai trên đời này mà chẳng kêu oan, nhất là nỗi oan mất nhà mất đất, mất tự do, mất quyền làm người, mất đủ thứ, kể cả mất mạng trong đồn Côn an.

Xưa nay, trong cõi người ta, không ai thoát được khỏi tay “Tứ trụ”: Sinh, Lão, Bịnh, Tử. Nhưng từ sau ngày Việt Nam bị “Đạo Bác” nó hành, người dân nước này bị thêm một “trụ” nữa là Oan, thành “Ngũ trụ”: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Oan!

Nói dân Việt Nam bị “Ngũ trụ” như trên, thế nào cũng bị Dư luận viên “bức xúc”, phản bác ngay, rằng dân oan chứ cán bộ đảng viên đâu có bị oan. Đúng là trình độ hiểu biết về lịch sử Đảng của DLV quá kém cỏi: người tuổi tác cỡ ông bà cố tổ nội ngoại của DLV mà cũng phải gọi cậu Cu Côn bằng Bác thì không oan là cái gì; chẳng những thế, chính bản thân cha già DT cũng bị oan khi bị đám nhi đồng cỡ cháu của DLV gọi phạm thượng là “Bác Hồ”, thay vì “Cụ cố ”, “Cụ tổ”, “Cụ tỷ”… Hồ.

Trở lại chủ đề “Dân Oan đến thế là cùng”. Sở dĩ tác giả có được cái tựa “nghe quen quen” như trên, cũng là vì nhập tâm lời bác Cả Lú oánh giá kết quả Đại họa Đảng thành công rực rỡ vừa rồi, là “…Dân chủ đến thế là cùng”. Xin gửi nơi đây một phát cảm ơn bác Lú gợi hứng thú… Dân Oan đến thế là cùng!

Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó.

Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng! Vì oan mà không được mở miệng kêu oan. Nếu ai can đảm mở miệng kêu oan hoặc chống lại bọn cướp trắng ngang xương tài sản mình là bị tòa án XHCN buộc tội “chống nhân viên nhà nước thi hành công vụ”. hoặc khi bị bắt oan vào đồn Côn an, không chịu nhận tội vu oan là bị CA“cho” chết oan luôn tại chỗ, còn bị bồi thêm một lần oan nữa là chết vì tự vận hoặc đột tử do bệnh nan y.

Mà nào đâu phải dân oan chỉ lác đác đây đó dăm ba người lẻ tẻ, dân oan nổi lên đầy dẫy ba miền đất nước. Hình ảnh mới nhất là Ngày 27 Tháng 2 vừa qua, dân oan cả nước xuống đường kêu oan, nhưng họ đã bị nhà nước tự cho là “của dân do dân vì dân” CSVN đã đối xử với đồng bào mình như thế nào, báo đài đã nói viết đầy dẫy trên mạng lưới toàn cầu…xin được phép miễn kể ra đây .

Thật là không dân nào bằng dân Việt trong “Thời đại Hồ Chí Minh”, Đảng quang vinh muôn năm là nhờ… Dân Oan đến thế là cùng!

Nguyễn Bá Chổi

danlambaovn.blogspot.com

Ghi chú:

(1) https://tiengnoidanchu.wordpress.com/2012/02/21/t%E1%BB%AB-v

Cái nhìn nội tâm,

Cái nhìn nội tâm,

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Mùa Chay là mùa sám hối. Sám hối là đổi mới tâm hồn. Muốn đổi mới tâm hồn, phải đổi mới cách nhìn về con người và cuộc đời, về bản thân và tha nhân. Hôm nay, Chúa Giêsu dạy ta những cách nhìn thời cuộc và biến cố theo tinh thần của Người.

Thông thường, trước một biến cố, ta dễ có cái nhìn chính trị. Hôm nay, người ta thuật lại việc Philatô giết những người Do Thái trong Đền Thờ. Thời ấy, đế quốc Rôma đang thống trị nước Do Thái. Philatô là viên tổng trấn của Rôma. Tường thuật biến cố đau thương này, người ta mong Chúa Giêsu có cái nhìn chính trị, dấn thân vào chính trị. Người ta mong Chúa Giêsu kết án Philatô. Không bàn chính trị, không làm chính trị, cho dù sau này Chúa Giêsu vẫn bị kết án vì một tội chính trị. Không kết án Philatô, dù sau này chính Người bị viên tổng trấn này kết án.

Trước mọi biến cố, Chúa Giêsu muốn ta có một cái nhìn tôn giáo, vượt lên trên lĩnh vực chính trị. Từ một câu hỏi thuộc bình diện chính trị, Chúa Giêsu đã đưa ra một giải đáp thuộc bình diện tôn giáo. Từ một biến cố gây xôn xao dư luận, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy ăn năn sám hối. Từ cái chết của thể xác, Chúa Giêsu hướng suy nghĩ ta tới cái chết của linh hồn: “Các ông tưởng mấy người Galilê đó bị như vậy là vì họ tội lỗi hơn những người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

Đối với người khác, ta dễ có cái nhìn kết án. Khi gặp một người mù từ thuở mới sinh, người ta hỏi Chúa Giêsu: “Đây là do tội nó hay tội của cha mẹ nó?”. Gặp người phụ nữ phạm tội ngoại tình, người ta muốn kết án chị. Nga có thói quen cho rằng thành công là một ân huệ Chúa thưởng cho người đạo đức, còn tai hoạ là hình phạt Chúa dành cho kẻ tội lỗi. Hôm nay, chứng kiến những nạn nhân bị thiệt mạng, những người tường thuật đều nghĩ rằng những nạn nhân ấy chết vì họ tội lỗi, còn tôi vô sự, điều đó chứng tỏ tôi vô tội. Chúa Giêsu lên tiếng cảnh báo họ: Các ông cũng là kẻ tội lỗi. Nếu các ông không ăn năn hối cải, các ông sẽ chết thảm khốc hơn những nạn nhân kia nữa. Chúa Giêsu dạy ta có cái nhìn bao dung. Nếu có phải xét đoán, hãy xét mình trước khi xét người. Nếu có phải lên án, hãy lên án chính bản thân mình trước khi lên án người khác: “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em”. “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.

Sau cùng, ta thường có cái nhìn ảo tưởng. Ta xây dựng những chương trình to lớn, những tham vọng đổi mới xã hội. Chúa Giêsu dạy ta hãy có cái nhìn thực tế: Đừng ảo tưởng với những chương trình to tát, lấp biển vá trời. Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ bé. Đừng có ảo tưởng đổi mới xã hội, cải tạo thế giới. Trước hết, hãy đổi mới chính mình, cải tạo bản thân mình. Tục ngữ Trung quốc có câu: Nếu mỗi người trông hoa trước cửa nhà mình, cả thế giới sẽ biến thành một vườn hoa đẹp. Đổi mới chính mình đó là góp phần vào đổi mới thế giới.

Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng ánh mắt ta lên cao, vượt thoát lĩnh vực tự nhiên để vươn tới lĩnh vực siêu nhiên. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta xuyên qua những lớp bì phủ bên ngoài để soi chiếu vào chiều sâu nội tâm. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta ra khỏi những ảo tưởng, đối diện với thực tế bản thân để trước mỗi biến cố ta tự xét và đổi mới chính mình.

Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Trong các biến cố, bạn có tìm thấy ý Chúa không?
    2. Bạn có nghĩ rằng hễ ai gặp may thì đó là người đạo đức, ai gặp tai nạn thì đó là người tội lỗi không?
    3. Muốn đổi mới gia đình, xã hội, phải đổi mới bản thân trước. Bạn nghĩ sao về điều này?

VN Chết Vì Hàng TC

VN Chết Vì Hàng TC

Vi Anh
CHET VI T Q
Hồi năm 2001, Đảng Nhà Nước CSVN nhập siêu của TC chỉ có 200 triệu Mỹ kim. Đến năm 2014 CSVN lại nhập siêu lên đến 28,9 tỷ Mỹ kim, tăng 144 lần. CSVN là một chế độ lệ thuộc hàng hoá TC nhiều nhứt trong khối ASEAN. Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – tiến sĩ Lê Quốc Phương cho biết trong 94 ngành nghề của Việt Nam, đã có tới 40 ngành chết dính với nguồn từ Trung Quốc. Đồ của TC thịt heo thúi, trái cây hư, thuốc tàu ô nhiễm, đồ gian, đồ giả, đồ độc, từ cây kim, sợi chỉ, cái khoá quần, đến nút áo các nước trả lại, TC dồn qua bán cho VN, giá rẻ như bèo. Dân VN nghèo cái gì rẻ thì mua xài.

Chính Mỹ đệ nhứt siêu cường kinh tế thế giới còn phải báo động, dân chúng coi “made in China” là dấu hiệu nguy hiểm cho sức khoẻ. Dân chúng Mỹ chống Wall Mart bán hàng TC, tập đoàn bán lẻ này phải đóng cửa mấy trăm cửa hàng.

Thế nhưng chưa thấy cán bộ đảng viên nào trong chánh phủ, quốc hội VNCS và ban chấp hành trung ương Đảng CSVN lên tiếng về tai hoạ lệ thuộc kinh tế đối với TC.

Nhơn dịp Tết, một lễ truyền thống lớn nhứt của quốc gia dân tộc VN, tin RFA, Bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng, Tạ Thị Tuyết Mai, thuộc bệnh viện nhân dân Gia Định, Sài Gòn nói về những đồ ăn này như sau: “Mứt thì sợ người ta bỏ phẩm màu vào. Thứ hai là măng khô mà mình hay nấu với giò heo. Nếu măng mình mua phải loại người ta bỏ phốt pho thì độc. Cái thứ ba là hạt dưa thì phẩm màu trong hạt dưa cũng rất có hại, độc…. thường thường những cái đó không gây ngộ độc ngay mà ngộ độc mãn. Sợ nhất là ngộ độc mãn, lâu dần sẽ làm tổn thương gan, thận, dẫn đến ung thư.” Còn cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an TP/HCM đã phát hiện một cơ sở làm mứt Tết đang ngâm tẩm các loại khoai lang, gừng, bí làm mứt trong các thùng hóa chất công nghiệp là sodium hydrosulfite và vôi công nghiệp. Chất sodium hydrosulfite là hóa chất dùng tẩy trắng trong công nghiệp. Mà hầu hết hoá chất độc hại người Việt xài cho đồ ăn thức uống là mua của TC đem qua VN bán.

Báo chí trong ngoài luồng trong nước còn báo động. Rằng một số quốc gia phát giác, hàng dệt may của Trung Cộng có hàm lượng formaldehyde vượt mức cho phép nhiều lần, khiến người sử dụng có thể bị ung thư. VN chưa có giải pháp nào bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam trước những hiểm họa tiềm ẩn trong hàng hóa TC. Hàng của TQ lại bán rẻ, người dân VN nghèo thường mua để xài nên dễ bị ung thư do hàm lượng formaldehyde quá cao.

Dân chúng VN không những chết vì bị ung thư do quần áo made in China mà còn vì đồ ăn thức uống, trái cây tươi, khô tẩm thuốc mau lớn, bảo quản lâu, thuốc bắc phơi hay sấy ô nhiễm made in China, do TC xuất cảng hay tuồn hàng lậu qua VN. Dân VN đại đa số nghèo nên phải mua hàng rẻ. Nhà cầm quyền CSVN lệ thuộc TC nên TC coi thị trường VN như một nơi TC gỉai quyết hàng gian, hàng giả, hàng độc bị các nước khác trả lại. TC tuồn hàng tràn ngập sang VN còn để giết nông nghiệp và kỹ nghệ phôi thai của VN.

Các nước lớn như Mỹ, Pháp đã cho TC ra ngoài rìa thị trường lâu rồi vì hàng gian, hàng giả, hàng độc made in China của TC. “Made in China” đã phần nào đồng nghĩa với “nguy hiểm”. Nhưng phân tích cho thấy, người dân trên thế giới cảm thấy khó mà thoát khỏi đồ độc của Trung Cộng. Vì những lý do sau. Một, Trung Cộng là nước xuất cảng thực phẩm đứng hàng thứ ba trên thế giới. Hàng hoá TC rẻ nên nhiều người mua, nhứt là dân nghèo, mà dân nghèo lúc nào và nước nào cũng đông hơn dân giàu. Nói tới Trung Quốc, trên thế giới người ta chỉ chú ý như là một nước, một công xưởng sản xuất và xuất cảng hàng hoá rẻ tiền như quần áo, giày vớ, đồ điện tử, đồ gia dụng rẻ tiền, nhưng ít ai chú ý TC là nước xuất cảng lương thực, thực phẩm, nông sản – đứng hàng thứ ba trên thế giới. Thực phầm chiếm phần lớn nhứt.

Lấy nước Pháp làm thí dụ. Từ năm 2008, nhà báo Tristan de Bourbon, viết trên tờ La Croix của Pháp, tài liệu của Quan Thuế TC cho biết trong quí một, từ tháng 01/2008 đến tháng 03/2008, TC xuất cảng gần 7 triệu tấn lương thực, tăng hơn 11% so với cùng thời kỳ 2007, tăng mạnh nhất là sang Châu Âu, khách hàng thứ nhì của Trung Quốc sau Châu Á (gần 900,000 tấn).Trung Quốc đứng đầu trong mặt hàng thủy sản, cũng như các loại rau quả hộp, từ cà chua, nấm, cho đến các mặt hàng đông lạnh, và trái cây. Theo tài liệu của Quan Thuế Pháp, năm 2007 Pháp đã nhập 411 triệu euros thực phẩm từ TC. Phần lớn các hộp nấm Paris, champignon de Paris, bán tại Pháp, đều đến từ TC. Một mặt hàng khác, mà TC cũng đứng đầu là nước táo, loại đậm đặc, để chế tạo những loại nước trái cây bán trong hộp giấy.

Hai, nông phẩm gốc như sữa, đường không phải chỉ bán dưới dạng thực phẩm sữa đường, mà có thể dùng để biến chế ra hàng trăm phó phẩm và thực phẩm khác. Sữa độc có chứa chất melamine của TC chẳng những TC đã dùng làm ra kẹo Thỏ Trắng: “Made in China” xuất cảng sang nhiều nước thì dễ biết. Sữa của TC được các công ty của các nước khác mua dùng như nguyên liệu để chế ra thực phẩm của ngoại quốc, thì người tiêu thụ thông thường làm sao biết được. Theo nhà báo Tristan de Bourbon viết trên tờ La Croix của Pháp, hãng của Pháp Nestlé, Unilever dùng sữa nhập cảng từ TC để biến chế thành sữa, cà phê sữa Nestle, Unilever, thì ngưòi tiêu thụ đâu có biết nguyên liệu là sữa có độc chất của TC. Cụ thể cà phê sữa bột Trung Nguyên, Vinacaphe của Việt Nam xuất cảng ra ngoại quốc, người uống đâu có biết sữa có chất melamine của TC hay không. Hoạ may chỉ có nhà nước sau khi kiểm nghiệm chất lượng, công bố thì người tiêu thụ mới biết thôi. Tuy nhiên, dân chúng ở Tây Phương sẽ không thể tránh được nạn thực phẩm bị nhiễm độc như trong vụ sữa vừa qua.

Ba, thuốc Bắc của TC, chế thành thuốc hay bán dưới hình thức nguyên liệu, cũng là một thứ nông sản. Nếu tính số nông sản này vào thì hầu như nước nào cũng có nhập cảng từ TC. Người Trung Hoa có mặt gần như khắp hoàn cầu. Hầu hết tại thủ đô và các thành phố lớn của các nước đều có “China Towns”. Dược thảo Trung Quốc không những người Á Châu thích mà ngay người Âu Mỹ cũng thích.

Bốn, luật lệ về “kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm” của TC có, có nhiều và gắt nữa là đằng khác, nhưng không được áp dụng nghiêm minh. Là vì chủ trương kinh tế của TC đặt nặng xuất cảng hơn là phẩm chất và an toàn. Thêm vào đó nạn tham nhũng của những cán bộ có chức có quyền đã biến những luật lệ kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm trở thành mớ giấy lộn. Một viên chức Liên Âu làm việc ở Bắc Kinh xác nhận ở TC, từ nhãn hiệu, cho đến giấy phép, tất cả đều có thể được mua hay làm giả một cách dễ dàng. Báo chí là của Đảng Nhà Nước chỉ viết khi được phép.

Sau cùng, với một số lượng nông sản TC xuất cảng hầu như khắp thế giới, thành phẩm hay dưới hình thức nguyên liệu lớn như vậy; với nông sản nguyên liệu TC xuất cảng sang các nước và các nước biến chế ra thành thực phẩm made in France, in VN, in Thailand, v.v…, có thể nói rất khó mà tránh khỏi đồ hàng hoá của TC độc hại sức khoẻ cho người dân trên thế giới, nhứt là dân nghèo./. (VA)

Niềm tin có Chúa ở cùng.

Niềm tin có Chúa ở cùng.

   Tác giả Phùng văn Phụng

Trong cuộc đời mỗi người, ai ai cũng có những biến cố vui, buồn, đau khổ hay hạnh phúc, riêng tôi, tôi đã ghi nhận vài sự việc sau đây, với cái nhìn của đời sống tâm linh, tôi nghĩ là tôi đã “có Chúa ở cùng” trong cuộc đời trôi nổi của tôi:

I ) Những điểm nổi bật cần ghi nhận như sau:

  • 1) Tôi bị tai nạn hồi còn nhỏ lúc 7, 8 tuổi. Ngồi trên bàn, phía sau bàn là tủ kiếng chứa đồ tạp hóa, sơ ý, tôi ngồi bật ngửa ra sau, té, đập đầu sau ót vào tấm kiếng. Chở lên nhà thương quận cách chợ núi khoảng 5,6 cây số bằng xe ngựa. Sau khi khám vết thương, kiếng chỉ đâm vào giữa hai đưòng gân, không chạm vào đường gân nào hết. Chích thuốc cầm máu, rửa vết thương, băng bó và cho về nhà ở với ông cậu bảy. Thoát chết.
  • 2) Năm 1978, khi cộng sản đưa chúng tôi từ Lào Cai về Vĩnh Phú trên chiếc xe bít bùng, xe chạy trong mưa gió. Hai người tù chúng tôi bị còng chung với nhau trong một cái còng.   Tay người tù này bị còng chung tay với người tù kia . Chúng tôi lên xe trước, ngồi gần tài xế. Khi đổ đèo, xuống dốc, tất cả mấy chục người phía sau xe đổ dồn một lúc lên phía trước, đè lên người tôi, ngộp thở. Tưởng chết, nhưng chưa chết. Khi đỗ đèo, dưới cơn mưa tầm tả, sợ rơi xuống đèo, nhưng nhờ trời thương vẫn về tới trại giam Vĩnh Phú. Tôi cũng không chết.
  • 3) Sống ở trại tù K3 Vĩnh Phú chịu đựng cái lạnh thấu xương, chắc khoảng 10 độ C, gió bấc, mưa phùn liên tục hơn hai tháng. Dầu trời lạnh và mưa gió như thế, chúng tôi phải đi ra đồng nhổ cỏ, trồng khoai lang, khoai mì. Gió lạnh, mưa phùn lất phất suốt ngày đêm. Chúng tôi tù nhân bị đói triền miên. Đói quá anh em thường nói “con gì nhúc nhích thì ta ních liền” .

Ăn rau tàu bay, rau má, rau dấp cá, lá khoai mì … con nhái, con cá, con đuông… đói quá, có người ăn cóc, nướng sơ sơ mà ăn nên bị trúng độc mà chết .

Buồi sáng đi làm, buổi chiều về trại, áo quần ướt hết, không thể khô được. Ngày hôm sau mặc áo ướt đó lại đi ra đồng, dưới trời mưa phùn, gió bấc vừa đói, vừa lạnh . Mỗi ngày chỉ ăn bo bo không xay, loại bo bo cho trân bò ăn . Ăn vô 10, 15 phút sau thì tống ra ngoài hết . Ăn khoai mì lát hay củ khoai mì chỉ có hai đầu toàn xơ không có bột . Ăn vô, mấp mấp lấy nước rồi nhả ra hết . Loại khoai mì người dân miền Bắc đóng nghĩa vụ, đóng thuế. Canh rau muống vài cọng rau với nuớc muối . Một năm được ăn thịt ba lần ngày 2 tháng 9, Tết ta và ngày 30 tháng 04. Có lần nấu da trâu, ninh hơn một ngày, một đêm rồi phát cho tù ăn.

Sau vài tháng ở Vĩnh Phú, anh em tù nhân chỉ còn là những bộ xương cách trí biết đi . Cứ vài ngày đóng hòm đưa tù nhân ra chôn. Anh Quế là Giáo sư trung học, người Quảng Nam, đi tù vì tham gia đảng Dân Chủ. Anh người ốm yếu,vì ăn thiếu thốn, bị đói mà còn cuốc đất vất vả nữa , nên anh bị kiệt sức . Một hôm, đang đêm khuya người bạn nằm gần bên la lớn lên “Anh Quế chết rồi.”

Bị bỏ đói triền miên như vậy tôi thường xuyên bị cảm, cứ mỗi lần đi ra đồng trở về là tôi bị cảm . Nóng hâm hấp. Tim đập mạnh . Y tá trại nói tôi bị bịnh tim. Chân bước lên thềm không nổi phải lấy tay nâng đỡ chân lên. Đi muốn không nổi. Cảm tới, cảm lui hoài Thường xuyên  ăn cháo. Chân bị phù thủng . Bạn bè ra đi nhiều quá .Tôi nghĩ rằng chắc sẽ tới phiên mình không biết lúc nào ? Chắc sẽ không còn nhìn thấy gia đình, cha mẹ, vợ con. Vậy mà tôi không chết nên bây giờ mới viết bài này.

  • 4)   Chuyển về trại giam K4 Vĩnh Phú bị sốt vàng da, đi không nổi, anh bạn cỏng lên bịnh xá, nhờ có bác sĩ Thịnh trữ thuốc trụ sinh trị mới hết bịnh sốt vàng da này. Ở đây người ta gọi là Mai Côi ,Thác Guồng, nằm giữa thung lũng chung quanh là rừng núi, ban đêm chỉ nghe tiếng chim kêu “bắt cô trói cột” mà thôi. Nơi đây, anh em tù ở ngoài Bắc gọi là nơi “đi dễ khó về”, bị đày đến đó rồi khó mà sống sót trở về nhà.
  • 5) Qua tới Mỹ một tai nạn tưởng như đã ra đi . Đang chạy trên đường Beechnut, đến ngả tư đường wilcrest, đèn xanh vừa bật lên tôi tiếp tục chạy tới bình thường . Nhưng xe bên trái của tôi chạy trên đường wilcrest, vượt đèn đỏ, đâm vào đầu xe của tôi làm cho xe tôi quay 90 độ. Nhờ đâm vào gốc của đầu xe nên xe tôi xê dịch, người không sao, nhưng xe thì bị hư hại nặng . Nếu tôi chạy nhanh hơn chừng hai giây thì xe bên trái đã đụng ngay vào chỗ ngồi của tôi, không chết thì cũng bị thương nặng vì họ vượt đèn đỏ và chạy rất nhanh . Tôi lại thoát chết .

II ) Suy ngẫm: Nếu nhìn vào cuộc sống bằng cái nhìn tâm linh thì trong suốt cuộc đời tôi, tôi phải tạ ơn Thiên Chúa và Đức Mẹ vì nhiều lần tôi suýt chết, mà không chết.

 Phải tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1) dù thành công hay thất bại cũng phải tạ ơn .Tạ ơn khi thất bại mới có ý nghĩa, vì biết đâu thử thách này để mình cần Chúa hơn , cần cầu nguyện với Chúa, xin Chúa nâng đỡ mình, an ủi mình, mình sẽ càng gắn bó, gần gủi với Chúa nhiều hơn .

Có những điều chúng ta hiểu biết được do kiến thức của chúng ta. Nhưng hiểu biết của chúng ta luôn luôn bị giới hạn . Tất cả biến động của thế giới hay của một nước thì vô cùng. Làm sao biết hết được.

Cho nên phải cầu nguyện trong mọi sự và mọi sự đều phải cầu nguyện .

Trước năm 1975 tôi đâu có thể tin rằng miền Nam thua miền Bắc được. Một thế giới tự do văn minh không thể thua một chế độ độc tài, man rợ.

Và đâu có ai tin rằng phía đã chiến thắng rồi còn giam giữ người thua trận đến thời gian

quá lâu dài đến như thế. Nhiều người ở tù 10, 15 năm, 17 năm.

Làm sao biết được có chương trình H.O. ra đi trong trật tự .

Làm sao biết được công ăn việc làm sẽ ra sao ? khi qua Mỹ sinh sống.

Nếu nhìn mọi sự việc với cái nhìn của đời sống tâm linh thì ta cũng phải tạ ơn Chúa mọi việc, ngoài khả năng tính toán của ta.

Câu chuyện “tái ông mất ngựa” hay chuyện “thánh Gióp” nói lên rất nhiều ý nghĩa của cuộc đời chúng ta. Lúc sung sướng, lúc khổ sở, lúc có công ăn việc làm, lúc thất nghiệp, lúc nghèo, lúc khá giả, lúc khỏe mạnh, lúc đau yếu. Làm sao ta có thể biết trước được. Cho nên phải chấp nhận cuộc đời, chấp nhận mọi sự, tạ ơn Chúa khi thất bại, đau khổ, thì cuộc sống ta mới bình an được.

III ) Kết : Trong gia đình tôi có Bác hai là người biết trước được ngày chết của mình. Hôm đó ông tắm rửa sạch sẽ, măc bộ đồ trắng, thắp nhan trên bàn thờ , rồi ông nằm trên giường và ra đi trong bình an không than khóc.

Một người khác cũng trong dòng họ tôi gọi là ông Út, ông thường ngồi thiền . Ông cũng biết được ngày mất. Ông ngồi thiền khoảng 7 ngày và ông đã ra đi trong lúc ngồi thiền . Hòm để chôn cất ông có hình bát giác.

Khi làm đám tang, bà út,vợ ông khóc, người con trai là chú sáu Rẩy kéo ra phía sau nói:  “Tía dặn chết không được khóc sao má lại khóc.” Vì vậy, bà út khi khóc phải ra phía sau nhà mà khóc, chứ không khóc ở nhà trên lúc có nhiều người bà con đến thăm viếng nữa.

Tôi cứ suy nghĩ hoài: “Làm sao lúc ra đi, lúc chết, người thân xung quanh đều khóc lóc mà mình ra đi thì mỉm cười”.

    Tác giả Phùng văn Phụng

(1)  Thơ của Thánh Phao lô (1TX5, câu 17)

viết xong ngày 27 -02-2016

Những người không chịu lùi bước trước nghịch cảnh

Những người không chịu lùi bước trước nghịch cảnh

 Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Hồi đầu tháng 8 năm 2013 mới đây, tôi được nhà báo Thanh Thương Hoàng

dẫn đi tham dự một buổi trình diễn văn nghệ thật là đặc sắc diễn ra tại Trung

tâm Hội Nghị của thành phố Santa Clara gần với San Jose. Các nghệ sĩ trình

diễn đều là những người khuyết tật, người thì cụt hết cả cánh tay mặt như

nhạc sĩ Thế Vinh, người thì bị mù lòa như nhạc sĩ Hà Chương, người thì bị

câm ngọng từ hồi còn nhỏ tuổi như ca sĩ Thủy Tiên v.v… Cử tọa hôm đó gồm

đến 600 người ngồi chật kín cả cái sảnh đường được trang trí như là một rạp

hát và mọi người đều nhiều lần đứng lên vỗ tay tán thưởng các mục trình

diễn thật điêu luyện xuất sắc cùa những nghệ sĩ khuyết tật này – mà có người

mới từ trong nước qua, lại có người đã định cư lâu năm tại nước ngoài.

I – Từ chương trình văn nghệ “Ngọc Trong Tim” của Việt Nam đến các cuộc

thi đua thể thao “Special Olympics” của Mỹ.

 Buổi trình diễn văn nghệ nói trên là một trong những tiết mục sinh họat được

tổ chức lưu động tại nhiều địa điểm trên thế giới, nơi có đông bà con người

Việt sinh sống. Chương trình này nhằm giới thiệu tài năng và cố gắng luyện

tập hết sức công phu bền bỉ của những người khuyết tật hầu đạt tới trình độ

cao về nghệ thuật sáng tác và trình diễn âm nhạc cũng như trong một số bộ

môn khác. Chương trình có tên gọi là “Ngọc Trong Tim” ngụ ý diễn tả cái

kho tàng quý báu vẫn còn chứa chất trong trái tim con người – cụ thể như

tấm lòng trắc ẩn cảm thông trước nỗi khổ đau của người khác – mà đặc biệt là

sự quan tâm chăm sóc đến sự phát triển tài năng của lớp người bị thua thiệt

do số phận ngặt nghèo của tật nguyền gây ra. Điển hình là Trung tâm Hướng

Dương do nhạc sĩ Thế Vinh thiết lập ở Bình Dương để giúp nơi ăn chốn ở và

hướng dẫn việc học tập cho các em khuyết tật.

Chương trình “Ngọc Trong Tim” này làm chúng ta nhớ đến tổ chức “Special

Olympics” (Thế vận hội Đặc biệt) dành riêng cho người khuyết tật tham gia

thi đua tranh tài về thể thao tại nhiều thành phố trên đất Mỹ. Chương trình

này xuất phát là nhờ ở sáng kiến vận động và tổ chức khôn khéo của bà

Eunice Kennedy Shriver (1921 – 2009) là người em gái của Tổng Thồng

Kennedy – mà cũng là phu nhân của ông Sargent Shriver (19 15 – 2011)

người lãnh đạo tài ba tiên khởi của chương trình Peace Corps nổi tiếng của

chính phủ Mỹ bắt đầu từ năm 1961.

Khỡi sự từ năm 1968 – các cuộc tranh tài Special Olympics này đã được nâng

lên tầm mức quốc gia không những tại nước Mỹ, mà còn được nhiều nơi trên

thế giới mô phỏng theo nữa. Và hiện nay thì các người con của ông bà

Shriver cũng đang tiếp nối góp phần vào việc điều hành chương trình này.

Cố gắng vượt qua sự hạn chế của tật nguyền do các nghệ sĩ cũng như các

vận động viên thể thao nói trên mà thực hiện được – thì rõ rệt đã làm cho

chúng ta nhớ lại nhận xét thật sâu sắc của cụ Nguyễn Du qua câu thơ trong

Truyện Kiều, đó là :

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

 II – Chuyện về một số người “bất chấp bệnh tật”.

Trên đây là một số chương trình có tầm vóc lớn dành riêng cho số đông

người khuyết tật có thể tham gia trong lãnh vực văn nghệ cũng như thể thao.

Nhưng trong đời sống thường ngày của các cá nhân, ta vẫn thấy có rất nhiều

người đã có những cố gắng bền bỉ phi thường để vượt qua được những

nghịch cảnh trớ trêu của số phận – mà tôi xin ghi lại dưới đây một số trường

hợp của những người trong số thân quen gần gũi với mình.

Trong số những bạn hữu tôi quen biết, thì cũng có khá nhiều người có ý chí

vươn lên để vượt qua được nghịch cảnh do tuổi già hay do tật bệnh gây ra.

Bài viết này xin được ghi lại một số chuyện “người thật, việc thật” của vài ba

người mà tôi được biết từ bấy lâu nay. Và để công chúng được biết thêm về

các chuyện đáng chú ý này, tôi xin các bạn được nói đến trong bài cho phép

tôi được tiết lộ đôi chút trong cuộc sống riêng tư của mỗi người. Xin được

ghi trước ở đây lời cảm ơn chân thành đến các bạn.

1 – Tác giả Nguyễn Công Luận vẫn không ngừng công việc nghiên cứu biên

khảo, dù đã đau bệnh từ 25 năm nay.

Sau khi đi tù “cải tạo” về nhà ít lâu, thì Thiếu tá Nguyễn Công Luận mắc

chứng bệnh Parkinson run rảy chân tay, đi đứng khó khăn. Nhưng anh vẫn

kiên trì nhẫn nại theo đuổi công việc nghiên cứu sáng tác của mình – nhất là

từ khi qua định cư ở bên Mỹ anh được tự do viết lách và phổ biến công trình

biên sọan của mình. Anh được mời làm Phụ tá Chủ biên (Associate Editor)

cho bộ sách dày 1,200 trang có tên là “The Encyclopedia of the Vietnam

War” (Bách khoa Tòan thư về cuộc chiến tranh Việt nam) xuất bản năm 1998

– trong đó anh đã tham gia viết đến cả chục bài.

Và đặc biệt là cuốn Hồi ký do anh Luận viết trực tiếp bằng Anh ngữ trên 600

trang do nhà xuất bản Đại học Indiana ấn hành năm 2012. Cuốn sách này đã

được nhiều người Mỹ vốn am hiểu tình hình Việt nam và nhất là các sĩ quan

cao cấp trong Quận đội Mỹ ca ngợi nhiệt tình. Về phía người Việt, thì đã có

nhà văn Mặc Giao ở Canada và cả tôi cũng đã viết bài giới thiệu cuốn Hồi ký

này với độc giả trước đây nữa. Tác giả Nguyễn Công Luận sẽ giới thiệu cuốn

Hồi ký nhan đề “ Nationalist in the Vietnam Wars ” này với công chúng tại

San Jose vào đầu tháng 10 năm 2013 sắp tới.

2 – Nhà báo Trương Gia Vy vẫn lo điều hành tuần báo Viet Tribune và còn

tham gia công tác từ thiện nhân đạo, dù bị bệnh tật ngặt nghèo.

 Từ nhiều năm nay, dù bị bệnh phải thay lọc máu mỗi ngày, mà nhà báo

Trương Gia Vy vẫn sát cánh cùng với phu quân là nhà văn Nguyễn Xuân

Hòang trong việc điều hành tờ báo Viet Tribune ở San Jose. Vào đầu tháng 8

mới đây, khi được tin anh Hòang bị đau nặng, tôi đã tìm cách đến thăm anh

chị tại nhà riêng ở thành phố Milpitas – thì tôi thấy anh Hòang tuy đau yếu

gày còm, nhưng vẫn còn bình tĩnh tỉnh táo và chuyện trò vui vẻ với bạn hữu

đến thăm. Thế nhưng anh cho biết hiện lúc đó là vào 10 giờ sáng ngày thứ

Bảy mà bà xã Gia Vy vẫn còn đang phải lo việc lọc máu mỗi ngày.

Ấy thế mà vào chiều ngày Chủ nhật hôm sau, tôi lại thấy Gia Vy có mặt tham

gia với Ban Tổ chức chương trình “Ngọc Trong Tim” tại Santa Clara

Convention Center như đã ghi ở trên. Nhà báo Thanh Thương Hòang – là

người đã từng sinh sống nhiều năm ở San Jose – cho tôi biết : “Trương Gia

Vy là người phụ nữ rất năng nổ tích cực trong công tác từ thiện nhân đạo –

mặc dầu chị bị bệnh tật lâu ngày và lại rất bận rộn trong việc điều hành tờ

báo. Mà nay lại còn phải lo chăm sóc cho ông xã cũng đang bị chứng bệnh

nan y nữa. Đó quả thật là một con người có ý chí nhẫn nại và tấm lòng nhân

ái – đáng ca ngợi trong cộng đồng người Việt tại khu vực miền Bắc

California này…”

3 – Họa sĩ Trần Bản Anh đến khi về hưu ở tuổi 70 mới ghi tên đi học vẽ.

 Chị Bản Anh theo học ban Trung học tại trường Quốc Học ở Huế từ cuối thập

niên 1940 qua đầu những năm 1950. Sau khi lập gia đình, chị đi làm nhiều

năm tại Bộ Kinh tế ở Saigon. Qua Mỹ đầu năm 1990 với diện HO theo ông

xã là anh Dương Công Liêm trước 1975 là Đại tá ở Cục Công Binh. Anh chị

vẫn tiếp tục đi làm ở thành phố Los Angeles và sau năm 2000 mới về nghỉ

hưu và hiện định cư ở San Jose.

Chừng 7 – 8 năm nay, chị Bản Anh mới đi theo học về hội họa theo lối Tàu

với một giáo sư người Trung quốc. Nhận thấy chị có năng khiếu đặc biệt, nên

ông thày ra sức khuyến khích và tận tâm chỉ dẫn cho chị. Và từ vài ba năm

gần đây một số bức tranh của chị đã được ông thày tuyển chọn để gửi đi triển

lãm ở bên Đài Loan. Kết quả là họa sĩ Bản Anh của chúng tôi đã mấy lần

nhận được bằng khen của Ban Tổ chức cuộc triển lãm cũng như của chánh

quyền của một thành phố bên đó.

Vốn tính khiêm tốn, chị không để cho giới nhà báo phỏng vấn để viết bài ca

ngợi thành công của một họa sĩ nghiệp dư ở lứa tuổi đã cao. Mà chị chỉ để

cho các bạn hữu thân thiết đến thưởng thức tác phẩm hội họa của mình tại

nhà trong chỗ riêng tư, âm thầm kín đáo mà thôi. Vì thế, mặc dầu là chỗ quen

biết gần gũi với anh chị đã lâu, tôi cũng chưa được chị gửi cho ảnh chụp bức

tranh nào của chị để mà giới thiệu với công chúng bạn đọc được.

 III – Chính khí ngất trời của Tổng Đốc Hoàng Diệu (1828 – 1882).

Lịch sử nước ta đã ghi lại rất nhiều tấm gương đẹp đẽ tuyệt vời của những vị

anh hùng lẫm liệt đã hy sinh xả thân mình trong cuộc tranh đấu bảo vệ đất

nước trước sự xâm lăng của ngọai bang. Một trong những vị anh hùng đó là

Tổng Đốc Hòang Diệu – ông đã tự kết liễu đời mình khi quân Pháp xâm lược

đánh chiếm được thành Hanoi do ông trấn giữ vào năm 1882. Ông đã tuẫn

tiết bằng cách tự treo cổ mình trên một cành cây – để tránh không cho quân

giặc bắt được vị chỉ huy pháo đài thành lũy.

Vì thế mà sau này trong dân gian nhiều nơi bà con ta vẫn truyền tụng bài thơ

“Hà Thành Chính Khí Ca”- để ca ngợi tấm gương tiết tháo anh hùng của ông.

Chuyện của ông có chi tiết này mà chỉ gần đây tôi mới được biết đến – đó là

do một hậu duệ của cụ Phạm Phú Thứ thuật lại. Xin lược ghi lại như sau :

Khi được triều Huế cử ra nhậm chức Tổng Đốc Hà Thành ngòai miền Bắc, cụ

Hoàng Diệu đã đến thăm và vấn kế bậc đàn anh và cũng là người đồng hương

từ đất Quảng Nam với mình : đó là cụ Phạm Phú Thứ người đã cùng với cụ

Phan Thanh Giản đi sứ qua Pháp vào năm 1864 để bàn thảo chuyện thương

thảo ngọai giao giữa hai nước Việt và Pháp sau khi quân Pháp đánh chiếm đất

Nam Kỳ vào năm 1860 – 61. Cụ Phạm lúc đó đã nghỉ hưu, nhưng cũng giúp

cụ Hoàng bằng cách phân tích chi tiết về tương quan thế lực giữa bên Việt

nam và bên phía quân Pháp. Cụ Phạm kết luận là nhiệm vụ của vị Tổng Đốc

Hà Thành thật là nặng nề khó khăn lắm đấy.

Cuộc hội kiến giữa hai cụ Hòang và Phạm chấm dứt. Trước khi vị khách ra

về, hai vị chủ và khách đều “LạyTạ nhau” lúc từ biệt. Xin ghi rõ là hai cụ

Lạy Tạ nhau, chứ không phải là vái, là xá nhau theo như lối chào hỏi xã giao

thường lệ. Vì lý do là cả hai cụ đều biết rõ là vị Tổng Đốc Hà Thành sẽ phải

đi vào chỗ chết, vì không có cách nào mà chống trả nổi thế lực quá ư hùng

hậu mạnh mẽ của quân Pháp. Và đó là cử chỉ bày tỏ sự Vĩnh biệt giữa hai

người bạn thân thiết quý trọng lẫn nhau. Mà cũng đúng như lịch sử đã ghi lại

rành rành là : “Tổng Đốc Hòang Diệu đã phải tuẫn tiết sau khi Hà Thành thất

thủ về tay quân xâm lược – lúc ông mới có ngoài 50 tuổi.”

Thành ra cụ Hoàng Diệu, dù biết trước nỗi hiểm nguy của chức vụ trấn thủ

thành Hanoi, thì cụ cũng không hề nhát gan khiếp nhược để mà thóai thác cái

nhiệm vụ này. Mà trái lại cụ vẫn lên đường và sẵn sàng đi vào cõi chết để giữ

vững tiết tháo trung trinh của bản thân mình đối với đất nước – cũng như để

bảo tồn được danh dự cho giống nòi.

Vào năm 1928, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tổng Đốc Hoàng Diệu

(1828 – 1928), nhà báo Phan Khôi là người cháu ngọai của cụ đã cho phổ

biến rộng rãi trên báo chí nguyên văn bài hùng sử ca “Hà Thành Chính Khí

Ca” – mà trước đó chỉ mới được phổ hạn chế trong dân gian theo lối truyền

khẩu mà thôi.

Nhân tiện cũng xin ghi là khí phách rạng ngời của nhà báo kỳ cựu Phan Khôi

trong vụ đòi tự do dân chủ thời phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm

1955 – 1957 ở miền Bắc – thì chắc chắn là phải bắt nguồn từ cái truyền thống

anh hùng bất khuất của Vị Tổng Đốc Hà Thành vốn là ông ngọai của nhà

báo. Quả thật Phan Khôi là một hậu duệ rất xứng đáng của Tổng Đốc Hòang

Diệu vậy/

Costa Mesa California, Mùa Vu Lan Quý Tỵ 2013

Đoàn Thanh Liêm

Nỗi Đau Tuổi Già –

Nỗi Đau Tuổi Già

Huy Phương

February 27, 2016 | by TVVN |

Nỗi Đau Tuổi Già – Huy Phương

Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường…nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người Á Châu, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”.

Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off (trả hết). Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi: – “Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”. Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng: – “Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Tu_Thien_1

Từ tháng 12 năm 2015, tại Việt Nam xuất hiện hai hiện tượng nổi bật trong xã hội, nhưng bà con trong nước ít người lưu tâm đến vì cuộc sống tất bật lo việc mưu sinh hàng ngày.

Đó là những gói cơm miễn phí và bất ngờ cho người nhận, cũng như những thùng bánh mì đặt cắt đặt nhiều nơi bắt đầu từ Sài Gòn và lan tràn ra Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, rồi xuống dần tới Quy Nhơn, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết v.v…

Việc làm từ thiện làm ấm lòng người nghèo nầy được người viết gán cho tên là: “Từ Thiện Đại Chúng” là một hành động “tự phát” do một số anh chị em sinh viên, những Hướng Đạo Sinh, những lớp người trẻ… trước nỗi thương đau, thiếu thốn của quá nhiều thành phần nghèo trong xã hội từ Bắc chí Nam.

Tu_Thien_2Vì đâu nên nỗi nầy?

Phải chăng chính vì cơ chế chuyến chính vô sản đang dày xéo dân tộc, bần cùng hóa người dân sau 70 năm ở miền Bắc, và hơn 40 năm ở miến Nam!

Tại Huế: Hội Hướng Đạo Việt Nam và các thành viên tại Huế phụ trách coi sóc các thùng bánh mì từ thiện tại Huế, cùng sự tiếp tay của nhiều anh chị em sinh viên. Đây là những hình ảnh đẹp của Tuổi Trẻ Việt Nam,

Thùng bánh mì miễn phí bắt đầu xuất hiện từ sáng ngày 21/2 tại đường Nguyễn Trường Tộ.

Thùng bánh mì miễn phí đã xuất hiện lần lượt tại hai đường Nguyễn Trường Tộ (21/2/2016) và Phan Chu Trinh (22/2) vào mỗi lúc 7 giờ sáng và cung cấp 70 ổ bánh mì mỗi buổi cho người qua đường.

“Huế cần thêm nhiều chương trình và những tấm lòng ý nghĩa như thế này đễ hỗ trợ các người dân khó khăn”, anh Nguyễn Phước Đạt (24 tuổi) chia sẻ khi chứng kiến hoạt động này trên đường Nguyễn Trường Tộ vào hôm 21/2.

Tu_Thien_3

Ngoài ra có không ít các cá nhân đã bắt đầu tham gia tiếp sức cho chương trình này bằng những khoản tiền mặt khi những hình ảnh đầu tiên về thùng bánh mì từ thiện được chia sẻ trên facebook.

Trao đổi với anh Hồ Bảo Long, người chịu trách nhiệm chính cho “Thùng bánh mì miễn phí” tại Huế, anh cho biết: “Hiện tại thùng bánh mì được các huynh trưởng của nhóm Hướng Đạo Sinh tại Sài Gòn tài trợ chính với mong muốn giúp đỡ được phần nào vất vả nhiều hoàn cảnh khó khăn tại Huế”.

Hiện tại, có hai thùng bánh mì được đặt tại: đường Phan Chu Trinh, bên cạnh Cầu Phủ Cam (đối diện Nhà Thờ Phủ Cam); và góc đường Nguyễn Trường Tộ, nằm giữa trường Trung Học Phổ Thông Quốc Học và Trung Học Phổ Thông Hai Bà Trưng….”

Đà Nẵng: Tủ bánh mì được đặt ở địa chỉ 322 Hoàng Diệu, quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng, đây được xem là tủ bánh mì đầu tiên và duy nhất ở Đà Nẵng vào thời điểm này. Được biết, mỗi sáng có khoảng 50 chiếc bánh được cho vào tủ, phục vụ miễn phí cho người dân lao động nghèo….”

Phan Thiết: Một xe bánh mì từ thiện ở số 73, đường Nguyễn Hội thành phố Phan Thiết, với đối tượng thường xuyên là anh chị em làm nghề bán vé số, thu mua ve chai, lao động nghèo đã đến xe bánh mì từ thiện và tự tay lấy.

Nha Trang: Một địa điểm trên đường Lê Thành Phương, thành phố Nha Trang

Quy Nhơn: Một thùng bánh mì từ thiện đặt trước cổng Chùa Tường Quang 43-45 đường Hai Bà Trưng bắt đầu từ 16/1.

Sài Gòn: Có thể nói, đây mới chính là “cái nôi” của cuộc cách mạng “bánh mì từ thiện đại chúng” vì có quá nhiều việc làm từ thiện đại chúng do Thanh Niên, Sinh Viên, Hướng Đạo, và Tuổi Trẻ…. cùng chia sẻ nỗi khó khăn của người nghèo khổ.

Đó là việc thiết lập những quán cơm nghèo khổ cố định rải rác khắp Sài Gòn với giá 2.000 Đồng một phần cơm, cùng những toán hai người chạy xe gắn máy (quán cơm di động), mang những phần cơm làm sẳn Tu_Thien_6đựng trong bọc plastic, rong ruổi khắp hang cùng, ngõ hẽm, gầm cầu, xó chợ…để mang phần lương thực đơn sơ đến cho những người vô gia cư, em bé đánh giày, bà bán hàng rong với vài bó rau, tép hành, túi ớt trên giỏ….

Vài địa chỉ của một số quán cơm cố định:

* 14/1 đường Ngô Quyền, Phường 5, Quận 10, Sài Gòn.

* Đường số 3, Cư Xá Lữ Gia, Quận 11

* Nụ Cười 1: Số 6 Hồ Xuân Hương, Quận 3,

* Nụ Cười 2: Số 46/22 Nguyễn Ngọc Nhựt, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú, do chị Thanh Tâm và Bà Phạm Thị Châu điều hành,

* Nụ Cười 3: Số 298A Huỳnh Tấn Phát, Phường Tân Thuận Tây, Quận 7, do chị Nguyễn Thị Huyền điều hành,

* Nụ Cười 4: Số 132 Bến Vân Đồn, Quận Tư, do Cô Băng Ngân điều hành,

* Nụ Cười 5: 6 Cống Quỳnh, Quận I, anh Nam Đồng điều hành

* Nụ Cười 6: Số 43 đường Trưng Trắc, P. Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức,

Tu_Thien_4

Và nhiều thùng bánh mì cho không cũng được đặt ở một số nơi ở Sài Gòn. Mặc dù trên thùng từ thiện có ghi “Từ thiện 01 ổ”, nhưng nhiều khi có người lấy hơn một ổ bánh! Nhưng xin “Đừng nên quá khắt khe với người nghèo!”

Vì sao?

Vì…”Có lẽ họ quá khó khăn nên mới lấy nhiều ổ bánh mì thôi, mình cũng đừng nên quá khắt khe với người nghèo làm gì. Xã hội thì có người này người kia, miễn sao họ có ý thức được hành động của mình”, Cô Lan, một trong những người tổ chức bánh mì từ thiện chia sẻ.

Ngày 18/1/2016, thùng bánh mì “miễn phí, 1 người 1 ổ” của Hoàng Mỹ Uyên và nhóm bạn (Quán Cà Phê Người Sài Gòn 71/4 đường Mạc Thị Bưởi, Phường Bến Nghé, Quận I) chính thức khai trương với 200 ổ bánh. Chỉ trong khoảnh khắc, “nhiều cô chú lao công, ve chai, đánh giày… ghé lấy ăn, và nếu thấy ai đó còn ngần ngại thì tụi mình khuyến khích và mời họ. Họ nhận bánh xong cứ gật đầu cám ơn tử tế, thấy thương lắm”, Mỹ Uyên nói.

NHẬN ĐỊNH THỰC TRẠNG CỘNG ĐỒNG người Việt hải ngoại trước những việc làm từ thiện

Bây giờ, xin nêu lên thực trạng của các cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta trên toàn thế giới, qua các hoạt động bất vụ lợi, có tác động làm hư đại cuộc, cũng như vô hình chung làm ngăn trở tiến trình mang lại dân chủ pháp trị cho đất nước.

Đó là:

Phong trào làm công tác từ thiện;
Việc gởi tiền về giúp thân nhân.

Chúng ta là những người Việt Nam tị nạn Cộng Sản Bắc Việt, sau hơn 40 năm sống tha hương, nhìn lại về Việt Nam, chúng ta đều thấy có rất nhiều vần đề của đất nước cần phải điều chỉnh lại.

Vì sao?

Xin mỗi người trong chúng ta hãy tự suy gẫm.

Chúng ta đã làm gì nơi hải ngoại đối với con người, đất nước và xã hội đã cưu mang mình, hay đối với mọi người nơi quê nhà đang đau khổ vì bị áp đặt dưới ách thống trị của Cộng Sản Bắc Việt?

Tuy nhiên trước mắt, với tư cách tị nạn, sống trên mảnh đất tạm dung, dù ở Hoa Kỳ hay các quốc gia khác, dường như “chúng ta là người khách trọ hữu tình nhưng bạc nghĩa”?

1. Chúng ta thật sự là người “tử tế” chưa?

Xin thưa, chưa hẳn.

Chúng ta vận động gửi Thỉnh nguyện thư yêu cầu Hoa Kỳ ngưng viện trợ nhân đạo vài trăm triệu cho Việt Nam, trong khi đó, hàng năm chúng ta gửi về Việt nam một lượng ngoại tệ rất lớn, lên đến hàng chục tỷ Mỹ kim, như thế có phải là chúng ta đã vô tình “cứu nguy” cho chế độ CSBV đang bên bờ vực thẳm không?

Cựu Tổng Thống George W. Bush đã từng làm cho chúng ta công phẩn (hay bị chạm nọc!) khi ông nhận định về cung cách hành xử của chúng ta trong vấn đề Việt Nam là “they deserve it!” (xin tạm dịch: Cho đáng kiếp!). Câu nhận định ngắn ngủi làm chúng ta đau, nhưng thưa quý vị, xin lắng lòng nghĩ lại, quả thật đôi khi những hành xử của chúng ta cũng “xứng đáng” với lời trách móc trên.

2. Chúng ta đã làm cái gọi là “từ thiện”?

Chúng ta đã làm gì khi Hoa Kỳ gặp những tai nạn thảm khốc rúng động toàn thế giới? Sau đây là vài con số thống kê về sự đóng góp “từ thiện” của cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Biến cố 911

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngoài Cộng Sản Việt Nam đóng góp $250.000, nhưng triệu phú (hotel) Trần Đình Trường góp 2 triệu Mỹ Kim, chúng tôi không ghi nhận được các danh sách đóng góp khác của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, nếu có chăng chỉ là các hội đoàn đơn lẻ với số tiền không đáng kể.

Bão Katrina

Đối với trận bão Katrina 29/8/2005, chúng tôi không thấy Cộng Sản Việt Nam đóng góp, cũng không có danh sách cộng đồng Việt Nam qua các Hội đoàn, mà chỉ biết cộng đồng Houston giúp đỡ hiện kim và hiện vật, cũng như các hội đoàn Nam và Bắc California và nhiều nơi khác tổ chức văn nghệ, tiệc gây quỹ… nhưng số tiền thu được chẳng là bao so với sự cưu mang của đất nước và người dân Hoa Kỳ đối với bà con tị nạn kể từ sau 30/4/1975.

Sóng Thần Tsunami, Nhật Bản.

Còn nói về Nhật Bản gặp tai nạn Tsunami thảm khốc rúng động toàn thế giới vào ngày 12/3/2011, trên trang mạng, chúng tôi nhận thấy có ghi Cộng Sản Việt Nam và “nhân dân” giúp đở nạn nhân là 7.783.393 Mỹ Kim, trong khi đó cả thế giới giúp Nhật Bản trong vụ nầy lên đến 520 Tỷ Yen (tương đương gần 7 tỷ Mỹ Kim. Chưa thấy đóng góp của cộng đồng người Việt hải ngoại trong danh sách hàng ngàn NGO và các hội từ thiện trên thế giới.

Vậy mà chúng ta thường nói với nhau rằng: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”.

Vậy quý vị làm từ thiện nghĩ sao?

NHƯNG CHÚNG TA ĐÃ LÀM, bằng nhiều cách tùy theo từng nhóm, chẳng hạn giúp xây các cơ sở tôn giáo, xây viện mồ côi, công tác khám bịnh, đào giếng v.v…không kể việc đổ tiền vào sự cứu trợ mỗi khi có thiên tai như nhà cháy, lũ lụt, bão tố…

Nhưng tiếc thay, những việc trên đây là bổn phận và trách nhiệm của những người đang quản lý đất nước. Đó là công việc mà họ phải làm, vì chính họ, những người Cộng Sản đang “phát triển đất nước theo kinh tế thị trường nhưng PHẢI theo định hướng xã hội chủ nghĩa!”

Vì vậy, vô hình chung quý vị đã làm thay cho họ!!!

Trong lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt đã làm gì?

Mỗi khi có thiên tai, Cộng Sản Bắc Việt chỉ cần “xách bị ăn mày, xin ông đi qua, xin bà đi lại”, và chúng ta lại mở lòng cứu giúp, vì họ “dạy bảo” rằng chúng ta hôm nay là “khúc ruột ngàn dậm” của họ, mà trước kia họ lại nói rằng chúng ta chỉ là đám “ma cô, đĩ điếm, là ngụy liếm gót giày đế quốc”.

Vậy, quý vị làm từ thiện nghĩ sao?

Năm 2002, cá nhân chúng tôi đã báo động về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ô nhiễm Arsenic (thạch tín), nhưng chỉ một ngày sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Cộng Sản thời bấy giờ là Phan Thúy Thanh đã kết án chúng tôi là vô cảm với 300.000 nông, ngư dân. Họ phủ nhận sự thật đó vì họ sợ ảnh hưởng đến việc mới giao thương với Hoa Kỳ, và vì Việt Nam mới vừa được phép xuất cảng tôm cá vào Hoa Kỳ! Vậy Cộng Sản Bắc Việt có vô cảm với việc ô nhiễm nguồn nước làm ảnh hưởng tai hại đến sự sống còn của 300.000 nông ngư dân không?

3. Về việc gửi tiền và đi về Việt Nam.

Xin thử suy xét về hai sự kiện nầy.

a. Người Việt sống ở Hoa Kỳ vào khoảng 1.8 triệu người. Theo thống kê của World Bank, năm 2015, lượng tiền đổ về Việt Nam đạt trên 13 tỷ Mỹ Kim, trong đó 7 tỷ về Sài Gòn. Cũng theo một thống kê khác, lượng tiền nầy đa số xuất phát từ Mỹ.

b. Về vấn đề đi về Việt Nam, ngoài một số nhỏ ngoại lệ bắt buộc phải về vì quan hôn tang tế, vì người thân bịnh tật hay mất đi. Chúng ta có thể nói rằng, trong số 400-500 ngàn người về hàng năm, tuy với nhiều mục đích khác nhau, nhưng tựu trung đa số người về là làm ăn với Cộng Sản Bắc Việt, hay chỉ du lịch, mua vui, thậm chí tìm những thú vui vô đạo đức, dùng tiền để thỏa mản “thú tính” của con người.

Tất cả những điều đó chỉ làm:

Mất uy tín của người Việt hải ngoại, và

Vô hình chung kéo dài sự sống “thừa thãi” của chế độ đang đi vào buổi xế chiều (ước tính 500 ngàn người về và tiêu xài trung bình US $5000/người, Việt Cộng sẽ có 2.5 tỷ Mỹ Kim tiếp máu!).

Như vậy, chúng ta thấy việc đi về Việt Nam và gửi tiền về quê hương chỉ góp một phần ít vào ngân sách VC, nhưng còn phần lớn thì chạy vào túi đảng viên các cấp của chế độ tham nhũng, bóc lột tàn bạo!

Đối với những người đi về Việt Nam nhiều lần dưới danh nghĩa “làm ăn” hay “du hí”…, chúng ta cần phải có thái độ rõ ràng và dứt khoát với họ.

Xin đan cử quyết định của Cơ Quan Bảo Vệ Người Tị Nạn Và Vô Tổ Quốc (OFPRA- Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride).

Kể từ năm 1988 đến 2000, cơ quan nầy đã phế bỏ quyền tị nạn và quyền lợi được hưởng tiền trợ cấp xã hội, y tế và các phúc lợi khác do chính phủ cấp cho 22.417 người, vì họ đã về Việt Nam nhiều lần. Xin cảm ơn quyết định này của Cơ Quan Bảo Vệ Người Tị Nạn Và Vô Tổ Quốc (OFPRA- Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride).

Xin mỗi người trong chúng ta hãy lắng tâm cùng suy nghĩ, để tìm ra phương thức thích hợp đối phó với nhóm người vô ý thức này.

Thay lời kết

Qua những ghi nhận ở phần trên, quý bạn vừa cảm nhận được gì?

Phải chăng trong đầu mỗi quý vị tự đặt câu hỏi: “Vì sao xảy ra nông nỗi nầy?”.

Quý vị tiếp tục thắc mắc: “Tại sao chỉ có người dân mới nghĩ tới nhau, mới làm từ thiện cho nhau?”.

Và câu trả lời là: ”Phải chăng, nếu các cơ quan cầm quyền Cộng Sản (?) làm bánh mì từ thiện đại chúng như thế, sẽ bị cán bộ “rút ruột công trình” ngay?”

Vậy quý vị đang làm từ thiện ở hải ngoại nghĩ sao?

Sự thực là chúng ta đang giúp Việt Nam quá nhiều, nhưng giúp nước Mỹ, nơi cưu mang chúng ta, quá ít, nhưng lại tiếp tục muốn nước Mỹ và thế giới ủng hộ công cuộc chúng ta đấu tranh giải thể Cộng Sản Bắc Việt!

Chúng ta nghĩ rằng đã làm đủ bổn phận “công dân Hoa Kỳ” là tuân hành luật pháp, đóng thuế, có nhiều thanh niên Việt đi lính, làm nghĩa vụ công dân… nhưng dường như chúng ta sống trên đất Mỹ như một người tình của nữ thi sĩ TTKH là “tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời”. Hầu như chúng ta hoàn toàn không lưu tâm đến những gì xảy ra cho đất nước tạm dung nầy (người viết muốn nói “chúng ta” là một số đông gồm cả chính bản thân người viết). Vì thế:

Xin đừng làm những người khách trọ vô tình. Xin chia sẻ những gì xảy ra cho nước Mỹ, cho môi trường sống chung quanh mình.

Xin được sống làm người tử tế, lương thiện, văn minh và có tấm lòng với người bản xứ cũng như với bà con cật ruột của mình.

Xin đừng để những lời trách móc xảy ra nữa, như lời của TT Bush hay bất cứ lời của người bạn bản xứ nước mình đang cư ngụ.

Và, lời nói rạch ròi sau cùng của người viết là, Đại hội XII của Đảng CS Bắc Việt, thêm một lần nữa xác định vai trò lãnh đạo của đảng viên “Bắc Kỳ”. Ngày hôm nay, chính họ đã chính phức “phân liệt” hai cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Bắc và người Nam. Cũng chính họ cố tình “chia cắt” đất nước thành hai…phần lãnh thổ.

Nạn Hán hóa hay Bắc (Trung Cộng) thuộc lần thứ 5 đã và đang lừng lững hiện diện trên hơn 49 tự điểm có hơn 1.000 người Trung Hoa lục địa, và đang tiếp tực tăng trưởng.

Nạn “Bắc Kỳ trị” đang thực sự ló dạng tại khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam, đặc biệt là tại Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long!

Phải chăng “Bắc kỳ thuộc” là bước đầu trong tiến trình Hán hóa Việt Nam qua Hội nghị Thành Đô năm 1990, một sách lược muốn biến Việt Nam thành hai vùng “kinh tế tự trị” khác nhau vào năm 2020 chăng?

Với các “phải chăng” trên đây, 60% tuổi trẻ trong nước với sự yểm trợ của những người con Việt hải ngoại cần có thái độ và hành động tích cực hơn nữa để xóa tan mắc xích nô lệ nầy do các Thái thú nói tiếng Việt của nhóm Bắc kỳ đỏ.

Nên nhớ, người miền Bắc và miền Nam là hai thành phần không thể tách đôi của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mọi hình thức chia rẽ người địa phương để trị của CS Bắc Việt là một hành động tội ác đối với quốc gia Việt Nam.

Tuổi trẻ Việt Nam hãy thực hiện lời nói của cố Tổng Thống Thomas Jefferson là “Every Generation needs a new REVOLUTION”.

Và, những nhóm nhỏ “Từ thiện đại chúng” “tự phát” trong bài viết hôm nay sẽ là những đóm lửa lần lần tỏa sáng và dứt khoát xóa tan bức màn vô minh trong tâm khảm của người Cộng Sản Bắc kỳ trong âm mưu Bắc kỳ trị, tiếp tay cho tiến trình Hán hóa Việt Nam của Trung Cộng!

Mai Thanh Truyết

Người con Việt, 2/2016