Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Năm Phục Sinh năm C 24/4/2016

                             Tin Mừng: (Ga 13: 31-35)

Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn-vinh, và Thiên-Chúa cũng được tôn-vinh nơi Ngài. Nếu Thiên-Chúa được tôn-vinh nơi Ngài, thì Thiên-Chúa cũng sẽ tôn-vinh Ngài nơi chính mình, và Thiên-Chúa sắp tôn vinh Người.

 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái:

 “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”

                                      “Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,”

“Niềm giang-hồ tan-tác lệ Giang-Châu.”

                                                                 (Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Tình nhân-thế, con người ra như thế. Vẫn chua cay, giang-hồ, tan-tác đầy những lệ. Tình nhà Đạo, xưa nay vẫn khác. Khác, vì có lời dạy nhân-gian nay đằm thắm.

Trình thuật hôm nay, thánh Gioan Tin Mừng lại cũng nói về thứ tình-yêu rất đặc biệt. Thứ tình trọn đầy ý-nghĩa mà Đức Chúa đã làm gương. Tình Chúa nêu gương, là tình Ngài bày tỏ không chỉ riêng tư, mà là tình người dưới thế, ta luôn có với nhau. Tình Thầy luôn yêu, là tình đượm sắc mầu thương mến, rất hy sinh. Thầy hy sinh cho tất cả. Hy sinh đến chết. Hy sinh để ta được sống. Để ta cứ yêu. Yêu như Thầy vẫn hy sinh.

Ngôn ngữ phàm trần, không thấy có cụm từ nào được người đời biết đến, nhiều bằng từ ngữ “yêu”. Yêu, là phạm trù phổ biến dễ truy cập nhất. Một đề tài nói đến cả trong mọi trường hợp, mọi địa hạt: từ nghệ thuật đến văn chương, thi tứ, tthơ nhạc, cho đến phim ảnh văn xuôi, truyện ngắn. Nhất nhất, nói về tình yêu. Tình yêu có chữ “hy sinh” ở đời, là tình ta nghe biết nhiều nhất.

Với đời thường, tình yêu là cảm xúc ướt át, diễm lệ mọi người quanh ta, hằng đeo đuổi. Đeo và đuổi cho đến khi nào không thể làm gì hơn được nữa, mới thôi. Yêu, theo nghĩa dân gian người phàm, là tình thấy đầy nơi phố chợ có thể đằm thắm lúc ban đầu. Nhưng, nhạt dần với tháng năm. Tình nào không kèm chữ “hy sinh”, chung cuộc rồi ra cũng sẽ chán, khi vừa xuất hiện đối tượng mới, tươi trẻ, hấp dẫn và tràn đầy nhựa sống hơn.

Tình đời mau chán, bởi người người chỉ chú trọng đến xác thân hoặc dục tính. Tình đời loại này, thường dẫn đến điểm thoát rất nhanh, nơi đọan cuối của đường hầm, nhiều tăm tối. Tình như thế, tuyệt nhiên là tình không mang dáng vẻ “hy sinh”, nào hết.

Tình “có hy sinh”, là mối tình được thể hiện bằng hành động, chứ không phải bằng lời. Tình đó là tình được dặn dò khuyên nhủ, như một lệnh truyền ngày Chúa chia tay giã từ. Lệnh truyền Chúa nơi tình có hy sinh vẫn được nhấn mạnh rất nhiều lần; vì Ngài vẫn thường bảo: “với dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Yn 13: 35)

Làm người, ai cũng từng hơn một lần, đã biết yêu. Là môn đệ của Thầy, người người lại càng phải biết yêu thương nhau nồng nàn hơn nữa. Yêu, say đắm hơn bao giờ hết. Yêu, như Thầy vẫn thương chúng ta. Yêu thương nhau, là thứ tình thực tiễn được đánh giá qua cách thức ta đối xử với nhau. Xử sự với nhau, thật hiền hòa, thật tử tế. Ta đối xử với nhau thật kiên nhẫn, chịu đựng.

Tình ta thương nhau, là tình của những người đồ đệ theo chân Chúa. Đó là tình không kiêu sa. Cũng chẳng mượt mà, trau chuốt đánh bóng chính người mình. Tình ta thương nhau, như tình Chúa yêu ta là tình không dày đạp người khác. Dày vùi và đạp lên đó để mọi người nhìn mình cho rõ, như người hùng anh cần được yêu, phải được tôn kính. Tình ta thương nhau, là cùng vui với người vui. Cùng khóc với người đang khóc. Cùng đạt ước nguyện tạo niềm vui cho nhau. Tình ta thương nhau, là biết thương tiếc khóc than vì người khác đã mất mát, khổ đau.

Yêu thương nhau như tình Thầy yêu ta, là biết nói lên sự thật. Với lòng xót thương không bến bờ.Yêu thương nhau như Thầy yêu ta, là yêu thương đấy, vẫn yêu trong hy sinh tha thứ cho người mình thương yêu. Thương yêu rất mực tin tưởng vào người mình yêu thương. Yêu trong kiên định, cả vào những giây phút gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Yêu, cả vào lúc thấy có khổ đau. Những lúc đang trầm mình dưới bùn đen, ở dưới thấp. Yêu như thế, mới giống tình Chúa yêu thương mọi người, không xét nét.

Tình có hy sinh là chấp nhận thua thiệt, để người kia được lợi. Yêu trong hy sinh, là biết tự kiềm chế mọi đam mê, dục vọng. Yêu rất hy sinh, là như thể đang chết dần chết mòn cho những cảm xúc vênh vang, kiêu hãnh. Yêu trong hy sinh, là chết đi cho chính mình. Chết cho con người mình. Chết, không phải về thể xác. Mà, chết cho nhu cầu xác thân, tạm bợ. Dù, nhu cầu ấy vẫn  chính đáng, vẫn rất cần.

Yêu trong hy sinh, càng không phải là yêu với mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm thâm trầm, vì đã làm điều bất ưng và bất xứng, nay muốn tự hủy. Tự hủy, bằng tâm trạng âm thầm, khúm núm, cúi đầu sợ sệt. Yêu trong hy sinh, càng không phải là những khuyên răn, khích lệ bạn bè người thân hãy có cùng tâm trạng hủy diệt, vùi dập thân xác như mình. Nói khác đi, tình “có hy sinh”, là quà tặng Chúa ban nhưng-không gửi đến để người người chấp nhận một chọn lựa. Chấp nhận cơ hội vinh thăng cho tình yêu ta đang có, ngày càng tốt đẹp hơn.

Với dặn dò đàn con biết tỏ bày tình có hy sinh, Đức Chúa đã nêu gương để ta cũng có cử chỉ tự hạ làm người thấp hèn. Ngài tự giáng hạ vào chốn nghèo hèn, để Thiên Chúa là Cha sẽ nâng Ngài lên nơi vinh hiển. Noi gương Chúa, ta cũng tự hạ chính mình nhịn nhường mọi vinh hoa, phú quý sang qua người khác. Nhường nhau, để tạo cuộc sống mới dồi dào sức sống.

Tự hạ, nhưng không tự hủy. Tự hạ, không có nghĩa dứt bỏ phẩm giá con người rất vinh quang. Vinh quang, vì mang thân phận làm con dân Đức Chúa. Tự hạ, là tự giảm chính mình xuống mức thấp hơn người khác. Tự đặt mình ở mức thấp, để người khác được nổi bật hơn, hạnh phúc hơn mình. Thực tế, trong sống đời dân gian trầm hạ, cũng nên tìm ra phương cách hoặc động thái khả dĩ giúp ta cởi thoát những hành vi không mang đặc thù của người con yêu Đức Chúa. Cởi thoát, là tự mình không đòi ở chỗ cao, trên người khác. Hoặc, người khác phải cảm nhận công sức mình, đã bỏ ra. Cởi thoát, là không đòi cho được quyền ra lệnh người khác thực hành ý kiến của mình.

Tham dự tiệc thương yêu hôm nay, ta cầu mong Thầy Chí Thánh giúp ta yêu thương mọi người như một nhân vị, chứ không như sự vật. Cầu mong sao, ta tạo được cho mình và mọi người những tình tự “có hy sinh” đưa ta vào cuộc sống rất vui. Sống can đảm, để giải quyết mọi bất đồng trong tương quan với mọi người chung quanh.

Cầu và mong, tình của ta luôn là tình “có hy sinh” như Đức Chúa từng dạy bảo. Và cầu mong sao, trong yêu thương giao dịch, tình của ta với người, vẫn là tình hy sinh ở mức cao độ, như Thầy thương ta.

Và, cũng cầu lại cũng mong sao cho tình nhân-thế có con người vẫn luôn sống theo lời dặn-dò của Đấng Nhân-Hiền từng minh-chứng bằng cuộc sống của Ngài. Sống chung-tình, nhiều thương-mến, rất ngàn năm.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Daniel Burstein * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Poitiers, Pháp, 28 tháng Tám, 1980

Tháng Tám vừa qua vào cao điểm mùa gió mùa ở Biển Đông, một chiếc thuyền bị rò rỉ nước trôi giạt vào bờ biển Indonesia. 64 người tỵ nạn Việt Nam cả người ướt đẫm, đói, và sợ hãi cố tiến vào bờ.

Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong toàn bộ lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam chịu đựng, ngoại trừ một điều: Trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng, nhà cách mạng Việt Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.

Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết. Bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy lốp xe Michelin.

Tuy nhiên, vào tháng Sáu, Tảng đã trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch ông tại cuộc họp báo Paris.

“Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố, “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã bị phản bội.”

Để trốn thoát Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, chạm trán với đội tuần tra an ninh Việt Nam, và thậm chí cả cuộc tấn công của hải tặc. Trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới.

Cách đây vài tuần, trong cuộc phỏng vấn chứa đựng nhiều thông tin và chi tiết nhất từ trước đến nay, Trương Như Tảng cho phóng viên này biết sự đấu tranh có tổ chức đang bắt đầu thành hình ở Việt Nam. Đó không chỉ là kháng chiến rải rác của các lực lượng cũ, cánh hữu, thân Mỹ mà đã và đang tiếp tục từ năm 1975. Quan trọng hơn là, Tảng nói, nhiều người trước kia thuộc về “lực lượng thứ ba” và ngay cả những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bất đồng chính kiến đang tự tổ chức thành những ổ kháng chiến.

Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.

“Nhân dân Việt Nam không muốn đánh Trung Quốc,” Tảng khẳng định. “Cho dù bao nhiều lần đi nữa Lê Duẩn nói với nhân dân rằng Trung Quốc chịu trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của đất nước, nhưng nhân dân thấy rất rõ ràng Hà Nội phải chịu trách nhiệm chuyện ấy.”

Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá riêng tư ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một công nhân di dân ở Pháp.

“Tôi không thể im lặng mãi,” ông nói về lý do ông trốn thoát. “Tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”

Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã quay lưng lại với nền giáo dục từ Sài Gòn giàu có và học vấn đại học từ Paris của mình để gia nhập cách mạng Việt Nam. Ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.

Chẳng bao lâu sau đó bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi có lẽ cái chết dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968. Rồi ông biến mất vào những căn cứ bưng biền của Việt Cộng.

Khi chính phủ cách mạnh lâm thời được thành lập vào năm sau, Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các đội tìm-và-diệt của Mỹ thường đến gần công sự trong rừng của Tảng trong vòng 100 mét, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh ông tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở Miền Nam Việt Nam mới sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Chiến thắng đến, nhưng Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình. Khi duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng Năm 1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên: Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả. Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng (bộ trưởng quốc phòng Việt Nam hiện nay) về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường, “Quân đội đã được thống nhất.”

Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với Tảng. Ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những ai mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại “cải tạo”. Những người dân thường đòi biết ông, với tư cách bộ trưởng tư pháp, làm được gì cho bạn bè và người thân của họ bị tịch thu tài sản hay cho những người bị buộc phải dọn lên các vùng kinh tế mới.

“Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” Tảng buồn bã nói, “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, và quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”

Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông mô tả là “bạo lực và trả thù.” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một. Nhưng vào năm 1976, vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam, và họ không có cơ hội phản đối điều ấy.

“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực này rất nhanh chóng,” Tảng tin.“Ông ta không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi cuối cùng phản đối cương quyết các chính sách của ông.”

Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời cũ đều sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.

Nhằm cố gắng giữ ông trong đoàn thể, sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối, không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát.

Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện tại sao cách mạng Việt Nam không thành công. Bây giờ ông tố cáo giới lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Từ ngữ mị dân Mác-xít, ông nói, chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.

“Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản,” ông nói. “Chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là ‘gia đình trị’-tức độc tài của các dòng họ. Trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ.”

Để chứng minh điều này là đúng, Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.

Tiếng Pháp rất giỏi của ông hay cách nói năng nhẹ nhàng của ông vẫn không có thể che giấu sự cay đắng trong giọng nói khi Tảng nói. Nhưng bất chấp những từng trải của mình, lý tưởng của ông vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhất định không từ bỏ giấc mơ của mình về xã hội công bằng và dân chủ ở Việt Nam.

Mặc dù ông ban đầu dự định hoạt động chính trị từ từ trong lúc ông thích nghi với cuộc sống mới ở Paris, nhưng bây giờ ông thấy mình thường xuyên đến Paris để tham gia vào các nỗ lực nhằm củng cố phong trào kháng chiến Việt Nam và để hình thành cầu nối với các lực lượng kháng chiến Lào và Cambodia. Ông đã tiếp xúc với bạn học cũ vào thời trung học – hoàng thân Norodom Sihanouk, cựu quốc trưởng Cambodia – và hai người đã trao đổi những lời hứa đoàn kết.

Tảng không mất đi sự mỉa mai khi ông nói về mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia, và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung”: giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông ý thức rằng điều ông đang đề xuất thể hiện sự bắt đầu lại từ đầu hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia, và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn.

Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn – đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam.

Daniel Burstein

Nguồn:

Dịch từ báo Christian Science Monitor số ra ngày 28/8/1980. Tựa đề của người dịch. Tựa đề tiếng Anh là “A revolution who fled the revolution”.

http://www.csmonitor.com/1980/0828/082850.html

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-16

thuvienhcm-622.jpg

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Courtesy thuvientphcm.gov.vn

Your browser does not support the audio element.

Khi việc đề nghị đốn hạ 300 cây cổ thụ trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng chưa kịp lắng xuống thì những ngày qua, thông tin về một phần của Thư viện Khoa học thành phố sẽ bị “xẻ đất” để giao cho một doanh nghiệp tư nhân nhằm mục đích xây cao ốc tiếp tục gây hoang mang cho người dân trong nước.

Đặc biệt, dư luận có sự liên kết giữa hai sự việc với câu phát biểu của ông Đinh La Thăng về việc “mong TP Hồ Chí Minh trở về vị trí số 1 Đông Nam Á” và nhiều người tự hỏi: phải chăng xóa bỏ những di tích văn hóa lịch sử là một trong những cách trở về với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông?

Xóa bỏ văn hóa đọc?

Tuy chỉ mới là dự định, và chưa có quyết định chính thức từ Sở qui hoạch kiến trúc và UBND TP, nhưng thông tin việc xây cao ốc trong khuôn viên của Thư viện Khoa học Thành phố đã gây nhiều bức xúc cho những người quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử của đất nước. Không những thế, các trang mạng xã hội đồng loạt lên tiếng cho rằng việc xẻ đất để xây cao ốc trong khuôn viên thư viện là một việc làm đi ngược lại với việc bảo tồn lịch sử dân tộc, và xem thường văn hóa của một đất nước.

Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.
-GS Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cổ, trung và cận đại, nguyên trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại khi nghe thông tin này đã thốt lên rằng:

“Thế thì đau đớn quá. Nghĩa là thời buổi này người ta không cần văn hóa và khoa học nữa rồi. Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.”

Trong khi giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng đó là một xóa bỏ văn hóa, thì Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu văn hóa VN bày tỏ sự lo ngại trước một văn hóa đọc đang ngày càng đi xuống của xã hội Việt Nam. Tuy chưa được nghe thông tin chính thức, nhưng giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết ông sẽ không đồng tình với kế hoạch này:

“Nếu việc này có thật thì tôi không đồng ý, tôi phản đối chủ trương đó. Thư viện Tổng hợp cũng không rộng rãi gì, mà bây giờ văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống. Cho nên cái việc lấy thư viện để làm cao ốc, chỗ ở, hay kinh doanh thì tôi thấy không hợp lý.”

Nói thêm về điều mà ông gọi là văn hóa đọc, Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết rằng “phần đông sinh viên Việt Nam ngày nay rất lười đọc.”

“Tất nhiên là bây giờ thì có internet, có đủ thứ, nhưng nói gì thì nói, một cuốn sách khi mới ra, cầm nó trong tay, có cảm giác rất thích thú, nhất là mùi thơm của giấy. Không phải là bây giờ mọi người nói internet thì có thể thay được tất cả. Không thay được hết đâu. Thế thì có thể không chủ quan lắm, tôi cho rằng văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống.”

Yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông

Tân bí thư thành ủy Đinh La Thăng nhấn mạnh bên hành lang Quốc hội vào ngày 19 tháng 2 vừa qua, đó là ông mong muốn TPHCM phải giành lại vị trí số 1 Đông Nam Á.

cay-xanh-sg-622.jpg

Hơn 20 người dân tại Sài Gòn hôm 26/3 tập trung tại khu vực đường Tôn Đức Thắng để phản đối việc chặt một số cây cổ thụ tại đó để triển khai dự án giao thông.

Hơn một tháng sau đó, ngày 23 tháng 3, cơ quan quản lý đường sắt đô thị TPHCM ra thông báo sẽ đốn hạ 300 cây cổ thụ trên đường Tôn đức Thắng để phục vụ cho dự án giao thông gồm tuyến tàu điện ngầm, cầu Thủ Thiêm 2, nhà ga Ba Son.

Và như vừa nêu là thông tin về một dự án cao ốc 20 tầng, cao khoảng 80m sẽ được xây trong khuôn viên Thư viện KHTH TP với chức năng làm văn phòng, khách sạn.

Trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã nói rằng, khi người Pháp xây dựng Sài Gòn, thì đã đi trước tất cả, từ Hồng Kong cho đến Singapore còn thua kém nhiều. Để có được Hòn Ngọc Viễn Đông của Đông Nam Á là Việt Nam lúc bấy giờ, họ đã xây dựng những kiến trúc cũng như quy hoạch những con đường trong đó nhiều cây xanh:

“Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém. Phải tôn trọng tất cả những kiến trúc có giá trị vừa văn hóa vừa lịch sử. Thư viện đó mà không tôn trọng thì vấn đề học tập sẽ rất kém, không phát triển được.”

Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém.
-TS Nguyễn Nhã

Thế nhưng, giờ đây, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nếu nói đến từ Hòn Ngọc Viễn Đông hay vị trí số 1 Đông Nam Á thì đó là cái thưở rất xưa rồi.

Nhắc đến câu nói của ông Đinh La Thăng, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng muốn Sài Gòn quay trở lại là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng một trong những yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông chính là hàng cây xanh, là thư viện. Và ông đặt câu hỏi rằng: “như thế, có phải đi đang ngược lại với lời mình nói hay không?”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng chia sẻ rằng, những vết tích còn lại ở Sài Gòn và cả Hà Nội, như hàng cây xanh, thư viện chính là những hình ảnh làm nên bản sắc riêng của hai thành phố này. Theo ông, việc không gìn giữ được những yếu tố lịch sử văn hóa đã chứng tỏ một tầm nhìn rất thấp của những người lãnh đạo đất nước.

Cho đến nay, chưa có quyết định chính thức nào được đưa ra. Một vị đại diện Hội đồng Nhân dân TP trả lời truyền thông trong nước rằng đang chờ báo cáo của UBND TP về dự tính quy hoạch xây cao ốc trên đất thư viện như vừa nêu.

Những người quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước như Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và dư luận đều hy vọng rằng thế hệ sau này vẫn còn được biết đến Thư viện Khoa học Tổng hợp, một trong những biểu tượng văn hóa còn lại của Hòn Ngọc Viễn Đông trước đây.

Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13,

nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-04-15

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp đầu tiên với các thành viên chính phủ mới hôm 14/4/2016.

Courtesy chinhphu.vn

Your browser does not support the audio element.

Tiếp nhận di sản đầy khó khăn

Dàn lãnh đạo mới của Đảng và Nhà nước cũng như tân chính phủ của Việt Nam tiếp nhận di sản đầy khó khăn từ các nhiệm kỳ trước để lại.

Ngày 11/4 Ngân hàng Thế giới cảnh báo rủi ro tiêu cực vẫn chiếm ưu thế trong nền kinh tế Việt Nam, World Bank đồng thời hạ triển vọng tăng trưởng 2016 của Việt Nam xuống mức 6,2% từ mức 6,5% đưa ra trước đó.

Theo SaigonTimes Online, Ngân hàng Thế giới ghi nhận thâm hụt tài khóa so với GDP của Việt Nam diễn ra ở mức cao trong thời gian dài. Ngân hàng Thế giới cũng cảnh báo tình trạng nợ công tăng nhanh trong khi dự trữ ngoại tệ thấp và đang có xu thế giảm, hiện đang là lý do gây quan ngại.

Bản cập nhật đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam bổ nhiệm lãnh đạo cao cấp và công bố chính phủ mới.

Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được.
-Phạm Chi Lan

Trả lời chúng tôi vào tối 14/4/2016,  chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

“Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Những vấn nạn lớn như nợ công tăng cao, tình trạng nợ xấu của các ngân hàng chưa được cải thiện, doanh nghiệp nhà nước vẫn quá nhiều và kém hiệu quả, khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, con số này tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua thương vụ mua lại sáp nhập. Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

Bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh rằng, không chỉ Ngân hàng Thế giới nhận định nhự vậy, mà chính các chuyên gia trong nước, nhiều tổ chức nghiên cứu của Việt Nam cũng nhận thấy kinh tế của năm 2016 sẽ là một năm khó khăn. Vị chuyên gia từng tham gia biên soạn Báo cáo Việt Nam 2035 đề cập tới bối cảnh Việt Nam đang phải đương đầu với thách thức hội nhập lớn hơn. Trong năm nay Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành, hàng hóa cạnh tranh của các nước ASEAN ở Việt Nam sẽ tăng lên rất mạnh.

Vẫn theo bà Phạm Chi Lan, thực tế mấy năm vừa qua đã thấy hiện tượng gọi là những cuộc đổ bộ của các doanh nghiệp ở các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines… họ tràn vào Việt Nam để chiếm lấy cơ hội thị trường trong nước của Việt Nam, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, mà chính sách của nhà nước thì vẫn thiên về hướng hỗ trợ nhiều hơn cho đầu tư nước ngoài so với khu vực tư nhân trong nước. Trong tình hình như thế, bà Phạm Chi Lan nói, rõ ràng thách thức của Việt Nam là rất lớn.

000_Hkg10220419-622.jpg

Từ trái sang: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội. (Ảnh minh họa chụp năm 2015)

Trò chuyện với chúng tôi, cùng ngày 14/4/2016, chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành, một Việt kiều hiện sống và làm việc ở Hà Nội cũng nhìn nhận ban lãnh đạo mới của Đảng và Chính phủ Việt Nam thừa nhận một di sản đầy khó khăn của các nhiệm kỳ trước để lại. Ông nói:

“Dự báo của Ngân hàng Thế giới dựa trên quá trình từ trước ngày chính phủ mới nhậm chức. Thế thì đối với một chính phủ mới nhậm chức nhận được những thông tin như vậy thì cũng phải vươn lên thôi… những điều gì Ngân hàng Thế giới có khuyến cáo thì chúng ta lắng nghe… Cái gì 30 năm nay từ 1985 đến nay chưa làm được thì phải tỉnh táo xem lý do khách quan, chủ quan tại sao chưa làm được, để biết phải làm gì để vượt qua những khó khăn đấy… đó là phần việc mà lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng như tân Chính phủ phải nghiên cứu hết sức quyết liệt tìm hiểu con đường đi tới. Hiện nay tư duy đã nói hết sức làm những chuyện gì để Việt Nam vươn lên, để hội nhập quốc tế, muốn hội nhập thì phải thực hiện những hiệp định chúng ta đã ký với nước ngoài, trong đó có những điều khoản phải thi hành… có rất nhiều chuyện cần phải làm chứ không phải chỉ là ngồi bàn cãi riêng với nhau mà thôi… phải nghiên cứu tất cả mọi điều kiện để chúng ta tiến tới…”

Thâm hụt ngân sách lớn

Di sản kinh tế Việt Nam qua hai nhiệm kỳ 10 năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để lại là sự âu lo về nợ công, thâm hụt ngân sách lớn, sự đổ vỡ đầy mất mát của một số tập đoàn kinh tế nhà nước và tình trạng tham nhũng tràn lan chưa bị đẩy lùi. Việt Nam cũng đã tiến hành cải cách thể chế với kết quả không đáng kể, trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bây giờ chính phủ nhiệm kỳ mới lại vẫn tiếp tục với những vấn đề không mới mà đã được cảnh báo từ lâu. Được biết,Việt Nam theo cơ chế lãnh đạo tập thể, chịu trách nhiệm tập thể, Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện. Như vậy, phải chăng Chính phủ nhiệm kỳ mới của Việt Nam cũng sẽ tiếp tục bế tắc như chính phủ tiền nhiệm và trì trệ trong các nút thắt thể chế. Chúng tôi nêu câu hỏi này với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan và được bà trả lời:

Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…
-Phạm Chi Lan

“Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…thí dụ chính phủ cũ cũng tiến hành công cuộc tái cơ cấu kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có một số thay đổi trong cố gắng để cải thiện môi trường kinh doanh…thì đã có làm một số việc nhưng vấn đề chính là làm không tới nơi tới chốn và có những vấn nạn lớn thì lại chưa được giải quyết, thành ra nó không giúp khắc phục được điều kiện kinh tế khó khăn của Việt Nam những năm vừa qua. Dù nó có thể làm cho tăng trưởng được nhất là với khu vực đầu tư nước ngoài, còn có nhiều ưu đãi dành cho họ, rồi vẫn cố gắng để tiếp nhận những dự án mới, thì họ còn có thể đóng góp cho tăng trưởng. Nhưng khi nền kinh tế nội bộ không tăng trưởng được thì nó sẽ ảnh hưởng về lâu về dài với Việt Nam…”

Cụ thể về tương lai của chính phủ nhiệm kỳ mới, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhân vật từng là thành viên Ban tư vấn kinh tế của Thù tướng Phan Văn Khải, tiếp lời:

“Tôi cho là những người lãnh đạo mới lên của nhiệm kỳ này, có lẽ họ cũng đã được thông báo và biết tình hình đó. Tôi chỉ mong họ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi. Kiến nghị rõ nhất và tập trung nhất, tôi nghĩ là thể hiện trong Báo cáo Việt Nam 2035 mà thời gian vừa rồi Ngân hàng Thế giới cùng với Chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu và đã được công bố. Trong đó thông điệp rất rõ là nếu không cải cách thể chế thì Việt Nam sẽ không thể phát triển được, khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, còn nếu cải cách thể chế thì Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được tốt hơn trong những năm tới vượt qua những khó khăn hiện nay.”

Báo chí Việt Nam đưa tin ngày 12/4, tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân mô tả những thách thức đầy khó khăn đối diện Quốc hội khóa tới và tân chính phủ.

Soha News trích lời bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13, theo đó bà nhìn nhận nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Điểm qua truyền thông báo chí trong nước, VnExpress là tờ báo điện tử  hiếm hoi, đề cập thẳng vào những thách thức đối với các tân lãnh đạo Việt Nam. Tờ báo trích lời ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia nhận định rằng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chịu 4 thách thức lớn, gồm giảm nợ công, cải cách hệ thống ngân hàng để giảm nợ xấu, đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ nỗ lực giảm tham nhũng.

Rõ ràng những vấn nạn vừa nêu là không mới và như lời chuyên gia Phạm Chi Lan bày tỏ hy vọng là, những lãnh đạo mới lên “Sẽ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi.”

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

15-4-2016

(Minh họa: Ngọc Diệp)

Nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

“Đúng qui trình” đang là cụm từ “hot”. Vào trang tìm kiếm Google lúc 14g30 ngày 14/4/2016 cho 03 từ này, thấy 353.000 kết quả trong 0,47 giây với đủ các nội dung.

Từ việc bổ nhiệm cán bộ sai qui định, cấp sổ đỏ hay cho phép xây nhà trái phép, cấp cứu người bệnh cho đến tăng giá các mặt hàng thuộc nhóm độc quyền… Tất tần tật đều rất “đúng qui trình”.

Trên tờ Vn Economy, ông Nguyễn Sĩ Cương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã từng chua chát thốt lên: “Thật lạ lùng là cái gì cũng đúng quy trình! Tiêm chết người rồi vẫn khẳng định là… đúng quy trình, bỏ tù oan đến cả 10 năm vẫn… đúng quy trình, bỏ lọt 230 kg ma túy qua cửa khẩu vẫn… đúng quy trình. Tôi cho rằng đấy chỉ là sự biện hộ và rũ bỏ trách nhiệm một cách vô cảm”.

Thế nhưng Tại Hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 4 ngày 13/4, ông Lê Minh Trung, Bí thư Quận ủy Thanh Khê còn có một khái niệm mới về “qui trình”: “Chết dần dần đúng… qui trình”.

Ông Trung nói: “Thành phố có hàng trăm héc-ta rau sạch, rau sạch này bán ở đâu, địa chỉ nào, chỉ cho dân đến mua. Không biết rau sạch hay là dơ thì cứ ăn, ăn xong rồi chết dần dần, gọi là “chết đúng qui trình”.

Thật ra, chuyện thực phẩm bẩn của ta thì chả có gì mới. Nghĩa là nó cũ một cách nguy hiểm hay nói một cách khác, một mối nguy hiểm rất… cũ.

Rau tưới bằng dầu hỏa, trồng ở bãi tha ma vừa chôn người chết, rửa ở rãnh nước thải. Gạo chứa thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Tôm cá đồng nhiều dư lượng kháng sinh, hải sản ướp phân bón ure. Thịt lợn chứa chất tạo nạc và thuốc an thần. Thịt bò bơm nước. Thịt gà bôi phẩm màu hóa chất dùng để đánh bóng bàn ghế… là chuyện thường ngày.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa kể: “Hồi ở Đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên của tôi đi công tác Hà Tĩnh về, có tặng tôi hai quả bưởi. Bưởi đặc sản, quý lắm. Tôi cất trong tủ. Đợi có khách quý thì khao. Thế rồi quên. Mấy quả bưởi lăn lóc trong đống báo đã đọc. Khi được tặng bưởi, tôi đang là Giám đốc Kênh Truyền hình. Rồi sau đó, tôi chuyển sang làm Phó Bí thư Đảng uỷ. Bốn năm sau, tôi có lệnh điều động chuyển hẳn sang Hội Nhà văn. Lúc bấy giờ, tôi mới chuyển cơ quan, nghĩa là sau khoảng 6 năm, dọn tủ, tôi bất ngờ thấy hai quả bưởi mà mình đã bỏ quên. Càng bất ngờ hơn khi sau 6 năm, bưởi vẫn tươi nguyên, và lúc bổ ra, múi bưởi vẫn đẹp, vẫn tươi mọng. Thật kinh hoàng”.

Chuyện “trường tồn” của thực phẩm ở ta thì kinh hoàng rồi. Có người hài hước nói rằng rồi đây Việt Nam sẽ có nhiều… xác ướp nhất thế giới. Lý do là bởi khi còn sống, ăn nhiều chất phocmol nên khi chết, thịt sẽ “tươi” mãi mãi…

Có một câu hỏi cũng “tươi mãi”: Ai chịu trách nhiệm?

Câu trả lời nhìn chung là giống nhau và cũ: Không ai cả!

Thế nhưng lần này, có một câu mới, mới như… cũ. Đó là của bà PGS TS Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia LÊ THỊ HỒNG HẢO: “Đầu tiên là trách nhiệm của người sử dụng”.

Lại nhớ có lần ông Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Đinh La Thăng than thở: “Các bộ nói phối hợp rất tốt, nhưng thực tế dân vẫn cứ ăn thực phẩm bẩn, thế thì tốt ở đâu, tốt để làm gì, chẳng nhẽ nói dân cứ tạm ăn bẩn đi để các bộ xây dựng lộ trình?”.

Các bộ “phối hợp rất tốt” nhưng dân thì vẫn phải “ăn bẩn”, thế thì “tốt ở đâu” và “tốt để làm gì”? Rồi giờ đây trách nhiệm “đúng qui trình” là “của người sử dụng”.

Mà quan đúng qui trình thì dân chết cũng… đúng qui trình là phải lẽ tự nhiên thôi. Cái “qui trình chết” này của dân bắt đầu từ ăn phải thực phẩm bẩn, rồi nhiễm bệnh, rồi ốm, rồi chết. Rất đúng qui trình vì chả mấy ai chưa ốm đã chết trừ tai nạn gì đó thì không tính ở đây.

Chỉ có điều, nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

Vì thế tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Xuân Anh cho biết, thành phố sẽ lập lại Ban chỉ đạo an toàn vệ sinh thực phẩm mà thành viên Ban chỉ đạo phải là cấp trưởng ở các sở ngành, quận huyện và giám đốc các Sở Y tế, Công thương, Công an… cùng chủ tịch các quận, huyện.

Ban sẽ do một Phó Chủ tịch UBND TP làm trưởng ban, có cơ chế báo cáo trực tiếp với Thường trực Thành ủy và đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đây là nét rất mới bởi chao ôi, người xưa có câu “Sinh có hạn, tử bất kỳ” nhưng giờ đây nếu mà chết cũng có… qui trình thì còn có gì để nói, phải không các bạn?

CHẾT RỒI… ĐI ĐÂU ?

CHẾT RỒI… ĐI ĐÂU ?

 PHÙNG VĂN HÓA

 Ephata 689

Đối với người bình thường thì cái chết luôn là một đề tài kiêng kỵ, người ta dường như muốn lẩn tránh nó. Thế nhưng có những trường hợp không thể lẩn tránh, đó là khi người thân yêu ruột thịt của chúng ta qua đời. Đứng trước ngôi mộ mới đắp khói hương nghi ngút, mọi người đều đã ra về chỉ còn mình ta với câu hỏi quay quắt: Xác thân nằm đó còn hồn đi đâu ? Sở dĩ cái chết của những người mà chúng ta rất đỗi yêu thương như cha mẹ vợ chồng con cái, mới gợi cho ta nỗi niềm thắc mắc, là bởi những con người ấy đã sống với ta một quãng thời gian lâu dài, với biết bao là yêu thương gắn bó, mà nay lại phải chia ly không ngày gặp lại ! Chết là một sự chia ly, và sự chia ly ấy có nghĩa: một người còn ở lại trên cõi đời này, còn người kia thì ra đi biền biệt sang cõi đời khác. Thật sự thì có hay không một cõi đời khác để người chết ra đi, đó là một nan đề triết học mà cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. Với duy vật thì chết là hết chuyện chẳng có gì để nói. Tuy nhiên nói thì vậy nhưng đối với những con người có đầu óc suy tư, chẳng hạn J.P. Sartre, thì cái chết vẫn là một bí ẩn khôn dò: “Điều cần ghi nhận đầu tiên là tính chất phi lý của sự chết”. Sở dĩ chết là phi lý bởi vì nó mù quáng và đột ngột chấm dứt mọi dự phóng. Theo triết gia hiện sinh này thì con người tất yếu là dự phóng và dự phóng ấy chỉ là những hoài vọng vô ích ở cõi đời này, tuyệt nhiên chẳng có quan hệ gì với cõi đời sau.

Chết có phải hết hay còn, đó là đề tài muôn thuở của triết học cho cả Đông lẫn Tây. Để tránh cái tệ nạn viển vông, Đức Khổng trả lời cho đệ tử là Tử Cống rằng: “Cho người chết là mất hẳn không biết gì nữa là bất nhân không nên theo. Cho người chết là còn biết như lúc còn sống là bất trí không nên theo” ( Chi tử nhi tri tử chi, bất nhân, nhi bất khả vi giã; chi tử như tri sinh chi, bất trí, nhi bất khả vi giã – Lễ Ký ).

Cho người chết là mất hẳn không còn gì nữa là bất nhân, bởi như thế sẽ chẳng còn có tưởng niệm, có cầu nguyện, tóm lại, chẳng còn có đời sống tâm linh tôn giáo gì cả. Ông HCM một người tự nhận là CS vô thần mà khi làm di chúc vẫn nói mình đi theo ông Mác, ông Lê. Vậy thử hỏi cái việc đi theo ấy là đi đâu ? Phải có nơi có chốn để đi chứ đâu thể cứ nói khơi khơi vậy được ? Cần có nơi có chốn mới có thể đi. Đây là vấn đề hết sức quan hệ trong lãnh vực tâm linh, không thể bỏ qua.

Đạo Công Giáo hiện đang rơi vào khủng hoảng mà nguyên nhân gây ra cho nó chính là vì đã không xác định được cái nơi chốn để về. Trước đây Gíao Hội vẫn tin và giảng dạy về bốn sự sau hết gọi là Tứ Chung ( Novissimis ): Chết, Phán xét, Thiên Đàng, Hoả Ngục. Tín hữu luôn tin rằng sau khi chết con người sẽ chịu phán xét, kẻ lành lên Thiên Đàng hưởng phúc đời đời, còn kẻ dữ sẽ phải phạt trong Hoả Ngục muôn kiếp. Tin có Thiên Đàng có Hoả Ngục tức là tin đó là hai nơi chốn có thực. Cần có lòng tin như thế chúng ta mới cố gắng làm lành lánh dữ để được lên Thiên Đàng và khỏi sa Hoả Ngục. Tin vào đời sau, có thưởng có phạt đó không phải dị đoan nhưng là niềm tin chính đáng ( chánh tín ) của người có đạo. Thế nhưng niềm tin Thiên Đàng, Hoả Ngục có nơi có chốn ấy ngày nay đã bị Thần Học thẳng thừng bác bỏ: “Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục là những nơi chốn thì sai rồi. Bạn cứ mở cuốn Toát yếu Giáo Lý Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedicto đương kim soạn thảo ra mà xem thì sẽ thấy quan niệm về Nơi Chốn của Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục như là những Nơi Chốn là sai bét tè le” ( Nguồn: Lm. Ansgar Phạm Tĩnh, Tháng các Linh Hồn, tìm hiểu Thiên Đàng, Luyện Ngục và Hoả Ngục ) Thay cho quan niệm Thiên Đàng, Hoả Ngục có nơi chốn, Thần Học cho rằng đó chỉ là những tình trạng: “Thiên Đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không còn bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào sẽ được quy tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các Thiên Thần và các Thánh…” Thiên Đàng là tình trạng, và Hoả Ngục cũng thế:

“Hoả Ngục là tình trạng xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa… Đức Kitô diễn tả thực tại Hoả Ngục bằng những lời này: “Quân bị nguyền rủa kia đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” ( Mt 25, 41 ).

Ở đây ta thấy có sự bất nhất; trước thì nói Thiên Đàng không phải nơi chốn sao lại bảo Thiên Đàng là nơi quy tụ ?!? Không có nơi có chốn thì làm sao quy tụ được đây ? Lại nữa Hoả Ngục cũng phải có nơi có chốn bởi nếu không thì kẻ dữ sẽ vào đâu khi nghe Chúa phán: “Hãy đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời ?”

Cả Thiên Đàng lẫn Hoả Ngục chẳng những đều có nơi có chốn, hơn nữa còn có nhiều tầng bậc cao thấp khác nhau. Thánh Phaolô có lần đã được dẫn đưa tới tầng trời thứ ba: “Tôi biết một người trong Đức Kitô cách mười bốn năm trước đây đã được cất lên đến tầng trời thứ ba. Hoặc trong thân thể tôi chẳng biết hoặc ngoài thân thể tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết. Tôi biết thể nào người đó, hoặc trong thân thể hoặc ngoài thân thể tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết, đã được cất lên đến Lạc Viên ( Paradis ) nghe những lời không thể nói mà người nào cũng không được phép nói ra” ( 2Cr 12, 2-4 ).

Thánh Phaolô nói ngài đã được cất lên tới tầng thứ ba. Điều này cho thấy rõ ràng Thiên Đàng có một nơi chốn chứ chẳng phải tình trạng như Thần Học nói. Thiên Đàng như một nơi chốn hoàn toàn khác với tình trạng ở chỗ: một đàng Thiên Đàng là nơi cư ngụ vĩnh viễn của Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các Thánh và những kẻ lành, còn tình trạng chỉ là trạng thái lúc có lúc không và mang tính chất bất định. Mặt khác, Thiên Đàng phải là một nơi chốn mang tính vĩnh viễn mới khiến cho ta quy hướng mong mỏi được về, chứ có ai lại muốn  về với cái tình trạng bất định làm gì ?

Nguyên nhân sâu xa khiến Thần Học bác bỏ Thiên Đàng như một nơi chốn là bởi người ta đã không nhận ra chiều kích tâm linh của Thiên Đàng cũng như của Hoả Ngục. Thiên Đàng, Hoả Ngục là lãnh vực thuộc tâm giới chứ không phải vật giới. Tâm giới thuộc vô hình, còn vật giới thuộc hữu hình. Con người chết, tức từ cõi hữu hình bước sang cõi vô hình. Gọi là vô hình bởi vì giác quan không thể cảm nhận chứ nó thực sự là một cõi, một thế giới với vô vàn vô số tầng bậc khác nhau.

Theo quan điểm nhà Phật thì cõi vô hình ấy gồm có sáu nẻo đó là: Thiên, Nhân, Atula, Ngạ Quỷ, Súc Sanh và Địa Ngục. Nguyên nhân khiến con người sau khi chết phải vào sáu nẻo luân hồi là do cái nghiệp dẫn dắt. Nghiệp nhân nào thì có quả báo của nghiệp đó. Cũng theo quan điểm Phật Giáo thì mục đích rốt ráo của việc tu hành là để thoát khỏi lục đạo luân hồi hầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

Trong tinh thần hội nhập hôm nay, thiết nghĩ chỉ có thuyết Nghiệp Báo của Phật giáo mới có thể giải đáp thoả đáng được cho câu hỏi “Chết rồi đi đâu”. Triết Học đề ra cho mình ba vấn đề. Một là con người bởi đâu sinh ra, hai là sống trên đời để làm gì và ba là chết rồi đi đâu ? Đề ra nhưng không thể giải quyết, triết học đương nhiên lâm vào bế tắc. Riêng với Thần Học, một thứ triết duy lý trá hình, thì sự thất bại còn não nề hơn, chẳng những không biết chết về đâu mà còn phủ nhận cả cái nơi cần trở về ấy nữa.

Bởi nguyên do nào mà Thần Học lại đi đến chỗ phủ nhận cả Thiên Đàng lẫn Hoả Ngục ? Xin thưa là vì vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm Đấng Thần Linh Tạo Hoá. Quan niệm Đấng Tạo Hoá đưa đến hai hệ quả. Một là Thuyết Định Mệnh, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng và như thế được lên Thiên Đàng hay phải xuống Hoả Ngục đều do Chúa quyết định. Hai là Thiên Chúa không bao giờ dựng nên Hoả Ngục bởi vì Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu chẳng khi nào lại nỡ đày đoạ con cái mình vào nơi khốn nạn ấy !

Dẫu sao Thuyết Định Mệnh ngày nay chẳng còn mấy ai chấp nhận. Tuy nhiên nếu bảo rằng tôi phải trách nhiệm về đời mình thì người ta có thể lập luận: điều ấy chỉ đúng trong cuộc sống hiện tại còn đời sau thì không. Tại sao ? Bởi vì cái đời sau, nghĩa là sau khi chết ấy, tôi có còn phải là tôi nữa đâu ?

Chính vì cho rằng sau khi chết tôi không còn phải là tôi nên mới có những người tự kết liễu đời mình bởi nghĩ chết là hết cái… nợ đời ! Thật sự thì chẳng bao giờ hết được nợ vì rằng đây chính là cái “Nghiệp” mà mỗi người đã vương mang từ muôn kiếp. Thi hào Nguyễn Du nói: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa” “Nghiệp” dịch từ chữ Phạn là Karma nghĩa của nó là Tác Ý. Tất cả tư tưởng lời nói việc làm là do ý muốn làm động cơ khởi phát và ý muốn ấy cứ lập đi lập lại để thành ra Nghiệp. Ý muốn thuộc về Tâm là cái vô hình nhưng nó quyết định cho mọi hành vi con người. Có ý muốn tốt sẽ hành động tốt, ngược lại ý muốn xấu sẽ hành động xấu. Đức Kitô nói: “Không có cây tốt lại sanh trái xấu, cũng không có cây xấu lại sanh trái tốt. Cứ xem quả thì biết cây. Người ta không hái trái vả nơi lùm gai. Cũng không hái trái nho nơi chà chuôm. Người thiện do lòng chứa thiện mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do lòng chứa ác mà phát ra điều ác. Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” ( Lc 6, 43 – 45 ).

Chứa ở đây là chất chứa, có chất chứa những ý muốn thiện lành thì mới có thể có những hành động thiện lành. Ngược lại, cứ chứa chấp những ý muốn xấu xa ác độc thì sẽ hành động ác. Người đời coi thường những ý muốn khởi phát ở nơi Tâm, tưởng nó vô hại mà không biết rằng mình đang tạo nghiệp. Nghiệp nhân nào sẽ có nghiệp quả đó. Được lên Thiên Đàng hay phải đoạ đày muôn kiếp trong Hoả Ngục hoàn toàn không do một Đấng Thần Linh nào đó quyết định, nhưng là do nghiệp dẫn. Hiểu như thế thì vấn đề quan trọng của mỗi người có đạo chúng ta là phải làm sao tạo cho mình một cái nghiệp lành để hưởng quả lành tối thượng là Nước Thiên Đàng đời đời.  Tạo nghiệp lành để hưởng quả lành, và nghiệp lành ấy không gì bằng là thi hành Thánh Ý Chúa trong tư tưởng lời nói việc làm: “Chẳng phải mỗi kẻ nói cùng Ta rằng: lạy Chúa lạy Chúa mà vào Nước Trời được đâu, nhưng chỉ những kẻ biết vâng theo Ý Chỉ của Cha Ta trên trời mà thôi” ( Mt 7, 21 ).

Vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa là một việc khó mà dễ. Nói là khó, rất khó bởi vì vẫn còn thấy có cái Ta ( Ngã chấp ). Còn dễ là biết bỏ cái Ta không thật đó đi. Bỏ cái Ta có nghĩa là bỏ hết dục vọng còn chứa chấp ở nơi mình, khi ấy Đấng Cha tức bộ mặt xưa nay ( Bổn lai Diện Mục ) sẽ hiện tiền: “Cứ phá bỏ được những dục vọng bên ngoài thì sẽ thấy cái thiện căn bản của lòng mình được no đầy” ( Dĩ khử phù ngoại dụ chi nhi sung kỳ bản nhiên chi thiện ( Trung Dung – Chương một ).

Bỏ dục vọng, tức bỏ đi những ý muốn xấu ác, chỉ có thế thôi. Thế nhưng để làm được việc làm này thì phải có ơn Chúa. Mặc dầu ơn Chúa là cái không thể thiếu, nhưng nếu ta không cộng tác tức không gắng sức tạo cho mình một cái nghiệp lành bằng cách tham dự Thánh Lễ hàng ngày cách sốt sắng và chuyên cần đọc Kinh Mai Khôi, thì cũng vô ích: “Song ai bền đỗ đến cùng thì mới được cứu” ( Mt 10, 22 ).

PHÙNG VĂN HÓA

LÒNG XÓT THƯƠNG

LÒNG XÓT THƯƠNG

 Lm. VĨNH SANG, DCCT

 EPHATA 689

 Chiều nay tôi có việc đến thăm một gia đình sống trong khu “ổ chuột”, con đường giao thông trong khu vực quanh co bí hiểm, lối di chuyển chỉ vừa hơn một chiếc xe hai bánh, khi hai xe đối đầu thì một xe phải dừng lại nghiêng một bên để nhường xe kia đi qua, tiếng máy xe nổ vang do dội âm từ hai bức tường đối diện. Bề bộn trên con hẻm là những vũng nước, những chai lọ và những rác rưởi lặt vặt. Dân cư sống trong khu vực đến từ nhiều nơi có thể gọi là “giang hồ tứ chiếng” ( bốn phương sông nước), dĩ nhiên khu vực ấy chỉ dành cho những người nghèo, đáp ứng những khả năng và nhu cầu tối thiểu của người nhập cư vào thành phố.

Bất ngờ khi tôi ngồi ngoài hiên ngôi nhà tôi muốn thăm, một người đàn ông đến gần xin gặp, tôi không xa lạ gì anh vì đã đôi ba lần gặp nhau, nhưng trong những dịp ấy tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh, tôi có biết đôi chút về anh qua những người quen khác, sau này tôi biết thêm qua mạng Facebook nhờ những hoạt động của anh. Xuất thân từ giới giang hồ của thành phố, anh sống đời dọc ngang, dĩ nhiên là trong giới anh chị, anh có nhiều thành tích và nổi tiếng gan lì khi đối đầu với cảnh sát.

Thế rồi cách đây hai năm, anh tập tành chơi Facebook, mạng thông tin đã nhanh chóng biến đổi anh, những tấm gương sống hy sinh trên Facebook, những câu chuyện về những người sẵn sàng dấn thân được kể trên Facebook, những sự thật phũ phàng trong xã hội ở “thượng tầng kiến trúc”, tất cả đã tác động lên anh, từ một tay anh chị, anh trở thành người thao thức và trăn trở với tình thương, sự thật và công bằng. Anh đã tâm sự với một người bạn rằng anh muốn theo đạo Công Giáo vì khi dấn thân xã hội anh tìm được điểm tựa đáng tin cậy.

Câu chuyện anh nói với tôi chiều nay làm tôi băn khoăn suy nghĩ. Trong một lần đi về một vùng quê miền Bắc, anh gặp một em bé bị hư thận, nhà rất nghèo, căn bệnh đe dọa tính mạng của em, anh cưu mang em bé này vào thành phố. Các xét nghiệm y khoa cho thấy anh và em bé này có những tương đồng để có thể cho và nhận thận của nhau, anh quyết định hiến một trái thận cho cháu. Anh nói với tôi rằng anh quá nghèo nên kêu gọi bạn bè của anh mỗi người giúp một tay chi trả chi phí cho ca ghép thận, anh không xin tôi tiền nhưng anh xin tôi cầu nguyện và nâng đỡ, ủng hộ anh trong việc này, anh bảo với tôi rằng:

“Con chỉ cần cha ủng hộ và nâng đỡ con là con đủ sức mạnh rồi !”

Chiều hôm qua khi tập thể dục ở Nhà Dòng, tôi theo dõi bộ phim “Vết Sẹo” để quên thời gian, khúc phim kể về nỗi đau của một bà vợ trẻ miền quê, chị khám phá ra quả thận mà chị hiến cho chồng đã bị anh ta giả vờ đau thận, đánh lừa vợ để chuyển cho người tình của anh ta ! Còn chiều nay thì tôi lại gặp một người nghèo hiến thận vì tình thương vô vị lợi. Tôi băn khoăn suy nghĩ vì một người nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, dám hy sinh cả mạng sống mình vì tình thương, dám sống lòng thương xót một cách cụ thể.

Trong lá thư Mùa Chay 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với chúng ta rằng “Chỉ khi chúng ta cảm nhận được Lòng Thương Xót của Chúa, chúng ta mới có khả năng sống lòng nhân ái với nhau”. Vậy có thể nói được rằng, khi một người vì Danh Chúa mà dám sống lòng nhân ái với người khác, đó là con người đã chạm được chính Lòng  Thương Xót của Ngài. Hoặc có thể nói là người Kitô hữu mà không sống lòng nhân ái với anh em, thì đó là dấu chỉ con người ấy chưa chạm được vào Lòng Thương Xót của Chúa. Có lắm khi tôi đã sống vỏ bọc đạo đức, thi hành nhiệm vụ của một cán bộ công chức ngành tôn giáo, hoạt động chu toàn nhiệm vụ cần mẫn, nhưng không bao giờ cho đi cái của mình, mà chỉ nhiệt thành cho người khác cái mà mình “lạc quyên” được, rồi tâm đắc thanh thản với những thành tích hoạt động, và vênh vang với địa vị chiếu trên…

Lạy Chúa, xin biến đổi chính mình con, lạy Chúa giàu lòng thương xót.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

14.4.2016

Thử tìm mẫu số chung cho những dự án làm nghèo đất nước

Thử tìm mẫu số chung cho những dự án làm nghèo đất nước

Có yếu tố chính trị muốn phá hoại kinh tế nước ta hay không cũng cần xem xét nhiều mặt, nhưng chậm trễ, tăng giá, công nghệ lạc hậu của các nhà thầu Trung Quốc đã gây khó khăn không ít, hay có thể phá hỏng dự án là điều khá rõ. Về phía chủ quan cũng cần làm rõ yếu tố Trung Quốc trong việc tham gia vào các dự án trọng điểm. Cần làm rõ trách nhiệm của từng người đã xây dựng, tham gia, phê duyệt các đầu tư thất bại này. Gần như chưa có quy tội cho những người khởi xướng, đứng đầu dự án khi đỗ vỡ. Chính sự không phân biệt đúng sai, bao che, phe nhóm đã đưa đến sự làm nghèo đất nước, khó khăn cho phát triển vậy.

____

FB Nguyễn Trung Dân

9-4-2016

Khu gang thép Thái Nguyên đã 10 năm xây dựng, nay như thế này! Nguồn: internet

Ngày nay với các phương tiện truyền thông, người dân bắt đầu biết, làm quen với các con số ngàn tỷ đồng thất thoát, thua lỗ, hoặc các dự án đắp chiếu, hiệu quả không có hay không sản xuất ra được sản phẩm. Ai cũng biết những con số hàng chục ngàn tỷ bị thất thoát, thua lỗ như Vinashin, Vinaline đã rơi vào im lặng, không có khả năng thu hồi sau khi các Giám đốc vào tù. 

Có những dự án đã đầu tư đến hơn 5800 tỷ đồng như Dự án mở rộng Nhà máy luyện cán thép Thái Nguyên đến nay vẫn dỡ dang sau 10 năm xây dựng, muốn đầu tư tiếp phải có trên dưới 4000 tỷ nữa mà hiệu quả đã thấy trước là thua lỗ. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ Hải Phòng (thuộc Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam) đã đầu tư hơn 7000 tỷ đồng, khánh thành đưa vào hoạt động tháng 5/2014 thì chỉ đến giữa năm 2015 đã lỗ đến 1732 tỷ đồng và từ tháng 9/2015 đến nay, nhà máy đã dừng sản xuất mà theo TGĐ nhà máy thì đó là cách tiết kiệm nhất để chống thua lỗ kéo dài! Nhà máy liên hợp gang thép Vạn Lợi Hà Tĩnh, đầu tư hơn 1700 tỷ đồng vốn của các Ngân hàng quốc doanh (chiếm hơn 85%) chưa ra một sản phẩm nào thì đến nay UBND Tỉnh Hà Tĩnh chính thức chấm dứt, xoá bỏ thu hồi đất của dự án.

Nhưng có dự án gây phản ứng dư luận ngay từ ban đầu nghiên cứu là các dự án Bauxite ở Tây Nguyên. Dự án Tân Rai, vốn ban đầu dự kiến trên dưới 8000 tỷ thì khi hoàn thành lên đến 687 triệu USD (hơn 14000 tỷ đồng) và đã được dự kiến lỗ trong 3 năm là 460 tỷ đồng; còn Nhân Cơ có vốn đầu tư hơn 16.822 tỷ đồng sẽ lỗ hơn 3000 tỷ trong 5 năm.

Ngược lại thời gian trước, từ 1995 đến năm 2000, chương trình 1 triệu tấn đường với số vốn bỏ ra hơn 8200 tỷ đồng (tương đương 750 triệu USD) xây dựng ồ ạt 44 nhà máy đường ở 29 tỉnh, thành phố, đã để lại số nợ khó đòi không có khả năng thanh toán là 7.158.863 triệu đồng. Những năm 90 cuối thế kỷ, chương trình 3 triệu tấn xi măng lò đứng được nhanh chóng triển khai với hơn 40 nhà máy có vốn đầu tư là hơn 160 triệu USD cũng nhanh chóng tan biến vì chất lượng xi măng quá kém, ô nhiễm môi trường nặng nề. Năm 1997, triển khai Chương trình đánh bắt xa bờ được Chính phủ giao cho Bộ Thuỷ sản chủ trì cho ngư dân vay 1340 tỷ đồng (tương đương 120 triệu USD) đóng mới và cải tiến hơn 1000 chiếc tàu thì chỉ hơn nửa năm sau đã có 250 chiếc nằm ụ phơi sương, còn 520 chiếc thì đánh bắt không hiệu quả nên không ra khơi mà chỉ đánh quanh quẩn gần bờ. Kết quả bán đấu giá 250 tàu còn khá nhất chỉ thu lại 26,5% giá trị đầu tư cho mỗi tàu.

Còn khá nhiều dự án hạ tầng, dự án phục vụ dân sinh như các dự án làm đường, làm giếng nước, bỏ nhà sàn để tái định canh, định cư cho người dân tộc miền núi đã gần như thất bại hoàn toàn. Hầu hết những dự án thất bại có những điểm tương đồng cho ta rút ra được những mẫu số chung như sau:

– Trước hết những dự án này đều rơi vào Doanh Nghiệp nhà nước. Có DNNN đang làm ăn nên nỗi, sau đầu tư mới, mở rộng sinh ra lụn bại như Nhà máy gang thép Thái nguyên. Những “quả đấm thép” này của nhà nước đã cố chạy cho được dự án và chú trọng khâu xây dựng hòng kiếm chác quyền lợi riêng mà bất chấp hiệu quả công trình. Họ luôn xem việc xin cho từ ngân sách NN như “chùm khế ngọt” mà ai cao thì hái được nhiều! Nạn tham nhũng chỉ có thể trong sự thực hiện các đầu tư mới, càng lớn càng tốt.

Lập và thẩm quyền phê duyệt dự án không đúng, chỉ là hình thức. Chính cơ quan chủ trì phê duyệt lại có Công ty tư vấn hay bộ phận giúp chủ đầu tư xây dựng dự án. Như Dự án đánh bắt xa bờ thì Bộ Thuỷ sản có Công Ty Tư vấn Thiết kế đầu tư thuộc Bộ lập các dự án hầu hết giống nhau để Bộ phê duyệt. Tương tự các dự án xi măng lò đứng; Chương trình 1 triệu tấn đường cũng vậy. Những nhà tư vấn thông thuộc đường đi nước bước đã đưa vào các chủ đầu tư không đúng đối tượng như Thanh tra Bộ Thuỷ sản đã kiểm tra 280 HTX ở 9 tỉnh đã vay vốn đánh bắt xa bờ thì đã có đến 265 cơ sở mới thành lập vào thời điểm xét duyệt dự án với chủ đầu tư là người chưa hề có ngày nào là ngư dân. Họ đúng ra lập HTX, vay vốn, xà xẻo vốn khi đóng tàu, mua ngư lưới cụ và thuê các ngư dân đứng tên trong HTX để lời thì được chia phần nhiều, lỗ đã có HTX chịu và chính là Nhà nước đành phải khoanh nợ, xoá nợ khi thua lỗ!

– Với cách làm đó, hầu hết các dự án đều được lập với những dữ kiện giả tạo, đẹp đẽ, thuận lợi, cầm chắc thua lỗ mà các chủ đầu tư luôn đổ lỗi tại sự biến động thị trường, tại phát sinh các yếu tố khác. Như Nhà máy xơ sợi Đình Vũ cho là mình xây dựng phương án giá sợi polyester khi giá dầu còn cao, giá dầu biến động nên mua nguyên liệu về đã lỗ, sản phẩm làm ra giá thành cao hơn thị trường. Nhà máy đường thì không quy hoạch vùng nguyên liệu, không đầu tư chuyên canh cây mía nên mía có năng suất thấp, nông dân trồng mía bị ép giá bán thấp. Nhà máy gang thép Thái nguyên thì dự án kéo dài hơn 10 năm, phát sinh hơn gấp đôi dự toán đầu tư ban đầu. Phát sinh do chậm tiến độ hay do giá nguyên liệu, thiết bị tăng hoặc do tỷ giá ngoại tệ tăng cao so với tiền đồng. Các hợp đồng thường dược các chủ đầu tư “ưu ái “để kẻ hở cho bên nhận thầu có những thuận lợi tăng giá. Các dự án Bauxite đã tách rời đường vận chuyển để giảm giá đầu tư để lại khó khăn cho xã hội khi vận chuyền nguyên liệu, thành phẩm hư hỏng đường. Phát sinh có khi gấp đôi, gấp ba giá Tổng dự toán ban đầu.

– Yếu tố Trung quốc là rõ nhất trong việc gây thất bại của dự án. Gang thép Thái Nguyên đã ứng đến hơn 93% tiền mua thiết bị nhưng thiết bị theo tổng thầu EPC Trung quốc đã không đưa sang phần điện và điều khiển nên chỉ có họ nắm giữ, vận hành, nếu không nó chỉ là những đống sắt rời rạc phơi mưa nắng hàng năm bảy năm nay. Năm 1996, Trung Quốc đã có chủ trương phá bỏ 300 triệu tấn xi măng lò đứng thì lập tức các thiết bị ấy đuọc chuyển sang ta để chỉ trong vòng 3 đến 5 năm, nước ta cũng phải dẹp các sản xuất lạc hậu này. Công nghệ lạc hậu của Trung Quốc được lắp đặt với giá không còn có thể cao hơn. Để chỉ mở rộng thêm 500 ngàn tấn thép và phôi, Nhà máy gang thép Thái nguyên đã ứng cho nhà thầu TQ là hơn 5800 tỷ đồng (tính theo từng thời điểm thì tương đương 320 triệu USD) mà vẫn chưa xong. Chính phủ đã thống nhất điều chỉnh lên 8109 tỷ đồng, nhưng theo các chuyên gia thì cần đến hơn 4500 tỷ đồng mơi mong hoàn thành. Trong khi đó, thép Pomina III đầu tư tổng vốn chỉ hơn 300 triệu USD để thực hiện 1 nhà máy luyện thép (phôi) 1 triệu tấn / năm; 1 nhà máy cán thép công suất 500 ngàn tấn / năm; một cảng biển bốc dở 3 triệu tấn / năm. Mà công nghệ của Pomina III là công nghệ tiên tiến của Ý, Đức, Mỹ. Vậy với dự án Thái nguyên, chúng ta có cần phải bỏ thêm 200 triệu USD để rước về một dây chuyền công nghệ lạc hậu mà sự thua lỗ đã cầm chắc khi giá thành cao. Hơn nữa sự chậm trể 10 năm qua đã biến sự đầu tư này không còn có ý nghĩa khi thị truòng nước ta đã có nhiều ông lớn ngành thép nhãy vào như Formosa (Hà Tỉnh), Pomina, Kyoie, Hoà Phát …

Có thể thấy yếu tố Trung Quốc là tác nhân chính đưa đến thất bại của các dự án. Ham rẽ, dễ dàng tiêu cực, giá bỏ thầu và được chọn bao giờ cũng thấp bằng một nữa hay có khi bằng 1/3 giá hoàn thành dự án. Chậm tiến độ là nguyên nhân gây mất cơ hội đầu tư, khiến thị trường và giá cả biến động không còn thuận lợi như thời điểm đầu tư.

Có yếu tố chính trị muốn phá hoại kinh tế nước ta hay không cũng cần xem xét nhiều mặt, nhưng chậm trễ, tăng giá, công nghệ lạc hậu của các nhà thầu Trung Quốc đã gây khó khăn không ít, hay có thể phá hỏng dự án là điều khá rõ. Về phía chủ quan cũng cần làm rõ yếu tố Trung Quốc trong việc tham gia vào các dự án trọng điểm. Cần làm rõ trách nhiệm của từng người đã xây dựng, tham gia, phê duyệt các đầu tư thất bại này. Gần như chưa có quy tội cho những người khởi xướng, đứng đầu dự án khi đỗ vỡ. Chính sự không phân biệt đúng sai, bao che, phe nhóm đã đưa đến sự làm nghèo đất nước, khó khăn cho phát triển vậy.

Việt Nam vẫn vi phạm nhân quyền nghiêm trọng

Việt Nam vẫn vi phạm nhân quyền nghiêm trọng

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-04-15

000_Hkg10178237

Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Tom Malinowski (trái) gặp gỡ các nhà báo trong và ngoài nước trong một cuộc họp báo nhân quyền thường niên với chính phủ Hà Nội vào ngày 11 tháng năm năm 2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Phúc trình nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm 2015 vừa công bố cho thấy bất kể một số cải cải thiện về mặt pháp lý, Việt Nam vẫn vi phạm quyền làm người của công dân một cách nghiêm trọng.

Tình hình nhân quyền toàn cầu năm 2015, được ngoại trưởng John Kerry và phụ tá ngoại trưởng đặc trách dân chủ nhân quyền Tom Malinowski công bố hôm thứ Tư ngày 13 vừa qua, là công việc thường niên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, mục đích nhắc nhở mọi quốc gia đang vi phạm phải cải thiện hồ sơ nhân quyền yếu kém của mình sao cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế hầu tiến tới một thể chế dân chủ và công bằng hơn.

Dựa vào thực tế

Ngoại trưởng John Kerry khẳng định bản phúc trình nhân quyền các nước năm 2015 là công việc nghiêm túc và rõ ràng chứ không phải ý kiến tùy tiện và quyết đoán nhắm vào từng quốc gia.

Đây là bản phúc trình có tính cách phổ quát và có tiêu chuẩn quốc tế, ngoại trưởng Kerry nhấn mạnh, mọi báo cáo đều phải dựa căn bản thực tế chứ không thể bịa đặt và càng không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bước sang năm 2015 vẫn là một quốc gia toàn trị bởi một đảng duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Dù đã có dấu hiệu ganh đua trong chừng mực nào đó giữa các ứng cử viên, cuộc bẩu cử quốc hội năm 2011, được coi là gần đây nhất, cũng chưa  được đánh giá là tự do và công bằng, công an cảnh sát dường như đang muốn lấn lướt và kiểm soát các thế lực dân sự.

“ Tôi nghĩ về mặt ngoại giao, nói như thế nào, ai phản đối thế nào thì chính quyền Việt Nam vẫn vi phạm, vẫn chà đạp nhân quyền, chà đạp lên pháp luật, chà đạp lên hiến pháp.
– Ông Nguyễn Tường Thụy”

Đó là phần mở đầu tập báo cáo chi tiết  về nhân quyền Việt Nam năm 2015. Phúc trình cho thấy bất kể trong năm  2015 Việt Nam đã chú tâm nhiều hơn trong việc sửa đổi Bộ Luật Hình Sự, cải thiện những điều lệ về bắt giữ, tạm giam, xét xử, kể cả quyền được giữ im lặng khi bị bắt. Thế nhưng, phúc trình nói tiếp, vẫn còn nhiều đinh nghĩa mơ hồ trong Bộ Luật Hình Sự như xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích nhà nước mà chính phủ dựa vào để chận đứng những hoạt động chính trị của người dân cũng như các tổ chức  xã hội dân sự.

Mặt khác, Việt Nam không có tự do tôn giáo, Việt Nam vi phạm nhân quyền vì những hành động như bắt giữ công dân một cách tùy tiện, tra tấn đánh đập người bị bắt mà có khi dẫn đến những trường hợp tử vong, người bị buộc tội không được xét xử bằng những phiên tòa công bằng, trong lúc hệ thống tư pháp thiếu công minh, không độc lập mà còn bị lũng đoạn.

Phúc trình đã nêu đích danh những người bị công an đánh chết khi đang bị giam như Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Đức Duẩn, Đỗ Đăng Dư, Nguyễn Hoàng Quân, vân vân…

Bên cạnh đó, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin ở Việt Nam còn bị giới hạn, nhà nước sử dụng mọi biện pháp kiểm duyệt, ngăn  chận và cấm đoán Internet. Những điều cấm kỵ này được áp dụng luôn cho cả các tôn giáo trong nước.

Tóm lại, bất dung tôn giáo, kiểm soát, khủng bố, tra tấn, án tù nhiều năm, gây trở ngại đời sống, hạn chế thông tin, bắt giữ tùy tiện, đàn áp người dân đòi quyền lợi, ngụy tạo bằng chứng để buộc tội người vô tội, đều là  những hành vi chà đạp quyền con người của chính phủ Việt Nam mà bản phúc trình nhân quyền 2015 của Bộ Ngoại Giao Mỹ lần lượt nêu ra.

Thật quan trọng để nhấn mạnh là phúc trình nhân quyền mà Bộ Ngoại Giao cho công bố hôm nay, nhìn thì tưởng là dày cộm và công phu, thực tế không thể nào thể hiện đúng mức nỗ lực thăng tiến và phát huy những quyền chính đáng của con người tại các quốc gia thường có sự vi phạm.

image-400

Những người ủng hộ blogger Nguyễn Hữu Vinh đứng trước Tòa án Hà Nội ngày 23 tháng 3 năm 2016. AFP photo

Chính vì thế nhân quyền luôn là đề tài trong nghị trình làm việc của Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng như nằm trong nghị trình quan hệ đa phương giữa Hoa Kỳ với các quốc gia bạn.

Việt Nam là một thí dụ của trường hợp này, ngoại trưởng John Kerry nói, đất nước Việt Nam vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng, thế nhưng Hà Nội đã cam kết sẽ cho thành lập công đoàn độc lập một khi gia nhập TPP – Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương. Đây là một bước tiến rất có ý nghĩa về quyền tự do lập hội của người lao động.

Chương cuối phần phúc trình nói về Việt Nam còn đề cập  đến những thiếu sót mà Việt Nam cần phải cải thiện, đó là vấn đề lương hướng của công nhân, những thanh phần thấp cở bé miệng trong xã hội Việt Nam, đẩy mạnh việc thành lập Công Đoàn Độc Lập nhằm bảo vệ người lao động, chấm dứt việc cấm đoán các tổ chức NGO ngoài chính phủ muốn hỗ trợ công nhân lao động trong nước.

Nhân quyền là khát vọng của người dân

Từ Hà Nội, cựu chiến binh, nhà báo, nhà văn Nguyễn Tường Thụy, cho rằng tôn trọng nhân quyền là chuyện không có ở Việt Nam:

Khi nói chạm đến Việt Nam về vấn đề vi phạm nhân quyền thì người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam vẫn bác bỏ, thông thường là như vậy. Chuyện đánh giá của Mỹ hay các nước, nếu nhận xét tốt thì thôi, nhận xét xấu thì họ bác bỏ, điều này xảy ra là lẽ thường. Đại khái tôi cũng đã gặp nhiều cán bộ đại sứ quán các nước Mỹ, Úc, Canada hay Hà Lan, tôi có lưu tâm đến vấn đề là những tuyên bố của Việt Nam khác xa thực tế rất nhiều thì họ bảo là họ biết cả. Tôi nghĩ về mặt ngoại giao, nói như thế nào, ai phản đối thế nào thì chính quyền Việt Nam vẫn vi phạm, vẫn chà đạp nhân quyền, chà đạp lên pháp luật, chà đạp lên hiến pháp.

Về vấn đề cho thành lập công đoàn độc lập mà Việt Nam cam kết khi vào TPP, được nhắc lại bởi ngoại trưởng Mỹ khi công bố bản phúc trình nhân quyền 2015 phần nói về Việt Nam, bạn trẻ Nguyễn Hoàng Vi thuộc nhóm NO U Sài Gòn, góp ý:

Em nghĩ rằng tình hình nhân quyền Việt Nam càng ngày càng tệ hơn chứ không có gì sáng sủa, nhất là khi mà phe bảo thủ của ông Nguyễn Phú Trọng đang nắm thế hiện nay. Em thấy hàng loạt vụ đàn áp và bắt bớ vẫn tiếp tục xảy ra.

Với những sửa đổi trong Bộ Luật Hình Sự thì căn bản những điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia vẫn còn giữ mà thậm chí nó còn nặng hơn nữa, cho nên em nghĩ sẽ không có thay đổi. Thêm nữa, nếu họ cho thành lập công đoàn độc lập thì họ cũng sẽ có những động thái kềm chế những hoạt động của công đoàn, hoặc là gây ra những rủi ro những khó khăn cho phía công đoàn độc lập.

“ Vấn đề là nhân quyền đã trở thành khát vọng của Việt Nam nhưng vì cộng sản không coi đó là việc của mình nên không làm đến nơi đến chốn.
– Ông Nguyễn Khắc Mai”

Đối với ông Nguyễn Khắc Mai, rất khó để nói chuyện nhân quyền ở Việt Nam và cũng rất khó để kêu gọi nhà nước Việt Nam bảo vệ quyền con người như từng hứa hẹn:

Tôi nói là Việt Nam cộng sản có cái lịch sử từ chối nhân quyền, luôn luôn cho nhân quyền là vấn đề của tư sản, của chủ nghĩa tư bản, của kẻ thù nó lợi dụng để chống lại Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa và chống lại đảng. Đấy là luận điệu rất lâu rồi.

Vấn đề là nhân quyền đã trở thành khát vọng của Việt Nam nhưng vì cộng sản không coi đó là việc của mình nên không làm đến nơi đến chốn. Vì sao thế giới chọn nhân quyền để công kích Việt Nam, vì đấy là mặt yếu nhất của Việt Nam, Việt Nam rất kém về vấn đề này. Thế nhưng cho đến nay tôi thấy vấn đề vẫn không được cải thiện, càng ngày sự vi phạm nhân quyền càng rõ. Hai tầng lớp người ta gọi là nền tảng của xã hội là công nông, cuộc sống vật chất đã xứng đáng con người hay không thì đang là một vấn đề lớn.

Cho đến lúc này, chưa thấy chính quyền Hà Nội lên tiếng gì về phúc trình thường niên mà Bộ Ngoại Giao Mỹ vửa công bố.

Nhất định phải tha thứ cho 6 người này để thanh thản cả đời

Nhất định phải tha thứ cho 6 người này để thanh thản cả đời

Bạn không cần phải tha thứ cho người khác vì những lợi ích của họ. Mà bạn tha thứ vì chính bản thân bạn.

THA THU
Hãy tập cách tha thứ cho người khác, cũng là tha thứ cho chính mình

Lúc này hay lúc khác, luôn có những người làm tổn thương chúng ta sâu sắc tới mức ta mệt mỏi, đau khổ và khó bỏ qua. Tha thứ, ai có thể làm được?

Biết tha thứ cho những người làm ta đau đớn sẽ mang lại một cảm giác yên bình mà ta không thể có được khi ôm riết lấy mối hận thù đó. Tôi có nghe một câu “ cái ta mất đi, không phải sẽ mất hẳn, mà một ngày nào ta sẽ nhận được cái lớn hơn cái ta đã mất” . Ngoài ra, tha thứ còn làm ta khoẻ mạnh hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.

  1. Tha thứ cho kẻ thù

Trong xã hội mà sự cạnh tranh diễn ra khốc liệt như hiện nay, bạn sẽ không biết được lúc nào mình có “kẻ thù” và cũng không biết được mình có bao nhiêu “kẻ thù”.Đặc biệt là tại công tác ngoài xã hội càng ngày áp lực càng lớn, khó tránh khỏi sẽ có người không cùng suy nghĩ với bạn, họ có thể sẽ ở sau lưng mà bàn tán về bạn, phỉ báng bạn và biến bạn thành kẻ thù của họ.

Dù cho bạn là một người không muốn tranh giành quyền thế, nhưng phiền toái sẽ hết lần này lần khác tìm đến bạn, lúc đó bạn sẽ làm thế nào? Hãy tha thứ vì biết đâu một ngày họ trở thành bạn của chúng ta, đừng biết hận thù ngày càng trở nên sâu sắc không thể hoá giải.

  1. Tha thứ cho bạn bè

Trong cuộc đời của mỗi người, nếu như phải chịu những tổn thương do chính bạn bè mình gây ra thì thực sự đã rất buồn, nhưng sự tổn thương đó sẽ càng lớn và càng sâu đậm khi người đó lại là bạn bè thân thiết. Nhưng, bạn hãy nghĩ xem, rất có thể họ chỉ là vô ý hoặc cũng có thể chỉ là sự ganh tị nhất thời mà thôi. Cho nên bạn nhất định phải tha thứ cho bạn bè của mình bởi vì dù thế nào đi nữa họ đã song hành cùng bạn, cùng giúp đỡ và đem lại niềm vui cho bạn. Biết đâu, khi bạn tha thứ cho họ, bạn có thể tìm lại được tình bạn mơ ước như thuở ban đầu?

Cuộc đời một con người không có gì là không thể tha thứ! Ở vào tình cảnh bi thương nhất, tình cảnh khó khăn nhất, nếu như bạn học được cách “mở cánh cửa sổ” ra có thể bạn sẽ nhìn thấy một phong cảnh tuyệt đẹp đấy!

  1. Tha thứ cho những người phản bội

Một câu hỏi mà nhiều người dằn vặt đến hết cả cuộc đời, liệu có nên tha thứ cho những người phản bội. Có thể là phản bội trong tình yêu, phản bội trong tình bạn,…Dù nỗi đau ấy có sâu đến như thế nào, nếu bạn có thể tha thứ nó sẽ nguôi ngoai đi phần nào. Chúng ta không nhất thiết phải lấy oán báo oán, chính sự rộng lượng của con người mới là chìa khoá dẫn đến sự giải thoát.

CHO MINH

  1. Tha thứ cho chính mình

Và cuối cùng, chúng ta phải học cách tha thứ cho chính bản thân mình. Mọi người, ai ai cũng đều phạm qua sai lầm và cũng không thể đạt được sự tán thành của tất cả mọi người.Nếu như bạn cứ đắm chìm trong sự hối hận và tự trách mình, qua một thời gian dài như vậy, cuộc đời bạn sẽ trở nên bi quan, sai lầm cũng sẽ không biến mất thậm chí còn xuất hiện nhiều hơn. Cho nên bạn hãy mỉm cười và tự tha thứ cho bản thân mình.

  1. Tha thứ cho kẻ hãm hại mình

Những lỗi lầm, những điều vô cùng tệ bạc mà họ đối xử với chúng ta có thể chỉ là một đố kị nhất thời. Thay vì khắc sâu sự câm ghét ấy trong lòng, hãy học cách cho nó đi. Có đôi khi, những người ấy lại giúp chúng ta mạnh mẽ, sắt đá hơn.

  1. Tha thứ cho người đã làm tổn thương bạn

Tất cả đều là con người bình thường và ai cũng có thể phạm sai lầm, hay rộng lượng mà bỏ qua mọi lỗi lầm của người khác, điều ấy sẽ khiến cho bạn nhẹ lòng hơn là phải mãi tức giận với những gì họ đã đối xử với mình. Chính họ cũng sẽ phải “nể” bạn và sẽ coi trọng bạn hơn.

Trong cuộc đời này, không có lỗi lầm nào là không thể tha thứ, không có con người nào là không đáng tha thứ cả.

Điểm tin: Thói bầy đàn và tư duy nô lệ của người dân Việt

Điểm tin: Thói bầy đàn và tư duy nô lệ của người dân Việt

 J.B Nguyễn Hữu Vinh (Tổng hợp)

Đọc những dòng tin vài hôm nay trên báo chí nhà nước, mới thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà chế độ độc tài có thể tồn tại một cách vô lý và lâu dài.

Ai đó đã nói rằng: “Người dân nào, chính phủ đó” hẳn không phải là không có lý. Nhìn vào hiện trạng Việt Nam hôm nay, điều đó càng được chứng minh rõ ràng hơn.

Báo chí đưa tin hàng đoàn người bỏ việc công, bỏ ăn trưa xếp hàng rồng rắn để mua tờ bạc 100 đồng, tờ bạc này không có giá trị tiêu dùng mà chỉ có giá trị kỷ niệm nhân dịp 65 năm thành lập Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

xephangmuato100dong

Xếp hàng mua tờ 100 đồng. Ảnh: Internet

Nhiều người đã tập trung đợi chờ, xếp hàng chỉ để mua tờ bạc kỷ niệm, tâm lý bầy đàn đã được kích động qua một số báo chí Việt Nam, kích động sự tò mò và thói a dua, nhiều người cố tình xếp hàng mua cho được đồng tiền này mà chẳng biết sẽ làm gì với nó. Những hiện tượng này không hiếm, người dân Việt Nam đã từng chứng kiến cảnh hàng đoàn thanh, thiếu niên Việt Nam chen lấn, dẫm đạp, khóc lóc thậm chí hôn cả ghế ngồi của ngôi sao nước ngoài sang Việt Nam.

Trong khi đó, hàng loạt các vấn đề trực tiếp đến đời sống, quốc kế, dân sinh, lãnh thổ và niềm tự hào quốc gia… hầu như không được quan tâm.

Tienkyniem

Tờ tiền 100 đồng được phát hiện nhại theo kiểu Tàu. Ảnh: Internet

Báo chí hôm nay đưa tin Trung Quốc đã thực hiện một hành động mới làm leo thang căng thẳng trong khu vực, khi triển khai máy bay chiến đấu đến đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nhưng hiện bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Những thông tin về biển đảo Việt Nam bị xâm lược, bị chiếm đóng hầu như không còn nhận được sự quan tâm của người dân Việt Nam. Thậm chí báo chí Việt Nam gần đây đưa những thông tin về lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo của đất nước mình mà như chuyện của ai đó. Nhiều bài viết, khi đọc không thể nén tiếng thở dài xót xa. Họ mặc nhiên coi như chuyện Trung Quốc chiếm lãnh hải, biển đảo là chuyện đương nhiên và chuyện đã rồi.

Khi nhà nước luôn kêu bội chi ngân sách, không vay kịp tiền để trả nợ, mỗi người dân phải gánh 29 triệu đồng tiền nợ nước ngoài… thì cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới được đề nghị chi 3.600 tỷ đồng để chi phí. Nhiều người thắc mắc rằng cả “Bộ tứ” triều đình cộng sản đã được bầu, tuyên thệ, nhậm chức…rầm rộ tốn kém mới đây, lại phải bầu cử lại sau 3 tháng làm gì cho thêm tốn kém? Nếu một trong số đó không trúng cử Đại biểu Quốc hội thì sao?

Đấy là những câu hỏi đặt ra “cho vui” mà thôi, thời đại độc tài, chuyện không trúng mới là chuyện lạ.

Cũng trên báo chí nhà nước, hôm nay có bài viết về các cử tri phường Nam Đồng đã gửi đơn kiến nghị đến Ủy ban bầu cử Quốc hội về việc nghi ngờ gian lận kết quả tín nhiệm của cử tri. Lá đơn cho biết: toàn bộ 36 người ký tên đã tham gia họp lấy tín nhiệm một cử tri trên tổng số 59 người họp. Trong khi đó, số phiếu tín nhiệm chỉ được 26/59 phiếu ủng hộ. Cử tri đã phản ứng nhưng ban tổ chức cuộc họp đã không có động thái gì buộc họ phải gửi đơn kiến nghị.

Về vấn đề ứng cử và tự ứng cử,trên mạng xã hội mấy ngày qua xuất hiện dồn dập nhiều thông tin về việc nhà nước tổ chức những cuộc đấu tố những người tự ứng cử một cách rất bất chấp luật pháp, điều này đã buộc hàng loạt người tẩy chay việc “lấy ý kiến cử tri” bằng các buổi họp đấu tố.

Đây là một màn kịch được diễn lại, có phần thô thiển hơn.

Trên mạng xã hội facebook, nhiều ý kiến về các vấn đề xã hội được đề cập và phản biện nêu ra những sự bất công, thụt lùi của xã hội Việt Nam, một xã hội luôn được nhà nước kêu “xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN”.

cskvxinloi

Cảnh sát khu vực Nguyễn Văn Bắc nói lời xin lỗi người dân

Ý kiến về việc một Cảnh sát khu vực nhổ nước bọt vào mặt dân phải xin lỗi mà chưa thấy biện pháp pháp luật nào, nhiều facebooker đã phản ứng bằng cách so sánh việc một cô gái bức xúc tát cảnh sát giao thông bị phạt chín tháng tù. Bình luận của Facebooker Pham Ngyuen Truong viết: “Nhổ nước bọt vào dân: Xin lỗi. Tát cảnh sát: 9 tháng tù. Đấy là làm đúng theo hiến pháp của Trại Súc Vật: Tất cả các con vật sinh ra đều mình đẳng, nhưng có một số con bình đẳng hơn những con khác.”

Cũng nên nhớ, sau khi xảy ra vụ việc, Trưởng CA Phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội đã chối phăng: Không có chuyện CSKV nhổ nước bọt vào mặt người dân và clip có thể bị cắt xén.

Mới đây, một Quy chế công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành quy định nhiều điều cấm sinh viên, học sinh. Những quy định này hạn chế rất nhiều quyền tự do của sinh viên bày tỏ ý kiến, tham gia nhóm hội…

Về điều này Facebooker Ls Lê Công Định viết: “Sinh viên bây giờ không được thành lập và tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị, không được đăng tải, chia sẻ và bình luận các thông tin chống phá đảng cộng sản và nhà nước, v.v…. Những hành động như vậy sẽ bị trừng phạt nặng, kể cả đuổi học và truy tố hình sự.

Thanh_nien_hoc_sinh_Sai_gon

Thanh niên, sinh viên học sinh Sài Gòn tự do xuống đường chống chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh vi.wikipedia.org

Nếu trước năm 1975 tại miền Nam, giới sinh viên cũng bị cấm đoán nghiêm ngặt theo cách đó, thì hẳn đã không có phong trào sinh viên học sinh yêu nước để cộng sản lợi dụng cho mục tiêu cướp chính quyền của mình. Ký ức lịch sử về sự lợi dụng vĩ đại ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Từ đó có thể thấy rằng thể chế chính trị ở miền Nam trước đây tuy mang tiếng quân phiệt, song chắc chắn dân chủ hơn chế độ cộng sản ngày nay. Sinh viên miền Nam vẫn được tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị, vì đó là quyền công dân đương nhiên; chỉ những cuộc biểu tình gây bạo loạn (do cộng sản giật dây) mới bị ngăn cản.

Nhiều thế hệ sinh viên tại các đô thị miền Nam trước 1975 thực sự đã tốn bao công sức tranh đấu cho một nền hoà bình, để rồi cuối cùng đạt được một nền hoà bình mà các thế hệ sinh viên đàn em và con cháu của mình bị tước hết các quyền chính trị như thế này sao?

Hỏi, tức là trả lời, và cũng để thấy rằng: đừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”

Hẳn nhiên, những vấn đề như vậy không được nhiều người Việt Nam quan tâm cho bằng việc mua đồng tiền 100 đồng, hoặc đón sao ca nhạc Hàn Quốc.

Khi người dân không còn quan tâm những vấn đề xã hội, những vấn đề về ngoại xâm, lãnh thổ, nòi giống, khi nạn vô cảm tràn lan xã hội và người dân mang tư duy nô lệ, họ sẽ giống bầy cừu được dẫn dắt không biết sẽ đi về đâu.

Ngày 13/4/2016

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh (Tổng hợp)

Góc nhìn khác về xã hội Việt Nam

Góc nhìn khác về xã hội Việt Nam

Triết học Đường phố

Joseptuat

Featured Image: Wikipedia Common

Xã hội Việt Nam đang mục nát, thối rữa, và tàn tạ theo từng giờ. Tôi nghĩ chỉ những ai quan tâm đến cải thiện xã hội sẽ nhận ra được sự thực này. Vì thế, chúng ta những con người muốn thay đổi xã hội, chúng ta phải nghiêm túc truy xét toàn bộ cấu trúc vận hành của xã hội này, phải thật sự thâm nhập sâu vào nó để có thể thấy toàn thể cái vận hành của nó. Tôi nghĩ chỉ khi thấy được cái tổng thể này, hiểu rõ toàn cấu trúc đang mục nát và thối rữa này, chúng ta mới biết làm gì để thay đổi nó.

Nền tảng xây dựng xã hội này là gì?

Xã hội Việt Nam có thực sự là xã hội chủ nghĩa? Chắc chắn đây không là xã hội được xây dựng trên các giá trị công bằng, không phân biệt, không bóc lột, bởi vì sự phân chia, bất công đang là thứ dư thừa và tràn ngập trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa này. Cái tên mà chúng ta đang nghe, nó chỉ là một lời truyên truyền mĩ dân, một tầm áo choàng khoác lên thân hình đầy giòi bọ và gớm ghếch mà thôi.

Nó cũng không phải được đặt nền tảng trên sự sợ hãi, bạo lực, gian dối. Bạo lực, gian dối, sợ hãi chỉ là phương tiện để xã hội này vận hành theo ý muốn của ai đó, nhóm người nào đó. Và chắc chắn cũng không đặt nền tảng trên tình yêu. Một xã hội tràn ngập sự sợ hãi, bạo lực và gian dối thì không thể tồn tại cái gọi là tình yêu. Tình yêu phải đi đôi với tự do, tự do lại thứ thiếu trong nhà tù và nghĩa địa. Những cái xác chết và những tên cai ngục không bao giờ hiểu về tự do. Bởi thể, trong nhà tù không có cái gọi là yêu, nơi nghĩa địa cũng không tồn tại cái sự phong phú của cuộc sống này. Xã hội Việt Nam bị xem như là cái nhà tù, trong đó có hàng nghìn nhà tù nhỏ khác. Bạn hiểu điều tôi nói chứ?

Xã hội này nó phải xây dựng trên một nền tảng mà ở đó thiếu vắng tình yêu, niềm tin, tự do. Phải là một điều gì đó tiêu cực, cực kỳ tiêu cực bởi nó có khả năng khiến người ta sẵn sàng dùng bạo lực, gian dối, nô lệ cho sợ hãi, và chấp nhận sống cùng những thứ ghê tớm đó trong mấy chục năm qua, đúng chứ? Tôi nghĩ chỉ có một điều duy nhất có thể khiến người ta trở nên độc ác và cô cảm cực độ như vậy, đó chính là sự ích kỷ.

Ích kỷ là nền tảng mà xã hội này đang xây dựng

Ích kỷ là gì? Tại sao cái được gọi là xã hội lại có thể được xây dựng trên nó? Ích kỷ mà tôi đang nói tới đây là những lợi ích, những thoả mãn cá nhân, phe nhóm. Người ta chỉ biết tới bản thân, tích góp cho mình, cho gia đình mình mà bất chấp những hành động và phương tiện sai trái.

Bạn có nhìn thấy sự vô cảm trên khuôn mặt của những cá thể trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay không? Chúng ta trở nên trơ lì, ác độc, vô cảm trước những bất hạnh và tổn thương mà chúng ta làm với người khác khi muốn đạt tới những lợi ích mong muốn. Cá nhân vì lợi ích bản thân trở nên những phương tiện làm điều ác, tiếp tay hay chính tay đi ám hại người khác. Doanh nghiệp, con buôn vì để kiếm lợi nhuận mà không ngần ngại tạo ra những sản phẩm độc hại làm nguy hại đến tính mạng và sức khoẻ người khác. Nước uống độc hại, thức ăn độc hại, công nghệ độc hại, vân vân. Hàng trăm, hàng nghìn thứ độc hại tung ra thị trường qua hàng năm. Chính quyền vì lợi ích đảng phái, phe nhóm, gia đình và bản thân tìm mọi cách kiếm thật nhiều lợi ích bất kể là cướp đất, bán biển và lệ thuộc ngoại bang.

Chỉ có sự ích kỷ mới có thể làm được điều đó, và chỉ có nó mới đủ khả năng khiến những cá thể đơn lẻ trở nên vô cảm, vô trách nhiệm trước viễn cảnh diệt vong của xã hội mà họ đang sống. Chỉ có ích kỷ mới có khả năng khiến người ta đạp đổ hết các giá trị truyền thống, văn hoá của một dân tộc 4 nghìn năm. Chỉ có duy ích kỷ này mới làm cho người ta trở thành thông minh giả tạo, đạo đức giả tạo, thành công giả tạo. Ích kỷ khiến người ta trở thành bất kỳ ai, và làm bất cứ điều gì dù xấu xa và đê hèn đến mấy. Cái tôi là thượng đế, và thượng đế của chúng ta chính là ích kỷ. Bạn có nhận ra được vị thượng đế này trong lòng bạn? Chỉ khi nào bạn nhận ra được sự thực này, lúc ấy bạn mới có khả năng hiểu rõ toàn bộ chuyển động xã hội này.

Chuyển động của xã hội Việt Nam

Chúng ta biết xã hội được hình thành từ những mối quan hệ giữa từng cá thể với nhau. Từng cá thể thuộc xã hội được gọi là công dân. Và khi hai hay nhiều cá thể gộp lại với nhau thì chúng ta có cái gọi là gia đình, doanh nghiệp, hội nhóm, chính quyền, vân vân. Nhìn bề ngoài thì hầu như mọi xã hội đều giống nhau trong sự phân chia của mình. Nhưng nếu thâm nhập sâu hơn chúng ta sẽ thấy sự khác biệt khá lớn giữa từng xã hội với nhau trong các mối quan hệ.

Xã hội Việt Nam được xây dựng trên sự ích kỷ nên các mối quan hệ dân sự đang trở nên rất giả dối. Tôi không nói tất cả, nhưng hầu như đều vậy. Mối quan hệ lớn nhất trong hầu hết mọi xã hội đó chính là giữa chính quyền và người dân. Trong mối quan hệ này, chính quyền cộng sản Việt Nam với những thành phần còn lại là quan hệ mạnh yếu, thắng thua, người cai trị và kẻ bị trị. Đây là quan hệ man ri, mọi rợ khi xã hội chưa phát triển, lạc hậu. Bạn phải tự hiểu rõ điều này, phải nhìn rõ sự thực này thì mới có thể nói tới thay đổi xã hội. Thực ra, các mối quan hệ xã hội từ chính quyền với người dân, từ doanh nghiệp tới người tiêu dùng, từ người dân với người dân đều đang được vận hành trên quy tắc mạnh yếu, thắng thua, cai trị và bị cai trị.

Ích kỷ sinh ra mạnh yếu. Tau mạnh thì tau là vua, tau mạnh thì tau là công lý; mày yếu nên mày phải im lặng, mày yếu nên mày bị phân biệt, bị xem thường. Mạnh yếu này sinh ra bạo lực. Ích kỷ không dựa trên lý luận hợp lý, nó dựa vào sức mạnh cơ bắp. Chính quyền cộng sản là ví dụ điển hình. Họ ăn cắp hàng trăm tỉ, biến tài nguyên đất nước thành tài sản riêng tư, gây đau thương cho hàng vạn người khiến họ sống không bằng chết, chết cũng không yên, nhưng “Đảng” vẫn ung dung nói chuyện đạo đức, luật pháp. Đảng đơn giản đã dùng công an và côn đồ để trấn áp tất cả những ai dám nói sự thật, dám chống đối lại những việc làm sai trái đó.

Mạnh yếu không chỉ là bạo lực cơ bắp, nó còn thể hiện trên tiền bạc, danh tiếng. Kẻ nhiều tiền thì có quyền sống trên luật pháp, kẻ có danh tiếng địa vị thì được cung phụng, bưng bộ như thứ phương tiện để làm ngu muội đám dân lười biếng ham hướng thụ.

Ích kỷ cũng tạo ra sợ hãi. Sợ hãi bạo lực, nhà tù, công an đơn giản bởi vì người ta ích kỷ. Yêu thân xác mình quá, bám víu vào tài sản quá mức khiến chúng ta sợ hãi khi phải đối đầu với những cái ác mà do kẻ khác gây ra. Trong sự sợ hãi này, ích kỷ sinh ra vô cảm và độc ác. Một tâm hồn nhạy cảm là một tầm hồn biết sống cho mình và cho người khác. Một người vô cảm thì hoàn toàn ngược hẳn, họ sống thiên về bản thân, gia đình họ quá mức. Họ xem những gì đang xảy ra cho người xung quanh là bình thường, không còn rung động và khả năng cảm nhận nỗi đau với người khác. Ích kỷ này cũng sinh ra độc ác. Độc ác chính là làm hại người khác, làm tổn thương người khác mà vẫn vui, bình an.

Sợ hãi, gian dối, bạo lực, vô cảm chính là những quan hệ mà xã hội này đang tồn tại. Dân sợ chính quyền, chính quyền quan hệ với dân bằng gian dối và bạo lực. Dân với dân quan hệ bằng vô cảm, gian dối và bạo lực. Trong toàn bộ cấu trúc và sự vận hành này, chúng ta nhận ra được sự ích kỷ của từng cá thể. Ích kỷ này được nuôi dưỡng trong những hệ thống như kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo. Toàn sự vận hành này không phải đang dẫn đến sự huỷ diệt toàn bộ sao? Chết chóc toàn bộ sao?

Sư vận hành của cái chết, đó chính xác là tên gọi của toàn chuyển động mà xã hội Việt Nam đang làm. Chúng ta đang điên cuồng tham gia vào guồng máy chết chóc này. Và chắc chắn không thể ngăn cản sự huỷ diệt, thay đổi nó bằng cách thay đổi những hình thức bên ngoài mà bỏ quên chính con người. Phải thay đổi con người, thay đổi bên trong. Thay đổi cách suy nghĩ cũ kỹ, thay đổi lối sống an phận già nua. Thay đổi bên trong này chỉ có thể xảy ra khi người ta biết mình ích kỷ, biết mình đang sợ hãi, biết mình đang vô cảm. Khi một điều giả dối được nhìn thấy là giả dối thì nó tự tan biến, khi một sự thật được nhìn thấy là sự thật, thì sự thật đó có khả năng biến đối. Thay đổi vì sự chê bai, phán xét, chỉ trích từ người khác vẫn không phải là thay đổi, nó chỉ là sự lẫn tránh sự thật và khoác lên mình cái áo mới cho những điều gian dối.