Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm C 03/4/2016

 Tin Mừng (Ga 20: 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

Một người Dtrong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,

Nguyện cầu xin cho thế gian mãi vui”

(Dân từ thơ Quốc Vượng)

 Thắp sáng ngọn nến, để thế-gian mãi vui, còn là thắp sáng cả niềm tin-tưởng của dân gian trần thế, chốn người phàm. Thắp sáng ngọn nến tinh-thần đầy tình thương còn là ý-tưởng được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, ghi lại giòng kể rất thông thoáng những điều dính dấp đến niềm tin của TôMa. Là môn đệ một lòng yêu Chúa, nhưng thánh nhân vẫn tỏ ra hơi cứng tin. Vẫn tuyên bố một lập trường, nghe khá quen. Lập trường: chỉ tin khi được phép sờ vào vết thương đau Thầy Chí Thánh, nay sống lại.

Tôma là hình ảnh của rất nhiều con dân nhà Đạo, ở khắp nơi. Những người có thói quen phản ứng theo cung cách của chốn đời thường. Chí ít, là nơi các kẻ tin cậy và thương mến Đức Kitô, những thành viên dấn bước theo chân Chúa, xưa cũng như nay. Có thể gọi họ là những người có niềm yêu không thay đổi. Nhưng, niềm tin như thế cũng chẳng nên “viết trrên giấy có kẻ giòng”, ngày Chúa sống lại.

Trình thuật tuần Chúa sống lại, là Tin Mừng mới mẻ về một niềm yêu, và cả về niềm tin. Mới mẻ là bởi, trên hết mọi sự, niềm tin phải là tin vào Đức Kitô sống lại. Và, niềm yêu cũng cũng vẫn là lòng thương mến Đấng Nhân Hiền đã dạy đàn con thân yêu phải như thế. Ngài yêu thương loài người rất bền bỉ, cả lúc chết lẫn khi sống lại. Khi sống lại, Ngài hoàn tất sứ vụ Thiên Sai, Cha đã trao.

Tin Mừng Chúa đã sống lại nay hiện diện với Tôma thánh nhân, cũng mang dáng dấp của một thuật truyện khá thần bí. Thần bí với Tôma là đại diện cho nhiều dân con nhà Đạo. Khá thần bí, vì dân con nhà Đạo không hiểu rằng sứ vụ Thiên Sai chỉ kết thúc bằng và qua sự Sống lại của Đúc Chúa; để nhờ đó, Ngài mới về với Thiên tính, hòa hợp cùng Chúa Cha.

Trình thuật hôm nay còn nhắm gửi đến cộng đoàn Êphêsô, là hội thánh đang hoang mang và hãi sợ. Hoang mang, vì cộng đoàn dân Chúa đã kinh qua nhiều thử thách. Hãi sợ, vì Người Do thái vẫn dè chừng, dòm ngó, chẳng để yên. Hoang mang và rất sợ, còn vì người ngoài cuộc chẳng tin là Thầy mình đã sống lại.

Bàn về niềm tin và niềm yêu của người dân đi Đạo, trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh đến sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh. Đức Chúa Phục Sinh nay ở giữa chúng ta, những kẻ cứng tin như thánh Tôma. Và từ lúc đó, việc tin Chúa Phục sinh đã phổ biến rất nhanh, như lời kể trong sách Công Vụ: “Càng ngày có nhiều người tin theo Chúa, cả đàn ông đàn bà rất đông” (CV 5: 12b)

Về niềm tin của cộng đoàn dân Chúa tuy có hãi sợ, lúc ban đầu: “Nơi các môn đồ ở, các cửa đều đóng kín.” (Ga 20: 19). Nhưng với lời chúc phúc của Thầy Chí thánh đã sống, niềm hãi sợ giờ này đã tan đi:  “Bình an cho anh em” (Ga 20: 27).

Với chúc phúc của Đức Chúa, thánh Tôma và dân con nhà Đạo từ nay đã trở về với cung lòng yêu thương của Đức Chúa. Về với niềm tin đích thực, không đổi thay. Được Chúa Nhân Hiền chúc phúc, loài người từ nay được Chúa ờ cùng. Ở với đàn con nay đã có niềm tin và niềm yêu, không đổi thay. Với niềm tin –yêu không còn thay đổi, thánh tông đồ nay đã mở mắt để nhận ra Thầy mình đích thực là Đức Chúa, Đấng Thiên Sai do Cha gửi đến: “Lạy Chúa  con! Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20: 29). Thành thử, lòng cứng tin của thánh Tô ma tông đồ cũng là cơ hội để Chúa Cha chúc phúc cho mọi người. Đứng đầu là thánh nhân.

Qua tuyên xưng của thánh nhân tông đồ, con dân nhà Đạo nay không còn cứng tin nữa. Nhưng, nhận ra Thiên tính của Thầy Chí Thánh, Đấng Nhân Hiền. Và, đây còn là thông điệp đậm nét mà thánh sử Gio-an, người môn đệ “được Chúa thương yêu”, muốn bày tỏ. Thuật lại niềm tin yêu và hãi sợ của Tô-Ma tông đồ, thánh Gio-an cũng minh chứng: đây không đơn thuần chỉ là cuộc xum họp gia đình môn đệ của Đức Chúa, mà thôi.

Nhưng, đây còn là thông điệp mang xác chứng của một lệnh truyền: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20: 21). Là Đức Chúa sống lại, nay Thầy sai anh em ra đi để rao truyền niềm yêu và niềm tin “không còn thay đổi” đến với mọi người. Với lệnh truyền của Đức Chúa Phục sinh được chứng xác, đồ đệ kẻ tin nay được đảm bảo có Thánh Thần Chúa ở cùng. Rồi từ đó, các vị được quyền thứ tha lỗi lầm của anh em cùng niềm yêu và tin, nhưng chưa tha thứ.

Quyền uy tha thứ mọi lỗi phạm của anh em, không chỉ là quyền hòa giải giữa các người anh em với nhau, nhưng còn là một giảng hòa sâu đậm giữa con người với Đức Chúa, nữa. Với lệnh truyền hòa giải, nay  dân con nhà Đạo sẽ trở nên một. Một người con có Cha Chung là Đức Chúa, đã sống lại. Một cộng đoàn gồm những người có niềm yêu và niềm tin. Những người con yêu được ở trong Chúa. Và với Chúa.

Xem như thế, xác định về niềm yêu và tin của mọi dân con Đức Chúa, từ nay được “viết trên giấy có kẻ giòng”, “không đổi thay”. Từ nay, mọi con dân nhà Đạo sẽ không còn cứng tin như Tôma tông đồ, vào dạo trước. Và từ nay, các Tô-ma đương đại sẽ không còn hoang mang, hãi sợ. Vì được Đấng Nhân Hiền Chí Thánh chúc phúc: “Bình an cho anh em!” .

Các Tôma thời đương đại, chung cuộc rồi ra cũng nhận biết được dung mạo của Thầy Nhân Hiền đã sống lại, nơi người anh, người chị của mình tại các xóm nghèo thành thị. Và, những người em còn ở chốn nhân gian đầy kinh sợ. Sợ nghèo, sợ đói. Sợ cả dân gian chưa có được niềm tin. Sợ đến độ chẳng còn biết “tin” vào ai. Nói gì đến niềm yêu “không đổi thay”.

Và nếu con dân nhà Đạo vẫn còn những đồ đệ chưa xác tín, vẫn hãi sợ mông lung, thì này đây thêm một khẳng định, nơi trình thuật: “Những điều được chép ở đây, là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Và, để nhờ tin mà được sống nhờ danh Nguời.” Nói cho cùng, mấu chốt cơ bản của Đạo Chúa không là gì khác ngoài những TIN và YÊU. Một niềm yêu và niềm tin không đổi thay. Và các niềm ấy, không chỉ “viết trên giấy có kẻ giòng”, thôi. Mà, còn được ghi tạc nơi phần sâu thẳm của tâm can mỗi người. Nơi mọi người.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao niềm tin của ta vẫn mãi trong sáng. Không hãi sợ. Không sợ cả người ngoài hay kẻ xấu.

Cầu và mong sao, khi được Chúa chúc bình an và sai đi loan truyền niềm yêu không đổi thay, ta sẽ vững tin hơn, mà lên đường. Vững tin, để rồi với lời chúc phúc bình an của Đức Chúa, ta sẽ nhận ra Ngài nơi mọi người, người trong Đạo cũng như ở ngoài.

 Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

Chúa Giêsu đã từng nói: “Được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, nào có ích gì”.  Thực vậy, có những người khi sống đã được cả thế gian, nhưng cuối đời họ đã đánh mất tất cả.  Mất cả danh dự.  Mất cả bổng lộc.  Mất cả người thân và cuối cùng là mất cả mạng sống.

Cuối năm 2006, toàn thể thế giới đều nghe nói về ba cái chết của ba nguyên thủ ba quốc gia.  Ba người ba cá tính, ba cung cách lãnh đạo khác nhau.  Trước cái chết của họ, có kẻ khóc, có người vui. Có kẻ ngậm ngùi thương tiếc, có kẻ khai rượu ăn mừng.  Điểm chung của họ là được cả thế gian nhưng rồi họ cũng ra đi tay trắng như bao người khác.

Người thứ nhất đó là tổng thống Chilê, Ausgusto Pinochê đã qua đời ngày 10/12/2006.  Ông đã cai trị nước Chi Lê từ năm 1973 đến 1990.  Các tổ chức nhân quyền của Chi Lê đã ước lượng dưới quyền thống trị của ông, có ít nhất 2,100 người bị xử tử vì lý do chính trị, hơn 1,100 tù nhân bị mất tích và khoảng 10,000 tù nhân bị tra tấn trong những trại tù bí mật ở trong nước.  Ông đã bị toà án quốc tế truy tố năm 1998 về tội diệt chủng.  Ngày an táng của ông, Đức Hồng Y Karmelic đã cầu xin Thiên Chúa “quên đi những lầm lỗi của Augusto Pinochê”.

Người thứ hai đó là tổng thống Geral Ford, tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ.  Ông đã an nghỉ vĩnh viễn vào ngày 26/12/2006.  Cuộc đời ông không có gì vẻ vang, không có chiến tích đánh đông dẹp tây, nhưng ông được nhìn nhận là người ôn hoà.  Ông đã có một hành động thật phi thường là tha thứ cho cựu tổng tống Nixon khỏi bị truy tố.  Ông đã nói rằng: Ông tha thứ cho Nixon vì quốc gia Hoa Kỳ chứ không phải vì bản thân Nixon.

Cuối cùng là cái chết của nhà độc tài Sadam Hussen, cựu tổng thống Iraq.  Ông đã bị kết án treo cổ tử hình vì tội giết người vô tội.  Ông là một người đã được trời ban cho mọi vinh hoa phú qúy trần gian, nhưng khi chết chỉ có một dây thòng lòng quốn quanh cổ.  Dù rằng, ông không chấp nhận bản án, không chấp nhận cái chết nhục nhã này, nhưng định mệnh đã lấy đi mạng sống của ông khỏi trần gian.

****************************************

Ba nhân vật này đã đi vào cái chết khác nhau.  Có người bình thản ra đi.  Có người ra đi nhưng vẫn ôm trong lòng những ray rức lương tâm.  Có người ra đi trong bất mãn tột cùng.  Và như vậy, cuộc đời chỉ có giá trị khi mình biết sống để phục vụ sự sống.  Cuộc đời sẽ bị người đời khinh chê nếu chỉ biết gieo vãi sự chết chóc và kinh hoàng.  Sự ra đi trong thanh thản bình an hay lo âu sợ hãi cũng tùy thuộc vào cuộc sống của chúng ta: nhân đức hay tội lỗi, công bình hay giả dối, hiền lành hay gian ác.

Cách đây hơn hai ngàn năm, trên đồi Golgôtha, có ba tử tội đã bị kết án tử hình trên thập tự giá.  Ba tử tội, tuy sinh không cùng năm nhưng lại chết cùng ngày, cùng tháng.  Ba tử tội đã đi vào cái chết thật khác nhau.

Người thứ nhất bên tả đã oán hận phận số của mình.  Cuộc đời của anh chỉ biết giết người và cướp của.  Cuộc đời anh chỉ lo gom góp cho bản thân, chỉ nhằm phục vụ bản thân, cuối cùng anh đã ra đi tay trắng trong uất hận đau thương.

Người thứ hai bên hữu đã đón nhận cái chết trong khiêm tốn, ăn năn. Anh đã hoang phí cuộc đời để chạy theo ảo ảnh trần gian. Thế nhưng, anh đã kịp ăn năn về cả một quá khứ lầm lạc.  Anh đã chấp nhận cái chết khổ hình như một hình phạt xứng với tội lỗi của mình.  Anh ra đi trong an bình của người biết sám hối ăn năn.

Ở chính giữa là thập giá Chúa Giêsu.  Chúa đi vào cái chết như của lễ đền tội cho nhân sinh. Chúa chấp nhận cái chết vì loài người và để cứu rỗi loài người.  Chúa đã chịu khổ hình không do lầm lỗi của mình mà vì vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Chúa đã chết vì tình yêu đối với nhân loại, đến nỗi đã trở thành khuôn mẫu cho mọi tình yêu.  Vì “không có tình yêu nào cao qúy hơn tình yêu dám chết thay cho bạn hữu”.

****************************************

Hôm nay thứ sáu tuần thánh, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu.  Khi mang thân phận của một con người như chúng ta, Chúa Giêsu đã sống một đời để phục vụ con người, và Ngài cũng đón nhận cái chết vì con người.  Thế nên, tình yêu của Ngài đã thành bất tử trên trần gian.  Thập giá không còn là nỗi ô nhục mà là một cuộc khải hoàn vinh quang.

Đó chính là sứ điệp ngày thứ sáu tuần thánh mà Chúa đang mời gọi chúng ta, muốn trở nên môn đệ của Chúa hãy vác khổ giá mà buớc theo Chúa.  Hãy sống một đời biết cho đi.  Hãy biết dùng khả năng của mình mà phục vụ sự sống cho đồng loại.  Và hãy biết hiến thân mình để đem lại hạnh phúc cho tha nhân, vì chưng: “được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”  Amen!

Trích từ Veritas

ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

  ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

Cv 10,34a.37-43; 1Cr 5,6b-8; Lc 24,13-35

Tác giả:  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự sống.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1.Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

 2.Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3.Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì  Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4.Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

 5.Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

+ TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Đan viện Châu Sơn – 2016

Đã quên sao ?

Đã quên sao ?

Tết qua đã hơn nửa tháng rồi mà những người Úc gốc Việt đi Việt Nam ăn tết vẫn chưa trở về. Chợ búa lưa thưa ế ẩm buồn hiu như chợ chiều 30. Tiếng rao hàng dẽo nhẹo có kèm theo câu pha trò của mấy anh bạn hàng bán trái cây thường khi vẫn vang inh ỏi gọi mời bây giờ im thin thít khiến người ta có cảm tưởng đây là một khu shop hết thời sắp closing down dẹp tiệm.

Đứng chờ mua bánh mì, tôi nghe hai bà Việt Nam nói chuyện với nhau rôm rả. Bà này hỏi bà nọ:

– Lâu quá không thấy bà đi chợ, bộ đi Việt Nam hả?

Bà nọ cười toe toét trả lời:

– Ờ, tui về VN trước tết cả tháng lận. Đáng lẽ chưa trở qua đâu nhưng mới đây con nó kêu về nói bộ An sinh xã hội gởi giấy “hỏi thăm sức khỏe”. Tui về ló cái mặt ra cho nó thấy rồi vài bữa trở qua bển nữa. Ở đây buồn quá, về bển chơi cho vui cái tuổi già. Việt Nam bây giờ tiến bộ lắm, nhà cửa đầy đủ tiện nghi, xe cộ có máy lạnh, khách sạn 5 sao, sang còn hơn ở ngọai quốc, cái gì bên Úc có là ở bển cũng có. Ăn uống cũng vậy, nhà hàng lềnh khênh, đồ tây, đồ tàu, Mỹ, Úc, Hàn, Nhật, Thái, Ấn vv… không thiếu nước nào. Đặc biệt đồ biển tươi chong, tôm cá nhảy soi sói chớ không phải đông đá như bên này.

Nghe bà ta nói mà tôi cảm thấy bất mãn lẫn chua xót dùm cho chính phủ Úc ân nhân, đã làm ơn còn mắc oán. Tôi không hiểu sao bà lại có thể hiu hiu tự đắc nói như vậy mà không chút áy náy ngượng miệng.

Chẳng lẽ bà đã quên là bà từ đâu chạy tới đây rồi hay sao? Chẳng lẽ bà không còn nhớ tại vì sao, nguyên do nào bà có mặt ở nước Úc này?
Chẳng lẽ bà đã quên hết những kinh nghiệm xương máu dưới chế độ cộng sản phi nhân, những thống khổ đọa đày, những áp bức kềm kẹp, bóc lột tận cùng xương tủy của bọn độc tài đảng trị khiến bà không chịu đựng nổi nên phải liều mình vượt thoát ra đi bất kể sống chết thế nào.

Chẳng lẽ bà không còn nhớ gì đến chuyến vượt biển kinh hoàng, những ngày đêm đói khát lênh đênh trên biển cả bao la mịt mùng vô tận, giữa bao hiểm nguy rình rập bủa vây, nào là sóng gió bão bùng, nào là hải tặc cướp bóc hết lần này đến lần nọ tưởng chừng như không còn mạng tới bờ.

Nhưng may mắn thay cho bà, cuối cùng bà đã cặp bến tự do. Nước Úc đã nhân đạo mở rộng vòng tay đón tiếp bà, đã cưu mang bà, cho bà hưởng mọi quyền lợi như người dân bản xứ, cho con cái bà có cơ hội phát triển, vươn lên và thành đạt như tất cả những con dân được sinh ra và lớn lên trong một thế giới tự do, một xã hội có luật pháp, có nhân quyền.

Và giờ đây khi bà tới tuổi hưu trí, chính phủ Úc lại còn tử tế phụng dưỡng bà trọn đạo như bà là mẹ già của họ bất kể bà có đóng góp gì cho nước Úc này hay không trong đời tị nạn của bà.

Quê hương ai chẳng nhớ chẳng muốn về, nhưng nếu về thăm thân nhân, bằng hữu, cảnh cũ làng xưa vì tình quê nung nấu trong lòng thì còn có thể hiểu được, thì còn rán dày mặt bấm bụng mà về một vài lần cho thỏa lòng thương nhớ đất tổ quê cha. Nhưng đàng này bà cứ đi đi về về như đi chợ, ở Việt Nam nhiều hơn ở Úc chỉ vì muốn du hí muốn hưởng thụ, vô hình chung bà đã tiếp tay làm đầy thêm túi tiền cho bọn chóp bu cộng sản vốn không thể đội trời chung với bà. Mỉa mai thay! một nơi mà ngày xưa bà cho là địa ngục trần gian không thể sống, bất cứ giá nào cũng phải cao bay xa chạy thì giờ đây bà lại hớn hở quay đầu về ca tụng, coi đó là thiên đường. Dĩ nhiên là thiên đường vì bà đang có đồng đô Úc trong tay. Nếu như chính phủ Úc cúp trợ cấp cho bà thì bà sẽ ra sao? Ở xứ này, bệnh họan vô nhà thương không tốn một đồng xu từ A tới Z. Còn thiên đường cộng sản từ A tới Z đều phải nộp thủ tục đầu tiên. Tội cho dân nghèo, tiền đâu mà làm thủ tục đầu tiên để được chữa bệnh!

Nếu bà cho là Việt Nam ngày nay đáng cho bà sinh sống thì bà hãy ở hẳn bên đó đi và đừng lợi dụng quốc tịch Úc, dùng đồng tiền cấp dưỡng của chính phủ Úc để thủ lợi mua vui cho bà. Như vậy mới không hổ mặt bà và công bằng cho nước Úc.

Bà chỉ thấy cái vỏ hào nhoáng mị dân bề ngoài chớ có biết đâu thực chất bên trong trống rỗng. Cả một bè lủ gọi là chính quyền, lãnh đạo chỉ giỏi đàn áp, tham nhũng vơ vét làm của riêng, mạnh ai nấy đầu tư ở nước ngoài thủ thân dọn đường chạy. Dân đói mặc dân. Chẳng ai có lòng thương nước thương dân, đặt lợi ích của toàn dân trên hết để cải thiện công bằng trật tự xã hội, ổn định đời sống cho dân nhờ. Dân giàu thì nước mới mạnh. Đàng này, cái nghèo đói đã khiến con người chỉ nghĩ đến làm sao kiếm miếng ăn, từ chỗ đó sinh ra lươn lẹo mánh mung, trộm cướp, giựt giọc, giết người một cách ác độc vô cảm vô nhân tính. Xã hội càng ngày càng loạn, luân thường đạo lý càng xuống dốc thì đất nước càng sớm đi đến chỗ diệt vong nhứt là từ vua tới dân, mạnh ai có tiền cũng chỉ biết ăn chơi hưởng thụ mà không biết xây dựng, củng cố hay bảo vệ giữ gìn thì sớm muộn gì cũng vào tay ngọai bang thôi.

Người trong nước đã thấy vận mạt của Việt Nam cho nên ai có khả năng cũng tìm đủ mọi cách để ra khỏi nước thì tại sao bà lại lội ngược dòng. Cái vị thế của bà, một công dân Úc ai thấy cũng ao ước thèm thuồng nhưng sao bà không biết quý, có phải là nghịch lý lắm hay không?

Mỗi người có quyền tự do riêng, muốn làm gì thì làm nhưng cũng nên lựa chọn, lựa chọn đạo lý làm người hay lựa chọn vong ân bội nghĩa, vô ý thức!

Người Phương Nam

Cần thay đổi cách nhìn về hiệu quả thủy điện sông Mekong

Cần thay đổi cách nhìn về hiệu quả thủy điện sông Mekong

Việt Hà, phóng viên RFA
2016-03-25

Một nông dân Việt Nam bên cánh đồng lúa xanh mướt vùng ĐBSCL hôm 11/12/2014

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các nước thuộc hạ nguồn sông Mekong đang làm dấy lên những câu hỏi đến vấn đề thay đổi khí hậu và tác động của các đập thủy điện trên dòng sông Mekong. Bên cạnh đó là những lo ngại về hiệu quả làm việc của Ủy hội sông Mekong bao gồm các nước Việt Nam, Lào Campuchia và Thái Lan trong đó Myanmar và Trung Quốc chỉ đóng vai trò đối tác. Việt Hà phỏng vấn chuyên gia Richard Cronin, Giám đốc chương trình Đông Nam Á thuộc trung tâm Stimson ở Washington DC, Hoa Kỳ, về những vấn đề này.

Việt Hà: Thưa ông có nhiều yếu tố gây hạn hán và xâm nhập mặn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Có ý kiến cho rằng nguyên nhân chính là do việc xây đập của các nước ở thượng nguồn nhưng cũng có ý kiến cho rằng thay đổi khí hậu là nguyên nhân chính. Theo ông yếu tố xây đập thủy điện đóng góp thế nào vào tình hình hiện nay?

Richard Cronin: Đã có những sự kiện từ trước kia mà Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc vấn đề. Ủy hội sông Mekong (MRC) đã có một câu trả lời rất mập mờ về nguyên nhân của hạn hán vào năm 2010. Vấn đề là lúc đó mọi người phàn nàn về Trung Quốc và cuối cùng Trung Quốc đồng ý xả nước từ đập ra nhưng nó cho thấy một vấn đề quan trọng khác đó là lập luận của Trung Quốc với các nước hạ nguồn sông Mekong là các đâp của Trung Quốc sẽ giúp họ vì chúng sẽ đưa thêm nước vào sông trong mùa khô nhưng nhiều mùa khô đã qua mà điều này không xảy ra.

Đã có những sự kiện từ trước kia mà Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc vấn đề. Ủy hội sông Mekong (MRC) đã có một câu trả lời rất mập mờ về nguyên nhân của hạn hán vào năm 2010.
– Richard Cronin

Bây giờ với sự tăng trưởng kinh tế chậm lại và nhu cầu điện ở Trung Quốc thấp hơn thì điều này có nghĩa là ở các đập của Trung Quốc người ta sẽ phải quyết định là họ để nước đi qua đập trong khi họ không dùng nó để sản xuất điện hoặc chỉ để nước đi qua khi cần dùng để sản xuất điện. Điều này tạo nên một sự mập mờ không rõ cho những nước hạ nguồn. Họ sẽ không biết là họ sẽ nhận được bao nhiêu nước và Trung Quốc sẽ thay đổi tình hình thế nào. Đó là một vấn đề lớn.

Theo lý thuyết thì điều này cần phải được đề cập ở Thượng đỉnh Lang Thương- Mekong, họ cần phải phải thảo luận hợp tác giữa việc Trung Quốc điều hành các đập và nhu cầu nước của các nước hạ nguồn sông đặc biệt là vào mùa khô…

Chúng tôi không biết được cụ thể Trung Quốc đang làm gì và họ xả nước ra bao nhiêu nhưng chúng tôi biết là vào lúc này, theo ước tính của các chuyên gia thì các con đập của Trung Quốc đang giữ lại khoảng 80 đến 90% phù sa mà đáng ra phải chảy xuống hạ lưu Mekong.

Phù sa này cần phải xuống vùng đồng bằng nhưng giờ bị giữ lại và đó là nguyên nhân khiến đồng bằng phía dưới sông Mekong bị thu hẹp lại vì không có đủ phù sa. Bên cạnh đó là mực nước biển cũng đang lên cũng góp phần làm đồng bằng thu hẹp. Lượng phù sa chảy xuống dòng sông giảm một phần nữa bởi các con đập mà Việt Nam xây ở Tây nguyên và các con đập mà Lào cho xây dựng. Các con đập này đã ngăn cản phù sa xuống đồng bằng. Nhìn chung có nhiều yếu tố ảnh hưởng và trong đó có yếu tố Trung Quốc nhưng chúng tôi lại không có dữ liệu cụ thể là các con đập Trung Quốc giữ lại bao nhiêu và bao nhiêu chảy xuống dòng sông.

Vai trò của MRC

Việt Hà: Ông đánh giá thế nào về khả năng hợp tác giữa các nước thuộc khu vực sông Mekong trong việc chia sẻ thông tin và quản lý nguồn nước trong tương lai?

Richard Cronin: Từ kinh nghiệm hiện có cho đến lúc này, tôi thấy không có lý do gì để lạc quan về hợp tác này. Điều mà Trung Quốc phải quyết định là liệu họ có muốn hợp tác Lan Thương – Mekong có hiệu quả và nhận được sự ủng hộ từ các nước khác vì cơ chế này không chỉ tập trung vào vấn đề hợp tác kinh tế, hợp tác kinh tế bao gồm việc xây dựng hạ tầng cơ sở…. nhưng nó cũng phải bao gồm chia sẻ thông tin và hợp tác về nguồn nước sông.

Theo ước tính của các chuyên gia thì các con đập của Trung Quốc đang giữ lại khoảng 80 đến 90% phù sa mà đáng ra phải chảy xuống hạ lưu Mekong.
– Richard Cronin

Tôi không thấy là điều này sẽ xảy ra. Tôi nghĩ là họ sẽ đưa ra các cam kết mập mờ để khiến các nước hạ nguồn sông quan tâm… vấn đề là tại sao họ xả nước bây giờ? Theo lý thuyết thì họ phải xả nước vì các nước láng giềng cần nước. Cho nên thời điểm mà họ xả nước rất trùng khơp với thời điểm diễn ra thượng đỉnh Lan Thương – Mekong và điều này có nghĩa là Trung Quốc hiểu được là nếu họ muốn đạt được bất cứ điều gì qua LMC thì họ có lẽ phải có nhượng bộ về nước và công khai hơn về vấn đề này. Liệu họ có những nhượng bộ hay không thì tôi không biết nhưng nếu tôi là các nước hạ nguồn sông thì tôi sẽ nghi ngờ.

Tôi sẽ không trông đợi gì ở Trung Quốc mà biết là Trung Quốc sẽ làm theo cách của họ về hợp tác kinh tế chủ yếu là trên đất liền,… hiện nay chưa có một cơ chế nào về hợp tác nguồn nước có liên quan đến Trung Quốc trong khu vực.

Việt Hà: Việt Nam hiện cũng rất quan ngại về việc Thái Lan lấy nước từ sông Mekong đổ vào đồng bằng của mình. Điều này cho thấy vấn đề hợp tác giữa các nước qua cơ chế MRC. Ông có nhận xét gì về hiệu quả làm việc của MRC?

000_Hkg10129166-400

Một chiếc đò đưa khách qua sông trên dòng Mekong địa phận thành phố Cần Thơ hôm 14/12/2014. AFP photo

Richard Cronin: Đó là lý do mà MRC đang gặp rắc rối. Vì sao MRC đã bị coi là thất bại trong nhiệm vụ của mình, đó là vì cuối cùng MRC chỉ có thể làm được việc của mình khi các chính phủ hợp tác ở mức chính trị dù họ có ủy ban làm việc với các bộ môi trường hay không hay thậm chí họ đưa nó lên mức cao hơn là với các bộ về kinh tế.

Những bộ đó không được phép hành động trừ khi họ được phép từ trên cao đưa xuống. Cho nên các quyết định về hợp tác đưa ra cần phải đến từ mức độ hợp tác chính trị cao hơn và điều này không xảy ra. Thái Lan thực tế luôn là một nước có xu hướng tự làm theo ý mình. Theo lịch sử thì Thái Lan dường như luôn muốn giống như một Trung Quốc thu nhỏ khi đối xử với các nước láng giềng; họ hoạt động trên cùng một nguyên tắc khi mở rộng ảnh hưởng của mình là sức mạnh kinh tế lên khu vực, dựa vào vị thế địa chính trị của mình để tăng cường sức ảnh hưởng của họ lên các nước khác trong khu vực. Điều này cũng giống như Trung Quốc đang làm chỉ khác là Thái Lan làm ở mức độ nhỏ hơn mà thôi.

Tỉnh hình VN

Việt Hà: Theo ông nếu tình hình diễn biến như hiện này thì sắp tới tình hình ở Việt Nam, nước cuối nguồn sẽ như thế nào ?

Richard Cronin: Tôi không thấy có sự cải thiện tốt hơn trong tương lai gần cho Việt Nam ở cuối dòng sông. Theo tôi nếu bạn cố gắng thuyết phục chính phủ Thái lan hay Lào về những ảnh hưởng tiêu cực của các đập thủy điện lên môi trường hay ảnh hưởng lên cuộc sống của người dân trong vùng thì chắc chắn là họ sẽ không quan tâm. Đó là một lập luận không hiệu quả. Theo tôi điều có thể xảy ra trong tương lai và chắc là sẽ xảy ra là hiệu quả kinh tế của các dự án thủy điện lớn thay đổi và chúng càng ngày càng trở nên kém hiệu quả.

Việt Hà: Ông nói rằng MRC hoạt động không hiệu quả vậy theo ông trong tương lai liệu có cơ chế nào thay thế cho MRC hay không?

Tôi không thấy có sự cải thiện tốt hơn trong tương lai gần cho Việt Nam ở cuối dòng sông.
– Richard Cronin

Richard Cronin: Không tôi không nghĩ là như vậy. MRC được thành lập sau nội chiến ở Campuchia. Nó là sáng kiến của Nhật với mong muốn củng cố hòa bình trong khu vực và khuyến khích phát triển bền vững. Ý tưởng của Nhật bản lúc đó là làm thế nào để tạo các cơ sở chế tạo của Nhật ở nước ngoài. Nhật bản cho rằng bằng việc thiết lập sản xuất ở các nước Lào, Campuchia và Việt Nam và phối hợp với các cơ sở sản xuất đã có sẵn ở Thái Lan thì điều này không những củng cố hòa bình cho khu vực bị chiến tranh tàn phá mà còn mở một cách cửa hậu về thương mại vào Trung Quốc.

Nhưng đó là một tính toán sai lầm vì bong bóng kinh tế của Nhật bị vỡ và kinh tế Nhật gặp khó khăn. Vào năm 1992 Đặng Tiểu Bình nói ở Thượng Hải tuyên bố việc mở cửa cho các công ty nước ngoài được chế tạo sản phẩm ở Trung Quốc. Đó là thời điểm hợp lý để thành lập MRC nhưng đó cũng là thời điểm của nhiều thay đổi. Cho nên câu hỏi bây giờ là chúng ta sẽ làm lại từ đầu ra sao, làm thế nào để tạo dựng lại ASEAN vào lúc này nói ví dụ như ASEAN chưa tồn tại. Nếu vậy thì sẽ rất khó khăn, cho nên không thể thay thế MRC và tôi vẫn tin là MRC xứng đáng nhận được những ủng hộ nhưng nó cần sự cam kết chính trị từ các nước thành viên. MRC cần có cải tổ và cần có sự cam kết về chính trị từ các nước.

Việt Hà: Theo ông thì các cường quốc khác như Mỹ và Nhật bản đóng vài trò gì trong việc hỗ trợ hoạt động của MRC?

Richard Cronin: Các nước đó có cung cấp hậu thuẫn cho MRC nhưng đang bị yếu đi vì thực tế là MRC đã không làm được những gì mà MRC đáng ra đã phải làm. Nhưng những nước có ảnh hưởng và đóng góp lớn nhất bao gồm Mỹ, Nhật, một số nước Bắc Âu, Australia và New Zealand hiện tại chỉ tạo ảnh hưởng chủ yếu qua các hợp tác song phương với từng nước qua các dự án với chính phủ. Ví dụ Hoa Kỳ thì có sáng kiến hạ sông Mekong (LMI) và không có nhiều tiền trong đó. Phần lớn các dự án trong LMI là song phương.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.

Hơn 10 năm tù cho 5 du khách Việt trộm đồ ở Singapore

Hơn 10 năm tù cho 5 du khách Việt trộm đồ ở Singapore
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Một nhóm 5 du khách Việt Nam vừa bị tòa án Singapore tuyên án tù tổng cộng hơn 10 năm do “tổ chức trộm cắp” tại cửa hàng quần áo ở ION Orchard.

Cửa hàng thời trang H&M ở ION Orchard, Singapore, nơi nhóm người Việt vào trộm đồ. (Hình: VnExpress)

VnExpress ngày 25 tháng 3 dẫn tin từ Channel News Asia, cho biết, nhóm 5 du khách đến Singapore qua Malaysia ngày 27 tháng 1 bị cáo buộc thực hiện hành vi ăn cắp tại trung tâm thương mại ION Orchard ngay ngày hôm sau.

Theo đó, tòa án Singapore đã tuyên 4 du khách Việt Nam gồm Hoang Dinh Cong, Nguyen Quoc Hung, Nguyen Thi Luong và Dang Bich Thao (tuổi từ 25 đến 28 tuổi), mỗi người 28 tháng tù. Riêng Dinh Ngoc Luan (27 tuổi), kẻ chủ mưu kinh doanh bán quần áo ở Việt Nam bị phạt 31 tháng tù.

Ông Sivabalan Thanabal, phó công tố cho biết, “lạm dụng sự hiếu khách,” nhóm người Việt này đến Singapore “với ý định ăn cắp.” Kế hoạch ăn cắp được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, chỉ trong 48 giờ đồng hồ, nhóm này lấy được số hàng trị giá 17,380 đô la Singapore. “Tòa án phạt tù để ngăn chặn những nhóm người có ý định tương tự nhắm vào Singapore,” ông Sivabalan Thanabal nói.

Theo cáo trạng, tại trung tâm mua sắm trên, Hoang Dinh Cong đứng ở vị trí được sắp xếp trước với túi hành lý, trong khi Nguyen Quoc Hung, Nguyen Thi Luong và Dang Bich Thao vào cửa hàng cùng với Dinh, cầm sẵn túi giấy màu nâu để đựng các quần áo bị đánh cắp. Các túi giấy đều đã được chuẩn bị lớp lót chống hệ thống báo động an ninh. Bởi vậy, họ có thể qua cổng an ninh dù số hàng trong túi chưa được thanh toán.

Sau mỗi lần hành động, những tên trộm sẽ chuyển quần áo bị đánh cắp từ các túi giấy vào túi hành lý mà Hoang Dinh Cong đã chờ sẵn, rồi quay lại tiếp tục trộm đồ ở các cửa hàng khác.

Ba trong số họ bị bắt quả tang bởi nhân viên cảnh sát tuần tra của trung tâm thương mại. Hai người còn lại bỏ chạy nhưng cũng bị bắt khi đang cố gắng rời khỏi Singapore qua cửa khẩu Woodlands. (Tr.N)

Sông Mekong Đang Lâm Nguy

Sông Mekong Đang Lâm Nguy

18 Tháng 3 2016

00_HANHAN

 

Sông Mekong Đang Lâm Nguy. Tác động của sự Phát triển trên Sông, Đồng bằng, và Dân chúng.

The Mekong River at Risk: The impact of development on the river, her delta, and her people

LGT: Trước hiện tình khủng khiếp, gần như vô phương cứu chữa, liên quan tới sự sinh tồn của dân tộc Việt Nam, đó là “nạn hạn hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đang ảnh hưởng” tới 39 trong số 63 tỉnh ở Việt Nam. Nguyên nhân dẫn tới thảm trạng quốc nạn ngày nay chính là âm mưu siết cổ Việt Nam của Trung Cộng với chiến lược “Thượng nguồn tích thủy – Hạ nguồn khan”  trong tiến trình trói buộc dân tộc chúng ta phải lệ thuộc về mọi mặt, kể cả nguồn nước nuôi sống dân miền Nam VN. Bài viết dưới đây rất công phu của Tiến sĩ Mai Thanh Tuyết đã phân tích rõ ràng về tai họa long trời lở đất này. www.baotgm.com xin được gởi tới quý độc giả để rộng đường dư luận. Đồng thời, chúng tôi cũng xin đa tạ tác giả đã sốt sắng đáp ứng kịp thời về mặt nghiên cứu, đóng góp hữu ích trước đại cuộc đấu tranh cho quê nhà chóng tai qua nạn khỏi nói chung. Trân trọng.

♦♦♦

Vào thời điểm năm 1999, Trung Cộng đang xây nhiều đập thủy điện trên dòng Mekong cũng như công bố sẽ có dự án xây thêm một chuỗi đập bậc thềm tiếp theo sau đó. Nhận thấy đây là một thách thức về mội trường cũng như nguy cơ phát triển của một dòng sông, Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam tại Hoa Kỳ (Vietnamese American Science & Technology Society (VAST)) phối hợp cùng các nhà tài trợ tổ chức một ngày hội nghị với đề tài: Trong tiến trình buộc dân tộc chúng ta phải lệ thuộc về mọi mặt, kể cả nguồn nước nuôi sống miền Nam VN.

Vào ngày 08 Tháng năm 1999 tại khách sạn Ramada Plaza, Garden Grove, CA

Tham dự viên của Hội nghị gồm đại diện của NGO Mekong River Network, có trụ sở tại California, Cô Imhoff, và đại diện cộng đồng Lào và Cao Miên. Chương trình nghị sự và phát biểu bằng Anh ngữ.

Hội nghị tập trung vào sự phát triển ở hai bên và lưu vực của dòng sông, sự thiệt hại về môi trường và kinh tế, cùng những mối đe dọa liên quan đến vấn đề xây đập trên sông Cửu Long.

Sông Mekong: Khi chảy vào địa phận Việt Nam được tên là Cửu Long và phân làm hai nhánh, một ở Châu Đốc, tức Tiền Giang, và Tân Châu, tức Hậu Giang. Mekong là con sông thứ hai giàu nhất thế giới về đa dạng sinh học. Sông bắt nguồn Từ Tây Tạng (Tibet) do tuyết tan chảy của dãy Himalaya và Tây Tạng, dài 2.268 dặm (4.200 Km). Mekong là nơi cư trú của hàng ngàn các loài quý hiếm và có nguy cơ bị tiệt chủng của nhiều nhóm thực vật và động vật. Các phụ lưu của sông chằng chịt xuôi chảy từ Bắc chí Nam từ Trung Cộng, phía bắc Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, và cuối cùng nuôi sống hàng 25 triệu cư dân chung quanh lưu vực Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Đó là vựa lúa của cả nước. Hiện nay có khả năng xuất cảng 5-6 triệu tấn gạo hàng năm.

Ngày hôm nay, dòng sông chánh, vùng châu thổ sông, và tất cả những người cư ngụ ở hai bên lưu vực sông Mekong đang bị đe dọa bởi sự phát triển thiếu thận trọng từ Trung Cộng.

Các mối đe dọa mới xảy ra gần đây lớn hơn nhiều so với bất kỳ hạn hán hoặc lũ lụt trong quá khứ.

Dự án chuyển nước và phát triển dọc theo sông Mékong đang đặt ra mối đe dọa mới và ghê gớm khắp lưu vực sông, nhưng đặc biệt nhất ở đồng bằng sông, một mối đe dọa không chỉ xảy đến cho các cư dân sống dọc theo dòng sông bị ảnh hưởng lên đời sống và sản xuất nông nghiệp.

Các nhà khoa học và các kỹ sư tại Việt Nam và nước ngoài đang quan tâm bởi những thiệt hại môi trường do các dự án phát triển xa về phía thượng lưu của Việt Nam. Các dự án này bao gồm phát triển quy mô thủy điện lớn ở Vân Nam, TC và tại Lào, và các dự án chuyển nước Mekong khổng lồ được thực hiện bởi Thái Lan nhằm mục đích phát triển vùng nông nghiệp ở phía đông bắc của quốc gia nầy.

Và Việt Nam là quốc gia gánh chịu nặng nề nhứt do hành động trên của Trung Cộng.

Hồi chuông báo động: Chuông báo động dồn dập ở ĐBSCL. Vào năm 1998, nông dân không có nước lũ hàng năm cần cho trồng trọt và không thể thực hiện việc kiểm soát đất để tránh phèn và đuổi mặn vì mực nước đo đạt tại trạm quang trắc Tân Châu xuống thấp nhứt, dù thời điểm nầy là vừa cuối mùa mưa (tháng 10), đã giảm xuống một kỷ lục trong vòng 73 năm qua.

Thêm nữa, kèm theo sự suy giảm mực nước sông Cửu Long và lưu lượng nước cũng giảm tương tự trong mùa đánh bắt cá làm mất trầm tích sông rất giàu nguồn dinh dưỡng, một nguồn vốn tự nhiên của sông Mekong cần thiết cho việc trồng tỉa.

Nước mặn đã xâm nhập lên đến 70 Km (32 dặm)(1998) vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm hiện có và biến hàng triệu hecta đất nông nghiệp thành vô dụng.

Sự phong phú nông nghiệp và môi trường của ĐBSCL cần phải được bảo vệ.

VAST, Mekong Forum, và các tổ chức liên đới đang phát động một chiến dịch để nâng cao nhận thức về các mối đe dọa đến đồng bằng sông trong cộng đồng khoa học, và giáo dục công chúng.

Chúng tôi kêu gọi một lệnh cấm trên tất cả các dự án phát triển sông Mekong tiếp tục được ban hành ngay lập tức, trong khi chờ một đánh giá khoa học kỹ lưỡng các điều kiện sinh thái trên toàn lưu vực sông Mekong.

Song Me kong

Chúng tôi cũng kêu gọi các đánh giá độc lập về tác động môi trường của các hoạt động phát triển thượng nguồn, được tiến hành bởi các nhà khoa học có trình độ và không vướng mắc từ các xung đột lợi ích hoặc ảnh hưởng chính trị.

Để bắt đầu chiến dịch này, VAST đã mời một số nhà khoa học, các kỹ sư và nhà nghiên cứu đã quan sát sự phát triển Mekong đến và thông báo cho tất cả các bên quan tâm về tầm quan trọng của các mối đe dọa hiện tại và trong tương lai.

Mục đích của hội nghị không chỉ đơn giản là để thông báo, nhưng để vận động.

Chúng ta cần phải gửi một thông điệp cảnh tỉnh cho tất cả các cơ quan phát triển quốc tế có trách nhiệm và các quốc gia trong lưu vực sông Mekong.

Sau hội nghị, một Bạch thư nói lên viễn tượng bị hạn hán vào mùa khô và vấn nạn nhiễm mặn ở ĐBSCL đã được sọan thảo và gửi tới trên 50 tổ chức gồm: Tổ chức Liên Hiệp Quốc, Chương trình Môi trường LHQ (UNEP), Ủy hội sông Mekong, các thành viên của Ủy hội, các NGO và quốc gia có liên quan đến sông Mekong v.v…

Và, cho đến hiện tại, hai sự kiện trên đã được tái diễn thêm hai lần nữa sau năm 1998.

Đó là mùa mưa vào cuối tháng 10 năm 2010, và hạn hán cũng như nhiễm mặn tệ hại nhứt miền ĐBSCL vào mùa khô năm nay, 3/2016.

Hạn hán và Nhiễm mặn

1 – Nói về hiện tượng ĐBSCL thiếu nước cho vụ mùa vào cuối mùa “nước nổi” năm 2010, báo chí trong nước thời đó nhận định rằng: “Trung Quốc ngăn đập, miềnTây’đói’ lũ?”

“Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cần lũ, sống nhờ lũ, phát triển nhờ lũ…”. Trước một mùa lũ quá bất thường đang diễn ra ở ĐBSCL, trả lời phỏng vấn báo VietNamNet, ông Nguyễn Ngọc Anh, quyền Viện Trưởng Viện Qui hoạch Thủy lợi Miền Nam–đơn vị được Chính phủ giao nhiệmvụ Qui hoạch tổng thể về thủy lợi ĐBSCLcho biết:

Bi kịch “thừa mặn,thiếu ngọt”ở hạ nguồn

Cá linh miềnTây ‘chết khô’ giữa mùa lũ

Lũ muộn bất thường, dân miền Tây bỏ xứ

Huỳen An Phu

 

 

 

 

 

 

 

Người dân huyện An Phú (An Giang) ngóng về thượng nguồn sông Hậu chờ lũ

Mùa lũ năm nay có 3 điểm đặc biệt: Lũ tiểu mãn thấp, bản thân lũ cũng rất nhỏ và đỉnh lũ xuất hiện muộn. Đây là mùa lũ đặc biệt trong nhiều năm trở lại đây, tuy thấp nhưng rất muộn. So với năm 2000, đỉnh lũ ở thượng nguồn ĐBSCL thấp hơn 2m. So với lũ trung bình nhiều năm, tổng lượng lũ năm nay chỉ đạt từ 60% – 70%.

Do bão ảnh hưởng đến miền Trung nên cuối mùa, lũ ở miền Tây có xu hướng nhích lên. Dự báo đến cuối tháng 10 năm nay lũ mới đạt đỉnh. Tuy nhiên, với tổng lượng lũ nhỏ như thế dù có kéo dài hay không cũng để lại cho ĐBSCL hiện tượng “đói” lũ.

Trên thực tế, vào mùa khô, mực nước Mekong vẫn giảm thông thường, và xuống mức thấp nhất vào tháng 4 và 5. Tuy nhiên, năm 2010, mực nước giảm quá nhanh và quá sớm khiến nhiều người bất ngờ.

Mặc dù chưa có đánh giá chính thức, tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định nguyên nhân tự nhiên đóng vai trò quan trọng. Năm nay xảy ra hạn hán nên lũ nhỏ ở thượng lưu sông Mekong. Lũ ở thượng lưu nhỏ nên nước ở biển Hồ Camphuchia cũng nhỏ. Biển hồ cũng đang đói lũ, cho nên đợi lũ về ĐBSCL cũng là chuyện khó xảy ra. Nếu các đập thủy điện với các hồ chứa lớn ở thượng nguồn sẽ làm giảm từ 30% – 40% lượng phù sa bồi đắp cho hạ lưu. Đặc biệt là làm giảm lượng cát đáy ở ĐBSCL. Việc giảm lượng cát đáy sẽ rất nguy hiểm vì đây là nguyên nhân gây ra tình trạng sạt lở nhiều nếu chúng ta khai thác cát không hợp lý.

2 – Nói về mùa khô năm nay, ‘Kịch bản’ đối phó với hạn hán và nhiễm mặn ở Sài Gòn đã thực sự xảy ra vào ngày 16/3/2016, Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão – Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn TP SGN kêu gọi “Hợp tác chặt chẽ các hồ đầu nguồn sẵn sàng xả nước đẩy mặn, tăng cường xe bồn cấp nước cho dân, xây bể chứa nước thô trên sông Sài Gòn… là những giải pháp TP SGN đưa ra trước hạn mặn kéo dài”.

Cơ quan nầy cũng vừa gửi thông báo khẩn đến các quận huyện vùng ven về tình hình xâm nhập mặn ở các sông, rạch trên địa bàn. Đại diện chi cục cho biết, hiện nồng độ mặn trên các sông đã tăng và diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của triều cường. Tại Mũi Nhà Bè và Cầu Ông Thìn độ mặn đạt ngưỡng 14-16 phần nghìn; trạm Cát Lái, Thủ Thiêm độ mặn dao động ngưỡng 9-12 phần nghìn. Hiện tại, nhà máy thanh lọc nước ở Thủ Đức cũng ngưng bơm nước sông Sài Gòn và Đồng Nai vào các bồn chứa. Lý do là vì nhà máy không có khả năng thanh lọc muối ở hai nguồn nước nầy. Hơn bảy triệu cư dân thành phố Sài Gòn có nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trong những ngày sắp tới.

Cộng sản Bắc Việt áp dụng triệt để chính sách ăn mày “Xin – Cho”

Dưới tựa đề “Mặt trái của việc đề nghị Trung Cộng xả nước cứu hạ lưu sông Mekong“, Báo Cali Today News cho biết nếu Việt Nam đề nghị Trung Cộng xả nước thì sau này Campuchia cũng sẽ yêu cầu Việt Nam xả nước từ thủy điện Yaly (Cao nguyên Trung phần) để cứu hạn cho vùng Đông Bắc của họ. Theo ông Tuấn, cách mà chính quyền CSVN yêu cầu Trung Cộng xả nước là “lấy đá ghè vào chân mình”.

Đợt hạn hán lịch sử đã khiến cho người dân miền Tây trở nên khốn đốn. Theo nhiều chuyên gia, với tốc độ xâm nhập mặn như hiện nay sẽ khiến nông nghiệp tại nơi này bị ảnh hưởng nặng nề trong vòng 3 năm nữa. Trước việc hạn hán và ngập mặn, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đề nghị Trung Cộng xả nước từ con đập Cảnh Hồng, thượng nguồn sông Mê Kông. Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Phạm Thu Hằng nói:

“Chúng tôi cho rằng việc cùng bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn nước Mê Kông là trách nhiệm chung của các quốc gia thuộc lưu vực sông, nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của các quốc gia liên quan và cuộc sống của người dân trong khu vực”.

Trong khi đó, có nguồn tin cho biết Trung Cộng sẽ xả nước từ đập Cảnh Hồng (Jinghon, Vân Nam, Trung Cộng) làm cho nhiều người vui mừng, nhưng cũng có nhiều người không mấy lạc quan về vấn đề này. Người viết không mấy lạc quan vì “lời hứa” của TC.

 CON KENH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một con kênh tại Hậu Giang đã cạn nước. Vì sao?

Thứ nhứt, các đập trên thương nguồn cũng đang cần nước, vì vậy TC không thể xả nước vì môi hở răng lạnh kiểu xã hội chủ nghĩa!

Thứ hai, ngay cả có việc xả nước “cứu nguy” thì những vùng khô ở thượng nguồn đã “ngốn” hết nước rồi, và Biển Hồ là nguồn thu nhận nước lớn nhứt. Theo ước tính, chỉ có khoảng 3% lượng nước chảy về Tân Châu và Châu Đốc mà thôi.

Sông Mékong: Nỗi Nghẹn Ngào Của Vùng Hạ Lưu

CAN DONG

Sông Mékong,còn có tên là Mother Khong, khi chảy vào miền NamViệt Nam mang tên Cửu Long,chia ra làm hai nhánh gọi là Sông Tiền và sông Hậu, và chảy ra biển gồm 9 cửa. Sông Mékong là con sông được xếp vào hàng thứ 11 trên thế giới tính theo chiều dài. Lưu lượng của dòng chảy trung bình là 16.000m3, dòng chảy tối đa là 39.000 m3, cũng như dòng chảy ở mùa khô là khoảng 6.000 m3 mà thôi.

Sông bắt nguồn từ cao nguyên TâyTạng (Tibet) trên rặng Hymalaya dài 4.350 Km và là nơi cư trú của hàng ngàn sinh thực động vật có nguy cơ bị tiệt chủng (endangered species).Sông cũng là nguồn cungc ấp chất đạm chính cho hàng trăm triệu con người sống dọc theo hai bên bờ sông. Hai nơi được đặc biệt chú ý là Hồ Tonle Sap, còn gọi là Biển Hồ và vùng Châu thổ sông Cửu Long (còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, ĐBSCL).

Nguyên nhân tạo ra hậu quả tai hại cho ĐBSCL

1-    Đập thủy điện: Dòng Mékong chảy vào TC mang tên là Lancang (Lan Thương) trong đó có hai đập lớn là Xiao wan (4.200 MW) dự kiến hoàn tất vào năm 2013, Nuozhadu (5.850 MW) sẽ hoàn tất 2017. Chính hai nơi nầy sẽ là một đại họa không xa,vì phải mất hàng chục năm mới làm đầy hai hồ trên dài hàng trăm Km. Hiện tại TC có 3 đập đang sử dụng là Manwan (1996) sản xuất1.500MW, Dachaosan(2003)1.350MW,Gonguoqiao (2008) với 750 MW.Và vào mùa thu năm nay, đập Jing hong với1.750 MW sẽ bắt đầu chuyển nước vào hồ chứa.

Một nhánh sông khác chảy vào địa phận Thái Lan có tên là Mae Nam Khong, cũng được ngăn chận làm hồ chứa nước cho cả vùng Bắc Thái, tưới tiêu một vùng nông nghiệp rộng lớn và biến Thái Lan trở thành nước đứng đầu về xuất cảng lúa gạo trên thế giới (Việt Nam chiếm hạng nhì). Tên Khong theo tiếng Sanskrit có nghĩa là Ganga, tức là sông Ganges bên Ấn Độ (Sông Hằng).

Dong Duong

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lào là một quốc gia không có nhu cầu lớn về điện năng nhưng hiện đang nộp lên Ủy hội Mekong dự án xây một đập thủy điện ngay trên dòng chính của sông Mekong giữa biên giới TC và Cambodia. Hiện tại, (9/2010), dự án nầy đang được cứu xét của Ủy ban gồmViệt Nam, Cambodia, và Thái Lan về nguy cơ biến động sinh thái trong đó có nguy cơ tiệt chủng của loài cá tra khổng lồ chỉ còn độ trên dưới 100 con mà thôi.

1-    Việc phá rừng: Rừng là một thảm thựcvật thiên nhiên lớn nhứt và hữu hiệu nhứt trong nhiệm vụ điều tiết dòng chảy của sông Mékong. Rừng qua rễ cây và lớp đất thịt bao phủ sẽ hấp thụ và giữ nước trong mùa mưa, và trong mùa khô sẽ điều tiết và cung cấp nước cho hạ nguồn để tiếp tay với dòng chánh ngăn chặn nước mặn xâm nhập sâu vào ĐBSCL. Đây là một đặc ân của thiên nhiên.

Theo thống kê, trước Đệ nhị thế chiến, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam chiếm 43% tổng diện tích, nhưng đến năm 1995, rừng chỉ còn lại 28%, nghĩa là mất trắng 55.000 Km2.

Bắt đầu sau đó, với sự trợ giúp của Liên hiệp quốc, việc trồng rừng mới được bắt đầu; tuy nhiên, tính đến năm 2005, tỷ lệ rừng tăng lên đến 32%, trong đó những vùng trồng cao su, trà, cà phê… vẫn được tính toán trong việc “trồng rừng” do đó con số mới tăng. Nhưng thực sự, việc phá rừng vẫn tiếp tục gia tăng với nồng độ phi mã, tính đến năm 2005, rừng nguyên sinh (rừng già) ở Việt Nam chỉ còn8%.

​   ​            ​RUNG BI DON HA

 

 

 

 

 

R​ừng nghiến vườn quốc gia Ba Bể bị đốn hạ (2010)

DONG SONG

 

 

 

 

 

Nhưng hiện tại,hiện tượng nghịch lý đang xảy ra là,với đê bao, dòng nước của Sông Cửu Long chảy thẳng vào hai vùng trên ngay khi chưa tới mùa nước lớn để khai thác nông nghiệp; do đó,khi mùa nước lớn đến, một lượng nước khổng lồ sẽ chảy vào hai vùng đã ngập nước từ trước. Hiện tượng ngập lụt xảy ra là vì thế. Việc xây dựng đê bao để chuyển vận nguồn nước cho nông nghiệp hoặc chống lụt là một công trình nghiên cứu quan trọng, cần phải mất nhiều năm để tính toán lưu lượng nước cần phải chuyển hướng, đâu phải có thể do quyết định của lãnh đạo địa phương ra lịnh đắp đê chung quanh địa phận xã để tránh ngập lụt và, dĩ nhiên hậu quả tất nhiên là các xã chung quanh phải gánh chịu.

♦ Theo những tin tức vào mùa khô tháng 4/2010, một số vùng miền Bắc tỉnh Hậu Giang, vì vấn nạn đê bao, nguồn nước không thể thông thương vào được. Do đó, một số hệ lụy đang xảy ra chovùng nầy từ mấy năm sau đó như:

♦ Vì không có sự luân lưu của nguồn nước cho nên đất ngày càng chai mòn vì dư lượng của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và nhứt là phù sa không vào được hàng năm như trước kia, vì vậy năng suất lúa không còn như xưa nữa.

♦ Đê bao hạn chế nguồn nước, cho nên nhiều nơi nông dân chỉ trồng lúa cho gia đình, phần thời vụ còn lại thì phải trồng hoa màu để kiếm sống.

♦ Thời gian thiếu nước kéo dài ra, do đó thu nhập của nông dân ngày càng giảm sút.

KHO CAN

Tóm lại,vấn đề đê bao ở vùng ĐBSCL cần phải nghiên cứu lại như một số đề nghị của các chuyên gia nông nghiệp và thổ nhưỡng hiện đang làm việc ở hai Đại học Hậu Giang và Cần Thơ.

3-    Rừng ngập mặn: Tạivùng ĐBSCL, rừng ngập mặn chiếm khoảng300.000Km² bao gồm các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Cần Giờ. Nhưng sau hơn 15 năm khai thác việc nuôi tôm, diện tích rừng hiện nay chỉ còn khoảng 200.000Km², và phần diện tích mất đi đều bị bỏ hoang vì vùng đất nầy bị ô nhiễm sau vài mùa tôm. Chỉ tính riêng cho vùng Cà Mau, trước1975, rừng ngập mặn chiếm độ 200.000 Km2, mà nay, chỉ còn độ 70.000 km² mà thôi.

RUNG MAN

Nhiệm vụ của rừng ngập mặn rất quan trọng, vừa ngăn chặn sóng gió, vừa là vùng trú ẩn và sinh sản cho tôm cá trong thiên nhiên, và cũng một vùng đệm (buffer)để hạn chế việc nhiễm phèn sulphate và giảm thiểu việc ngập mặn trong mùa khô. Các nhiệm vụ bảo vệ ĐBSCLđã mất đi, do đó, nguy cơ làm cho vựa lúa của một vùng rộng lớn ngày càng giảm vừa diện tích, và vừa năng suất.

MEKONG: VŨ KHÍ CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG

Theo nhận định của Trần Văn Ngà, viễn ảnh một miền Tây trù phú nhứt nước đang bị đám mây mù đang che phủ vì tham vọng ngông cuồng của đế quốc cộng sản Tàu với phương châm bành trướng bá quyền nước lớn, chỉ biết quyền lợi của họ, không đếm xỉa sự nguy hại của vùng hạ lưu sông Cửu Long. Ông cha ta đã từng nói: Thượng nguồn tích thủy – Hạ nguồn khan. Thượng nguồn giữ nước với 15 đập thủy điện ở tỉnh Vân Nam (Tàu), hạ nguồn cạn kiệt. Chưa kể các nước ở phía dưới Trung Cộng như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Miên cũng đã, đang và sẽ xây đập khai thác thủy điện, chận dòng chảy của sông Mékong.

Miền Tây Nam Việt Nam sẽ đi vào cảnh tàn lụi và chết thảm vì thiếu nước vì không canh tác được. Và nếu ở thượng nguồn, nước nhiều có thể làm vỡ đập hay như cảnh báo trước, Trung Cộng muốn trị vì các nước nhỏ ở phía dưới, phải phục tùng mệnh lệnh của “thiên triều”; nếu bất tuân thượng lệnh, Trung Cộng đồng loạt mở toang các cửa đập thủy điện, các nước ở vùng hạ lưu sẽ “tắt thở” mà trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long “lãnh đủ” sự nghiệt ngã của sự dư thừa nước tạo ra lũ lụt kinh hoàng, thành biển cả.

BUON BAN TREN SONG

Từ năm 1980 tới nay, sông ngòi Việt Nam biến đổi kỳ lạ, mùa mưa thường gây lụt lội, mùa nắng thì thiếu nước trầm trọng vì Trung cộng ngăn chặn dòng nước từ thượng nguồn đến vùng hạ nguồn bằng 15 đập thủy điện và vài đập thủy điện của các nước khác. Nước sông Cửu Long bị cạn kiệt ở vùng thấp, gây nên nỗi kinh hoàng cho người dân không còn đủ nước sinh hoạt cho cuộc sống và tưới tiêu ruộng rẫy cũng như nước biển sẽ có thêm cơ hội tràn bờ gậm nhấm thu hẹp diện tich đất canh tác.

Đến một thời điểm nào đó, vùng đất phì nhiêu màu mỡ trù phú của đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng đất chết, hoang vu. Với hai mũi “giáp công”: nước biển tấn công vào đất liền gia tăng và trên thượng nguồn sông Cửu Long bị ngăn chận nhiều đập thủy điện sẽ làm cạn dòng nước ở vùng hạ lưu, chắc chắn giết chết vùng địa danh nổi tiếng giàu đẹp này của quê hương Việt Nam – Đồng bằng sông Cửu Long.

Lại thêm một tai hại đáng sợ khác có thể xảy ra, âm mưu bá quyền nước lớn Trung Cộng, mượn dòng sông Mekong, từ thượng nguồn, tha hồ mà thả chất thải độc hại của các nhà máy hóa chất, nguyên tử, phế thải các thứ của nước Tàu mới, đang phát triển mạnh công kỹ nghệ sản xuất.

Dòng sông Cửu Long thêm ô nhiễm trầm trọng, giết chết các loài thủy tộc của vùng sinh thái hạ lưu. Miền Đồng Bằng Sông Cửu Long của Nam Việt Nam, là vùng hạ lưu cuối cùng, thấp nhứt của sông Mekong sẽ dung chứa mọi thứ chất thải độc hại của Trung Cộng tuôn xuống.

Thay lời kết

Vừa qua, hơn 15.000 người đã ký tên vào lá đơn gửi tới lãnh đạo các nước trong khu vực yêu cầu ngừng các dự án thủy điện để cứu sông Mekong.

Lá đơn do tổ chức Liên minh “Save the Mekong” khởi xướng đã được gửi tới thủ tướng các nước Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, yêu cầu dừng ngay 11 dự án thủy điện tại vùng hạ lưu sông Mekong.

Buon ban tran song 2

Trong đó có 7 đập thủy điện sẽ được xây tại Lào, hai tại vùng biên giới Lào-Thái Lan và hai tại Campuchia.

Lý do là tuy các công trình thủy điện này sẽ cung cấp điện cho phát triển kinh tế, nhưng chúng có thể gây hại trầm trọng cho môi trường và đa dạng sinh học của dòng sông Mekong, đồng thời ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của những người sinh sống nhờ dòng sông Mẹ này.

Nhà cầm quyền Việt Nam đã nhận nhiều tài trợ của Ngân hàng Thế giới để trồng rừng. Nhưng những khó khăn trong việc nầy là do các vùng đất bị bỏ hoang không khai thác nữa đã có chủ hay được cho thuê hàng 50 năm,vì vậy không thể thực hiện lại việc trồng rừng.

Một hiện tượng tiêu cực khác nữa là do ý thức của người dân vì không được giải thích tầm quan trọng của sự hiện diện và hữu ích của rừng ngập mặn cho nên nhiều nơi đã được trồng lại nhưng sau đó lại bị phá đi…

Một yếu tố không nhỏ nữa là do quản lý yếu kém, hiện tượng tham những và ăn chận tiền viện trợ. Chính những điềut rên khiến cho việc tái tạo rừng ngập mặn trở thành khó khăn hơn và không thể nào thực hiện được trên thực tế.

Và mới đây, tại một cuộc họp quốc tế về Mékong, vấn đề hạn hán và ngập mặn cũng được đề cập đến. Nhiều chuyên gia nói hồ chứa ở thượng lưu tham gia giải quyết chuyện hạn hán cho ĐBSCL là tốt và cần thiết. Tuy nhiên, nhận định này không chính xác vì các hồ chứa chỉ cắt được lũ trung bình còn lũ lớn như năm 1991 và 2000 thì không cắt được lũ. Việc làm cho lũ trung bình thành không có lũ là không tốt vì ĐBSCL là vùng cần lũ, sống nhờ lũ, phát triển nhờ lũ.

Cũng cần nên biết, lượng phù sa bồi đắp cho ĐBSCL khoảng 150 triệu tấn cho một mùa lũ trung bình. Nếu lũ nhỏ cũng đạt khoảng 100 triệu tấn, riêng tháng 8 -9, lượng phù sa đạt khoảng 60 – 70 triệu.

Tuy nhiên, trong năm nay, do dòng chảy kiệt nên lượng phù sa đồi đắp cho ĐBSCL sẽ rất thấp, làm ảnh hưởng đến vụ lúa Đông Xuân, tính đến hiện tại, số thiệt hại lên đến hàng trăm ngàn hecta lúa bị khô cằn. Bên cạnh đó tình trạng xâm nhập mặn sẽ tăng cao. Dự báo, năm nay sự xâm mặn đang và sẽ diễn ra sớm, trầm trọng hơn như đã nói ở phần trên.

Xin đừng đổ lỗi cho”sự hâm nóng toàn cầu”mà phải chấp nhận hậu quả ngày hôm nay đang xảy ra cho ĐBSCL là do sự quản lý, phát triển không theo đúng tiến trình toàn cầu hóa nghĩa là phát triển theo chiều hướng ứng hợp với việc bảo vệ môi trường.

Những tiên đoán của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam qua Hội nghị “Mekong at Risk” về viễn tượng của dòng sông mẹ Mekong từ năm 1999 cho đến nay vẫn còn giá trị.

Ngày nào não trạng của đảng Cộng sản Bắc Việt không thay đổi trong việc bảo vệ cơ chế chuyên chính vô sản, ngày đó chắc chắn, nước mặn vẫn tiếp tục tiến sâu vào đất liền và “tiến sĩ” Võ Tòng Xuân lại có dịp hô hào chính sách tăng gia sản xuất trong việc trồng lúa cùng lúc với việc nuôi tôm trong mùa nhiễm mặn năm nay, giống như chính sách “con tôm ôm cây lúa” của ông đã từng “rao giảng” vào những năm ĐBSCL ngập mặn trong quá khứ, như một lời trấn an của một nhà làm khoa học… theo định hướng xã hội chủ nghĩa!

Mai Thanh Truyết

Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam

Houston 3, 2016

Hai người khách trọ

Hai người khách trọ

Hai ông bà Peter and Joan Petrasek , sống ở Seatle , Hoa Kỳ đã qua đời , để lại di chúc nhờ luật sư chuyển toàn bộ gia tài của mình là $847,215.57 cho chính phủ Hoa Kỳ . Hai ông bà không có con cháu , và thân nhân gần cũng không có ai vì họ là những người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết hại . Hầu hết thân nhân của họ đã chết trong các trại tập trung của Hitler từ mấy chục năm trước

Hai ông bà không để lại gia tài cho các hội từ thiện mà để lại cho chính phủ Hoa Kỳ , vì theo di chúc , họ muốn cám ơn chính phủ Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón họ và giúp đỡ họ có cuộc sống mới từ trại tập trung kinh hoàng của Đức Quốc Xã .

Ông Peter Petrasek sanh năm 1920 tại nước cộng hòa Czech . Khi quân đội Đức xâm lược nước này thì ông mới 12 tuổi . Chị của ông chết vì trúng đạn pháo kích , cha của ông bị bắt vào trại tập trung và bị giết tại đây , mẹ của ông thì bị lưu lạc mất tích . Ông còn sống sót là nhờ có sức khỏe và thể hình tốt , nên được chọn chuyển vào trại Thiếu nhi để phục vụ cho quân đội Đức .

Khi quân đội Mỹ của phe Đồng Minh giải phóng khu trai tập trung đó , ông được nhận vào quy chế tỵ nạn của Mỹ và được đưa sang Mỹ , được 1 gia đình người Mỹ nhận nuôi . Ông không trở về quê hương vì sau khi Phát xít Đức thua cuộc thì đất nước của ông lại bị Liên Xô chiếm đóng và trở thành nước Czech cộng sản .

Bà Joan , vợ ông , cũng là người Do Thái , đến từ Ái Nhĩ Lan . Hai người gặp nhau và làm đám cưới ở Canada , sau đó bà theo ông về Mỹ và sống ở Seatle cho đến ngày mất . Ông Peter làm thợ cơ khí cho hãng Bethlehem Steel suốt mấy chục năm và bà Joan làm nghề thợ may .

Khi bà Joan bị ung thư năm 1998 , biết không qua khỏi , 2 vợ chồng bàn đến việc để lại gia tài cho ai . Hai ông bà đã đồng ý và viết di chúc giống hệt nhau , trong đó nói họ rất cám ơn nước Mỹ đã cho họ cơ hội sống 1 cuộc sống bình an và tự do , 1 cuộc sống không chiến tranh , không lo nghĩ và được đối xử bình đẳng và tôn trọng như mọi người Mỹ khác , là những điều mà họ biết họ không có được nếu sống trong 1 quốc gia độc tài như Phát xít hay Cộng sản , và họ muốn biểu lộ lòng biết ơn đó bằng cách để lại toàn bộ gia tài chắt chiu cả đời cho chính phủ Mỹ .

Sau khi ông Peter mất , đại diện của Nhà Trắng đã được mời đến văn phòng luật sư của hai ông bà để nhận tấm ngân phiếu , và đã chuyển nó vào ngân khố quốc gia của nước Mỹ .

Khi nhà nước bôi nhọ nước nhà

Khi nhà nước bôi nhọ nước nhà

Blog RFA

CanhCo

24-3-2016

Báo chí chính thống nổi lên các bài viết theo đơn đặt hàng của Tuyên giáo vài ngày trước khi vụ án Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh mở ra, trong đó dựa vào cáo buộc vi phạm điều 258 cho rằng anh Ba sàm đã bôi nhọ nhà nước bằng những bài viết nhận định bi quan làm nản lòng người dân gây hình ảnh xấu cho chế độ.

Và khi phiên tòa mở ra, trớ trêu thay chính nhà nước mới là người bôi nhọ nước nhà. Một câu trả lời đầy cảm hứng cho ai có ý định chuẩn bị hồ sơ vào con đường phản động.

Nhà nước, một tập thể được người dân tin tưởng bầu lên làm lãnh đạo cho họ, có nghĩa rằng thay họ giải quyết, điều hành công việc của quốc gia sao cho mọi người sống và làm việc trong tinh thần trật tự và tôn trọng luật pháp. Cái nhà nước ấy ngoài việc bảo vệ lãnh thổ và ngoại giao với nước ngoài để tăng cường khả năng hòa nhập với quốc tế còn mang trọng trách làm cho dân giàu nước mạnh, mà cụ thể là phác thảo kế hoạch kinh tế, giáo dục, an sinh và hàng trăm thứ khác để người dân yên tâm sống và làm việc. Nhưng có lẽ quan trọng nhất, nhà nước phải cùng với nhân dân thượng tôn luật pháp vì nếu không thì nhà nước ấy không đủ chính danh để giữ bất cứ vai trò gì trong công việc điều hành đất nước, ngay một nhà nước cấp nhỏ nhất là cấp xã.

Từng cá nhân trong bộ máy cầm quyền được trả lương đầy đủ cho mọi đóng góp của họ qua đồng tiền thu được từ thuế, từ nhân dân, từ những nhân tố nhỏ bé của xã hội để nuôi sống họ, những con người mà Việt Nam khiêm nhượng gọi là đầy tớ của nhân dân. Vì vậy kể cả một thẩm phán, một chủ tọa phiên tòa, hay một viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng là người được dân trả lương để làm cái công việc bảo vệ pháp luật. Thẩm phán phải đủ năng lực và nhận thức để phân tích từng vụ án, con người, cũng như bằng chứng chống lại một bị cáo. Khi thẩm phán bị mua chuộc hay tệ hơn, bị ra lệnh mà không thể cưỡng lại thì cái nhà nước ấy thực sự có vấn đề. Vấn đề lớn, rất lớn, lớn hơn tham nhũng, hơn cửa quyền và hơn mọi thứ tiêu cực trong một nhà nước pháp trị.

Vì Việt Nam không là một nhà nước pháp trị nên việc ra lệnh cho thẩm phán là việc nhỏ, nhỏ nhất trong tất cả mọi tiêu cực hàng ngày.

Ra lệnh chưa chắc ăn, trong các vụ án lớn như vụ Ba sàm thu hút sự theo dõi quan sát của nước ngoài nhưng muốn cho người bị xử lãnh bản án cao nhất thì nhà nước phải cử một thẩm phán dốt nhất để điều hành phiên tòa vì nếu lỡ để một thẩm phán hay chủ tọa phiên tòa bỗng dưng nhận ra việc làm của mình là bất nhân, cãi lại lệnh trung ương rồi sau đó ra sao thì ra….thì bẽ mặt quá.

Phiên tòa của anh Ba sàm và chị Nguyễn Thị Minh Thúy là chiếc sân khấu hiện đại và bi hài nhất trong cái được gọi là nhà nước Việt Nam. Tuy nó không có nhiều khán giả nhưng những hình ảnh, lời nói, cảm xúc của từng nhân vật đã được toàn thế giới biết tới qua các đại sứ quán Úc, Hoa Kỳ, Canada, EU…vì họ được tham dự và chứng kiến từ đầu.

Đoan Trang, một nhà báo, blogger nổi tiếng trong khi phiên tòa diễn ra chị ngồi nhà vẫn bị công an tới dẫn đi. Chị viết trên facebook của mình những giòng chữ nhẹ nhàng mà thắt ruột về cái ông chủ tọa phiên tòa hôm ấy, ông Nguyễn Văn Phổ:

“Có một chi tiết mà những người không được vào dự phiên tòa “công khai” xử Anh Ba Sàm và Minh Thúy chưa biết, đó là: Hội đồng xét xử, với ngài thẩm phán Nguyễn Văn Phổ, và hai hội thẩm viên già nua, đều là những người mù tịt về CNTT, về Internet, về blog và mạng xã hội…

Họ thậm chí còn phát âm sai những từ mà ngay cả đứa trẻ cũng có thể đọc được, ví dụ gmail được các ngài đọc thành “GỜ MAI”. Còn từ “wordpress” với họ thì quả là một thử thách.

Xử một người như Nguyễn Hữu Vinh, một trí thức, một blogger đi tiên phong trong việc dùng mạng Internet để khai dân trí, mà lại dùng những thẩm phán không sử dụng mạng và không biết đọc từ “wordpress”, không đọc nổi cả từ “gmail”. Điều đó khiến tất cả những lập luận của ông Vinh và các luật sư, dù sắc sảo, dù hùng biện đến đâu, cũng thành vô nghĩa trước những bộ mặt ngớ ngẩn. Bảo mật hai lớp, quyền quản trị, chứng cứ điện tử, dữ liệu điện tử, quyền tự do thông tin, quyền riêng tư trên mạng… tất cả những cái đó có nghĩa là gì vậy?”

Trả lời cho chị Đoan Trang: Những cái đó là nhà nước đang quyết liệt bôi nhọ nước nhà.

Nhà nước, trong nhận thức của một thể chế dân chủ pháp trị là một nhóm người, một tập thể tuy  nếp nghĩ và tư duy gần như khác nhau trong môi trường chính trị nhưng lại được vận hành trong khuôn phép của luật pháp. Họ được chọn lọc, tập họp lại để phục vụ người dân, cùng chịu trách nhiệm theo hệ thống và do đó, nhà nước không phải là nơi tập quyền có khả năng tự tung tự tác, xem hiến pháp chỉ là tờ giấy con con chỉ cốt khoe mẻ trong những quyết định trái khoáy, thất nhân tâm.

Vì Việt Nam là nhà nước toàn trị, tập quyền nên việc phân công một chủ tọa dốt nát điều hành phiên tòa khi cả thế giới đang theo dõi là chuyện bình thường. Trong khi bên trong như vậy thì bên ngoài một đám quân ô hợp còn dốt nát hơn bội phần được nhà nước cử ra để “điều hành” dư luận. Những tay an ninh, công an chìm nổi thậm chí cả dân phòng, côn đồ làm những việc mà chỉ cần 15 phút sau cả thế giối đều xem được trên kênh YouTube.

Vài giờ sau khi phiên tòa kết thúc, trang facebook của Người Việt Xấu Xí đưa lên một status đầy hình tượng như sau:

“Chuyện nhục quốc thể bên ngoài tòa Hà nội.

 Tôi đứng trên vỉa hè cùng các phóng viên nước ngoài và bà con, chứng kiến cảnh cực kỳ ngu của đám dân phòng và công an :

– Một dân phòng khi thấy nữ phóng viên phương tây dùng I phone ghi hình thì nó cầm gậy chỉ, hua hua vào trước ống kính, mặt mũi bậm trợn : cấm chụp ảnh, cấm chụp ảnh.. ! Bọt mép văng tung tóe. Hai nữ pv nước ngoài vẫn lạnh lùng ghi hình, còn chĩa thẳng máy vào mặt tên dân phòng kia.

 Cảnh đó được ghi trọn trong máy của một phóng viên khác cũng là người nước ngoài.

Một công an bụng béo mỡ cầm cái biển cấm chụp ảnh chạy từ bên cổng tòa, mang sang đặt trước mặt nữ pv quốc tế, công an này không đeo biển tên, toàn bộ cảnh này cũng bị hai pv quốc tế ghi hình hết.

– Cảnh một tên mặt mũi ngổ ngáo, áo kẻ đứng trong đám 6 dân phòng, cứ rình huých trộm vào tay máy ảnh của ông JB Vinh và cậu pv Trung Nghĩa, sau khi bị ông Vinh tóm tay một công an áo xanh không thẻ yêu cầu tóm xem thằng đó ở đâu, là ai thì nó lủi .

Là người được chứng kiến toàn bộ cảnh đó mà thấy rát mặt, nó chỉ diễn ra trong vài chục giây, vì quá tập trung và bị hút vào kịch tính của diễn biến, hơn nữa kỹ năng , phản xạ của mình chưa chuyên nghiệp nên không kịp rút máy ra ghi lại, tiếc quá!”

Trả lời cho Người Việt Xấu Xí: nhà nước cố tình làm như vậy để bôi nhọ nước nhà thì không có gì phải tiếc. Sáng hôm nay các clip ấy đã xuất hiện đầy ở các kênh truyền thông nước ngoài, anh không cần phải ân hận.

Không cần phải sáng hôm nay, chiều ngày hôm qua vào lúc 5 giờ, bản án dành cho Ba sàm Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy đã phản ánh đầy đủ thái độ của nhà nước Việt Nam. Họ không những bôi nhọ nước nhà mà họ còn cực lực làm nhục cái gọi là tòa án xã hội chủ nghĩa.

“Tấm vải che tử thi không có túi”

“Tấm vải che tử thi không có túi”

Chuck Feeney

Đây là một ông lão mới thoạt nhìn trông nghèo khó và keo kiệt. Nhưng việc ông làm lại khiến ông trở thành gương sáng cho các phú hào khác, như Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ ông.

Ông đã 76 tuổi, ở cùng vợ trong một căn hộ cho thuê ở thành phố San Francisco nước Mỹ. Ông chưa từng mặc qua quần áo hàng hiệu, kính mắt rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng không hợp thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua giá rẻ. Ông cũng không có ô tô riêng, ra ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi xách mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.

Mặc khác, nếu bạn cùng ông đến một quán rượu nhỏ uống bia, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tra đối chiếu hóa đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, trước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.

Một ông già “nghèo khó” như vậy, bạn có biết trước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?

Ông đã từng cống hiến cho đại học Cornell 588 triệu đô la Mỹ, cho đại học California 125 triệu đô la Mỹ, cho đại học Stanford 60 triệu đô la Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô la cải tạo và xây mới 7 trường đại học ở New Ireland và hai trường đại học ở Northern Ireland. Ông từng thành lập quỹ từ thiện để phẫu thuật sứt môi hở hàm ếch cho trẻ em ở các nước đang phát triển… Cho đến nay, ông đã quyên 4 tỷ đô la, còn 4 tỷ nữa đang chuẩn bị quyên góp.

Ông là người sáng lập tập đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.

Trước mắt, Chuck Feeney còn ba nguyện vọng: Một là trước năm 2016 quyên hết 4 tỷ đô la còn lại. Hiện tại, từ số tiền kia mỗi năm đều có hơn 400 triệu đô la chảy về các nơi cần trên thế giới.

Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: Trong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góp cho mọi người”. Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thay đổi hành động của mình.

Sau khi việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ ra, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông. Trong tâm ai cũng đều có một nghi vấn: Làm sao Chuck Feeney có thể dửng dưng trước gia tài hàng tỷ đô la kia chứ?

Đối với nghi vấn của mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện:

Một con hồ ly thấy bồ đào trong vườn kết trái đầy, muốn vào trong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn rời đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ra, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”

Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói:

Mỗi người đều là trần trụi sinh ra, cuối cùng cũng đơn độc ra đi, không ai có thể mang theo tài phú và danh tiếng mà bản thân đã đau khổ tìm kiếm cả đời.”

Truyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sao ông lại quyên góp hết gia tài của mình?

Câu trả lời của ông đơn giản và ngoài dự đoán của mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che tử thi không có túi đựng.”

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

NHÂN DÂN NÀO CHÍNH QUYỀN ẤY

NHÂN DÂN NÀO CHÍNH QUYỀN ẤY

 Hà Đình Sơn

Theo mọi nghĩa thì nhân dân đẻ ra chính quyền chứ không phải ngược lại. Mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền là quan hệ nhân quả, ảnh hưởng lẫn nhau không thể tách rời. Xét toàn diện thì nhân dân chính là người giáo dục chính quyền chứ không phải ngược lại, do đó việc người dân tham gia ý kiến, tham gia vào các hoạt động xã hội, hoạt động nhà nước vừa là quyền vừa là nghĩa vụ như Hiến pháp của bất cứ một nhà nước nào trong thời đại hiện nay đều ghi nhận.

Cặp phạm trù nhân dân và chính quyền có thể so sánh với cặp phạm trù giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa. Mác nói đại ý: giá cả hàng hóa có thể không đồng nhất với giá trị hàng hóa nhưng Tổng giá cả hàng hóa xã hội luôn bằng tổng giá trị hàng hóa xã hội. Cũng như vậy chính quyền có thể có lúc gần nhân dân có lúc xa nhân dân nhưng trong thời gian tồn tại của nó không thể mãi xa rời nhân dân.

Hồ Chí Minh: “Chính phủ Cộng hòa dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tr.60). Điều này đúng về lý thuyết và tương lai sẽ đúng nhưng hiện tại thì chưa.

Một xã hội không gì bất hạnh bằng việc bị cướp mất tương lai. Gia đình là một xã hội thu nhỏ; ví như một gia đình mà con cái lại làm điều trái với đạo lý là giam cầm, bôi xấu, đánh đập cha mẹ… phản bội lại quá khứ, chối bỏ trách nhiệm với tương lai, bán đất đai hương hỏa của tổ tiên để tiêu xài. Tội lỗi này của con cái không phải nguyên nhân chỉ ở lỗi của con cái, lỗi ở xã hội mà nguyên nhân sâu xa lại chính là lỗi của người làm cha, làm mẹ. Tội lỗi không sinh ra trong một ngày một, một giờ mà nó sinh ra từng giờ, từng ngày, từng năm, rồi nhiều năm tích tụ lại mà thành. Vì vậy, nghĩa vụ làm cha, làm mẹ là phải giáo dục con cái ngay từ việc nhỏ, ngay từ ngày hôm nay, không được đợi đến ngày mai. Việc giáo dục con cái nhất thời có thể làm cho nó không vừa ý, nhưng phải làm để nó không trở thành kẻ hại lại cha mẹ, kẻ bán rẻ tổ tông.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh khi nào nhân dân không ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình thì hậu quả chính quyền sẽ xa rời nhân dân và thảm họa sẽ giáng lên đầu nhân dân và tương lai muôn đời con cháu của chính họ.

Hà Nội, 09/12/2012

H.Đ.S.

Nghị sĩ CHLB Đức Martin Patzelt: Không có những nhà báo dũng cảm, chúng ta sẽ không làm được việc gì

Nghị sĩ CHLB Đức Martin Patzelt: Không có những nhà báo dũng cảm, chúng ta sẽ không làm được việc gì

DCCT

JB Nguyễn Hữu Vinh

22-3-2016

Nghị sĩ CHLB Đức Martin Patzelt tại buổi giới thiệu sách Anh Ba Sàm. Ảnh: DCCT

Ông  Martin Patzelt, nghị sĩ thuộc Quốc hội Công Hòa liên bang Đức, người theo dõi về nhân quyền đã đến Việt Nam, với mục đích tham dự phiên tòa xử Anh Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh vào ngày 23/3/2016 tại Hà Nội.

Đến Việt Nam, ông đã gửi thư đến các cơ quan, tòa án và lãnh đạo nhà nước Việt Nam với đề nghị sẽ được vào dự phiên tòa công khai xét xử Anh Ba Sàm  – Nguyễn Hữu Vinh vào ngày 23/3/2016 tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, cho đến hôm nay, ông vẫn chưa nhận được câu trả lời về một việc mà lẽ ra hẳn nhiên chẳng cần xin phép.

Sáng ngày 22/3/2016, tại cuộc giới thiệu sách Anh Ba Sàm, một ấn phẩm của Nhà xuất bản Trẻ Hà Nội ấn hành cùng với nhiều nhân viên sứ quán các nước như Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên Bang Đức, Nauy, Thụy sĩ… và nhiều cơ  quan ngoại giao khác, ông có mặt và phát biểu ý kiến của mình.

Trong lời chia sẻ, ông cho biết: “Tôi đã sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức một thời gian dài, nên tôi rất hiểu những vấn đề mà các bạn hiện đang phải đối mặt”.

Sau cuộc gặp gỡ, giới thiệu sách Anh Ba Sàm, ông đã dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn:

– Thưa ông, ông đến Việt Nam với tâm trạng như thế nào và với mục đích gì?

– Tôi nghĩ rằng, sự có mặt của tôi ở Việt Nam sẽ cải thiện được một chút về bản án, có thể là trả tự do hoặc giảm án.

– Xin cảm ơn ông, chúng tôi rất xúc động khi nghe ông nói rằng ông đã trải qua một thời kỳ dài dưới chế độ Cộng sản. Đến đây, ông sẽ cảm nhận được bầu khí của Cộng hòa dân chủ Đức cách đây khá lâu. Vậy xin ông cho biết chúng tôi có thể hy vọng gì vào sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trong việc cải tiến nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam?

– Tôi nghĩ rằng, ngoài Việt Nam, chúng tôi chỉ có thể bày tỏ tình đoàn kết và giúp cho các bạn bằng tình cảm, chia sẻ của chúng tôi. Còn mọi việc thay đổi phải đến từ bên trong.  Tôi nghĩ rằng những người đấu tranh cho quyền công dân của Việt Nam phải nói cho chúng tôi để chúng tôi biết như thế nào.

Hồi ở Đông Đức, chúng tôi cũng tự giúp chúng tôi chứ người Tây Đức cũng không giúp được chúng tôi. Bởi vì tôi cũng xuất thân từ phong trào công nhân của Đông Đức ngày trước , tôi biết là tình hình như thế nào. Chúng tôi cũng làm báo, làm sách một cách bất hợp pháp từ ngày xưa, nghĩa là bí mật thời Đông Đức. Hồi đó, chúng tôi cũng thuyết phục chính quyền Đông Đức rằng sẽ không có tương lai, nếu chúng tôi không có tự do, dân chủ.

Trong tinh thần như vậy, tôi cũng đã viết trong thư gửi đại lãnh đạo Việt Nam khi tôi mong muốn tham dự quan sát phiên tòa ngày mai. Trong đó, tôi cũng nói rằng: Hãy nghĩ đến việc thay đổi, nếu không, trong tương lại chính những người cầm quyền là những người thua cuộc.

– Thưa ông, thời gian qua, chúng tôi biết Đại sứ quán CHLB Đức, các nhân viên và nghị sĩ Đức rất quan tâm đến tình hình Việt Nam chúng tôi, chúng tôi rất xúc động trước những tình cảm như vậy. Chúng tôi hy vọng rằng, sự giúp đỡ đó sẽ tiếp tục để giúp đỡ cho những người trong nước chúng tôi đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam.

– Tôi chỉ có thể nói về cá nhân tôi được thôi, chúng tôi sẵn sàng làm những việc chúng tôi có khả năng làm được để giúp đỡ. Tuy nhiên, với nhiều đồng nghiệp khác ở Đức chúng tôi, hiện nay cũng có nhiều khó khăn khác che lấp tầm nhìn của chúng tôi. Nhất là vấn đề tỵ nạn, nên hiện nay chúng tôi đang tập trung vào vấn đề tỵ nạn.  Đối với tôi, quan trọng là tôi đã có mặt ở đây vào giờ phút này.

– Chúng tôi rất cảm ơn ông, tôi là một thành viên của Hội nhà báo Độc lập Việt Nam, cũng là một nhóm không được công nhận ở Việt Nam. Chúng tôi cũng hy vọng được sự quan tâm của quý vị, là nguồn động lực đối với chúng tôi trong cuộc đấu tranh này.

Tôi nghĩ rằng nếu không có các nhà báo, nhất là những nhà báo dũng cảm, thì chúng ta không làm được việc gì.

– Xin cảm ơn ông.