Những Ba Sàm khác

Những Ba Sàm khác

Trương Duy Nhất

23-3-2016

Ông Nguyễn Hữu Vinh và cô Nguyễn Thị Minh Thúy tại phiên tòa. Ảnh: Minh Quang

5 năm tù giam. Nhưng tôi tin, kẻ khiếp sợ không phải anh. Không phải chúng ta. Họ không chỉ run sợ trước ý chí và bản lĩnh Ba Sàm, mà sẽ còn phải tiếp tục run sợ trước những Ba Sàm khác.

Bỏ tù Nguyễn Hữu Vinh, thì sẽ thêm nhiều hơn những Nguyễn Hữu Vinh khác. Cũng như hai năm trước, trong phiên sơ thẩm xét xử tôi, luật sư Trần Vũ Hải nói rằng “Nếu những hành vi như Trương Duy Nhất mà bị kết tội, thì xã hội này, bất cứ ai cũng đều có nguy cơ trở thành những Trương Duy Nhất dự bị”.

Khác với những gì khi anh và tôi bị bắt. Giờ đây, không chỉ có một Ba Sàm và cũng không chỉ “Một Góc Nhìn Khác”. Đã có nhiều hơn những Ba Sàm khác, nhiều hơn những “Một Góc Nhìn Khác” khác.

Kể cả chị Cấn Thị Thêu và bà con dân oan Dương Nội kia. Họ cũng đã và đang là những Ba Sàm khác.

Những Ba Sàm mà cái còng, khẩu súng và nhà tù không thể khuất phục.

____

VNN

Ông Nguyễn Hữu Vinh bị tuyên phạt 5 năm tù

T. Nhung

23-3-2016

Sau một ngày xét xử, chiều nay, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu Vinh (tức blogger Anh Ba Sàm) mức án 5 năm tù vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Đồng phạm với ông Vinh là bà Nguyễn Minh Thúy bị tòa tuyên phạt mức án 3 năm tù giam.

HĐXX nhận định: Có đủ cơ sở kết luận, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật Hình sự.

“Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi trong khi công cuộc xây dựng đất nước đang đạt được nhiều thành tựu, các bị cáo đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để viết và đăng tải các bài viết sai lệch, không có căn cứ; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín, cơ quan, tổ chức; đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, nên cần có hình phạt tương xứng” – HĐXX nhận định.

HĐXX cho rằng, bị cáo Vinh là người lôi kéo bị cáo Thúy và bị cáo Thúy là đồng phạm giúp sức tích cực.

Quá trình điều tra và tại tòa, các bị cáo không thành khẩn khai báo nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo”.

Tuy nhiên, bị cáo Vinh được hưởng tình tiết giảm nhẹ do có bố, mẹ là người có công với cách mạng, được thưởng nhiều huân, huy chương.

Bị cáo Thúy cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ vì đang một mình nuôi 2 con nhỏ.

Theo cáo trạng của VKSND Tối cao, năm 2000, ông Vinh đăng ký thành lập và làm giám đốc công ty TNHH Điều tra và bảo vệ V. (Công ty VPI).

Tháng 9/2013, ông Vinh lập, quản trị và sử dụng hai blog “Dân quyền” và “Chép sử Việt”. Ông Vinh đã chia sẻ cho bà Thúy quyền viết bài, chỉnh sửa, xóa, đăng tải bài viết lên blog, kiểm duyệt phản hồi…

Ông Vinh bị xác định đã chỉ đạo bà Thúy đăng tải bài viết, duyệt cho hiển thị các ý kiến bình luận trên hai blog.

Cơ quan điều tra xác định, từ khi được lập đến khi ông Vinh, bà Thúy bị bắt, blog “Dân quyền” đã đăng 2.014 bài, 38.567 phản hồi và có 3.243.330 lượt người truy cập. Blog “Chép sử Việt” đã đăng 383 bài, 3.401 phản hồi và có 480.353 lượt người truy cập.

Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an đã có quyết định trưng cầu giám định nội dung các bài viết.

Kết luận giám định cho thấy, 24 bài viết “có nội dung sai sự thật, không có căn cứ; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín, cơ quan, tổ chức; đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo đất nước của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Nhà nước”.

Theo cơ quan điều tra, “hai blog Dân quyền và Người chép sử đã có hơn 3,7 triệu lượt người truy cập, trong đó nhiều người phản hồi với nội dung tiêu cực, bị lôi kéo theo quan điểm của các bài viết được đăng tải”.

Một cuộc đời âm thầm

Một cuộc đời âm thầm

Nguyễn Văn Đức, Tùy Bút / Tản Mạn

Nguyễn Văn Đức

cha_nguyen_the_thuan
Linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn

Đây là một bài viết có tính cách riêng tư nhưng có nhiều thông tin giá trị được viết từ năm 2010. Là bạn thân của tác giả, anh Nguyễn Văn Đức, tôi xin gởi đến Ban Biên Tập. (Trần Đình Sơn Cước)

Ngày 28 tháng 3 năm 2010 là ngày giỗ thứ 35 của linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã sống một cuộc đời âm thầm để chuyển ngữ toàn bộ cuốn Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. Với một cuộc sống âm thầm là vậy, nhưng cái chết của ngài còn âm thầm lặng lẽ hơn so với những người đã chết tức tưởi trong vụ chôn sống tập thể tại Huế – Thừa Thiên hồi Tết Mậu Thân 1968. Linh mục Thuấn ra đi, để lại một công trình dịch thuật Thánh Kinh còn dang dở. Ngài chưa dịch xong ba quyển : Yob, Cách Ngôn, và Baruk. Khi xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh, ban Xuất bản gồm học trò và bạn bè của ngài đã dịch ba quyển này từ bản tiếng Pháp ‘Bible de Jerusalem.’

Ngày 28 tháng 3 năm 2010 là Chúa Nhật Lễ Lá, nhưng ngày 28 tháng 3 của năm 1975 là Thứ Sáu Tuần Thánh. Thân mời các bạn trở lại với bối cảnh của khu vực tỉnh Lâm Đồng khi chiến cuộc Việt Nam đang ở vào giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nhất. Sau khi chiếm huyện Di Linh được một hai tuần, quân Cộng sản đã thủ tiêu linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn tại đồn điền Nguyễn Ngọc, xã Châu Thành, Tỉnh Lâm Đồng. Một Hạ sĩ quan Truyền Tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm vùi xác ngài tại vùng đó. Người ta nói ngài bị Cộng sản cuốc vào đầu, gây thêm một cái chết oan khiên vô tội vào một chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng tôi tin rằng, cha Thuấn trước khi chết đã theo gương Đấng mình tin để nói lên trong lòng,“Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Luca 23 34). Trong cuốn sách” Cha Eugène Larouche, 51 năm Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt-Nam”, linh mục Rôcô Nguyễn Tự Do, CssR, có viết một đoạn về cha Thuấn. “Năm 1945, quân Nhật chiếm Huế và giam giữ các cha Canada tại Morin. Cha Nguyễn Thế Thuấn lúc đó còn là một chú Đệ Tử đã dùng chữ Nho để bút đàm với viên sĩ quan Nhật lúc họ lui tới nhà Dòng, mà theo sự suy nghĩ của Cha Thuấn là “nhờ đó tạo được bầu không khí cởi mở hơn, thân thiện hơn.” Nhưng năm 1975, cha Thuấn đã không tạo được bầu không khí thuận lợi đó tại Di Linh với những người Cộng sản Việt Nam khi ngài đi giảng Tuần Thánh ở Xứ đạo Di Linh theo lời mời của linh mục Chánh xứ Yuse Phùng Thanh Quang. Đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, người thầy kính yêu của tôi.

mo_cha_nguyen_the_thuan
Mộ phần của cha Nguyễn Thế Thuấn tại DCCT Đà Lạt. Hình chụp Tháng 5/2010

Qua việc thủ tiêu một linh mục khá nổi tiếng như cha Thuấn, người Cộng sản đã để lộ chính sách “Thà giết lầm hơn bỏ sót” của họ, đồng thời cũng để trấn áp bất cứ một suy nghĩ nào gây bất lợi cho chính sách đó. Trong thực tế, suốt trong chiều dài của cuộc chiến Việt Nam và nhất là sau biến cố 1975, chính sách dã tâm này của Cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu cái chết vô tội. Giờ phút này, tôi nhớ đến câu chuyện của “Người Samari nhân hậu” trong Phúc Âm Thánh Luca khi nghĩ đến người Hạ sĩ quan QLVNCH, người cũng mang một quả tim nhân hậu vì đã mai táng người thầy của tôi. Khi có ý định viết bài này, tôi đã liên lạc về Việt Nam tìm tông tích người Hạ sĩ quan ân nhân hầu tôi có thể biết thêm chi tiết về cái chết, việc chôn cất và dời hài cốt của cha Thuấn về nghĩa trang DCCT Đà Lạt, nhưng được biết người Hạ sĩ quan tốt bụng này cũng đã qua đời cách đây vài năm. Sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Nguyễn Ngọc Lan, lúc ấy còn là linh mục, đã nhanh chóng áp dụng bài học bà Rebecca dạy cho Giacóp để xin Bộ Thông Tin Văn Hóa-Cục Báo Chí Xuất Bản cấp giấy phép xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh. Khi xin phép, anh Nguyễn Ngọc Lan chỉ xin in cuốn Kinh thánh Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn có trước năm 1975, nhưng tiện dịp nên đã in luôn phần Cựu Ước. Tân Ước hay Cựu Ước cũng là Kinh Thánh cả và cũng cùng một dịch giả. Tôi biết khá rõ chuyện này vì thời gian đó tôi còn ở tại quê nhà. Đó là cuốn sách in lậu đầu tiên sau năm 75 dưới chế độ Cộng sản. Thầy Robert Nguyễn Sĩ Nhàn phải chạy mượn tiền của giáo dân để mua thêm giấy lụa bên tòa Tổng Giám mục Sàigòn. Lần đó, tổng số in được 10.000 cuốn, vì không biết đến bao giờ mới được in lại.

Khi Nhà In Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã sắp chữ gần xong phần Tân Ước, ban Xuất Bản cử thầy Nguyễn Gia Trần và tôi lên giáo xứ Di Linh gặp cha Quang xin lại cuốn Tân Ước cha Thuấn hay dùng, nếu còn. Ý định là xem cha Thuấn có sửa chữa hay thêm bớt gì trong cuốn Tân Ước hay không, để có thể có một cuốn Tân Ước hoàn chỉnh theo ý dịch giả. Chúng tôi lấy chuyến xe sớm nhất đi Đà Lạt nhưng đến giáo xứ Di Linh thì chúng tôi xuống xe . Lúc này dân chúng còn đi lại không cần xin giấy phép của địa phương, chỉ có các linh mục thì phải cấm cung tại chỗ; do đó khi chúng tôi vào nhà xứ thì được gặp ngay cha Quang là chánh xứ họ đạo Di Linh. Sau vài câu chào hỏi và biết sự yêu cầu của chúng tôi, cha Quang lúc đó đang cầm sẵn trong tay chiếc mũ “di tích” của cha Thuấn (không biết làm sao mà cha Quang lại có được chiếc mũ này) nói với anh em chúng tôi: “Các thầy cho tôi cái mũ này để đội, xin cha Thuấn che chở cái đầu cho tôi”. Tôi trả lời : “Thưa cha, cha muốn lấy cái gì để làm kỷ niệm cũng được, chúng con chỉ xin cuốn Tân Ước”. Tiếp đó, cha Quang bước vào bên trong mang ra chiếc cặp táp của cha Thuấn. Tôi nhận ra ngay chiếc cặp này, vì cha Thuấn thường đeo nó bên mình mỗi khi đi ra khỏi nhà Dòng. Tôi nhận chiếc cặp từ tay cha Quang và đi vội ra khỏi nhà xứ để tránh bị theo dõi. Chúng tôi đi về cổng nhà thờ, liếc mắt nhìn phía nhà xứ thì thấy một tên công an cũng đang lò dò đi vào. Chúng tôi đi lên chợ Di Linh đón xe đi tiếp lên Đà Lạt và sáng sớm hôm sau về lại Sàigòn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành. Sau này, khoảng năm 1993, khi hội “Hột Lúa” của Madame Geneviève Jouan, người Pháp, có giúp giáo xứ Di Linh thuốc men để chữa bệnh cho người nghèo, tôi có dịp gặp lại cha Quang nhiều lần nhưng vấn đề cái chết của cha Thuấn quá ư là tế nhị nên tôi chẳng dám hé môi hỏi thêm điều gì. Một thời gian sau, tôi được tin cha Yuse Phùng Thanh Quang cũng đã qua đời tại bệnh viện Nguyễn Trải, Sàigòn, hưởng thọ 77 tuổi. Ngài qua đời ngày 31 tháng 10 năm 2003, đúng vào ngày sinh nhật của mình. Cha Quang vẫn tin là cha Thuấn đã chết thay cho mình. Cách đây vài năm, tôi tình cờ may mắn gặp được hai sĩ quan Địa phương quân VNCH đã đóng quân ở Di Linh trước năm 1975. Họ cho tôi biết chính cha Quang đã rửa tội cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu khi cha làm Tuyên Úy cho trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Nhưng khi Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cha Quang đã không lợi dụng sự quen biết trước kia để trục lợi cho giáo xứ của mình. Một lần Tổng Thống Thiệu lên Đà Lạt họp, có cho trực thăng đến đón cha Quang nhưng ngài từ chối. Cha nói, ban phép bí tích rửa tội là công việc mục vụ, chẳng vì quen biết mà làm mất ý nghĩa thánh thiêng.

Cuộc đời của linh mục Nguyễn Thế Thuấn đã âm thầm lặng lẽ bao nhiêu thì cái chết của ngài càng lặng lẽ bấy nhiêu. Năm 1958, cha Yacôbê Nguyễn Hữu Sơn là bạn học cùng lớp với cha Thuấn dẫn một số Đệ tử Huế lên Đà Lạt nghỉ hè một tháng. Chúng tôi được trú ngụ tại nhà bà Paul trong Giáo xứ Tùng Lâm và thường được vào Nhà Dòng Đà Lạt chơi mà chẳng nghe cha Sơn nói gì về cha Thuấn cả. Phải đến năm 1964 khi cuốn Tân Ước chào đời, chúng tôi mới biết Dòng mình có một cha biết dịch Kinh thánh từ tiếng Hipri là cha Nguyễn Thế Thuấn. Tôi nhớ là cha Gérard Gagnon, DCCT, cũng có dịch Kinh thánh nhưng chắc là từ tiếng Pháp. Lúc đó chúng tôi thán phục cha Gagnon về khả năng tiếng Việt của cha. Cha Thuấn sống âm thầm để dịch cho xong cuốn Tân ước rồi mới bắt đầu đi giảng hay dạy học ở những nơi khác ngoài Học viện DCCT Đà Lạt. Các thầy Học viện cũng đã có dịp thấy bà con của cha Thuấn tới thăm ngài và đùa với ngài, “Chúng con biết cha có tổ quốc nhưng lại tưởng cha vô gia đình chứ”. Tôi nghĩ, nếu ngài tiếp tục cấm cung trong phòng để dịch tiếp cho xong cuốn Cựu ước như ngài đã làm để hoàn tất cuốn Tân Ước thì hôm nay chúng ta đã có một bản dịch trọn bộ Kinh thánh của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn.

Bản dịch nguyên thủy toàn bộ Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn, theo ngài cho biết, đã chứa đựng đầy đủ tính chất xác thực và tinh thần thần học xác tín của ngài. Nói cách khác, ngài không muốn có một sự sửa đổi nào của ai khác, nếu không được ngài thông qua. Tôi cũng nhớ ngài có viết một bài đăng trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để đính chính những chỗ trong bản dịch Kinh Thánh của mình mà linh mục Yuse Trần Hữu Thanh, DCCT, tự ý sửa đổi. Cha Thanh đã có sửa đổi một vài từ ngữ mà không hỏi qua ý kiến của cha Thuấn khi dùng bản dịch Tân Ước của cha Thuấn để in sách Kinh thánh theo chương trình “Mỗi quân nhân, một Tân Ước” trước năm 1975. Nghĩa là, khi cho in toàn bộ cuốn Kinh thánh, ban Xuất Bản đã thay thế một ít danh từ mà có thể họ cho là không quan trọng. Đặc biệt danh xưng ‘Thần Linh’ trong bản dịch đã được thay bằng danh từ ‘Thiên Chúa’ có lẽ để cho phù hợp với thông thường”. Trong bản dịch nguyên thủy, khi dùng chữ Thần Linh, dịch giả Nguyễn Thế Thuấn có ý nói đến sự ‘Mặc khải tiệm tiến’ của Thiên Chúa dành cho con người. Ý của ngài muốn cho chúng ta biết rằng loài người trong quá trình nhận biết về Thiên Chúa cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc hành trình đức tin, nghĩa là chúng ta phải dần dần mới hiểu thêm về Thiên Chúa. Điều này dễ nhận ra hơn khi nói rằng con người, trong cuộc sống hằng ngày, cũng cần phải có yếu tố thời gian và kinh nghiệm rồi mới hoàn toàn hiểu được cuộc đời là gì. Huống hồ đây là một phạm trù của khoa Thánh kinh học. Hiện nay tôi không có trong tay bài đính chính viết trên báo Đức Mẹ HCG của cha Thuấn, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong Phúc Âm Thánh Luca (13:10) cha Thanh đã sửa chữ “Nhân ngày Hưu lễ” thành “Ngay ngày Hưu lễ”. Và cha Thuấn đã phải đính chính lại. Ngài phải đính chính ngay cả những chữ xem ra bình thường, huống chi là “danh xưng Thần Linh” đã bị thay thế bằng “danh từ Thiên Chúa”. Thế mới biết lãnh vực kinh điển thật là tỉ mỉ từng chữ. Nhưng khi in bản Cựu Ước thì linh mục dịch giả Nguyễn Thế Thuấn đã qua đời. Ngài là dịch giả nhưng cũng chẳng có cơ hội để viết thêm vào trước bản dịch một lời tâm sự với người đọc bản dịch của mình. Ngài sống âm thầm, và chết cũng rất âm thầm. Âm thầm như chính công việc của ngài.

Rồi những lợi ích tinh thần mà bao nhiêu người lĩnh hội được do việc cha giảng dạy hoặc nhờ đọc cuốn Kinh Thánh của ngài dịch, cũng âm thầm chẳng kém. Tôi có một kỷ niệm liên quan đến tinh thần Kinh Thánh của cha Thuấn. Năm 1965, ngài ra giảng tại Nhà Dòng Huế. Một anh bạn cùng lớp với tôi vào xưng tội với ngài về việc “chọc gái” sao đó. Tôi không nhớ anh ta lãnh bao nhiêu kinh phải đọc để đền tội để xem việc giải tội của một giáo sư Kinh thánh có màu sắc Kinh thánh không. Bù vào đó, người bạn có tâm sự với tôi điều cha Thuấn đã khuyên anh ta trong tòa giải tội. Cha khuyên bạn tôi: “Người ta không phải là đồ chơi”. Đến nay, tôi vẫn không quên lời khuyên đó. Sau này, một lần khi ngồi xem phim “Toy Story”, tôi thấy Woody nói to vào mặt Buzz, “You are a toy. T- O- Y”. Thỉnh thoảng khi có dịp dạy bảo con cái, tôi cũng nói với các con tôi, “ We are not a toy”. Từ “triết lý” của câu nói đó, tôi tìm ra một điều tâm niệm cho mình. Đó là, trong suốt cuộc đời tôi luôn ráng sống sao để không đối xử với người khác, nam cũng như nữ, và ngay chính bản thân mình nữa, như là đồ chơi. Tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn nhờ vào bài học hàm chứa trong lời khuyên của cha Thuấn mà bạn tôi đã chia sẻ. Nhưng dù sai đó cũng chỉ là điều tôi gián tiếp học được qua câu chuyện của một người bạn. Còn câu nói, “Các thầy đừng phí uổng cuộc đời, vì chỉ có một lần” thì chính tai tôi đã trực tiếp nghe và học được nơi cha Thuấn là giảng sư của lớp tôi ở Nhà Tập. Những lần phí phạm cuộc đời, tôi nhớ đến câu nói này. Có thể cha Thuấn không hẳn là tác giả nguyên thủy của ý tưởng trong câu nói này, nhưng đối với tôi, tôi xem đó là của cha Thuấn vì lần đầu tôi nghe cha nói mà trước đó tôi chưa đọc được ở đâu hoặc nghe ai nói đến. Thông điệp của câu nói đó đã âm thầm nâng đỡ và dẫn lối cho tôi rất nhiều, nhất là trong thời gian tôi còn tu tập.

Trong khi viết bài này, tôi muốn tìm một tấm hình của cha Thuấn để kèm theo bài thì may mắn được cha Louis Đặng Đức Anh, DCCT, tiếp tay. Cha gửi ngay cho tôi một tấm ảnh hiếm quí của cha Thuấn mà một nhân viên trại gà Scala cũ ở Đà Lạt, chị Minh Phượng, còn giữ lại được qua bao năm tháng. Tấm ảnh do cha Bosco Phạm Minh Thiện, DCCT, học trò lớp đầu tiên của cha Thuấn, bấm máy. Hình chụp năm 1972 khi cha Đại diện Tổng quyền DCCT Roma qua kinh lý xem trại gà Scala hoạt động có đúng đường lối của Thánh Anphongsô trong phát triển kinh tế cho người nghèo hay không. Trong hình có cha Bề trên Giám Tỉnh Bạch Văn Lộc và cha Thuấn, khi đó đang đặc trách Nhà Dòng Đà Lạt. Chân thành cám ơn cha Louis Anh và chị Minh Phượng đã chia sẻ tấm hình có một không hai của cha Thuấn, và cầu xin cho cha Bosco Thiện được mạnh chân khỏe tay như trước khi gặp nạn để tiếp tục bấm máy và dịch sách.

cha_thuan_don_tiep_cha_dai_dien_tong_quyen_roma-1972
Cha Thuấn tiếp đón cha Đại diện Tổng quyền Rôma thăm trại gà Scala, Đà Lạt.
(Hình do cha Boscô Thiện chụp năm 1972.)

Khi đi định cư ở Mỹ tôi không mang theo được cuốn Kinh Thánh toàn bộ của cha Thuấn. Cách đây vài năm, cha Yuse Phạm Kim Điệp, DCCT, mang qua cho tôi một cuốn in lần đầu. Hình bìa do anh Hoàng Ngọc Biên, họa sĩ kiêm nhà văn của nhà Xuất Bản Trình Bày vẽ . Cuốn sách đã ngã màu theo thời gian. Và trước khi về Việt Nam, cha Louis Anh để lại cho tôi một cuốn in tại Mỹ năm 1980. Tôi rất mừng vì không ngờ Giáo Hội Việt Nam tại Mỹ in lại được cuốn Kinh Thánh này trên giấy lụa và hình bìa mạ vàng rất rõ nét. Người ta dùng kỹ thuật photocopy nên nội dung hoàn toàn giống như cuốn in tại Việt Nam. Chỉ khác là mở đầu bằng lời cảm tạ của linh mục Nguyễn Văn Tịnh và vài nét tiểu sử của dịch giả do DCCT ở Altadena, California, viết.

Hôm nay, tôi viết thêm một hai nét để bổ túc cho tiểu sử của thầy mình, linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn, như là thắp lên một nén nhang trong lòng hầu biểu tỏ sự kính phục đối với một bậc thầy đáng kính. Phần nào, tôi cảm thấy hãnh diện được làm học trò của thầy, hân hạnh được thầy truyền đạt cho một triết lý sống trong bất cứ ơn gọi nào trong đời, trước khi thầy mình qua đời. Nhưng trước hết và trên hết, tôi hãnh diện không kém vì trọn bộ cuốn Kinh Thánh đã được dịch ra tiếng mẹ đẻ Việt Nam từ tiếng Hipri, Aram, và Hilạp, và lại do một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam dịch. Dịch giả đó chính là linh mục Yuse Nguyễn Thế Thuấn, và chỉ có một mà thôi.

Mùa Phục Sinh 2010
CĐT Tôma Nguyễn Văn Đức
Nguồn: Bài do nhà thơ Trần Đình Sơn Cước gửi

LŨNG ÂM U

LŨNG ÂM U

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 686

 Chúa Nhật 20 tháng 3 là Chúa Nhật Lễ Lá, toàn thể Giáo Hội Công Giáo bước vào Tuần Thánh với lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Hãy bước theo Chúa Kitô trên con đường khổ giá để nghiệm ra Lòng Thương Xót Chúa”. Trước đó tại buổi gặp gỡ thứ tư hàng tuần, ngài nhắn nhủ mọi người với lời Kinh Thánh: “Dù qua lũng âm u, ta sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng”.

Tuần Thánh ở Việt Nam mở ra với qua nhiều điều kinh hãi, liên tiếp trong các ngày 19, 20, 21 và 22 tháng 3, các biến cố dồn dập trên mạng xã hội, trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Thường thì trên các trang mạng xã hội nhanh và nhạy hơn các báo chí và các đài truyền hình truyền thanh.

Ngày 19 tháng 3, ngày mà Giáo Hội hạnh phúc và vui mừng cử hành lễ kính Thánh Cả Giuse thì tiếng bom nổ kinh hoàng trong khu dân cư Văn Phú, Hà Đồng, Hà Nội. Người ta đã mang bom vào chứa trong khu dân cư rồi phá bom gây nổ đánh mất sự an toàn mà người dân đươc quyền thụ hưởng. Thêm một dấu hiệu môi trường sống mất bình an.

Ngày 20 tháng 3, đúng ngày khai mạc Tuần Thánh:

– 11 giờ 30 phút, Biên Hòa sập Cầu Ghềnh, một cây cầu trên 100 tuổi đồng sinh với cầu Tràng Tiền của Huế và cầu Chương Dương của Hà Nội.

– 12 giờ 30 phút, Biên Hòa cháy chợ Hóa An.

– 18 giờ cháy lớn bùng phát tại nhà máy gạch Viglacera, tỉnh Vĩnh Phúc.

– Buổi tối, có tin Lâm Đồng cháy tại Đại Học Đà Lạt.

– Đêm, Phú Thọ cháy chợ tại phường Bến Gót, thành phố Việt Trì.

Ngày 21 tháng 3, đêm, cháy tại Quán Toan, thành phố Hải Phòng.

Ngày 22 tháng 3, lúc 14g30, một ngọn lửa bùng cháy dữ dội tại khu vực bãi xe Taxi của sân bay Tân Sơn Nhất, Sàigòn. Sau đó vài giờ, lúc 16g40 lại xảy ra một vụ cháy lớn tại khu tái định cư Đền Lừ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Cùng lúc ấy tại Bà Điểm, Hóc Môn, Sàigòn, một công ty chuyên sản xuất giàn giáo bị sập thanh đà gác làm đổ kho hàng đè chết hai công nhân. Và đến sập tối 18g30 thì lại cháy chợ ở Ngã Tư Sòng, huyện Cam Lộ, Quảng Trị !

Bằng đó biến cố, bao nhiêu người chết, bao nhiêu người bị thương, thiệt hại bao nhiêu tài sản ?

Rồi những di chứng của sự tổn thương này…

Đọc báo thấy Đức Thánh Cha gởi thư chia buồn về vụ máy bay rơi ở Nga làm 63 người thiệt mạng. Có người hỏi tôi: “Sao mình chết nhiều quá mà Đức Thánh Cha không gởi thư chia buồn ? Chỉ tính ba ngày Tết ở Việt Nam đã có hơn 200 người qua đời do tai nạn giao thông. Rồi cả năm trên dưới 10.000 người chết  vì đủ các loại phương tiện di chuyển, sao Đức Thánh Cha không chia buồn ?” Làm sao tôi trả lời được câu hỏi này !?!

Sự bất an rình rập đêm ngày trong cuộc sống, không ai tính trước được điều gì và không

ai có thể thấy được tương lai xã hội. Phải chăng chúng ta đang đi qua “lũng âm u” của định mệnh dân tộc, phải chăng đây là lúc hơn bao giờ hết chúng ta phải nhắc nhau về một Lòng Tin đặt vào Thiên Chúa, là lúc chúng ta xác tín với nhau về một Thiên Chúa luôn ở cùng chúng ta. Không thể tránh né sự thật, nếu không nhìn nhận sự thật thì lời tuyên xưng của chúng ta chỉ là hão huyền, nhìn nhận sự thật, nhìn nhận tình trạng của chúng ta đang trong “lũng âm u” để đưa bàn tay ra cho Chúa cứu.

Cuối Tuần Thánh là ngày Phục Sinh, ánh sáng sẽ bừng lên chiếu soi vào mọi ngóc ngách của

nhân gian, phơi bày sự thật của con người và của Thiên Chúa. Xin Chúa thương ban ơn phục sinh cho mọi người chúng con.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Tuần Thánh 2016

‘Không ai chống lại được quy luật’

‘Không ai chống lại được quy luật’

Luat khoa

Ông Nguyễn Hữu Vinh

Người biên tập trang Ba Sàm hiện tại tiết lộ với BBC về quá trình làm trang web, trước phiên tòa xét xử ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

Phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh cùng bà Nguyễn Thị Minh Thúy diễn ra ngày 23/3 tại Tòa án Nhân dân TP Hà Nội.

Hai người này bị khởi tố theo Điều 258 Bộ luật hình sự về việc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước”.

Bà Đinh Ngọc Thu, từ Hoa Kỳ, nói với BBC: “Năm 2007, anh Vinh làm trang web Ba Sàm. Anh Vinh không đơn độc. Anh Trần Hoàng cũng nghĩ như vậy và đã giúp anh Vinh.”

“Tháng 4 năm 2009, anh Trần Hoàng rút lui. Tháng 8 năm 2009, tôi tình nguyện thay vào chỗ anh Hoàng.”

Bà giải thích: “Tôi cũng có thể nhặt nhạnh, gom góp đưa đủ thông tin đúng đến đồng bào của mình như các anh thay vì chỉ bất bình, chửi đổng rồi thôi.”

Lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng.Đinh Ngọc Thu

“Không thù lao, không có bất kỳ thứ phúc lợi nào mà lại không thể ngưng nghỉ. Mỗi ngày từ 14 đến 16 tiếng. Mỗi tuần bảy ngày. Mỗi tháng đủ 30 ngày. Tôi đã có ý định bỏ cuộc cả chục lần vì áp lực quá lớn.”

Theo bà, ông Vinh từng cảm thấy “đuối” vì đối diện áp lực từng ngày.

“Sự lo ngại của chính quyền tỉ lệ thuận với việc Ba Sàm bị tấn công. Chúng tôi đã từng bị đánh gục nhưng chúng tôi đã tự gượng dậy vì sự nâng đỡ tinh thần của độc giả.”

Tháng Tư 2014, bà Thu “quyết định bỏ cuộc”.

Nhưng bà nói bà mở lại trang Ba Sàm sau khi ông Vinh và bà Thúy bị bắt tháng 5 2014.

Trước giờ phiên tòa diễn ra, bà Thu bày tỏ: “Lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng.”

“Cứ ngẫm sẽ thấy, không ai có thể chống lại các quy luật.”

Phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy đang gây sự quan tâm đặc biệt.

Hôm 22/3 từ New York, Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW) đã phát đi thông cáokêu gọi Việt Nam hủy bỏ cáo buộc với ông Nguyễn Hữu Vinh.

Blogger người Việt sắp ra tòa

Blogger người Việt sắp ra tòa

Asia Sentinel

Người dịch: Trần Văn Minh

21-3-2016

Ông Nguyễn Hữu Vinh. Nguồn: Ba Sàm.

Anh Ba Sàm bị truy tố tội “xâm phạm lợi ích nhà nước”

Tòa án Nhân dân TP Hà Nội vào ngày thứ Tư, dự kiến sẽ đưa ra xét xử một blogger độc lập có lẽ có ảnh hưởng nhất ở Việt Nam, ông Nguyễn Hữu Vinh (bút danh Anh Ba Sàm) và phụ tá của ông, bà Nguyễn Minh Thúy, về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi hợp pháp của các tổ chức, công dân”, theo Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Phiên tòa bắt đầu trong lúc Mỹ, Việt Nam và mười một nước khác ký tên tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, tức TPP, là thỏa thuận thương mại gồm nhiều điều khoản đang bắt đầu tiến trình phê chuẩn, vẫn chưa được Quốc hội Mỹ phê chuẩn, lại là hiệp ước Việt Nam đã đồng ý ký vào, và cũng gồm có ngôn ngữ chưa từng có tiền lệ để bảo vệ nhân quyền ở các nước thành viên cam kết trở thành những nước ký kết.

Phiên xử Anh Ba Sàm vì thế trở thành chỉ dấu cho thấy liệu lãnh đạo mới của Việt Nam có cam kết bảo vệ bất đồng chính kiến hay không. Đất nước vẫn trong chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc đảng với ngành tư pháp tùy thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Các thẩm phán và người đại diện tố tụng được chọn lựa từ người của đảng. Trong khi ngành tư pháp trên danh nghĩa chịu trách nhiệm trước Quốc hội, về mặt lý thuyết là bộ phận cao nhất của quyền lực chính phủ, nhưng chính là đảng nắm quyền kiểm soát.

Hai blogger là những nhà phê bình chế độ gay gắt, chắc chắn là thế, nhưng ưu tiên hàng đầu của blog Anh Ba Sàm là đăng tải một bản tóm tắt có chủ đích các sự kiện thời sự trong và về Việt Nam. Trang blog dịch và đăng nhiều bài viết trên báo Asia Sentinel của ông David Brown, một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu vẫn còn quan tâm đến Việt Nam.

Việc bắt giữ ông Vinh và bà Thúy hồi tháng 5 năm 2014 diễn ra trong bối cảnh căng thẳng tột độ giữa Việt Nam và Trung Quốc, sau khi Bắc Kinh di chuyển giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của họ vào vùng Biển Đông tranh chấp và ngăn cấm tất cả các tàu thuyền đi vào bên trong bán kính một dặm của giàn khoan Hải Dương 981. Các lời kêu gọi một cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã được gióng lên khắp nơi trong giới blogger Việt Nam.

Một số nhà bất đồng chính kiến Việt Nam xem vụ bắt giữ hai blogger là bằng chứng cho thấy chính quyền Việt Nam đã “khuất phục” trước đối tác Trung Quốc, bằng cách bắt giữ blogger “chống Trung Cộng” nổi tiếng.

Điều 258 của Hiến pháp Việt Nam mô tả tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Điều luật này thường được sử dụng để bỏ tù các blogger và các nhà hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Blog Anh Ba Sam đầu tiên xuất hiện trên mạng vào năm 2007 với hai thể loại bài: một loại bài điểm tin, bình luận khách quan về các sự kiện thời sự trong và về Việt Nam và một loại bài bình luận kỹ lưỡng của những người đóng góp nổi bật. Blog Anh Ba Sàm luôn là một trong số ít các blog của Việt Nam vẫn duy trì các tiêu chuẩn báo chí cao.

ABS lần đầu tiên bị tấn công vào tháng 11 năm 2010 bởi những kẻ tấn công không rõ lai lịch, và một lần nữa vào tháng 6 năm 2011. Thiệt hại đã được sửa chữa và trang blog sớm hoạt động trở lại. Ba năm trước đây, vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 (*), ABS đã bị tấn công một lần nữa. Lần này những kẻ tấn công đã lấy hồ sơ tài liệu và thay đổi tất cả mật khẩu. Bà Đinh Ngọc Thu, Biên Tập viên điều hành của trang blog ở Mỹ, trở thành mục đích của một cuộc tấn công cá nhân rất thô bỉ, được làm từ các bức ảnh lấy từ hồ sơ máy tính cá nhân của bà.

Cuộc tấn công năm 2013 xảy ra giữa lúc có một cuộc tranh luận sôi nổi trên blog Ba Sàm về cách thức Hiến pháp Việt Nam nên được sửa đổi thế nào. Mặc dù Quốc hội kêu gọi người dân đóng góp ý kiến, văn bản cuối cùng, được ban hành vào cuối năm 2013, “đã thất bại trong việc giải quyết  nguyện vọng của dân chúng về sự thay đổi và cải cách”, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), trong đó kêu gọi các nhà tài trợ cho Việt Nam và các đối tác phát triển gia tăng gấp đôi nỗ lực để thúc đẩy sửa đổi hiến pháp và luật pháp để bảo vệ các quyền cơ bản, như quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội.

Tuy nhiên, dựa theo lời nói của cơ quan lập pháp, các bài bình luận đăng trên Anh Ba Sàm nghiêng nhiều về phía tự do, bảo đảm quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp hiện hành, thoát khỏi một loạt các hạn chế bảo mật tàn hại dựa trên an ninh quốc gia. Cũng có sự hỗ trợ đáng kể trong việc giảm thiểu độc quyền quyết định chính trị của Đảng Cộng sản và giải thoát tòa án và các phương tiện truyền thông chính thống, thoát khỏi quá nhiều các chỉ đạo chính trị.

Mọi thứ trở lại bình thường vào tháng 6 năm 2013 khi Anh Ba Sàm một lần nữa bắt đầu đăng tải tin tức cập nhật và bình luận trong bản tin hàng ngày tại những địa chỉ web mới, an toàn hơn. Sau đó, vào ngày 5-5-2014, ông Vinh, người sáng lập và biên tập viên của trang blog – một sĩ quan công an về hưu – đã bị bắt tại nhà riêng. Ổ đĩa cứng và các hồ sơ khác của ông đã bị lấy làm chứng cớ. Người phụ tá của ông Vinh, bà Thúy, cũng bị bắt.

Thực ra, kể từ tháng 10 năm 2012 ông Vinh đã giao việc điều hành hàng ngày trang ABS cho bà Thu, người đã một mình gồng gánh trang blog trong suốt thời gian ông Vinh bị giam giữ. Khi áp lực trong việc điều hành tin tức cập nhật trang ABS trở nên quá lớn, bà Thu đã phải bỏ phần điểm tin hàng ngày, với lý do cư dân mạng ở Việt Nam hiện nay có thể tìm được tin tức nước ngoài về [tình hình] Việt Nam từ các nguồn đáng tin cậy khác. ABS vẫn là một nguồn bình luận dẫn đầu về các sự kiện. Các cộng tác viên nổi bật [đóng góp các bài viết cho blog Ba Sàm] bao gồm các học giả Việt Nam, các nhà lão thành cách mạng, các nhà báo độc lập và các cán bộ hưu trí.

Bà Thu nói: “Mục tiêu của chúng tôi nhắm tới là các độc giả bình thường, sống ở Việt Nam. Chúng tôi cung cấp các tin tức tổng quát, những thông tin có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam kiểm duyệt, nhằm mục đích ủng hộ phong trào dân chủ và giúp những người dân oan cất lên tiếng nói. Blog Ba Sàm hoàn toàn độc lập. Chúng tôi không ủng hộ bất kỳ đảng phái hay phe nhóm chính trị nào. Chúng tôi chưa từng nhận hỗ trợ tài chính từ bất kỳ cá nhân, các tổ chức NGO hoặc các nhóm chính trị nào“.

Trong 6 tháng cuối năm 2015, trang ABS trung bình có trên 100.000 lượt truy cập mỗi ngày.

___

Ghi chú: Trang Ba Sàm bị tấn công và chiếm quyền kiểm soát lần thứ 3 vào ngày 8/3/2013, không phải ngày 13/3/2013.

Mùa đảo chính đã bắt đầu

Mùa đảo chính đã bắt đầu

Vũ Thạch

22-3-2016

Lãnh đạo đảng và nhà nước. Nguồn ảnh: internet

Như nhiều nhà bình luận tiên đoán, cuộc sát phạt của phe thắng thế trong Đại Hội Đảng 12 đối với cánh thua cuộc đã bắt đầu. Tuy vậy, người ta vẫn phải kinh ngạc về mức độ gấp rút, bất chấp tiến trình chuyển quyền đã có hàng mấy chục năm nay và bất chấp luôn các luật lệ của chính chế độ.

Để lột sạch quyền lực của đối phương, các cố vấn của ông Trọng nghĩ ra một tiến trình thật rắc rối, dưới tấm vải che đậy của cơ chế nhà nước pháp quyền văn minh hiện đại. Đó là, chỉ trong khóa họp cuối cùng kéo dài 19 ngày hiện nay, Quốc Hội Khóa 13 (QH13), sẽ phải làm nguyên tiến trình sau đây:

  1. Việc đầu tiên là thay ngay chủ tịch QH13 cũ Nguyễn Sinh Hùng bằng chủ tịch QH13 mới Nguyễn Thị Kim Ngân. Lý do thay chủ tịch QH khá khó hiểu. Chẳng lẽ chỉ bà Ngân mới làm theo lệnh phe cánh ông Trọng còn ông Hùng thì không?
  2. Kế đến bà Ngân cho QH 13 của bà bãi nhiệm chủ tịch nước Trương Tấn Sang, rồi bảo họ bầu chủ tịch nước mới Trần Đại Quang.
  3. Kế đến bà Ngân cho QH 13 của bà bãi nhiệm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
  4. Kế đến chủ tịch nước mới Trần Đại Quang đề cử thủ tướng mới Nguyễn Xuân Phúc để QH 13 của bà Ngân bỏ phiếu chấp thuận.

Rồi khi có QH 14 vào tháng 6/2016, nguyên tiến trình bầu bán này và phải đúng kết quả này được lập lại một lần nữa, khởi đi bằng việc chủ tịch QH13 Nguyễn Thị Kim Ngân bảo QH14 bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ tịch QH14.

Rất tiếc, toàn bộ kịch bản công phu này trở thành vô ích vì Điều 87 của bản Hiến pháp năm 2013 đã qui định rằng: “Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước”. Tức nhiệm kỳ của ông Trương Tấn Sang còn kéo dài đến khoảng tháng 7-2016 nếu ông không từ nhiệm và không phạm tội gì quá nặng đến độ bị truy tố, kết án, và truất phế.

Như vậy, phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng chỉ còn một trong 2 lựa chọn chứ không thể có cả hai: Hoặc chơi trò du đãng, bỏ mặt nạ nhà nước pháp quyền, đạp lên hiến pháp, lấy “quyền lực cách mạng trên nòng súng” để đảo chính, lôi ông Trương Tấn Sang xuống khỏi ghế chủ tịch nước bất cần lý do; Hoặc phải chấp nhận nuốt giận ngồi nhìn cả ông Trương Tấn Sang và ông Nguyễn Tấn Dũng ở ghế lãnh đạo đến tháng 7-2016. Không có chủ tịch nước mới thì không có người đề cử thủ tướng mới, cho dù có lấy lý do suy xụp kinh tế để hạ bệ thành công ông Dũng đi nữa.

Đó là chưa kể trường hợp nếu phe cánh riêng của ông Sang, ông Dũng còn một số lực tối thiểu nào đó và biết hiệp lực lại, họ vẫn có thể tuyên bố các kết quả bầu bán của Quốc Hội Bà Ngân vô giá trị vì đều vi phạm hiến pháp. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ có 2 chủ tịch nước và 2 thủ tướng, mạnh ai nấy ra lệnh. Đất nước sẽ có nội chiến.

Tại điểm này, chưa biết kịch bản nào sẽ xảy ra nhưng 2 điểm sau đây đã có thể khẳng định:

– Phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng đã hạ quyết tâm bằng mọi giá phải lôi ông Trương Tấn Sang và ông Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi ghế chủ tịch nước và thủ tướng càng sớm càng tốt, và phải xong nội trong tháng 4.

– Phe ông Trương Tấn Sang và phe ông Nguyễn Tấn Dũng đã hết tin và bất chấp các lời hứa, các khoản thương lượng, đặc biệt là chức tước dành cho con cái họ, từ phía ông Trọng. Cả 2 ông từ chối ngoan ngoãn viết thư xin từ nhiệm, đặc biệt khi thấy đòn sỉ nhục “bãi nhiệm” mà QH bà Ngân đang toan tính dành cho họ.

Còn một câu hỏi cuối. Động cơ nào khiến phe ông Trọng khẩn trương ra tay sát phạt đến như thế? Không chờ được đến tháng 11 như các nhiệm kỳ trước thì đã đành, nhưng chỉ đến tháng 6-2016 cũng không chờ được là sao?

Hiện có một vài lý do khá hữu lý sau đây:

– Cánh đang thắng thế vẫn sợ cánh ông Nguyễn Tấn Dũng có thể “trỗi dậy không hòa bình” trong cuộc bầu cử QH khóa tới qua công cụ Nguyễn Thiện Nhân, người đang nắm Mặt Trận Tổ Quốc — bộ phận lèo lái tiến trình tuyển lựa ứng viên quốc hội.

– Cánh đang thắng thế không quan tâm lắm đến ông Sang nhưng nhắm chính vào việc phải hạ bệ ông Dũng trong tháng 4, trước khi đón Tổng Thống Obama đến thăm vào tháng 5. Rút kinh nghiệm việc chính quyền Obama đòi chỉ gặp ông Nguyễn Tấn Dũng tại Sunnylands vào tháng 2-2016, cánh ông Trọng không thể để cảnh này tái diễn. Nếu ông Dũng, trong vai trò thủ tướng, bỗng ký kết gì đó với Tổng Thống Mỹ chống Tàu, thì cánh ông Nguyễn Phú Trọng biết ăn nói làm sao với Bắc Kinh.

– Và sau hết, cánh đang thắng thế bị sức ép nặng nề từ Bắc Kinh phải gấp rút loại bỏ các lãnh tụ không đáng tin tưởng, phải xiết chặt hàng ngũ đứng sau TQ vì cuộc chiến tại Biển Đông có thể nổ ra bất kỳ lúc nào.

Mùa đảo chính đã bắt đầu. Các sứ quán Tây Phương chuẩn bị đón nhận người xin tị nạn chính trị nhé.

RỬA CHÂN

RUA CHAN

Trầm Thiên Thu

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm.

Rửa là hành động làm cho sạch.  Cái gì cũng phải rửa mới sạch, thân xác cần được rửa đã đành, chính tâm hồn cũng cần được rửa để làm sạch những “vết nhơ.”

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ).  Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ.  Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ.  Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.”  Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ.”

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa.  Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay.”  Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.

Rửa Chân Là Yêu Thương

Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian.  Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm.  Rửa chân người khác là hành động yêu thương.  Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu.  Người rửa chân là “người thực hành yêu thương,” còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8).  Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10).  Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận.  Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4:12).  Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa.  Chết vì yêu là sống trong tình yêu.” Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu.  Quá ngược đời, và lạ thật!  Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.

Rửa Chân Là Khiêm Nhường

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường.  Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức.  Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng.  Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài.  Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại.  Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước.  Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân.  Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc, nhưng thật là dễ thương!

ĐGH Phanxicô, lúc còn là Hồng y Bergoglio TGM của TGP Buenos Aires, ngài cũng đã rửa chân và hôn chân người được rửa.  Một biểu hiện của đức khiêm nhường và tôn trọng nhân vị của người khác.  Ngài chỉ thở bằng một lá phổi từ hồi thiếu niên, nhưng ngài vẫn khỏe mạnh vì lá phổi đó hít thở không-khí-yêu-thương của Đức Kitô.  Ngài sống giản dị, thương người nghèo, tự nấu ăn và không có xe đưa rước, sống cầu nguyện, điều đó cho thấy ngài là một người thánh thiện.

Ngày nay khó tìm được những linh mục, giám mục và hồng y sống khó nghèo như vậy.  Không can đảm thì không thể sống nghèo và sống phục vụ trong yêu thương!  ĐGH Phanxicô đã và đang làm gương cho mọi người là HÀNH ĐỘNG chứ không NÓI SUÔNG, nhất là đối với những người Công giáo, và đặc biệt là đối với các giáo sĩ.

Rửa Chân Là Phục Vụ

Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác.  Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26).  Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ.  Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều.”  Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực.”

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình.  Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ.  Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.  Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.  Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất.  Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân.  Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.  Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai?  Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22:24-27).

Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau.  Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ.  Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”  Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”  Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”  Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”  Sợ không được chung phần, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa.”  Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch.”  Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”

Rửa Chân Là Tha Thứ

Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ.  Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác.  Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ.  Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng.  Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt.  Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21).  Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22).  Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27).  Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần.  Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “khá” lắm rồi, ai dè…!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa.  Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch.  Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ cho nhau như Con Một Ngài.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con.  Amen.

  Trầm Thiên Thu

Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Tác giả: Theo NTDTV | Dịch giả: Minh Nữ

Việt Đại Kỷ Nguyên
Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại. (Ảnh: NTDTV)

Thế nào gọi là cao nhân? Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.
Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.
Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!

Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.
Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa.
Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.
Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy.
Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”
Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.
Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?
Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.
Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.
Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.
Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.
Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.
Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.
Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.
Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.
Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?
Đáp án: Tất cả đều không phải!
Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

  1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.
  2. Tự giác không cần nhắc nhở.
  3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.
  4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

 MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

  1. Khỏe mạnh.

Đạt Lai Lạt ma:

Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

  1. Tình thương

Tagore:

Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

  1. Niềm vui

Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:

Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

  1. Chính trực

Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:

Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

  1. Tôn trọng

Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:

Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

  1. Nội tâm thanh tĩnh

Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:

Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

  1. Đạo đức .Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:

Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

  1. Giáo dục

Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:

Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

  1. Trí tuệ

Steve Jobs nhà sáng lập Apple:

Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

  1. Giác ngộ tâm linh

Người vô danh:

Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà an hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-03-19

25658277466_c9236bf881-622.jpg

GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016)

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Nói tới người hoạt động văn hóa ở hải ngoại không thể không nhắc tới ông, một trí thức đúng nghĩa, một bầu nhiệt huyết vì văn học, con người Việt Nam không hề chảy chậm lại trong cơ thể ông bất cứ phút giây nào và vượt lên trên tất cả, sự dấn thân suốt cuộc đời vì hai chữ tự do cho Việt Nam đã làm tên tuổi ông nằm sâu trong lòng những người từng gặp và biết ông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

Một trí thức đáng kính

Sống và làm việc ở những vị trí quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 và sau này khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Ngọc Bích là một trí thức đáng kính trọng bởi những việc làm cụ thể trước cộng đồng. Được đào tạo từ những đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ từ thập niên 50 như Princeton trong ngành chính trị học cho tới văn học cổ điển Nhật Bản tại Columbia University, cũng như tham dự những khóa học khác nhau tại Vienna, Munich, hay Madrid, Tokyo… Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích có kiến thức ngôn ngữ, chính trị và văn hóa học nhiều nước đủ để giảng dạy tại các đại học lớn của Mỹ sau này như George Mason, Trinity College và Georgetown University.

Là một học giả chuyên ngành ngôn ngữ, ông có những đóng góp đồ sộ cho kho tàng văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Những tác phẩm của ông dịch ra từ các tác giả cổ điển như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương cho tới các tác giả hiện đại như Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Trần Cao Lĩnh cùng hàng chục tác giả Việt Nam khác để giới thiệu với thế giới đang nằm trong các thư viện lớn của quốc hội Mỹ và nhiều đại học nổi tiếng.

Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam.
-Nhà báo Đinh Quang Anh Thái

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích được Tổng thống George W.H Bush (cha) bổ nhiệm chức Giám đốc song ngữ của Bộ Giáo dục Liên bang từ năm 1991 cho tới năm 1993, là Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự do từ năm 1997 cho tới khi về hưu năm 2003. Chủ tịch “Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ” cho tới ngày ông mất.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái có cơ hội biết nhiều tới ông từ khi còn là sinh viên trong nước cho tới khi về làm việc cho đài Phát thanh RFA khi GS Bích làm giám đốc Ban Việt Ngữ. Cho biết cảm nhận của anh về GS Bích như sau:

“Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam. Điển hình là lúc ông học bên Mỹ thời thập niên 50 trước khi về Sài Gòn làm việc thì ông là người đã cùng với sinh viên khác lên tiếng bênh vực chính nghĩa tự do của quân dân miền Nam trong việc bảo vệ vùng đất miền Nam. Đối đầu với đám biểu tình do hiểu sai lạc tin tức nên chống cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi ông về Sài gòn năm 1970-1971 thì ông đóng một vai trò quan trọng trong chính quyền là Cục trưởng Cục thông tin quốc ngoại. Đối với sinh viên thì ông là Tổng thư ký Viện Đại học Cửu Long. Ông gần gũi với sinh viên và ngoài tư cách như một vị thầy, một người anh lớn ông lúc nào cũng gắn bó với tất cả mọi sinh hoạt của sinh viên hồi đó, từ cứu trợ nạn nhân chiến tranh cho tới các buổi hát cộng đồng hay các sinh hoạt văn hóa của sinh viên Sài Gòn.

gs-nguyen-ngoc-bich-622.jpg

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA, ảnh chụp năm 2015.

Ông trước sáng tác nhiều, dịch thuật cũng nhiều và góp rất nhiều công lao giới thiệu văn hóa Việt Nam cho thế giới. Cho tới năm 1975 biến cố 30 tháng 4 xảy ra và ông sang Mỹ giữ vai trò trong nhiều tổ chức khác nhau không ngoài mục tiêu đấu tranh cho một đất nước Việt Nam tự do dân chủ. Lịch sử hoạt động của GS Nguyễn Ngọc Bích thì chắc chúng ta không kể xiết được nhưng có thể tóm lại về phương diện văn hóa thì ông là nhà văn hóa đã đóng góp rất nhiều trong việc giới thiệu nền văn hóa Đông phương nói chung và văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Đối với người Việt Nam ngoài nước thì ông là một người đấu tranh cho tự do dân chủ và là người xây dựng cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vững mạnh và tốt đẹp hơn.

Trong vai trò là người Giám đốc ban Việt Ngữ của Đài Á châu Tự do thì ông là người sáng lập đầu tiên của Ban Việt ngữ và đã dẫn dắt ban Việt ngữ trong nhiều năm trời. Khi ông về hưu chỉ ngồi nhà viết sách cho tới cuối đời của ông thì như chúng ta đều biết GS Nguyễn Ngọc Bích đã mất trên đường đi dự Hội nghị Biển Đông tại Manila và ông đột tử trên máy bay. Đó là bằng chứng cho thấy rằng ông đã sống cho tới lúc chết đã không bỏ sót phút giây nào trong cuộc đời mình cho những mục tiêu cao đẹp mà ông đề ra và đeo đuổi.

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ

Trên chuyến bay từ Istanbul đến Philippines vào tối ngày 2 tháng 3 năm 2016 để tham dự Hội nghị Biển Đông Việt-Phi lần thứ II ông đã từ trần đột ngột do nhồi máu cơ tim bên người vợ theo ông suốt cả cuộc đời là TS Đào Thị Hợi. Cuộc đời ông chưa bao giờ ngưng nghỉ cho riêng mình, nói với chúng tôi, nhà văn Trương Anh Thụy, người hơn nửa thế kỷ cộng tác với ông trong lĩnh vực viết lách và cùng với Giáo sư Bích khởi xướng Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ kể lại:

“Tôi lập ra nhà xuất bản gọi là Tủ sách Cành Nam hay gọi tắt là Cành Nam, anh Bích cứ thấy sách vở ở đâu là nhào tới thôi! Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác? Căn bản những người khác là ai? Họ là những văn nghệ sĩ lúc đó rất hiếm người có phương tiện in ấn và đặc biệt là không biết phát hành ở đâu trong khi tác phẩm của họ rất có giá trị, rất có ích cho văn hóa hay ngay cả cho chính trị nữa. Chúng tôi đặt ra như một thứ slogan là yểm trợ các văn nghệ sĩ để mà họ có một chút phương tiện thời giờ để tiếp tục viết lách.

Anh Bích là người đa dạng, anh ấy nhiều tài lắm thành ra anh ấy làm rất nhiều việc. Nhưng trước khi nói gì thì tôi phải thưa một điều là tôi với anh Bích cũng có những lần tâm sự thì tôi luôn luôn nói với anh Bích rằng anh giỏi quá về văn học sao anh không chuyên về văn học mà lại đi sâu vào lĩnh vực chính trị để nó chia trí và cũng đâm ra chia thời giờ công sức. Dĩ nhiên là làm việc này thì phải bớt việc kia.

Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác?
-Nhà văn Trương Anh Thụy

Thế nhưng anh ấy nói rằng chẳng may đất nước mình nó ở trong tình trạng rất nhiểu nhương và có rất nhiều nỗi đời đau khổ quá. Nếu cứ ngồi làm chuyện văn hóa không thôi thì chả hóa ra mình vô tình với nước non lắm sao? Thành ra chuyện chính trị mà ảnh dính vào là một chuyện rất bất đắc dĩ nhưng chẳng may nó lại rất nổi bật cũng chỉ vì hoàn cảnh đất nước mà thôi.”

Điều mà nhà văn Trương Anh Thụy nhận xét không có gì lạ. Hầu như ai gặp ông cũng nhìn thấy tấm lòng tin tưởng thiết tha vào một ngày mai tươi sáng cho đất nước. Ông không hề mỏi mệt bay từ nước này sang nước khác để vận động, huấn luyện cho những người trẻ có lòng với đất nước. Ông tham gia hàng trăm buổi hội thảo ở nước ngoài nhiều đến nỗi Hà Nội phải vận động nhiều nước cấm ông nhập cảnh vì lo sợ. Điển hình là vào ngày 21 tháng giêng năm 2014 Malaysia đã không cho ông nhập cảnh để làm việc với nhóm Lao Động Việt. Cùng ngày hôm ấy ông chia sẻ với chúng tôi:

“Khi vào phi trường Kuala Lumpur mấy người khác không bị gì cả nhưng tới phiên tôi thì tự nhiên nó chặn và nói rằng chúng tôi có lệnh không cho ông vào Mã Lai. Tôi hỏi lại sao lại có chuyện như vậy thì họ bảo tôi cũng không có câu trả lời cho ông chỉ vì trên headquarter nói với chúng tôi là không cho ông vào thế thôi, mặc dù ông có giấy tờ đàng hoàng.

Tôi bảo ông có thể giải thích vì sao hay không thì họ nói tôi chỉ có thể nói với ông như thế này: có phải lần trước ông vào Mã Lai vào năm 2009 phải không? Tôi nói là đúng như vậy. Họ lại nói sau khi ông vào Mã Lai lần đó thì giữa năm 2010 chúng tôi có lệnh không cho ông vào.”

Với người trẻ, GS Nguyễn Ngọc Bích không quên đưa tay ra làm một nhịp cầu cho họ trên mảnh đất tri thức mà ông đã trải qua. Nguyễn Phương Uyên, một người tranh đấu trẻ từ Việt Nam may mắn được ông dìu dắt kể lại:

“GS Nguyễn Ngọc Bích là một người đã theo tôi từ những chặng đường đầu tiên khi bước vào xây dựng phong trào dân chủ. Bác luôn luôn rất giàu nhiệt huyết và năng lượng trong việc giúp đỡ tôi ngay cả khi bác bệnh thì bác vẫn cố gắng trả lời những câu hỏi, những thắc mắc của tôi trước khi bác đi khám bệnh, bác bị bệnh tiểu đường và tim mạch cũng lo cho các câu hỏi của tôi trước.

Bác như là người cha đẻ của phong trào Bước chân Lạc hồng. Những bước đầu mình ấp ủ như thế nào, xây dựng một diễn đàn cho giới trẻ, mở rộng cho giới trẻ tham gia thì mình nói với bác cách thức ngay cả việc sinh hoạt trong nhánh, trong group ra sao đều chia sẻ với bác ngay cả in ấn và phát hành.”

Bất cứ gặp ông lần đầu hay thường xuyên người ta đều có ấn tượng về khuôn mặt hiền lành, dễ mến kỳ lạ. Nụ cười không bao giờ tắt trên môi ông như nói với mọi người rằng cuộc đời có gì mà phải buồn rầu áo não, ngay cả lúc bi thương nhất vẫn còn tia hy vọng cuối con đường kia mà!

Nhà văn Uyên Thao một bạn đời lâu năm của ông nhận xét:

“Nhận xét anh Bích trong vòng anh em thì có lẽ nhận xét của anh Nguyễn Ngọc Linh, là bào huynh của anh Bích, thì có vẻ chính xác nhất với cái nhìn của tôi. Anh Linh nhìn bọn tôi nhiều khi anh ấy nói thằng tuột. Anh ấy nói tôi với ông anh của Bích là hai anh dở người không làm được cái quái gì hết. Riêng Bích thì cái gì cũng lao vô cuối cùng do vậy chẳng có việc gì làm cho nó ra hồn, đấy là cái nhận xét của anh Linh. Tôi thì tôi nhìn thấy cái nhận xét đó của anh Linh thì thấy hình dung của Bích nó có vẻ phù hợp với cái câu tôi nghe từ bao lâu rồi. Là con người vừa là cái hạt cát lại vừa là viên ngọc.

Nó phải biết rằng nó là cái hạt cát để đừng tranh chấp, đừng mưu cầu cái gì và nó cũng phải hiểu nó là viên ngọc để lúc nào cũng giữ gìn cái chất ngọc đối với tất cả tha nhân. Tôi nghĩ nhận xét của anh Linh có vẻ chê mấy thằng em nhưng mà Bích đã thể hiện được cái câu đó. Hầu như y chẳng nghĩ cái gì mưu cầu cho bản thân của mình mà cứ làm theo tinh thần vị tha theo cái hướng mà nhìn thấy người chết đuối thì lập tức nhảy xuống dưới sông trong khi không biết mình có biết bơi hay không. Đấy là cái nhìn của tôi về Bích.”

GS Nguyễn Ngọc Bích chắc không còn cười tươi được nữa dưới ba tấc đất nhưng gia đình, bạn bè, người thân, học trò của ông đều tin rằng ông đã làm tròn trọng trách của một nhà văn hóa, một trí thức trải qua bao biến động vẫn giữ được cái tâm trong sáng và khí tiết của kẻ sĩ Việt Nam.

Bí quyết để Đan Mạch trở thành nước hạnh phúc nhất thế giới

https://1.bp.blogspot.com/-csTnE_A5b-w/Vtp7G2yWtII/AAAAAAAAhzo/CnHL50U9iu8/s1600/de-cham-vao-hanh-phuc.jpg
Hạnh phúc không phải là điều bạn phải đi tìm kiếm, mà là những gì bạn tạo dựng…”
 Đan Mạch là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới những năm gần đây. Câu hỏi đặt ra là tại sao nước này lại có chỉ số hạnh phúc cao đến vậy? Cùng tìm hiều điều đó dưới đây nhé.


Trong 4 năm gần đây, 3 năm Đan Mạch về nhất trong “cuộc đua” quốc gia hạnh phúc

Đan Mạch đã đứng đầu danh sách những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới của LHQ năm 2016, 2014 và 2013. Mặc dù thời tiết ở Đan Mạch rất u ám trong mùa đông, thế nhưng nơi đây vẫn được coi là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Tại sao?

Khảo sát về mức độ hạnh phúc thực hiện bởi Liên Hợp Quốc và Viện Trái đất tại Đại học Columbia (Mỹ), dựa trên các yếu tố như: sức khỏe, dịch vụ y tế, mối quan hệ gia đình, công việc bền vững, tự do chính trị và một bộ máy nhà nước không tham nhũng. Dưới đây là lý do tại sao Đan Mạch lại “giữ ngôi” hạnh phúc nhất trong nhiều năm như vậy.

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống
Ở Đan Mạch, trung bình một người làm việc 37 tiếng/tuần. Họ có thời gian nghỉ lễ 5 tuần/năm. Điều này có nghĩa là thời gian nghỉ ngơi chiếm phần lớn trong văn hóa Đan Mạch. Việc này rất có ích. Tan làm đúng giờ, đi xe đạp về nhà, hoặc sử dụng một phương tiện công cộng rất hiệu quả, đón con từ trường học và có một bữa ăn tối ấm cúng cùng gia đình, là định nghĩa của hạnh phúc ở hầu hết các gia đình Đan Mạch.


Người Đan Mạch chỉ làm việc 37 tiếng/ tuần

Dành nhiều thời gian để giải trí thư giãn
Người Đan Mạch thường dành thời gian rảnh rỗi của mình với người thân, gia đình, bạn bè. Những cuộc gặp mặt ấm cúng này có thể là một buổi tụ tập bên lò sưởi sau ngày Giáng sinh khi trời đầy tuyết rơi, hoặc đi dạo trên bãi biển, xuống phố, tranh thủ mọi nơi để trò chuyện, cùng nhau uống cốc bia… Người Đan Mạch luôn muốn làm những điều này. Ra ngoài uống bia hay uống café hoặc ăn tối với người thân là một trong 10 điều cần phải làm ở Copenhagen, Đan Mạch.


Thường xuyên dành thời gian với gia đình, bạn bè là chìa khóa hạnh phúc của người Đan Mạch

Ít kì vọng
Người Đan Mạch không quá tham vọng. Trong xã hội Đan Mạch, mọi người đều như nhau. “Bạn không hề tốt hơn những người khác.” là một câu nói nổi tiếng của người Đan Mạch. Không ai chỉ trích bạn vì lựa chọn sự nghiệp hoặc thiếu tham vọng, nếu bạn hạnh phúc với nó, thì cứ tận hưởng. Ít kì vọng khiến mọi thứ trở nên dễ dàng hơn với người Đan Mạch. Như người ta vẫn nói, ít hy vọng thì ít thất vọng. Người Đan Mạch thực sự thích thú với những điều đơn giản và một cuộc sống đơn giản.


“Ít hi vọng, ít thất vọng”

Chính sách phúc lợi “hào phóng”
Đan Mạch được coi là một trong những quốc gia bình đẳng nhất trên thế giới, nơi mà cả nam giới và phụ nữ đều có trách nhiệm như nhau. Thuế ở đây rất cao, giúp quyên góp vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Mọi người đều được khám chữa bệnh miễn phí. Trường học cũng miễn phí. Sinh viên được trợ cấp hàng tháng trong suốt năm. Trợ cấp thất nghiệp và các chương trình hỗ trợ thấp nghiệp đều rất hào phóng.
Chi tiêu của chính phủ về trẻ em và người cao tuổi cao hơn so với bất kỳ nước nào trên thế giới. Hệ thống phúc lợi xã hội ở Đan Mạch phát triển mạnh đã tăng cảm giác an toàn và làm cho người dân cảm thấy thoải mái, luôn tin rằng nếu họ thất nghiệp hoặc bị ốm, xã hội sẽ hỗ trợ và giúp đỡ họ hồi phục.


Sinh viên sẽ được hưởng trợ cấp tới 7 năm

An ninh tốt
Niềm tin là một yếu tố quan trọng trong khái niệm hạnh phúc của người Đan Mạch: tin tưởng vào chính phủ, tin tưởng nơi làm việc, trường mẫu giáo và trường học chăm sóc con của bạn, tin tưởng rằng bạn an toàn, với tỉ lệ tội phạm và tham nhũng thấp, tin vào lực lượng cảnh sát đáng tôn trọng và những người hàng xóm thân thiện.

Các bà mẹ có thể vô ý để quên con mình trong xe đẩy ngoài tiệm café mà không có chuyện gì xảy ra. Ở làng quê, bạn ra ngoài mà chẳng cần khóa cửa nhà. Và có lẽ chiếc xe đạp thân yêu là biểu tượng đẹp nhất của sự hạnh phúc ở Đan Mạch. Nhiều người Đan Mạch đủ khả năng để mua ô tô, nhưng vẫn chọn xe đạp: đơn giản, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và giữ cho bạn khỏe mạnh.

http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s626/2016/03/17/dan-mach-1458179932.jpg
Nụ cười của trẻ em Đan Mạch

Quốc gia này vừa được bình chọn là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2016 do Liên Hiệp Quốc công bố hôm 16-3. 

Việt Nam xếp thứ 96 trong danh sách này.


VietBF © Sưu Tầm