Niềm vui trong thời đại đa chủng tộc, đa văn hóa.

Niềm vui trong thời đại đa chủng tộc, đa văn hóa.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Đối với một cá nhân mỗi người, thì cuộc sống trên dương thế này đều có

những niềm vui xen lẫn với những nỗi buồn. Đối với một tập thể dân tộc

cũng vậy, lịch sử của quốc gia nào thì cũng đày dãy những vinh quang rực rỡ

huy hoàng, xen lẫn những nhục nhằn đen tối u buồn. Điều này cũng có thể áp

dụng cho tình hình chung của nhân lọai cùng sinh sống chung với nhau trên

hành tinh trái đất này – mà hiện đang chứa đến 7 tỉ con người chen chúc trong

nhiều quốc gia và lãnh thổ khác nhau.

Nói chung, thì trong một thế kỷ gần đây nhân lọai đã gặt hái được những tiến

bộ vượt bậc về nhiều phương diện – đặc biệt là về khoa học kỹ thuật, về kinh

tế thương mại, cũng như về văn hóa tinh thần. Về mặt khoa học kỹ thuật cũng

như về kinh tế thương mại, thì thế giới chúng ta đã có những thành tựu lớn

lao vĩ đại – như đã được ghi lại qua những con số thống kê khách quan và

chính xác – mà ai cũng có thể kiểm chứng được một cách dễ dàng. Vì thế

nên người viết thấy không cần phải trưng dẫn các chi tiết có tính cách vật

chất định lượng đó ra ở đây nữa.

Mà bài viết này chủ yếu nêu ra những tiến bộ về mặt chính trị cũng như về

văn hóa tinh thần trong khỏang thời gian 70 năm gần đây – kể từ sau năm

1945 lúc chấm dứt thế chiến thứ hai cho đến ngày hôm nay sắp bước sang

năm 2015. Nói chung, thì những thành quả tích cực vô cùng ngọan mục về

nhiều phương diện đó làm cho chúng ta có thể lạc quan, vui mừng và thêm

tin tưởng ở một tương lai tốt đẹp tươi sáng hơn cho nhân lọai hiện nay đang ở

vào những năm đầu của thế kỷ XXI.

 

I – Thế giới đang mỗi ngày một tiến bộ thêm mãi về các mặt độc lập tự chủ,

bình đẳng và hoà bình – trong đó phẩm giá và quyền con người của mỗi cá

nhân được đề cao tôn trọng hơn.

A / Chỉ trong có chừng 40 năm đầu của thế kỷ XX, mà đã xảy ra hai cuộc thế

chiến tàn khốc là chiến tranh 1914 – 18 và liền theo đó là chiến tranh 1939 –

  1. Ấy thế, mà từ 1945 đến nay tức là đã qua 70 năm, thì lại không hề có một

cuộc chiến tranh thế giới nào nữa.

Mặc dầu có tình trạng “chiến tranh lạnh” nhiều lúc rất căng thẳng gay cấn

giữa hai khối Tư bản và Cộng sản khởi sự ngay từ sau năm 1945 lúc thế

chiến thứ hai chấm dứt – thì may mắn sao, đã không có một cuộc đổ máu tàn

sát nào giữa hai siêu cường Nga, Mỹ. Và từ thập niên 1990 với sự xụp đổ của

Liên bang Xô viết, thì chiến tranh lạnh đã không còn là mối đe dọa cho nền

hòa bình trên thế giới nữa.

Như vậy, quả thật là chúng ta đang được hưởng thụ một tình trạng hòa bình

an lạc tương đối lâu dài trong thế giới hiện nay vậy.

B / Về mặt quan hệ giao tiếp giữa các quốc gia, thì rõ rệt đã có một sự nở rộ

của phong trào nhiều dân tộc khắp các châu lục Á, Phi và Mỹ La tinh dành lại

được quyền tự chủ, độc lập và bình đẳng của mình thóat khỏi sự kềm kẹp của

các nước thực dân đế quốc xuất phát từ Âu châu. Và tổ chức Liên Hiệp Quốc

mỗi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong sứ mệnh giữ vững được

mối thuận thảo giữa các dân tộc vốn xưa kia thường có sự hiềm khích xung

đột với nhau.

Khởi sự vào năm 1945, thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) chỉ mới có 51 quốc gia là

thành viên, mà ngày nay con số quốc gia thành viên đã lên tới 193. Đó là một

sự tiến bộ cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của chung mọi dân tộc

trên thế giới ngày nay vậy.

Cũng nên ghi nhận sự kiện là một số nhân vật từ Á châu đã từng đảm nhiệm

chức vụ Tổng Thư Kí LHQ, như U Thant trước đây và Ban Ki Moon bây giờ.

Đại sứ Kishore Mahbubani từ Singapore cũng đã từng giữ chức vụ Chủ tịch

Hội Đồng Bảo An LHQ.

Đó là chưa kể đến những cuộc hội họp gặp gỡ rất lớn hàng năm của Diễn

Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF = World Economic Forum) và của Diện Đàn

Xã Hội Thế Giới (WSF = World Social Forum) v.v…

C / Trong hầu hết các quốc gia, thì các tổ chức phi chính phủ (NGO = Non-

Governmental Organizations) càng ngày càng phát triển cả về mặt số lượng,

cả về mặt hiệu quả công tác phục vụ xã hội – trong nội bộ mỗi quốc gia, cũng

như trên phạm vi quốc tế. Các NGO này là nòng cốt tạo thành khu vực Xã

hội Dân sự (XHDS = The Civil Society). Vì thế, mà ta có thể nói rằng các

NGO hợp thành XHDS như vậy, thì được coi như các Tác nhân không phải

là Nhà nước (Non-State Actors) với vai trò mỗi ngày càng quan trọng hơn,

nhất là trong lãnh vực bang giao quốc tế.

Có thể nói các NGO đã tạo thành một thứ Quyền Lực Mềm (Soft Power)

mỗi ngày một thêm vững chắc tại nhiều quốc gia ngày nay. Và thông qua các

NGO này, quần chúng nhân dân có thêm nhiều cơ hội thuận tiện dễ dàng – để

cùng tham gia vào công cuộc cải thiện môi trường sinh sống cụ thể trong tầm

tay với của mình. Nói cách khác, đó là một hình thức sống động của một nền

Dân chủ Tham gia vậy (The Participatory Democracy).

Nhiều quốc gia lại còn cấp cho các NGO quy chế “được miễn thuế” (tax-

exempt) – để khuyến khích người dân nào mà cung cấp tiền bạc cho các NGO

đó, thì họ được trừ vào khỏan tiền thuế để khỏi phải nộp cho ngân sách nhà

nước. Nhờ vậy, mà người dân hăng hái tham gia yểm trợ cho các NGO.

Hơn nữa, khu vực Xã hội Dân sự Toàn cầu (The Global Civil Society) mỗi

ngày thêm phát triển và họat động rất phong phú khởi sắc – nhờ được sự hỗ

trợ lớn lao về tài chánh của giới doanh nghiệp, về trí tuệ của giới hàn lâm đại

học, cũng như về tinh thần của các tôn giáo.

D / Riêng về mặt Bảo vệ Nhân quyền, thì càng ngày các tổ chức tranh đấu

nhằm tôn trọng Phẩm giá và Quyền Con Người càng mở rộng phạm vi họat

động khắp nơi. Các tổ chức này đã thực sự đóng được vai trò làm Đối trọng

(Counterbalance) đối với các chánh quyền nhà nước – mà thường có khuynh

hướng lạm quyền hay cấu kết với giới tài phiệt để bóc lột và đàn áp người

dân. Những tổ chức như Amnesty International, Human Rights Watch,

Reporters Sans Frontieres v.v… đã và đang mỗi ngày thêm tích cực trong sứ

mệnh phát huy và bảo vệ Nhân Quyền.

Cũng cần phải ghi thêm rằng : Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do

Liên Hiệp Quốc công bố vào năm 1948 cùng với hai văn kiện tiếp theo được

thông qua năm 1966 – là Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị và

Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa – đã tạo thành một

cơ sở pháp lý thật vững chắc trên quy mô toàn cầu cho công cuộc tranh đấu

Nhân quyền ngày nay.

Quả đúng như lời phát biểu rất hùng hồn ở Paris vào năm 1948 của vị Cựu

Đệ Nhất Phu Nhân nước Mỹ là Bà Eleanor Roosevelt : “Bản Tuyên Ngôn

Quốc Tế Nhân Quyền có thể được coi như là một Đại Hiến Chương cho nhân

lọai ngày nay vậy” (Magna Carta for mankind in our modern time).

 

II – Các sắc dân thiểu số không còn bị chèn ép khinh rẻ miệt thị như xưa nữa.

Cái tình trạng “Kẻ mạnh khỏe hà hiếp người yếu thế”, “Kẻ khôn ngoan lợi

dụng gạt gẫm người khù khờ” là chuyện thường xảy ra trong xã hội lòai

người. Đến nỗi mà từ xưa, người La mã đã có câu tục ngữ : “Con người đối

xử với nhau như lang sói” (Homo homini lupus).

Cụ thể như ngay trong nước ta, thì từ lâu vẫn xảy ra tình trạng người sắc tộc

Kinh là đa số chiếm đến 86% dân số toàn quốc lại đi lấn ép giành giật khai

thác đất đai của những sắc dân thiểu số vốn định cư lâu đời ở khu rừng núi tại

vùng cao nguyên. Vì thế mà vào năm 1964, các sắc dân này đã quy tụ với

nhau để lập thành Phong trào Fulro nhằm tranh đấu chống lại sự khai thác bất

công áp bức đó. Fulro là chữ viết tắt bằng tiếng Pháp : Front Uni pour la

Libération des Races Opprimées (= Mặt trận Thống nhất Giải phóng các Dân

tộc bị Áp bức).

 

A / Vẫn còn nhiều vụ tranh chấp vì lý do chủng tộc.

Tuy từ năm 1945 đến nay, không xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới nào, thì

lại có đến hàng trăm những cuộc xung đột vũ trang tại rất nhiều quốc gia và

lãnh thổ trên khắp thế giới. Các nhà nghiên cứu đã hợp nhau làm bảng tổng

kê các cuộc chiến tranh cục bộ địa phương này và đưa ra một con số thống kê

rằng : Tổng số các nạn nhân bị thiệt mạng trong biết bao nhiêu cuộc chiến

tranh dù với quy mô hạn chế như thế đã lên tới con số kinh khủng vượt qua

số nạn nhân của cả hai cuộc thế chiến gộp lại!

Mà phần lớn là bắt nguồn từ những cuộc tranh chấp mâu thuẫn vì lý do chủng

tộc (racial conflict). Đúng như lời phát biểu rất chính xác của vị Giáo sư danh

tiếng ở Pháp là Raymond Aron đã viết từ 50 năm trước là : “Không phải là

chuyện tranh đấu giai cấp, mà là tranh chấp chủng tộc” (Ce n’est pas la lutte

des classes, mais c’est la lutte des races). Điển hình như các cuộc chiến tranh

ở Mindanao Philippines, ở Bosnia, Kosovo thuộc Liên bang Nam Tư cũ hay

cuộc diệt chủng ở Rwanda Phi châu hồi giữa thập niên 1990 gần đây thôi.

 

B / Sự nhập cuộc của Tôn giáo và Đại học.

Trước tình trạng chém giết sát phạt nhau tại nhiều địa phương như thế, mà

gần đây đã có sự hợp tác chặt chẽ giữa các Tôn giáo và các Đại học để góp

phần vào những công việc cụ thể như “ Trung gian Hòa giải”,“Chuyển biến

Tranh chấp” và “Xây dựng Hòa bình”. (Mediation – Conflict Transformation

– Peacebuilding) tại các địa phương đang bị xâu xé tàn phá bởi chiến cuộc.

Điển hình như tại Đại học Eastern Mennonite University (EMU) ở Virginia,

thì có cả một chương trình bậc cao học về môn Chuyển biến Tranh chấp (MA

program in Conflict Transformation) và còn có cả Viện Xây dựng Hòa bình

mùa Hè (SPI = Summer Peacebuilding Institute) quy tụ rất nhiều giới họat

động xã hội từ khắp nơi trên thế giới đến trao đổi học hỏi kinh nghiệm họat

động trong lãnh vực cụ thể như “Hàn gắn chấn thương” do chiến cuộc gây ra

(Trauma healing), “Điều giải tranh chấp’ (Mediation) v.v…

Lại còn có những tổ chức tình nguyện đi đến tận những nơi đang có tranh

chấp để tìm cách hòa giải giữa hai bên đối nghịch nhằm tránh được việc sử

dụng bạo lực – điển hình như các Đoàn Xây dựng Hòa bình Thiên chúa giáo

(CPT = Christian Peacebuilder Teams).

 

C / Một số nhân vật tiêu biểu trong cuộc tranh đấu cho người thiểu số ở Mỹ.

* Tại nước Mỹ, ngay từ thập niên 1950 vị mục sư Martin Luther King đã tận

tình dấn thân nhập cuộc với người da đen để tranh đấu cho Dân quyền (Civil

Rights) của tầng lớp người Mỹ gốc Phi châu vốn từng bị đối xử tàn tệ và bị

kỳ thị khinh rẻ – đặc biệt là tại các tiểu bang ở khu vực miền Nam nước Mỹ.

Mặc dù bị bắt giữ tù đày nhiều lần, Luther King vẫn kiên trì sát cánh với các

chiến hữu trong cuộc tranh đấu cho một ly tưởng cao đẹp của thế hệ con cháu

những người nô lệ xưa kia. Ông được cấp phát Giải thưởng Nobel về Hòa

bình vào năm 1964. Nhưng tiếc thay, vào năm 1968 ông bị một kẻ cuồng tín

sát hại lúc mới ở vào tuổi 39 còn quá trẻ.

Martin Luther King được toàn thế giới kính phục vì chủ trương bất bạo động

mà lại kiên cường tranh đấu cho Dân quyền. Rõ ràng ông đã để lại một hình

ảnh tuyệt vời của người chiến sĩ hy sinh trọn vẹn cho Phẩm giá và Quyền

Con Người tại nước Mỹ vào giữa thế kỷ XX.

* Một nhân vật khác cũng được sự kính trọng và yêu mến của nhân dân nước

Mỹ, đó là Cesar Chavez. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo gốc

Latino, Cesar đã tận tình tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của những

người lao động tại các nông trại ở khu vực miền tây nước Mỹ – đặc biệt là ở

tiểu bang California. Ông tham gia lãnh đạo tổ chức United Farm Workers

(UFW =Hiệp hội Thống nhất Công nhân Nông trại) nhằm đòi hỏi giới chủ

nhân nông trại trại phải bảo đảm trả lương sòng phẳng và tạo điều kiện làm

việc thỏai mái cho giới công nhân phần đông thuộc nhóm thiểu số gốc

Latino, đặc biệt là từ nước Mexico sát liền với Hoa Kỳ (mà thường được gọi

là Chicanos).

Cũng giống như Martin Luther King, Cesar Chavez triệt để theo đuổi chủ

trương bất bạo động của Mahatma Gandhi trong cuộc tranh đấu trường kỳ

của mình. Ông mất tại Arizona vào năm 1993 ở độ tuổi 66.

Thành phố Los Angeles ở California đã vinh danh Martin Luther King và

Cesar Chavez bằng cách đặt tên các ông cho hai đại lộ chính yếu của mình.

 

III – Các nền văn hóa khác biệt càng bổ túc cho nhau để tô điểm cho cuộc

sống con người hiện nay thêm phong phú tươi đẹp viên mãn.

Hồi xưa người Tàu thường coi mình văn minh tiến bộ vượt trội hơn tất cả các

dân tộc khác mà họ gọi chung là “một lũ man di, mọi rợ”với một giọng điệu

miệt thị kẻ cả. Sau này, từ thế kỷ XIX trở đi, thì người Tây phương cũng tự

gán cho mình cái sứ mệnh đi mở mang khai hóa giúp đỡ các dân tộc khác

(mission civilisatrice) ở Phi châu, Á châu và châu Mỹ Latinh – chủ ý để biện

minh cho hành động đi xâm chiếm các thuộc địa của họ.

Ngày nay ở vào thế kỷ XXI, cái não trạng hủ lậu cực đoan quá khích đó đã bị

xóa tan lọai bỏ hết rồi. Và giữa các dân tộc trên thế giới đã có sự thông cảm,

liên đới và quý trọng lẫn nhau một cách chân thành sâu sắc hơn. Quá trình

nhận thức và chia sẻ tình cảm thân ái như thế rõ ràng là một sự tiến bộ đi lên

của xã hội loài người chúng ta. Chiều hướng tích cực đó là điều không một ai

mà lại có thể làm đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus).

 

A / Sản phẩm đa văn hoá.

 Thế hệ chúng tôi là những người được sinh ra vào khỏang 10 – 15 năm trước

khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945. Từ trong gia đình, cũng như từ

học đường, chúng tôi được hướng dẫn chu đáo về nhiều mặt, đặc biệt về luân

lý đức dục. Cụ thể như được học những câu “tiên học lễ, hậu học văn”, “ăn

quả nhớ kẻ trồng cây”, “ nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước

phải thương nhau cùng” v.v… Những bài đọc trong cuốn “Luân lý giáo khoa

thư” quả thật đã in đậm nét trong tâm khảm của lớp thiếu niên chúng tôi –

cùng với vô vàn vô số những câu ca dao tục ngữ là đúc kết từ những kinh

nghiệm quý báu của cha ông chúng ta qua bao nhiêu thế hệ của những bậc

tiền bối đáng kính đáng trọng.

Rồi lên bậc Trung học, chúng tôi được tiếp cận với văn hóa của Pháp với tất

cả những tinh hoa của nền khoa học kỹ thuật hiện đại và của nền học thuật tư

tưởng tích lũy từ thời đại Hy lạp & La mã cả mấy ngàn năm trước.

Và khi theo lên bậc Đại học vào thập niên 1950 – 60, chúng tôi lại được tiếp

thu thêm những tiến bộ trong văn hóa của Mỹ đang ở vào giai đọan phát triển

rực rỡ – đặc biệt là cái phong cách cởi mở thông thóang và năng động trong

các hình thái sinh họat xã hội thường ngày.

Nói vắn tắt lại, thế hệ chúng tôi là những người thật may mắn vì được đào tạo

và thấm nhuần bởi cả ba nền văn hóa : văn hóa truyền thống dân tộc – văn

hóa nhân bản của Pháp – văn hóa thực dụng của Mỹ. Có thể nói vắn tắt được

rằng : Chúng tôi đích thực là một thứ “sản phẩm đa văn hóa” vào cuối thế kỷ

XX bước qua thế kỷ XXI vậy (a multicultural product)

 

B / Thế hệ lớp cháu được sinh ra tại các nước Âu Mỹ.

 Thế hệ thứ ba là lớp cháu của chúng tôi, thì hầu hết là được sinh ra tại các

nước Âu Mỹ. Nhờ vậy mà các cháu được tiếp nhận một nền giáo dục thật tiến

bộ về khoa học kỹ thuật cũng như về khoa học nhân văn. Rõ ràng là các cháu

đã có đủ điều kiện thuận lợi để mà có thể hội nhập êm thắm vào với dòng

chính của xã hội sở tại hầu kiến tạo được cho mình một nếp sống văn minh

an hòa thư thái trong thế giới hiện đại.

Chỉ có một điều chúng tôi phải quan tâm lo ngại. Đó là các cháu dễ mắc phải

cái khuyết tật gọi là “mất gốc” (uprooted) – bởi lý do là ít hiểu biết về nguồn

cội văn hóa tinh thần của cha ông mình và cũng ít quan tâm đến những vấn

đề liên hệ đến tương lai đất nước Việt nam nữa. Đó là “cái mặt trái của tấm

huy chương” – được về mặt này, thì lại mất về mặt khác vậy.

Cái thách đố này đòi hỏi chúng ta phải luôn cảnh giác để cùng với nhau tìm

ra được một giải pháp thỏa đáng cho sự khiếm khuyết bế tắc đó.

 

IV – Để tóm lược lại.

 Bài viết đến đây kể đã khá dài rồi, tôi xin được tóm lược lại trong mấy điểm

ngắn gọn như sau :

1 – Nhìn một cách tổng quát, thế giới hiện nay ở thế kỷ XXI đang có một

triển vọng tương đối tươi sáng tốt đẹp hơn – với sự thông cảm và bao dung

hòa ái giữa các dân tộc, sự hợp tác chân thành trong công cuộc xây dựng nền

hoà bình ổn định, cũng như trong cố gắng tích cực phát triển sự thịnh vượng

kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Đó là điều khiến chúng ta lạc quan với chính

bản thân mình và cũng an tâm cho tương lai của thế hệ con cháu mình.

2 – Ý thức về Phẩm giá và Quyền Con Người mỗi ngày được nâng cao và

phổ biến rộng rãi hơn mãi – khiến cho thế hệ trẻ nô nức hăng say nhiệt tình

trong sự dấn thân nhập cuộc tranh đấu nhằm thực hiện công bằng xã hội và

kiến tạo một không gian xã hội thông thóang tự do thỏai mái hơn nữa. Nhờ

vậy mà cuộc sống luôn có được một ý nghĩa cao đẹp hơn, một động cơ hấp

dẫn lôi cuốn hơn.

3 – Nhờ có nhiều cơ hội thường xuyên tiếp cận và sát cánh với nhau trong

những việc làm cụ thể, thiết thực – mà những hàng rào ngăn cách, những

thành kiến ngộ nhận, những ác cảm miệt thị xưa kia trong xã hội đã bị xóa bỏ

lọai bớt đi rất nhiều. Rõ ràng là thời đại hiện nay của chúng ta đang có những

điều kiện thuận lợi nhất để có thể xây dựng và duy trì được một nếp sống

thắm đượm tinh thần nhân bản đích thực và lòng nhân ái bao la viên mãn cho

tất cả mọi người hiện có mặt trên hành tinh trái đất này.

Đích thực đó là một thành quả kỳ diệu kết tụ tích lũy được từ bao nhiêu nỗ

lực kiên trì của nhiều thế hệ con người.

Và đây cũng là bước đầu của quá trình thực hiện được cái điều lý tưởng mà

cha ông chúng ta đã bao đời từng mơ ước vậy./

 

Costa Mesa California, Tháng 11 Năm 2014

Đoàn Thanh Liêm

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

    Đoàn Thanh Liêm & Phạm Xuân Yêm

Bài này viết ra như một tiếp nối so với những gì mà GS Hoàng Tụy đã từ lâu nhận xét, đặc biệt câu sau đây trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay [1]: Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức ‘không giống ai’ và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh.”

1- Triết học không phải là một giáo điều

Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh. Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch sử phát triển về tư duy và nhận thức của con người, nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam, tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.

Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân lọai đã tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào, mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của nhân lọai từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.

Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây về sự tương đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học [2]:

Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:

1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối, vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.

2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe, chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng. Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học “cho ra hồn”, không thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.

Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm :

1 – Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng thử nghiệm : ứng dụng nó thì hành động đạt được kết quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do thực nghiệm kiểm chứng được hay không.

2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.

Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.

Vậy mà từ lâu rồi, theo Trần Đức Thảo : “ở Việt nam không có triết học, mà chỉ có chính trị”, nền giáo dục Việt Nam lại đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích [3]. Việc giảng dậy môn triết học Marx Lenin tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên 150 năm nay và sau đó bổ xung bởi Lenin đã và tiếp tục là một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên toàn thể dân tộc?

Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay đổi lề lối và nội dung của việc giảng dậy môn triết học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ tác phẩm nền tảng của Khoa học hiện đại như Vật lý, Cơ học, Thiên văn. Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko, gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều quốc xã thời phát xít Đức đã đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.

Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây [4]:

Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx – Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.

Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học. “ Giữ học thuyết Marx – Lenin ” không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới .

Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư tưởng bất luận nào đó – cho dù ưu việt đến mấy trong một thời – lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa. Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng, chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.

2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu

Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói chung mà đại học đi tiên phong. Người sinh viên phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào [5].

Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên, hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời gian ‘sau tiến sĩ ‘(postdoc) khá gian nan để đạt tới sự độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá, mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế được hiểu theo nghĩa sau đây:

(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập trung vào đó.  (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.

Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà nền đại học cần đạt tới. Qua các tiêu chí  (a) – (f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng 130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).

Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học. Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng của hai môn Lịch sử Đảng và Triết học Mác- Lê khoảng 15% trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên là điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và môn sau trong lịch sử  thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học, hai môn ‘không khoa học tự nhiên’ này bị loại bỏ tự động, làm lãng phí thời gian tiền của.

Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch, không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với chất lượng nghiêm túc.

Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp đào tạo, mở rộng cộng tác (theo hợp đồng dài ngắn hạn) với các cơ quan và chuyên gia nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa Đại học và viện Khoa Học & Công Nghệ (VAST) nên phát huy tận lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học tiền tiến đã từ lâu thực hiện.

Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu, thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia cảnh thiếu thốn.

Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm châu.

Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai trò không nhỏ.

Người viết tâm tình với lòng thành là nền đại học Việt Nam không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội hơn ước tính.

Tham khảo

[1] Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay, nxb Tri Thức (2008) Hà Nội, trang 161

[2] Phan Huy Đường, Tạp chí Tia Sáng (2010),

http://amvc.free.fr/PHD/LangThangChuNghia/TrietHoc-KhoaHoc.htm

[3 ] Trong cuốn giáo trình “Nhiệt động lực học và Vật lý thống kê, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), ngay ở trang 11, tác giả, một nhà vật lý, viết: Như Lenin đã chỉ rõ “ Khái niệm nhân quả của con người …”, điều chẳng liên đới chút nào đến toàn bộ nội dung cuốn sách.

[4] Nguyễn Văn An, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng Ban Tổ chức TƯ Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội qua những trả lời phỏng vấn “ Tuần Việt Nam ” ngày 12 tháng 12 năm 2010.

[5] Phạm Anh Tuấn, hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội.

http://boxitvn.wordpress.com/2010/11/30/khi-tm-h%E1%BB%93n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-b%E1%BB%8B-t%C6%B0%E1%BB%9Bc-do%E1%BA%A1t/

Nguyễn Phú Trọng lại chọc cho dân chửi

Nguyễn Phú Trọng lại chọc cho dân chửi
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư Đảng CSVN, đang bị chỉ trích kịch liệt vì tuyên bố: “Không để lọt các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc Hội.”

Ông Nguyễn Phú Trọng, tuy có học vị tiến sĩ về “xây dựng Đảng” nhưng thường có những phát biểu giống như chọc cho dân chửi. (Hình: Getty Images)

Mới đây, trong một cuộc trò chuyện với VOA, ông Nguyễn Quang A, một trong những trí thức được nhiều người biết và cũng là người tự ứng cứ vào Quốc Hội Việt Nam trong kỳ bầu cử sẽ diễn ra vào cuối tháng 5 sắp tới, nhận định, tuyên bố vừa kể của ông Trọng là một sự lạm quyền, xem thường các qui định pháp luật hiện hành.

Ứng cử hay bầu cử vốn đã có những tiêu chí rõ ràng thành ra theo ông A, “thế này, thế khác” là một “khái niệm tù mù.” Nó biểu lộ sự coi thường cả luật pháp lẫn thiên hạ. Nếu không xem thường như thế, ông Trọng không phát biểu tùy tiện như vậy.

Đây không phải là lần đầu tiên, ông Trọng, một người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành… “xây dựng Đảng,” đưa ra những tuyên bố khiến thiên hạ chưng hửng như vậy.

Chưa bao giờ tại Việt Nam, cuộc bầu cử Quốc Hội sẽ diễn ra vào cuối tháng 5 sắp tới lại có nhiều người tự ứng cử như vậy. Nguyên nhân chính là từ ông Trọng.

Cuối tháng 1 vừa qua, sau khi tái đắc cử vào vị trí tổng bí thư Đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng đọc một diễn văn ca ngợi “tự do, dân chủ” ở Việt Nam và khẳng định, Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng!”

Chính tuyên bố đó đã khiến ông A soạn một thư ngỏ, đề nghị các công dân Việt Nam hội đủ tiêu chuẩn trở thành đại biểu Quốc Hội Việt Nam hãy tích cực “tự ứng cử.” Ông A khẳng định, phong trào tự ứng cử là một phương pháp thử yếu tố “dân chủ” mà ông Trọng nhấn mạnh “đến thế là cùng.”

Dẫu những người thật sự tự ứng cử luôn luôn bị loại bỏ bằng đủ mọi cách, trong đó chủ yếu là “hiệp thương” để mặt trận tổ quốc các cấp tổ chức thu thập ý kiến “cử tri” – diễn ra y như “đấu tố” – để lựa chọn, tiến cử ứng cử viên chính thức nhưng ông A kêu gọi mọi người đừng ngần ngại.

Chuyện nhiều người tham gia tự ứng cử, những người khác theo sát, ghi âm – ghi hình các buổi “hiệp thương,” công khai nội dung của những buổi “hiệp thương” này sẽ giúp mọi người nhận ra hình dạng “dân chủ đến thế là cùng” tại Việt Nam như thế nào.

Ông A nói thẳng, ông không tin việc tự ứng cử sẽ thành công song thất bại hàng loạt có giá trị riêng của nó. Ít nhất mọi người cũng sẽ nhận ra, “tự ứng cử” là một “quyền hão.” Càng nhiều người nhận ra tính chất “hão” của quyền này thì như cầu đòi thực quyền mới hình thành và phát triển.

Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đang khắc họa những đường nét chính của cái mà ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định “dân chủ đến thế là cùng.”

Do “dân chủ đến thế là cùng” nên hệ thông truyền thông của chính quyền Việt Nam có quyền bôi nhọ những cá nhân tự ứng cử. Chẳng hạn, tờ Năng Lượng Mới đăng một bài với tựa “Quốc Hội không phải là phường chèo,” chỉ trích nghệ sĩ hài Nguyễn Công Vượng dám “tự ứng cử.” Nghệ sĩ này bị xem là “lộng ngôn,” “đốt đền,” tuy cha mẹ đều là đảng viên nhưng “phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng,” “vu khống Đảng và chính quyền hèn với giặc, ác với dân, dâng biển đảo cho giặc.” Tờ Năng Lượng Mới cho rằng, nghệ sĩ này “bất tài,” không thành công trên sân khấu thật mới nhảy sang “sân khấu chính trị.”

Trong bài “Quốc Hội không phải là phường chèo,” tờ Năng Lượng Mới còn chỉ trích một loạt những cá nhân khác đã tuyên bộ tự ứng cử như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Tường Thụy, Đặng Bích Phượng,… vì “đang phá hoại cuộc bầu cử Quốc Hội.” Theo tờ báo này thì những cá nhân tự ứng cử đều hám danh nên mới tham gia các hoạt động đòi phải bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông, đòi phải cương quyết với Trung Quốc, đòi phải tôn trọng nhân quyền! Tờ Năng Lượng Mới xem việc tự ứng cử, trình bày nhận định về thời cuộc, kế hoạch hành động nếu đắc cử là “trò lố!”

Cũng do “dân chủ đến thế là cùng,” nên Ủy Ban Bầu Cử thành phố Hà Nội đòi bà Đặng Bích Phượng phải xin xác nhận lại lý lịch tại một phường nơi bà… không có hộ khẩu thường trú nên tất nhiên là không thể được xác nhận để có hồ sơ ứng cử hợp lệ. Một cá nhân khác, ông Nguyễn Tường Thụy thì bị chính quyền địa phương ghi vào lý lịch gửi cho Ủy Ban Bầu Cử rằng ông có “tiền sự” (hai lần bị cảnh cáo do tham gia biểu tình chống Trung Quốc). Với những “tiền sự” này, ông Thụy không có quyền tự ứng cử.

Trong một xã hội “dân chủ đến thế là cùng” như Việt Nam, công an cũng đã vô cớ ập vào nhà ông Phan Văn Bách để kiểm tra hành chính sau khi ông nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc Hội. Ông Võ An Đôn, một luật sư ở Phú Yên thì được mời đến làm việc với an ninh của tỉnh này sau khi ông tuyên bố sẽ tự ứng cử.

Diễn biến mới nhất liên quan tới “dân chủ đến thế là cùng” là người xuất hiện trong video clip, nhận định ông A “bất xứng, không nên chọn làm đại biểu Quốc Hội,” tuy sắm vai hàng xóm của ông A nhưng cả tổ trưởng tổ dân phố lẫn trưởng Ban Mặt Trận Tổ Quốc phường nơi ông A cư ngụ, thừa nhận không biết anh ta là ai. (G.Đ)

Những Cánh Bèo Trôi Ở Bangkok

Những Cánh Bèo Trôi Ở Bangkok

RFA

Thỉnh thoảng (trên bàn nhậu) tôi vẫn góp vui bằng câu chuyện sau, sau khi nghe những bạn đồng ẩm bàn luận về hiện trạng tôn giáo ở Việt Nam:

– Thưa cha con muốn xưng tội.

– …
– Trước năm 75, có mấy nguời cán bộ cộng sản nằm vùng bị truy lùng đến xin tá túc, và con có chứa họ dưới hầm nhà …

– Giúp đỡ tha nhân khi họ kêu cứu trong lúc bị hiểm nguy không phải là một cái tội.
– Nhưng thưa cha…

– Con cứ yên tâm. Ðiều con làm hoàn toàn hợp với tinh thần bác ái của Chúa Ky Tô và văn hoá của dân tộc Việt. “Thương người như thể thương thân. Rét thời cho mặc, đói thời cho ăn.” Gia Huấn Ca cũng có dậy như vậy. Chúng ta không thể vì chính kiến hay lòng thù hận mà bỏ nguời ta đói khát trong cơn hoạn nạn; hoặc tệ hơn nữa là tố giác những kẻ ở bước đường cùng.

– Thưa vâng nhưng thưa …

– Cha hiểu …đó không phải lỗi của con. Nếu những kẻ được cứu giúp trong cơn hoạn nạn – sau này – trở mặt, lấy ân báo oán hoặc lại tiếp tục con đường tà đạo thì đó là tội lỗi của họ…

– Dạ vâng nhưng điều khiến con áy náy là…

– Là gì nữa?

– Là vì họ… vẫn còn dưới hầm nhà…

– Con nói sao?

– Thưa cha, qúi vị cán bộ cộng sản trốn dưới hầm nhà con vẫn còn sống ở duới đó cho mãi đến bây giờ.
– Ối, Giêsu Ma… lậy Chúa tôi! Sao lại thế, hả con?

– Vì con vẫn chưa cho họ biết là “cách mạng” … đã thành công!

– Nhưng… sao… sao… con lại … lại … đãng trí đến như thế được?

– Tại con rút kinh nghiệm hồi kháng chiến chống Tây. Thuở ấy, bố con cũng chứa cán bộ cộng sản trong nhà; sau này, chính những nguời này đã “dàn dựng” để “nhân dân” mang ông cụ ra … đấu tố cho đến chết! Bởi vậy nên con sợ…

– Kể thì cũng như nuôi rắn trong nhà, đáng sợ thật chứ chả phải chuyện đùa!

– Xin cha giúp con…

– Thôi thế này con ạ, về lấy xi măng lấp luôn cái hầm nhà lại cho… xong! Ðỡ được đứa nào hay đứa đó. Tội nghiệt này, xin Chúa nhân từ chứng giám, ta xin chịu thay con.

– Con xin lĩnh ý cha; tuy nhiên, cũng xin Chúa nhân từ chứng giám đây là chuyện “riêng” của con chứ không liên hệ gì đến cha hoặc bất cứ ai.

Tôi không phải là tác giả của “tiểu phẩm” vừa ghi. Đây chỉ là sáng tác chung của người dân xứ Việt, nơi mà “… giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận” – theo như nhận xét của một nhân chứng thế giá, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn.

Ủa, chớ mấy ổng “nằm vùng” trong chùa làm chi vậy cà? Blogger Bùi Quang Vơm lý giải: “… bây giờ, nhìn vào đâu, đảng cũng thấy có kẻ thù, ở chỗ nào, cũng có âm mưu lật đổ. Đảng đang hoạt động trong lòng địch. Dân đã thành địch rồi.”

Giới tu sĩ cũng vậy (chắc) cũng hoá thành địch hết trơn hết trọi nên Đảng phải “gài” người vào tu viện, thiền viện, chùa chiền, thánh thất, giáo đường… cho nó chắc ăn – đúng như lời cảnh báo của những vị tai mắt:

  • Đại Biểu Quốc Hội Nguyễn Kim Khoa: Hiện có 3 vấn đề nổi lên hiện nay trong đó có tình hình xu hướng hoạt động tín ngưỡng tôn giáo ngày càng tăng lên đặc biệt là các địa bàn chiến lược, trong đó có các loại đạo tín ngưỡng trái phép gia tăng và diễn biến phức tạp.

Mối lo ngại về “các loại đạo tín ngưỡng trái phép gia tăng và diễn biến phức tạp,” cùng chuyện “lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo để chống phá nhà nước” – dường như –  chỉ có tại Việt Nam. Ở những quốc gia láng giềng, nhiều sinh hoạt tôn giáo còn “phức tạp” hơn nhiều nhưng không thấy chính phủ, cũng như những vị đại diện dân cử, của họ bầy tỏ sự “quan tâm” tương tự.

Ở Thái, hằng năm, vào tháng 12 đều có hàng chục ngàn tu sĩ cùng lượt đi khất thực. Riêng năm vừa qua, vào hôm 27 tháng 12 năm 2015: “Mười nghìn vị Tôn đức Tăng già trang nghiêm pháp phục, đắp Ca sa ôm bình bát, thứ tự tuần hành khất thực quanh thành phố Chiangmai, Thái Lan.”

Ảnh: Jonathan Look

Nếu cùng ngày này, ở thành phố Hải Phòng, cũng có chừng vài trăm vị sư xuống đường khất thực thì Thiếu Tướng Giám Đốc Công An Đỗ Hữu Ca chắc phải mừng hết lớn. Ổng dám huy động luôn đến cả trực thăng vũ trang để chuẩn bị thêm một “trận đánh đẹp có thể viết thành sách” (nữa) chớ chả phải chuyện đùa  đâu.

Tôi không có mặt tại Chiangmai vào hôm 27 tháng 12 năm 2015 nhưng có đến tham dự lễ tạ ơn ở Bangkok, vào hôm 28 tháng 2 vừa qua, với Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, OP.

Hơn nửa số giáo dân Việt Nam ở Vọng Các, nghĩa là khoảng ít nhất cũng phải đến một ngàn năm trăm tín đồ đã tập họp lại để chào đón và dâng thánh lễ tạ ơn với vị Mục Tử của họ, tại giáo đường St Joseph (Bangkok). Tất cả họ đều còn trẻ, rất trẻ, chỉ độ khoảng tuổi từ 18 đến 30.

Tôi chưa bao giờ được dịp đặt chân ra đến miền Trung nên có cảm tưởng là mình đang lạc giữa một rừng người ngoại quốc vì cách phát âm tiếng Việt của các bạn trẻ hơi nhanh, và cũng hơi lạ nữa. Tuy không nghe rõ những mẩu đối thoại, chuyện trò của họ nhưng tôi vẫn cảm nhận nỗi an bình  trên nét mặt của từng em. Sự bình an mà chưa chắc đã có thể tìm thấy tại quê nhà, nơi mà có những ông “tiểu đoàn trưởng/ trung đoàn trưởng” (đóng đô) ngay giữa cửa thiền, và những vị “đại biểu quốc hội” luôn bị ám ảnh bởi chuyện “lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo để chống phá nhà nước!”

Vì nhà thờ không còn đủ chỗ (kể cả chỗ đứng) và vì là một người ngoại đạo nên thay vì chen chân vào bên trong giáo đường, tôi lặng lẽ tìm một bóng cây ngồi ghe Giám Mục Nguyễn Thái Hợp nhỏ nhẹ tâm tình qua hệ thống phát thanh. Tuyệt nhiên, không có lời lẽ “phản động” hay “chống phá nhà nước” nào ráo trọi. Ông chỉ chia sẻ với hàng ngàn những tín đồ trẻ tuổi những khó khăn của họ nơi đất lạ xứ người: văn hóa, đạo lý, đức tin. Ông cũng rất tế nhị khi nói đến những trở ngại về pháp lý, kinh tế, xã hội … mà di dân Việt đang phải đối đầu.

Giám Mục Nguyễn Thái Hợp tại giáo đường St Joseph, Bangkok. Ảnh: vietcatholic

Trước đây chưa lâu, vào hôm 3 tháng 7 năm 2014 – trên trang Nation – ký giả Petchanet Pratruangkrai cũng có đề cập đến những di dân Á Châu tại Thái, trong số này có khoảng năm mươi ngàn người Việt đang làm việc “chui” ở đất nước này. (Among the roughly 2 million Myanmar workers, 300,000 Cambodians and 50,000 Vietnamese in Thailand, many are working illegally…)

Theo tiểu luận (“Những Cơ Hội & Thách Đố Cho Lao Động Di Dân Việt Nam Tại Thái Lan”) của Linh Mục Antôn Lê Ngọc Đức, SVD, lao động di dân Việt Nam tại Thái Lan có một số những đặc điểm chung:

Thứ nhất, hầu hết đến từ các tỉnh miền bắc và miền trung, trong đó Hà Tĩnh và Nghệ An chiếm phần đa số. Ngoại trừ một số trường hợp, hầu hết xuất thân từ những gia đình nông thôn…

Tính chất của một số công việc mà các lao động di dân Việt Nam làm tại Thái Lan lệ thuộc phần nào về tuổi tác và giới tính. Những công việc như xây dựng (cọ xang), trông bãi xe (rắp rốt), tẩm quất trong phòng vệ sinh nam (nuad hong nám) chỉ dành cho lao động nam. Các công việc giúp việc nhà (mae ban), chăm sóc người già trẻ con trong gia đình chủ thuê, bán hoa hồng dạo…thường dành cho lao động nữ. Ngoài ra những công việc như may quần áo (yep pha), bán dạo (kem, trái cây, nước giải khát), mở quầy hàng (áo quần, thức ăn, hoa quả…), bán hàng trong các cửa tiệm bán lẻ… thì cả lao động nam và nữ đều tham gia.

Tất cả đều là những công việc nặng nhọc, bấp bênh, và thu nhập rất thấp chỉ dành cho đám di dân Miến, Miên, và Việt. Việt Nam ra sao mà những thanh niên thanh nữ, rường cột và tương lai của đất nước, phải chấp nhận một cuộc sống tủi cực đến thế ở nước láng giềng?

Xin nghe qua đôi lời tâm tình của họ với Trà Mi, qua phóng sự (“Người Việt Ở Thái Vẫn Chọn Mảnh Đất Này Bất Chấp Bạo Động, Nổ Bom”) nghe được vào vào hôm 24 tháng 8 năm 2015:

– Ngọc Hưng: Tới Thái Lan ngay từ lúc đặt chân tới sân bay, họ rất vui vẻ, niềm nở, lịch sự. Mình qua đây làm ăn sinh sống với mong muốn thay đổi một môi trường sống khác. Từ những người thấp nhất trong xã hội Thái như xe ôm cho tới cảnh sát, họ đều giúp đỡ mình hết mình.

-Nhung: Qua đây từ 2008 thấy Thái Lan cũng có một thời rất là xáo trộn nhưng rồi họ vượt qua mạnh mẽ. Nhung muốn sống ở đây nên luôn hy vọng nơi này sẽ bình yên trở lại. Mình không thấy thất vọng về đất nước Thái Lan.

-Tâm: Mình thấy thật ra không phải là Việt Nam yên bình đâu. Ở Thái, bạn có thể cầm hai tay 2 smart phone đi ngoài đường mà cũng chẳng bị sao hết, chứ ở Việt Nam bạn có dám hé ra một tí xíu không? Sẽ bị giật mất liền… Ở Việt Nam chỉ cần sơ hở một chút là bị giật liền chứ đừng nói là bỏ quên. Không phải mình nói xấu đâu. Mình nói về độ yên tâm, về sự ổn định trong cuộc sống.

Ảnh chụp hôm 28 tháng 2 năm 2016 tại giáo đường St. Joseph, Bangkok.

Cái giá mà kẻ tha hương phải trả để có được “độ yên tâm” và “sự ổn định trong cuộc sống” – tất nhiên – không rẻ. Tại sân giáo đường St Joseph, chiều nay, lần đầu tôi mới được chứng kiến “cả rừng” đồng hương của mình tề chỉnh với áo trắng/quần bò hay với những tà áo dài thướt tha (và lạ mắt) trên đất Thái.

Trước đó, tôi chỉ thấy các em nhẫn nại và lầm lũi sau những xe kem, xe nước dừa, xe trái cây loanh quanh trên khắp nẻo đường  của thủ đô Vọng Các. Đôi khi, tôi cũng bắt gặp các em tất bật trong những quán ăn bình dân hay nhễ nhại mồ hôi nơi các công trường (cháy nắng) ở Thái Lan.

Ảnh chụp vào mùa mưa năm 2015, không nhớ ngày nào

Xin cảm ơn những giọt mồ hôi, cũng như nước mắt, tảo tần/thương khó của tất cả những người bạn trẻ – những con dân Việt tha hương đang góp phần (không nhỏ) để để giữ cho dân tộc này chưa đến nỗi phải bị bị diệt vong.

KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI

KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI

Xã hội càng văn minh, phụ nữ càng được giải thoát, và ngược lại.  Ðó là thước đo mức tiến bộ nhân loại.  Ngày xưa, ngay trong dân Chúa, số phận phụ nữ cũng không khá hơn các dân khác.  Câu truyện ném đá người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng hôm nay là một điển hình.

Theo Kinh thánh, trong vụ án ngoại tình, cả hai đồng phạm đều phải đưa ra ném đá (Lv 20:10; Ðnl 22:22).  Thế nhưng, những nhà lãnh đạo Do thái đã cố tình coi thường luật này.  Họ chỉ bắt người phụ nữ, mà không tố cáo người đàn ông tòng phạm.  Các người lãnh đạo đã dùng người phụ nữ này như một chiếc bẫy lừa Ðức Giêsu.  Nếu Người không đồng ý ném đá, họ sẽ tố cáo Người vi phạm luật Môsê.  Nếu Người không đồng ý, chưa chắc họ đã nghe theo Người, trái lại có thể họ vịn vào cớ đó để lên án và ném đá cả Chúa lẫn người phụ nữ ngoại tình.  Nếu Người khuyến khích họ xử tử nàng, họ sẽ báo cáo cho quân Rôma biết Người chống lại lệnh cấm người Do thái thi hành án tử hình (Ga 18:31).  Nếu thế, còn đâu hình ảnh nhân hậu của Người trong lòng dân?  Những người lãnh đạo Do thái thâm độc thật!

CHUA VE TREN DAT

Bên ngoài, họ có vẻ là những người tha thiết với Luật Môsê và bảo vệ công lý.  Nhưng thực ra, họ muốn thử thách đức nhân hậu và lòng bác ái của Người.  Làm sao vừa giữ vững công lý vừa duy trì được lòng nhân ái đối với mọi người?  Thật là một bài toán hóc búa.  Vậy mà, Người đã tìm thấy đáp số rất tài tình.  Chỉ cần một câu hỏi gọn nhẹ, nhưng xoáy sâu vô nội tâm, Người đã có thể phá tan hàng rào pháp lý và đám đông dầy đặc đang thét gào chung quanh.  Tất cả lời tố cáo đều im bặt trước câu thách đố: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8:7).  Một tiếng sét xé ngang bầu trời ồn ào hôm đó và đâm thấu tận tim đen đám đông.  Tất cả đã từ từ rút đi sau một giây hồi tâm.  Như thế, Chúa vừa cứu được người phụ nữ ngoại tình, vừa làm cho đám đông, nhất là giới lãnh đạo, trở về với sự thật lòng mình.  Họ lần lượt ra đi như một lời thú tội.  Thế là họ mắc vào bẫy chính mình đã giương lên.  Còn Chúa, Người chẳng cần giương bẫy, nhưng đã bắt được cả hai con chim.
Khi trở thành nạn nhân của những mưu thâm chước độc, con người biến thành phương tiện cho con người.  Người phụ nữ ngoại tình chỉ là một phương tiện được dùng để tố cáo và lên án Ðức Giêsu mà thôi.  Người không bao giờ xử dụng con người làm phương tiện cho mình.  Trái lại, không những lấy con người làm trung tâm cho sứ mệnh của mình, Người còn tự biến mình thành “con đường” (Ga 14:6) cho con người đến với Chúa Cha.  Người đã hy sinh tất cả cho con người.  Con người trở thành mục đích cho toàn thể công trình sáng tạo và cứu độ.  Thật thế, vì là “hình ảnh Thiên Chúa” (St 1:27), con người được Thiên Chúa đặt ở “trung tâm và tột đỉnh mọi loài thụ tạo.” Chúa đã thấy tất cả phẩm giá lớn lao đó nơi người phụ nữ ngoại tình, dù tội nàng có lớn tới đâu.  Trái lại, những nhà lãnh đạo Do thái đã đồng hóa con người với tội lỗi, nên nàng không còn lý do hiện hữu trên cõi đời này nữa.  Tội nhân không còn cơ hội để làm lại cuộc đời.

Trong suốt thời gian căng thẳng giữa rừng người khát máu, Chúa Giêsu luôn bình tĩnh và sáng suốt để tìm đường thoát hiểm cho người phụ nữ nạn nhân và cho chính mình.  Người giúp đỡ cô, nhưng không hề bênh vực cho tội ngoại tình của cô.  Bằng chứng, sau khi “tòa án nhân dân” đã giải tán, Người không quên căn dặn: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).  Còn lời nào cương nghị và đầy nhân ái hơn?

Chính vì thế, tội nhân đã tìm đến với Ðức Giêsu để tìm một cơ hội lớn trở về với Thiên Chúa.  Không còn con đường nào khác!  Không những phẩm giá họ được nhìn nhận, nhưng họ còn được đưa vào mối tương quan với Thiên Chúa.  Vì được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa,” (St 1:27) nên “tự bản chất, con người hiện hữu trong tương quan chủ yếu và sâu xa nhất với Thiên Chúa.”  Như thế, trước sức mạnh tình yêu, tội lỗi không thể hủy diệt bản chất đó của con người.  Tình yêu nối lại mối dây thân tình sâu xa giữa con người với Thiên Chúa.  Tình yêu đó chỉ có thể tìm thấy nơi Con Người Ðức Giêsu trên Thánh Giá.

Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng bằng hành động, Ðức Giêsu đã cứu con người không những thoát khỏi đám đông khát máu, nhưng khỏi bàn tay ác thần hung bạo.  Người giải thoát không những thể xác khỏi cái chết đời này, nhưng cả linh hồn khỏi cái chết đời sau.  Chính vì Người đã chết, toàn thể nhân loại được cứu sống và đi sâu vào tình yêu Chúa Cha.  Cái chết trên thập giá trở thành cần thiết cho sự sống nhân loại.  Khi cứu sống nhân loại, Người không nhìn vào tội ác họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng nhìn vào chính con người với tất cả giá trị cao cả của họ nơi Thiên Chúa.  Chính vì hạnh phúc và phẩm giá con Thiên Chúa của họ, nên Chúa đã chấp nhận tất cả.
Khi thấy nhân loại phạm tội, Người đã không tra cứu sách luật hay Kinh thánh.  Trái lại, Người nhìn sâu vào lòng nhân từ của Chúa Cha và hình ảnh của Cha nơi nạn nhân, để đem lại một chiều kích mới mẻ và toàn triệt cho lề luật.  Con người đã không có được cái nhìn như thế, nên mới dễ bạo động.  Chính Người cũng đã trở thành nạn nhân của đám đông bạo động.

Ðám đông thời ấy và đám đông thời nay có khác nhau không?  Giả sử, đứng giữa “tòa án nhân dân,” Chúa Giêsu cũng đặt vấn đề tương tự như thế, liệu có ai dừng tay và bỏ đi không?  Dầu sao đám đông thời Chúa Giêsu vẫn còn lương tâm và biết nhìn nhận sự thật.  Ðám đông ngày xưa vẫn can đảm hơn đám đông ngày nay.  Còn ngày nay, biết bao người đã chết oan vì lương tâm không còn hoạt động nơi đám đông.  Chẳng hạn, biết bao nạn nhân vô tội đã gục ngã trong những vụ cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc Việt.  Sự thật thuộc về đám đông chuyên môn “lấy thịt đè người.”  Dù biết mình sai, họ vẫn không có can đảm nhìn nhận sự thật và không dám rút lui vì sợ bẽ mặt.  Trái lại, họ còn dựa vào sức mạnh vũ khí, nhà tù, quyền lực để áp đảo tiếng nói lương tâm và chà đạp sự thật.
Cuộc đấu tố ngày xưa ở Bắc Việt và những cuộc bắt bớ các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước hiện nay có khác việc lên án phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng hôm nay không?  Có khác chăng là phụ nữ ngoại tình có tội thật, còn những người bị đấu tố và các nhà đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước có tội gì?  Phải chăng hành động theo tiếng lương tâm là một thứ tội?
Ai dám bênh vực họ đây?  Ngày xưa, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ bênh vực và tìm cách giải thoát phụ nữ ngoại tình, mặc dù biết nàng là người có tội.  Hôm nay, Nhiệm Thể hay Hiền Thê của Người là Giáo Hội không đủ can đảm bênh vực cả những người vô tội hay sao?  Phật Giáo Thống Nhất có những vị lãnh đạo cao cấp như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ dám hy sinh cả đời để tranh đấu cho tự do tôn giáo.  Còn Giáo Hội Công Giáo Việt nam, Hàng Giáo Phẩm đang ở đâu?
Lạy Chúa, từ trước tới nay, con đã làm gì khi anh em xúc phạm đến con?  Con luôn muốn công lý phải được thi hành.  Lúc nào con cũng có đủ lý do biện hộ cho việc phục thù của con.  Chắc chắn hôm nay Tin Mừng đòi hỏi con phải cúi xuống tĩnh niệm, trước khi đụng đến tha nhân.   Xin cho con luôn sẵn sàng dành cho anh em một cơ hội.   Xin hãy mở trái tim con ra để mọi người thấy tình yêu Chúa đang sôi sục trong con.  Amen!

 Đỗ Lực

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

FB Trương Nhân Tuấn

9-3-2016

Đến bây giờ, khi nước mặn xâm nhập ngược dòng sông Cửu Long, vào đất liền, nhiều nơi hàng trăm cây số, thì ông X mới bắt đầu gởi “công hàm” yêu cầu các nước ở thượng nguồn xả nước ở những con đập thủy điện nhằm cứu vãn tình trạng.

Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng vì đời sống hàng chục triệu người dân miền Nam bị đe dọa, cũng như nền kinh tế của đất nước có thể bị sụp đổ.

Hành động của nhà nước CSVN đúng là chuyện chờ nước đến chân mới nhảy. Trong khi nhiều người VN đã cảnh báo tình trạng “sông Cửu Long cạn dòng”, vì hậu quả việc xây đập bừa bãi của các quốc gia trên thượng nguồn.

Cá nhân tôi, từ khoảng 15 năm trước, đã có bài viết cảnh báo. VN không thể ngăn chận các quốc gia xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vì vậy VN bằng mọi cách phải “kiểm soát” nguồn nước này, điển hình là đầu tư xây dựng những con đập ở Lào.

Rốt cục VN đã không thực hiện việc này. Các con đập ở Lào đều do Thái Lan và TQ đầu tư (và làm chủ).

VN đã để vận mạng của đất nước mình cho người ngoài nắm giữ.

Vấn đề là tầm nhìn của lãnh đạo.

Ông X gởi công hàm yêu cầu, điều chắc chắn là các quốc gia này sẽ không đáp ứng. VN không có cách gì, ngoài cách sử dụng chiến tranh để giải quyết. Nhiều nhà tương lai học quốc tế dự đoán, chiến tranh thế kỷ 21 bắt nguồn từ việc tranh chấp các nguồn nước.

VN không có khả năng dùng chiến tranh như là một biện pháp răn đe hữu hiệu.

Tình hình sẽ tệ hại hơn, nếu các quốc gia thượng nguồn dẫn nước sông Cửu Long vào một hệ thống dẫn thủy khác. Lúc đó sông này sẽ cạn. Lúc đó VN cũng không làm gì được.

Hệ quả của việc sông Cửu Long cạn dòng là ruộng vườn ở nhiều tỉnh miền Nam sẽ bị nhiễm mặn. Cái tên gọi là “miệt vườn” ở miền Nam sẽ xóa sổ. Bởi vì khi đất vườn bị nước biển xâm thực, đất này sẽ trở nên vô dụng, không còn trồng trọt được thứ gì. Ruộng nương cũng vậy, khi muối đã thấm nhập vào đất thì ruộng đó cũng bỏ không. Muốn “cải tạo” lại, hàng chục năm sau chưa chắc đã khắc phục.

Nhiều biện pháp đã đề nghị, như đào hồ chứa nước mưa. Vấn đề là các hồ nước này có thể thỏa mãn việc tiêu tưới, nhưng không thể ngăn nước biển chảy ngược vào sông Cửu Long.

Trong khi VN, với trình độ kỹ thuật hiện tại, không thể xây dựng những hệ thống đê, đập trị thủy như ở Hòa Lan.

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong. Về giáo dục, họ đào tạo ra những con người không có giá trị (kinh tế). Về kinh tế họ đã đưa VN xuống hàng chót ASEAN. Về xã hội, họ hứa hẹn thiên đàng nhưng họ xây dựng một đia ngục. Về việc bảo vệ lãnh thổ, họ đã dâng hiến Biển Đông cho TQ…

Về chính trị, những ngươi cộng sản miền Bắc đã sử dụng đảng để loại dân miền Nam ra khỏi cuộc chơi. Theo tập quáng, bí thư tỉnh ủy (hay thành ủy) đều là người địa phương. Bây giờ ông Trọng (và đồng bọn) chỉ sử dụng người miền Bắc, như trường hợp Đinh La Thăng, người Bắc lên nắm Sài Gòn. Sắp tới, ông Trọng (và đồng bọn) sẽ phất ngọn cờ chống tham nhũng để triệt hạ và loại trừ dân miền Nam ra khỏi các vị trí lãnh đạo.

Miền Nam ngập mặn, đe dọa đã hiện hữu từ nhiều thập niên, nhưng ngân sách dành cho miền Nam (nhằm đối phó việc nhiễm mặn) là con số không to tướng. Miền Nam kho gạo thế giới, kho dầu khu vực, kho dự trữ cá mắm… quan trọng… GDP đóng góp thì nhiều, mà ngân sách đầu tư môi trường, giáo dục, hạ tầng cơ sở… thì không có bao nhiêu…

Sắp tới, con số nhỏ nhoi “không có bao nhiêu” cũng không còn. Dân miền Bắc do ông Trọng thống lĩnh chính trị, sẽ thâu tóm tất cả.

Tương lai của dân miền Nam có nên để cho miền Nam tự quyết ? Câu hỏi trở thành cấp thiết đặt ra, nếu chủ trương “thống lĩnh” của chính trị “người Bắc kỳ biết lý luận” tiếp tục áp dụng.

Ông Nén kháng nghị ‘đòi sự công bằng’

Ông Nén kháng nghị ‘đòi sự công bằng’

Facebook Tran Van Dat

Việc điều tra những người gây oan sai cho ông Huỳnh Văn Nén chưa có kết quả

“Người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén hôm 8/3 vừa gửi đơn lên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đề nghị giám đốc thẩm tội hủy hoại tài sản trong bản án đối với ông.

Người sát cánh bên ông nhiều năm nay, ông Nguyễn Thận, nói quyết định kháng nghị của ông Nén là để ‘đòi lại sự công bằng’.

Đây là một phần bản án đã tuyên cho ông Nén hồi năm 2000. Theo bản án đó ông bị mức chung thân cho tội giết người (bà Lê Thị Bông), 3 năm tù tội cướp tài sản của công dân và 2 năm tù tội hủy hoại tài sản công dân. Tổng hợp hình phạt là mức án chung thân.

Trước đó ông cũng bị kết án oan trong một vụ giết người xảy ra năm 1993.

Hôm 3/12/2015, cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận đã công khai xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén, ‘người tù thế kỷ’ bị buộc tội, giam oan hơn 17 năm trong hai vụ án giết người.

Hôm 9/3, trao đổi với BBC qua điện thoại từ TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thận, cựu chủ tịch xã Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận, cho hay: “Thực chất của việc kháng nghị đến Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lần này của ông Nén là muốn đòi lại sự công bằng”.

“Thực tế thì hai năm tù tội hủy hoại tài sản công dân thì ông ấy đã thụ án trong số 17 năm tù rồi. Tôi cho là ông ấy muốn làm rõ rằng mình không phạm phải các tội, giết người, cướp tài sản và hủy hoại tài sản công dân như Tòa Bình Thuận đã tuyên”, ông Thận nói thêm.

Cựu chủ tịch xã cũng cho hay: “Cuộc sống của ông Nén đang dần trở lại bình thường. Các luật sư vẫn đang trợ giúp ông ấy về thủ tục để nhận tiền bồi thường nhưng vẫn chưa rõ thời điểm”.

Ông Thận cũng xác nhận đến thời điểm này, những người gây oan sai trong hai vụ án giết người như điều tra viên Cao Văn Hùng không hề liên lạc với ông Nén để gửi lời xin lỗi.

‘Điều chắc chắn phải làm’

Trước đó, báo trong nước đưa tin trong cuộc gặp với Cục Điều tra Hình sự, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao hôm 3/3, ông Nén “giữ nguyên quan điểm đề nghị xử lý 14 cán bộ công an, Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát tỉnh Bình Thuận thiếu trách nhiệm gây oan sai cho ông cũng như cho người nhà của ông.

Hôm 4/3, luật sư Trần Vũ Hải nói với BBC rằng việc điều tra vụ làm oan Huỳnh Văn Nén “diễn ra hơi chậm, do vướng thời điểm Tết Bính Thân”.

“Việc điều tra, làm rõ tội danh của những người gây oan sai cho ông Nén và người nhà là điều chắc chắn phải làm. Bộ Tư pháp cũng thông báo với tôi là họ đang làm rõ lý lịch ông Cao Văn Hùng có thích hợp để tiếp tục hành nghề luật sư hay không”, luật sư nói.

Ông Hải nhấn mạnh: “Trong số 14 người mà ông Nén tố cáo, ông Hùng cùng với ông Đinh Kỳ Đáp, cựu Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Thuận là hai người đáng bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước nhất, vì họ xử lý cả hai vụ án này”.

Luật sư cũng cho biết thêm là ông Huỳnh Văn Nén đang chữa bệnh và sửa sang nhà cửa, rất cần khoản tiền bồi thường nhưng “việc này muốn nhanh cũng khó, vì những tranh cãi quanh mức bồi thường. Ngay vụ người tù oan Nguyễn Thanh Chấn cũng phải đợi hai năm mới nhận được tiền bồi thường”.

Suy ngẫm về lá thư của một bạn sinh viên quê Sầm Sơn trên Facebook

 Suy ngẫm về lá thư của một bạn sinh viên quê Sầm Sơn trên Facebook

Bauxite Việt Nam

Giải đất hình chữ S nằm về một góc Đông Nam châu Á này bao gồm núi sông, trời biển, rừng suối, gò đồi, đồng ruộng, đầm lầy… tất tật đều là tài sản chung của cả cộng đồng dân lộc Việt từ thuở khai thiên lập địa đến nay. Cả một dân tộc đã chung lưng đấu cật cùng nhau, ngày này qua tháng khác đổ không biết bao nhiêu máu, mồ hôi, góp tay xây dựng, gìn giữ, mở mang suốt mấy nghìn năm mới tạo nên được. Vì thế, ngay dưới thời phong kiến, tuy vua chúa có quyền ban cấp đất đai cho quan lại bề tôi có công nhưng mỗi khi làm việc động chạm đến quyền lợi tối thiêng liêng của dân, triều đại nào cũng nhìn vào lòng dân mà cân nhắc rất kỹ lưỡng. Có loại đất phong cấp trên giấy tờ hàng nghìn mẫu mà không hề có trên thực địa và có loại đất gọi là thực phong, thực cấp thì chỉ giới hạn ở một diện tích rất nhỏ, nhiều lắm là một làng. Và Triều đình cũng chỉ ban phong để các công thần hàng năm thu thêm một khoản ngoài thuế của nhà nước, chứ không phải tự tiện muốn chiếm lấy đất của hộ dân nào thì chiếm, hoặc tự tiện giao đất của gia đình này cho gia đình kia làm cho dân chúng nhiều người trắng tay, lâm vào tình cảnh lầm than đói khát. Nếu cả một vùng không còn yên sống, đi ngược với chính sách yên dân thì sẽ mắc tội lớn với Triều đình. Nghĩa là dù vai trò của ông vua trong chế độ phong kiến được coi là là tối thượng (Thiên tử con trời) thì vẫn không vua chúa nào dám liều lĩnh làm càn đến mức trắng trợn cướp đất của dân.

Dưới thời Pháp đô hộ cũng vậy. Tuy là kẻ xâm lược đến chiếm nước ta, các nhà tư bản Pháp muốn mở đồn điền đều phải có đơn xin Nhà nước Bảo hộ cho phép mình trưng khẩn. Mà trưng khẩn ở đây là khai khẩn đất hoang vô chủ, phần lớn là đất cao nguyên, đồi núi, để biến thành đất trồng trọt, sau một số năm sẽ đóng thuế cho Nhà nước theo luật định. Còn đất đai của dân chúng đang sinh sống và nhiều đời truyền nối cho nhau làm phương tiện sinh sống, nhằm bảo tồn sự sống của gia đình, họ mạc, làng xóm mình, thì ngoại trừ một vài trường hợp hãn hữu, những nhà tư bản Pháp đâu có dại nhảy vào tranh cướp. Ngay pháp luật của chế độ thực dân cũng không cho phép họ cái quyền phi lý kia.

Chỉ có dưới chế độ XHCN Việt Nam ngày nay mới nảy sinh ra một thứ luật, đúng hơn là một thứ quyền, rất lạ: quan chức nhà nước đứng đầu cả nước hay đứng đầu một vùng, mỗi khi nhìn thấy một mảnh đất, một bãi biển, một ngọn núi hay một đầm hồ nào đấy có vẻ ngon mắt, có khả năng sinh lời khi chuyển đổi mục đích kinh doanh, thì họ liền ngỏ lời với “đối tác” – có thể là các doanh nghiệp, nhóm lợi ích, thậm chí là đối tác nước ngoài – và nếu được đối tác tán đồng mua với giá cao để biến thành đất thổ cư, làm khu vui chơi giải trí, làng sinh thái hoặc khu chung cư…, là y như các vị quan lớn nhà ta tự cho mình cái quyền cắm cây cọc gọi là “quy hoạch” vào đấy rồi định một giá rẻ mạt bắt dân phải bán, cũng định ra một thời hạn để xuống lệnh đuổi dân đi. Nếu dân không chịu bán, không chịu đi thì lập tức cho đội quân chức năng – trong đó có cả tầng lớp lưu manh đầu gấu do chính quyền trực tiếp chiêu mộ – đến cưỡng chế bằng đủ mọi cách; cách thường dùng nhất là trấn áp, phá tan nhà cửa ruộng vườn trồng trọt của dân. Rất nhiều người dân tay lấm chân bùn đang yên đang lành bỗng nhiên một sớm tỉnh dậy thấy mình mất đi tất cả. Mất trắng. Họ trở thành dân oan, phải kéo nhau đội đơn đi kêu cứu hết nơi này nơi nọ suốt năm này tháng khác. Có người quá bức xúc kéo đến trụ sở chính quyền phản đối thì bị kẻ cầm luật trong tay “khởi tố”, như trường hợp người dân Sầm Sơn mất bãi biển hành nghề ngư nghiệp cha truyền con nối hàng nghìn năm, rộ lên từ hơn một tuần nay. Tình cảnh của họ đúng là tình cảnh lớp người tha hóa, nhưng tha hóa không phải do quy luật đào thải tự nhiên – mà do chính kẻ cầm cân nẩy mực đẩy họ đến bước đường cùng.

Mà đâu phải chỉ có nông thôn. Một thành phố như Hà Nội, có bao nhiêu chợ cổ truyền như chợ Hôm, chợ Hàng Da, chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Cửa Nam… cho đến hết thời Pháp vẫn để dân yên ổn buôn bán làm ăn, bởi họ biết người Việt vốn còn rất nghèo, tầng lớp tiểu thương đông đảo thường chỉ có một gánh hàng cỏn con ngày ngày tất tả mua từ ngoại ô đem vào phố bán, các loại chợ đó là nơi “hạ gánh” thuận tiện nhất của họ. Mà người mua cũng vậy, với túi tiền vốn không xông xênh gì mấy, các bà phụ nữ nội trợ thường mỗi sáng chỉ đạp xe vào chợ một chốc là ra về với mớ rau, con cá đèo trên giỏ là xong. Ấy thế mà người đứng đầu nhà nước hoặc đứng đầu Kinh đô đã để mắt đến không gian của những chợ cổ truyền nọ từ lâu. Họ chỉ cần ra một cái lệnh giải thể các chợ đó để xây “trung tâm thương mại”, thế là một sớm những chị tiểu thương bừng mắt dậy bỗng không còn đất ngồi bán hàng nữa. Họ phải long tong chạy xuôi chạy ngược khắp các phố phường Hà thành. Đâu có thể ngả gánh ra bán là họ ngả gánh ra. Rồi họ tụ tập nhau lại (phải tụ tập nhau đông đúc thì mới bán được hàng, tâm lý người bán và người mua xưa nay là thế). Và các chợ cóc cứ thế hình thành, chiếm hết vỉa hè của nhiều phố xá, làm cho Hà Nội ngày càng nhếch nhác bẩn thỉu hơn, trong khi diện tích các chợ cũ bán xong, tiền vào túi lãnh đạo rồi lại rơi vãi vào đâu không biết, nhưng các trung tâm thương mại hoành tráng xây lên thì chẳng ma nào thèm vào. Không có tiền để mua một chỗ ngồi bán đã đành, ngay người mua tìm cho được chỗ gửi xe để leo lên các tầng chỉ mua một mớ rau, vài ký gạo là điều quá chừng cực nhọc. Không ít trung tâm thương mại ở Hà Nội trở nên vắng teo. Ấy thế mà chẳng một ai trong các thế hệ ngồi trên đầu dân chịu rút kinh nghiệm, chợ này đuổi dân xong để bán cho nhà doanh nghiệp rồi chợ khác lại đuổi dân tiếp, càng lâu về sau thì đội quân lang thang trong hàng ngũ tiểu thương ngày một thêm đông đảo. Họ chưa đến nỗi là dân oan nhưng cũng mấp mé loại người một sớm phải đứng đường, lúc này lúc khác bị công an bố ráp giật hết các gánh hàng tấm quẳng lên xe đem về đồn…

Thử hỏi, cái việc làm hoàn toàn trái ngược với truyền thống nói trên đây, vừa thất nhân tâm, vừa đẩy dân chúng đến chỗ hết đường sinh sống, có thể gọi tên đúng là gì nhỉ? Xã hội chủ nghĩa chăng? Lấy dân làm gốc chăng? Không được. Đối với những người còn chút lương tri giải thích bằng những lời như thế là không đứng đắn. Đành phải tìm một từ chính xác để gọi cho đúng bản chất, dù rằng lâu nay chúng ta vẫn cố tránh, bởi không phải một ai cũng muốn đóng vai chú bé nói về vị Hoàng đế cởi truồng. Nhưng hiện tại đất nước đang hào hứng với khí thế “dân chủ đến thế là cùng” kia mà. Vậy thì đành xin thưa, chỉ có hai từ đơn giản thôi, hai từ hoàn toàn thích hợp với hành động không tiền khoáng hậu của các vị – ĂN CƯỚP. Và nếu nói như người xưa thì có thể thêm ĂN CƯỚP CÓ MÔN BÀI.

Cực chẳng đã phải gọi tên những việc làm vốn bị nhân loại ghét bỏ này, thực lòng chúng tôi không lấy gì làm thích thú. Nhưng nếu không nói thì chính mình lại tự đánh mất nhân cách, tự mình rơi vào tình thế nuốt nhục. Nói ra, dẫu có thể mang tiếng là lăng mạ những ai ai đó, thì đối với người còn tỉnh táo, mà chúng tôi tin rằng còn, sau khi đã trải qua cú sốc, hẳn sẽ có lúc giật mình về món “thuốc đắng” gửi gắm trong mấy lời thô thiển này. Và chỉ cần giật mình thôi cũng đủ là sự cảnh báo với mình để quyết tâm tìm cách “dã tật”, khi mà khuyết tật đang lồ lộ ra khắp nơi mọi chốn.

BVN

Thư bạn đọc

FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

Kính gửi: Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cùng các công nhân viên cán bộ trong hệ thống chính quyền tỉnh.

Tôi là: Văn Thị Hương SN 1996
tại: Sầm Sơn-Thanh Hóa
hiện là sinh viên năm nhất Khoa Ngôn ngữ Anh Đại học Đông Đô.

Tôi gửi bức thư này đến Cổng thông tin điện tử của Tỉnh để kính mong cán ban ngành, các đồng chí lãnh đạo xem xét, giải quyết vấn đề quy hoạch bãi biển Sầm Sơn một cách sáng suốt, hợp lý, hợp tình nhất.

Tôi tin rằng, khi đã được ngồi vào các vị trí lãnh đạo ở cấp Tỉnh, hay bất kì cấp nào khác, các đồng chí đã hơn những người dân rất nhiều phương diện từ văn hóa, trình độ học vấn… cho đến công việc, địa vị xã hội. Tôi chắc rằng, các đồng chí cũng hiểu rất rõ về Sầm Sơn, bởi nó đang là mối quan tâm hàng đầu, nóng hổi và bức xúc nhiều ngày qua.

Người dân Sầm Sơn chúng tôi bao đời nay, từ cha ông cho đến thế hệ chúng tôi, tất cả đều nhờ biển mà sống, mà lớn lên, mà học hành, mà thành người. Biển cho chúng tôi cá ăn, cũng cung cấp cá cho các đồng chí và nhiều người khác. Biển cho chúng tôi được đến trường, được học hành, giúp hàng nghìn hộ chúng tôi có công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đóng góp một phần cho Ngân sách Nhà nước. Điều đó tôi không nói, các đồng chí cũng hiểu rõ.

Du lịch Sầm Sơn khá phát triển song là du lịch mùa vụ, là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương song không giải quyết hết số lượng lao động thất nghiệp trong địa bàn thị xã, không xóa đói giảm nghèo cho tất cả các hộ dân. Du lịch phát triển mà không cho ngư dân kiếm sống, các đồng chí có thấy hố sâu ngăn cách nghèo giàu ngày càng lớn?

Nhìn về hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền ở Tỉnh và địa phương Sầm Sơn, các đồng chí nghĩ gì khi mình đang ngồi ở vị trí lãnh đạo, khi đang đảm nhiệm những chức vụ công quyền? Khi mà gần đây nhất, ông Trịnh Huy Triều, nguyên là Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn đã sai phạm hàng loạt trong dự án khu nghỉ dưỡng và Sân Gofl của Tập đoàn FLC cũng như việc xây dựng các ki-ốt kinh doanh du lịch ở địa bàn thị xã đang đương chức ở một vị trí cao hơn – Bí thư Thị ủy? Thân là lãnh đạo cấp cao hơn, các đồng chí tự vấn bản thân mình như thế nào? Trong khi đó, vụ việc về giải phóng mặt bằng ở TX Sầm Sơn đã bao lần người dân có đất bị thu hồi đã gửi đơn kiến nghị đến các đồng chí?

Giờ đây, các đồng chí bất chấp lời kêu van, ý kiến của nhân dân chúng tôi, phớt lờ trước sự an toàn đến thân thể, tính mạng của chúng tôi để quy hoạch bãi biển, các đồng chí thấy thế nào? Hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, xin hỏi, các đồng chí đã thực hiện đúng mực theo Hiến pháp nước ta chưa?

Ngư nghiệp là một nét đặc trưng văn hóa của Sầm Sơn. nhìn về khía cạnh khác, hàng trăm năm nay, họ bám biển, đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ con người. Thử hỏi, khi những cơn bão đến, các đồng chí có ai sẵn sàng xắn tay áo lên, đẩy tàu bè của dân vào bờ cùng họ, có ai bất kể mưa gió, tình nguyện dứt mình trong chăm ấm nệm êm với vợ với con cùng họ đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ tính mạng, bảo vệ tài sản chưa? Hay tất cả chỉ là mím môi thực hiện chỉ đạo suông ở trên? Các đồng chí có thấy hổ thẹn với nhân dân vì không thể cùng họ những thời khắc một mất một còn như thế?

Tôi đồng ý rằng, quy hoạch và xây dựng bờ biển nó làm thay đổi căn bản bộ mặt của thị xã, song, bộ mặt của nhân dân trong thị xã sẽ như thế nào? Có chăng cũng là thay đổi, nhưng là thay đổi tương đồng với bộ mặt thị xã, hay là các tệ nạn, thất nghiệp, thất học, mù chữ?

Tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết? Thử hỏi, các đồng chí lương bổng một tháng bao nhiêu, hay các đồng chí làm những gì mà đi xe ô tô đắt tiền hạng sang, nhà tầng vài ba khu, bữa ăn hàng triệu đồng không sót? Nếu các đồng chí có cách làm ăn gì khấm khá đến thế, sao không chỉ cho dân để cùng làm giàu?

Dân chúng tôi ít học, không hiểu rõ luật pháp, song vẫn biết cái gì là nên, cái gì không được làm. Thử hỏi, các đồng chí có bao giờ quan tâm đến trình độ học thức của từng người dân, tuyên truyền và phổ biến cho họ biết về Hiến pháp và pháp luật nước ta, chủ trương, đường lối của Đảng để từ đó họ biết mà thực hiện? Lấy ví dụ thực tế trong chính bản thân các đồng chí, [nếu dân chài] không chỉ cho các đồng chí cách kéo lưới sao cho đúng, cho an toàn, các đồng chí có làm được không?

Giờ dân chúng tôi đang kêu khóc ngoài cổng trụ sở các đồng chí làm việc, người ở nhà thì bị đánh bị thương nặng, các đồng chí làm gì trước tình hình đó? Chúng tôi bầu các đồng chí lên làm lãnh đạo, không phải chỉ để các đồng chí giải quyết trên bàn giấy, trên lý thuyết mà là để các đồng chí nhìn về thực tế đời sống của người dân chúng tôi mà làm việc. Chúng tôi đánh bắt cá trên biển kiếm sống, phục vụ hàng triệu lượt khách du lịch, thế thì chúng tôi neo đậu tàu thuyền là mất mĩ quan đô thị, là sai trái sao? Như cái xe ô tô của các đồng chí đang đi, các đồng chí có muốn gửi nó ở một nơi cách xa nhà đồng chí 10km khi mà từ nhà đến trụ sở chỉ cách 1km? các đồng chí thử trưng cầu ý dân xem, hình ảnh người ngư dân kéo lưới dưới ánh bình minh đẹp hơn hay là hình ảnh một con đường nhựa trơn nhẵn?

Dọc nhiều tuyến phố tại TP Thanh Hóa, hàng nghìn người dân kêu khóc, từ người lớn đến trẻ nhỏ, người đáng tuổi cha, mẹ các đồng chí, kẻ đáng tuổi con, tuổi cháu các đồng chí, có nhà không thể về, mưa nắng dãi dầu vẫn ở đó đợi chờ sự đồng ý của các đồng chí, các đồng chí có động lòng mảy may? Tôi chắc là không đâu, bởi các đồng chí còn thực hiện cả một kế hoạch khởi tố chúng tôi vì tội “gây rối trật tự công cộng” cơ mà. Thực sự chúng tôi không thể hiểu các đồng chí nghĩ gì khi dân khóc than, nằm vạ vật dọc đường, đấu tranh, biểu tình vì cuộc sống của hàng nghìn người, ấy thế mà, các đồng chí, người ngồi nhà cao chỉ tay năm ngón, kẻ đứng quay phim lấy bằng chứng kiện dân? Các đồng chí sinh ra từ dân, hoạt động cho nhân dân, sống nhờ đồng tiền của nhân dân, các đồng chí không thấy hổ thẹn với chính mình, với nhân dân, với Đảng, với Bác, với các thế hệ cha anh đã hi sinh để cho các đồng chí cuộc sống yên bình như ngày nay sao?

Các đồng trả lời báo giới rằng là vì dân chúng tôi sao? Vì dân chúng tôi mà tính mạng của chúng tôi đang bị đe dọa, cuộc sống bình yên no đủ của chúng tôi đang đứng trước nguy cơ mất đi, là do lời nói của các đồng chí, thế là vì chúng tôi sao? Các đồng chí nói rằng đang tìm ra biện pháp tốt nhất sao? Hàng trăm người, với hàng trăm cái đầu hơn cả hàng chục nghìn cái đầu của dân đen chúng tôi mà vẫn chưa tìm được sao? Để tôi cho các đồng chí một biện pháp thiết thực nhất nhé; các đồng chí có thể quy hoạch tất cả tàu bè lại một điểm đỗ trên tổng số 3,5km bờ biển đó, xây dựng thành một bến đỗ có quy mô, tổ chức và quy định, phát triển điểm đỗ đó thành một trong những điểm tham quan của du khách, chẳng phải là vẹn cả đôi đường sao?

Tôi hy vọng rằng, các đồng chí sẽ tự vấn bản thân mình từ những việc đã qua, tôn trọng ý kiến của dân và đưa ra quyết định đúng đắn nhất.

Tôi xin cảm ơn!

[Văn Thị Hương]

Nguồn:https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=767249210042033&id=443076695792621

Nếu muốn con lớn lên là CEO không phải tử tù, các bà mẹ hãy đọc hai bức thư này…

Nếu muốn con lớn lên là CEO không phải tử tù, các bà mẹ hãy đọc hai bức thư này…

Sự khác biệt giữa hai bức thư, hay nói rõ hơn là hai cuộc đời khiến chúng ta phải suy ngẫm lại về cách giáo dục con cái. 

Người xưa vẫn thường nói “sai một ly, đi một dặm”, giáo dục con cái không đúng cách, có thể khiến cuộc đời của con trôi xa và không cách nào quay đầu lại được nữa…
Dưới đây là bức thư của tử tù viết cho mẹ:

Thưa Mẹ!

Con của mẹ ngày mai là phải ra pháp trường rồi. Con cũng không biết tại sao mình lại đi đến bước đường cùng như thế này, hiện tại con chỉ thấy mọi ký ức như đang trở về và hiển hiện trước mắt con…

Khi con được 3 tuổi, con chạy rất nhanh, vấp phải hòn đá và té ngã. Mẹ đã chạy đến và đỡ con đứng dậy. Mẹ vừa dỗ dành con không khóc vừa mắng hòn đá: “Sao mày lại làm con tao khóc, để mẹ đánh cho hòn đá một trận“. Con đang cố chịu đau để cầm nước mắt, nhưng nghe xong câu nói của mẹ, con đã khóc trong lòng mẹ rất lâu mới chịu nín. Mẹ đã cho con biết rằng, lý do con ngã là do hòn đá, nhưng con lại không hiểu rằng, mẹ chỉ muốn dỗ dành cho con không khóc nữa.

Khi con được 4 tuổi, do con muốn xem tivi nên không muốn ăn cơm tối. Mẹ đã ân cần mang cơm đến và bón cho con ăn. Mẹ đã dạy cho con biết cách tận hưởng cuộc sống, nhưng con lại không hiểu rằng, mẹ sợ con làm vãi cơm làm bẩn quần áo, rồi tự mẹ lại phải đi giặt.

Khi con được 6 tuổi, mẹ đưa con đến trung tâm mua sắm để mua quà giáng sinh, mẹ đã nói với con là chỉ được mua một thứ đồ chơi. Nhưng khi con được mua “người sắt biến hình” con lại muốn mua máy bay. Khi mẹ không đồng ý, con đã nằm xuống đất và khóc cho đến khi mẹ chịu mua cho con mới thôi. Mẹ đã cho con biết dùng chiêu này là con có thể đòi được đồ mà mình yêu thích, nhưng con không biết rằng, mẹ mua cho con, chỉ vì không muốn mất mặt chỗ đông người.

Khi con được 8 tuổi, con muốn tự mình giặt tất, mẹ đã sợ con giặt không sạch, con muốn rửa bát, mẹ đã sợ con làm vỡ, con muốn tự mình xới cơm, mẹ đã sợ con bị bỏng. Mẹ đã cho con thấy, trong cuộc sống này, hóa ra có rất nhiều khó khăn và nguy hiểm mà con không thể đối diện. Nhưng con đã không hiểu rằng, mẹ chỉ không muốn mất công thu dọn và làm các việc do con có thể sơ ý gây ra.

Khi con được 10 tuổi, mẹ đã đăng ký cho con 3 lớp phụ đạo văn hóa, và 2 lớp học năng khiếu. Khi con cảm thấy mệt mỏi đến mức không chịu nổi, mẹ đã nói: “Nếu con không chịu được khổ thì làm sao thành người tài giỏi được“. Mẹ đã cho con biết rằng, học tập là việc rất cực khổ, nhưng con không hiểu rằng, mẹ chỉ muốn con sẽ có ngày thành đạt để có thể mở mày mở mặt trước mọi người.

Khi con được 13 tuổi, con đá bóng, do sơ ý đã làm vỡ của kính của nhà hàng xóm, mẹ đã dùng tiền để bồi thường và dắt con đi xin lỗi họ. Mẹ đã cho con biết rằng, khi gây ra chuyện chỉ cần nói “xin lỗi” là xong, nhưng con đã không biết, mẹ đang oán trách nhà hàng xóm đã đòi mình bồi thường quá nhiều tiền.

Khi con được 15 tuổi, con đòi chơi đàn piano, mẹ đã vay tiền để mua cho con một chiếc đàn. Nhưng chỉ sau một tháng, con đã không còn động đến nó nữa, mẹ đã cho con thấy, hóa ra không có tiền cũng có thể tùy ý sở hữu những đồ mà mình thích. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã phải vất vả làm việc 3 năm mới trả được hết nợ.

Năm 19 tuổi, con chuẩn bị thi vào đại học, mẹ nói rằng, làm luật sư không những có nhiều tiền mà còn có địa vị trong xã hội, và nhất định muốn con học ngành luật. Mẹ đã cho con thấy rằng, chỉ cần con đi theo những gì mẹ sắp đặt là được. Nhưng con không biết rằng, mẹ chỉ muốn thông qua con để thực hiện giấc mơ mà trước đây mẹ đã không làm được.

Năm con 20 tuổi, con muốn thay điện thoại mới, với lý do có thể liên lạc với mẹ thường xuyên hơn. Mẹ đã không cần cân nhắc nhiều và chuyển ngay cho con 10 triệu đồng. Nhưng con chỉ dùng điện thoại để liên lạc với bạn gái, trong vòng 1 năm con chỉ gọi cho mẹ có mấy lần. Mẹ đã cho con thấy rằng, mẹ là một ngân hàng miễn phí mà con có thể lấy bất cứ lúc nào. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã nhiều lần chờ đợi con gọi điện để chúc mừng trong ngày sinh nhật mẹ.

Năm con 24 tuổi, sau khi con tốt nghiệp đại học, mẹ đã dùng tiền để con được vào làm tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Mẹ đã cho con thấy, 4 năm đại học chơi bời, khi ra trường vẫn có thể có được một công việc ổn định. Nhưng con đã không biết rằng, vì con mà mẹ đã phải đi cầu cạnh biết bao người.

Năm con 27 tuổi, quan hệ của con với các bạn gái đều không được lâu dài, các cô gái đều nói con là người không có trách nhiệm, vẫn là một cậu bé chưa trưởng thành. Mẹ đã nói rằng, do duyên chưa đến, các cô gái đó đều không xứng với con. Mẹ đã cho con thấy rằng, những cô gái không lấy được con là do họ kém phúc phận. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã vì con mà đi rất nhiều nơi để dò hỏi cho con người ưng ý.

Năm con 32 tuổi, do con đánh bạc thua, và nợ rất nhiều tiền, mẹ đã rất tức giận đến mức sinh bệnh, nhưng cuối cùng thì mẹ cũng trả hết nợ cho con. Mẹ đã cho con thấy, cho dù con có gây ra tội tình gì đi nữa, thì mẹ cũng đều giúp con gánh vác trách nhiệm. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã vì con mà tiêu hết đi khoản tiền mẹ dành dụm cho tuổi già của mình.

Năm con 35 tuổi, khi con biết mẹ đã không còn đồng nào trong người, con đã đi cướp của giết người. Khi con nghe thấy họ tuyên án tử hình, mẹ đã khóc và trách ông trời không công bằng, vất vả cả đời vì con, vậy mà cuối cùng lại ra nông nỗi này. Cuối cùng con đã biết, mẹ đã vì yêu con mà hết lần này đến lần khác cướp đoạt đi cơ hội trưởng thành của con, hết lần này đến lần khác bóp chết đi năng lực sinh tồn của con, lấy đi trách nhiệm đối với cuộc đời của chính con. Hóa ra cho đến lúc cận kề cái chết, con vẫn chưa trưởng thành. Mẹ đã dùng phương pháp sai lầm và vất vả cả đời vì con cái, để đổi lấy sự đau khổ cho cả 2 thế hệ. Hóa ra giáo dục con cái không có cơ hội để lặp lại lần thứ 2, hóa ra, mẹ đã tự tay đưa con lên đoạn đầu đài… Mẹ hãy bảo trọng! Ngày mai con phải đi rồi. Hy vọng ở một thế giới khác, con có thể học được cách có trách nhiệm với chính mình, tự mình tìm được hạnh phúc cho chính mình…

TU TU VA CEO

 Dưới đây là bức thư, một CEO viết cho mẹ:

Thưa Mẹ!

Con của mẹ ngày mai sẽ khởi công xây dựng một công xưởng mới. Để con có được thành công như ngày hôm nay, đều là do công dạy dỗ của mẹ. Bỗng nhiên mọi ký ức như đang trở về hiển hiện trước mắt con…

Khi con được 3 tuổi, con chạy rất nhanh, vấp phải hòn đá và té ngã. Mẹ đã để con tự đứng dậy và nói: “Lần sau cần phải cẩn thận hơn“. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước hành động của mình.

Khi con được 4 tuổi, do con muốn xem tivi nên không muốn ăn cơm tối. Mẹ đã nói, nếu không ăn thì phải chịu đói cho đến ngày hôm sau, con đã đồng ý, và nghĩ rằng mẹ chỉ nói vậy thôi. Nào ngờ, đến buổi tối con lục tìm đồ ăn… ngay cả một hạt cơm cũng không còn trong nồi. Mẹ đã dạy cho con biết, phải tự chịu trách nhiệm với sự bướng bỉnh của mình.

Khi con được 6 tuổi, mẹ đưa con đến trung tâm mua sắm để mua quà giáng sinh, mẹ đã nói với con chỉ được mua một thứ đồ chơi. Nhưng khi con được mua “người sắt biến hình” con lại muốn mua máy bay. Khi mẹ không đồng ý, con đã nằm xuống đất và khóc, nào ngờ mẹ quay lưng bước đi để mặc con ở đó. Khi đó con chỉ biết đứng dậy, vừa lau nước mắt vừa chạy theo mẹ. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước sự lựa chọn của bản thân.

Khi con được 8 tuổi, con muốn tự mình giặt tất, mẹ đã dạy con làm thế nào để giặt cho sạch, con muốn rửa bát, mẹ đã dạy con phải cẩn thận để bát không bị vỡ, con muốn tự mình xới cơm, mẹ đã dạy con xới cơm cẩn thận để không bị bỏng. Mẹ đã dạy cho con biết phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình.

Khi con được 10 tuổi, mẹ thấy các buổi học thêm của con kín mít, mẹ nói rằng : “Đến lớp hãy cố gắng học, khi nghỉ hãy chơi cho thỏa thích, nếu còn thời gian thì đọc thêm sách vở, thì con sẽ không sợ thua kém ai cả“. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước sở thích của mình.

Khi con được 13 tuổi, con đá bóng, do sơ ý đã làm vỡ của kính của nhà hàng xóm. Mẹ đã đưa con đến cửa hàng để mua kính, sơn và đinh, sau đó mẹ đã bảo con giúp mẹ cùng lắp lại cửa kính cho họ. Sau đó còn trừ tiền tiêu vặt của con vào tháng sau. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước những sai lầm của bản thân.

Khi con được 15 tuổi, con đòi chơi đàn piano, mẹ đã mua cho con kèn ác-mô-ni-ca. Mẹ nói với con rằng: “Thổi được kèn ác-mô-ni-ca đi đã rồi hãy nói đến chuyện mua đàn piano“. Con đã thổi kèn ác-mô-ni-ca cho đến bây giờ, còn nguyện vọng muốn chơi đàn piano, con đã quên từ lúc nào không biết. Mẹ đã dạy cho con biết phải kiên trì và có trách nhiệm với chính kiến của mình. Năm con 19 tuổi, con chuẩn bị thi vào đại học, mẹ đã giúp cùng con phân tích những chuyên nghành mà con yêu thích, và để cho con tự quyết định chuyên nghành mà mình muốn theo đuổi. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm cho tương lai của bản thân.

Năm con 20 tuổi, con muốn thay điện thoại mới, mẹ nói rằng điện thoại cũ chưa hỏng thì không được đổi. Nếu như con nhất định muốn đổi thì tự đi làm ngoài giờ học lấy tiền mà tự mua. Khi con kiếm đủ tiền để mua điện thoại mới nhờ đi dạy thêm, cái cảm giác vui sướng khi thành công đó vượt xa hơn hẳn giá trị của một chiếc điện thoại mới.

Năm con 24 tuổi, sau khi con tốt nghiệp đại học con đã muốn tự gây dựng sự nghiệp. Mẹ đã khuyên con không nên nóng vội, mà hãy bắt đầu làm những việc mà con yêu thích, khi có kinh nghiệm rồi hãy tính. Hai năm sau, con quyết định mở công ty, mẹ nói, nếu như con có thể chấp nhận một kết quả tồi tệ nhất, thì hãy mạnh dạn và đặt tâm vào mà làm. Mẹ đã cho con vay 300 triệu đồng, và yêu cầu con 4 năm sau phải trả. Con đã vỗ ngực và nói, con không những trả tiền cho mẹ, mà còn tặng mẹ một căn hộ nữa. Mẹ đã dạy con biết có trách nhiệm với sự nghiệp của chính mình.

Năm con 27 tuổi, con đã đưa một cô gái thông minh và xinh đẹp về nhà, đó là lần đầu tiên mẹ khen ngợi con trước mặt cô ấy. Mẹ còn nói, chuyện vợ chồng là tự con quyết định, chỉ cần chúng con thành tâm thành ý thì mẹ đã rất hạnh phúc rồi. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự có trách nhiệm với hạnh phúc của bản thân.

Năm con 32 tuổi, con đã đưa chìa khóa của một căn hộ mà con mua để tặng mẹ, khi tay mẹ cầm chìa khóa và lập tức quay lưng ra sau. Nhìn thấy đôi vai mẹ khẽ rung rung, con biết rằng mắt mẹ đang nhòa đi vì hạnh phúc. Mẹ đã dạy cho còn biết phải có trách nhiệm với lời hứa của mình.

Năm con 35 tuổi, công ty của con không ngừng mở rộng, và phải xây dựng nhà máy mới, những người thường trách cứ mẹ nhẫn tâm, nay đã không còn gì để nói. Con vẫn thường dạy cho con của con biết phải có trách nhiệm với bản thân mình, giống như mẹ đã từng dạy con khi xưa. Con hy vọng rằng chúng sẽ làm được những điều còn to lớn hơn nữa.

Con yêu của mẹ!

Theo NTDTV

Luồng gió mới có lay động bức tường công lý?

Luồng gió mới có lay động bức tường công lý?

Xuân Dương

(GDVN) – Tại sao bắt giam người dân vô tội thì rất nhanh, bắt giam cán bộ có tội lại rất chậm?

“Người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén bị bắt vào tháng 5/1998, ngày 28/11/2015, cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận trao quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Nén, chấm dứt 17 năm 5 tháng ngồi tù oan của ông.

Huỳnh Văn Nén là người duy nhất tại Việt Nam 2 lần bị kết án oan trong hai vụ án giết người.

Ngày 18/1/2016 Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã có văn bản xác nhận thụ lý đơn khiếu nại tố cáo của ông Nén.

Ngày 3/3/2016, ông Nén đó có buổi làm việc với cơ quan chức năng bổ sung tố cáo 14 người liên quan đến hai vụ án oan mà ông là nạn nhân.

Trong “Đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự – Đơn tố giác tội phạm” gửi Cục Điều tra hình sự Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nén viết:

Những người này đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, sử dụng những biện pháp bất minh để buộc tội và kết án tôi và gia đình tôi.

Họ đã dựa trên những tài liệu lời khai giả mạo, gian dối hoặc có được từ việc bức cung nhục hình đối với tôi và những người thân trong gia đình tôi”[1].

Có những câu hỏi khiến bất kỳ người có lương tri nào cũng phải đặt ra là tại sao các cơ quan tố tụng hình sự không tự khởi tố điều tra những kẻ đã gây nên oan sai cho người vô tội mà phải chờ tố cáo, vì sao khi đã có đơn tố cáo mà sự việc vẫn chưa có kết luận cụ thể.

Điều tra những kẻ cố ý bỏ tù công dân vô tội trong hai vụ án oan Huỳnh Văn Nén có khó không?

Câu trả lời là không hề khó bởi những người này có họ tên, địa chỉ, chức vụ rõ ràng, họ đang sống tại Việt Nam, thậm chí một số trong đó đang đảm nhận những chức vụ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Thu thập chứng cứ để chứng minh hành động tội phạm của những người đó có khó không?

Câu trả lời là quá dễ vì ông Huỳnh Văn Nén đã được minh oan, đã được xin lỗi thì đương nhiên những kẻ cố tình đưa ông vào vòng lao lý phải có tội, họ đã vi phạm pháp luật một cách hết sức nghiêm trọng.

Một khi điều tra không khó, thu thập chứng cứ không khó thì vì sao vẫn còn phải chờ? Có gì uẩn khúc trong việc này? Tại sao bắt giam người dân vô tội thì rất nhanh, bắt giam cán bộ có tội lại rất chậm?

Trong một phiên tòa, tù nhân Huỳnh Văn Nén đã cởi áo quay lưng về phía Hội đồng xét xử để chỉ những vết sẹo do ông bị đánh trong tù.

Những con người đại diện cho pháp luật trong phiên tòa đó phải chăng có khối óc nhưng thiếu lý trí, có trái tim nhưng ít xúc động.

clip_image001
Ông Huỳnh Văn Nén cởi áo, chỉ những vết sẹo mà ông nói là do bị đánh khi ở trong tù. (Ảnh: Laodong.com.vn)

Nói theo ngôn ngữ đời thường, đó là những con người vô cảm thực sự nhưng lại giả câm, giả điếc, giả mù trước nỗi đau đồng loại.

Cùng với vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), Vũ Ngọc Dương (Hà Nội),… Công lý không phải chỉ một lần bị bịt mắt.

Liệu rồi đây Công lý có một lần nữa bị bịt mắt khi xét xử tội trạng của những kẻ phạm tội hiện vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật?

Liệu vụ án Huỳnh Văn Nén có lặp lại với vụ án Nguyễn Thị Bạch Tuyết mà công luận đã nhiều lần lên tiếng?

Các bài báo với những chứng cứ cụ thể cho thấy cơ quan tố tụng đã rất “dễ dãi” khi ra lệnh bắt giam công dân, thời hạn tam giam kéo dài đã hơn 800 ngày.

Tòa án nhiều lần trả hồ sơ vì chưa đủ chứng cứ buộc tội nhưng công dân vẫn bị giam vì Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh vẫn “cố thủ”, vẫn “kiên quyết” buộc tội?

Thậm chí ngay cả Viện trưởng VKSTC cũng đã chỉ ra “hàng loạt những điểm chưa được làm rõ” nhưng VKS TP HCM vẫn cứ phớt lờ, vẫn buộc tội bằng những căn cứ đã bị bác bỏ…

Hơn 800 ngày đưa đẩy giữa tòa án và điều tra, kiểm sát mà chưa thể kết luận, chưa thể xét xử, luật pháp không nghiêm hay tâm đức của người cầm cân nảy mực có vấn đề?

Liệu có chuyện có ai đó cố tình bẻ cong công lý, đứng trên pháp luật?

Chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định bị cáo Nguyễn Thị Bạch Tuyết có tội hay vô tội, vì sao Tòa án nhân dân TP HCM không dám xét xử dựa vào những gì mà bên Điều tra và Kiểm sát cung cấp, sợ oan sai cho công dân, sợ trách nhiệm hay sợ “nhóm lợi ích”?

Không cần hiểu biết nhiều về pháp luật cũng có thể thấy, một khi buộc phải thả người bị bắt giam oan thì tiếp theo đó là phải xin lỗi, phải đền bù oan sai… và đương nhiên uy tín, địa vị của cá nhân, tổ chức gây oan sai sẽ bị ảnh hưởng. Có phải vì thế nên người ta sẵn sàng vứt bỏ lương tâm, trách nhiệm để bảo vệ bản thân và “nhóm thân hữu” của mình?

Trở lại vụ án Huỳnh Văn Nén, có hay không sự tác động nào đó để “câu giờ” dựa vào quy định tại điều 27 Luật Hình sự 2015 “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”, theo đó:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” là: a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện”.

Những người tham gia tố tụng vụ ông Nén đã vi phạm điều 10 Bộ Luật Hình sự 2015 “Cố ý phạm tội” bởi vì:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”.

Vấn đề là hành vi phạm tội của họ thuộc loại tội phạm nào?

Nếu xác định là “tội phạm rất nghiêm trọng” thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 15 năm và đương nhiên sau hơn 17 năm họ sẽ được miễn truy cứu.

Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 4 điều 9 Bộ Luật hình sự 2015 thì: “Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Tội trạng những người gây ra cho ông Nén đã khiến dư luận xã hội phẫn nộ, khiến ngân sách phải bồi thường một khoản tiền lớn, khiến công dân bị kết án tù chung thân và quan trọng hơn là đã khiến người dân mất niềm tin vào hệ thống tư pháp quốc gia, tội đó  phải thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng nghĩa là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 20 năm.

Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 5/3/2016 đưa tin: “Ngày 4/3, nguồn tin riêng cho biết TAND tỉnh Bình Thuận vừa có cuộc họp kiểm điểm đối với hai thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân trong HĐXX sơ thẩm xử vụ hủy hoại tài sản, giết người, cướp tài sản đối với ông Huỳnh Văn Nén vào ngày 31/8/2000 (vụ bà Lê Thị Bông bị sát hại).

TAND tỉnh Bình Thuận đã thống nhất áp dụng hình thức phê bình, rút kinh nghiệm đối với HĐXX sơ thẩm kết án oan ông Nén và gửi văn bản về TAND Tối cao để báo cáo”[2].

Phê bình, rút kinh nghiệm với những người xử án (Hội đồng xét xử) là chuyện riêng của Tòa án nhân dân Bình Thuận.

Hình thức “phê bình, rút kinh nghiệm” vốn là “truyền thống” tồn tại trong các cơ quan công quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội từ xưa đến nay đã góp phần vào việc “động viên, cổ vũ” một bộ phận không nhỏ người có trách nhiệm “yên tâm công tác”.

Chỉ có điều với người dân như Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén,… thì ai cho họ quyền được tự phê bình, rút kinh nghiệm hay cứ yên tâm ngồi tù?

Sau Tòa án, liệu Cơ quan điều tra và Kiểm sát có họp, có thống nhất áp dụng hình thức phê bình, rút kinh nghiệm như Tòa án với các đối tượng liên quan đến vụ án?

Hình như luồng gió mới từ chủ trương Đổi mới sau Đại hội Đảng 12 vẫn còn một quãng đường khá dài để thổi tới bức tường công lý?

Hy vọng những người chịu trách nhiệm với lá đơn tố cáo của ông Nén sẽ sớm có câu trả lời khách quan, trung thực, thượng tôn pháp luật với ông Nén và trước công luận.

X. D.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://laodong.com.vn/su…/danh-sach-den-cua-huynh-van-nen-524633.bld

[2] http://vov.vn/vu-an/hdxx-lam-oan-ong-huynh-van-nen-chi-bi-phe-binh-rut-kinh-nghiem-485739.vov

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Luong-gio-moi-co-lay-dong-buc-tuong-cong-ly-post166187.gd

Xã hội dân chủ và bầu cử

Xã hội dân chủ và bầu cử

Kính Hòa, phóng viên RFA

000_Hkg10118130

Cư dân địa phương và khách du lịch nước ngoài tại một quán ăn vỉa hè khu phố cổ Hà Nội ngày 13 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Sau đây là phần thời gian dành cho Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện. Phần trích lời trực tiếp của các blogger được thực hiện qua giọng đọc của các anh chị em ban Việt ngữ đài Á châu tự do.

Tập dân chủ

Du lịch thì có liên quan gì đến một xã hội dân chủ?

Nhà văn Phạm Thị Hoài cho rằng những tệ hại của nền du lịch Việt Nam hiện nay không nằm ngoài sự tệ hại của một xã hội Việt Nam:

Tôi không thấy nạn lừa gạt chặt chém du khách ở Việt Nam là cái gì quá khác thường. Người Việt lừa gạt chặt chém mọi lúc mọi nơi và trong mọi lĩnh vực, cớ sao ngành du lịch phải làm một ngoại lệ? Chính quyền thì tham nhũng và kém hiệu quả, dân chúng thì lầm than và mông muội, luật pháp thì bát nháo, luân lý thì chao đảo, văn hóa thì nhộn nhạo, ngôn ngữ thì thô bỉ phũ phàng, con người thì hành hạ nhau và là nạn nhân lý tưởng của nhau, thời của nước đục thả câu, một đất nước như thế ắt phải có một ngành du lịch như thế.

Nhà văn cho rằng người Việt Nam cũng như bao dân tộc khác, cũng mơ ước làm giàu, nhưng người Việt lại đang ở trong một giai đoạn, một hoàn cảnh đặc biệt:

Song giấc mơ Việt hoang đường hơn những giấc mơ ở nơi khác. Xuất phát từ một số không tròn hơn số không thông thường, hành trình từ không đến có của chúng ta nhuộm màu siêu thực. Là người đến muộn, chúng ta phải chạy nước rút. Phải cuống cuồng mọc cho bằng hết những ung nhọt của du lịch đại chúng khắp thế giới, cho đến khi cơ thể không còn chỗ nào lành. Như chúng ta đã học khóa cấp tốc về chủ nghĩa tư bản, để sống bản tóm tắt kinh dị của nó cho đến khi có lịch lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không muốn, không thể và không biết đợi, trong khi tất cả những gì tốt lành bền vững đều cần rất nhiều thời gian.

“ Dân chủ có thể đến với dân tộc ta chậm, nhưng chúng ta phải đi đúng đường, sợ nhất là đi lạc đường, rồi lạc lõng trước loài người.
– Nhà báo Lê Phú Khải”

Sự chờ đợi đó được nhà báo Lê Phú Khải gọi là Tập dân chủ trong bài viết của ông trên trang Bauxite Việt Nam. Trong giai đoạn Tập dân chủ đó, trách nhiệm cần có từ hai phía, những người cộng sản đang cầm quyền và dân chúng:

Con đường “tập dân chủ” của Việt Nam là con đường đúng đắn nhất. Tốt đẹp và vinh quang cho cả Đảng cầm quyền và dân tộc. Không súng đạn, xe tăng, đại bác, quân đội, công an nào chống lại được xu thế dân chủ của thời đại, của lịch sử. Dân chủ có thể đến với dân tộc ta chậm, nhưng chúng ta phải đi đúng đường, sợ nhất là đi lạc đường, rồi lạc lõng trước loài người.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, thì trong tình trạng nước Việt Nam ngày nay, những áp lực từ phía dưới lên, từ phía dân chúng là quan trọng nhất trong thời gian Tập dân chủ đó:

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất tác động tới sự chuyển động của cơ chế chính trị để dẫn tới các cải cách căn bản, đó là : áp lực từ bên dưới của dân chúng, áp lực đòi cải cách của xã hội. Từ « xã hội » ở đây có nghĩa là : các cá nhân trong xã hội, nghĩa là tất cả mọi người. Nếu thiếu áp lực này, hoặc nếu áp lực này không đủ mạnh, thì bộ máy lãnh đạo hiện tại (vốn đã quá trì trệ, quá ì ạch, quá tham nhũng, với hệ hình tư duy lạc hậu, đồng thời lại quá tự mãn về những thắng lợi trong quá khứ, mất cảnh giác, thiếu khả năng đối diện với thực tế, với sự thật) sẽ không có đủ động lực để cải cách. Nếu mỗi người (cũng có nghĩa là mọi người) còn có lý do để chấp nhận cơ chế chính trị này, thì nó vẫn sẽ tồn tại, và đảng sẽ không có nhu cầu cải cách.

Ứng cử và bầu cử

Chuyện Tập dân chủ từ phía người dân đang rất sôi động trong mùa xuân năm nay với phong trào tự ứng cử vào Quốc hội mới.

Các ứng viên độc lập không thuộc đảng cộng sản đang đứng trước nhiều thách thức rất lớn từ phía những người cầm quyền. Câu chuyện nổi bật nhất trong tuần là một nghệ sĩ hài tự ứng cử vào Quốc hội bị một tờ báo của nhà nước chỉ trích, và nhân đó chỉ trích tất cả những người dám ra tự ứng cử mà không cần sự giới thiệu của đảng cộng sản.

Trong khi đó thì trong một lần trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó ban tuyên giáo trung ương đảng cộng sản cho rằng việc các công dân ra ứng cử độc lập là một điều tốt.

Phân tích những chỉ trích đối với người nghệ sĩ hài, blogger Nguyễn Anh Tuấn cho rằng điều đó không phải đến từ một chủ trương tấn công người nghệ sĩ, mà đến từ những nhà báo cơ hội đã quen với không khí không lành mạnh của một xã hội toàn trị, và anh kêu gọi đảng cộng sản nên đưa những kẻ cơ hội này ra ánh sáng:

“ Họ muốn tạo ra một sân chơi tranh luận tại Quốc Hội với hy vọng thức tỉnh những cái đầu đã bị mê ngủ bấy lâu nay với cái tự sướng mà không dám nhìn rõ sự thật của đất nước này.
– Tác giả Vũ Hoàng Anh”

Ở những nước mà vai trò giáo điều ý thức hệ vẫn còn nặng nề như Việt Nam, nhưng kẻ hồng vệ binh nhất, bảo thủ cùng cực nhất lại chính là những kẻ CƠ HỘI NHẤT, vì lẽ ở vị trí bảo thủ đó, họ luôn luôn được an toàn và mặc sức phán xét bất kì động thái hoặc con người đổi mới nào bằng những cái mũ “thiếu kiên định”, “thiếu bản lĩnh”, “chệch hướng”…

Bởi vậy trong tư cách một đảng chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam một khi đã đưa ra thông điệp “đổi mới chính trị gắn liền với đổi mới kinh tế” thì cần chỉ ra kẻ thù lớn nhất của đảng này không ai khác là những thành phần bảo thủ, giáo điều, lớn tiếng về ý thức hệ, hay nói chuyện lý luận để phán xét người đổi mới. Đây là những kẻ cơ hội nhất trong những kẻ cơ hội. Không làm được điều này thì mọi người sẽ nghi ngờ thông điệp đổi mới của đảng.

Nhận định về hiện trạng của bầu cử hiện nay tại Việt Nam, một tác giả mang bút danh Café Ban Mê viết trên trang blog Ba Sàm rằng nó không mang tính chính danh, một sự không chính danh đến từ bản thân nền chính trị Việt Nam,

000_Hkg10250097-400

Các đại biểu giơ thẻ hội viên trong lễ bế mạc đại hội đảng 12 tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 1 năm 2016. AFP photo

Nói đến chính trị ở Việt Nam là một sự dè dặt, sợ sệt, không chỉ ở phía người dân mà ngay cả đối với các lãnh đạo trong nội bộ Đảng, từ đó tạo nên những vùng tối, vùng cấm hoặc những vùng mờ ảo mà người dân không còn muốn quan tâm tới các hoạt động chính trị. Dẫn đến quy trình, thủ tục bầu cử ra sao không được sự giám sát, quan tâm của người dân. Những con số hơn 90%, 100% phiếu bầu gần như trở thành những con số bình thường mặc dù điều đó nói lên sự phản khoa học, phản dân chủ trong một cộng đồng xã hội thực tế luôn đa dạng, luôn tồn tại tính đa nguyên.

Việc đi bầu cử đại biểu Quốc Hội là một hoạt động được coi là trực quan nhất, gần gũi nhất, nó thuộc vùng sáng hơn cả, tuy nhiên nó lại được bao bọc, chi phối bới các vùng tối, vùng mờ ảo và chúng ta sẽ không thể biết chắc chắn được vùng sáng đó là trung thực, phản ánh đúng sự lựa chọn của người dân hay không.

Và Quốc hội Việt Nam hiện nay với đại đa số là đảng viên cộng sản được Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc đặt tên là một chi bộ đảng mở rộng.

Những người tự ứng cử hoàn toàn biết được rằng Quốc hội Việt Nam hiện nay là một chi bộ đảng mở rộng như lời Giáo sư Quốc, nhưng họ vẫn quyết định ra ứng cử dù gặp nhiều trở ngại, là vì theo tác giả Vũ Hoàng Anh viết trên blog Ngàn Lau rằng,

Họ muốn tạo ra một sân chơi tranh luận tại Quốc Hội với hy vọng thức tỉnh những cái đầu đã bị mê ngủ bấy lâu nay với cái tự sướng mà không dám nhìn rõ sự thật của đất nước này. Họ muốn tạo ra nền móng dân chủ cho thế hệ kế tiếp. Họ muốn thế giới thấy được cái dân chủ giả hiệu trước và sau khi có sự tham dự của các ứng cử viên độc lập thì nền dân chủ này cũng chỉ là dân chủ giả hiệu bởi sẽ hoàn toàn không có dân chủ thật sự dưới cái cơ chế của hôm nay.

Một người đang sống ở nước ngoài là Bùi Nghĩa ca ngợi sự can đảm của những người này là phải vô cùng cố gắng trong một tình thế gần như hoang tưởng để có thể hưởng một không khí bầu cử và ứng cử như những quốc gia tự do khác.

Những gì cần phải làm

Đa số những người tự ra ứng cử trong mùa xuân năm nay là những người hoạt động mạnh mẽ trong các nhóm xã hội dân sự phát triển trong thời gia gần đây. Tuy vậy, theo blogger Nguyễn Vũ Bình, còn có rất nhiều khuyết điểm trong các nhóm  hoạt động xã hội và dân chủ đó,

Có thể nói, ngoài sự thống nhất về những mục đích rất lớn là dân chủ và nhân quyền thì những gì còn lại là một sự hỗn loạn trong nhận thức. Chúng ta hầu như không thống nhất được với nhau về thực trạng tình hình đất nước, về tình hình phong trào dân chủ, về nguyên nhân của những vấn nạn hiện nay và cuối cùng là về giải pháp để giải quyết các vấn nạn của đất nước. Là một người tham gia vào phong trào dân chủ khá lâu, tiếp xúc với rất nhiều người đấu tranh dân chủ đủ mọi lứa tuổi và thành phần, cá nhân tôi nhận thấy, sự khác biệt, chia rẽ và hỗn loạn trong nhận thức là một thực trạng nhức nhối của phong trào dân chủ Việt Nam.

Sự kiêu ngạo và bảo thủ, hướng ngoại và hình thức. Kiêu ngạo và bảo thủ khiến cho chúng ta không nhìn nhận được những hạn chế, sai sót và khiếm khuyết để bổ túc kịp thời, sửa chữa những sai lầm trong nhận thức. Hướng ngoại và hình thức thì không thể đi sâu tìm hiểu bản chất sự việc, khó tiếp cận được với dòng chảy của sự thật.

Nhận định về những gì mà người Việt Nam hiện nay cần phải làm để đi đến một xã hội tốt hơn, blogger Trần Minh Khôi cho rằng có một điều quan trọng là cần rút ngắn khoảng cách về nhận thức chính trị và dân chủ giữa một tầng lớp tinh hoa ở đô thị và những người lao động:

“ Cái khoảng cách giữa trí thức đô thị và người lao động ở vùng ngoài đô thị sẽ quyết định tính chất của một cuộc chuyển đổi chính trị xã hội, ở đây là dân chủ hoá. Ở Việt Nam, tại thời điểm này, khoảng cách này rất lớn.
– Blogger Trần Minh Khôi”

Cái khoảng cách giữa trí thức đô thị và người lao động ở vùng ngoài đô thị sẽ quyết định tính chất của một cuộc chuyển đổi chính trị xã hội, ở đây là dân chủ hoá. Ở Việt Nam, tại thời điểm này, khoảng cách này rất lớn. Và đây là điều đáng lo ngại nhất: ngay cả khi những đòi hỏi về quyền của trí thức đô thị, như các quyền tự do căn bản, được đáp ứng thì vấn đề công lý cho người lao động ngoài đô thị vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Điều quan trọng này cần được lặp lại: các quyền tự do căn bản tự chúng không giải quyết được vấn đề công lý cho người lao động. Đây chính là lý do tại sao vận động xã hội trở nên bức thiết. Nó giúp rút ngắn khoảng cách nhận thức giữa những công dân của một quốc gia.

Nhắn gửi những người hoạt động dân chủ đang dấn thân tại Việt Nam, blogger Nguyễn Lân Thắng nói rằng đối diện với một chế độ độc tài thì không bao giờ dễ dàng, nhưng ông tin  rằng khao khát tự do và mong ước được sống trong một xã hội bình đẳng, tôn trọng phẩm giá con người là những giá trị tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam chúng ta.

Còn nhà văn Nguyễn Đình Ấm thì cho rằng phong trào tự ứng cử đang là cơ hội vàng để Đảng Cộng sản Việt Nam “lặng lẽ” chuyển sang thể chế dân chủ, là chiến lược duy nhất để xây dựng đất nước hùng cường.

Không chỉ là phường chèo, mà còn là sân khấu hài

Không chỉ là phường chèo, mà còn là sân khấu hài

J.B Nguyễn Hữu Vinh

RFA

nguyenhuuvinh's picture

Mới đây, phong trào tự ứng cử vào “Quốc hội Việt Nam” được nhiều người chú ý và cố súy. Điều này gây nhiều chú ý của dư luận xã hội. Nhiều người dân đồng tình và quan tâm, bởi đây là lần đầu tiên, người dân sôi nổi hưởng ứng một công việc mà xưa nay họ cứ mặc cho đảng tự tung tự tác và biểu diễn trước bàn dân thiên hạ màn bầu cử “dân chủ đến thế là cùng”.

Thế nhưng, khi một số người quyết định sử dụng quyền của mình được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam minh nhiên công nhận, thì lập tức dàn báo đảng vào cuộc tấn công bằng những đòn hạ cấp mà theo ngôn ngữ dân gian, thì đó là những đòn “đánh dưới thắt lưng’.

Dẫn đầu phong trào này, lại không ai khác, mà vẫn là kẻ xung phong đốt đền: Nguyễn Như Phong với tờ báo ngành dầu khí Petrotimes bằng bài viết: “Quốc hội không phải phường chèo”.

Đọc qua bài báo, người ta không khỏi phải giật mình cho sự hèn hạ, bẩn thỉu của cái gọi là “báo chí cách mạng”. Bởi từ lý luận đến câu văn… tất cả chỉ là những chuyện bới móc đời tư để công kích, để châm biếm nhưng lại rất… hài hước mà không đưa ra được bất cứ điều gì khả dĩ có trí tuệ để thuyết phục độc giả rằng việc tự ứng cử của Nguyễn Công Vượng và một số người khác được tờ báo nêu tên là trái pháp luật, là tội lỗi, là cần lên án!

Có những con vật bình đẳng hơn!

Trước hết, việc nghệ sĩ Nguyễn Công Vượng tự ứng cử vào “Quốc hội” là việc hiển nhiên anh ta có quyền, thậm chí là có quyền bình đẳng như Nguyễn Phú Trọng hoặc Trần Đại Quang, Nguyễn Sinh Hùng… chẳng thiếu một ly, một lai nào trong tư cách công dân.

Thế nhưng, nếu như tờ báo của Nguyễn Như Phong không hề dám mở miệng hỏi nửa lời với Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Sinh Hùng xem với tư cách đại biểu “Quốc hội” rồi Chủ tịch “Quốc hội”, trong vai trò Tổng bí thư đã làm được những gì sau bao năm ngồi mòn cái ghế ở đó? Các ông ấy đã làm được gì? Có ai cử ông ấy vào đó không, ngồi đó làm gì hay chỉ để qua ngày, đoạn tháng ngồi giữ cái ghế mà bất chấp việc ngồi ấy có đem lại lợi ích gì cho dân nước nhay không? Hay chỉ như Nguyễn Tấn Dũng đã từng chỉ thẳng vào mặt Đảng mà rằng “Đảng giao thì tôi làm chứ không xin xỏ ai” nên không cần từ chức, dù cái làm đó là tham nhũng ngày càng nặng nề, pháp hoại nền kinh tế đến kiệt quệ?

Thì ngược lại, tờ báo này đã công kích đời tư của công dân ứng cử? Phải chăng, tờ báo của Nguyễn Như Phong muốn chứng minh câu chuyện trong Trại súc vật của George Orwell rằng “Mọi con vật đều bình đẳng nhưng có một số con bình đẳng hơn”?

Trong khi, một người đứng ra tự ứng cử đã cam kết một chương trình rõ ràng, hẳn hoi rằng “sẽ giúp làm tốt nhiều công việc như bảo tồn bảo tàng, chấn chỉnh văn hóa và giáo dục chỉ sau 1 năm đến 3 năm, hơn hẳn nhiều đại biểu Quốc hội hiện nay” (Trích bài báo), thì tờ báo này lấy để chế giễu và đánh phá? Phải chăng, chỉ khi nào những đại biểu, thậm chí Chủ tịch Quốc hội nhắm mắt làm ngơ trước quân xâm lược rằng thì là “Biển đông không có gì mới” khi mà quân giặc đang xâm chiếm bờ cõi, ngư dân đang ngày đêm bị giết trên biển. Còn việc làm tốt nhiều công việc, chấn chỉnh nền văn hóa… là chuyện đáng lên án?

Mà sự công kích cũng lạ đời. Tờ báo của Nguyễn Như Phong kể lên mặt báo tiểu sử của gia đình người nghệ sĩ này, rằng thì là bố và mẹ đều là đảng viên, đã học qua đại học và theo nghề diễn viên. Nghĩa là người có nòi giống từ đảng mà ra, có học hành, nhận thức hẳn hoi mà lại khẳng định rằng “Đảng, Nhà nước là xấu xa”“hèn với giặc, ác với dân”, “dâng biển đảo cho giặc”… Thì  thiết nghĩ đảng, nhà nước phải xem lại mình. Bởi đây rõ ràng không phải lời của những con em thế lực thù địch hoặc không có nhận thức. Mà theo cách nói của Nguyễn Phú Trọng thì “Mình có thế nào, người ta mới nói thế’.

Hài nhất là đọc đoạn này: “Hỏi Vượng: Chỉ rõ xem Đảng dâng đảo, bán đảo ở chỗ nào, đảo nào thì không nói được, một kiến thức sơ đẳng về Trường Sa cũng không biết”. Thực ra, không biết Nguyễn Như Phong đã hỏi Nguyễn Công Vượng lúc nào và ở đâu? Nhưng, tôi tin đó là sự bịa đặt, bởi nếu chỉ cần hỏi đưa trẻ con, nó cũng có thể giải thích Hoàng Sa hiện nay ở đâu và Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là cái gì? Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc của cha ông để lại, dưới tay đảng thì nó thuộc về ai? Những hòn đảo ở Trường Sa như Gạc Ma nay thì ai quản lý. Đó là những kiến thức mà hình như Nguyễn Như Phong đã quên.

Duy có điều này, thì người đọc thấy được căn bệnh “suy bụng ta ra bụng người” của Nguyễn Như Phong là khá rõ. Rằng “Công Vượng ít được tham gia các chương trình lớn, các sân khấu tầm cỡ quốc gia… Và dường như để “bù” lại, mấy năm gần đây, Vượng liên tục gây sự chú ý của công luận bằng những phát ngôn và hành vi gây sốc, thậm chí phản cảm“. Đọc đến đó, Công Vượng có hành động như vậy hay không thì chưa rõ, bởi đó mới chỉ là sự quy kết hậm hực của một bút nô. Nhưng người ta thấy rõ điều này: Cũng làm báo, nhưng khi không được nổi danh, được kính trọng bằng người khác, Nguyễn Như Phong đã không ngần ngại làm người lính xung kích, làm kẻ đốt đền, bất chấp sự thật và sẵn sàng bịa đặt, hại người. Phải chăng đó chính là để “bù” lại cho khả năng của mình? 

“Quốc hội” không chỉ là phường chèo, mà còn là sân khấu hài

Tờ báo đặt khẳng định “Quốc hội không phải là phường chèo”, thiết nghĩ là chưa chính xác. Lẽ ra cần phải nói: Không chỉ là phường chèo, mà thậm chí còn là sân khấu hài mới chuẩn.

Sở dĩ, đặt chữ “Quốc hội” trong ngoặc kép, chỉ vì nghĩa của từ Quốc hội trong thể chế cộng sản không còn đúng nghĩa của nó. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên 1946 đã viết “Điều thứ 22: Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.

Vậy nhưng, chính Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng: “Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đứng sau nghị quyết của đảng”. Vậy có nghĩa là trên cái “cơ quan có quyền cao nhất” lại còn một cơ quan quyền lực cao hơn?

Đến mức, muốn sửa đổi Hiến Pháp, phải chờ Nghị quyết của Đại hội đảng(?). Và, các vai diễn trong cái “cơ quan quyền lực cao nhất nước” này, cứ vẫn đóng trọn vai diễn hết năm này qua tháng khác.

Chỉ nói về nghĩa đen của những từ ngữ trên và trong thực tế, thì có lẽ so sánh với một gánh hát không khác gì nhiều.

Nhắc đến nghệ thuật chèo, trước hết phải nói đến nghệ thuật sử dụng lời văn. Ở “Quốc hội” Việt Nam, nói về trình độ sử dụng lời văn, thì Chèo còn phải gọi bằng… cụ tổ.

Hãy nghe vài câu nói của những đại biểu Quốc hội là những người có chức quyền hẳn hoi:

Bộ Trưởng Quốc phòng: “Thưa các quý vị! Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng”.. Và Bộ trưởng chỉ lo: ” “Không phong tướng, anh em tâm tư”. Khi giặc Tàu đã vào tận thềm nhà, ông vẫn nói: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.

..tình hình đi làm thuê và bán vé số rất phổ biến nhưng có thu nhập cao, họ đủ trang trải cho một ngày ăn”. Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.

“QH tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?” – Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch “Quốc hội”.

“đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định”– Nguyễn Phú Trọng.

“người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu”. – Nguyễn Phú Trọng.

“Đời tôi, đời các bạn chưa đòi lại được, thì đời con cháu chúng ta phải tiếp tục đòi…. – Nguyễn Đức Đam nói khi Tàu đưa dàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam khoan dầu. Thậm chí ông còn đưa ra quan niệm: “nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi hát Quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh”.

–  “Còn Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội cũng thừa nhận đường Trường Chinh có cong, nhưng là ‘cong mềm mại…”. – Dương Đức Tuấn, PGĐ Sở Quy hoạch kiến trúc TP Hà Nội.

Nghe những lời nói đó, thì quả là ngôn ngữ Chèo chưa ăn thua gì so với diễn đàn “Quốc hội” Việt Nam.

Trong nghệ thuật Chèo ngoài sử dụng ngôn ngữ, lời nói để diễn tả, thường có hai loại vai chính: Vai chín (thường để miêu tả những người tốt, người có tài) và Vai lệch (đại diện cho những con người độc ác, xấu xa hoặc không theo đúng chuẩn mực đạo đức).

Ở “Quốc hội” Việt Nam thì các “vai chín” đếm trên đầu ngón tay, là vô cùng hiếm hoi. Nhưng các “vai lệch” thì nhan nhản.

Ở đó, người ta thấy vai sư kêu gọi “xây dựng Quân đội ta mạnh như quân đội Bắc Hàn”, hoặc “Thời nhà Lê, vua Lê còn xử oan cho Nguyễn Trãi, một công thần của mình trong vụ án Lệ Chi Viên. Nhà Phật chúng tôi, có nghìn mắt, nghìn tay nhưng vẫn có câu chuyện xử oan cho Thị Kính đến khi chết” để thanh minh và đồng tình với việc án oan sai nhan nhản.

Ở đó, người ta thấy một Chủ tịch “Quốc hội” nói rằng: “Cứ vi phạm mà kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc”.

Ở đó, người ta cũng nghe ông Chủ tích Quốc hội khẳng định rằng: Đến 2013, Vinashin sẽ có lãi”. Để rồi sau đó không lâu, Vinashin sụp đổ.

Ở đó, người ta nghe Bộ trưởng Tài Chính khuyên người dân: “Nếu có tiền tôi cũng mua chứng khoán”. Để rồi sau đó, chứng khoán xuống dốc không phanh.

Ở đó, người ta thấy ông sư giải thích về Kinh tế thị trường định hướng như sau: “Bản chất thị trường không phải là xấu mà là tốt. Đặc biệt chúng ta định hướng vào đấy nữa thì càng tốt” – Thích Thanh Quyết.

Thậm chí, nghe ông Bộ trưởng Bộ giáo dục nói những câu như: “Đã học kém thì không thể có đạo đức tốt được”. Rồi thì “Quá trình dạy và học đã thay đổi, từ chỗ dạy cho số đông sang chú ý đến hình thành phát triển từng cháu. Trước đây giáo viên nói dạy 1 lớp 40 cháu nay chuyển sang dạy 40 cháu trong 1 lớp”…

Thì “Quốc hội” quả là không chỉ là hề chèo, mà còn là trại tâm thần.

Không phải ngẫu nhiên, mà một đại biểu quốc hội đã phải đề nghị: “Đừng để người tâm thần ứng cử quốc hội”.

Như ở trên đã nói, khi mà “Cơ quan quyền lực cao nhất nước” phải cúi đầu chấp nhận đứng dưới một “cơ quan không quyền lực cao hơn” là đảng CSVN, thì tự cái “Quốc hội” ấy đã là một sân khấu hài.

Rồi ở cái “Quốc hội” ấy, nếu nghe ông nghị Đỗ Văn Đương phát biểu những câu như: “Không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực. Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn”. Rồi thì “Phạm nhân Việt Nam còn sướng hơn sinh viên thời xưa”. Hay “Bán dâm là một nghề phi pháp, mua dâm thì không…”, hoặc “Thực chất luật sư ở Việt Nam chỉ bào chữa cho những người có tiền”.

Cũng như ông nghị Hoàng Hữu Phước với câu nói để đời về việc ban hành luật biểu tình là ô danh, và đề xuất đợi đến “khi nào trình độ dân trí cao hơn và kinh tế ổn định hơn thì mới có thể ban hành Luật biểu tình”

Thì điều đó chứng tỏ rằng “Quốc hội” còn là một sân khấu hài vĩ đại, thưa anh Nguyễn Như Phong.

Hà Nội, ngày 8/3/2016

J.B Nguyễn Hữu Vinh