‘Có vấn đề’ về phương pháp xếp hạng VN là quốc gia hạnh phúc thứ 5 thế giới

 ‘Có vấn đề’ về phương pháp xếp hạng VN là quốc gia hạnh phúc thứ 5 thế giới

VOA

Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc đo lường mức độ hạnh phúc của một nước trong mối liên hệ với sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước.

Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc đo lường mức độ hạnh phúc của một nước trong mối liên hệ với sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước.

Báo Independent của Anh hôm 21/7 đưa tin Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách 10 nước hạnh phúc nhất thế giới. Đây là kết quả đánh giá về Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc của Quỹ Tân Kinh tế học ở Anh. Chỉ số này đo lường mức độ hạnh phúc của một nước trong mối liên hệ với sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước.

Sau khi tin này được báo chí trong nước đưa lại, nhiều người Việt Nam đã bày tỏ trên mạng xã hội rằng kết quả đó chỉ nên coi là tính tham khảo vì trên thực tế mức độ hài lòng với cuộc sống ở Việt Nam còn thấp, chưa nói đến hạnh phúc.

Chia sẻ với quan điểm vừa kể, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội tại Hà Nội, chỉ ra rằng phương pháp phỏng vấn, lấy mẫu ở Việt Nam của Quỹ Tân Kinh tế học có thể không đúng đối tượng. Bà nói với VOA:

“Tôi cho rằng tất cả các tiêu chí đó của Việt Nam đều có vấn đề. Tuổi thọ của Việt Nam cũng không phải là cao. Về môi trường thì rõ ràng là có quá nhiều vấn đề. Việc khai thác tài nguyên của Việt Nam từ trước đến nay rất là không bền vững. Việt Nam đang ở trong thời kỳ mà cái phân tầng xã hội nó càng ngày càng lớn. Ở Việt Nam có một số những người rất giàu, còn lại có những người rất nghèo. Cái bất bình đẳng tôi nghĩ nó khá là rõ. Nếu mà nói về bình đẳng thì cũng rất là khó để xếp Việt Nam ở một cái top cao của hạnh phúc. Tôi cảm thấy những cái đánh giá, nghiên cứu đấy có thể rất có vấn đề về phương pháp”.

Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam nằm trong nhóm các nước hạnh phúc nhất thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế khác, kể cả Viện Gallup của Mỹ, trong các năm trước như 2009, 2012 cũng từng xếp Việt Nam trong số các nước hạnh phúc hàng đầu thế giới với căn cứ vào các tiêu chí khác nhau.

Mặc dù vậy, bất cứ khi nào các kết quả như vậy được đưa ra, luôn có đông đảo người Việt Nam cho rằng việc xếp hạng đó không phản ánh đúng thực tế. Để có đánh giá chính xác hơn về mức độ cảm nhận hạnh phúc ở Việt Nam, Tiến sỹ Hồng nêu ra yếu tố cần được tập trung nhất vào:

“Hiện nay có lẽ thiết thực nhất là chữ an toàn. An toàn đây là nói an toàn trong thực phẩm, an toàn giao thông, an toàn trong môi trường xã hội. Những cái mâu thuẫn xã hội hiện nay rất dễ dàng bùng nổ. An toàn nói chung ở Việt Nam bây giờ tôi nghĩ là rất là có vấn đề. Tôi nghĩ đối với người Việt Nam thì có lẽ đấy là một trong những vấn đề hết sức là ưu tiên. Thế rồi là vấn đề ô nhiễm môi trường. Cái môi trường sống hiện nay cũng không an toàn. Môi trường tự nhiên đang bị phá hủy”.

Bà viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội cũng gợi ý cần chú ý đến các dịch vụ xã hội cơ bản như dịch vụ giáo dục, y tế. Các khảo sát của chính một số cơ quan ở Việt Nam gần đây đã chỉ ra rằng người dân Việt Nam “hoàn toàn không hài lòng” vào các dịch vụ này. Bà Hồng bình luận:

“Nếu mà các vấn đề an toàn như tôi vừa nói đang có vấn đề, rồi những dịch vụ xã hội cơ bản cũng chưa đáp ứng thế thì khó có thể nói là người Việt Nam cảm thấy hạnh phúc được”.

Bà Hồng cũng nhắc đến thực tế là hiện nay đang ngày càng có nhiều người Việt Nam đi định cư ở nước ngoài. Bà nhận xét rằng “việc đó thể hiện chắc chắn là có nhiều người không hài lòng với cuộc sống ở đây”.

Theo cách đánh giá của Quỹ Tân Kinh tế học Anh, nước Costa Rica nhỏ bé ở Nam Mỹ là nước hạnh phúc nhất thế giới. Quỹ cho hay Đứng thứ nhì là Mexico mặc dù nước này có nạn tham nhũng và bạo lực băng đảng hành hoành. Trong nhiều năm nay, đã có một số lượng lớn người dân Mexico tìm nhiều cách để nhập cư vào Mỹ để tìm kiếm các cơ hội kinh tế trong khi Mỹ chỉ xếp hạng 108 về hạnh phúc trong bảng kết quả vừa rồi.

Việt Nam ‘hạnh phúc thứ 5 thế giới’

Việt Nam ‘hạnh phúc thứ 5 thế giới’

BBC 

Image copyright GETTY

Costa Rica được nêu tên là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo một báo cáo hàng năm có tên Happy Planet Index.

Năm nước xếp đầu năm nay là Costa Rica, Mexico, Colombia, Vanuatu, Việt Nam, trên tổng số 140 nước.

Báo cáo này của New Economics Foundation đặt ở London, làm lần đầu tiên từ 2006.

Họ đo mức độ hài lòng nói chung của người dân dựa theo thăm dò của Gallup, tuổi thọ theo Liên Hiệp Quốc, bất bình đẳng thu nhập, và ảnh hưởng của từng cá nhân lên môi trường dựa theo dữ liệu của Global Footprint Network.

Anh quốc xếp thứ 34, còn Mỹ đứng thứ 108.

Chúng Ta/ Chúng Nó & Tiếng Nước Mình

Chúng Ta/ Chúng Nó & Tiếng Nước Mình

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien's picture

tuongnangtien

RFA

Có lần, tôi (trộm) nghe giáo sư Đỗ Mạnh Tri nói rằng: “Rồi chế độ toàn trị sẽ chấm dứt tại Việt Nam. Nhưng người Việt Nam không thể xây dựng đất nước bằng cách phủ định thực tại Việt Nam. Trong thực tại ấy, có Mác.”

Thế còn Mao? Học thuyết Marx – Lénine, tư tưởng Mao Trạch Đông và tác phong Hồ Chí Minh mà. Chính Mao (chứ không phải là Hồ) mới là soạn giả của thảm kịch Cải Cách Ruộng Đất, và là tác giả của của cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với sản phẩm phụ là vô số những từ ngữ thô bạo phát sinh ngay sau khi ĐCSVN phóng tay phát động quần chúng:

“Cán bộ:’Tại sao thằng hào Thức nó lại sướng cao độ thế?’

Chị cốt cán: ‘Nó sướng cao độ thế là vì nhà nó đi bóc lột nhân dân.’

Cán bộ: ‘Thế tại sao chị lại khổ cao độ thế?’

Chị cốt cán:’Em khổ cao độ thế là vì em bị nó bóc lột em trên một cái vấn đề đi ở cho nó mười mấy năm.’ ‘Hôm nay em không đi họp được vì nhà em nó cứ khống chế em.’

Chúng ta không được phóng tay lỏng lẻo, mà phải phóng tay chặt chẽ.

Bần cố nông là con đẻ Cụ Hồ, dân nghèo là con nuôi thôi, nên mới đề ra chiếu cố.

Vì giai cấp địa chủ bóc lột mấy nghìn năm nay nên chị Phước mới bị toét mắt.” (Trần Dần – Ghi chép về Cải cách Ruộng đất ở Bắc Ninh 1955-1956. Phạm Thị Hoài biên soạn).

Ở thời điểm này, có lẽ, vì ngôn ngữ cách mạng chưa kịp đi sâu vào lòng quần chúng nên mẫu đối thoại thượng dẫn (nghe) vẫn còn hơi ngọng nghịu. Với thời gian, cùng với cuộc chiến giải phóng miền Nam, ngôn từ chiến tranh mới trở nên phổ cập và mỗi lúc một thêm… nhuần nhuyễn:

“Có một lần từ mặt trận đường 9 ghé về thăm nhà, tôi gặp đúng đêm máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Còi báo động từ Nhà hát Lớn rú vang. Quầng sáng ánh đèn điện phía nội thành bỗng như dụi tắt bớt. Rồi những chùm đạn phòng không đỏ lừ thun thút lao lên vòm trời. Rồi bom nổ phía Yên Viên, Cầu Giát…

Còi báo yên, đàn chó trong làng vẫn sủa râm ran, đường làng ngõ xóm vẫn rậm rịch bước chân người, không một ai ngủ lại cả. Các cô các chị thức thẳng từ lúc đó cho tới lúc quẩy gánh rau húng, rau thơm tới các phiên chợ sớm. Người làng Láng chia sẻ âu lo với người nội thành như thế đấy!

Giữa phút tĩnh lặng, nghiêm trang ấy tôi bỗng nghe có tiếng gì động mạnh như tiếng ai đập chiếu trên mặt ao, tiếng đổ vỡ  loảng xoảng, ngay sau đó là tiếng kêu la của một người đàn bà:

Ối bà con xã viên đội một, đội hai, đội ba, đội bốn ơi! Lão chồng tôi tàn ác, thâm độc như đế quốc thực dân. Nó đánh tôi trường kỳ, gian khổ như thế này làm sao tôi chịu nổi?”

Đêm sau máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội. Đúng vào giây phút không ai chợp mắt nổi ấy, bà Hin lại chạy bổ ra đường la hét váng động cả xóm:

Ới bà con xã viên ơi! Chiều nay lão chồng tôi không nấu cơm cho tôi ăn. Nó còn giấu biệt hòm gạo đi. Nó rắp tâm triệt hạ kinh tế tôi đấy mà!” (Tô Hoàng – “Nỗi Buồn Lâu Qua.” Talawas blog).

Chiến lược, cũng như chiến thuật, trong trận chiến giữa bần nông và phú nông Việt Nam được chỉ đạo sát sao từ nước XHCN anh em Trung Quốc. Cuộc chiến Bắc/Nam cũng vậy. Không ít lương thực, vũ khí, đạn dược, cùng vô số những từ ngữ (mới) cũng đều được chi viện từ nước bạn láng giềng: bảo quản, bồi dưỡng, cải thiện, đại trà, đăng ký, đề xuất, đột xuất, động viên, kiểm điểm, kiểm thảo, hộ khẩu, hộ chiếu, hộ lý, khẩn trương, nhất trí, quản lý, sư trưởng, sự cố, tham quan, thiết kế, tranh thủ, trợ lý, xuất khẩu, xử lý …

Nguồn ảnh: nhabe.hochiminhcity.gov.vn

Nhà phê bình văn học & văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: “Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…”

Đôi lúc, tôi còn nghĩ thêm là tiếng nói của miền Bắc (trong nhiều thập niên qua) cũng thế, cũng là thứ ngôn từ của thời chiến chinh, cũng “chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao … cách mạng.”

Chiến cuộc rồi tàn. Bắc/Nam thống nhất. Nam/Bắc hoà lời ca. Nhiều triệu người dân (ở vùng địch tạm chiếm) ca không nổi nên đã liều mạng đâm xầm ra biển, hoặc ù té bỏ chạy thục mạng qua biên giới xứ người.

Họ chết bờ, chết bụi, chết dấm, chết dúi, chết đói, chết khát, chết đâm, chết chém, chết đạn, chết mìn, chết chìm, chết nổi, chết trôi, chết đuối (ôi thôi) nhiều vô số kể! Đám này chết “cũng tốt thôi” vì toàn là những kẻ thuộc thành phần bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” –theo như nguyên văn lời giải thích của Chính Quyền Cách Mạng với dư luận thế giới bên ngoài, và với lũ cột đèn (còn) kẹt lại.

Không hiểu những người vượt biên đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng “bơ thừa sữa cặn” mà họ gửi về cố hương đã (lắm phen) cứu được toàn dân, cũng như toàn Đảng thoát chết … vì đói khát!

Từ đó, Đảng mới “dũng cảm” đổi mới tư duy và – đồng thời – đổi giọng. Những kẻ phản bội tổ quốc (qua đêm) bỗng  trở thành “khúc ruột xa ngàn dặm,” và là “thành phần không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc.”  Nghị Quyết số 36-NQ/TƯ – về “Công Tác Ðối Với Người VN Ở Nuớc Ngoài”- đã ra đời (hơi muộn) vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, dựa trên cơ sở đó.

N.Q này, tiếc thay, không phát huy được chút hiệu quả nào ráo nạo. Những khúc ruột xa ngàn dặm vẫn nhất định giữ nguyên thái độ xa cách, và coi mọi thứ “ma zê in” Việt Nam (Bộ chính Trị, Chính Phủ, Nhà nước, Quốc Hội… ) đều không khác gì những nùi giẻ rách – kể cả những hạn từ trong tiếng nói hằng ngày mà họ gọi một cách miệt thị là chữ Vẹm hay chữ Việt Cộng:

Chúng ta nói là “phát ngôn viên” thì chúng nói là: “người phát ngôn”

Chúng ta nói là “thăm viếng” thì chúng nói là “tham quan”

Chúng ta nói là “ghi danh” thì chúng nói là “đăng ký”

Chúng ta nói là “đá bóng” thì chúng nói là “bóng đá”

Chúng ta nói là “yếu điểm” thì chúng nói là “điểm yếu”

Chúng ta nói là “trở ngại” thì chúng nói là “sự cố”

Chúng ta nói là “xuất cảng” thì chúng nói là “xuất khẩu”

Chúng ta nói là “liên lạc” thì chúng nói là “liên hệ”

Chúng ta nói là “hiểu rõ” thì chúng nói là quán triệt”.

Chúng ta nói là “viên chức” thì chúng nói là “quan chức”.

Chúng ta nói là “chuyển âm” thi chúng nói là “lồng tiếng”.

Chúng ta nói là“dẫn giải” thì chúng nói là “thuyết minh”.

Nguồn ảnh: tếu.blogspot.com

Tôi vốn tính hơi ba phải nên rất sợ chuyện chia phe; đã thế, khi nhìn thấy một đường ranh rạch ròi, phân chia bạn/thù (quyết liệt) giữa “chúng ta/chúng nó” thì không khỏi sinh lòng ái ngại, cùng với đôi chút băn khoăn.

Uả, chớ “chúng” là ai vậy – hả Trời?

Chúng có phải là vài chục triệu đồng bào miền Bắc, những nạn nhân đầu tiên của chế độ hiện hành, những kẻ đã bị tra tấn không ngừng – từ hai phần ba thế kỷ qua – bởi cả một cái hệ thống truyền thông (loa/ đài/ sách/ báo) của ĐCSVN không?

Chúng – không chừng – cũng dám là ông hay bà hàng xóm, những người cùng đi chung chuyến vượt biên với chúng ta (hai ba mươi năm trước) chớ ai? Chúng ta nhờ may nên đến được Bangkok, còn họ vì xui  nên phải vào ngồi (bóc lịch) ở Băng Ki.

Và chúng có phải là những người trẻ cỡ tuổi con cháu của chúng ta, sinh ra và lớn lên “trong lòng cách mạng,” chưa bao giờ có dịp tiếp xúc với một thứ ngôn từ nào khác ngoài tiếng Vẹm (hay tiếng Việt Cộng) không?

Ngôn ngữ có đời sống và tuổi thọ riêng của nó. Sinh mệnh của cái được gọi là tiếng Vẹm; tuy thế, tuỳ thuộc không ít vào sự tồn vong của chế độ hiện hành.

Tiếng Việt Cộng chỉ thôi phổ cập, và dần bị đào thải, sau khi chế độ này không còn có thể tiếp tục hoành hành nữa. Và việc dứt điểm nó sẽ không thể xẩy ra nếu mọi người vẫn cứ giữ khư khư cái lằn ranh phân chia bạn/thù (“chúng ta/chúng nó”) giữa lòng dân tộc.

Công lý thực sự như một bóng ma

Công lý thực sự như một bóng ma

FB Lê Văn Luân

21-7-2016

ĐỨT GÃY

H1

Đã có lần tôi từng nói, công lý, thực sự như một bóng ma. Đến giờ, càng thấy nó đúng đắn hơn khi chứng kiến những mảnh đời, phận người ăn chực nằm chờ hàng tháng, hàng năm trời, bỏ nhà cửa, quê hương, người thân để lên số 01 Ngô Thì Nhậm, cơ quan tiếp dân trung ương, để kêu oan, để gửi đơn, và cả để gào thét giữa chốn công quyền này để tiếng kêu ấy không trở thành khói lời vô nghĩa trước những vành tai và màng nhĩ không còn để nghe nữa.

Ảnh đầu tiên là bà Phúc ở Trà Vinh, người đã được đối thoại với ông Tổng thanh tra chính phủ và được giải quyết với các nội dung: thu hồi đất không có quyết định đền bù; bồi thường theo giá rẻ mạt mà không đúng giá thị trường; không có phương án bồi thường chi tiết và không lấy ý kiến các hộ dân. Trong văn bản giải quyết trực tiếp, ông Tổng thanh tra (Huỳnh Phong Tranh) đã yêu cầu xem xét trường hợp này và có báo cáo với Thủ tướng chính phủ để xử lý việc của bà. Nhưng đến nay vẫn là văn bản trên giấy và những ngày kêu oan cực nhọc trong vô vọng.

Bên cạnh đó là người đàn ông tật nguyền mất một chân bên phải, ông từng tham gia cách mạng và bị tù đày, nay lại rơi vào cảnh mất đất, mất nhà, con cái thất học và ông phải tá túc tại những mái hiên lề đường để khiếu kiện, nhưng chỉ rơi vào im lặng và thinh không.

Rồi một người đàn ông ở Hà Nam cũng lâm vào cảnh tương tự, cũng phải vật vờ nơi này trước cảnh những bảo vệ rất biết nghe lời cấp trên để bảo vệ những hành lang khép kín khiến người dân khó thể nào tiếp cận được những phòng họp khang trang và các cán bộ mẫn cán của nhà nước phía trong.

Ở ngoài sân nắng nóng oi bức, thỉnh thoảng lại có mấy người đứng kêu to lên với khuôn miệng hướng vào những tầng nhà đang buông rèm nhiếp chính.

Trước đó, những thân chủ của tôi đã từ tỉnh lên trụ sở tiếp dân trung ương từ sớm để “bấm số” mà lấy lịch gặp người có thẩm quyền giải quyết vụ việc đến vài năm nay cứ trả đi trả lại nhưng không có động thái nào theo luật định. Đến nơi, luật sư còn bị từ chối cho vào với lý do “cơ quan đã có luật sư nên không cần luật sư nữa”. Chuyện vi phạm pháp luật thực rất ngang nhiên và đến giờ tôi thấy hầu hết các cơ quan muốn đẩy luật sư ra khỏi một vụ việc pháp lý. Họ e ngại điều gì?

Tôi đã nhìn mặt những người bảo vệ mà khẳng khái: các anh đang vi phạm luật một cách trắng trợn. Ngăn cản quyền có luật sư của công dân. Các anh đừng bất chấp mà nghe lời cấp trên, phải biết đúng, sai thế nào. Và khi người thân của các anh rơi vào cảnh này các anh mới biết ra sao.

Tôi ra ngoài quán đối diện ngồi chờ, một bác lớn tuổi ở Long An nhận ra tôi, bác đã từng qua văn phòng và được các luật sư trợ giúp một vài việc miễn phí để cho bác và vài hộ dân đi cùng khiếu nại. Nhưng rồi hôm nay gặp lại, chẳng có gì thay đổi cả, khi vụ việc và những lời kêu cứu đó vẫn cứ như muối bỏ bể, không được xem xét mà cứ đẩy đi đẩy lại, từ cơ quan trung ương đến tỉnh, rồi vòng lại từ tỉnh đến trung ương. Mệt mỏi thế mà những người dân già cả này vẫn cứ miệt mài tìm kiếm một bóng ma mà cả đời họ chưa từng thấy – công lý.

Chuyện hai thanh niên vì đói ăn mà cướp giật hai ổ bánh mỳ và chịu án tù giam với tổng cộng 18 tháng 20 ngày, đó chưa phải là điều gì ghê gớm cả, vì họ được nuôi ăn, có phòng ở, rồi sau ít thời gian hai cậu thanh niên đó lại trở về cuộc sống mà mưu sinh. Nhưng những người dân mòn mỏi gào thét giữa nơi phồn hoa, mọi tiếng kêu rơi vào thinh lặng, trước sự thờ ơ của nhiều con người, của những quy trình và hệ thống chức năng vô cảm khủng khiếp, không nơi ăn, chốn ở, mất tài sản rồi tan tác cả tình thân, mới là những mảnh đời nghiệt ngã thực sự. Vì họ không tìm bánh mỳ để ăn, mà họ tìm quyền sống của chính mình, mà chưa thấy có chút gì hiển hiện, mặc dù đã phải vung bỏ bao tháng năm cuộc đời còn lại ít ỏi phía sau.

Giải quyết cho dân thì ì ạch như thế, nhưng truy tố dân thì rốt ráo, quyết liệt và đến cùng, từ những việc nhỏ nhặt nhất. Nhưng họ sẵn sàng bỏ rơi những quyền lợi chính đáng của người dân khi nó xung đột với lợi ích nhà nước hoặc công quyền. Và họ cũng sẵn sàng bỏ qua hay nương nhẹ, dung dưỡng cho những hành vi tham ô, nhũng nhiễu, đục khoét và kể cả những hành vi đầu độc diện rộng, một cách bất chấp luật pháp.

Vẫn có những người đường đường chính chính thăng quan, tiến chức, đường quan lộ thênh thang, sau những hậu quả kinh hoàng mà họ gây ra cho xã hội.

Tôi tự hỏi, phải dồn bao nhiêu nỗi bức xúc của dân chúng lại và xô đẩy bao nhiêu mảnh đời người khác vào cảnh khốn cùng thì mới đủ để có điều phải có cho một xã hội đang ngày càng đứt gãy những giá trị văn minh mà dần tới sự hủ bại, vô pháp, vô nhân?

Dân chúng, đã quá khát tình người, niềm tin và lẽ phải, trong một xã hội mà gần như tất thảy đã đảo lộn nhưng luôn sẵn đúng theo một quy trình ma quái nào đó.

Ảnh: tôi chụp lúc gần trưa nên là thời điểm “vắng nhất” và đúng lúc người dân “nấu bữa trưa” ở trụ sở tiếp dân TW.

Người bị mạo nhận

Người bị mạo nhận

Trải qua nhiều thế kỷ, thánh nữ Maria Madalena bị mạo nhận là người đàn bà tội lỗi. Nhưng thiết nghĩ: Thánh nữ chỉ mỉm cười và xác quyết rằng: “Sự mạo nhận này cũng không có gì là quá đáng, vì chúng ta tất cả là những người tội lỗi, cần thống hối ăn năn và cần ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Ngoại trừ Mẹ Của Chúa Giêsu, trong các Phúc Âm ít có phụ nữ nào được viét đến nhiều và với đầy sự tôn kính bằng thánh nữ Maria Madalena mà Giáo Hội mừng lễ hôm nay.

Tuy nhiên, người ta có thể gọi Maria Madalena là thánh nữ của sự vu oan vì tuy các Phúc Âm nói đến ba phụ nữ cùng mang tên Maria, nhưng truyền thống trong Giáo hội Tây phương đồng hóa cả ba thành một người phụ nữ duy nhất. Bởi lẽ đó, Maria Madalena cũng được cho là người phụ nữ tội lỗi không được nêu tên trong đoạn 7 của Phúc Âm thánh Luca, người đã bất chợt đem bình dầu thơm xức chân Chúa Giêsu rồi lấy tóc lau và sau đó được Chúa Giêsu tha thứ mọi tội lỗi, vì bà đã yêu mến nhiều.

Ngày nay, người ta phân biệt ba thánh nữ mang cùng một tên Maria, mà từ lâu lịch phụng vụ của Giáo Hội Hy Lạp đã kính riêng rẽ. Ðó là Maria làng Batania, chị bà Martha và ông Lazarô. Rồi người phụ nữ đã được tha nhiều vì yêu mến nhiều và sau cùng là bà Maria Madalena, hoặc Maria làng Madala, người được Chúa chữa khỏi “7 quỷ dữ”. Cách nói “7 quỷ dữ” này không thể hiểu là Maria Madalena đã sống một cuộc đời vô luân, nhưng chỉ có nghĩa là bà bị quỷ ám nặng nề.

Ðoạn 8 của Phúc Âm thánh Luca thuật lại hoạt động của thánh nữ Maria Madalena và một ít phụ nữ khác như sau: “Sau đó, Chúa rảo qua các thành, các làng mà rao giảng… Có nhóm Mười Hai đi với Ngài và ít phụ nữ đã được chữa lành khỏi quỷ dữ cùng bệnh hoạn: Maria gọi là người Madala, đã được đuổi khỏi 7 quỷ dữ và Gioanna… cùng nhiều bà khác: Họ đã lấy của cải mình mà trợ giúp Ngài”.

Và con đường nối gót theo thầy Giêsu đã dẫn Maria Madalena từ Galilêa đến Giuđêa, cho tới chân thập giá và chính Marian Madalena cũng là người trước tiên tìm đến mộ Thầy, vào sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, để được thấy Chúa Giêsu Phục Sinh và được trao cho nhiệm vụ đi báo cho các tông đồ: “Hãy đi gặp anh em Ta và nói với họ: Ta lên cùng Cha ta và cũng là Cha anh em, Thiên Chúa của ta và Thiên Chúa của anh em”.

Theo truyền thống Hy Lạp, sau này Maria Madalena đến sống tại Êphêsô cho đến khi qua đời.

Trải qua nhiều thế kỷ, thánh nữ Maria Madalena bị mạo nhận là người đàn bà tội lỗi. Nhưng thiết nghĩ: Thánh nữ chỉ mỉm cười và xác quyết rằng: “Sự mạo nhận này cũng không có gì là quá đáng, vì chúng ta tất cả là những người tội lỗi, cần thống hối ăn năn và cần ơn tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng quan trọng hơn là chúng ta hãy chấp nhận sứ mệnh rao truyền Tin Mừng Phục Sinh qua cuộc sống chứng tá của chúng ta”.

Nguồn: R.Veritas

Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc

Phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Sốc lại Tinh thần Dân tộc để cứu Dân tộc

“Mệnh lệnh của tổ tiên chúng ta là hãy giữ cho bằng được di sản của tổ tiên. Không có một món tiền nào có thể mua được sinh mệnh của mấy chục triệu người con đất Việt dải đất miền Trung. Không có một nhà máy thép nào có thể cho hàng triệu ngư dân cuộc sống như là biển cả.  Vì vậy, chắc chắn người dân Miền Trung sẽ khước từ mấy triệu đồng gọi là bồi thường của Formosa vì cái họ cần là biển sạch, là tôm cá đầy khoang mỗi khi thuyền về bến. Và như vậy chỉ có cách là phải yêu cầu chính phủ Việt Nam đóng cửa và chấm dứt hoạt động của Formosa, yêu cầu Formosa phục hồi các miền biển chết cho đến khi trở lại bình thường”.

_____

Phạm Thanh Nghiên

21-7-2016

Nguyễn Xuân Diện. Ảnh:

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện sinh năm 1970 tại Làng cổ Đường Lâm, xứ Đoài, một ấp sinh hai vua là những vị anh hùng dân tộc đó là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Nguyễn Xuân Diện tốt nghiệp ngành Hán Nôm, ĐH Tổng hợp HN năm 1992; bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2007 về đề tài Ca trù. Đây cũng là luận án Tiến sĩ đầu tiên về Ca trù tại Việt Nam.

Từ sở học và hiểu biết của mình, TS Nguyễn Xuân Diện đã cất lên tiếng nói phản biện về nhiều mặt trong đời sống văn hóa nước nhà. Ông tham gia phản biện với tinh thần “tự nhiệm” và đầy kiêu hãnh của kẻ sĩ. Ông hầu như không vắng mặt trong các cuộc tưởng niệm, biểu tình ôn hòa tại Hà Nội từ năm 2011 đến nay để bày tỏ lòng yêu nước, phản đối nhà cầm quyền Bắc Kinh gây hấn trên Biển Đông, tranh đấu cho sự vẹn toàn lãnh thổ; hoặc các cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh Hà Nội, bảo vệ biển Miền Trung mới đây.

Nguyễn Xuân Diện là chủ trang Blog với hàng chục ngàn lượt truy cập mỗi ngày với tin bài phong phú, cập nhật, trung thực và khách quan, là nơi bạn đọc khắp trong và ngoài nước gửi gắm niềm tin tưởng và quý mến.

Mới đây, ông đã tự ra ứng cử đại biểu Quốc hội với mong muốn đem trí tuệ và tâm huyết để thực thi “quyền lực” của một đại biểu Quốc hội trước các vấn đề lớn của đất nước hôm nay. Rất tiếc là đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Mặt trận – một tổ chức ngoại vi của đảng đã loại ông ngay sau vòng hiệp thương thứ hai.

Phạm Thanh Nghiên có dịp trò chuyện cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện để thảo luận về một đề tài – rất tiếc, không nhiều người quan tâm, nhưng lại là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia: Văn hóa và tinh thần dân tộc.

Phạm Thanh Nghiên: Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, xin cảm ơn ông đã vui lòng dành cho tôi cuộc trò chuyện hôm nay. Thưa ông, là một nhà nghiên cứu về Hán Nôm, về văn hóa và lịch sử, xin ông cho biết một cách khái quát về sự ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc đối với nước ta như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử ?

Nguyễn Xuân Diện: Trước hết xin cám ơn cô Thanh Nghiên đã hỏi đến tôi, và lại hỏi về một vấn đề mà tôi có chút hiểu biết, có quan tâm.

Về ảnh hưởng của văn hóa Phương Bắc, mà ở đây là văn hóa Trung Hoa, thì đây là vấn đề thuộc về quy luật. Các nền văn hóa lớn, lâu đời luôn ảnh hưởng lớn mạnh và sâu rộng ra chung quanh nó. Văn hóa Trung Hoa do vậy, có sức ảnh hưởng ghê gớm tới chung quanh như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Một trong những ảnh hưởng lớn nhất, mang tính quyết định là ảnh hưởng của chữ Hán đến các nước vừa kể, và từ đó người ta gọi chung các nước có sử dụng chữ Hán là các nước trong khối “chữ vuông” (tức mỗi chữ được trình bày trong một ô vuông).

Chữ Hán là một văn tự lâu đời. Từ chữ Hán đã làm xuất hiện những đỉnh cao của văn hóa Trung Hoa và thế giới như: Sở từ, Hán phú, Đường thi, từ Tống, tiểu thuyết Minh Thanh, nghệ thuật thư pháp…

Do điều kiện lịch sử, chữ Hán đã được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam, rồi từ đó lại tiếp tục được sinh sôi tạo nên các chữ viết mới mà chữ Nôm của người Việt Nam là một ví dụ (chúng ta có chữ Nôm – Việt, chữ Nôm – Tày, chữ Nôm – Dao…). Ngôn ngữ Hán văn khi truyền sang Việt Nam, đến nay vẫn còn giữ được âm đọc từ thời Đường, giàu có về âm sắc và thâm trầm về ý nghĩa. Cách sử dụng và cách đọc chữ Hán của người Việt tạo nên từ Hán Việt rất riêng của Việt Nam và từ đó dòng văn học chữ Hán và dòng văn học chữ Nôm hình thành và phát triển, tạo nên các tác phẩm và tác gia văn học lớn.

Với hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam đã bị áp đặt hoặc tự áp đặt cho mình một mô hình nhà nước theo mẫu của Trung Hoa. Đó là điều khó tránh khỏi!

Phạm Thanh Nghiên: Có nghĩa là tuy chịu sự ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, nhưng người phương Bắc đã không thể thống trị được người Việt. Vậy ông lý giải thế nào về sức đề kháng của văn hóa Việt trước sự xâm lăng của văn hóa Tàu? 

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: Đúng rồi, thưa cô! Trong lịch sử, cứ mỗi lần có một triều đình, một nhà nước chủ trương xa rời và “ly khai” với ảnh hưởng Trung Hoa thì khi ấy tinh thần phi Hoa, giải Hoa mạnh mẽ lan tỏa trong lòng xã hội, và khi ấy đất nước được độc lập thực sự, văn hóa và tư tưởng khai phóng và nhiều thành tựu.

Thời đại Lý – Trần (thế kỷ XI – XIII) nước Đại Việt học mô hình chính trị Trung Hoa, nhưng có nhiều sáng tạo, nhiều thành tựu, nhiều thành công là bởi vì Lý – Trần là thời đại của Đa nguyên và Khai phóng.

Đa nguyên về chính trị (các thủ lĩnh tôn giáo Nho – Phật – Lão được vua mời vào cung bàn chính sự và tham khảo kế sách). Đa nguyên về tôn giáo(Nho – Thích – Đạo tịnh hành, cùng phát triển); Đa nguyên về văn hóa (Văn hóa Lý – Trần tiếp thu từ Trung Hoa – Ấn Độ và Chàm).

Chính Đa nguyên và Khai phóng khiến cho thời đại Lý -Trần trở thành một thời đại hoàng kim trong lịch sử trung đại Việt Nam.

Tóm lại, ảnh hưởng về văn hóa của Trung Quốc đối với ta là tất yếu. Nhưng tự thân sự ảnh hưởng này đã bao gồm sự tương tác qua lại, và sự tiếp biến văn hóa (tức là làm mới, làm khác). Chữ Nôm, thơ Nôm song thất lục bát, ẩm thực, ăn vận, điêu khắc đình làng…là những sáng tạo đặc biệt, riêng khác và độc lập với văn hóa Trung Hoa. Chính nhờ đó mà văn hóa Việt Nam giữ được bản sắc riêng, và tạo nên sức đề kháng và sức mạnh nội sinh mà văn hóa dân tộc ta không bị đồng hóa, thôn tính. Tức là có lúc mất nước, nhưng không mất văn hóa.

Về thể chế, nếu triều đại nào có vua sáng, tôi hiền thì biết vực cả nước đứng lên độc lập, đối thoại với Trung Hoa không chỉ biên cương, bờ cõi mà còn cả về văn hóa, phong tục và ngôn ngữ. Thời đại Lý Trần thế kỷ XI – XIII và thời đại Lê – Trịnh thế kỷ XVII – XVIII là ví dụ. Thời Nguyễn thì ta rập khuôn theo Tàu, thậm chí còn “Tàu hơn cả Tàu” nữa, vì vua lú, tôi ngu nên cuối cùng đất nước mất vào tay thực dân Pháp.

Phạm Thanh Nghiên: Có nhiều ý kiến cho rằng, kể từ khi đảng CSVN lên cầm quyền thì người Việt chúng ta đã trở nên lạc hậu về văn hóa và sa sút về tinh thần- cái tinh thần dân tộc vốn là niềm kiêu hãnh của chúng ta suốt chiều dài lịch sử. Tiến sĩ nghĩ sao về ý kiến này?

TS Nguyễn Xuân Diện: Thưa cô, người cộng sản thì vô thần, và tinh thần dân tộc thì đặt dưới tinh thần quốc tế vô sản. Vô thần thì đền chùa, đình miếu, nhà thờ họ … phải đập bỏ vì tôn giáo và tín ngưỡng là “thuốc phiện” của nhân dân lao động. Tinh thần quốc tế vô sản học theo Trung Quốc và dưới sự bảo kê của Liên Xô nên mới có cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất.

Cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc để lại hậu quả vô cùng lớn đối với văn hóa cố truyền khi chính quyền hô hào đạp đổ tầng lớp địa chủ và trí thức cũ, quét bỏ những “tàn dư phong kiến”. Về mặt văn hóa thì nhiều sách vở chữ Nho và chữ Nôm, hoành phi, câu đối của những gia tộc quyền thế bị đốt, đình, chùa, đền, miếu bị hủy hoại. Về giá trị truyền thống thì quan hệ trong nhiều gia đình, xóm giềng bị phá vỡ do những cảnh con cái tố khổ cha mẹ, láng giềng làm hại lẫn nhau khiến đạo lý cổ truyền suy sụp. Về nòi giống thì 220 ngàn người bị chết hoặc mất tích trong cải cách ruộng đất, sau các cuộc đấu tố tàn độc. Họ là những ai? Họ chính là những cá thể có trí tuệ và giàu kinh nghiệm trong việc làm giàu. Các cá thể ấy được như vậy là do họ được di truyền trong những dòng giống khoa bảng, những gia tộc nền nếp gia phong. Nghe theo Trung Quốc thực hiện cải cách ruộng đất là tiếp tục thực hiện chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” do Tổng bí thư Trần Phú (lúc 26 tuổi) đề ra, tiêu diệt hết tầng lớp tinh hoa, ưu tú của dân tộc.

Cảnh đấu tố ấy, mấy năm gần đây cơ hồ quay lại, với việc đấu tố cô Nhã Thuyên, đấu tố các ứng viên đại biểu Quốc hội, và gần đây nhất là đấu tố MC Phan Anh…

Tiêu thổ kháng chiến chống Pháp 9 năm đã khiến người dân đốt cháy biết bao đình chùa đền miếu. Đó chính là những bảo tàng sống động về văn hóa. Chúng ta mất bao nhiêu di sản khi lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được ban ra?

Và rồi ngay sau đó là hợp tác hóa nông nghiệp. Người ta hùng hổ phá bỏ đền chùa, đình miếu, lấy hoành phi, câu đối làm bàn ghế, lấy bia đá để đập lúa, bắc cầu, v.v… Bài học cay đắng đó, đến nay còn hằn in trong ký ức nhiều người!

Nhưng, đã có người thấy hân hoan khi chùa lớn, tượng to, nhà thờ khủng đang được xây dựng lại khắp nơi từ nam chí bắc. Xin thưa, những nơi to lớn ấy như Bái Đính, Đại Nam Lạc cảnh nơi thì như bản sao của Tàu, nơi thì quá phô trương, kệch cỡm, khác xa truyền thống Việt.

Cách đây 10-15 năm, một số người giàu có kết hợp với các quan chức coi việc trùng tu hoặc nâng cấp mở ra các chùa chiền đấy là cách làm ăn, kinh doanh của họ. Họ chỉ mượn các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để kinh doanh, đây là mối lợi béo bở giữa các thế lực chức sắc tôn giáo, các doanh nghiệp giàu có và các quan chức từ trung ương đến địa phương. Ba thế lực chân vạc này nó tạo nên những cái khu du lịch Bái Đính ở Ninh Bình và Đại Nam Lạc Cảnh ở Bình Dương và sắp tới đây là khu tháp Phật ở Thái Nguyên…

Phạm Thanh Nghiên: Còn các di sản phi vật thể thì sao, thưa ông?

TS Nguyễn Xuân Diện: Xin đơn cử về lễ hội. Xuất hiện cả một phong trào sân khấu hóa lễ hội, đã làm biến dạng và tha hóa các giá trị của lễ hội. Nước ta đang dấy lên chuyện tâm linh, nhưng toàn cổ xúy cho những lệch lạc, mê lầm.

Đáng lẽ đền Trần là nơi giáo dục hào khí Đông A và tinh thần yêu nước thì thành ra nơi cổ xúy chuyện ấn triện, thăng tiến và lợi lộc, mua quan bán chức. Ấn đền Trần Nam Định, Thái Bình, rồi ấn Hoàng thành Thăng Long, và vừa rồi là ấn đền Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa nữa.

Đáng lẽ đền Trần Thương, đền Bà Chúa Kho là nơi giáo dục tinh thần tận tụy và liêm chính, trách nhiệm với kho dự trữ của nhà nước thì thành ra nơi mặc cả vay mượn, mua bán quàng xiên.

Đáng lẽ lễ Tịch điền, đàn Xã Tắc là nơi giáo dục lòng biết trọng nông thuần phác thì lại thành ra nơi lòe loẹt, cờ đèn kèn trống.

Lễ hội đang dẫn cả dân tộc này đi lạc đường! Dân ta đang được dẫn vào bến lú sông mê. Và nhà cầm quyền không giải được các bài toán hiện tại, bất lực, đành để cho dân xuống con thuyền lễ hội và tín ngưỡng đi vào bến lú sông mê, quên hết …quên hết…

Phạm Thanh Nghiên: Thưa Tiến sĩ, nếu cần lựa chọn một sự kiện thời sự cụ thể để “định hình” tinh thần Việt, tôi nghĩ đó là sự kiện Formosa. Liệu người dân VN có đủ sức để đẩy lùi thủ phạm gây ra nạn ô nhiễm môi trường mà hậu quả của nó ảnh hưởng lâu dài đến tương lai chúng ta và nòi giống Lạc Hồng?

TS Nguyễn Xuân Diện: Cô làm tôi giật mình trở về với thực tại rồi đấy! Vụ Formosa là một thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, về quy mô cũng như về mức độ và tầm vóc của vấn đề. Tôi chưa xét đến di họa Formosa dưới góc độ môi trường, kinh tế, mà chỉ nói về văn hóa thôi, cũng đã thấy nó khủng khiếp thế nào!

Nó ảnh hưởng đến văn hóa và công nghiệp du lịch của 4 tỉnh miền Trung, với hàng chục bãi biển đẹp và hàng triệu người dựa vào đó để sống. Giống nòi Việt Nam sẽ ra sao? Sẽ có bao nhiêu trẻ con đẻ ra sau những tháng năm này sẽ bị ảnh hưởng, còn hơn cả ảnh hưởng từ chất độc màu da cam. Người dân ngay bây giờ đã bị phù nề, lở loét mà mạng xã hội mấy hôm nay đã đưa hình ảnh.

Cá chết, biển chết. Ngư dân trở thành người đi xuất khẩu lao động. Biển chết và bị bỏ trống, biển vô chủ vì thiếu vắng những “cột mốc sống”.

500 triệu đô la Mỹ mà Chính phủ loan báo là Formosa bồi thường, đến nay ai đã trông thấy đồng nào? Có lẽ là Chính phủ và các bộ ngành cũng chưa dám thò tay nhận những đồng tiền này, vì mấy nhẽ: Thứ nhất: Dựa vào đâu, dựa vào đánh giá nào và căn cứ pháp lý nào để nhận số tiền đó. Nhận sẽ bị Formosa kiện thẳng thừng, và khi ấy chính phủ Việt Nam có đủ mo nang để che mặt không?; Thứ nhì: Cầm số tiền đó mà bán cả mấy trăm cây số biển Miền trung, là nồi cơm của hàng chục triệu con người, mà mạng sống của họ hiện nay còn chưa biết là sẽ ra sao, vì chất độc còn chưa phát tác ra thành ung thư, dịch bệnh, thương tật… thì có xứng và có dám cầm không?

Tóm lại, mệnh lệnh của tổ tiên chúng ta là hãy giữ cho bằng được di sản của tổ tiên. Không có một món tiền nào có thể mua được sinh mệnh của mấy chục triệu người con đất Việt dải đất miền Trung. Không có một nhà máy thép nào có thể cho hàng triệu ngư dân cuộc sống như là biển cả.

Vì vậy, chắc chắn người dân Miền Trung sẽ khước từ mấy triệu đồng gọi là bồi thường của Formosa vì cái họ cần là biển sạch, là tôm cá đầy khoang mỗi khi thuyền về bến. Và như vậy chỉ có cách là phải yêu cầu chính phủ Việt Nam đóng cửa và chấm dứt hoạt động của Formosa, yêu cầu Formosa phục hồi các miền biển chết cho đến khi trở lại bình thường.

Phạm Thanh Nghiên:  Thưa Tiến sĩ, xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện hôm nay. Chúng tôi mong lại có dịp được gặp gỡ ông trong các chủ đề khác. Xin chúc ông dồi dào sức khỏe và bền chí trong công cuộc giữ gìn văn hóa dân tộc.

Những con mắt tình nhân,

Video Những con mắt trần gian  – Trịnh Công Sơn

https://www.youtube.com/watch?v=pKHMInGRQbM

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 17 mùa thường niên C 24/7/2016

 “Những con mắt tình nhân”,

nuôi ta biết nồng nàn,
Những con mắt thù hận,

cho ta đời lạnh căm
Những mắt biếc cỏ non,

xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc tình,

cháy tan ngày thần tiên.”

(Trịnh Công Sơn – Những Con Mắt Trần Gian)

(Mc 10: 41-43/Êphêsô 5: 23))

 Trần Ngọc Mươi Hai

Nếu bảo rằng, “Những con mắt tình-nhân” nói ở đây , cũng đầy những “thù hận”, “nồng-nàn”, rất ư “đời lạnh căm”. Và rồi còn hát “mắt biếc cỏ non”, “bạc tình”, “cháy tan ngày thần-tiên”, vv..  âu đó cũng là những câu ca đáng để ta lưu-tâm/quan-ngại.

Hôm nay đây, bần đạo đang mải tìm lời thơ nhè nhẹ để có một dẫn-nhập cho bài “luận phiếm” rất bình-thường, bỗng chợt nghe thấy ở đâu đó, lố-nhố những bàn-bạc chuyện Giáo hội với các lỗi/tội của bậc trên cao vút định-danh bằng cụm-từ “Giáo chủ” hay “giám-quản” rơi rớt từ những tháng ngày xa xôi thời buổi trước, cũng bí mật/bật mí rất tưng bừng.

Bàn và bạc, chuyện bí mật nhà Đạo từng được “bật mí” ở đây đó, có lẽ ta nên hát thêm những ca-từ tuyệt-cú, như sau:

“Ngày ra đi với gió,

ta nghe tình đổi mùa.

Rừng đông rơi chiếc lá,

ta cười với âm u.

 Trên quê hương còn lại,

ta đi qua nửa đời.

Chưa thấy được ngày vui,

đường trần rồi khăn gói.

 Mai kia chào cuộc đời,

nghìn trùng con gió bay.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)


“Trên quê hương còn lại” 
đã thấy mình “qua (được) nửa đời” người rồi, mà vẫn “chưa thấy được ngày vui”! Và rồi, lại cứ “đường trần khăn gói”, “mai kia chào cuộc đời”, “nghìn trùng cơn gió bay”… Chao ôi, là những lời ý-nhị quyện vào bên nhau như gió với rừng nghìn trùng, cũng không vui.

Hôm nay đây, bần đạo lại những muốn nói ra đôi ba chuyện trầm-kha ở bên dưới ít được “bật mí” mãi đến lúc đọc được bài báo có tiêu-đề là: “Ta phải xin lỗi cộng đồng người đồng-tính luyến-ái” qua đó, Đức Phanxicô đề-nghị:

Tín hữu chúng ta phải xin lỗi Chúa về cung cách mình xử-sự rất không phải, đối với người đồng tính luyến ái”

Hôm nay đây, một lần nữa, bần đạo lại cũng sẽ không bàn nhiều về chuyện “xử sự rất không phải” ở Giáo-hội mà chỉ nhân cơ-hội Đức Giáo-Tông vừa “bật mí” để rồi nhìn vào chốn cao sang vời vợi ở trên ấy. Và rồi, góp nhặt đôi ba ý/lực xem thực/hư ra sao, để sẽ sống đúng với chức-năng dân con Đạo Chúa, thời hiện-tại!

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật. Số là, vừa rồi, bần đạo ngồi buồn giở lại vài trang sách/báo đọc được hôm trước, nay san-sẻ với bạn nào thích những chuyện “lỉnh kỉnh” nhà Đạo hoặc ngoài đời, để còn biết rõ. Biết, là biết những gì mình được học và được đọc qua sách vở hoặc bạn bè chuyền cho nhau đôi ba câu thuộc thể-loại mà người đời vẫn bảo: “biết rồi, khổ lắm ông bạn ạ”. Toàn những chuyện trời trăng/mây nước ở đâu đâu, ấy!

 Vâng. Chuyện “trời/trăng” hôm nay vẫn chỉ là chuyện “tầm-phào”, thuộc loại “ngồi lê đôi mách”, thế mà nhiều người vẫn thích nói và thích nghe. Nhưng, trước khi nghe và nói những chuyện tương-tự, lại xin mời bạn/mời tôi, ta nghe thêm đôi câu hát rất như sau:

“Những con mắt trần gian,

xin nguôi vết nhục nhằn.

Những con mắt muộn phiền,

xin cấy lại niềm tin.

 Những con mắt quầng thâm,

xin tươi sáng một lần.

Cho con mắt người tình,

ấm như lời hỏi han …”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 Trước khi đi vào chi tiết của sự/việc, hãy cứ “nhìn lại nhau có mắt lo-âu”, rồi sẽ thấy nhiều thứ chuyện tưởng chừng như không thể xảy ra ở nhà Đạo, nhưng vẫn có. Nhìn để thấy, những lo âu/quan-ngại như ca-từ gặp ở trên còn hát mãi, những lời sau đây:

 “Nhìn lại nhau có mắt lo âu,

Xin vỗ về muôn yêu dấu,

Nhìn lại nhau che những cơn đau,

Tìm dưới bóng … ngọt ngào …”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Nhìn lại nhau, nhiều lúc cũng chẳng có “mắt lo âu” là bao. Nhưng, vẫn cứ nhìn để biết rằng mình không sợ nhìn vào sự thật của người và của mình. Của, cả đấng bậc trên/dưới, già/trẻ hơn mình, bấy lâu nay.

Vâng. Hãy cứ nhìn nhau để thấy có nhiều điều mình nhìn mãi mà không ra, như những điều được nhà báo hoặc tác-giả viết bài viết báo nói về người mình/Đạo mình, rất cắc cớ như sau:

“Đặc trưng/đặc thù của một số Đức Giáo chủ khi trước có khuynh-hướng định-danh/định-vị các ngài chỉ là những người kế-tục tiếp tay với các thày tư-tế, mục-tử của dân ngoại, hơn chỉ là đấng bậc đại-diện cho Đức Kitô hoặc đấng thánh Phêrô của thời trước.

 Một số vị còn “bê-bết” đến độ có những hành-xử sa-đà, đồi truỵ, mất cả căn-tính, khiến con dân trong/ngoài Đạo ở dưới trướng thấy xấu hổ. Nếu căn-cứ trên các hành-vi đầy lỗi-phạm của các vị đại-diện Chúa ở thế-trần cũng thấy sửng-sốt. May thay, tất cả các vị kể ở đây đều không hẳn như thế…” (Xem thêm Ralph Woodrow,Papal Immorality, Babylon Mystery Religion, Ralph Woodow Evangelistic Association Inc. 1996 edition, tr. 91-99)

Không hẳn như thế, tức có nghĩa: không phải tất cả các vị cầm quyền ở bên trên đều lỗi đạo làm người và lỗi luật làm kẻ cả ở bên trên, nhưng lại tầm thường, hạ cấp thua cả những người ở bên dưới.

Không hẳn như thế, còn có nghĩa: các ngài rày quên tuốt tuồn tuột những lời dặn của đấng thánh nhân-hiền ở Kinh Sách, rất như sau:

Đức Giêsu gọi các ông lại và nói:

Anh em biết:

những người được coi là thủ-lãnh các dân

thì dùng uy mà thống trị dân,

những người làm lớn

thì lấy quyền mà cai quản dân.

Nhưng giữa anh em thì không được như vậy:

ai muốn làm lớn giữa anh em

thì phải làm người phục vụ anh em;

ai muốn làm đầu anh em

thì phải làm đầy tớ mọi người.”

(Mc 10 41-43)

 Và, ở một đoạn khác trong Tân-ước, thánh-nhân trụ-cột của Đạo Chúa, cũng từng minh-định vai-trò của đấng làm đầu Giáo-hội tương-tự như tương-quan chồng/vợ ở ngoài đời như sau:

“Vì lòng kính sợ Đức Kitô,

anh em hãy tùng-phục lẫn nhau.

Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa,

vì chồng là đầu của vợ

cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh,

chính Ngài là Đấng cứu chuộc Hội Thánh,

thân thể của Ngài.

Và như Hội Thánh tùng-phục Đức Kitô thế nào,

thì vợ cũng phải tùng-phục chồng

trong mọi sự như vậy.”

(Êphêsô 5: 21-24)

Tùng-phục và phục-tùng rất “tương-kính như tân”, vẫn là và phải là việc “thường ngày ở huyện”. Huyện ngoài đời hoặc huyện Đạo rất Công-giáo. Dù huyện ấy, có những vị và nhiều vị nay đã “mải vui quên hết lời Em” dặn dò” đi nữacũng mặc kệ.

Và mặc kệ, lại là thái-độ “chẳng đặng đừng” dù ngày nay các vị cầm-quyền ở thánh-hội nhà Đạo ở trên hay ở dưới, ở trong hay ở ngoài đất nước mình đang sống, rất hôm nay.

Và hôm nay, bạn và tôi, ta vẫn mặc kệ, là bởi ở đây hôm nay, vào lúc này, bậc thang giá-trị về mọi sự việc ở xã-hội ngoài đời hoặc trong Đạo mình đã bị đảo-lộn đến mức cần cảnh-giác. Thế cho nên, cứ đà này, nếu không quan-tâm/cảnh-giác, thì rồi ra quyền-lực và quyền-uy của đấng bậc ở trên cao sẽ ra sao để còn làm gương cho đám dân con ở bên dưới xem đó mà bắt chước để sống cho phải lẽ, phải đạo làm người.

Thế cho nên, nỗi-niềm quan-tâm/cảnh-giác về tương-lai mai ngày ở mọi nơi/mọi chỗ chốn có quyền-hành và hành quyền đã và đang được nghệ-sĩ viết nhạc xưa nay vẫn cảnh-báo bằng giòng nhạc tâm-tình, đầy quan-ngại, nên mới hát:

“Những con mắt trần gian,

xin nguôi vết nhục nhằn.

Những con mắt muộn phiền,

xin cấy lại niềm tin.

 Những con mắt quầng thâm,

xin tươi sáng một lần.

Cho con mắt người tình,

ấm như lời hỏi han …”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Và hôm nay, trong giòng đời truyện kể, lại cũng có những lời và những lẽ rất minh-bạch vẫn gửi đến mỗi người và mọi người để minh-hoạ một lời bàn rất để đời, sau đây:

Lời rằng: 

Ai làm chủ cái tâm của mình?

Chuyện cũ kể lại rằng:

 Một hôm, học-giả Hứa Hành có việc phải ra ngoài, khí trời nóng bức khiến cho người ta khát nước không chịu nổi. Vừa khéo ở bên đường có một cây lê, người đi đường thi nhau đến hái lê để giải khát, duy chỉ có Hứa Hành chẳng mảy may động tĩnh gì. Một người thấy thế liền hỏi: “Sao ông không hái lê mà giải khát?”

 Hứa Hành đáp: “Lê không phải của tôi, sao tôi có thể hái bừa?”. Người kia cười to bảo: “Thói đời hỗn loạn như vậy đó, ông còn quan tâm xem lê là của ai sao?”. Hứa Hành nghiêm mặt nói: “Lê tuy vô chủ nhưng tâm ta có chủ”.

 “Tâm có chủ” là ý nói rằng một người có thể kiên trì chủ kiến cá nhân, tuân thủ nghiêm ngặt đạo đức của bản thân, gạt bỏ những can nhiễu và cám dỗ, không bị ngoại cảnh sai khiến, cũng không bị danh lợi làm cho khốn đốn, và có thể làm được “Nhất niệm chi phi tức át chi, nhất động chi vọng tức cải chi”, mMột suy nghĩ không tốt vừa xuất hiện liền ngăn chặn ngay, một hành động sai trái vừa thực hiện liền sửa chữa ngay.

 Trong cuộc sống thực tế, có những người chỉ chạy theo danh lợi, tham nhũng hối lộ làm trái pháp luật, bị đồng tiền làm cho mờ mắt mà bất chấp đạo đức và nhân phẩm, họ lý giải rằng cả xã hội đang diễn ra như thế, việc xấu này họ không làm thì cũng có người khác làm.

 Nguyên nhân căn bản là không coi trọng đạo đức, không có lý tưởng kiên định, thiếu đi cái nhìn đúng đắn về nhân sinh và giá trị làm người.

 Trái lại, nếu như có thể làm được “tâm có chủ” thì sẽ ước chế được bản thân, không hùa theo số đông hỗn loạn, có thể giữ vững đạo đức và thành tựu được sự nghiệp của mình.

 “Lê tuy vô chủ nhưng tâm ta có chủ”, đây là một loại nguyên tắc, một loại tu dưỡng, một loại cảnh giới, một loại tinh thần.

Thành ra, làm chủ cộng-đoàn hoặc nhóm hội/đoàn thể, trước nhất cần làm chủ cái tâm của mình trước đã. Bởi, như các cụ khi xưa từng khuyên bảo con cháu trong/ngoài nhà, một bí kíp vẫn bảo rằng: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”

Chưa tu-thân tề-gia, ắt hẳn không thể nghĩ chuyện trị quốc, huống chi bình thiên-hạ được. Chí ít, thiên-hạ ấy lại là thiên và hạ ở Nước Trời Hội-thánh, rất hôm nay.

Trần Ngọc Mươi Hai

Rất nhiều lần

vẫn nhắn nhủ lòng mình

ra như thế.

Ta sống mãi với muôn xuân đầm ấm,

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 17 thường niên năm C 24/7/2016

               Tin Mừng (Lc 11: 1-13)

Một hôm, Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông.” Người bảo các ông: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói:

Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

Triều Đại Cha mau đến,

                       xin Cha cho chúng con

ngày nào có lương thực ngày ấy;

xin tha tội cho chúng con,

vì chính chúng con cũng tha

cho mọi người mắc lỗi với chúng con,

và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.”

Người còn nói với các ông: “Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: “Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả“; mà người kia từ trong nhà lại đáp: “Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.? Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó. “Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? “

* * * *

“Ta sống mãi với muôn xuân đầm ấm,”

Trong mây kinh và trong gió nguyện-cầu.

Nào trân-châu, nào thanh-sắc cho mau,

Dâng hết cả, thanh-âm dường tu khí.

Hồn ta đây bất-diệt với Hà sa.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Mai Tá lược dịch.

Xuân đầm ấm – Gió nguyện-cầu – Thanh-âm dường tu-khí, tất cả khiến hồn người thành bất-diệt. Hồn bất-diệt, để sống mãi với muôn Xuân. Có gió, có mây, có lời kinh nguyện-cầu như Lời Chúa dạy rất hôm nay.

Trình thuật, nay Chúa dạy dân con nhà Đạo khi dấn bước theo Ngài, phải biết cách nguyện cầu với Cha. Nguyện những gì? Cầu ra sao? Mong ngóng điều gì cho mai sau, khi đã nguyện, và đã cầu? Vì thế, môn đệ đã  hỏi Ngài: nên cầu nguyện thế nào cho phải cách? Nói những gì trong lời kinh? Và từ đó, ta có lời kinh “Lạy Cha”, rất hợp ý.

Lời kinh hợp ý, thánh Luca ghi, thường gọn ngắn, chỉ 38 chữ. Ít hơn nội dung trình thuật thánh Mátthêu. Ta hẳn biết, hai bản văn của thánh Luca và Mat-thêu về nguyện cầu, cùng xuất từ một bản gốc.

Nhưng, mỗi thánh sử diễn tả “lời cầu hợp ý Cha”, theo cung cách khác nhau mà vẫn đáp ứng nhu cầu của cộng đoàn mình rao giảng. Tựu trung, văn bản thánh Luca ghi vẫn sớm hơn và sâu sát hơn với thời Chúa sống.

Từ đó đến nay, dân con nhà Đạo vẫn cứ nguyện cầu theo lời dặn của Đức Chúa, vào thánh lễ. Cả vào khi lần chuỗi Mân Côi. Tuy nhiên, điều Chúa dạy hôm nay, không đặt nặng nơi lời kinh; mà, vào thực tế của lời cầu.

Lời cầu “Lạy Cha”, nay không là lời thưa gửi ta có với Chúa. Với Thầy. Hoặc, với vị chánh án, ngồi ở toà. Cũng không là bái lạy/bẩm thưa dâng lên Đấng Hóa Công. Mà, là lời gửi đến người Cha mà ta được phép gọi là “Abba”, Tức, Ba hay Bố. Nguyện cầu đây, là lời trần tình đệ trình lên Cha, như tâm tình của đàn con yêu dấu ngỏ lời cùng đấng bậc sinh thành không chỉ thuộc riêng ai, nhưng hết mọi người. Tức, những người con cùng chung một cha, một bố. Để kêu lên: “Lạy Cha chúng con”, như thế.

Với người Do Thái, tên gọi mỗi người không chỉ đơn thuần nói lên căn cước/lý lịch của một người, thôi; mà là, toàn bộ nhân vị của người ấy, nữa. Ngày xưa, khi trò chuyện thưa gửi với Giavê Thiên Chúa, Môsê đã gạn hỏi danh xưng/tên gọi của Chúa để biết “Người là ai”? Hôm nay cũng thế, khi ghi lại trình thuật thật rõ nét, các thánh sử muốn xác định tính thần thiêng linh thánh của Chúa, nơi Đức Kitô.

Xin cho Triều Đại của Cha mau đến”, là muốn cho Vương Quốc của Chúa mau trở thành hiện thực đối với mọi người. Mong, niềm tin vào Chúa đặt nền tảng trên chân lý. Trên tình thương yêu, đùm bọc, công lý, lẫn tự do. Chú trọng đến phẩm giá, bình an và hài hoà. Cầu, là cầu cho Vương Quốc Nước Trời mau thể hiện. Cầu, là muốn cho thế giới biết cách mà sẻ san sự sống. Sống, cho trung thực. Sống, hợp tác sao cho yêu cầu của mọi người thành hiện thực.

Xin cho Triều Đại Cha mau đến”, là mau thực hiện nơi cộng đoàn. Nhưng, các khiếm khuyết vẫn còn xảy đến với nhiều cộng đoàn yếu kém. Thành thử, nguyện cầu là để “Nước Chúa” đi vào hiện thực nơi cuộc sống của tất cả cộng đoàn, dân nước. Không chỉ một vài cộng đoàn, rất ít oi.

Xin cho chúng con lương thực hằng ngày”, là lời cầu mong được Chúa phú ban “vừa đủ” mọi thứ vật chất, ta cần có hằng ngày. Vật chất ta xin, từ nhu cầu cơm – bánh, cho chí thực phẩm nuôi sống bản thân, rất cần thiết. Lời cầu như thế tuy mang tính vật chất, nhưng là để ta “quẳng gánh lo đi” mà đặt ưu tư cho tương lai mai ngày, ở với Chúa. Để rồi, sẽ đạt trọn “mùa xuân đầm ấm”, sống ngày mai.

Nguyện cầu như thế, là đặt tương lai trong tay Chúa. Là, dành mọi chuyện để Chúa lo liệu. Nguyện cầu, còn là chấp nhận mọi thử thách gửi đến. Thử thách hàm ngụ một nhắn nhủ: hãy cứ lo cho ngày hôm nay, thôi. Tương lai, để Chúa lo.

“Xin thứ tha mọi lỗi lầm của chúng con”, ý là mong được Cha xóa bỏ mọi hệ lụy, quanh lỗi phạm mọi người mắc phải, thời đã qua. Nguyện cầu, là lời cầu rất đích thật, nhưng kết quả chỉ đạt, nếu người người biết thứ tha mọi lầm lỡ mà người khác đã trót phạm, với mình. Lầm lỡ, không chỉ ở những điều mà ta làm cho người khác phiền lòng, mà thôi.

“Xin chớ để chúng con sa cơn cám dỗ”, là cầu cùng Chúa biện hộ cho ta vào giờ xét xử, lúc về sau. Tức, những hệ lụy làm ta ngã gục hoặc trệch ý hướng, tức: không dấn bước theo chân Chúa được.

Khi dạy dân con đồ đệ biết cách mà nguyện cầu cho đích đáng, Đức Kitô nhắc mọi người, một chân lý. Chân lý ấy, tóm gọn nơi lời khuyên: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.” Và: “Ai trong anh em là người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó ư?” (Lc 9-10)

Thoạt nghe, ta tưởng chừng như có nghịch lý, khác thường ở lời Ngài. Nếu Cha trên trời đã chăm lo cho ta đủ mọi điều, thì sao ta lại cứ phải liên tục xin xỏ mãi như thế? Cầu nguyện, như Đức Kitô dạy, không phải là cứ lải nhải như người ở ngoài. Hẳn mọi người đều nắm chắc: Cha chỉ phú ban những gì ta cần, chứ không phải những gì ta muốn hoặc ưa thích. Bởi, điều mọi người ưa thích chỉ là vật chất tạm bợ, chỉ tập trung cho riêng mình, mà thôi.

Cách hay nhất để nguyện cầu, là: hãy tìm hiểu xem mình đang ở vị trí nào trong tương quan với Chúa. Với mọi người. Với thế giới quanh ta. Liên lỉ nguyện cầu -nhưng không phải cứ ê a sớm tối, mà là giúp ta định ra được những gì mình cần xin và cần làm gì.

Và, liên lỉ nguyện cầu, còn giúp ta biết lọc lựa, cả lời kinh. Nguyện cầu, giúp ta làm sáng tỏ giá trị nội tại cũng như hy vọng mình đang có. Có nguyện cầu như thế, ta mới chú tâm đến những gì mình thực cần thiết, để được cứu rỗi. Nguyện cầu, là mong Chúa thực hiện điều mà Ngài muốn ta làm. Làm, đúng theo ý Ngài.

Nói tóm lại, mục đích tối hậu của nguyện cầu, là biết đầm mình trong tương quan với Chúa. Với mọi người quanh ta. Vào với tiệc lòng mến hôm nay, ta sẽ cùng với người anh/người chị trong Hội thánh chung vai sát cánh mà nguyện cầu cho mọi người sẽ mãi mãi ở lại trong tương quan với Cha. Để rồi, cùng với Đức Kitô, ta sẽ thực hiện thánh ý Cha trong mọi hoàn cảnh của đời thường.

Trong tinh-thần ấy, ta hân-hoan bày-tỏ lòng vui sướng hiệp-thông với mọi người anh, người chị trong cộng-đồng dân Chúa, thật phấn-chấn những hát rằng:

 “Hỡi những người thân yêu ơi!

Đây mùa xuân đầm ấm chờ mong một đời.

Cố níu lại ngày yên vui,

Cho nụ cười mặn mà tươi thắm trên môi.

Ta đã có mùa xuân ta chờ đợi.

Muôn tấm lòng rộn vui như nắng mai,

Từ bao năm ta nghe trong diệu-vợi,

Ôi ngờ đâu xuân đã đến hôm nay.”

(Trầm Tử Thiêng & Nhật Ngân – Ta Đã Gặp Mùa Xuân)

Quả là xuân đầm ấm, đang ở trước mắt. Hãy cứ vui. Đã có Xuân Bất Diệt đang ở với ta. Và, “ta sống mãi với muôn Xuân đầm ấm”, xuân miên-trường. Hoan lạc. Xuân nguyện-cầu và thương yêu.

 Lm Richard Leonard sj biên-soạn  – Mai Tá lược dịch.

Cứ Xin Thì Sẽ Được, Cứ Tìm Thì Sẽ Thấy, Cứ Gõ Thì Cửa Sẽ Mở!

Cứ Xin Thì Sẽ Được, Cứ Tìm Thì Sẽ Thấy, Cứ Gõ Thì Cửa Sẽ Mở!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

… Joseph là thanh niên bất toại, tuổi hơn 30. Anh đi bằng hai đầu gối và rất nghèo. Tuy Joseph nghèo của cải nhưng không nghèo niềm tin, lòng hy vọng và nhất là tình yêu thương. Niềm hạnh phúc duy nhất và tràn trề của anh là dành trọn thời giờ để giúp đỡ tha nhân.

Joseph sinh trưởng trong gia đình ở làng nhỏ tại Auvergne (Trung Pháp). Tuổi thơ Joseph trôi qua trong bình lặng nơi khung cảnh gia đình nghèo. Sau khi học xong tiểu học, cậu bé bắt đầu làm việc giúp đỡ cha mẹ.

Không bao lâu sau cảnh thiếu ăn gây ảnh hưởng mạnh trên thân xác gầy còm của cậu bé. Joseph mất dần sức mạnh nơi hai cánh tay: không cầm nổi các vật dụng để làm việc. Cậu cũng không đứng vững nữa. Đến năm 20 tuổi thì Joseph hoàn toàn không sử dụng được đôi chân. Chàng phải bò lết hoặc đi bằng hai đầu gối.

Tàn tật vào lúc 20 tuổi, quả là thử thách nặng nề! Joseph cảm thấy đau đớn khi phải sống nương tựa vào gia đình, trong khi gia đình lại nghèo thật nghèo, cần chàng giúp đỡ một tay. May mắn Joseph là tín hữu Công Giáo nhiệt thành. Chàng sống thật niềm tin của mình. Chàng đặt trọn cuộc đời trong bàn tay Quan Phòng của THIÊN CHÚA. Thêm vào đó, Joseph rất có lòng sùng kính Đức Mẹ MARIA. Và đây là phương thuốc hiệu nghiệm cứu chàng thoát mọi chán nản thất vọng. Chàng lần hột Mân Côi hàng ngày và tìm cách giúp đỡ tha nhân thay vì sống co rút vào nỗi khổ vào cái bất hạnh của chính mình. Chàng cố gắng làm những gì có thể hầu giúp người khác và đỡ gánh nặng cho gia đình. Chàng tự sáng chế hai ống gỗ bao đầu gối và dùng đầu gối đi lại. Nhiều khi chàng đi bằng đầu gối những quãng đường dài đến 8 hay 10 cây số.

Sau đó, chàng ghi tên làm người canh gác đền thờ Đức Mẹ Orcival. Nhờ công việc này, Joseph nhận rất nhiều an ủi. Nhất là chàng hãnh diện vì được phục vụ Đức Trinh Nữ MARIA, Hiền Mẫu thiên quốc. Đền thánh này hàng năm có nhiều tín hữu hành hương đến khẩn cầu cùng Đức Mẹ MARIA. Nhưng rồi dần dần có người đến gặp Joseph, nhờ anh an ủi hoặc chỉ dạy nhiều điều họ cần biết.

Để giúp đỡ tha nhân cách đắc lực hơn, Joseph dọn đến ở với anh rể và xin đặt điện thoại riêng cho mình. Như thế, anh có thể liên lạc thẳng với các bàn giấy, dịch vụ chuyên môn hầu chỉ dẫn lại cho người khác. Anh nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến trợ cấp xã hội, bảo hiểm v.v. Anh trở thành nhân vật quan trọng. Mỗi ngày, số người đến gặp anh đông hơn đến gặp ông trưởng phòng tòa thị trưởng thành phố.

Anh lắng nghe tâm sự, khó khăn của người khác, rồi anh tìm cách khuyên lơn, an ủi, khiến ai ai cũng cảm thấy thỏa lòng mát dạ. Tất cả những gì người ta mang đến dâng biếu, cảm tạ anh, anh phân phát lại cho người nghèo. Nhưng thường thì anh tiếp khách vào ban chiều, và đôi khi kéo dài đến nửa đêm hoặc hai giờ sáng. Nếu có ai tỏ dấu lo ngại cho sức khỏe, anh chỉ mỉm cười trả lời:

– Nếu như đó là tiếng Chúa gọi tôi thì sao?

Kinh nguyện và nhất là lòng sùng kính Đức Mẹ MARIA gìn giữ bảo trợ Joseph luôn luôn trong trạng thái vui vẻ và tin tưởng phó thác. Anh thật hạnh phúc. Và niềm hạnh phúc này anh thông truyền sang những ai có dịp tiếp xúc, tỏ bày tâm sự với anh. Anh giải thích lý do niềm vui nội tâm sâu xa:

– Không biết tôi sẽ ra sao, nếu tôi không bị tàn tật? Quả thật tàn tật trở thành kho tàng, suối nguồn hạnh phúc. Không bị tàn tật, có lẽ tôi sẽ khốn khổ. Trong khi nhờ tàn tật tôi sống tình trạng nghèo khó, thiếu thốn nhưng bù lại, tôi hạnh phúc và có thể trao hạnh phúc cho người khác.

… “Thế nên Thầy bảo anh em: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi CHA trên Trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Luca 11,9-13).

(Albert Pfleger, “FIORETTI de la Vierge Marie”, Mambre Editeur-Diffuseur, 1990, trang 92-94)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 11/9/2014

Anh chị Thụ & Mai gởi

Chủ Trương 4 Không của đảng Cộng Sản Việt Nam

Chủ Trương 4 Không của đảng Cộng Sản Việt Nam

Thạch Đạt Lang

20-7-2016

H1Khi hệ thống XHCN trên toàn thế giới bị sụp đổ, Liên Xô và các nước Đông Âu như Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumania… phải từ bỏ chế độ CS. Chế độ Hà Nội mất chỗ dựa trước đây là Liên Xô.

Hoang mang, lo sợ người dân nổi lên lật đổ chế độ, CS Hà Nội không còn con đường nào khác để cứu đảng, đành phải quay qua qụy lụy cầu cạnh, liên minh với kẻ thù trước đây là đảng cộng sản Trung Quốc, kẻ thù một thời Hà Nội chửi bới, rêu rao với quốc tế là lũ bá quyền, nước lớn.

Nắm được tẩy của chế độ CSVN, Trung Quốc càng ra sức chèn ép đảng cộng sản VN, lèo lái đi theo ước muốn của họ. Để tồn tại và độc quyền lãnh đạo đất nước, cộng sản VN không còn con đường nào khác là áp dụng chính sách 4 KHÔNG: Không thấy, Không nghe, Không biết, Không nói.

Không thấy: Đã gần chục năm nay, hàng trăm tàu đánh cá Việt Nam đã bị tàu Trung Cộng đâm chìm, hàng ngàn ngư dân đã bị thiệt mạng trên biển Đông hay mất trắng tài sản, Chính quyền CSVN vì chủ trương 4 Tốt, Mười Sáu Chữ Vàng, nên đã coi nhẹ vấn đề, không có phản ứng cụ thể trên bình diện ngoại giao với Trung Quốc hoặc nếu có chỉ là những lời lên án yếu ớt, nói cho có chuyện, xoa dịu căm phẫn của người dân.

Không nghe: Dù tiếng khóc than ai oán lẫn tiếng kêu uất ức của hàng ngàn gia đình ngư dân gặp nạn đã vang động cả nước, gây căm phẫn nơi người dân, nhưng đảng CSVN vẫn bình chân như vại, không một lãnh đạo cao cấp nào có bất cứ hành động gì để chứng tỏ đã nghe đến sự việc.

Không biết: Từ đầu tháng 4.2016, khi tin tức cá chết hàng loạt trải dài trên 240 km bờ biển VN từ thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh qua Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, đã lan truyền khắp nơi trên hệ thống báo chí lề đảng cũng như lề dân, tổng bí thư đảng CSVN vẫn thản nhiên dẫn bộ sậu đi thăm nhà máy thép Formosa, thủ phạm gây ra thảm họa, thay vì đi ra bờ biển, đến hiện trường tìm hiểu nguyên nhân của thảm họa, ảnh hưởng đến hàng triệu  người dân lẫn nền kinh tế của đất nước.

Không nói: Tất cả những tin tức nào không có lợi cho đảng, cho chế độ đều bị chặn đứng, phi tang, không được công khai đề cập tới. Từ lúc có thảm họa cá chết hàng loạt đến khi chính phủ Đài Loan chính thức công bố kết quả điều tra, kết án Formosa là thủ phạm, đồng thời Formosa chấp thuận đền bù 500 triệu Mỹ kim, ba người trong tứ đầu chế Trọng, Quang, Ngân vẫn hoàn toàn im lặng, chỉ có Phúc thỉnh thoảng lên tiếng, phát biểu vài câu vô thưởng, vô phạt, không làm rụng cọng lông ai.

Khi Tòa án Trọng tài thường trực PCA (Permanent Court of Arbitration) tuyên bố Philippines thắng trong vụ kiện xóa “đường lưỡi bò” ở biển Đông, cả thế giới hoan nghênh phán quyết, thì lãnh đạo chế độ CSVN chỉ ra lệnh cho báo chí, truyền thông trong nước hụ hợ, ca ngợi một cách yếu ớt, miễn cưỡng. Ngoài viêc cho Lê Hải Bình, phát ngôn viên bộ ngoại giao lên tiếng ủng hộ phán quyết thắng lợi về phía Philippines của tòa PCA, hoàn toàn không có những hành động thiết thực như thiết lập hồ sơ, theo gương Philippines kiện Trung Quốc ra tòa, đòi chủ quyền của mình ở Hoàng – Trường Sa, cũng như phủ nhận đường lưỡi bò chín đoạn mà Trung quốc tự vẽ và ấn định ở biển Đông.

Rồi đến lúc người dân thị xã Kỳ Anh khám phá ra hàng trăm tấn chất thải độc hại chứa trong các thùng phuy, được chôn giấu trong trang trại của các quan chức ủy ban nhân dân Hà Tĩnh, vẫn không thấy lãnh đạo chế độ CSVN lên tiếng hay tuyên bố hoặc có hành động gì.

Báo chí “lề phải” loan tin, các thùng phuy chứa chất thải độc hại đã được chuyên chở về Phú Thọ để xử lý nhưng theo nguồn tin “lề trái” thì chất thải vẫn nằm yên ở trang trại, chỉ có thùng phuy rỗng được đem đi.

Đi xa hơn nữa, chính quyền CSVN còn ra lệnh cho công an, côn đồ… thẳng tay đàn áp, đánh đập dã man, bắt giữ người dân biểu tình ủng hộ phán quyết của tòa trọng tài, vì sợ hãi những cuộc biểu tình của người dân làm mất lòng lãnh đạo láng giềng khổng lồ hung bạo, gian manh.

Do đó, kêu gọi hay chờ đợi chế độ CSVN thay đổi, nới rộng dân chủ, tự do hơn, hoặc đảng CS sẽ từ bỏ quyền lãnh đạo duy nhất là chuyện hoang đường. Cũng đừng kêu gọi đảng CSVN từ chức, họ có nắm giữ chức vụ nào đâu mà từ?

Hi vọng chế độ CSVN kiện Trung Cộng ra tòa án PCA về chủ quyền ở Hoàng – Trường Sa lại càng mờ mịt, vô vọng hơn. Đó là chưa kể về mặt pháp lý, công hàm của Phạm Văn Đồng ký năm 1958 là bằng chứng rõ ràng nhất CSVN thừa nhận chủ quyền Hoàng – Trường Sa thuộc về Trung Cộng, vì thế, Hà Nội không dám hé miệng hay có một hành động nào trên chính trường quốc tế về chuyện này.

Đừng nghĩ rằng chế độ CSVN không biết thực thi quyền hạn của mình trên công pháp quốc tế về vấn đề biển Đông với thềm lục địa 200 km tính từ bờ biển. Họ không thể làm vì há miệng mắc quai, vì đã lỡ ký những hiệp ước bí mật mà người dân không thể biết.

Kiện tụng, phản đối những hành động hung hãn, xâm lăng của Trung Cộng ở biển Đông, đưa nhau ra PCA chỉ làm lộ liễu hơn khuôn mặt bán nước của chế độ CSVN. Đó chính là lý do mà Dương Khiết Trì đã dám mắng thẳng vào mặt lãnh đạo CSVN từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng đến Nguyễn Sinh Hùng, Trương Tấn Sang là lũ con hoang.

Từ sau hiệp ước Thành đô 1990, đảng CSVN đã (gần như) trở thành tay sai của đảng cộng sản Tàu. Một tiếng ho, một cái hắt hơi của Tập Cận Bình cũng khiến cho bộ sậu Tứ đầu chế Trọng, Phúc, Quang, Ngân giật mình, run rẩy, tái mặt.

Lời tuyên bố mới nhất của Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN sau cuộc bầu cử quốc hội bù nhìn của chế độ CSVN cho thấy đảng CSVN coi thảm họa Formosa là nguyên nhân gây ra thất bại của cuộc bầu cử. Điều đó chứng tỏ chưa bao giờ đảng CSVN đặt quyền lợi dân tộc, đất nước trên quyền lợi đảng.

Nói tóm lại, một đất nước bị lãnh đạo, cai trị bởi một đảng phái độc tài, duy nhất, không có đối lập, với những con người không còn lương tri, đạo đức, liêm sỉ, lòng tự trọng, không có tinh thần dân tộc, thiếu học vấn lẫn hiểu biết, kiến thức, lại lệ thuộc ngoại bang nặng nề từ kinh tế đến văn hóa. Chỉ giỏi to họng mị dân, giáo điều, gian dối không ngượng miệng, thì đất nước đó sớm muộn cũng sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới nếu người dân không vùng lên xóa bỏ chế độ đó đi.

Tuy nhiên, điều này bất khả thi khi dân trí người Việt Nam còn quá thấp sau hơn 70 năm bị cai trị bởi chế độ CS. Mấy trăm ngàn người dân ở bờ biển 4 tỉnh miền trung đang đối diện với cái đói, nghèo ập đến nay mai khi không còn ngư trường hành nghề, không biết phải làm gì để sinh sống, không biết đi đâu để tìm việc, chỉ biết ngồi chờ sự cứu giúp, bố thí nhỏ giọt từ chế độ.

Đất đai, làng mạc dọc theo bờ biển ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế hiện đã trở nên hoang tàn, vắng lặng. Tầu thuyền đánh cá, ngư cụ, lưới đã bị phơi, treo cùng với gió sương vì ngư dân không còn dám đi biển nữa. Không một sinh vật nào có thể tồn tại trong một môi trường bị nhiễm độc quá nặng nhưng cũng không có một lực nào đủ mạnh để ngăn cản sự hoạt động của Formosa nếu không có sự can thiệp của quốc tế như từ chính phủ Đài Loan hoặc sự nổi dậy của ngư dân 4 tỉnh miền Trung, nơi trực tiếp lãnh hậu quả của Formosa. Các cuộc biểu tình lẻ tẻ cho dù có lên đến hàng ngàn người cũng sẽ bị đàn áp, dập tắt nếu không huy động được sự tham gia của ngư dân bị ảnh hưởng từ thảm họa.

Số tiền bồi thường 500 triệu đô la Mỹ sẽ đến tay người dân được bao nhiêu và bao giờ đến vẫn là một câu hỏi lớn. Đến bao giờ biển ở 4 tỉnh miền trung Việt Nam sẽ hồi sinh cũng là một câu hỏi không có câu trả lời khi chế độ CSVN còn tồn tại, bởi chế độ này không muốn và cũng không đủ khả năng giải quyết tận gốc thảm họa do chính họ gây ra.

Sau khi hiệp định Paris được ký kết ngày 27.01.1973, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của VNCH có chủ trương 4 KHÔNG để đối phó với người cộng sản : Không liên hiệp thành lập chính quyền với Cộng Sản, Không đầu hàng, Không nhượng bộ đất đai, Không đàm phán, thương lượng.

Ông Nguyễn Văn Thiệu có thể không phải là một tổng thống tài giỏi nhưng xem ra chủ trương của ông rất chính xác và thích hợp để đối phó với người cộng sản trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, thời gian.

Bạo lực và pháp luật

 Bạo lực và pháp luật

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-07-18

000_Hkg8090526.jpg

Cảnh sát giải tán người biểu tình trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội vào ngày 9 tháng 12 năm 2012.

 AFP photo

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Trong hai ngày 24 và 25 tháng Năm năm 2016, ông Nguyễn Hồng Điệp, trưởng Ban tiếp dân trung ương bị một nhóm dân chúng bao vây tấn công gây thương tích ngay tại trụ sở của Ban tiếp dân trung ương ở Hà nội.

Một số nhà quan sát trong và ngoài nước có ý kiến về việc sử dụng bạo lực của dân chúng cũng nhưng tình trạng pháp luật tại Việt Nam.

Chuyện dân chúng dùng bạo lực chống lại cơ quan công quyền tại Việt Nam là không mới. Vào năm 2013, dân tại xã Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình bắt trói năm nhân viên công an để làm áp lực  lên chính quyền giải quyết chuyện đãi vàng trái phép gây ô nhiễm trong địa phương. Điều trớ trêu là năm nhân viên công an này được điều đến để giải quyết chuyện đãi vàng.

Đầu tháng bảy năm 2016, dân chúng khu vực Cồn Sẻ tỉnh Quảng Bình biểu tình chống ô nhiễm môi trường, đã tấn công lực lượng công an. Và nổi tiếng nhất có lẽ là câu chuyện ông Đoàn Văn Vươn dùng súng tự chế tạo bắn vào lực lượng cưỡng chế đất đai.

Một xã hội bạo lực đang thắng thế và cái sự thắng thế này nó bắt đầu từ chính quyền. Chính quyền sử dụng bạo lực với dân, chính quyền đạp lên pháp luật.
– Nhà văn Phạm Đình Trọng 

Bên cạnh việc dùng vũ lực chống chính quyền, dân chúng cũng có khuynh hướng dùng vũ lực với nhau, hoặc là dùng vũ lực để giải quyết những chuyện mà đáng ra pháp luật phải làm. Chẳng hạn như đánh và giết những người trộm vặt, hay chủ nhà trọ ngăn chận không cho công nhân đi làm tại vì công nhân không ở nhà trọ của họ. Nếu căn cứ theo pháp luật của Việt Nam thì những hành động này đều phạm pháp.

Nhà văn Phạm Đình Trọng đưa ra lý do của việc dân chúng sử dụng bạo lực:

“Cái này nó báo động một sự việc nghiêm trọng, đó là một xã hội bạo lực. Một xã hội bạo lực đang thắng thế và cái sự thắng thế này nó bắt đầu từ chính quyền. Chính quyền sử dụng bạo lực với dân, chính quyền đạp lên pháp luật. Pháp luật đó không có tác dụng, bây giờ người ta noi gương chính quyền mà sử dụng bạo lực. Chính quyền dùng bạo lực với dân quá phổ biến và trở thành bình thường. Việc đó trở thành một khuôn mẫu ứng xử của xã hội thì bây giờ người dân người ta cũng ứng xử như thế thôi.”

Quan niệm về pháp luật và sử dụng bạo lực

Lực lượng công an và an ninh vốn rất được coi trọng trong thể chế chính trị cộng sản, và người đặt nền móng cho thể chế này là Lenin có nói rằng phải thực hiện một nhà nước dùi cui để trấn áp các kẻ thù giai cấp của đảng cộng sản.

Theo một thống kê chưa chính thức thì ngân sách của lực lượng an ninh bên Trung Quốc dùng để trấn áp các phản kháng trong nội địa lớn hơn ngân sách của quân đội, lực lượng dùng để bảo vệ đất nước.

Theo các nghiên cứu được thực hiện tại phần Đông Đức sau khi chế độ cộng sản sụp đổ thì có đến 1 trên tám người dân Đông Đức có làm việc dù ít hay nhiều với lực lượng an ninh nước này.

Lực lượng an ninh, công an tại Việt Nam, như mô hình các quốc gia cộng sản khác cũng rất hùng hậu. Sau đại hội toàn quốc vừa qua của đảng cộng cộng sản, rất nhiều vị tướng công an được nắm giữ nhiều quyền lực trong bộ máy chóp bu là Bộ chính trị. Ngoài ra cơ quan công an còn sử dụng một lực lượng có tổ chức rất đông đúc như dân phòng, trật tự, thanh niên xung phong,… thậm chí cả thành phần tội phạm vào công việc trấn áp các lực lượng đối lập. Các lực lượng này đôi khi được các cơ quan tuyên truyền của đảng cầm quyền gọi là lực lượng quần chúng.

Ông Bùi Thanh Hiếu, tức blogger Người Buôn Gió, cho biết là trong những vụ đàn áp, các cơ quan an ninh tỉnh sử dụng các lực lượng đoàn viên thanh niên, còn cấp thấp hơn thì sử dụng nhóm người côn đồ và tội phạm.

Nhiều nhà quan sát tin rằng việc sử dụng lực lượng tội phạm để đàn áp các phong trào đối kháng là có thật, nhưng cơ quan chức năng luôn phủ nhận điều này, và theo ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực châu Á của Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế nói với đài RFA rằng rất khó chứng minh cho điều này.

Viễn cảnh một quốc gia không có pháp luật

ad1aef47-a89d-4ef1-8823-2599ae51b4a3.jpg-400.jpg

Anh Lã Việt Dũng tại bệnh viện với vết thương băng trắng trên đầu do bị côn đồ tấn công hôm 10/7/2016. AFP photo

Trong một lần trao đổi với chúng tôi, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng tại Sài Gòn có nói rằng điều trớ trêu là với một lực lượng công an và an ninh hùng hậu, nhưng tình trạng tội phạm tại Thành phố Sài Gòn không giảm đi, mà đôi khi lại phải dựa vào các “Hiệp sĩ đường phố” tình nguyện truy quét tội phạm.

Ông Bùi Thanh Hiếu nói về cái cách mà cơ quan công an trả công những lực lượng mà cơ quan này dùng để trấn áp những hoạt động đối kháng ôn hòa, theo đó những hoạt động tội phạm sẽ được dung dưỡng.

“Các đoàn viên thanh niên hăng hái mà cấp công an thành phố dùng (nhờ) thì sẽ được ghi vào là có thành tích bảo vệ đảng, thành tích thế này, thành tích thế kia. Còn bọn ở cấp dưới, bọn lưu manh giang hồ mà công an phường nhờ vả, thì nếu có hoạt động gì trong địa bàn chẳng hạn như cờ bạc thì sẽ được làm ngơ.”

Nói về tình trạng bất chấp pháp luật đó, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đánh giá rằng nó nguy hiểm, báo hiệu rằng lòng tin trong dân chúng đã mất, tuy nhiên ông cho rằng tình trạng hiện tại vẫn chưa phải là một thay đổi gì lớn:

“Cái mà dân gian vẫn nói là quân hồi vô phèng, hiện nay đã lẻ tẻ nhìn thấy nhưng chưa phải là ở một tình trạng đêm trước của một đổi thay gì cả, tôi chưa thấy cái điều ấy. Nếu nhìn vào người dân thì đại đa số vẫn không phản ứng gì cả, vẫn lặng lẽ mà thôi. Còn khi đã có cái hiện tượng ấy, thì tình trạng nó còn tệ hơn, nhưng hiện nay chưa đến mức ấy. Nhưng cái niềm tin thì người dân coi như đã thiếu một cách trầm trọng rồi.”

Giáo sư Huệ Chi là một trong những người thành lập trang Bauxite Việt Nam nêu lên những tiếng nói phản biện của trí thức trong nước về những vấn đề kinh tế xã hội và chính trị.

Các đoàn viên thanh niên hăng hái mà cấp công an thành phố dùng (nhờ) thì sẽ được ghi vào là có thành tích bảo vệ đảng, thành tích thế này, thành tích thế kia.
– Ông Bùi Thanh Hiếu 

Trong sự kiện có đổ máu tại Cồn Sẻ, Linh Mục Hoàng Anh Ngợi, trong bài trả lời đài RFA cũng cho rằng nguyên nhân của việc đụng độ đầy bạo lực giữa dân chúng và công an cũng là do sự thiếu niềm tin.

“Chính quyền có yêu cầu về ủy ban xã để gặp, nhưng dân nói bây giờ không tin gì vào sự gặp gỡ nên họ không về. Chính quyền bảo nếu vậy thì về nhà thờ; dân cũng nói bây giờ không tin gì vào lời giải thích của chính quyền nữa.”

Trong một lần trao đổi với chúng tôi, nhà bất đồng chính kiến Hà Sĩ Phu có trích lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về pháp luật trong những năm đầu tiên nắm chính quyền sau năm 1954 là không muốn để luật pháp trói tay hành động của đảng và chính phủ.

Bình luận về hiện trạng luật pháp Việt Nam giáo sư Nguyễn Huệ Chi nói:

Luật pháp thì chưa đứng ra ngoài sự chi phối của chính trị. Nếu như có một nền luật pháp như thế thì tiếng nói của mọi người nó vững vàng hơn vì mình có cái chỗ tựa. Mình có thể đứng khách quan, nhìn mọi vấn đề mà lên tiếng, vì có luật pháp làm chổ tựa cho mình. Nhưng bây giờ thì luật pháp chưa đạt được, vẫn bị chi phối bởi chính trị, cho nên là mọi tiếng nói đều không có chỗ tựa nào cả, nó mù mờ thành ra người dân muốn tìm ở đâu một niềm tin để mà lên tiếng, để mà có ý kiến cũng không có được.”

Trở lại với câu chuyện ông Nguyễn Hồng Điệp, Trưởng ban tiếp dân Trung ương bị dân chúng hành hung, trong bài trả lời phóng viên VTC news được báo Lao Động đăng lại thì ông lo ngại rằng với vị trí thủ trưởng như ông mà còn bị như vậy thì các cán bộ cấp dưới của ông còn bị nguy hiểm tới chừng nào.

Ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực châu Á của Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế, thì nói với đài RFA là nếu Việt Nam cứ để tình trạng này tiếp diễn thì có thể Việt Nam sẽ trở thành một đất nước vô luật pháp.

Những Sự Thật Thú Vị Về Vatican Khiến Bạn Bất Ngờ

Những Sự Thật Thú Vị Về Vatican Khiến Bạn Bất Ngờ

Ai đã đọc “Thiên thần và ác quỷ” của Dan Brown hẳn không thể nào quên quốc gia Vatican đầy bí mật thú vị.

Vatican là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất thế giới, với diện tích 0,44 km2, nằm trong Italy. Quốc gia này chỉ có các con phố mà không có đường cao tốc.
Với nhiều tài liệu quan trọng được viết bằng tiếng Italy, Vatican không có ngôn ngữ chính thức. Cư dân nói tiếng Italy, Anh, Pháp, Đức và Tây Ban Nha
Vatican công nhận trên lý thuyết sự sống ngoài trái đất có thể tồn tại và thậm chí đã ra một tuyên bố chính thức. Điều này được cha Jose Funes, trưởng đài thiên văn quốc gia, công bố vào năm 2006.
Tuy nhiên, họ cũng cho biết, dù đó có là dạng sống gì thì cũng được Chúa trời tạo ra.
Không chỉ nhỏ nhất thế giới, đây còn là quốc gia có dân số ít nhất với chỉ khoảng 1.000 người.
Vatican có bưu điện với tem riêng. Điều thú vị là hệ thống thư tín nước này khá phổ biến vì dịch vụ nhanh hơn so với hệ thống của Italy. Ngoài những món đồ lưu niệm, tem bưu điện là một trong những nguồn thu nhập chính của họ.
Trạm radio nằm trong một tòa tháp ở Vatican Gardens phát sóng bằng 20 ngôn ngữ.
Thành Vatican được công nhận là di sản thế giới của UNESCO, là di sản duy nhất gồm trọn vẹn một quốc gia. Người dân Italy có thể ủng hộ 8% tiền thuế hàng năm của mình cho nước này.
Năm 2007, Vatican quyết định trở thành quốc gia không carbon đầu tiên. Họ trung hòa lượng carbon thải ra bằng cách trồng một khu rừng ở Hungary.
Các tài liệu lịch sử tiết lộ Thánh Peter bị đóng đinh ở gần vườn Neronian và được chôn ở chân đồi, ngay dưới bệ thờ chính của nhà thờ mang tên ngài. Các cuộc khai quật diễn ra từ năm 1940 tới năm 1957 đã xác định được ngôi mô có khả năng là của ngài.
Đây là quốc gia với người đứng đầu là giáo hoàng.
Nhà thờ mới được xây dựng trên nền móng của nhà thờ St. Peter đầu tiên phải mất tới 120 năm mới hoàn tất phần thô. Việc trát nề, thêm các tượng điêu khắc, các bức họa và tranh khảm tiếp tục kéo dài thêm 200 năm nữa.
Mái vòm của nhà thờ St. Peter do Michelangelo thiết kế, với chiều cao khoảng 122 m và đường kính hơn 42 m.
Nhà thờ St. Peter có dạng như một cây thập tự, dài 213 m, chỗ rộng nhất lên tới 137 m, với tổng diện tích hần 1.700 m2.
Nghĩa địa dưới nhà thờ là nơi chôn cất các giáo hoàng, trong đó có Thánh Peter (giáo hoàng đầu tiên của Vatican).
Cung điện gồm nhiều tòa nhà nối với nhau, tổng cộng có hơn 1.000 căn phòng. Trong cung điện có các căn hộ, nhà nguyện, bảo tàng, phòng họp và văn phòng chính phủ.
Nhà nguyện Sistine do kiến trúc sư Giovanni dei Dolci thiết kế. Phần trang trí và nội thất do Pier Matteo d’Amelia, Michelangelo, Raphael và những người khác thực hiện trong 60 năm sau khi nhà nguyện xây xong.

Theo Zing.vn