Vì sao CS ghét người Công Giáo

Vì sao CS ghét người Công Giáo      

Vt: Người Công Giáo vừa là công dân Nước Trời vừa là công dân của một nước trần thế. Vì thế, họ luôn luôn ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng xã hội trần thế ngày càng tốt đẹp như Chúa muốn. Đó là ơn gọi của họ. Tuy nhiên, họ không  chấp nhận những luật nào trái với Thiên luật và không chối bỏ đức tin của mình vào Thiên Chúa là Cha. Bài viết sau đây của Nguyễn Châu & Ku Búa nói lên phần nào nỗi đau của người Công Giáo vì người Công Giáo không có thù ghét ai cả và luôn nhắc nhở mọi người đều là anh em, dù họ là ai, quan điểm và cách tuyên tín thế nào. Công Giáo chỉ loại bỏ cái xấu chứ không loại bỏ con người.

——————–

Vì sao CS ghét người Công Giáo


Nguyễn Châu & Ku Búa


Có một nhóm người mà CS không thể nào chịu được và gần như thất bại trong việc lôi kéo họ theo lý tưởng của mình, đó chính là người Công Giáo. Vậy có bao giờ bạn tò mò tự hỏi vì sao? Sau đây là lời lý giải của một bạn người Công Giáo.

Người Công Giáo tin rằng họ thuộc về Chúa. Chúa là người ban cho họ sự sống, quyền lợi cũng như tương lai. Và chỉ có Chúa mới có quyền phán xét và lấy đi quyền lợi của họ, vì những thứ đó đến từ Chúa chứ không phải chính phủ. “Tôi thuộc về Chúa” và chỉ có Chúa mới có quyền lấy đi quyền lợi tự nhiên và linh hồn tôi.

Chính phủ, trong trường hợp này, một chính phủ thực hiện lý tưởng CS, yêu cầu mọi người phải từ bỏ tất cả mọi thứ để trung thành với chủ nghĩa và lý tưởng CS. Nghĩa là mọi người phải theo chủ nghĩa vô thần, vì chỉ khi họ không có tôn giáo thì họ mới dành hết linh hồn mình cho chính phủ. Điều này hoàn toàn nghịch với những giá trị của Công Giáo, vì người Công Giáo không thể nào từ bỏ Chúa để trao mình cho chính phủ hay một lý tưởng vô thần.

Nếu chúng ta nhìn rộng hơn nữa, xuyên suốt lịch sử các nước Châu Âu, quá trình phát triển văn minh nhân loại được thúc đẩy nhờ vào tổ chức Công Giáo. Chính các tổ chức Công Giáo và những giá trị đạo đức, tinh thần của họ đã cứu vớt nền văn minh Châu Âu sau khi Đế Chế La Mã sụp đổ. Chính những giá trị của Công Giáo đã tạo ra chủ nghĩa tư bản, hệ thống an sinh xã hội. Và cũng chính những giá trị đó đã tạo ra nước Mỹ.

Chẳng hạn vào thời Trung Cổ, chính các nhà thờ là nơi giữ gìn chữ viết, văn hóa và tinh hoa của nền văn minh Tây Phương. Kinh thánh được xem là một tài liệu lịch sử thu nhỏ. Hệ thống giáo dục, đại học cũng đến từ tổ chức Công Giáo và vô số những công trình kiến trúc nổi tiếng trên khắp thế giới như nhà thờ Notre Dame – Paris và ở Việt Nam như Nhà thờ Con Gà – Đà Lạt, nhà thờ Đức Bà.

Không phải ngẫu nhiên mà các Nhà Sáng Lập Mỹ lại ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập câu sau đây:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Công Giáo và người Công Giáo là mối đe dọa lớn nhất đối với chủ nghĩa CS vì họ thuộc về Chúa nên không thể nào thuộc về chính phủ hay một lý tưởng vô thần.

nguồn: fb cafekubua

CỐ GẮNG! RỒI CŨNG SẼ QUA THÔI

CỐ GẮNG! RỒI CŨNG SẼ QUA THÔI

Lê thị hoài Niệm

Đã là người sống ở thế gian, mỗi lần nghe tin một người thân hay bạn bè, hàng xóm, thậm chí không hề quen biết mà “ra đi” đột ngột trong bình an, không kịp chào từ  biệt một ai ngay cả vợ- chồng- con- cháu của mình, nói theo kiểu thơ thẩn một chút là “người đang vui sống, chuyển sang từ trần”, thì sẽ xuýt xoa trầm trồ “sao mà sung sướng quá, chắc kiếp trước …khéo tu?” Chỉ buồn cho người còn ở lại, chưa kịp “vẫy tay, vẫy tay chào nhau một lần cuối và trọn cuộc đời”.

Nằm ngủ rồi…đi luôn về bên kia thế giới chẳng đau đớn về thân xác chút nào, ai mà không muốn, nhất là những người tuổi tác cũng đã vào lúc “xế xế, chiều chiều” rồi (trẻ quá thì không nên đi sớm, uổng đời). Có ai thích bị …bệnh đau, nhất là những chứng bịnh ngặt nghèo, nhiều khi bị nó “hành hạ” tơi bời khói lửa. Dẫu biết rằng “sinh lão bệnh tử” là chuyện thường tình trong đời của kiếp người sống cõi nhân gian. Nhưng mấy ai “thờ ơ” với căn bệnh của mình mà không có chút lo lắng, hay u sầu, nhiều khi sốt vó lên để chạy chữa ( thuốc tây chưa dứt liền tìm thuốc ta, thuốc dược lá, cây cỏ mà uống) vì…sợ chết khó coi đã đành, còn tiếc nuối chưa “được hưởng” chút thảnh thơi nào sau những ngày làm việc vất vả, và để người “bạn đồng hành” ở lại (nếu còn có đôi) chẳng biết có được ai chăm sóc đàng hoàng hay là …dì nó, dượng nó vào …hưởng ráo những gì mình kí cóp suốt cuộc sống bao nhiêu năm(?) mà không lo tròn phận sự người…kế tục!.(chúc mừng cho những người thực hiện được chữ “buông” trước khi “giã từ gác trọ”, nhưng chắc đa số khó mà thực hiện được ngoài mấy tiếng nói cho dzui?).

Người viết bài tâm sự này tính đến ngày 17/2/2016 là đã một năm hai tháng và mười bảy ngày khi biết mình bị vướng vào căn bệnh “breast cancer”. 

Khi vị bác sĩ gia đình gọi đến báo tin cho biết bị bệnh sau khi đi chụp hình mammogram định kỳ hằng năm (năm nào cũng normal), tôi đã bật cười thành tiếng, làm bác sĩ cũng rất ngạc nhiên. Dĩ nhiên tôi rất tin lời Bác sĩ, không ai dám đùa với bệnh nhận kiểu chết người như vậy, hoạ chăng là xét nghiệm có thể lầm, và hy vọng thử nghiệm lại cho chính xác là điều bệnh nhân mong mỏi (và đã làm lại). Tôi nói với B/S nếu bị bệnh thì lo chạy chữa, hãy giới thiệu dùm bác sĩ chuyên môn cho tôi, cứ “tỉnh bơ” vì nếu có “buồn, lo, sợ, khóc” thì căn bệnh (nếu chắc chắn) cũng…không đi chỗ khác chơi, có đúng thế không?

Cá nhân tôi thuộc lớp người năng động, chưa bao giờ ngồi một chỗ hay …nằm dài xem phim. Có thể nói một ngày 24 tiếng, chỉ có mấy giờ đồng hồ để ngủ, còn thì tôi làm việc toàn thời gian, rồi săn sóc vườn tược với nhiều hoa trái, nấu ăn theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh “an toàn thực phẩm” cho gia đình, và tập thể dục đều đặn không bỏ sót bữa nào, nhất là các lớp nhảy zumba ở 24 hours fitness, và tôi cũng không thuộc một “cao” nào trong những thứ bệnh mà B/S nhắc nhở bệnh nhân phải để ý ngăn chận. Về mặt tinh thần thì “hoàn toàn ổn định” với một gia đình trên dưới vui vẻ, còn ngồi gõ máy tính để…viết truyện vui cho đời nữa, chưa nói đến chuyện ca hát mình ên cho..nở phổi, lâu lâu có người bạn đưa lên youtube để “hù” bà con chơi, còn sinh hoạt bên ngoài cộng đồng nữa chứ.

Nhưng tôi còn lo…một chuyện như đã nói ở trên, vì lỡ mình đi thẳng, thì ai nấu nướng cho ông “chồng già” những bữa cơm nóng như lâu nay, ai san sẻ những buồn vui trong cuộc sống? khi những đứa con đã có đời sống riêng lại ở xa. Nhưng khi nói với ông chồng điều này, bị ổng phán một câu xanh dờn với giọng Nam kỳ cục chỉ vỏn vẹn bốn chữ “bà sao dzô dzuyên”! ngồi ngẫm nghĩ lại, tôi thấy mình …vô duyên thật nên phát cười hảhảhả…

Thật ra tôi là người bình thường, không có gì đặc biệt, vậy mà khi bị vướng bệnh thì lại…đặc biệt, hiếm quí, trèo cao, nhảy vọt. Phải chi nó đi “từng bước từng bước thầm” thì dễ chữa. Vì căn bệnh Breast cancer, mà những người phụ nữ mắc phải, thường thì trải qua bốn gia đoạn, B/S cho biết đại khái như sau:

-Giai đoạn một là chỉ có một bướu nhỏ trong ngực, B/S chỉ cắt bỏ là hy vọng khỏi, có thể uống thuốc trợ giúp.

-Giai đoạn hai: những tế bào ung thư đã lan nhiều trong ngực, cắt bỏ nhưng phải chạy chữa, có thể chemo, hay radiation, uống thuốc….

-Giai đoạn ba: là trường hợp đặc biệt, hiếm khi xảy ra khi mà những tế bào ung thư không tìm thấy trong ngực, nó đã nhảy xổ vào các huyệt đạo, gọi là “lymph node” (?), rất sợ lây lan.

-Giai đoạn 4: tế bào ung thư đã phân tán đi khắp các vùng chiến thuật, có chạy chữa khỏi hay không là chuyện …hạ hồi phân giải….

Bỗng dưng tôi phải làm thân với bệnh viện, cứ như chỗ “thân tình” tới lui thăm viếng thường xuyên. Ban đầu một tuần phải vào 3 lần là ít, không kể ngày lễ lạc gì ráo, bác sĩ bảo phải đi chụp hình, đi ultrasound, đi biopsy, chụp MRI, chụp và chụp từ đầu đến chân, rồi chụp xương v..v..Có bữa vừa ra khỏi cổng bệnh viện là bị gọi trở lại vì họ chụp hình bị …thiếu sót. Bác sĩ rất lo ngại vì bệnh cancer của tôi đã vào giai đoạn thứ Ba rồi. Đúng là “bước tiến nhảy vọt”! thiệt hết biết.

Trước khi vào chữa bệnh, Bác sĩ mời vợ chồng tôi vào một căn phòng nhỏ, giải thích mọi nguy hiểm mà bệnh nhân đang gặp, an ủi và khuyến khích cũng như “cầu nguyện” cho bệnh tình của bệnh nhân được chữa khỏi. Ở bệnh viện, họ cho mình xem một DVD với đầy đủ những diễn biến của căn bệnh và cách chữa trị cũng như những điều mình cần phải tránh, những khó khăn nguy hiểm mà bệnh nhân sẽ trải qua, họ còn chỉ chỗ để…mua tóc giả nữa kìa, vì hầu như mọi người khi chạy chemo đều bị rụng hết tóc.(có thể vào trang nhà của breast cancer để apply xin đầu tóc giả, hoặc tự mua lấy nếu mình chọn, và b/s sẽ cho giấy giới thiệu để được giảm giá).

Những năm về trước, có lẽ căn bệnh ung thư làm nhiều người…rùng mình, nghĩ đến chuyện chữa chạy chắc khó khăn lắm, ngay ở nước Mỹ này, nhưng bây giờ thì khác rồi, dễ dàng và..thoải mái nữa. Trong một căn phòng, người ta đặt thành hàng dài những chiếc ghế dựa, có gắn TV để xem, một bên là cây cần để máng những bình thuốc. Bệnh nhân vào thuốc qua một cái “port” (B/S đã giải phẩu để đặt vào trước đó), rất thoải mái, khi chạy chemo thì lâu khoảng 4 đến 5 tiếng đồng hồ, tùy loại bệnh, dĩ nhiên trước đó y tá đã lấy máu và thử ngay, để b/s “liệu” mà vào thuốc tùy từng cơ thể mỗi người.

Ngày mồng một Tết mà đúng kỳ vô thuốc, cứ 3 tuần một lần, thì tôi cũng có mặt.

Sau vài ba ngày chạy chemo lần đầu tiên, bắt đầu bị thuốc hành, cơ thể mệt mỏi, không thể ăn uống gì được, ăn cái gì vào thì nó muốn ói ra, dù B/S đã cho uống thuốc ngăn ói. Lưỡi không còn vị giác, ăn cái gì cũng giống như …nhai cát, uống sữa như một cực hình….Nhưng phải cố gắng, (nếu uống được sữa ensure plus, có nhiều protein thì đỡ hơn) vì bạch huyết cầu và hồng huyết cầu sắp bị diệt. Nếu không đủ các tiêu chuẩn của máu, b/s sẽ không cho chạy thuốc tiếp (sợ bệnh nhân yếu quá, bị thuốc giật…chết?), mà ngưng lại một kỳ là kéo dài thêm ba tuần lễ… đau khổ (cô người Mỹ trẻ tuổi ngồi ghế bên, đã bị b/s ngưng cho chạy thuốc, vì cô nói ăn không được, nên cứ uống nước juice, làm sao có đủ máu?).

Phải nói là khi chạy chemo, thuốc nó hành liểng xiểng, chừng hơn một tuần lễ, lấy tay sờ vào sợi tóc nào là nó theo tay nắm của mình mà ra đi không luyến tiếc.Và khoảng vài tuần sau, khi gội đầu là cả mái tóc rụng ráo, nó quện vào nhau mà không cách chi…gỡ nổi. Cái đầu “trọc lóc” kể từ đây khỏi cần cạo, cắt.

Bài thơ “Tự trào về MÁI TÓC”

Một sớm mùa Đông biết thân mang bịnh

Chứng “ung thư” người nghe cũng hỡi ôi

Cứ như là đời sắp chấm than thôi

Sẽ  …đi thẳng khi lòng không mong đợi!

 

“Không  dễ chết!!!” cuộc sống còn tiếp nối
Cứ vững tin mà chạy chữa thuốc thang
Bởi từ lâu tâm thanh thản an nhàn
Vui sống khỏe, tuần 6 ngày…Zumba-Fitness !

 

Vốn biết …thân già sớm lo từ trước
Sức khỏe định kỳ chẳng họ …3 cao
“Mỡ -đường-máu” chỉ số vẫn tự hào
Thời gian nghỉ vun xới mảnh vườn xanh biếc

 

Ngày đầu tiên chính thức vào bệnh viện
Cứ ngỡ mình đang vào tiệm ..nail Salon
Người bệnh cancer ngồi chật căn phòng
Chạy “chemo” mà tha hồ…hóng chuyện.

 

Thời gian đầu bị “thuốc hành” xiểng liểng
Miệng, mũi máu vờn, nóng đốt ruột gan
Người bần thần chẳng thiết chuyện uống ăn
Rồi từng lọn tóc vẫy tay chào …giã biệt!

 

Tay sờ đầu miệng bỗng cười thành tiếng  
“Khỏe vậy sao? khỏi tốn ..lover’s hair  luôn” 
 Khỏi cần nhìn  cũng đoán giống….Thiên Tôn*
Đầu không tóc, mảng da đầu lạnh ngắt…

 

Tôi dửng dưng khi chồng tôi nín lặng
Rồi thở dài: -“Sao nhanh quá vậy em  
Nhìn em cười, ruột anh xoắn quặn thêm   
 Dù nhắm mắt, lòng cũng buồn muốn khóc!

 

Ngày xa xưa anh thường hay vuốt tóc 
 Thả lưng chừng hay ôm trọn tấm lung 
 Mùi hương chanh, bồ kết gội thơm lừng 
 Để anh nhớ những lúc hành quân khó nhọc”

 

-“Cười lên đi! Đó chỉ là ..mái tóc!   
 Dáng vẻ ngoài nhìn có chút…khó coi 
Không than phiền, không buồn nản buông xuôi  
Đầu …trọc lóc, ta đội đầu ….tóc giả(hahhaha..) 

Nhìn quanh ta nhiều mảnh đời nghiệt ngã 
Trong cam go còn cố vượt cơn nguy
 Sống vươn lên không nản chí thụt lùi 
Dù thiếu thốn vẫn thấy đời…hạnh phúc!

“Sinh-lão-bịnh-tử! loài người cõi tục 
Cứ bình tâm mà chấp nhận phận đời
Em bây giờ thấy …khỏe quá đi thôi
Khỏi tốn bạc đi…Hair Salon làm tóc !

 

Nếu ai bảo giống… “Sư cô đầu trọc!”  
Càng vui mừng vì mình được …dựa hơi     
Những vị chân tu không tha thiết bề ngoài 
Nhiều người tóc đẹp chắc chi lòng đã đẹp? 

 

 Đầu… trọc lóc! vì thuốc men dồn ép 
 Bệnh chữa lành, tóc sẽ mọc lại thôi 
Lại cười vui vì tranh..rẽ đường ngôi  
Nếu không thể, hãy nguyện cầu… SỐNG SÓT!

Cảm ơn Phật Trời độ trì cho trót lọt
Cảm ơn chồng con, chị em, các cháu, bạn thân nhà 
Cảm ơn Y-dược khoa của xứ sở Cờ hoa
Cảm ơn ..tôi luôn vì mãi cười …hả hả hả!” 
 Mar-2015.  *Ca sĩ TNcủa TNBN.

Nếu có sức mạnh về tinh thần cũng là điều làm cho căn bệnh giảm nhẹ(?). Tôi là “con của Phật” nên mỗi lần vào thuốc hay là trước khi lên bàn mổ để lấy tế bào ung thư ra khỏi người, tôi đều niệm Quan thế Âm Bồ Tát. Dĩ nhiên không có Phật Trời nào sẵn sàng giúp mình dứt bệnh. Nhưng giữ cho phần tâm linh được vững vàng cũng là điều nên thực hiện. Nhất là chồng con và anh chị em, cháu chắt trong gia đình, cùng những bạn bè thân sơ, từ ngoài đời thường và trên những “diễn đàn ảo”, người nào cũng “phát tâm cầu nguyện” cho  mình, nên tôi càng vững tâm hơn nữa.

Có đau bệnh mới hiểu thấu giá trị “sức khỏe là vàng”! Không ai có thể gánh dùm cái đau bệnh của mình được, nhất là những người gần gũi với mình. Nếu mình “than vãn” chỉ làm cho họ thêm buồn lo, nhưng không giúp gì được hết. Nên tôi cứ “không sao” là tốt nhất. Bạn bè đến nhà thăm, tôi vẫn cười hả hả, dù có lúc ..không còn hơi để thở. Thương lắm, cảm động lắm, ai cũng muốn đến thăm hỏi và đem thức ăn, sữa uống đến tặng,(những người cơ thể không được khỏe, xin miễn tiếp, vì trong người không còn kháng thể chống đỡ nên dễ bị nhiễm trùng), nhưng có sờ đến được chút nào đâu. Cảm ơn tấm thạnh tình của ACE nhưng phải nhờ…chồng thanh toán dùm, sợ bỏ phí mang tội chết. Thương chồng; con bao nhiêu, tôi tự nhủ phải cố gắng để vượt qua, dù rằng uống một lon sữa có khi kéo dài đến một tiếng đồng hồ..chưa xong. Vị Bác sĩ của tôi còn cẩn thận dặn đủ điều, nào là phải “cữ ăn những trái cây sống mà có vỏ mỏng, sợ bị nhiễm trùng mà mình không thấy được, tất cả rau củ đều phải luộc chín, cữ ra đám đông vì dễ bị …lây bệnh của họ…, nhất là không nên uống những loại  ..nutrition, không giúp gì cho việc chữa bệnh. Thế là tôi cứ trùm mền nằm nhà xem phim vui cười của Mỹ, để đầu óc …thảnh thơi. (Vị Giáo sư nguyên là hiệu trưởng trường TH năm xưa, Thầy ở tận bên Đan Mạch, có dịp sang Mỹ, Thầy đến thăm học trò bị bệnh, Thầy nhìn học trò mà.. hỡi ôi, vì cái đầu thì…trọc lóc, mà vừa giải phẩu xong dây nhợ mang lòng thòng, Thầy nói: nhìn mà muốn khóc, Thầy bảo khi nào …tóc mọc lại nhớ chụp hình gửi cho Thầy…mừng! và bây giờ thì Thầy đã..mừng.)

Gia đình nào còn vợ chồng thuận thảo, những lúc bệnh đau mới thấy nó quí hiếm dường nào. Chồng tôi vẫn phải đi làm full time, vì phải giữ bảo hiểm quá tốt, chỉ phải trả tiền co pay và một số “out of pocket để được vô thuốc, nếu không có tiền để trả cho bệnh viện, mình…đi thẳng như chơi, (người có “trợ cấp bảo hiểm y tế của chính phủ xin không đề cập đến). Buổi sáng phải đưa vợ đi nhà thương, chiều đi làm cả đi lẫn về 10 tiếng, còn phải lo làm …y tá bất đắc dĩ khi tôi đi giải phẩu về, lại còn tự lo cho bao tử của mình. Nói chung là bao thầu mọi chuyện từ A đến Z, ở sở làm cứ hai tiếng gọi về nhà thăm vợ…có sao không? Ngần ấy chuyện, nếu bệnh nhân vợ còn “than thở” thì làm sao kham nổi. Câu nói “không có gì” hay “không sao hết” rồi cố gắng cười hìhìhi…Chuyện gì cũng sẽ qua thôi. Thương chồng và cảm ơn biết dường nào.

Tôi cũng có viết “Một ngày vui” sau khi chấm dứt những ngày Radiation.

Một ngày vui

Một ngày đi qua mà mình còn mạnh khỏe là một ngày vui, nhất là trong thời gian “chữa bệnh”. Không biết có bao nhiêu người đi đến bệnh viện mà phải “đếm” từng ngày như tôi không? Hôm nay là ngày cuối cùng trong 33 ngày chạy “radiation”, một trong 3 cách trị liệu bệnh “cancer” mà tôi đã chịu đựng trong suốt thời gian qua. (dĩ nhiên thời gian chữa trị bằng phương pháp chemo, giải phẩu đã qua rồi, nhưng không phải đi bệnh viện hằng ngày như đi “radiation”)

Vừa không phải dậy sớm đến bệnh viện, vừa không còn bị tiếp tục….thiêu đốt da thịt đến …phỏng nặng đen thui, ngứa rát quá trời đất, nên…khỏe vô cùng. Bây giờ chỉ còn chờ thời gian cho những vết bỏng trên da lành lặn trở lại, cũng không khó khăn gì mấy.

Vừa mừng vui cho cá nhân mình đã xong một thời gian và một phương cách trị liệu, còn vui hơn nữa khi văn phòng B/S ….trao tặng cho một mảnh “bằng chúc mừng” (Congratulation) với tất cả chữ ký của B/S + y tá, và  nhân viên trong phòng. Trước khi nhận “bằng chúc mừng”, bệnh nhân còn phải đọc những lời ..giải thích về căn bệnh, (giống như đọc lời “tuyên thệ” để vào quốc tịch hoa kỳ? chắc chỉ có ở nơi này?), xong rồi …kéo dây chuông  ba hồi vang vang, rộn rã, thế là tất cả mọi người đều vỗ tay,  có nhiều bệnh nhân ngồi phòng chờ đợi bên ngoài cũng…chúc mừng phụ. Vui thì thôi!

Cảm ơn Bác sĩ, y tá, và tất cả….nhất là chồng tôi, người đã làm …tài xế và lo lắng cho việc chữa trị bệnh tình của vợ suốt những ngày dài.

Hy vọng và hy vọng những ngày sắp đến là những ngày mạnh khỏe, không còn mang trong người tế bào bệnh nan y thời kỳ thứ ba. Vẫn chờ đợi một ngày bác sĩ báo: “chúc mừng cancer free” vào đầu tháng hai năm tới (2016), đúng theo lịch trình chữa bệnh, vẫn phải 3 tuần một lần vào bệnh viện chạy thuốc, nhưng không còn là…”thuốc độc chemo”

lthn 4/9/15

Thật ra khi chữa trị bệnh cancer, chỉ có “khó khăn” trong lúc chạy chemo, còn giải phẩu và radiation chỉ là ngoài da, đau đớn, khó chịu, bỏng rát chỉ là giai đoạn, nhưng phải chịu khó tập therapy cánh tay phía bên giải phẩu, nếu không chịu đau lúc ban đầu, cánh tay sẽ bị…cứng đơ, không cách chi giơ tay lên được, và những đầu ngón tay sẽ bị tê cứng, có hại về lâu về dài. Và tôi, đã chịu khó đến phòng tập hằng ngày khi sức khỏe vừa cho phép, cũng là cách tự giúp mình vượt qua cơn đau bệnh. Cố gắng và cố gắng.! lắm khi “tỉnh bơ” coi như mình chưa hề mắc bệnh.

Và hôm nay, lại là những ngày dài vui mừng kế tiếp, khi vị Bác sĩ trị liệu tuyên bố không còn chạy thuốc vào người nữa.(chỉ phải uống …mười năm dài, không biết có còn sống đến ngày…ngưng thuốc?) Tôi đã kéo một hồi chuông dài thật dài, mừng rơi nước mắt trong khi mọi người chung quanh đều cười vui, chúc mừng!..

Ông bà xưa thường nói “ở hiền gặp lành”. Dù có gặp trắc trở bệnh hoạn gì rồi cũng sẽ qua thôi. Nhất là những người có ‘phước đức” được sống trên đất nước Tự do, giàu có Hoa Kỳ này (?), khi nhìn lại những bệnh nhân nằm la liệt trong căn phòng ở bệnh viện tại đất nước VN. Ở đây,

 benhnhan
Bệnh nhân(đội nón) và các y tá chữa trị trong bệnhviện.

đúng là “lương y như từ mẫu”! (Có bảo hiểm tốt mà!) Các Bác sĩ thì lo lắng cho bệnh nhân, các y tá làm việc nhẹ nhàng, hỏi han săn sóc vui cười tử tế, người bệnh cảm thấy được an ủi và yên tâm chữa trị, với những phương tiện đầy đủ, vệ sinh. Cảm ơn vô cùng đến những Bác sĩ, y tá, y công, những người mang đến cho tôi sự sống còn sau cơn bệnh cancer đã đến thời kỳ thứ ba..

Làm sao cảm ơn cho hết những ân tình của chồng con, anh chị em, cháu chắt, bạn bè thân hữu chung quanh từ hội đồng hương, bạn học và trên nhiều trang mạng “ảo”, đã dành thật nhiều tình cảm, thăm viếng, hỏi han, săn  sóc, và góp lời cầu nguyện. Nhất là chồng tôi, người “bạn đời” đúng nghĩa, một người suốt những năm tháng dài chỉ biết lo cho gia đình và vợ con, người đã chăm lo từng chút một giúp cho vợ đang trị bệnh, lúc nửa đêm về sáng cùng vợ vào emergency ở nhà thương, những lúc gió mưa tầm tã chở vợ đi vào thuốc, những nửa khuya vợ lên cơn đau chuyển mình không được, và những miếng cháo ân tình dù vợ không cách chi…nuốt nổi vì bị thuốc hành.v..v… Nhiều và nhiều lắm lời cảm ơn chân thành đến với tất cả, còn sống đến….ngày nào là ngày ấy mãi mãi biết ơn.

Lê thị hoài Niệm.
2/2016

Khi trẻ em bị gieo mầm dối trá và bạo lực

Khi trẻ em bị gieo mầm dối trá và bạo lực

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
2016-04-09

033_ria04-047946_3000-622

Hồng vệ binh Trung Quốc, ảnh chụp năm 1967.

AFP

Mo Bo, một trong những người từng là Hồng vệ binh trong thời cách mạng văn hoá ở Trung Quốc đã nói rằng ông cùng rất nhiều bạn bè của mình trở thành những kẻ hoài nghi và mất hoàn toàn niềm cảm hứng với cuộc sống của mình, khi nhìn lại lịch sử và những gì mình đã tham gia.

Những kinh nghiệm “kinh hoàng”

Mo Bo đã góp tiếng nói của mình trong các hồ sơ về kinh nghiệm bạo lực tuổi thiếu niên trên tạp chí New Internationalist, sau khi đến Anh học ngành nghiên cứu về ngôn ngữ, định cư ở đó.

“Sau những gì đã diễn ra, chúng tôi rơi vào tình trạng hoài nghi, luôn hoài nghi và không còn ai có thể nói với chúng tôi về lý tưởng được nữa, vì chúng tôi sợ hãi mình sẽ rơi vào một vòng xoáy, tạo ra những điều kinh hoàng khác”, ông Mo Bo nói, những kinh nghiệm “kinh hoàng” mà ông ta nói đến là ký ức của thời niên thiếu, khi ông mới 14 tuổi.

Tài liệu trên thư viện điện tử AsianHistoryAbout cho biết vào thời Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc từ năm 1966 – 1976, tư tưởng của Mao Trạch Đông đã tập hợp được hàng chục triệu Hồng vệ binh trẻ tuổi, có người chỉ mới 12 tuổi.

Nhiệm vụ khởi đầu của các đứa trẻ đó là nhận lấy những quyền lực mà thầy cô, bạn bè, nhà trường phải e dè.

Từ chuyện hạch sách những người bạn cùng lứa về kỷ luật học sinh, dần dần chúng phát triển đến chuyện theo dõi quan điểm của thầy cô để tố cáo, lập thành tích.

Không khác gì những câu chuyện điện ảnh kinh dị của Hollywood về các đứa trẻ là hiện thân của quỷ, những Hồng vệ binh trẻ tuổi đó đã phấn khích tràn ra đường, đánh đập thầy cô của mình, lục soát nhà bạn bè mình, đập phá chùa chiền và các di tích cổ, cũng như góp phần vào đại nạn thảm sát hàng chục triệu người trong giai đoạn đó.

Mới đây, báo Tuổi Trẻ có đưa ý kiến của một giáo viên về chuyện nạn Cờ Đỏ trong các nhà trường.

Đây không phải là ý kiến đầu tiên được nói lên, mà lâu nay đã là những điều băn khoăn của giới phụ huynh và các nhà xã hội học, rằng việc trao cho những đứa trẻ trong cùng một môi trường công việc rình mò, theo dõi bạn bè mình và quyền lực “báo cáo” để trừng phạt có phản lại giá trị giáo dục chung hay không?

Hơn nữa, bệnh thành tích và quyền lực giả tạo đó tạo nên những ảo tưởng và sự dối trá như một thói quen cho những đứa trẻ, sẽ tạo ra những nhân cách và phẩm chất gì cho xã hội trong tương lai?

Nhưng không phải chỉ có những đứa trẻ bị trao quyền lực sớm bị tổn thương tinh thần, mà cả những đứa trẻ khác trong môi trường đó cũng bị ảnh hưởng.

000_APP1999090927679-400

Ảnh minh họa chụp tại Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1967. AFP PHOTO.

Bằng cách làm thân, cầu cạnh, hoặc “lót tay” cho các thành viên đội Cờ Đỏ để không bị ghi sổ khi đi học quên mang khăn quàng, cũng tạo nên một môi trường phản giáo dục và lừa dối thầy cô.

“Không chỉ học sinh sợ thành viên trong đội Cờ Đỏ mà chính thầy cô giáo cũng không muốn làm mất lòng các em đó, bởi chúng nắm trong tay quyền sinh sát của lớp”, cô giáo Phạm Huyền, tác giả của bài viết đăng tải trên báo Tuổi Trẻ ngày 3/4/2016, với tựa đề Đội Cờ Đỏ – “ngáo ộp” trá hình ở trường học đã nói đủ hết hiện trạng của nhiều trường học hiện nay, với chỉ vài dòng chữ.

Trong tài liệu về vệ sinh học đường Việt Nam do UNICEF tài trợ từ năm 2006, có tên “Formative Hygiene Research” với nhóm nghiên cứu hỗn hợp nhiều quốc gia, cũng ghi nhận việc theo dõi các bạn học sinh có “đủ vệ sinh” trong trường hay không, được giao cho các đội Cờ Đỏ (bản tiếng Anh viết là Red Flag Team) ghi vào sổ báo cáo, và rất nhiều em học sinh rất vui mừng khi trở thành người có quyền nhận xét ấy.

Đội Cờ Đỏ trong các trường học Việt Nam

Trong sách nghiên cứu về nền giáo dục Việt Nam, có tên Vietnam’s Political Process: How Education Shapes Political Decision Making(2009) của Casey Lucius, giáo sư của trường Naval War College – và từng là trợ lý dự án cho toà đại sứ Mỹ tại Việt Nam, bà cũng giới thiệu về “mô hình” khá đặc biệt về các đội Cờ Đỏ trong các trường học Việt Nam, thường được giới thiệu với tư cách “trợ giúp” cho các học sinh bạn.

Mô hình đội Cờ Đỏ này từ khi xuất hiện xuyên suốt trong cả nước vào năm 1976, đã vô hình trung vô hiệu hoá các công việc của đội ngũ thầy cô giám thị, giáo viên kỷ luật… cũng như các chức danh lớp phó kỷ luật, lớp phó học tập, lớp phó thi đua…

Và hiển nhiên biến hình thái nhóm theo dõi và kiểm tra, thậm chí quyết định giá trị của bạn cùng lứa, trở thành một cơ cấu chính trị trong một môi trường giáo dục.

Cựu thành viên Hồng vệ binh Mo Bo nói rằng thời tuổi trẻ, ông tin rằng những điều mình làm là tạo ra con người và xã hội tốt đẹp.

Cuộc gặp mặt những người bạn cùng thời, sau đó 50 năm, chỉ đem lại một cảm giác chua chát và niềm ước muốn tuyệt vọng: phải chi họ có được một cuộc sống học đường bình thường.

Điều họ mang nặng là tuổi thiếu niên của mình, họ là những kẻ bị gieo mầm dối trá và bạo lực, khiến hôm nay họ ngại ngùng với cả con cháu.

Trong sự cuồng điên và nhiệt thành của mình, các thiếu niên được trao quyền lực ấy luôn là ngọn lửa âm ỉ của nạn bùng phát bạo lực thiếu lý trí.

Lịch sử Trung Quốc ghi nhận rằng hàng triệu các di tích và văn hoá cổ quý giá của đất nước này bị tiêu diệt. Nhiều học giả và giáo sư bị đánh đập chôn sống bởi chính các học sinh và sinh viên của mình, mà ngày hôm qua họ chỉ mới làm nhiệm vụ nhỏ bé là theo dõi và ghi chú về trường học của mình.

Rất nhiều bậc cha mẹ đã khóc và nói rằng họ đã thiếu dứt khoát và tri thức để ngăn con em mình tham gia các đội học sinh được giao quyền hành động ấy.

Một khi môi trường giáo dục bị chi phối bởi những hoạt động không thuần tuý giáo dục, mà nặng về răn đe và trừng phạt, tức môi trường của trẻ em đã bị xoá mờ ranh giới của trừng giới và học đường.

Có thật sự các ngôi trường Việt Nam cần phải giao việc và quyền, khác với tôn chỉ của mình, cho các học sinh?

Ở thế kỷ 21, việc mơ ước rằng các ngôi trường trên đất nước này chỉ có giáo dục – và thuần tuý giáo dục mà thôi – có phải là một điều quá nhiêu khê?

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ

Sưu tầm

Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác, có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lí này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm.

Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm: mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc.

Nhưng những công ty này không hiểu vì lí do gì, lúc đầu còn rất nhiệt tình nhưng về sau đều từ chối cô. Thất bại liên tiếp khiến cô tức tối. Cô nghĩ nhất định những công ty này phân biệt chủng tộc, không nhận người nước ngoài.

Cuối cùng có một lần, cô trực tiếp đến bộ phận nhân lực của một công ty, yêu cầu giám đốc đưa ra một lý do vì sao từ chối cô. Kết cục họ đưa ra một lí do khiến cô không ngờ.

“Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt chủng tộc, ngược lại chúng tôi rất coi trọng cô. Lúc cô đến phỏng vấn, chúng tôi đều rất hài lòng với môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô, thực ra nếu xét trên phương diện năng lực, cô chính là người mà chúng tôi tìm kiếm.”

“Vậy tại sao công ty ngài lại không tuyển dụng tôi?”

“Bởi chúng tôi kiểm tra lịch sử tín dụng của cô và phát hiện ra cô đã từng ba lần bị phạt tiền vì tội trốn vé”

“Tôi không phủ nhận điều này, nhưng chỉ vì chuyện nhỏ này, mà các anh sẵn sàng bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần được đăng luận văn trên báo như tôi sao?”

“Chuyện nhỏ? Chúng tôi lại không cho rằng đây là chuyện nhỏ. Chúng tôi phát hiện, lần đầu tiên cô trốn vé là khi mới đến đất nước chúng tôi được một tuần, nhân viên kiểm tra đã tin rằng do cô mới đến và vẫn chưa hiểu rõ việc thu vé tự giác, cho phép cô được mua lại vé. Nhưng sau đó cô vẫn trốn vé thêm 2 lần nữa.”

“Khi đó trong túi tôi không có tiền lẻ.”

“Không, không thưa cô. Tôi không thể chấp nhận lí do này của cô, cô đang đánh giá thấp IQ của tôi ư. Tôi tin chắc trước khi bị bắt trốn vé, cô đã trốn được cả trăm lần rồi.”

“Đó cũng chẳng phải tội chết, anh sao phải cứng nhắc như vậy? Tôi sửa là được mà.”

“Không không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ hai điều: Một là cô không coi trọng quy tắc. Cô lợi dụng những lỗ hổng trong quy tắc và sử dụng nó. Hai, cô không xứng đáng được tin tưởng. Mà rất nhiều công việc trong công ty chúng tôi cần phải dựa vào sự tin tưởng để vận hành, nếu cô phụ trách mở một khu chợ ở một nơi nào đó, công ty sẽ cho cô toàn quyền lực phụ trách. Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi sẽ không lắp đặt các thiết bị giám sát, cũng như các hệ thống xe công cộng mà cô đã thấy đó. Vì vậy chúng tôi không thể tuyển dụng cô, tôi có thể chắc chắn rằng, tại đất nước chúng tôi, thậm chí cả châu Âu này cô sẽ không thể xin vào được nổi một công ty nào đâu.”

Đến lúc này cô mới tỉnh ngộ và cảm thấy hối hận vô cùng. Sau đó, điều khiến cô ghi nhớ nhất là câu nói cuối cùng của vị giám đốc này: Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Đạo đức là phẩm chất cơ bản nhất của con người, cũng là nhân cách của một người. Một người dù ưu tú đến đâu nhưng nhân cách có vấn đề, cũng sẽ mất đi niềm tin và sự ủng hộ của người khác. Trên phương diện việc làm, những hành vi mất nhân cách thế này càng đáng sợ hơn, vì cái lợi nhỏ trước mắt mà phá bỏ nguyên tắc, điều này chắc chắn sẽ hủy hoại tiền đồ của bạn. Tôi cho các bạn lời khuyên chân thành, trong sự nghiệp cần phải dựa vào năng lực và chân thành của bản thân, mất thứ gì cũng không bằng mất nhân phẩm.

sưu tầm

https://www.facebook.com/bang.uong.5/posts/570687559769956

Niềm tin vào cái ác

Niềm tin vào cái ác

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn
2015-04-09

Con gái nạn nhân Ngô Thanh Kiều hôn di ảnh cha trong phiên xét xử 4 công an đánh chết anh Kiều

Photo courtesy of phapluatdoisong.com

Your browser does not support the audio element.

Trong cùng một buổi sáng đầu tháng 4, khi ông Lê Đức Hoàn, phó thủ trưởng cơ quan Cảnh sát đều tra TP. Tuy Hoà nhìn nhận “chúng tôi đã sai rồi” trước vành móng ngựa về vụ 4 công an đánh đập, tra tấn và bức tử công dân Ngô Thanh Kiều, thì cũng là lúc ở Hưng Yên lại tái diễn một sự kiện tương tự.

Anh Nguyễn Đức Duân, 34 tuổi, khi bị đưa về phòng tạm giam của công an huyện Khoái Châu (Hưng Yên) đã bất ngờ đột tử, dĩ nhiên, trên người xuất hiện nhiều vết đánh đập. Một kiểu chết mà rất nhiều phòng tạm giam, đồn công an trên toàn cõi Việt Nam vẫn nói mình vô can, bất chấp trong 3 năm (2011 đến 2014) có đến 226 người đã chết tương tự như anh Kiều, anh Duân vậy.

Những công dân chưa bị kết án này, được tìm thấy có nhiều chứng cứ đã bị một hoặc nhiều người đánh đến chết, ở khu vực chính quyền quản lý. Trong trường hợp anh Kiều, giám định viên thi thể cho biết họ không thể đếm hết các vết thương tích trên người của nạn nhân. Điều làm người ta kinh sợ là một bộ mặt khác trong đời sống đã lộ diện: có những nơi đã gây nên tội ác và tin cái ác là cần thiết, người dân chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cất lên tiếng khóc bi phẫn.

Lời của một công an viên đánh chết đồng bào của mình, nói rằng họ chỉ muốn “giải quyết mọi việc cho nhanh”. Cái “nhanh” đó chưa biết đã đem lại được bao nhiêu đáp án đúng của công lý nhưng đã cướp đi mạng sống của con người, thoả mãn những thú tính và gieo rắc sự sợ hãi trong nhân dân về những nhân vật mặc sắc phục, sẳn sàng bóp chết những người cùng màu da, tiếng nói với mình.

Mới đây (ngày 9-4) thông tin quốc tế cho biết, Dzhokhar Tsarnaev, 21 tuổi, sẽ phải ra toà để chịu phán xét về vụ khủng bố trong cuộc đua marathon ở Boston (Mỹ) vào năm 2013. Tsarnaev đã cùng anh mình nổ bom, làm chết 3 người và hàng trăm người bị thương mà mọi chứng cứ nay đã rõ ràng. Thế nhưng toà án và cảnh sát Mỹ đã phải mất đến 2 năm để điều tra và thu thập dữ liệu, để đưa ra toà một kẻ khủng bố còn khoẻ mạnh và xét xử. Trả lời Q.News, văn phòng công tố nói rằng họ đã tận lực cố gắng để “nhanh” đưa vụ này ra toà.

“Nhanh” của chính quyền ở những nơi khác nhau, rõ ràng cũng khác nhau. Có nơi làm tất cả để trình bày về cái ác. Có nơi thì chính nhân viên công quyền giành nhau để vào vai cái ác, thậm chí tin vào cái ác.

Cũng có ý kiến tiếc thương cho thanh niên 21 tuổi Dzhokhar Tsarnaev, với lý luận rằng “người chết thì đã chết rồi, thôi thì hãy dành chút cơ hội cho người còn sống”. Lập luận này cũng được nghe quanh phòng xử án anh Ngô Thanh Kiều, rằng như thế nào chuyện cũng đã “lỡ” rồi, có xử nặng thì cũng không giúp anh Kiều sống lại. Quả đúng vậy, người chết thì đã chết rồi, nhưng cái ác vẫn nhởn nhơ sống và còn được những cơ hội đẹp, như một dẫn chứng mạnh mẽ cho niềm tin vào cái ác.

3 năm và 226 công dân chết trong nhiều khu vực của chính quyền có nhiều không? Và con số này vẫn không dừng lại. Nếu công lý không được lập lại. Nếu sự nguỵ biện và dung dưỡng cho cái ác vẫn còn mạnh mẽ, người dân chỉ còn có thể suy ra rằng đã có những nơi trên đất nước này, như Phú Yên hay Hưng Yên… công an đã trở thành những bộ phận cát cứ hoành hành trên tính mạng con người. Lịch sử nhân loại vẫn ghi lại rằng việc im lặng gieo rắc sự sợ hãi trong tâm lý dân chúng là một phép tính cai trị, đời đời bị nguyền rủa, như bạo chúa Nero (54-68) khi không còn đủ khả năng đồng hành cùng người dân La Mã đi đến tương lai.

Xã hội Việt Nam có quá nhiều ví dụ cho thấy những kẻ phạm tội trong chính quyền, dù trên danh nghĩa là bị kỷ luật, nhưng sau đó lại được chuyển vào những vị trí bù đắp khác, vị trí có thể còn cao hơn, thậm chí thong dong hơn.

Mọi thứ đang đảo lộn. Lẽ phải bị thử thách như với những người cần phải tử đạo. Cái ác có đang là thứ để tin, để chọn, như một cách để khác biệt với đồng loại mong manh của mình?

Ngày xưa, các bậc cha mẹ vẫn mong con mình thành đạt trong đời, để là bác sĩ, kỹ sư… Nhưng thời nay, không ít gia đình chạy vạy cho con mình vào ngành công an như một bước đi vững chắc và an toàn trong đời. Mọi ngành nghề đều bình thường, và là điều công chính đáng tự hào biết mấy trong xã hội an sinh. Nhưng nếu từ những câu chuyện như của anh Kiều, anh Duân… mà công lý và pháp luật không thể thượng tôn, cái ác trở thành một loại niềm tin, dù chỉ là của một phần rất nhỏ trong dân chúng, thì cũng đó là ngày bất hạnh của dân tộc Việt Nam đã điểm.

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

 

“Xác loài người ngày sau sống lại” – Là xác nào sống lại?

“Xác loài người ngày sau sống lại” – Là xác nào sống lại?

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

dongten.net

Xin cho con hỏi trong kinh Tin Kính, có tín điều “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Cha xứ dạy chúng con rằng chúng ta sẽ không sống lại với thân xác hiện nay vì nó đã bị hoen ố bởi tội lỗi rồi nhưng thân xác sẽ phục sinh là một thân xác khác đang do chính Chúa Thánh Thần cất giữ. Xin cho con biết có đúng như thế không ạ?

Chào bạn,

Nhiều người trong chúng ta cho rằng chỉ có linh hồn ta là được về trời, còn thân xác là thứ nhơ nhuốc, đầy những xấu xa, nên không thể được cứu. Vào những thế kỷ đầu, có rất nhiều trường phái triết học cho rằng thân xác chính là tù ngục của linh hồn, là cái đã giam hãm linh hồn con người. Hồn lìa khỏi xác cũng hệt như một cuộc giải thoát. Bởi thế, việc phải trở lại kết hiệp với xác chẳng khác nào đưa hồn vào tù ngục. Chính vì lý do này mà thánh Phaolo đã thất bại khi rao giảng về việc người chết sống lại tại Aten, một thành phố đậm mùi triết coi thường thân xác và chỉ tin vào sự bất tử của linh hồn (x.Cv 17,16-34). Ngoài ra, thật khó để có thể tưởng tượng được là khi thân xác phục sinh thì nó sẽ thế nào. Thân xác phục sinh của tôi sẽ là thân xác lúc tôi bao nhiêu tuổi? Những người đã chết từ hàng ngàn năm trước, xương cốt đã thành tro, họ sẽ sống lại thế nào? Thậm chí, có những người đã chết không toàn thây, bị thú dữ ăn thịt, xé xác… thì phục sinh ra sao? Còn nữa, chẳng lẽ những người có thân hình xấu xí, bị thương tật, bị khiếm khuyết gì đó lại phải sống thân xác tồi tệ này khi phục sinh? Nếu thế thì thà chẳng phục sinh còn hơn!

Vậy tại sao Giáo Hội lại tin rằng thân xác cũng phải phục sinh? Là bởi vì chúng ta chỉ có thể là con người trọn vẹn khi có cả hồn (phần linh thiêng) và xác (phần vật chất). Nếu chỉ có hồn hoặc chỉ có xác thôi thì không phải là ta. Thân xác là một phần của ta, hay thậm chí có thể nói, nó chính là ta. Ta sẽ không thể nhận ra, tiếp xúc, đụng chạm với ai nếu người đó không có thân xác, và ngược lại. Trong khi đó, Đức Giêsu đến thế gian này là để cứu con người của ta một cách trọn vẹn, chứ không chỉ cứu linh hồn ta mà thôi. Nếu Ngài chỉ cứu linh hồn ta thì Ngài đang cứu “cái gì đó”, chứ không phải là ta. Đấng Cứu Thế đã muốn mặc lấy xác phàm và trở thành một con người thực thụ chính là muốn cứu lấy cả “xác phàm”, phần vật chất của con người, chứ không chỉ là phần thiêng liêng. Bởi thế, nếu thân xác không được phục sinh thì việc xuống thế làm người của Đấng Cứu Thế trở nên vô nghĩa. Tin vào sự phục sinh của thân xác chính là tin vào phẩm giá cao quý của thân xác và tin vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người xét như một tổng thể đầy đủ của hồn và xác.

Nhưng phải làm sao để giải quyết những vấn đề khúc mắc ở trên liên quan đến thân xác? Hay nói cách khác, chúng ta cần phải hiểu như thế nào về sự phục sinh của thân xác? Dựa vào mặc khải của Kinh Thánh và dựa vào lý trí, chúng ta có thể tìm được câu trả lời dù rằng trong chúng ta, chưa ai trải nghiệm được điều này. Hơn hết, chúng ta có một mẫu gương rõ ràng và khả tín nhất là chính Đức Giêsu phục sinh. Căn cứ vào những gì Kinh Thánh nói với chúng ta về Đức Giêsu sau khi Ngài đã phục sinh, chúng ta có thể biết chắc hai điều:

Thứ nhất, thân xác được phục sinh phải là một thân xác đã chết vì nếu không chết thì cũng sẽ không có chuyện phục sinh. Đó cũng phải là thân xác mà ta đang sở hữu đây vì nếu hồn của ta kết hợp với một thân xác khác thì sẽ trở thành người khác, chứ không phải là ta. Nếu Thiên Chúa làm nên một cái xác khác hoặc sử dụng cái xác của ai đó để kết hợp với hồn của ta thì càng không phải là ta. Quả vậy, khi Đức Giêsu phục sinh, thân xác phục sinh của Ngài là chính thân xác Ngài đã sống trước đó, với tất cả những dấu đinh, vết sẹo (x. Lc 24,39). Thân xác Ngài phải như trước thì các môn đệ mới nhận ra Ngài được. Nếu Đức Giêsu phục sinh với một thân xác khác thì hẳn là xác chết của Ngài vẫn còn trong mộ. Nhưng thực tế là từ sau ngày phục sinh, không ai – kể cả những kẻ thù của Ngài – có thể tìm thấy xác Ngài. Ngoài ra, thân xác được phục sinh phải là thân xác mà ta có thể đụng chạm được cách cụ thể, chứ không phải là một cái bóng mờ mờ ảo ảo. Đức Giêsu cũng khẳng định với các môn đệ rằng Ngài vẫn “có xương có thịt”, chứ không phải ma (x.Lc 24,39). Chính Tôma là người đã được Đức Kitô phục sinh cho đụng chạm vào cạnh sườn mình (x. Ga 20,27).

Thế nhưng – điều thứ hai và điều rất quan trọng – thân xác phục sinh là một thân xác được biến đổi theo một cách thức mà thánh Phaolo gọi là “mầu nhiệm” (1Cr 15,51), bởi vì “xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (1Cr 15,50). Ngài còn nói thêm: “…tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát… Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1Cr 15,52-53). Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolo nói: “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,31). Ở đây, ta thấy thánh nhân nói rằng Đức Giêsu sẽ biến đổi “thân xác chúng ta” (chứ không phải một thân xác lạ lẫm nào khác), và thân xác được biến đổi ấy sẽ giống như “thân xác vinh hiển của Người”, nghĩa là thân xác phục sinh của Đức Giêsu thế nào thì thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ giống như vậy.

Như thế, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ là một thân xác không còn bị huỷ hoại, không còn vết tích của sự dữ, không còn lệ thuộc vào thời gian không gian, không phải chịu một giới hạn nào, không bị lão hoá, không bệnh tật…Thân xác ấy sẽ như thân xác của Đấng Phục Sinh. Chúa sẽ thanh tẩy thân xác hư nát này của chúng ta thành một thân xác thanh thiết và ngập tràn ân sủng. Thân xác ấy trông như thế nào, chẳng ai trong chúng ta biết được, nhưng với mạch suy tư này, ta có quyền đi đến kết luận rằng vào lúc phục sinh, người khác nhìn vào ta thì sẽ thấy ta và nhận ra ta (vì ta có thân xác) và sẽ nhìn thấy nơi ta một sự sáng láng tuyệt đẹp, thanh khiết đến lạ kỳ (vì những hậu quả xấu xa của sự dữ và tội lỗi làm cho thân xác của chúng ta bị huỷ hoại và xấu đi đã bị ơn cứu độ của Đức Giêsu gỡ bỏ).

Thánh Phaolo cũng lấy hình ảnh hạt giống gieo vào đất và nảy mầm thành một cây mới để minh hoạ cho sự phục sinh này. Khi chẻ đôi một hạt lúa, ta không hề thấy trong đó có cây lúa nào. Vậy mà khi gieo xuống đất, tưới nước, bón phân, ta lại thấy chính tại nơi ta gieo hạt lúa nảy sinh một cây lúa. Cây lúa này chính là hạt lúa lúc trước chứ không phải từ một hạt gì khác, hay thậm chí là hạt lúa khác. Ta biết chắc rằng cây lúa này từ hạt lúa kia mà ra, nhưng ta không biết được là tại sao hạt lúa lại trở thành cái cây như vậy. Hạt lúa trước kia chính là cái cây mà ta đang thấy lúc này đây. Hạt lúc không còn nữa, chỉ còn lại cây lúa. Nói cách khác, hạt lúa ấy đã được biến đổi để trở nên một cái gì đó khác đi, hoàn hảo hơn, tràn đầy sức sống hơn.

Hình ảnh minh hoạ này giúp chúng ta hiểu về sự biến đổi thân xác diệu kỳ mà ơn phục sinh của Thiên Chúa sẽ thực hiện trên chúng ta. Chúng ta chỉ đang ở trong giai đoạn “hạt lúa”, cần phải chết đi trong niềm tin vào Đấng Phục Sinh, để Đấng ấy làm nơi ta một sự biến đổi lạ thường chỉ “trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên.” (1Cr 15,52).

Đề tài này vẫn còn nhiều chi tiết cần bàn đến nhưng hy vọng một vài gợi mở nhỏ bé này đã đủ để giải đáp thắc mắc của bạn cũng như khơi lên niềm hy vọng trong lòng bạn.

Thân ái,

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Quê Ngoại

Quê Ngoại

Vân Hà

Hè đến theo mẹ về thăm ngoại
Cả đêm không ngủ cứ nôn nao
Buổi sáng tinh mơ, sương còn đọng
Xe đò, dằn xóc, vẫn muốn mau

Ngồi ngắm hai bên đường chăm chú
Qua Cầu Ông Thìn nắng vừa lên
Nhìn mây tưởng tượng hình muôn thú
Líu lo, con nói, mẹ đố tên

Cần Giuộc rồi ngang qua Chợ Trạm
Nhà Dài rồi sẽ tới Tân Lân
Cần Đước xe qua nhìn thấy chợ
Cồn cào nghe bụng cứ lâng lâng

Cần Đước không xa bằng Tân Trụ
Chưa hề đặt bước tới Tầm Vu
Xa thêm Đức Huệ cùng Mộc Hoá
Không bằng Nàng Hương ở Chợ Đào

Thơm ngọt không đâu bằng Bến Lức
Rượu nếp đừng quên tới Gò Đen
Bình Chánh giờ lạc qua Thành Phố
Chợt nhớ Phước Đông , xã Ao Xoài

Bần Ổi, lo nghèo Kinh Nước Mặn
Mắm Còng con nhớ Cầu Nổi xưa
Ký ức , đâu rồi phà Mỹ Lợi?
Chiếc cầu sừng sững nối Gò Công

Ngoại đã qua đời, lâu lâu lắm
Mẹ cũng ra người thiên cổ rồi
Bao năm, con mới về Quê Ngoại
Ngậm ngùi nhớ lại đất LONG AN

Vân Hà

22/3/2016
(Nhớ chuyến về quê với anh ba, chị năm,
em mười và em Trang nhân dịp giổ má 2015)

CHUYỆN TÌNH BUỔI BÌNH MINH

CHUYỆN TÌNH BUỔI BÌNH MINH

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Các bạn trẻ thân mến,

Sau một đêm vất vả nhưng không bắt được con cá nào, các tông đồ chèo thuyền vào bờ trong tâm trạng u buồn về tinh thần, đói lả về thân xác.  Nghe theo lời khuyên của một người lạ, họ quyết định thử thả lưới lần cuối với chút hy vọng mong manh.  Ai ngờ, chỉ một mẻ lưới tình cờ đã có thể bắt được rất nhiều cá.  Nhạy cảm trước sự kiện lạ này, Gioan đã nhận ra Thầy chính là người lạ đã đưa ra lời chỉ dẫn kia.  Thế rồi họ cũng vào bờ, mang ít cá mới bắt được đến bên bếp lửa đã được Thầy nhóm sẵn.  Cùng với chút bánh Thầy mang tới, tất cả dùng chung với nhau bữa ăn sáng đạm bạc nhưng chan chứa niềm vui.

Trời lúc ấy mới hừng đông.  Ánh mặt trời con non nớt, chiếu qua những hạt sương long lanh. Tiếng sóng vỗ rì rào theo chiều gió thổi.  Có lẽ đã lâu lắm rồi, Thầy với trò mới có được một bữa ăn nhẹ nhàng và an bình như thế.  Từ sau khi Thầy bị bắt, ngày nào họ cũng phải sống trong lo sợ và u ám.  Cái chết kinh khiếp của Thầy như vẫn còn đâu đây.  Tiếng la hét, tiếng khóc than, tiếng búa gõ vào đầu đinh sắt… những hình ảnh thê lương ấy sao dễ có thể phai nhạt được.  Nhưng giờ đã qua hết rồi, những khoảnh khắc u sầu tăm tối.  Phút yên bình bên bếp lửa đỏ, với miếng cá nồng vừa bắt được và chút bánh thơm phức hương men, Thầy và trò cùng chia sẻ với nhau sự ung dung tự tại, hệt như những ngày vừa gặp gỡ.

Ăn sáng vừa xong, mỗi người một việc.  Chỉ còn lại Phêrô và Giêsu bên bếp lửa.  Khoảng không gian thanh tịnh đến lạ kỳ.  Phêrô hẳn là nghẹn ngào lắm.  Vui vì được nhìn thấy Thầy, bình an vô sự; nhưng cũng buồn vì nhớ lại lầm lỗi của mình chỉ vài ngày trước đây thôi.  Nhớ lại đêm cuối cùng trước khi Thầy chịu khổ nạn, Phêrô luôn mồm khẳng định yêu Thầy, yêu hơn hết mọi người, yêu đến nỗi sẵn sàng chết vì Thầy.  Ấy vậy mà khi sự cố xảy đến, ông đã thề độc, chối bỏ mối tương quan gắn bó sâu sắc giữa mình với Thầy.  Sợ mạng sống của mình bị đe dọa, ông đã gạt Giêsu ra khỏi cuộc đời mình. Cái nhìn của Giêsu đã thấu chạm đến tim ông, gợi nhớ lại trong ông những ân tình đã có.  Bất chợt, bao cảm xúc ùa về, ông đã khóc như chưa từng được khóc, những ngọt nước mắt của hối lỗi, của ăn năn.  Ông khóc cho thân phận kém cỏi của mình, khóc cho những lần kiêu ngạo của mình, khóc cho một cuộc tình bị ông chối từ vì sợ hãi.

Giờ đây, chỉ còn hai người – Thầy và ông – trên một bãi biển hồ vắng.  Ông nghẹn ngào chẳng biết nói điều chi.  Ông tự cảm thấy mình phải thu nhỏ người lại trước Thầy, không còn dám vỗ ngực xưng tên, không còn tự cho mình là người thánh đức nữa.  Nhưng dẫu sao, ông vẫn thấy mình có lỗi với Giêsu, ông nợ Giêsu một lời xin lỗi.  Là một người Thầy thấu cảm tâm tư của trò, Giêsu đã lên tiếng trước. Giêsu không muốn nghe từ ông lời xin lỗi, vì những giọt nước mắt kia đã nói lên tất cả rồi.  Giêsu cũng không cần nghe từ ông lời cam kết sẽ không tái phạm, vì phận người yếu đuối, có ai biết được ngày sau.  Giêsu chỉ muốn ông cho Giêsu biết, chỉ một điều duy nhất thôi: Sau biết bao những biến cố ấy, ông có còn yêu mến Giêsu không?  Ba lần hỏi của Giêsu là ba lần làm ông nghẹn ngào khó tả.  Phêrô không còn dám nói là mình yêu Chúa hơn các anh em khác nữa.  Phêrô thú thật với Thầy là Thầy biết con yêu mến Thầy; chỉ có điều tình yêu ấy còn mong manh quá, còn yếu đuối quá, nên đã bao lần khiến Thầy thất vọng và buồn phiền.  Nhưng thật sự là có, có một tình yêu dành cho Thầy, có một sự lôi kéo trái tim hướng về Thầy.  Tình yêu dành cho Thầy và sự yếu đuối đi song đôi trong trái tim của Phêrô, Phêrô nhận ra điều đó.

Các bạn trẻ thân mến,

Tâm trạng của Phêrô cũng là tâm trạng của mỗi người chúng ta mỗi khi chúng ta phạm tội.  Ta thấy hổ thẹn với bản thân, vì dù đã nhiều lần ta đã nỗ lực không muốn phụ tình yêu Giêsu dành cho mình, nhưng sao ta vẫn chứng nào tật ấy, không sao chừa được.  Sự yếu đuối và tội lỗi cứ đeo bám ta, khiến ta thấy mình như bất lực trong cuộc chiến chống lại chúng.  Nhưng Thầy Giêsu của chúng ta là một người thầy rất tuyệt vời.  Ngài không bao giờ hạch họe ta, không bao giờ khoét sâu trong trái tim ta những nỗi đau vốn đã sẵn có.  Ngài biết ta yếu đuối, Ngài biết ta mỏng dòn, Ngài biết là sẽ có ngày ta bội phản Ngài, bội phản lại tình yêu Ngài dành cho chúng ta.  Nhưng không bao giờ Ngài đối xử với ta một cách tồi tệ.  Điều duy nhất là Ngài muốn ta trả lời khi đến với Ngài là “con có còn yêu mến Thầy không?”  Chỉ một câu hỏi ấy thôi.  Ngài muốn biết trong ta có còn tình yêu dành cho Ngài hay không, muốn biết trái tim ta có còn chỗ cho Ngài không.  Chỉ cần ta trả lời có, bấy nhiêu cũng đủ rồi.

Vâng, tình yêu của Chúa vượt trên những tội lỗi của ta.  Mỗi khi ta vì yếu đuối và vấp ngã, ta đừng tra tấn mình bằng những cảm xúc tiêu cực, hãy tự vấn mình: Ta có còn yêu mến Giêsu không, ta có còn vì Ngài mà cố gắng sống tốt hơn không.  Giêsu chỉ cần ta yêu mến Ngài.  Mọi sự khác, Ngài chẳng quan tâm, vì Ngài biết, tình yêu của Ngài sẽ giúp ta chiến thắng.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

‘Cash only!’

‘Cash only!’
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Ở Mỹ, ra khỏi nhà đi mua bán, không mang tiền mặt là chuyện thường, nhưng có một hôm nào đó, rủ bạn đi ăn phở, đến khi ra quầy trả tiền, mới ngớ ra vì mấy chữ “cash only.” “Phép vua thua lệ làng,” đành phải xấu mặt gọi bạn: “Ông có tiền mặt, trả giùm tôi!” “Cash only” có trăm thứ lợi cho chủ nhà hàng, nhưng chẳng tiện chút nào cho khách đi khách đến. Đành rằng thẻ tín dụng cũng là tiền, chi phiếu cũng là tiền, nhưng tiền giấy là tốt nhất.

(Hình minh họa: dayair.org)

Cứ tưởng tượng, một hôm nào đó, vợ chồng đi dự đám cưới ở nhà hàng, trong khi quan khách đều đến tay không, mà mình theo phong cách của những đám cưới thời xưa, khệ nệ khiêng theo một món quà để tặng cô dâu, chú rể thì “quê” hết chỗ nói. Không chỉ nhà trai nhà gái khinh mình ra mặt, mà quan khách chung bàn cũng xầm xì, xem mình như Mán xuống Bolsa. Cũng vì đây là văn hóa “cash only” nên phải là tiền mặt, mà là tiền lớn, tờ trăm có in hình ông Benjamin Franklin, chúng tôi hẳn không chấp nhận giấy bạc $20 kể cả những cái “gift card,” dù là Dior, Channel, Gucci hay hạng thường như Nordstrom, Macy’s.

Nhớ lại hồi xưa, cách đây 50 năm, bạn bè tham dự đám cưới đã “biếu” vợ chồng chúng tôi chừng sáu cây đèn để bàn, năm bộ bình trà, bốn cặp áo gối, hai xấp vải áo dài và quý đồng nghiệp cùng trường góp tiền nhau mua cho một cái đồng hồ Odo có tiếng chuông Westminster gõ mỗi 15 phút làm sốt cả ruột những đêm khó ngủ. Và cũng không thiếu những cặp vợ chồng khách mời, đến… tay không. Nhưng cũng không sao, cái thời buổi ấy “tiền tài còn như phấn thổ,” và cũng không ai đòi hỏi, hay có thông lệ, mừng đám cưới là phải có tiền mặt. Những món quà cưới theo phong tục, thường được đem đến nhà “đôi trẻ” trước ngày vui.

Ở nhà quê, ngày xưa ấy, đi ăn cưới chỉ cần xách cặp bia “BGI-Con Cọp,” chờ chủ nhà đãi khách xong, xin hai cái vỏ chai không về đem trả lại cho “depot.” Chủ yếu là vui, không ai tính chuyện lời, lỗ.

Chính vì cái thời buổi “cash only,” sau mỗi đám cưới, đãi đằng bạn bè, hai họ, cô dâu chú rể còn đủ tiền đi hưởng tuần trăng mật, nên những cặp đôi hay bậc cha mẹ thường tính chuyện lời, lỗ. Có gia đình chạy theo con số khách mời, càng nhiều càng tốt, nhất khi nhà hàng Tàu “khuyến mãi” đạt con số 50 bàn, thì được “free” bánh cưới, rượu champagne.

Những khách dự lễ cưới cũng theo phong tục văn hóa Việt Nam cũng không bao giờ than phiền chuyện “cash only,” vui lòng không những chi tiền, mà còn chịu khó đi “làm tóc” hay nhờ người trang điểm. Đám cưới ngày xưa không bao giờ có nạn cướp tiền mừng, nhưng ngày nay chính vì “văn hóa cash only” nên đã xẩy ra chuyện kẻ gian thừa cảnh đông người, trà trộn trong đám người ăn cưới, cũng áo quần tươm tất, bưng túi tiền mừng đi mất.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đang chủ trương “cash only!” Tháng Hai, 2015, đại diện Bộ Tư Pháp dự thảo bộ luật hình sự, sửa đổi, giảm hình phạt tù, tăng hình phạt tiền và “cải tạo không giam giữ.” “Cải tạo không giam giữ” vì nhà tù đầy nhóc rồi mà lại phải nuôi cơm, chẳng thà “cash only” cho tiện sổ sách.

Chê chủ tịch tỉnh trên Facebook: Phạt tiền! Uống rượu lái xe: Phạt tiền! Cô giáo xưng hô “mày, tao,” mắng học viên là “vô học”…: Phạt tiền! “Đái đường”: Phạt tiền! Bất hiếu: Phạt tiền! Chồng chửi vợ, hoặc vợ chửi chồng: Phạt tiền! Không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu: Phạt tiền! Vợ kiểm soát tiền chồng hoặc chồng kiểm soát tiền vợ: Phạt tiền! Không đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú: Phạt tiền! Điều tra, thám tử tư dưới mọi hình thức: Phạt tiền! Bán dâm: Phạt tiền! Mua dâm: Cũng phạt tiền! Làm ma cô: Lại phạt tiền!

Người Việt hiện nay ở trong nước, nghèo nhưng “phú quý sinh lễ nghĩa,” tiền thù tạc, hiếu hỷ ngốn hết 50% tiền lương mỗi tháng. Sinh nhật, tân gia, cưới hỏi, đồng nghiệp bảo vệ luận án, đi thăm người bệnh, đồng nghiệp ngã xe, đẻ con, tứ thân phụ mẫu thủ trưởng qui tiên. Phong kiến, tham ô đẻ ra cái chỉ thị quái đản là “khi có đám ma tứ thân phụ mẫu của cán bộ lãnh đạo (từ phó giám đốc sở trở lên) thì phải thông báo cho toàn ngành, toàn tỉnh” để biết, tức là để góp phong bì tống táng cha ông chúng nó.

“Cho nên không ít người mượn cớ đó để ‘thông báo’ có khuôn dấu đỏ hẳn hoi về cái chết của bố mẹ của mình hay của vợ, gây phản cảm và nghi ngờ về lòng hiếu thảo có mùi ‘cash’ này. Có những đám ma mà anh chị em trong nhà tranh giành nhau để tổ chức!” (vietbao.vn)

Cho nên đám ma, đám cưới lại trở thành một dịp… kinh doanh!

Trước đây, Việt Nam đã có dự án cho thanh niên đến tuổi đi lính đóng tiền để khỏi tòng quân, ai không có tiền đóng thì đóng máu là lẽ đương nhiên. Trên thế giới, chỉ có nhân gian trong XHCN mới có câu “Đồng tiền là tiên, là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo lòng người, là tinh thần của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý…” Chân lý ấy không bao giờ thay đổi! Trong xứ này, làm gì cũng phải có thủ tục “đầu tiên,” tức là “tiền đâu?”

Thế gian xưa, nói về tình đời, đã có câu “đồng tiền liền khúc ruột.” Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết: “Trong tay đã sẵn đồng tiền, dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì!” Đó là chuyện “chạy án” trong nền tư pháp hay là chuyện “bôi trơn” trong mọi lĩnh vực ở Việt Nam hiện nay. Nghe nói vào Bộ Chính Trị cũng cần “cash,” mà “cash only!” Ở đó cái gì họ cũng có thể bán đi và cái gì cũng mua được (*), nếu không mua được bằng tiền, thì bằng nhiều tiền.

Người đời thường mỉa mai: “Đồng tiền dơ bẩn!” Quả nó dơ bẩn thật, từ khi được phát hành, trước khi đi qua tay bạn, nó được chuyền tay qua nhiều người trong một thời gian dài, từ bàn tay chị bán tôm cá, nơi thắt lưng cô nàng múa cột, chủ lò mổ heo, tay anh chị “drug dealer,” cô nàng bán trôn hay thằng ma cô ở xó đường, nó tanh tưởi, có khi còn mùi máu! Nếu tôi là nguyên thủ quốc gia, tôi sẽ ra lệnh cấm in hình tôi trên tờ giấy bạc, vì tôi sợ những thứ này sẽ dính vào bộ râu của tôi!

Nó dơ bẩn về nghĩa bóng, ở chỗ đồng tiền, làm cho con người táng tận lương tâm, quên điều phải trái, đổi trắng thay đen, chém giết nhau cũng vì mãnh lực của nó.

Đồng tiền dơ bẩn thì phải đem đi rửa, giặt, hy vọng từ đồng tiền bẩn thỉu, người ta có thể có trong tay những đồng tiền sạch, nhưng khốn nỗi việc rửa tiền trong thế giới này là một tội trọng, đồng tiền càng rửa càng dơ bẩn thêm.

Đồng tiền như vậy đó, nhưng ở đâu, ra đường nhớ sờ lại cái ví, và xem lại trong ví có tiền (cash) hay không, rồi hãy lên xe.

(*) Từ rừng núi, đồng bằng, hải đảo
Đến xác thân em bé đứng đường.

Bốn mươi năm thời gian dài quá đủ.

Bốn mươi năm thời gian dài quá đủ.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy,

Cho con còn ngày nữa để yêu thương. (1)

   *    *    *

Vào đầu năm 1970,  tôi có nhờ Ông Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng đề nghị với Nha Khảo Thí để tôi chuyển về trường Lương văn Can, còn được gọi là trường Trung học Tổng Hợp Đô Thị Quận 8, để giữ vai trò Tổng giám thị. Năm đó tôi được 28 tuổi . Ông Uông Đại Bằng và Giám Học Hồ Công Hưng lúc đó hơn tôi chừng vài tuổi.

Thời gian 40 năm hơn nửa đời người cũng là thời gian quá dài  “ biết bao vật đổi, sao dời ” vui mừng cũng có mà đau buồn cũng không ít . Ngày nay nhiều cựu học sinh đã là ông bà nội, ông bà ngoại rồi đã trên dưới 60. Tại sao thời gian dài như thế tình thầy trò, tình bạn hữu của các em cựu học sinh vẫn gắn bó nhau. . Vậy sự gắn bó, liên kết, chia xẻ ngọt bùi với nhau phải có lý do chứ?

Với tuổi đời hiện tại” thất thập cổ lai hy” mới cảm nghiệm được rằng thời gian trôi qua quá mau, đã hiểu được rằng đời người như “ bóng câu qua cửa sổ”. Nhớ lại mới đó mà thấm thoát nay đã già.

Vài ghi nhớ về trường Lương văn Can.

Nhìn lại thời gian qua, trước năm 1975  số giáo sư trong ban giảng huấn khoảng 100 tới nay đã ra đi khoảng 14 người ( 14%),  ban giám thị khoảng 13 và mất khoảng  5 người (gần phân nửa). Trong số học sinh cũng đã có các em lẽ tẻ ra đi với tuổi chưa đầy 60 .

Tại sao hơn bốn mươi năm qua tình thầy trò vẫn đậm đà thấm thiết? Tôi nghĩ là nhờ có tình yêu thương thật sự đã gắn bó với nhau.

Tôi nhớ có lần trong khi tập hợp học sinh chào cờ buổi sáng có một em học sinh bị xỉu tại sân trường và đích thân chính ông Hiệu trưởng Uông Đại Bằng đã chở học sinh này đi nhà thương mà không nhờ nhân viên nào khác trong trường, đủ thấy tấm lòng yêu thương lo lắng cho học sinh của Ông Hiệu trưởng .

Với với số lương hàng tháng cuộc sống của thầy cô lúc bấy giờ cũng tạm đủ sống không thiếu thốn gì. Hơn nữa đa số thầy cô giáo ra trường đi dạy học cũng còn rất trẻ, sống có lý tưởng, nên đã cố gắng làm việc hết lòng, hết khả năng, làm việc đàng hoàng mà còn cố gắng sống đời sống gương mẫu, sợ mang tai tiếng, để làm chứng nhân  cho học trò noi theo, bắt chước.

Ông Hiệu trưởng Uông Đại Bằng trong những năm làm việc không có mang tiếng gì về tiền bạc mà sáng sớm đã thấy ông ngồi trong văn phòng và tối mịt mới rời văn phòng về nhà. Việc thi tuyển vào học trường Lương Văn Can đều do hội đồng thi tổ chức và chấm điểm rất công tâm . Không có việc chạy chọt tiền bạc hay thế lực nào áp đặt .

Ngoài ra tinh thần làm việc cộng đồng cùng nhau chia xẻ khó khăn, nâng đỡ nhau trong công việc cũng đã làm cho tình thầy trò,tình bạn hữu giữa các học sinh với nhau càng yêu thương gần gũi nhau hơn.

Tôi vẫn không quên câu nói như sau : Giá trị của bạn chính là việc bạn đã làm gì, đóng góp gì, chứ không phải vỏ bọc hình thức bạn tốt nghiệp trường nào, có bao nhiêu bằng cấp.

Bằng cấp rất cần thiết nếu bằng cấp ấy là do học tập siêng năng, cần mẫn mà có, do tài năng thật sự mà có, chớ không phải bằng cấp do chạy chọt bằng tiền bạc hay do áp lực quyền hành mà có. Ngoài ra với tài năng thực sự đó cũng chưa đủ, giá trị con người chính là sự đóng góp cho xã hội,  cho tha nhân, làm việc hữu ích cho con người mới là điều quan trọng, phải không ?

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã đóng góp cho hậu thế gần một trăm đầu sách đủ loại vừa sách học làm người, sách dịch các tác phẩm nổi tiếng của Mỹ, của Pháp, sáng tác đủ loại để giúp cho các bạn trẻ, sinh viên, học sinh học hỏi hiểu biết triết lý Đông Phương, Tây Phương, nền văn minh Âu Mỹ để các bạn trẻ tìm cho mình con đường lý tưởng để sống . Ông có thuật lại ông cùng học chung một lớp với người bạn học rất giỏi luôn luôn đứng đầu lớp, ông không thể nào học hơn người bạn đó được, nhưng rồi thời gian trôi qua ông không còn thấy tin tức, sự đóng góp gì của người bạn đó nữa.

  Đến cuối cuộc đời có gì để tiếc:

Là một người có tài, tác giả truyện Kiều là Nguyễn Du đã viết:

“ Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

Còn người viết bài này là người tầm thường, không có gì xuất sắc chỉ:

Tạ ơn trời – hôm nay tôi còn sống
Mt còn nhìn, còn đc được Emails
Đi còn vui, đâu đến ni cô liêu.
Thêm kiến thc, thêm t tâm h x !
T ơn các bn gn xa
Hng ngày chia s cùng ta đ điu.
Emails nhn được bao nhiêu
Là bao tình cm thương yêu nng nàn.
* – Cám ơn tất cả các bạn đã cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui, những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được.

*. – xin cám ơn tất cả … những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi từng biết mà chưa quen.
* – Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để nhận ra cuộc sống này thật vô cùng ý nghĩa …

* – Cám ơn những dòng thơ, dòng nhạc, đã giúp tôi tìm vui trong những phút giây chán nản buồn phiền nhất, để quên đi những sầu muộn âu lo, để thấy cuộc đời này vẫn còn có chút gì đó để nhớ, để thương, để vui mà sống .

T ơn Tri mi sm mai thc dy,

Cho con còn ngày na đ yêu thương .(1)

(Sưu tầm trong internet)

Vài kỹ niệm về Hội Phụ Huynh Học Sinh Trường Lương Văn Can (trước năm 1975)

Tôi còn giữ hai quyển kỷ yếu đóng chung thành một tập do cựu học sinh Nguyễn Tấn Luyện từ Canada gởi tới.

Hai cuốn đều có tên là “Trung Học Tổng Hợp Đô Thị Quận 8” Kỷ Yếu 1972-1973 và Kỷ Yếu 1973-1974 . Nhờ hai cuốn này tôi nhớ lại được những hình ảnh, những sinh hoạt của thầy cô và học sinh trong thời gian tôi làm việc tại trường này.

Lúc tôi về trường chỉ có dãy lầu ở bên trái, đối diện với dãy lầu này chỉ là khu đất trống.

Trong cuộc bầu cử ban Quản Trị  Hội Phụ Huynh học sinh và Giáo chức, ông Đỗ Đăng Lợi được bầu làm Hội trưởng còn tôi làm Chánh thơ Ký, ông Nguyễn văn Sinh làm Chánh Thủ Quỹ của Hội.

Tôi còn nhớ Hội Phụ Huynh lo việc xây cất dãy bên phải của trường.

Khi đào mống để xây trường học gặp rất nhiều hòm chôn người chết. Đào chỗ nào cũng đụng hòm do đó bà con mới biết khu này là khu nghĩa địa cũ.

Chủ thầu xây cất phải lo cúng kiến và lo cải táng cho các ngôi mộ đó.  Nhà thầu làm mấy phòng học ở phía sau để có đủ chỗ cho học sinh học, sau đó mới xây dãy bên phải có lầu. Ông Đỗ Đăng lợi rất cẩn thận thường xuyên kiểm soát thât chặt chẻ việc xây cất. Chính ông Lợi và ban Quản trị Hội đã đích thân đến kiểm soát từng giai đoạn xây cất, xem có đủ chất lượng, đúng theo bản vẽ họa đồ không rồi mới cho tiếp tục xây cất.

Mỗi tháng Hội phụ huynh họp một lần, luôn luôn lấy ý kiến đa số các thành viên của Hội.

Xây cất nửa chừng nhà thầu bị lỗ lúc đó công việc đạt được 70, 80 phần trăm. Nhà thầu bỏ trốn vì vật giá gia tăng .

Lúc đó Hội phụ huynh rất có uy tín dưới sự điều hành của ông Đỗ Đăng Lợi và với sự theo dõi của Hiệu trưởng Uông Đại Bằng.

Về phần trợ giúp cho học sinh nghèo Hội cũng thường họp Ban Quản trị Hội để lấy ý kiến xem xét để trợ cấp từng trường hợp một, chỉ trợ cấp cho các em học khá mà gia đình nghèo thật sự.

Suốt mấy năm Ông Đỗ Đăng Lợi làm Hội trưởng (1970-1975) không hề bị mang tai tiếng gì mà mỗi lần họp Đại Hội Phụ Huynh Học sinh rất đông bà con phụ huynh tham dự và bầu cử,  kiểm phiếu công khai không hề có sự sắp đặt nào trước.

Sinh hoạt của Hội Phụ Huynh Học sinh trường Lương văn Can  chấm dứt vào ngày 30 tháng 04 năm 1975.

Không biết có phải vì đặt tình yêu thương lẫn nhau và đã làm việc công tâm, đàng hoàng, không tơ hào, không gian lận, dính líu tiền bạc vì tư lợi thì sẽ được yêu thương dầu  là 40 năm hay 50 năm hay lâu hơn nữa.

Tất cả là tình yêu thương.

Phùng Văn Phụng  

(1) Câu thơ nguyên văn là:

  Cám ơn đời mi sm mai thc dy
Ta có thêm ngày n
a đ yêu thương

 Tác gi nguyên thy ca 2 câu thơ này là 1 thi sĩ lng danh, người Lebanese (Li Băng) 
tên là Kahlil Gibran (1883-1931), tri
ết gia ln lên sinh sng Mỹ .

Gibran

 

 

 

 

 

 

 

Hình Kahlil Gibran

 Xem thêm về Kahlil Gibran:  https://en.wikipedia.org/wiki/Kahlil_Gibran

DSC03342

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả cùng với Giáo sư Trần Nguyên Khôi

Hình chụp trước năm 1975 tại trường Lương văn Can

trong ngày bầu cử Ban Quản Trị Hội Phụ Huynh Học Sinh và Giáo Chức

http://luongvancan.avcyber.com/D_1-2_2-1401_4-12890_5-15_6-1_17-8_14-2_15-2/

Mua lại nước Việt Nam với giá nào?

Mua lại nước Việt Nam với giá nào?
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Nhiều độc giả Người Việt đồng ý với đề nghị “Mua lại nước Việt Nam” từ tay đảng Cộng Sản; để họ trả lại cho dân Việt Nam quyền tự mình lo quản trị đất nước mình. Nếu quý vị thấy ý kiến này vô lý, đặt câu hỏi “Tại sao đất nước của mình, mình lại phải mua lại?” thì xin thông cảm. Chúng ta đã thấy cảnh nhiều chủ nhà phải “mua lại” căn nhà của chính mình. Nhà mình cho họ trú ngụ rồi bị chiếm luôn. Ðuổi không ra. Ðòi, không trả. Thưa kiện, không ai xử. Dùng vũ lực càng không được, vì chúng nó du côn hơn mình! Khi một bọn côn đồ lại nắm cả pháp luật trong tay, thì làm sao được? Giải pháp cuối cùng để mời bọn cướp ra khỏi căn nhà mình, là thí cho chúng nó một số tiền. Bao nhiêu người đã phải làm như thế rồi!

Nhưng có độc giả nêu lên nỗi khó khăn: Kiếm đâu ra tiền mà mua lại nước Việt Nam? Bạn TTNV viết: “Dân đen ở Việt Nam (80%) thì trên răng dưới dế, khố rách áo ôm, vốn liếng chỉ có cái mạng cùi! Quan chức, đại gia thì bận lo ‘hốt nhanh, hốt gọn, hốt sạch’ rồi ôm bọc bạc qua Thụy Sĩ (chưa tới được Panama!) Vậy thì lấy cái gì mà ‘mua lại’ đây?”

Một độc giả khác, ký tên Người Buôn Mộng, đưa ra đề nghị người Việt ở nước ngoài phần lớn khá giả hơn đồng bào trong nước hãy gánh lấy việc góp tiền mua lại nước Việt Nam. Theo Người Buôn Mộng thì “hơn ba triệu người Việt ở hải ngoại sẽ đi quyên góp cho đủ 19 tỉ Mỹ kim, để chia tặng đồng đều cho 19 ma đầu trong Chính Trị Bộ mới được bầu lên” với một số điều kiện để họ trả lại nước Việt Nam cho người Việt Nam.

Con số 19 tỷ đô la có lớn quá không? Bạn Người Buôn Mộng đã tính toán, thấy đủ sức kiếm ra. Vì mỗi năm người Việt ở nước ngoài vẫn đem hàng chục tỷ đô la về trong nước! Nhà báo Vũ Kim Hạnh mới viết trên Facebook của cô rằng, “Dòng kiều hối chảy về Việt Nam từ Mỹ khoảng 7-8 tỷ đô la, thì dòng đô la chảy ra cũng không ít.” Nếu chia 19 tỷ cho ba triệu người Việt ở nước ngoài thì mỗi người chỉ góp trên ba ngàn đô la! Những người yêu nước có của sẽ đóng góp gấp đôi, gấp ba, bù cho những người thiếu tiền! Có thể mua được!

Ðề nghị trả giá 19 tỷ rất thực tế, nhưng chúng ta sẽ không cần đến. Thực ra, có thể mua lại đất nước từ tay đảng Cộng Sản mà không cần phải trả tiền mặt. Nghĩa là có thể mua chịu, mua trả góp, giống như ở các xã hội ổn định người ta vay nợ mua nhà vậy. Vậy có thể mua lại nước Việt Nam theo lối trả góp cho đảng Cộng Sản như thế nào?

Xin quay lại với ý kiến của các nhà kinh tế Ba Lan thời 1980. Họ đề nghị mua lại nước Ba Lan từ tay đảng Cộng Sản, sẽ trả tiền cho tất cả các đảng viên Cộng Sản; không trả riêng cho các lãnh tụ trong Bộ Chính Trị hay Trung Ương Ðảng. Dân Ba Lan hứa sẽ trả cho đảng viên Cộng Sản tất số các lợi nhuận mà họ đang được hưởng và sẽ được hưởng nếu vẫn nắm chính quyền. Nghĩa là, dù mất quyền hành nhưng các đảng viên Cộng Sản vẫn hưởng các lợi lộc, lại được bảo đảm hưởng lâu dài, không lo mất.

Như vậy thì cái giá mua lại nước Việt Nam như thế tính ra thành bao nhiêu tiền? Làm sao biết được là giá đắt hay rẻ? Muốn trả lời thắc mắc này, cần tính toán theo lối các ngân hàng: Những món tiền sẽ trả trong tương lai đều có thể tính ngược lại thành một cái giá tương đương trong hiện tại.

Cách tính toán này, trong môn Tài Chánh Học (Finance) gọi là “hiện giá” (present value). Thí dụ, mình có trong tay một trái khoán (giấy nợ), trên đó viết rằng người cầm giấy này sẽ được trả 105 đồng, trong một năm nữa. Nếu lãi suất trong thị trường đang là 5% một năm, thì người ta sẵn sàng trả 100 đồng để mua cái giấy nợ đó. Giá trị 100 đồng này là “hiện giá” của lời hứa trả tiền trong tương lai, tính toán rất giản dị. Khi dân Việt Nam hứa cho các đảng viên Cộng Sản được hưởng lương bổng suốt đời nếu họ bán lại đất nước cho mình, số tiền trả trong tương lai đó cũng có thể tính thành một “hiện giá.” Ðó là cái giá mua lại nước Việt Nam.

Muốn cho dễ hiểu, quý bạn hãy tưởng tượng có một người hứa trả cho bạn 100 đồng mỗi tháng, mãi mãi không bao giờ ngừng, đời con đời cháu vẫn được hưởng. Dòng tiền nhận được trong tương lai đó tương đương với bao nhiêu tiền trong hiện tại? Nói cách khác, quý vị sẵn sàng trả bao nhiêu tiền để mua lời hứa đó? Cái giá này chính là “Hiện Giá.” Hiện giá lớn hay nhỏ tùy theo quý vị nghĩ mình đáng được hưởng lãi suất bao nhiêu. Lãi suất cao hơn thì hiện giá thấp hơn.

Thí dụ, nếu lãi suất là 1% mỗi tháng (như lãi suất trung bình mà các doanh nghiệp ở Việt Nam phải trả bây giờ) thì Hiện Giá của dòng tiền 100 đồng đều đặn này là 10,000 đồng. Tại sao? Giản dị lắm, nếu quý vị vay ai 10,000 đồng với lãi suất hàng tháng là 1% thì quý vị sẽ phải trả chủ nợ 100 đồng mỗi tháng, tức 1% của 10,000 ngàn. Nếu lãi suất cao hơn, thí dụ 2% mỗi tháng, thì hiện giá của dòng tiền 100 đồng mỗi tháng đó chỉ còn là 5,000 đồng. Vì nếu vay ai 5,000 đồng, với lãi suất 2%, mỗi tháng cũng phải trả 100 đồng!

Thực tế hơn, thử tưởng tượng tình trạng một người vay nợ để mua nhà. Vay một số tiền gọi là P đồng (thí dụ, 250 ngàn đồng); hứa trả góp trong n tháng (thí dụ, 25 năm tức là 300 tháng), với lãi suất r% mỗi tháng (thí dụ 5% một năm, chia cho 12). Có thể tính số tiền trả mỗi tháng là M đồng, theo công thức:

M=P nhân với{{r(1+r) lũy thừa{n}} rồi chia cho {(1+r)lũy thừa {n} trừ 1}}}

Với thí dụ trên đây, ngân hàng đã tính ra số tiền M trả mỗi tháng là 1,454 đồng.

Ngược lại, nếu một người nhận được 1,454 đồng đồng đều đặn trong 300 tháng, trong khi lãi suất là 5% một năm, thì “Hiện Giá” của các món tiền tương lai đó là 250 ngàn đồng. Tính toán giống như cho vay số tiền 250 ngàn đồng với cùng lãi suất 5% và thời gian trả góp là 25 năm. Hiện giá này cũng cao hay thấp tùy theo lãi suất trong thị trường cao hay thấp.

Lãi suất phải tính ra sao? Trong thị trường tài chánh, dù cho vay trực tiếp, hoặc mua bán trái phiếu, lãi suất cao hay thấp tùy thuộc số tiền hy vọng nhận được trong tương lai chịu bất trắc, rủi ro nhiều hay ít. Mối rủi ro càng lớn thì lãi suất càng cao, để bù lại cho nỗi bất trắc người đầu tư phải chấp nhận.

Bây giờ trở lại với câu hỏi dân Việt Nam nên trả cho đảng Cộng Sản bao nhiêu tiền để mua lại nước Việt Nam; để dân mình tự lo việc quản trị nước mình, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, chấm dút tham nhũng, xây dựng lại đạo lý dân tộc và bảo đảm xã hội công bằng? Về phía người bán, đảng Cộng Sản có thể chấp nhận giá cả là bao nhiêu để họ trả lại nước Việt Nam cho dân Việt?

Theo lối các kinh tế gia Ba Lan 30 năm trước, có thể đề nghị cho các đảng viên Cộng Sản, từ Bộ Chính Trị xuống tới các anh chị cán bộ thôn, xã, cam kết cho họ được hưởng tất cả số lương bổng, trợ cấp và quyền lợi về y tế, xã hội, suốt cuộc đời sau này của họ, cho đến khi chết. Tất cả các món tiền đó có thể tính ra thành hiện giá, cho từng đảng viên. Người nắm quyền cao sẽ được hưởng nhiều, cấp thấp sẽ được ít. Nhưng ai cũng có thể tin rằng họ sẽ còn tiền, họ chỉ mất quyền hành sai bảo hoặc bắt giam người khác mà thôi.

Ðổi lại, đảng Cộng Sản sẽ trao trả lại quyền làm chủ đất nước cho hơn 90 triệu người Việt Nam. Dân Việt sẽ bỏ phiếu bầu một Quốc Hội mới, lập chính phủ mới, lo sửa Hiến Pháp và luật lệ để mọi người đều sống trong dân chủ tự do.

Ðộc giả Người Buôn Mộng, ở San Diego, Hoa Kỳ, đã đề nghị diễn tiến việc trao trả quyền hành theo mấy bước sau đây: Thứ nhất, Bộ Chính Trị đồng thanh tuyên bố đảng Cộng Sản Việt Nam là một sai lầm và thảm họa vĩ đại nhất cho nước Việt Nam, sẽ lập tức được giải thể. Thứ hai, quyền “làm chủ, quản trị, và lãnh đạo” nước Việt Nam sẽ được quyết định trong một cuộc bầu cử tự do, phổ thông, do Liên Hiệp Quốc kiểm soát – giống như ở Campuchia hồi năm 1993 vậy.

Ðộc giả TTNV lạc quan, nhắc lại kinh nghiệm dân Tây Ðức “mua lại” Ðông Ðức từ tay đảng Cộng Sản, nhờ thế nước Ðức đã thống nhất. Mai mốt, dân Nam Hàn có thể sẽ mua lại cả Bắc Hàn từ tay gia đình họ Kim.

Tuy nhiên, bài toán trên đây chỉ nói tới tiền bạc, đến giá cả; còn rất nhiều “ẩn số” chưa đề cập tới. Quý vị nào đã trải qua kinh nghiệm “mua lại nhà của chính mình” từ tay các cán bộ chiếm nhà, hoặc quý vị đã sống qua thời kỳ các nước Cộng Sản đổi chủ, xin mời góp thêm ý kiến.

Này người ơi! Ghé bến sang sông,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 4 Phục Sinh năm C 17/4/2016

 “Này người ơi! Ghé bến sang sông,”

Lên đường đi tới, bõ công em chèo thuyền.

Mừng người đi, tìm thấy Tình Duyên,

Con đường đất nước, nối liền lòng dân.”

Phạm Duy – Con Đường Cái Quan)

(1 Tim 1: 3-6)

Trần Ngọc Mười Hai

Có thể nói, đây là lần thứ hai trong chuỗi ngày dài những phiếm và phiếm, bần đạo lại cứ trích và dẫn những câu hát của nhạc sĩ họ Phạm, tương-tự giòng chảy đầy thương yêu, như sau:

 “Sông Thương ơi! Nước chảy (ý) đôi ba giòng,

Anh về Hà-Nội một lòng…(thương) yêu em!

Sông Thương ơi! Nước đục người đen,

Anh về Thành-phố… không quên cô mình.”

(Phạm Duy – bđd)

Tìm hiểu lý do sao lại có chuyện như thế, có bạn đạo cứ cho rằng: có thể, điều ấy do bởi bần đạo đây sinh ra tại đất “Hà-thành” ngàn-năm-văn-vật, nên mới thế. Có bạn khác, lại vẫn nói: sở dĩ người viết phiếm cứ hay trích-dẫn giòng dân-ca có bát-âm hoặc ngũ-cung rất gần lòng người/lòng mình, như vậy.

Có thể là như thế. Như thế, tức như thể: bạn bè gần/xa lại cứ cho rằng: bầy tôi đây, những muốn kết-duyên Đạo/đời bằng địa-danh hay tên gọi của một cõi rất “lòng người” có yêu thương vần vũ, như “sông Thương nước chảy đôi ba giòng”, như là “giòng thương/yêu” trữ-tình gì đó chăng? Yêu thương “đôi ba giòng”, còn là lòng thòng những là “tình người nhà Đạo” thấy ở Kinh/Sách, mỗi khi  quay về, đến hôm nay.

Cũng có thể, đây là: lời gọi/mời gửi đi khắp chốn để người người quay về với Kinh/Sách rất “sông Thương” có những giòng êm-ả chảy mà bậc thày ở đây đó từng nhắc nhớ. Nhắc và nhớ, bắt đầu bằng “lời cuối” của nhân-vật rất tiếng-tăm ngành vi-tính tên Steve Jobs, như sau:

“Tôi đã đạt đến tột đỉnh của thành công. Trong con mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tưởng của thành công. Tuy vậy phía sau của công việc tôi có rất ít niềm vui. Tài sản của tôi cuối cùng cũng bình hoá với tôi. Trong lúc này trên giường bệnh viện, hồi tưởng về cuộc đời, những lời khen ngợi, tự cao, tự hào về tài sản nhưng tôi cảm thấy thật vô nghĩa trước tử thần, cái chết.

 Trong bóng tối, khi nhìn ánh đèn màu xanh và tiếng ồn ào của máy dưỡng khí, tôi cảm nghiệm được những hơi thở của tử thần rất gần kề. Bây giờ tôi mới hiểu thấu, nếu một lần bạn đã có tiền đủ cho bạn, bạn hãy đeo đuổi một mục đích khác không liên quan đến tiền bạc. Nên tìm một điều gì quan trọng hơn. Ví dụ như là lịch sử tình yêu nhân loại, nghệ thuật, ước mơ tuổi thơ… Đừng làm nô lệ cho vật chất, giàu sang, vì nó sẽ biến bạn thành một người yếu ớt như tôi.

 Thượng Đế tạo dựng chúng ta để cảm nghiệm được tin yêu trong tim, chứ không phải những ảo tưởng về tiền tài, danh vọng như tôi đã làm trong suốt cuộc đời nhưng không thể đem theo tôi được. Tôi có thể mang theo được những kỉ niệm của yêu thương. Đây mới chính là sự giàu sang sẽ có thể đồng hành với bạn, là sức mạnh, ánh sáng soi sáng cho bạn tiến tới. Tình yêu có thể đi hàng ngàn cây số và chính vì thế cuộc đời không có giới hạn. Đi, tiến đến nơi mà bạn muốn, Cố gắng lên để đạt được những mục đích. Tất cả là ở trong tim và trong lòng bàn tay của bạn.

 Cái giường nào đắt giá nhất trên đời? giường bệnh viện, vì nếu có tiền, bạn có thể mướn tài xe lái xe cho bạn, nhưng không thể dùng tiền để thuê người mang bệnh cho bạn. Mất tài sản mình có thể tìm lại được, có một cái khi đã mất thì không thể tìm lại được: sự sống. Dù đang ở giai đoạn nào trong cuộc đời, cuối cùng, tất cả phải đối diện khi bức màn sự sống kéo xuống.

Làm ơn hãy nâng niu và nhận thức được giá trị tình yêu gia đình, tình yêu bạn đời và tình yêu bạn hữu, gìn giữ sức khỏe cho bạn và chăm sóc đồng bào của bạn.” (Bản dịch của bạn bè trên mạng)

Và, thêm một lời “trần tình” khác cũng từ một bậc thày ở đâu đó, rất Úc Châu như sau:

 “Ngày nay, lại thấy nhiều chiều-hướng quyết quay về học-hỏi những điều hàm-ẩn nội-dung đích-thực của Kinh-thánh hơn là ấp-ủ một số luận-điểm như ta vẫn làm trong quá-khứ. Bởi thế, cũng nên quảng-diễn các luận-điểm cốt-thiết và đích-thực của thời-đại qua đó Kinh thánh được viết, theo đúng nghĩa…” (Lm Kevin O’Shea CSsR, Re-Reading the Bible, ACU hôm 6/9/2008 ở Sydney)

Với nghệ-sĩ ngoài đời, thì sự/việc về với nguồn mạch của Kinh/Sách, được diễn-tả theo cung-cách rất khác biệt. Cung và cách của thể-loại âm-nhạc đi vào lòng người như giòng chảy thân thương của “Cưu Long Giang”, sau đây:

“Cửu Long Giang! Gió về vui trên sóng sông,

Uốn quanh như 9 con rồng, ôm chặt đứa con.

Người từ Tiền giang đi về xa xăm cuối con đường say đắm

Là miền rộng thênh thang…”

(Phạm Duy – bđd)

Là gì đi nữa, “miền rộng thênh-thang” hay chốn miền có những “luận-điểm cốt-thiết và đích-thực” của Sách và Kinh đi nữa, vẫn là những luận-cứ rất nên tìm đọc. Đọc để hiểu, rằng: văn-bản, dù là Kinh/là Sách vẫn có những điều cần tìm-hiểu/học-hỏi xem thực/hư ra sao, như lập-trường của một bậc thày thần-học khác, từng xác-chứng bằng lời lẽ chân-tình sau đây:

“Một trong những điều dị-kỳ rất nực cười của đạo-giáo tân-thời hôm nay, là: việc ký-thác vào sự thật biểu-hiện ra bên ngoài qua một vài hình-thức của Đạo Chúa chuyên chú rao-giảng Tin Mừng thật triệt-để; đồng thời kèm theo tầm nhìn bảo rằng sự thật mang tính khách-quan có thể kiểm-chứng được bằng bất cứ nhà quan-sát vô-tư lâu nay từng đưa dẫn nhiều tâm-hồn người đi Đạo tuân theo sự thật ở bất cứ nơi nào nó dắt đến. Và nơi đến, nhiều lúc lại cũng “xa vời” với Đạo của Chúa rất triệt-để hoặc đầy tính giảng rao.

 Thành thử, nếu trên lý-thuyết ta có khả-năng kiểm-chứng được sự thật “khách-quan” của đạo-giáo và rồi thấy rằng: hoá ra, đạo-giáo đang kiểm-chứng lại sai trái một cách có thể kiểm-chứng được, thì sự việc ấy đưa ta đi về đâu?…

 Càng học hỏi sự thật của Kinh Sách về Đạo Chúa, đặc biệt là về Kinh/Sách, bản thân tôi càng nhận ra rằng: “Sự thật” lại đã dẫn đưa tôi về chốn miền nào đó tôi không đi đến… Và tôi đi đến một cảm-nghĩ hiểu rằng Kinh Sách xưa nay không thể là những gì tôi từng nghĩ. Kinh Sách cũng chứa đựng nhiều sai sót. Và nếu là sách mà lại chứa đựng sai sót, thì đó không thể hoàn toàn đúng thật được. Và đây là vấn-đề đối với tôi, do bởi tôi cứ muốn tin vào sự thật, sự thật thần thiêng thánh ái và tôi đã đạt giai-đoạn thấy được rằng Kinh Sách không là sự thật thần thiêng mà lại không có tàn dư. Kinh Sách thật là sách rất con người.

 Nhưng vấn-đề không dừng lại ở đó. Cuối cùng ra, tôi đạt đến tư-duy nhận ra rằng: Kinh Sách không chỉ chứa đựng những sự-không-thật hoặc các lỗi sai sót bất chợt xảy đến mà thôi, nhưng Kinh Sách cũng chứa đựng những gì mà gần như bất cứ ai sống vào thời này có thể gọi đó là sai lầm. Và đó là những gì tôi muốn viết, ở sách này. Hôm nay. (Gs Bart D. Ehrman, Forged, Why the Bible’s Authors Are Not Who We Think They Are, HarperOne 2011 tr. 3-5)

Thoạt nghe những lời trần tình hoặc trần-thuật rất tình người ở trên, hẳn rằng nhiều người lại sẽ nhớ đến Lời Vàng khi xưa Phaolô thá`nh-nhân từng căn-dặn thừa-tác-viên đồng-hành và là đệ-tử thân thương, rằng:

“Khi đi Makêđônia, tôi đã khuyên anh ở lại Êphêsô

để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác,

cũng đừng chú ý đến những chuyện hoang đường

và những gia phả dài dòng; những cái đó chỉ gây ra tranh luận,

chứ không đóng góp vào kế-hoạch của Thiên-Chúa mà đức tin cho chúng ta biết.

Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch,

lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình.

Vì đi trệch đường lối ấy, một số người đã sa vào tật nói rỗng tuếch.

Họ muốn làm thầy dạy luật, nhưng lại không hiểu cả điều mình nói lẫn điều mình xác quyết.”

(1 Tim 1: 3-6)

Nói như thế, là nói theo bài-bản của những Kinh và Sách, rất công-khai. Nói về những điều hệt như thế, giống như kiểu nói của người ngoài luồng, ở đời, là nói bằng truyện kể dân-gian có những ý và tình như sau:

“…Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học VN. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa dược.

 Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn. Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng… Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, “J.D. Steinberg” được vinh danh trên bảng đồng.

 Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

 Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

 Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi…v…v… Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

 Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái “donut” ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

 Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không? Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa. Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này. Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

 Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm. Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu. Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở VN và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

 Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội. Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi. Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và BS John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quí.

 Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, thần tượng BS Albert Schweitzer. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

 Sau khi tốt nghiệp y khoa Mc Gill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại bệnh viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y sĩ Đại uý John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc liên đoàn 5 lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

 Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

 Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá VN tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, y tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần tổng y viện Cộng Hoà điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh “Công ngủ” thành “Công không ngủ”.

 Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại “Công không ngủ”. Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên “Công không ngủ” nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

 Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

 Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi. Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

 Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến “Công không ngủ”, hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của BS Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

 Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

 Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

 Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

 Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

 Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

 Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs Steinberg…

 Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái “donut” mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

 Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

 Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó. Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà. Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

 Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời…, mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi…. Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về…. Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ…. Mẹ nhớ…Mẹ nhớ…. Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học…. Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con… đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con. Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

 Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, “THẰNG TẦU CON CỦA MẸ”. Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ! Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức…Mẹ, Mẹ… rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

 Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp. Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

 Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

 Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

 Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

 Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

 Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật. Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư. Di chúc chính thức qui định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

 Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

 Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. “Định mệnh đã an bài”, không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.

– Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

– Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền…lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến. Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

 Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

-Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ TÂY…có con là “thằng Tầu con”. (Truyện ngắn của Nguyễn Cát Thịnh, Bà Mẹ Tây, 1/4/2014)

Nói, bằng truyện kể về nhân-sinh-quan/lập-trường sống của người này người khác, thì như thế. Nói như thế cũng có thể không hài-hoà với đề-tài mình bàn-luận. Nhưng, có nói bằng sách, mách bằng chứng rất lớp-lang, lai-lịch một bài dạy của Kinh Sách, phải nói thêm nhiều điều khác rất khó nói. Bởi, đó chỉ toàn những nói và nói, thôi.

Hôm nay, người viết thấy ít hứng-thú để nói, chỉ muốn về với giòng chảy thi-ca và âm nhạc, bèn hát một đoạn làm câu kết, như sau:

“Này người ơi! Ghé bến sang sông,”

Lên đường đi tới, bõ công em chèo thuyền.

Mừng người đi, tìm thấy Tình Duyên,

Con đường đất nước, nối liền lòng dân.”

(Phạm Duy – bđd)

Hát thế rồi, bây giờ mời bạn và mời tôi, ta cứ tiến bước hân hoan mà sống sao cho xứng hợp danh tánh của một “Kitô-khác” rất thân thương, bình thường, không sai lạc. Tiến bước rồi, hạ hồi sẽ tính.

Trần Ngọc Mười Hai

Nhiều lúc cũng muốn tính

Những chuyện dân-gian bàn luận

Hay chuyện của chính mình

Cũng không xong.