HAI SẮC HOA TI GÔN

HAI SẮC HOA TI GÔN
T.T.Kh

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người ấy với yêu thương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng lạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Bảo rằng “Hoa dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng thế thôi.”

Thuở đó nào tôi có hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm
Trong một ngày vui, pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
“Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhung hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm phai

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu…
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

********************************

Huyền thoại thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1937-38 bỗng nổi cơn ba đào với bốn bài thơ ký tên T.T.Kh rồi sau đó lặng lẽ tan vào cõi hư không mặc cho dư luận ồn ào xôn xao.  Chất hưng phấn làm hoa ti gôn nở rộ một thời được khai hoa nở nhụy bằng một câu chuyện “Hoa ti gôn” của ký giả Thanh Châu đăng trên báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội.  Là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng, “Hoa ti gôn” kể về một chuyện tình buồn giữa một chàng họa sĩ và một thiếu nữ gia đình thượng lưu.
Sau đó không lâu, tòa soạn nhận được một bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”, ký tên T.T.Kh do một người thiếu phụ trạc hai mươi, dáng bé nhỏ thùy mị, nét mặt u buồn mang đến.  Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.  Câu chuyện “Hoa ti gôn” đã khơi lại mối tình xưa của người thiếu phụ (T.T.Kh.) với một chàng nghệ sĩ, cả hai đã qua một thời yêu thương hẹn hò dưới giàn hoa ti gôn.  Rồi chàng ra đi biền biệt không hẹn ngày về.  Nàng ở lại vâng lời mẹ cha gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một người chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của thời quá khứ.  Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết.  Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu điện ba tác phẩm khác cũng mang tênT.T.Kh.  Đó là các bài “Bài thơ thứ nhất”, “Bài thơ đan áo” (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và “Bài thơ cuối cùng”.
Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh nữa.  Không ai hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất” và cũng không hiểu tại sao tác giả lại lặng lẽ rời bỏ văn đàn không lời từ biệt để lại trong lòng người yêu thơ bao nỗi niềm thương nhớ luyến tiếc.

********************************

Bảy mươi năm trôi qua, nhân gian tốn bao giấy mực để tìm hiểu T.T.Kh là ai.  Người thì đoán Trần Thị Khánh, một nữ sinh Hà nội, người yêu của Thâm Tâm, một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với bài Tống Biệt Hành.  Kẻ lại bảo là Nguyễn Bính, rồi em gái họ nhà thơ Tế Hanh.  Người khác đoan chắc đó là Trần Thị Vân Chung, người yêu nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn.  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi tác giả tiếp tục thinh lặng “sống hờ hết kiếp, trong duyên trái đời”. 

 Làm sao có thể dệt nên chuyện tình buồn nếu chỉ có một người?  Thế là dư luận đổ xô đi tìm “người ấy” của T.T.Kh để hỏi xem “người ấy có buồn không?  Có còn nghĩ tới loài hoa vỡ”.  Kẻ xầm xì nói đó là nhà thơ Thâm Tâm, người lại bảo là nhà văn Thanh Châu.  Nguyễn Bính, J. Leiba và bao nhiêu anh hùng thiên hạ khác nữa cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình!  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi loài hoa ti gôn chỉ nở một lần, hoa rụng mang theo niềm bí mật của người yêu hoa.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình ngang trái nếu không có người thứ ba, là kẻ có nợ nhưng không duyên, có nghĩa nhưng không tình?  Thế mà thiên hạ chẳng ai buồn tìm hiểu người chồng “nghiêm luống tuổi” là ai?  Báo chí chẳng tốn một giọt mực, không một lời phân ưu.  Chẳng ai buồn thắc mắc đến danh tính của kẻ chiến thắng nhưng lại là chiến bại, kẻ “được” nhưng là “mất”.  Cũng như vợ mình, chân dung của ông vẫn là một ẩn số phụ bé nhỏ không lối đáp trong nghi án văn học T.T.Kh.

Bài thơ tình lãng mạn thời tiền chiến này đã đi sâu vào lòng tôi một thời.  Ngắm hoa ti gôn “sắc hồng tựa trái tim tan vỡ, và đỏ như màu máu thắm pha”, tôi ngậm ngùi xót thương người con gái bạc phận ôm mối tình dang dở lên xe hoa, theo lời mẹ cha nhắm mắt đưa chân sống “quang cảnh lạ, tháng năm dài.  Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.”  Tôi cảm thông tâm tình cay đắng người thiếu phụ buồn ngồi bên song cửa sổ miễn cưỡng “đan đi đan lại áo len cho chồng” mà mắt cứ dõi nhìn phương xa.  Tôi thầm trách “người ấy”đã làm tan nát thêm cõi lòng người yêu khi mang “bài thơ đan áo nay rao bán, cho khắp người đời thóc mách xem”.   Xót xa, tiếc nuối.… là những tình cảm lưu luyến dành cho hai nhân vật trai thanh gái tú có duyên gặp gỡ nhưng không phận phu thê đã dệt nên những áng thơ tình bất hủ cho nền văn chương Việt Nam!

Cũng như người đời, tôi chưa một lần thắc mắc tâm tư người chồng đi bên lề cuộc đời vợ mình ra sao.  Ông buồn hay vui khi đêm đêm nằm ôm cái xác không hồn với cặp mắt ngơ ngác thất thần?  Ông nghĩ gì khi môi đụng làn môi băng giá?  Ông cảm thấy gì khi được vợ nhưng không được trái tim của nàng?  Cho đến một ngày tình cờ đọc Kinh Thánh, tôi ngờ ngợ như đọc được nỗi niềm cay đắng của ông, một người đứng bên lề cuộc đời người yêu qua những dòng chữ chua chát “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b).  Ôi, Thiên Chúa của tôi, Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, giàu sang và uy quyền, lại chia sẻ chung số phận hẩm hiu với người chồng già bạc phận trong “Hai sắc hoa ti gôn” hay sao?  Tôi đã sống ra sao để Ngài phải thốt lên những lời ai oán ấy?

Từ “ngày vui pháo nhuộm đường” đó, cuộc sống tuy nhiều sầu muộn, tháng ngày đong đầy những chua cay nhưng T.T.Kh. không hề có ý định chạy trốn cuộc sống, cũng chẳng dự định trốn theo người yêu.  Nàng“ vẫn đi bên cạnh cuộc đời” trong sự “ái ân lạt lẽo” của chồng với một thái độ lạnh lùng dửng dưng chấp nhận sự thật dù phũ phàng.  Tôi cũng thế, vẫn đi bên Thiên Chúa, vẫn thờ phượng Ngài, không có ý định bỏ đạo, càng không muốn chống đối Ngài.  Chỉ là một thái độ lạnh nhạt chấp nhận sự việc có Chúa bên đời như một tình cờ, như một sự ép đặt của mẹ cha.  Còn lòng tôi ư?  Người thiếu phụ có chồng “vẫn giấu trong tim bóng một người”, chỉ một người thôi!  Còn tôi, thờ phượng Ngài đó nhưng che giấu trong tim biết bao bóng hình, những mộng mơ với thế gian phù phiếm, những toan tính cho tương lai dù tương lai không thuộc về tôi và bao dự định dang dở….  Những bóng hình đó không ngừng đeo đuổi tôi đến nhà thờ những ngày Chúa nhật dù chỉ một tiếng, vẫn hiện diện trong những lời kinh ro ro thuộc lòng dù chỉ vài phút.  Như một thiếu phụ đoan trang khép mình trong lễ giáo, tôi tuân giữ những luật buộc một cách máy móc, dâng Ngài những của lễ dư thừa trong nhăn nhó.  Nhưng linh hồn tôi, trái tim tôi, tâm trí tôi… dật dờ đâu rồi trong một cõi xa xăm nào đó!

Đi bên chồng nhưng lại hỏi “người ấy” có buồn không, đó là tâm trạng của người xưa.  Còn tôi hôm nay đi bên Ngài đó nhưng vất vả lo toan cho những việc ở trần gian.  Miệng nói tôn kính Thiên Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự.  Nhưng bao sức lực, trí lực, tài năng, máu huyết của tuổi thanh xuân…. tôi đã dâng hiến cho thế gian hết rồi để mong tìm một chỗ đứng trong xã hội, một cuộc sống tiện nghi…..  Còn chăng chỉ là cái xác mệt mỏi vô hồn trong lòng nhà thờ mỗi ngày Chúa nhật buồn.  Xa thật hai cõi lòng của tôi và Ngài!  Phải chăng những lời trách móc “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b) là để chỉ tôi sao?

“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời…, vẫn giấu trong tim…”, “vẫn đi” và “vẫn giấu”, một sự ngoan cố đến lạ lùng của một phụ nữ yếu đuối.  Không có ý định từ chối cuộc sống và gia đình nhưng cũng không có ý định chôn hình ảnh xưa cố quên để sống, nàng đã cố bám víu lấy nó như một thứ lương thực nuôi sống hiện tại.  Tôi thấy thấp thoáng hình ảnh mình trong sự cố chấp bám dính quá khứ của người thiếu phụ.  Vẫn biết một ngày nào đó tôi sẽ phải rũ áo ra đi không mang theo được gì nhưng tôi vẫn ngoan cố xây đắp cho thật nhiều.  Vẫn biết đời sau mới là thiên thu vĩnh cửu nhưng tôi chỉ chăm lo hạnh phúc hời hợt của vài thu chóng qua.  Phải chăng đó là oan trái của kiếp người?  Phải chăng con rắn ngày xưa vẫn tiếp tục cám dỗ trong lòng mỗi người mãi không thôi?  Người thiếu phụ đã bám lấy cả hai và nàng đã phản bội cả hai: người yêu và chồng mà cuộc sống chỉ là “từng thu chết, từng thu chết”.  Kết quả cuộc sống của tôi có khá hơn không khi tôi cùng bám vào cả hai:  Thiên Chúa và thế gian?

Còn gì xót xa não nùng cho bằng khi nghe những lời thở than của người vợ hiền “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời.  Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.”   Phải chăng đó cũng là những tiếng trách móc của tôi về sự “ái ân lạt lẽo” của Thiên Chúa?  Như một ông chồng già giàu có nhưng keo kiệt, uy quyền nhưng bủn xỉn, Ngài quay mặt làm ngơ trước những lời van xin thống thiết của tôi: cái xin không được, cái không xin lại cho, cái muốn được thì mất, cái mất lại được.  Ngài đã bỏ tôi chới với một mình trong khổ đau, mặc tôi ngụp lặn trong cô quạnh không lời ủi an.  Trong nỗi đau không tình cờ đó, Ngài tiếp tục thinh lặng, bí mật và khó hiểu….. không một lời đáp trả.  Quả là lạt lẽo và vô tình làm sao!

Dù lời thơ ai oán, hồn thơ chất chứa niềm trách móc cam chịu của người vợ bị chồng “lạt lẽo, hờ hững”, nhưng tôi vẫn bắt gặp đâu đó một sự quảng đại nơi người chồng “nghiêm luống tuổi” môn đăng hộ đối.  “Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ, “Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.”  Chỉ là hững hờ thôi sao?  “Vẫn biết”, một sự khẳng định chắc chắn đến thế nhưng không có cảnh đòi li dị, không đuổi về nhà người vợ ngày qua đêm lại chỉ “thờ thẫn hồn eo hẹp nhớ người xưa, không cưới năm thê bảy thiếp, không đánh đập hành hạ, mà cũng chẳng có chuyện “ông ăn chả bà ăn nem”, … không một hành động cụ thể nào cho sự trả thù.  Chỉ là một thái độ “hững hờ” của người quân tử!  Thái độ “hững hờ” hay nồng nàn, “lạt lẽo” hay sốt mến còn do thái độ cảm nhận của đối tượng nữa. Tôi không thể nhìn thấy cuộc đời màu hồng khi đeo cặp kiếng đen. Làm sao có thể tìm thấy một sự yêu đương nồng cháy khi “từ đấy thu rồi, thu lại thu.  Lòng tôi còn giá đến bao giờ?” Ai có thể làm tan tảng băng nếu lối vô bị bít kín?  Ly nước đã đầy làm sao có thể rót thêm?  Làm sao có thể tìm được lòng sốt sắng yêu mến khi tôi đến với Thiên Chúa với tấm lòng giá băng qua những nghi thức thờ phượng hời hợt bên ngoài, với trái tim đầy ắp những tham vọng thế gian và cái đầu tính toán đầy những thành kiến.

Có đúng chăng sự “hững hờ” và “lạt lẽo” của người chồng trong “Hai sắc hoa ti gôn” là kết quả cách sống thờ ơ của người vợ?  Có sai không thái độ giận dữ của Thiên Chúa “Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!  Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:15-16)  là kết quả cách sống dở dở ương ương của tôi?  Tôi còn có sự tự do lựa chọn cho mình một lối sống, nhưng người con gái đất Việt bảy mươi năm về trước thì không.  Vậy tôi và nàng ai đáng thương và đáng trách hơn?

Xuyên suốt bốn bài thơ của T.T.Kh, ngoài thái độ “hững hờ” và “lạt lẽo” của người chồng, còn một thái độ tế nhị khác nữa, đó là sự chờ đợi!  Ông đã âm thầm đi bên cạnh cuộc đời vợ mình để chờ đợi sự quay về của người vợ hiền, nếu không quay về vì yêu thương thì cũng xin vì bổn phận.  Qua ông, tôi bắt gặp hình ảnh chờ đợi của Thiên Chúa, Ngài đã kiên nhẫn đứng bên lề cuộc đời của những người đã chọn Ngài là Chúa nhưng chỉ là môi miệng để ngày qua tháng lại tiếp tục mòn mỏi trông chờ.  Một Thiên Chúa đầy quyền uy nhưng thật tội nghiệp vẫn lặng lẽ đứng đó, không một lời giải thích cho thái độ tưởng như hờ hững, lạt lẽo của mình, với đôi cánh tay giang rộng để chờ đợi không chỉ thân xác, không chỉ hình thức, không chỉ môi miệng nhưng là một tình yêu đích thực từ trái tim, một cái xác có hồn, một sự dâng hiến trọn vẹn tuyệt vời của người yêu.

Ngược lại với sự quảng đại chờ đợi trong âm thầm nhẫn nhục của người chồng là một sự phản bội tế nhị của “người ấy”:

“Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ đan áo của chồng em

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem.”

Là giết đời nhau đấy biết không?  (Bài thơ cuối cùng)

Bây giờ thì nàng đã rõ rồi tấm lòng yêu thương của người mà nàng hằng ấp ủ trong tim.  Trong khi người con gái “vườn Thanh” lo lắng “nếu biết ngày mai tôi lấy chồng. Trời ơi! Người ấy có buồn không?  với một niềm tin mạnh mẽ vào người yêu “nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ.  Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em” và nỗi khắc khoải mong chờ được tái ngộ dù chỉ trong mơ “tiếng lá thu khô xiết mặt hè.  Như tiếng chân người len lén đến”.  Thế mà người ấy lại nhẹ nhàng đem tình nàng “rao bán” trên mặt báo.  “Bài thơ đan áo” chỉ viết riêng cho chị chia sẻ nỗi lòng u uất của người con gái lấy chồng phương xa, giờ còn đâu nữa những tâm tư thầm kín của người thiếu phụ khuê các.  Người ta đã quên rồi lời hẹn xưa: “Cố quên đi nhé câm mà nín.  Đừng thở than bằng những giọng thơ”.  Người ta thương gì “một mảnh lòng tan vỡ”, xót xa gì “một tâm hồn héo”, tiếc gì một đóa “hoa tàn dấu xác xơ”.  Không ăn được thì đạp đổ!  Hạnh phúc của người yêu nào có nghĩa lý gì!  Thẳng tay, phũ phàng và dứt khoát “lại chính là anh, anh của em” đó!  Đâu rồi một tâm hồn nghệ sĩ cao thượng?  Đâu rồi nét quân tử của người yêu hoa?  Chả trách nào tiếng chim trong lồng tắt lịm từ đó!

Hình ảnh “người ấy” phải chăng là hình ảnh của thế gian: đẹp đẽ, lãng mạn, nên thơ… khi tình đang mặn nồng, thưở “nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn”.  Nhưng khi lòng tôi thao thức với lời mời gọi thiêng liêng từ trong đáy tim thì thế gian cố níu kéo bằng những dụ dỗ ngon ngọt, những hình ảnh phù phiếm, sự hưởng thụ thân xác.  Và khi tôi nhất quyết quay gót trở về với Thiên Chúa thì bộ mặt thế gian biến đổi với những gian trá mưu mô xảo quyệt, với hành động trả thù bỉ ổi nhằm phơi bày tội lỗi thầm kín của tôi cho dù làm thế “là giết đời nhau”.  “Đời chỉ đẹp khi tình còn dang dở!”  Tình đã dang dở rồi đây nhưng người trong cuộc có thấy đẹp hơn, thơ mộng hơn không hay chỉ toàn cay đắng phũ phàng?

Thế gian là thế đấy!  Người tình là thế đó!  Mặc dù “oán hờn anh mỗi phút giây” nhưng lòng thì “giận anh không nỡ nhớ không thôi”!  Thiên Chúa có lẽ quá thấu hiểu sự yếu đuối mù quáng của con người nên hai chữ TỈNH THỨC được lập đi lập lại nhiều lần trong giáo huấn của Ngài và ân sủng từ trời cao không ngừng tuôn đổ để giúp con người biết lựa chọn và sống với sự chọn lựa của mình một cách sáng suốt.

Chuyện tình nào rồi cũng có đoạn kết, mối tình tay ba nào cũng phải kết thúc bằng sự lựa chọn.  Như “Người chồng  Người tình” không thể cùng song hành với nhau trong cuộc sống “Người vợ”, thì Thiên Chúa cũng không thể cùng đồng hành với thế gian trong trái tim và linh hồn một người.  Tôi đang ở đâu trong mối tình tay ba giữa Thiên Chúa – Thế gian –  và Tôi?  Tôi sẽ chọn lựa ai, chỉ một trong hai?  Và sẽ sống với thái độ nào trong sự tự do lựa chọn đó?

Lang Thang Chiều Tím

08/2007

Chúng ta phải trả giá

 Chúng ta phải trả giá

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-07-25

000_Hkg7552560.jpg

Người Việt biểu tình chống Trung Quốc trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội ngày 08 tháng 7 năm 2012.

 AFP photo

00:00/09:42

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cái bóng Trung Quốc, cái bóng cộng sản

Thảm họa môi trường Vũng Áng xảy ra hầu như cùng thời gian với phán quyết của tòa trọng tài quốc tế về biển Đông. Hai sự kiện lớn này phủ cái bóng lo ngại về Trung Quốc lên các trang blog tiếng Việt chưa biết chừng nào mới chấm dứt.

Nói về cái bóng Trung Quốc phủ lên xã hội Việt Nam, luật sư Lê Luân viết rằng khi nho giáo, vốn là cái cốt lõi của văn hóa Trung Hoa, và tâm lý nô lệ của người Việt chưa chấm dứt thì cái bóng của Trung Quốc vẫn còn đè nặng Việt Nam.

Một nhà nghiên cứu văn hóa Hán Nôm là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cho rằng với cái rủi ro lịch sử lệ thuộc 1000 năm thì văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng lên Việt Nam là điều khó tránh, nhưng khi bàn về món tiền mà công ty Formosa hứa bồi thường cho Việt Nam sau thảm họa môi trường mà họ gây ra, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện viết rằngKhông có một món tiền nào có thể mua được sinh mệnh của mấy chục triệu người con đất Việt dải đất miền Trung. Không có một nhà máy thép nào có thể cho hàng triệu ngư dân cuộc sống như là biển cả.

Thảm họa môi trường biển miền Trung vừa qua đã phơi bầy toàn bộ những sự thật phũ phàng trong việc quản trị đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian qua.
– Nhà báo Kami

Công ty Formosa có chủ là người Đài Loan, nhưng được cho là gắn bó rất chặt chẽ với các công ty Trung Quốc cộng sản.

Nhà báo Nguyễn An Dân nhìn lại những ảnh hưởng của các quốc gia cộng sản lớn lên nước Việt Nam trong mấy chục năm qua:

Giai đoạn 1979, do Trung Quốc xâm lược Việt Nam, Liên Xô khi đó trợ giúp chúng ta, nên chúng ta cho con em học tiếng Nga. Rồi cách đây 6-7 năm thì do Trung Quốc là bạn 16 vàng 4 tốt nên lại có đề án đưa tiếng Hoa vào hệ thống giáo dục phổ thông. Tại sao chúng ta cứ mãi ngả nghiêng như thế, mãi vọng ngoại như thế? Lại còn lập dự án phát triển viện Khổng tử, dưng lại các tượng Khổng Tử. Đó là sự thất thủ chủ quyền về giáo dục, về văn hóa tư tưởng.

Hai cuộc khủng hoảng, thảm họa môi trường Vũng Áng, và chủ quyền bị lấn lướt ngoài biển Đông đã đặt tính chính danh cầm quyền của đảng cộng sản vào một thử thách rất lớn. Nhà báo Kami bình luận:

Thảm họa môi trường biển miền Trung vừa qua đã phơi bầy toàn bộ những sự thật phũ phàng trong việc quản trị đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian qua. Đó là tình trạng chính quyền nhà nước và cán bộ lãnh đạo ở mọi cấp vô trách nhiệm đối với đất nước cũng như dân chúng. Họ đang điều hành quốc gia theo lối “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”.

Đó là hậu quả của một thể chế chính trị độc đảng như Việt nam hiện nay, khi cơ chế kiểm soát và điều chỉnh quyền lực đã bị tê liệt và vô hiệu hóa. Vì lợi nhuận và lợi ích của cá nhân, người ta đã bất chấp tất cả, kể cả cuộc sống của dân chúng và tương lai của dân tộc này. Vì thế chúng ta phải cảm ơn Formosa, nhờ qua đó chúng ta mới biết được thực trạng của đất nước. Chúng ta cần phải đặt câu hỏi, đảng Cộng Sản Việt Nam một đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam với các thành viên có ý thức như thế, thì còn xứng đáng để tiếp tục duy trì Điều 4 của Hiến pháp nữa hay không?

Bên cạnh những trách nhiệm về môi trường và chủ quyền, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện cũng cho rằng chủ nghĩa cộng sản chịu trách nhiệm về những tổn hại về văn hóa và tin thần xảy ra trên đất nước Việt Nam mấy mươi năm qua.

Đấu Tranh

Một chuyển biến rõ ràng của tình hình chính trị xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây là nhiều người đã lên tiếng công khai kêu gọi loại bỏ chủ nghĩa cộng sản. Tác giả Lê Văn viết trong lời đề tựa cho một bài viết trên trang blog Ba Sàm rằng:

Xóa bỏ chế độ cộng sản không phải là đi tiêu diệt người cộng sản mà là nhằm loại đảng cộng sản ra khỏi quyền hành bằng mọi phương tiện,  mọi hình thức, mọi phương pháp ôn hoà để giành lại quyền tự quyết định cho tương lai của chính chúng ta, cho tương lai của cả dân tộc ta .

Không ít những đảng viên cộng sản rời bỏ đảng. Trang blog Bình Luận Án định nghĩa tội trạng phản đảng mà đảng cộng sản dành cho họ:

Hành vi phản bội đảng, suy cho cùng cũng chỉ mới là phản bội các đồng chí của mình, phản bội con đường hay xu hướng chính trị mà mình đã chọn. Chứ không có nghĩa là bị nhân dân hay những người ngoài đảng ghét bỏ, khinh bỉ, hay bị đánh giá là xấu…

Điều đáng lưu ý, là hành vi phản bội đảng tuy khá nghiêm trọng, nhưng rốt lại thì vẫn không phải, không bị xem là hành vi tội phạm – theo luật hình sự. Pháp luật Việt Nam, cụ thể là trong Bộ luật hình sự không có tội “phản bội đảng cộng sản”.

Nhưng những khẩu hiệu mang nội dung đòi xóa bỏ sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản vẫn chưa xuất hiện trên đường phố, mà thay vào đó là những lời đòi hỏi môi trường trong sạch và chủ quyền quốc gia. Tuy vậy những cuộc biểu tình đó vẫn bị đàn áp.

075_smit-notitle160501_npUhZ.jpg-400.jpg

Người Việt Nam biểu tình chống tập đoàn Đài Loan Formosa ở Hà Nội vào ngày 01 tháng 5 năm 2016. AFP photo

Trong cuộc biểu tình ngày 17 tháng bảy Luật sư Lê Luân thử chọn cách im lặng nhìn thời cuộc và ông rút ra nhận xét như sau:

Có nhiều người nói, im lặng có thể cũng được gọi là một loại lòng tốt. Nhưng nhìn ngược lại, im lặng hay phớt lờ trước những bất công và đòi hỏi buộc phải lên tiếng của xã hội thực tại với một người có lương tâm, thì có nghĩa, im lặng, nếu được hiểu là một loại lòng tốt, chắc chắn thứ lòng tốt đó là hoàn toàn vô nghĩa và không sử dụng được, giống như đồng tiền trên tay mà không thể tiêu vậy.

Chọn cho mình một thái độ như thế nào trước những cuộc khủng hoảng hiểm nguy như môi trường và chủ quyền, cũng là điều mà nhạc sĩ Tuấn Khanh suy nghĩ:

Bạn hỏi tôi phải nên hành động như thế nào. Tôi khó có thể trả lời toàn ý cho bạn về điều này. Tôi cũng không muốn khuyên bạn xuống đường biểu tình, vì bạn có thể là một người bồng bột. Nhưng nếu bạn bắt gặp một ai đó trên đường phố đang giương khẩu hiệu chống Bắc Kinh xâm lược, hay phản đối sự tồn tại phi nhân và phi lý của Formosa chẳng hạn, hãy chào và dành cho người yêu nước ấy một nụ cười. Đó là một nụ cười thật sự ấm áp để bạn, tôi, và người ấy cùng hiểu với nhau trong niềm hy vọng, rằng, dân tộc chúng ta, quê hương chúng ta đang thức tỉnh.

Hy vọng của nhạc sĩ Tuấn Khanh cũng là mong ước trong tuyên bố của mạng lưới blogger Việt Nam, mong muốn về một tinh thần Diên Hồng trong thế kỷ 21 để cứu nguy dân tộc:

Điều mong ước của Mạng Lưới Blogger Việt Nam là được nhìn thấy các bạn tranh đấu cho nhân quyền, các anh chị bảo vệ cây xanh, các bác các chú trong các đảng phái, những văn nghệ sĩ, trí thức, và quan trọng hơn hết, rất nhiều, hàng ngàn, hàng chục ngàn những khuôn mặt rất mới sẽ nắm tay nhau làm nên một biểu tượng Diên Hồng cho phong trào tranh đấu khôi phục và bảo vệ môi trường, bảo vệ ngư nghiệp, chủ quyền biển Đông và bảo đảm rằng con cháu chúng ta có được một cuộc sống an toàn, lành mạnh và tự do trong mọi lãnh vực.

…nếu bạn bắt gặp một ai đó trên đường phố đang giương khẩu hiệu chống Bắc Kinh xâm lược, hay phản đối sự tồn tại phi nhân và phi lý của Formosa chẳng hạn, hãy chào và dành cho người yêu nước ấy một nụ cười.
– Nhạc sĩ Tuấn Khanh 

Mong muốn đó có lẽ chưa được như ý muốn, từ một góc độ của Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy khi bà phê phán sự kém tổ chức của các phong trào và tổ chức dân sự hiện nay:

Cần phải thừa nhận rằng : các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam đang trong bước đầu hình thành và xây dựng, vẫn chưa thoát khỏi tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, rời rạc, chưa có một tổ chức nào đủ tầm để đáp ứng đòi hỏi cấp bách của các vấn đề đang đặt ra cho xã hội và cho đất nước. Điều gây băn khoăn là : các tổ chức xã hội dân sự có nhu cầu trở nên lớn mạnh hay không ? Các tổ chức xã hội dân sự có muốn khẳng định bản lĩnh của mình hay không ? Các tổ chức xã hội dân sự có thể tạo sức mạnh cho mình bằng cách xây dựng tổ chức của mình theo nguyên tắc minh bạch và trong suốt hay không ?

Trong khi mà Việt Nam đang bước những bước dài về phía vực thẳm tự hủy diệt thì người ta vẫn không thấy các nỗ lực cải cách từ phía chính quyền, và cũng chưa thấy nỗ lực để trở nên lớn mạnh từ phía các tổ chức xã hội dân sự. Vậy, tương lai của Việt Nam sẽ như thế nào ?

Câu hỏi này mỗi người phải tự đặt ra cho mình, cả những người đang đứng trong bộ máy lãnh đạo nhà nước, cả những người đang hoạt động trong phong trào xã hội dân sự, và tất cả mọi người.

Nhà hoạt động dân sự trẻ tuổi Nguyễn Anh Tuấn cho rằng sự tạo dựng phong trào dân sự làm quân bình với quyền lực chính trị là con đường duy nhất mà không có chọn lựa nào khác:

Xã hội Việt Nam chưa tạo dựng được một thể chế mà trong đó đảng chính trị chỉ có thể thỏa mãn được tham vọng quyền lực cố hữu của nó bằng cách gắng sức làm lợi cho cử tri/người dân nhiều nhất có thể.

Hãy quay lại với câu hỏi mà chúng ta đôi khi né tránh:

‘Giả sử đảng cầm quyền tuyên bố công khai đặt lợi ích của nó lên trên lợi ích quốc gia và đa số người dân, bạn làm được gì nó nào?’

Ngoài nó ra, bạn còn lựa chọn nào khác không?

Nếu chưa có, hãy tạo ra nó.

Hoặc ít nhất, đừng vùi dập những ai đang cố gắng tạo ra những lựa chọn khác cho bạn.

Bởi lẽ, thật khó có hàng hóa tốt nếu thiếu cạnh tranh kinh tế và cũng không dễ có chính sách tốt nếu thiếu cạnh trạnh chính trị.

Đôi lúc cũng có đấy, nhờ may mắn. Nhưng chẳng lẽ chúng ta đành lòng đặt vận mệnh cộng đồng chúng ta vào trò rủi may của số phận hay sao?

Để không phải nhìn thấy sự rủi may của dân tộc, blogger Dương Hoài Linh viết trên Dân Luận rằng Bất cứ chuyện gì trên đời này cũng có giá của nó. Nếu không chấp nhận trả giá anh sẽ đừng mong được thụ hưởng. Tất nhiên ta phải cố gắng để cái giá phải trả là thấp nhất nhưng không phải là sự vô cảm và hèn nhát.

6 dấu chỉ thời cánh chung

6 dấu chỉ thời cánh chung

7/9/2016 4:19:04 PM

[Đăng báo ĐMHCG, số 359, tháng 7-2016, Dòng Chúa Cứu Thế xuất bản tại Hoa Kỳ]

dauchi.jpg

Chúng ta nghe nói nhiều tới thời cánh chung, tận thế hoặc Chúa Giêsu giáng lâm. Nhưng rồi nghe mãi hóa nhàm nên chúng ta lại cho là bình thường. Đó là động thái nguy hại cho chính cuộc đời chúng ta. Hãy cảnh giác! Và liệu Kinh Thánh có cảnh báo chúng ta?

Thần học gia Jeff Kinley, tác giả cuốn “As It Was In The Days of Noah: Warnings from Bible Prophecy About the Coming Global Storm” cũng nghĩ vậy. Kinley nói: “Kinh Thánh cho biết rằng Thiên Chúa sẽ có lúc tái lâm để xét xử nhân loại. Nhưng khác với Đại Hồng Thủy, ngày đó sẽ là một sự kiện đơn giản, có thể là một loạt sự kiện xảy ra trên khắp thế giới. Đại Hồng Thủy cho thấy rằng Thiên Chúa kiên nhẫn, nhưng Ngài đặt ra giới hạn chịu đựng. Mặc dù hình phạt hủy hoại dữ dội, nhưng Ngài vẫn xét xử công bình và cho nơi trú ẩn”.

Đối với những người nghi ngờ tính hữu hiệu của Kinh Thánh hoặc không muốn nhìn nhận văn hóa ngày nay, Kinley chia sẻ 6 dấu chỉ và những gợi ý cho thấy thế giới đang đi đến ngày phán xét…

1. KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

Qua các phương tiện truyền thông, chúng ta biết nhiều về vấn đề này. Đó là chủ đề nóng về tình trạng kinh tế. Trái khoản quốc gia Hoa Kỳ tiếp tục tăng vọt. Trên khắp thế giới, các nước lớn và nhỏ đều không thỏa mãn nhu cầu nên lún sâu vào hố nợ nần. Cũng như thời ông Nô-ê, người ta phải nhờ vào các nước khác để sinh tồn, và họ phải trở về với Thiên Chúa. Kinh Thánh cho biết: “Nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó” (2 Sbn 7:14).

2. BẠO LỰC và ÁN MẠNG

Kinley nói rằng có một bệnh dịch không thể kiểm soát là thù hận và bạo lực trong thế giới chúng ta, đó là điều hiển nhiên trong các loại tội phạm khủng bố vì thù hận, trong các nhóm tôn giáo, giết người có động lực thúc đẩy, giết những người vô tội và trẻ em trên khắp thế giới – điển hình là những người bị tàn sát dã man tại I-rắc trong những ngày vừa qua (tháng 8-2014). Năm 2011, hơn 1,2 triệu vụ phạm pháp dữ tợn đã xảy ra tại Hoa Kỳ – mỗi năm có 15.000 vụ giết người. Chúa Giêsu đã nói trước: “Thời ông Nô-ê thế nào thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy” (Mt 24:37). Thời ông Nô-ê dầy bạo lực và sự xét xử của Thiên Chúa. Còn hơn là khuyến khích sợ hãi và lo lắng, Kinley động viên các Kitô hữu tìm hiểu các cách thể hiện tiên tri ngày nay và sống đức tin viên mãn là chia sẻ Đức Giêsu Kitô với người khác.

3. TRỘM CƯỚP

Ngày nay, thông tin cá nhân và tài chính không còn an toàn vì các hacker (kẻ cắp dữ liệu). Mối quan ngại này bao gồm cả mật khẩu của điện thư (email passwords), hình ảnh webcam và điện đàm. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng kẻ trộm cắp không làm gì khác hơn là giết người và cướp của. Chúng ta hiểu thời đại chúng ta theo nghĩa đen, nhưng qua con mắt của Kinh Thánh, kẻ thù đang cố gắng ăn cắp tính đồng nhất hoặc sự nhân dạng của chúng ta (giống như trộm cướp thẻ căn cước). Kinley khuyên các Kitô hữu “sống khôn ngoan và cứu lấy thời đại của chúng ta”.

4. VÔ LUÂN

Thế hệ này mê tình dục quá độ và coi thường tâm linh. Biên độ luân lý hầu như không còn trong văn hóa tự do tình dục, thoải mái chia sẻ các hình ảnh “đen”, kể cả âm thanh và văn bản. Các phương tiện di động (điện thoại, ipod, ipad, iphone,…) và mạng lưới xã hội (facebook, twitter, youtube,…) đầy những thứ độc hại. Kinley nhận xét: “Như trong thời ông Nô-ê, thời đại chúng ta là thế giới ưa tình dục, và ngày nay người ta dùng để bán đủ thứ – từ chiếc kẹo cao-su tới xe hơi. Tình dục xuất hiện khắp nơi”.

5. BÁCH HẠI KITÔ GIÁO

Năm 2011, gần 100 triệu Kitô hữu bị bách hại trên khắp thế giới. Năm 2012, con số này tăng gần gấp đôi. Kinley shares that the Bible reaffirms this as Chúa Giêsu nói: “Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghétvì danh Thầy. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 24:9-13).

6. ĐỨC TIN GIẢM SÚT

Thánh Phaolô nói: “Vào những thời cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo những thần khí lừa dối và những giáo huấn của ma quỷ; đó là vì trò giả hình của những tên nói dối mà lương tâm như bị thích dấu sắt nung” (1 Tm 4:1-2). Thời đại chúng ta có nhiều niềm tin sai lạc, các triết lý thời đại mới, và các bậc thầy tâm linh. Khi đến ngày tận thế, sẽ có nhiều các tiên tri giả, họ tự xưng là Đức Kitô. Kinley tin rằng việc phục hưng trong Giáo hội là cách mới và không được đề cập trong Kinh Thánh.

VĨ NGÔN: “ĐỪNG SỢ, THIÊN CHÚA LUÔN CHE CHỞ BẠN”

Tác giả Kinley nhắc nhở chúng ta rằng trong thời ông Nô-ê cũng như ngày nay, sự công chính và thánh thiện của Thiên Chúa luôn đứn vững. Khi các Kitô hữu biết trước sự trở lại của Đức Kitô, thì họ cũng phải như ông Nô-ê là biết sống sao cho người khác thấy mà trở về với ơn cứu độ. Hãy sẵn sàng chiến đấu và can đảm như lời Chúa nói với Áp-ram trước khi trở thành Tổ phụ Áp-ra-ham: “Ta là Thiên Chúa Toàn Năng. Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo. Ta sẽ đặt giao ước của Ta giữa Ta với ngươi, và Ta sẽ cho ngươi trở nên đông, thật đông. Ông Áp-ram cúi rạp xuống” (St 17:1-2).

JANA DUCKETT
TRẦM THIÊN THU 
(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Điếu Cầy phỏng vấn Kim Chi: ‘Họ bán nước rồi’

Điếu Cầy phỏng vấn Kim Chi: ‘Họ bán nước rồi’

Nguoi-viet.com  

Nghệ sĩ Kim Chi tại Tòa Soạn Người Việt. (Hình: Người Việt)

Nghệ sĩ Kim Chi tại Tòa Soạn Người Việt. (Hình: Người Việt)

Điếu Cầy/Người Việt

LTS – Nghệ sĩ Kim Chi, người từng vượt Trường Sơn từ Bắc vào Nam hồi chiến tranh Việt Nam, nay trở thành gương mặt tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí tại Việt Nam, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Nhân dịp bà có mặt tại Hoa Kỳ (lần thứ nhì), blogger Điếu Cầy có cuộc phỏng vấn dưới đây. Xin mời độc giả theo dõi.

***

Điếu Cầy: Chào chị. Từng là nghệ sĩ tham gia nhiều phim “cách mạng,” năm 1964, từng cùng chồng là đạo diễn Hồng Sến vượt Trường Sơn vào Nam, cũng từng là MC của đoàn Văn Công “Giải Phóng,” điều gì khiến chị tham gia vào những hoạt động đấu tranh đòi dân chủ trong nước?

Nghệ Sĩ Kim Chi: Khi tham gia đoàn Văn Công Giải Phóng vào chiến trường, tôi mang khát vọng là giải phóng quê hương. Tôi nghĩ như thế, là vì theo thông tin tuyên truyền của báo chí nhà nước thì ông Diệm đang “lê máy chém đi khắp miền Nam” và đang gây ra rất nhiều nỗi đau cho miền Nam. Thành ra tôi nghĩ tôi rất sẵn sàng để tham gia vào cuộc chiến bảo vệ quê hương, thống nhất đất nước, đánh Ngụy đuổi Mỹ.

Cái suy nghĩ rằng trẻ thì dấn thân là như thế. Tại sao tôi là một người như thế mà hôm nay lại thay đổi để đồng hành với mọi người cùng tranh đấu? Phải nói rằng đó là một quá trình nhận thức về sự thực.

Trước đây, thông tin bị bưng bít và tôi cứ nghĩ rằng Ngụy là xấu, Mỹ là âm mưu xâm chiếm Việt Nam. Sau này, thông qua báo mạng, Internet, thì sự thật được phanh phui, và những gì sai trái của nhà nước này, những cái tội ác, tôi đã nhìn thấy. Từ những chuyện như hội nghị Thành Đô và âm mưu chiếm đoạt Việt Nam của Trung Quốc tràn ngập trên mạng. Các thông tin ấy thuyết phục tôi. Tôi mới bừng tỉnh ra là, ô hay, như thế là không phải như mình nghĩ.

Đặc biệt làm cho tôi đau đớn quằn quại là những người dân oan. Một cái Đảng công bố là dân cày có ruộng, mọi người được no ấm, trong nhận thức của tôi bây giờ nó là cái khẩu hiệu, hay nói mạnh hơn, là một sự dối trá.

Tôi không chịu được khi tôi nhìn thấy dân oan ngày ngày ngồi cạnh bên Ba Đình, những người mà người ta đeo biển đòi đất hay những vụ án oan sai, tất cả những điều đó lộ trước mắt tôi. Rồi thì truyền thông, báo mạng đã vạch ra cho tôi thấy những tội ác của cái chế độ hiện nay đối với dân. Đó là điều đã đánh thức tôi. Nên đối với tôi bây giờ, phải nói rằng tôi cảm ơn báo mạng vô cùng, cảm ơn Facebook vô cùng. Nếu không có những cái đó thì tôi còn ngu lâu lắm.

Sự thực như thế và tôi nghĩ rằng vai trò của báo mạng, thông tin của truyền thông quốc tế và trong nước đã giúp mở mang sự hiểu biết cho dân chúng và cho bản thân tôi. Tôi đã có rất nhiều biến đổi trong suy nghĩ nhờ đọc báo mạng, và phải nói thực là hiện nay đến mức tôi không còn quan tâm đến báo giấy nữa, vì ở đó, sự thực nó bưng bít, chuyện như thế này thì nói ra thế khác, nên hoàn toàn không còn để cho tôi quan tâm chú ý nữa.

Tóm lại, tôi thay đổi nhận thức, tôi đồng hành cùng đồng bào là vì tôi nhìn thấy sự thực. Những vụ án oan sai, những cuộc bắt bớ vô lý những người tranh đấu, đó là nhìn thấy thật.

Điếu Cầy: Những người cùng giới văn nghệ sĩ đồng tình với chị không? Có phải ngày càng có nhiều văn nghệ sĩ công khai bày tỏ chính kiến như chị?

Nghệ sĩ Kim Chi: Vâng, có. Hiện thì tôi thấy trong các anh em nghệ sỹ đồng lòng với những việc chúng tôi làm ngày một đông. Minh chứng là trong nhóm câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, tôi thấy có một số văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà thơ… Điều đó chứng tỏ sự chuyển biến của giới văn nghệ sĩ. Họ đã bắt đầu có những hành động can trường, dám xuống đường biểu tình, dám viết bài, dám trả lời phỏng vấn, thì tôi thấy đó là những tín hiệu mừng vui. Thật sự thì cũng chưa được nhiều lắm, nhưng mà rồi tôi tin là nó sẽ nhiều.

Điếu Cầy: Năm 2014 chị có chuyến đi đến Hoa Kỳ vận động cho tự do báo chí tại Việt Nam. Từ những kinh nghiệm bản thân mình, chị thấy báo chí tự do có thể góp phần khai dân trí, chấn dân khí, thay đổi xã hội Việt Nam theo hướng minh bạch và dân chủ như thế nào?

Nghệ sĩ Kim Chi: Điều đó rất cần thiết. Tôi nghĩ hiện nay cái công lớn nhất của báo chí tự do là đã phanh phui ra rất nhiều sự thật mà trước đây báo lề Đảng bưng bít tất cả. Nhưng bây giờ, với thông tin hiện đại nhất, nhờ mạng xã hội, Internet, báo chí tự do có thể nói là đã chiếm lĩnh thị trường và có công rất lớn là mở mang dân trí.

Điếu Cầy: Hoạt động của các nhà báo tự do, blogger trong nước hiện nay gặp những khó khăn gì? Đồng bào ở hải ngoại có thể giúp gì cho họ?

Nghệ sĩ Kim Chi: Quỹ hỗ trợ là điều hay; không chỉ cho những bài báo hay những câu chuyện mà cũng có thể là thơ, kịch nói, kịch bản phim, tất cả các thể loại, những gì có thể góp phần mở mang dân trí, vạch trần tội ác những kẻ bán nước và khích lệ những người đang tranh đấu.

Rất cần khích lệ anh em và làm cho những người cầm bút không sợ khi mình đi đến dân chủ thì mình bị đói. Nhiều người văn nghệ sỹ bây giờ họ sợ đấu tranh dân chủ thì sẽ không được đi sáng tác ở Hội, không có tiền nhuận bút, họ rất sợ hãi. Có người trước đây trong Hội Sân Khấu, rất thân với tôi, sau ngày quay lưng lại với tôi, sợ tôi buồn họ nói với tôi một câu rất buồn cười: “Chị thông cảm với tôi, cơm áo gạo tiền nó cần thiết, tôi không thể nào nhịn đói mà tranh đấu được.” Đó là điều tôi hiểu được và thông cảm được. Do đó tôi nghĩ nếu có một cái quỹ thì rất tuyệt; và trong lòng tôi nghĩ tôi sang đây tôi muốn nói với mọi người mong muốn đó.

Điếu Cầy: Hiện còn nhiều tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam. Hầu hết họ là những nhà báo tự do, những blogger chỉ biểu đạt chính kiến ôn hòa trên Internet mà bị tù đày. Trong chuyến đi này, chị có muốn gặp gỡ các vị dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ để vận động cho họ không?

Nghệ sĩ Kim Chi: Đối với tôi, ngày nào còn một người tù nhân lương tâm còn ở trong nhà giam thì đều rất là xót xa, và tôi có cảm giác họ cũng như những người ruột thịt của tôi. Hiện nay, tôi được biết có đến 84 tù nhân lương tâm đang ở trong tù mà nổi bật là những người rất can trường, yêu nước, như Trần Huỳnh Duy Thức, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, dân oan Cấn Thị Thêu, Bùi Minh Hằng và còn nhiều nữa. Như vậy là trên 84 người vẫn còn đang bị giam cầm.

Cái “tội” của họ là yêu nước và nói sự thật. Cho nên tôi nghĩ có cơ hội, nhất định là tôi sẽ đòi tự do cho họ. Cũng như lần trước, tôi cũng đã làm như thế. Lần này tôi nghĩ cũng có thể tự tạo cho mình một cơ hội gặp những người có quyền ở đất nước Hoa Kỳ tự do này, kêu gọi hỗ trợ. Tôi nghĩ đó là lương tâm và trách nhiệm của tôi.

Điếu Cầy: Ngày 12 Tháng Bảy, Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan, ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về “đường Lưỡi Bò” trên Biển Đông. Theo phán quyết của tòa thì đã không có bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc có đặc quyền kiểm soát vùng biển và nguồn tài nguyên tại khu vực có tranh chấp. Cả thế giới đã ủng hộ phán quyết của Tòa PCA. Sau phán quyết, nhân dân vui mừng, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam vẫn e dè, chưa có công bố cụ thể đối với phán quyết của PCA. Theo chị, phán quyết của PCA ảnh hưởng gì tới Việt Nam?

Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi nghĩ việc phán quyết của PCA đã làm chấn động đối với Việt Nam. Những người dân yêu nước khao khát thoát Trung thì rất vui mừng. Tôi rất vui khi ông xã tôi bảo các trí thức Việt Nam tập họp tại sứ quán Philippines tặng hoa chúc mừng. Và đối với tôi thì tôi thầm nghĩ đáng lẽ việc làm này nhà nước Việt Nam phải làm và nhà nước Việt Nam phải học Philippines, phải đuổi Trung Quốc ra khỏi Biển Đông.

Điếu Cầy: Theo chị tại sao họ lại chậm trễ đưa ra công bố và thậm chí lại đàn áp bắt giữ người dân khi họ công khai bày tỏ ủng hộ đối với phán quyết của PCA?

Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi nói điều này nghe nặng nhưng mà điều đó chứng tỏ họ bán nước rồi. Chứ nếu họ thật sự yêu nước thì không thể như thế được. Tôi chỉ nói ngắn gọn như vậy thôi.

Điếu Cầy: Chị có nhắn gởi gì đến anh em đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước?

Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi mừng vì thấy anh em đội ngũ ngày một đông và can trường, và điều đó hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Nhưng tôi có lo, thực ra nó còn rời rạc là một, chưa thật sự đoàn kết là hai, và cá tính khác biệt đôi khi đánh mất nhau để làm cho nhau tổn thương.

Rồi họ bị bọn, tôi nghĩ là tình báo Hoa Nam, rồi dư luận viên và công an, tìm cách chia rẽ mà chúng ta không cảnh giác để mắc mưu. Cho nên thích hành hạ nhau trên mạng, thích nói xấu nhau, thích làm nhục nhau, thì tôi không đồng tình với việc đó. Tôi mong mọi người tôn trọng nhau, nhìn nhau ở những mặt tích cực, nhìn những sự cống hiến của anh em mình và khích lệ nhau, động viên nhau. Tôi có một ao ước như thế, và trong ngoài cùng đoàn kết. Và cái nhắn gởi cuối cùng là xin nói với đồng bào hải ngoại, rằng anh em trong nước rất biết ơn và mong mỏi luôn được hỗ trợ cả vật chất lẫn tinh thần để người tranh đấu ở Việt Nam đỡ rơi vào cảnh đói khổ. Hiện nay phải nói là công an Việt Nam, cộng sản Việt Nam đang tìm mọi cách để làm cho người tranh đấu khốn khổ. Ở đâu cũng bị đuổi, bị mất việc làm và bị nhiều thứ cho nên chúng ta cần phải yêu thương nhau, đùm bọc nhau, đoàn kết đoàn với nhau để chung một khối. Các hội nhóm cần liên kết với nhau để cùng thực hiện điều thiêng liêng nhất, đó là dành lại đất nước.

Điếu Cầy: Một câu hỏi thêm, như chị có nói là một số văn nghệ sĩ trong nước bày tỏ với chị là vì vấn đề cơm áo gạo tiền, họ không dám cất lên tiếng nói. Phải chăng các hội đoàn về văn nghệ ở Việt Nam đang chịu sự chi phối của chính quyền và đang nhận những tài trợ từ chính quyền để hoạt động theo định hướng?

Nghệ sĩ Kim Chi: Hoàn toàn là như thế. Người ta nghĩ rằng nếu bị cắt đi những tác phẩm của họ thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống. Ví dụ như một số văn nghệ sĩ trước đây, Phùng Quán hay một số người khác nữa phải viết chui, viết chui ẩn tên người khác để kiếm sống vì cái chế độ này hễ ai dám nói thật thì bị coi là giặc, mà đã là giặc thì không bao giờ xài đến tên người đó.

Chuyện mới nhất của tôi thôi là khi tôi đang ở Cam Ranh thì hãng phim tài liệu vào làm phim “Yersin.” Mà tôi cũng đang định thắp hương cho “Yersin” thì cậu đạo diễn mời tôi đến để quay tôi đi đặt hoa cho “Yersin.” Nhưng khi hội đồng duyệt phim của bộ văn hóa đến duyệt thấy cảnh tôi thắp hương thì bắt phải cắt bỏ. Tại sao phải như vậy? Chỉ vì tôi dám tranh đấu mà họ loại hình ảnh tôi ra khỏi phim.

Nhưng tôi trộm nghĩ, một người yêu nước như tôi, nếu phim đó ra hải ngoại mà có hình ảnh tôi thì nó tốt chứ. Nhưng mà người ta coi tôi là giặc nên dẹp bỏ tôi. Ai mà đi với phong trào nhân quyền dân chủ thì đều bị coi là phản động. Nhưng tôi xin nói thật, trong suy nghĩ của tôi, phản động là kẻ đi ngược lại với ý nguyện của nhân dân, kẻ làm cho mất nước, kẻ làm cho đất nước nghèo khổ và mất nhân quyền dân chủ, đó mới là phản động, chứ còn tôi là người yêu nước, tôi luôn tự hào. Tôi rất tự tin kể cả họ có dùng cái chết đối với tôi thì tôi vẫn nghĩ tôi đúng.

Điếu Cầy: Cảm ơn chị dành thời gian cho Người Việt.

ĐIỀU BẤT CÔNG Ở NƯỚC MỸ.

 Hằng Lê

ĐIỀU BẤT CÔNG Ở NƯỚC MỸ.

Nếu ở các nước khác người nghèo thường phục vụ cho người giàu,có tiền thì ở Mỹ lại ngược đời: người có tiền lại phải nai lưng hầu hạ người nghèo.

Chẳng hạn,đa số người Việt qua Mỹ đi làm Nail giờ đã khấm khá cả chủ ,cả thợ.Đi xe thì toàn loại đắt tiền cỡ Lexus,BMW,Mercedes… ở thì toàn nhà 300-500 ngàn trở lên,thế nhưng vẫn hàng ngày đi chà chân cho các em Mỹ đen,Mễ (Mexico) chẳng có nhà,có xe…phải ở apartments.Điều vô lý là các em Mỹ đen,Mễ…”trên răng dưới …quần xì” cũng có thể sai khiến các bà chủ tay mang nhẫn kim cương,xài bóp hiệu,điện thoại xịn,quần áo hiệu…chạy có cờ.Nguyên do là các em Mỹ đen,Mễ khôn hơn các em Việt,không thèm làm giàu mất công đóng thuế.Nếu income (thu nhập ) cao sẽ không được hưởng medicare(bảo hiểm sức khỏe cho người nghèo).Không được heath insurance thì phải mua Obamacare càng chết.Thành ra các em cứ tàng tàng đi chơi rông quanh năm suốt tháng vẫn có tiền trợ cấp của chính phủ để đi làm móng tay,tóc ngồi chễm chệ trên ghế làm chân “pedicure ” mà sai bảo lung tung.

Đó là chưa kể nếu các em bệnh sơ sơ đã gọi ambulance cấp cứu.Vào bệnh viện tha hồ sai bảo các y tá (lương rất cao) và các y tá phải phục vụ vệ sinh cho các em từ A đến Z,nếu có kỳ thị các em sẽ comment nói xấu bệnh viện.Được phục vụ như bà hoàng nhưng các em không phải trả đồng xu cắc bạc nào.Ngân sách chính phủ giành trả hết cho tất cả những ai có low income (thu nhập thấp).Như vậy điều rút ra là ở Mỹ một là giàu hẳn hai là nghèo hẳn,đừng ở giữa lưng chừng.Và các em Mỹ đen và Mễ chọn cái thứ hai.

Tuy nhiên điều thứ hai này lại vấp phải sự khinh bỉ của dân Mỹ trắng có học.Mỹ trắng bề ngoài”thơn thớt nói cười” nhưng bên trong rất khinh các sắc dân chuyên ăn Welfare,Food Stamp … Chính vì vậy mà Donald Trump mới dự định xây bức tường chặn dân Mễ nhập lậu.Cảnh sát Mỹ da trắng lại rất chú ý đến dân da đen.Bởi sống ở Mỹ rất lâu nhưng đen -trắng là hai thái cực.Trắng lịch sự,văn minh bao nhiêu thì đen trái lại phơi bày hết bản chất nguyên thủy của mình.Nhưng quan trọng là đen đóng góp vào sự thịnh vượng chung của hợp chủng quốc rất ít vì thói làm biếng,thích hưởng thụ.Đen cũng đặc biệt với các tệ nạn xã hội như cần sa,ma túy,các thức uống có cồn.

Chính vì vậy cũng không thể trách hầu hết cảnh sát Mỹ đã chú ý đặc biệt đến sắc dân này dù nước Mỹ có đến hàng chục ,hàng trăm sắc dân khác nhau.Và đặc biệt là họ chẳng bao giờ kỳ thị người Việt nam vì “Việt Nam ham làm” và cả “ham tiền”.Dù lam lũ cày tuần 7 ngày nhưng nói về vật chất bên ngoài Việt nam không hề thua ai.

Nói như vậy để nhìn nhận các vụ nổ súng “đen bắn trắng” “trắng bắn đen” vừa qua không hẳn là vì xung đột sắc tộc.Tờ Washington Post thống kê tỷ lệ người da trắng ở các vùng hẻo lánh bị cảnh sát Mỹ bắn chết còn nhiều hơn cả đen.Vấn đề là khi chạm mặt cảnh sát anh phải làm cho họ tin rằng họ không bị đe dọa bởi vũ khí từ anh.Nếu không anh sẽ bị chết oan mạng.

Tuy nhiên tất cả thông tin cho rằng sai phạm của cảnh sát đều không bị xử lý bởi tòa án là không chính xác.Bởi lẻ nếu không có một ngành tư pháp công minh,độc lập thì nước Mỹ đã sa vào bạo loạn sắc tộc ,nội chiến từ lâu vì họ có đến 270 triệu khẩu súng trong dân.

Cho nên phải tin rằng ở Mỹ không ai có thể ở trên luật pháp.

(Duong Hoai Linh)

HY VỌNG VƯƠN LÊN TỪ TUYỆT VỌNG

HY VỌNG VƯƠN LÊN TỪ TUYỆT VỌNG

Bài số 2

70 NĂM SẬP BẪY

HỒ TẤN VINH

  1. NGƯỜI CHỦ MƯU

Hồ Chí Minh là người đem tai họa đến cho nước Việt Nam. Mấy ngày nay, gốc gác của HCM tràn ngập trên các trang thông tin.  Chính báo chí Trung Cộng với đầy đủ chi tiết và hình ảnh công khai cho biết thiếu tá HỒ TẬP CHƯƠNG đã đóng vai giả làm ‘cha già của dân tộc’ VN. Tin này có vẽ là thật 99 phần trăm. Sử gia Phạm Quế Dương, Giáo Sư Nguyễn Khắc Mai cũng đã đặt vấn đề. TS Hà Sĩ Phu cũng đã lên tiếng. Chỉ còn thiếu DNA nữa mà thôi.

Tuy nhiên có ba việc mà HCM đã thật sự có làm 100 phần trăm lận.

1/ HCM đã mời ‘cố vấn Trung Cộng’ qua trực tiếp chỉ huy giết hơn 170 ngàn người Việt trong cái gọi là ‘cải cách ruộng đất.

2/ Người ta đã nói nhiều về công hàm của Phạm Văn đồng và đổ tội cho Phạm Văn Đồng. Nhưng nếu không có lệnh của HCM, Phạm Văn Đồng không thể một mình ký cái công hàm ngày 14/9/1958 thừa nhận tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.

3/ HCM là người ra lệnh đánh Miền Nam để thống nhứt đất nước. Thống nhứt đất nước chỉ là một ước mơ tình cảm, nhưng tai hại thực tế thì vô cùng. Nó tạo mâm cơm để CSBV đem dâng trọn nước VN cho Tàu. Nếu đất nước còn chia đôi, làm sao quân Trung Cộng giả dạng thường dân đến được tận Bình Dương hay Trà Vinh?

Cho nên, không cần đến chuyện HCM là giả hay thiệt, một Chủ Tịch nước mà phạm một trong ba tội kể trên là kể như là tội đồ của Việt Nam rồi – thiên thu phỉ nhổ. Huống hồ gì phạm cả ba tội chồng lên nhau.

  1. KẺ THI HÀNH

Trung Cộng không cho Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch tham dự Hội Nghị Thành Đô năm 1990 giữa giới lãnh đạo hai đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) và Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trong Hội Nghị, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Phạm Văn Đồng đã năn nỉ Trung Cộng cho Việt Nam làm một tỉnh tự trị và đã được chấp thuận. Sau Hội Nghị, Nguyễn Cơ Thạch mất chức Bộ Trưởng luôn cả chức Ủy Viên Trung Ương. Nguyễn Cơ Thạch đã đánh giá về Hội nghị Thành Ðô: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.

Hội nghị Thành Ðô là một thảm bại ngoại giao của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nó cho thấy Trung Cộng đã khống chế toàn bộ lãnh đạo Việt Nam để dần dần thực hiện kế hoạch thôn tính. Không chế về mặt đối ngoại, khống chế về mặt tổ chức nhân sự cũng như cơ cấu nhà nước của Việt Nam.

Từ đó ta có thể hiểu mỗi lần có Đại Hội đảng là VN phải phái người qua Tàu nhận chỉ thị hay Tàu phái người qua VN ban chỉ thị về thành phần nhân sự. Từ các Tổng Bí Thư đến các Ủy Viên đều do Tàu chọn.

TS-Viện Sĩ Benoit de Tréglodé, một chuyên gia uyên thâm về châu Á, nhất là Đông Nam Á. Ông từng sống ba năm ở VN khi còn Trường Viễn Đông Bác cổ (École Francaise d’ Extrême Orient). Hiện ông là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á hiện đại (Institut de Recherche de l’Asie du Sud-d’Est contemporain).

Benoit de Tréglobé viết, “Không có điều gì xảy ra ở VN mà không có dấu ấn chính trị của Trung Quốc và không chịu ảnh hưởng của đảng CSTQ” . . . “Các nhà lãnh đạo VN hiểu rằng 4 vị trí cao nhất – Tổng bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch Nước, Bộ trưởng Quốc phòng cần có sự thỏa thuận của ĐCSTQ”.

Vì là do Tàu tuyển chọn, không thể trông chờ từ ‘tứ trụ triều đình’ đến các Ủy Viện Bộ Chính Trị quây mặt chống lại Tàu. Vậy nhiệm vụ của đảng CSVN do Trung Cộng đóng dấu là cái gì? Trung thành với Trung Cộng, đảng CSVN chỉ có một nhiệm vụ quan trọng duy nhứt phải làm là ‘không làm cái gì hết’, chờ tế bào ung thư do HCM cấy từ năm 1945 từ từ lan rộng ra toàn cơ thể mà chết không thuốc chữa.

Đó là cái nguyên lý ngu xuẩn của cái mưu lược mang vẽ thông minh ‘ba không’ (bị đánh không nhờ ai giúp, bị đánh không trả đòn và bị đánh không giận!).

Đó là cái lý do cho đến bây giờ (sau gần 30 năm) không cho tổng kết cuộc chiến chống Trung Cộng 1979-1988. Không cho tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh bảo vệ biên cương. Không cho Quốc Hội bàn về Biển Đông. Không cho kiện Trung Cộng ra Toà Án Quốc Tế. Không cho biểu tình chống Tàu. Và gần đây nhứt, không cho công bố toàn bộ hồ sơ Formosa-Hà Tỉnh.

  1. KẾT QUẢ

Sau 70 năm, chứng ung thư bây giờ đã đến giai đoạn cuối. Hết thuốc chữa rồi. Dương Khiết Trì chắc ăn quá, sướng miệng gọi CSVN là đám con hoang cũng không ai dám trả lời mà còn phải gởi Nguyễn Sinh Hùng, Trương Tấn Sang sang Tàu nghiêng mình, sụp lạy!

Nhìn đâu cũng thấy nát bét.
Văn hóa, lịch sử ư? Có tên Tiến Sĩ tôn Mạc Đăng Dung là kẻ đã cởi trần quỳ lạy dâng đất cho tướng Tàu làm Mạc Thái Tổ!

Đạo đức ư? Con cái khôn lớn nhờ ơn đức cha mẹ. Mong đợi cái đạo đức gì với những hâu duệ của những người từng đấu tố cha mẹ mình để chứng tỏ lập trường giai cấp thất học của mình?

An ninh, quốc phòng ư? Đi lại tự do không ai dám xét giấy tờ, cả 100 ngàn quân Trung Cộng giả thường dân có mặt khắp cùng đất nước. Trung Cộng bây giờ có khả năng giết bất cứ ai tìm cách chống đối chúng.

Không có cách nào kể hết đâu vì nó sai bét trên mọi phương diện.

Tôi xin sử dụng những tin tức mới nhứt về tài chánh.

CTV Danlambao viết:

Bước vào năm 2016, dưới sự lãnh đạo tài… tiền của bầy sâu-chuột Ba Đình, 90 triệu người dân ôm một núi nợ to to, khoản 2,6 triệu tỷ đồng, tương đương với chừng 110 tỷ đôla, tương ứng với khoản 60% tổng sản sản phẩm quốc gia (GDP). . .

Trước mắt chỉ biết trung bình mỗi người dân phải trả nợ cho các chúa chổm Ba Đình 1.100 USD.

CTV Danlambao – 2016/06/16

 

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

“Bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức (CBCC), viên chức. Nếu cộng cả đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN), con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước. Còn nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy.

… 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức. Đó là chưa kể người dân chúng ta phải gánh chịu tình trạng quan liêu, sách nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ trong số 2,8 triệu công chức này.

Lê Thọ Bình – 2016/06/09 – VietTimes

Và đây là danh sách 6 tổ chức chính trị – xã hội, ăn lương để trang điểm mà không làm gì cả: Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (92,435 tỉ đồng); Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (551,505 tỉ đồng); Trung ương Hội LHPN Việt Nam (158,685 tỉ đồng); Hội Nông dân Việt Nam (346,515 tỉ đồng); Hội CCB Việt Nam (80,830 tỉ đồng); Tổng LĐLĐ Việt Nam (273,770 tỉ đồng). Nếu tính luôn cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỉ đồng!

Xài thả cửa. Xây tượng đài thả dàn. Xài vô trách nhiệm. Nhưng không sao hết. Tiền của xã hội chủ nghĩa là tiền của chung, nghĩa là không của ai hết! Đó là cái yên chí của cán bộ CSVN dầu cao hay thấp. Khỏi cần hiểu biết kinh tế nhiều, cái kiểu này là chẳng mấy chốc sập tiệm. Hơn 70 năm giăng bẫy, Trung Cộng chực sẳn ở bãi đáp để hào hiệp đứng ra thu dọn tàn cuộc dùm.

HỒ TẤN VINH

Melbourne

Ngày 18 tháng 6 năm 2016

BIỂN CHẾT

 BIỂN CHẾT

Lm. Vĩnh Sang, CSsR.

Tôi vừa đi dự một tang lễ của một người phải ra đi vì bệnh ung thư. Ông đã vượt qua ngưỡng của hai chữ hưởng thọ, nhưng ở thời hiện đại này ra đi với độ tuổi ấy vẫn được kể là sớm. Ông đang sinh hoạt rất bình thường, ngày ngày vẫn dành nhiều thời gian cho việc phục vụ ở nhà thờ, bỗng một ngày thấy đau ở vùng bụng , rồi có những triệu chứng khó tiêu, sau khi gặp bác sĩ với các xét nghiệm y khoa, bản án ung thư rơi vào cuộc đời của ông, nhanh chóng, chỉ trong vòng ba tháng, ông gánh chịu những ngày quằn quại trên giường bệnh, với những cơn đau không thể diễn tả, sức khỏe suy nhược dần rồi ra đi. Mọi người thân yêu thúc thủ nhìn ông đi trong đau đớn, không ai có thể cứu được ông, không ai có thể chia sẻ được với ông.

http://vietnamnet.vn/vn/suc-khoe/299085/moi-ngay-viet-nam-co-205-nguoi-chet-vi-ung-thu.html. Đọan tin này cho biết mỗi ngày trên toàn cõi Viêt Nam có 205 người chết vì ung thư.

http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/cac-benh/ung-thu-se-tang-manh-o-viet-nam-trong-5-nam-toi-3324990.html. Đoạn tin này cảnh báo sẽ bùng nổ ung thư ở Việt Nam trong vòng 5 năm tới.

Nhưng bây giờ, khi chúng ta biết được biển của hơn 4 tỉnh miền trung bị đầu độc, sinh vật dưới biển chết sạch do các chất độc mà chính Formosa đã thừa nhận, một số các hải sản chết không kiểm soát được đã phân tán đi khắp nơi mang theo độc tố lên bàn ăn của từng nhà.

Tỉnh Hà Tĩnh rúng động vì lộ dần ra rác thải nguy hại chôn lấp khắp nơi, xả nước đầu nguồn được biện minh là bảo vệ đập thủy điện kéo theo lũ cuốn các chất độc lao nhanh về hạ nguồn dân cư, thấm sâu xuống các mạch nước ngầm, len lỏi vào từng nhà qua nguồn nước sinh hoạt, qua nông sản nhận nước. Không chỉ Hà Tĩnh, Phú Thọ cũng hoang mang vì chất thải được đưa lên tận Phú Thọ, Phú Thọ được xem là đầu nguồn nước của Hà Nội. Rồi sẽ là tỉnh nào nữa, sẽ là đầu nguồn của thành phố nào nữa ?
Hàng ngày có bao nhiêu tấn thuốc độc theo rau xanh, theo thịt gia súc, theo trái cây, theo các loại nước giải khát, theo không khí, … luồn lách vào tận xương tủy, phổi gan của người Việt Nam. Hàng ngày có bao nhiêu chất nguy hại theo quần áo, theo các vật dụng, theo các loại hàng tiêu dùng, …có xuất xứ từ Tàu ngấm vào da thịt người Việt Nam. Hai quả bom bùn đỏ treo lơ lừng trên cao nguyên sẵn sàng đổ úp xuống nuốt trọn cư dân vùng đồng bằng phía nam Nam Trung phần. Mọi dòng sông từ bắc vào nam tràn trề sức sống phù sa nay đang lịm dần hấp hối.

Như thế sẽ không là năm năm tới, mà ngay bây giờ, sẽ không là mỗi ngày 200 người chết vì ung thư, mà con số sẽ gấp mấy lần lên, mỗi năm không chỉ là 60.000 người chết vì ung thư mà sẽ là 600.000 hay 6.000.000 người ? Các bé sơ sinh ra đời với bao nhiêu thương tật, những hình hài méo mó dị hợm xuất hiện khắp đường phố, bệnh viện dày đặc người rên la, các lò thiêu phát triển mạnh và chạy hết công suất, dân số Việt Nam sẽ là …. ! Không còn là 90 triệu dân nữa đâu, chỉ vài năm nữa thôi.

Trong lần đến thămVũng Áng, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên Tổng Giám Mục Hà Nội đã nói :

“Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Thế thì khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi.

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết điều xấu nữa thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

Lý trí để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao.

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Cho nên nó đã chết trong lòng con người chính là nguyên nhân làm cho biển chết, cá chết.”

(Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, TMCNN phỏng vấn ngày 19/06/2016)

Xin hỏi. Trong các hoạt động tham gia vào việc nhập khẩu, vận hành bộ máy chính trị và kinh tế, cánh tác nông sản, chăn nuôi gia súc, phân phối thực phẩm, …Có bao nhiêu người Công giáo nói riêng và có bao nhiêu người có tôn giáo nói chung tham gia ? Lương tâm chết, luân lý chết, tôn giáo có trách nhiệm không ? Tổ chức chính trị xã hội do đảng cộng sản lãnh đạo đầy con người đến chỗ lương tâm chết, luân lý chết, vậy vai trò huấn luyện lương tâm, hướng dẫn luân lý của tôn giáo đâu ? Chúng ta thường nói đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành. Đã đến lúc tôn giáo phải lên tiếng và giành lại quyền “dạy ăn ngay ở lành” của mình chưa ? Tại sao lại mượn cớ là không làm chính trị để trốn trách nhiệm ?

Một nhà trồng nông sản không dùng thuốc độc hại sẽ không sống nổi nhưng cả một giáo xứ không dùng thuốc độc hại có được không ? Một Giáo xứ không dùng thuốc độc hại sẽ lỗ lã nặng nhưng cả một Giáo phận không dùng thuốc độc hại có được không ? Một trang trại nuôi gia cầm không dùng thuốc tăng trọng sẽ bị thiệt hại nhưng tất cả các trang trại của người có tôn gíao không dùng thuốc tăng trọng có được không ? Một người cố gắng sống an ngay ở lành sẽ rất khó, nhưng cả hàng ngàn người tham gia các cuộc rước, cả hàng ngàn người trẩy hội cắm nhang ở chùa đền ăn ngay ở lành có được không ? Vai trò xã hội của tôn giáo là giữ lấy cái tinh thần, cái ngay lành của con người.

Trong Thư Chung gởi các tìn hữu Giáo Phận Vinh, Đức Cha Phaolo đã hướng dẫn người Công giáo thuộc Giáo phận Vinh rất rõ ràng : Không tiêu thụ, không phân tán, không sản xuất chế biến thực phẩm bẩn, dĩ nhiên ngài cũng lên tiếng yêu cầu minh bạch và xử lý thảm họa môi trường. Đó là lời ngôn sứ, đó là thi hành sứ mạng ngôn sứ. http://giaophanvinh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=12620

Dân tộc Việt Nam giàu tinh thần tôn giáo đang chờ đợi những tiếng nói như vậy. Mặc kệ thế gian công kích đánh phá, mặc kệ thế gian hận thù “vu khống đủ điều xấu xa”, mình không thuộc về thế gian nên thế gian sẽ không ưu ái mình, mình thuộc về Thiên Chúa. Không thể im lặng kéo nhau vào chỗ chết.

Lm. Vĩnh Sang, CSsR.

21/07/2016

TỪ THIỆN

From: Nguyễn Tấn Sỹ

TU THIEN

 

 

 

 

 

 

 

Tình nguyện viên Mỹ hét lớn “Bỏ xuống!” khi thấy các tình nguyện viên chúng tôi định trao quà cứu trợ cho một đứa trẻ.
Mọi người trên chuyến xe cứu trợ không khỏi xúc động khi nhìn thấy một cậu bé da đen sạm gầy trơ xương, quần áo tả tơi đuổi theo chiếc xe tải to lớn chở đầy quà cứu trợ.
Ngay lập tức, nhóm tình nguyện viên chúng tôi quay vào xe lấy quà cứu trợ trao cho cậu bé.
“Anh định làm gì vậy? Bỏ xuống!” tình nguyện viên người Mỹ quát lớn.

Chúng tôi không khỏi bất ngờ trước hành động kì quặc của chàng trai người Mỹ. “Chúng ta đến đây để giúp mọi người kia mà?” Họ nghĩ thầm.

“Chào em, tụi anh đã đi rất xa để đến đây. Trên xe có rất nhiều thứ, em có thể giúp anh chuyển chúng xuống không? Tụi anh sẽ trả công cho em”. Tình nguyện viên người Mỹ hỏi cậu bé.
Trong khi đứa trẻ còn đang lưỡng lự, thì các cậu bé khác đã chạy tới trước chiếc xe. Tình nguyện viên người Mỹ cũng đề nghị giống như vậy với chúng.
Một đứa trong nhóm xung phong khuân thùng bánh bích quy xuống xe.
“Rất cám ơn em đã giúp anh, đây là phần thưởng cho em – một thùng bánh bích quy và một cái chăn bông được trao cho cậu bé – Không còn ai sẵn lòng giúp đỡ bọn anh nữa sao?“
Những đứa trẻ lập tức trèo lên xe và trong tích tắc hàng hóa đã nằm ngay ngắn dưới mặt đất. Các tình nguyện viên nhanh chóng trao cho mỗi em một phần quà cứu trợ.
Một đứa trẻ đến muộn vô cùng thất vọng khi nhìn thấy cái thùng xe tải trống rỗng. Em không biết mình phải làm gì để được nhận quà.
“Hãy nhìn xem, mọi người đang rất mệt mỏi. Thật tuyệt vời nếu em có thể tặng mọi người một bài hát.” Tình nguyện viên người Mỹ gợi ý.
“Cám ơn em, bài hát thật tuyệt!” Chàng trai vừa nói vừa trao cho cậu bé một phần quà.

Trước các hành động của tình nguyện viên Mỹ, nhóm chúng tôi không khỏi trầm tư, suy nghĩ…
Đêm đó, các tình nguyện viên đã có dịp trò chuyện cùng nhau. Anh bạn người Mỹ nói:
“Thật xin lỗi vì thái độ của tôi ban sáng, tôi không nên lớn tiếng như thế. Nhưng bạn biết không; nghèo không phải là cái tội, nhưng nếu những đứa trẻ ấy nhận được sự giúp đỡ của mọi người một cách quá dễ dàng, rất có thể chúng sẽ hình thành lối nghĩ: dùng sự nghèo đói của mình để mưu sinh, chứ không cố gắng phấn đấu để vươn lên. Lúc ấy, chúng sẽ càng nghèo khổ hơn. Đó không phải là lỗi do chúng ta gây ra hay sao?”
Có thể nói hôm đó là một ngày dài đầy trải nghiệm.
Dường như những đứa trẻ đã quen với việc được mọi người giúp đỡ bằng cách phân phát thức ăn, nhu cầu yếu phẩm hay tiền bạc mỗi khi đến đây. Cho nên chúng ngang nhiên đứng trên đường chờ những chuyến xe thiện nguyện đến phát quà.
Làm việc thiện không khó nhưng cũng không đơn giản, cần có lý trí không nên vì hành động của mình mà gây ảnh hưởng xấu cho thế hệ tương lai.

(Theo NTDTV – Thanh Thanh biên dịch)

Quốc hội không bàn phán quyết Biển Đông do bị chỉ đạo?

Quốc hội không bàn phán quyết Biển Đông do bị chỉ đạo?

Lễ khai mạc của Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12. (Ảnh tư liệu ngày 21/1/16)

Lễ khai mạc của Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12. (Ảnh tư liệu ngày 21/1/16)

Quốc hội thứ 14 của Việt Nam đã bắt đầu phiên họp đầu tiên vào sáng 20/7. Một trong những việc quan trọng trong kỳ họp là bầu các lãnh đạo hàng đầu của đất nước.

Gần như chắc chắn Quốc hội khóa này – được bầu ra trong cuộc bầu cử hồi tháng 5 – sẽ bỏ phiếu để bà Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quốc hội, ông Trần Đại Quang vẫn sẽ là Chủ tịch nước và ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn là Thủ tướng. Ba nhân vật này đã được bầu vào các vị trí vừa kể bởi Quốc hội khóa trước đã kết thúc nhiệm kỳ hồi tháng Tư.

Việc bầu lại ba vị trí lãnh đạo hàng đầu chỉ có tính chất thủ tục. Từ sau cuộc bầu cử Quốc hội đến nay, đã có nhiều ý kiến của nhân dân trên mạng xã hội về sự rườm rà, lãng phí khi phải thực hiện thủ tục bầu và tuyên thệ cho cùng một dàn lãnh đạo cao cấp tới hai lần. Với tư cách cử tri, nhà hoạt động vì tiến bộ xã hội Hoàng Dũng ở thành phố Hồ Chí Minh đưa ra nhận xét với VOA:

“Người dân người ta biết được chất lượng của Quốc hội hay là của những cái bình bầu đều không phản ánh trung thực mà nó được sắp xếp đâm ra người ta coi nó trở thành hình thức. Thì cái việc đấy, tất nhiên là từ cái việc thủ tục đến cái hình thức thì tất nhiên tốn chi phí của dân thì người ta phản ứng là điều dĩ nhiên.”

Báo chí Việt Nam đưa tin trong kỳ họp kéo dài đến ngày 29/7, Quốc hội sẽ quyết định về cơ cấu và các thành viên Chính phủ, bao gồm cả việc phê chuẩn các phó thủ tướng và các bộ trưởng. Tin cho hay Quốc hội sẽ dành khoảng hai ngày để thảo luận về kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước và một số nội dung quan trọng khác.

Nền kinh tế Việt Nam phát triển ở mức vừa phải, trong sáu tháng đầu năm có mức tăng GDP là 5,5% so với mức 6,3% của cùng kỳ năm trước. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố hôm 19/7 cho rằng kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại do nông nghiệp bị ảnh hưởng của hạn hán nghiêm trọng và tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp đã giảm xuống.

httpv://www.youtube.com/watch?list=PL231429C17BE39E34&v=kEsb1WZVQRo

Ngoài ra, tại kỳ họp, chính phủ sẽ gửi tới các đại biểu Quốc hội báo cáo về nguyên nhân các vụ tai nạn máy bay chiến đấu Su-30 và máy bay tìm kiếm cứu nạn hồi giữa tháng 6, và báo cáo về tình trạng cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền trung hồi đầu tháng 4.

Thông tin từ cuộc họp báo của Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trước khi Quốc hội khai mạc cho thấy sẽ không có phiên thảo luận nào về phán quyết mới đây của Tòa Trọng tài quốc tế (PCA) về Biển Đông, vốn là một mối quan tâm lớn của cử tri, đồng thời là một vấn đề sát sườn với lợi ích của Việt Nam. Nhà hoạt động Hoàng Dũng, người đã biểu tình chớp nhoáng trước Lãnh sự quán Trung Quốc để hoan nghênh phán quyết của PCA, đưa ra bình luận:

“Nó cũng chỉ thêm bằng chứng là Quốc hội này không hoàn toàn tự chủ mà họ toàn theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản thôi. Theo tôi thì Quốc hội tối thiểu phải ra một tuyên bố về Biển Đông, tuyên bố về PCA, và có thể là tuyên bố về đường lưỡi bò. Tối thiểu phải thể hiện một quan điểm. Dù có thể là một quan điểm bị chỉ đạo hay bị kiểm soát nào đấy thì Quốc hội cũng nên có để tỏ ra rằng mình đang tồn tại. Chứ Quốc hội lại không có thông tin gì về vấn đề này thì sẽ lại càng bị người dân không coi trọng.”

Trong tổng số 494 đại biểu Quốc hội chỉ có 20 người không phải là đảng viên cộng sản. Ông Hoàng Dũng nói ông sẽ gửi thư hoặc tin nhắn đến đại biểu Trương Trọng Nghĩa của thành phố Hồ Chí Minh để chất vấn về vấn đề này. Ông Nghĩa được xem là một đại biểu hay phát biểu thẳng thắn về những vấn đề quan trọng hoặc gai góc.

Lâu nay, cử tri Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ trên mạng xã hội và đôi khi trên báo chí chính thống rằng Quốc hội cần làm rõ những thông tin về Việt Nam đang nắm giữ những gì ở Biển Đông, cũng như đang phải đối mặt với những vấn đề pháp lý, chủ quyền và quân sự nào. Cử tri cũng nhiều lần đề nghị Quốc hội phải sớm đưa ra luật biểu tình để người dân có thể biểu đạt quan điểm của mình về vấn đề Biển Đông và các vấn đề khác mà không sợ bị công an, an ninh ngăn chặn, bắt bớ.

Dương Khiết Trì: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó! + Hướng dẫn viên người …

Dương Khiết Trì: không cần phải đánh Việt Nam chúng nó! + Hướng dẫn viên người …

Tại sao phải đánh chúng khi hơn 700km2 vùng biên giới phía nam của ta đã được chúng dâng cho ta, một nửa Thác Bản Giốc đã được ta cắm cờ 5 sao, Ải Nam Quan đã trở thành Hữu Nghị Quan mà chúng vẫn cực kỳ coi trọng đại cục hữu nghị giữa hai đảng và nâng niu gìn giữ để trao lại cho những thế hệ mai sau của chúng.
Súng đạn nào mãnh liệt bằng phong bì tống vào miệng chúng để sau đó Đại Hán ta ngồi ngay trên nóc nhà Tây Nguyên, đào mồ xới mã đất Mẹ của chúng, thải chất độc vào môi trường của chúng và Bộ chính trị của chúng vẫn khăng khăng đấy là chiến lược đã quyết, là chính sách công nghiệp hóa hiện đại đất nước không thể ngừng.
Xe tăng đại pháo nào bằng hàng ngàn công trình xây dựng để những sư đoàn Trung Hoa trong bộ áo công nhân có mặt trên xứ sở của chúng, kéo dài từ mũi Cà mau cho đến Hữu nghị quan.
Phi cơ, chiến hạm sao bằng 90% gói thầu của chúng ta đang khống chế nền kinh tế của chúng, hàng hóa thặng dư made in China đang ở trên thân thể chúng, bàn ăn của chúng, bao tử của chúng, nhà cầu của chúng.
Tại sao phải đánh chúng khi chỉ cần đóng đường biên giới là dân của chúng không đủ tiền mua quần áo mặc, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, xe dream và giấc mơ thấp hèn của chúng không còn chạy đầy đường, cắt xăng dầu là cả nước chúng tối đen và chỉ cần một cú nỗ là Tây Nguyên của chúng sẽ nhuộm bùn đỏ.
Chúng ta không phải đánh, không phải bắn một viên đạn nào mà vẫn có thể làm sụp đổ thị trường chứng khoán của chúng, làm tan gia bại sản những tên đồng chí tư bản đỏ mà tài sản vốn liếng có được là nhờ vào và đang lệ thuộc vào nền kinh tế Trung Hoa made in Vietnam.
Tại sao chúng ta phải đánh!?
Cần gì phải đánh khi cả vùng biển mà chúng gọi là biển Đông đã, đang và sẽ là sân nhà của chúng ta; khi ngư dân của chúng đi đánh cá trên vùng biển của tổ tiên chúng mà lấm lét như đi ăn trộm; khi hải quân của chúng không dám lai vãng trong suốt thời gian giàn khoan khủng của ta chậm chậm tiến vào và khoan vào lòng biển của chúng nó; khi sự chống trả của chúng là những lời tuyên bố đã trở thành trò hề trên sân khấu ngoại giao; khi phản đối của chúng là những cú điện đàm với lãnh đạo ta bằng cái điện thoại không cắm dây; và chúng ta chỉ cần đuổi chúng ra khỏi nhà của chúng bằng vòi rồng phun nước.
Cần gì phải đánh để chúng ta trở thành đạo quân xâm lăng và mang tiếng dưới mắt nhìn của thế giới, làm xấu đi hình ảnh yêu chuộng hòa bình của Đại Hán. Trong khi chúng ta đã từng bước trong hòa bình thành công thu tóm từng tấc đất, tất biển, từng vùng đất, vùng biển của chúng bằng văn kiện do chính chúng ký kết. Trong khi chúng ta vô cùng hiệu quả trong tiến trình biến chủ quyền của chúng thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của ta và chúng chỉ dám vừa lên tiếng như chó sủa người qua đường vừa cúi đầu cam kết tất cả vì đại cục Việt-Trung.
Đó là đối với chúng ta.
Còn đối với dân của chúng:
Cần gì phải đánh khi chúng thay thế ta ngăn chặn, trấn áp, bắt giam, bỏ tù dân của chúng đứng lên phản đối Đại Hán. Đánh chúng sẽ khơi dậy lòng yêu nước của dân tộc chúng vốn đã là sức mạnh vô biên từng đánh bại chúng ta hàng ngàn năm qua. Đảng của chúng đã tích cực giúp chúng ta tiêu diệt lòng yêu nước của dân tộc chúng trong suốt bao năm qua, đã biến đa phần dân của chúng thành những đàn cừu chỉ muốn sống trong hòa bình của một cuộc đời nô lệ. Chúng đang làm tốt!
Chưa bao giờ trong lịch sử bành trướng, chúng ta có được một đám thái thú địa phương làm tay sai đắc lực và hiệu quả như chúng. Khi chúng ta có mặt ở biển Đông ngay trước cửa nhà chúng, chúng đã ra lệnh hải quân của chúng không được bén mảng sợ làm phiền lòng ta. Khi cần đốt phá, cướp của, giết người để bôi đen những tên biểu tình yêu nước, công an mật vụ của chúng ngoan ngoãn nghe lời ta tạm lánh. Khi cần cấm ngặt từng tên yêu nước năng nỗ xuống đường phản đối chúng ta, chúng đã nhiệt tình như những con chó Tứ Xuyên quên ăn quên ngủ canh gác ngày đêm. Tại sao chúng ta phải đánh chúng và sau đó phải cai trị dân của chúng? Tại sao ta phải làm công việc đối phó với 90 triệu dân của chúng trong khi giống cẩu phương nam này làm giỏi hơn chúng ta?
Chúng ta không cần đánh bởi chúng đã đánh dân của chúng thế chúng ta.
Chúng ta cũng không cần phải cướp vì chúng đã tự cướp nước của chúng để dâng để bán và sẽ tiếp tục dâng, tiếp tục bán cho chúng ta.
Khi cần chúng ta sẽ chuyển quân, kéo đại pháo, xe tăng chạy vòng quanh biên giới để giúp đảng của chúng nhân danh hòa bình, ngăn chặn hiểm họa chiến tranh mà trị đám dân muốn vọng động của chúng.
Người đứng đầu Thủ đô đã ra lệnh dân của chúng rằng:
“Biểu thị lòng yêu nước, yêu Thủ đô thông qua việc ra sức lao động, học tập, công tác và hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước nhằm phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và ổn định đời sống nhân dân…”
Người đứng đầu nhà nước ra lệnh cho dân của chúng rằng:
“Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sốngvà góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế….”
Chúng đã làm đúng bổn phận của một chư hầu trung thành với chính sách trị dân thuộc địa: hãy lo làm giàu và sống yên ổn. Dân của chúng chỉ được làm giàu và đó là phương thức duy nhất được cho phép để bảo vệ tổ quốc của chúng.
Không cần phải đánh. Cờ đại Hán của chúng ta sẽ từ 5 sao thành 6 sao phất phới trên toàn cõi lãnh thổ của chúng. Không bằng súng đạn mà sẽ bằng những văn kiện ký kết từng phần giao nhượng. Văn kiện sau cùng là văn kiện chúng ta viết sẵn cho chúng để chúng XIN ký kết được làm một vùng tự trị trong Đại hán vĩ đại của chúng ta.
28.06.2016
Vũ Đông Hà
DanLamBao

TẠI SAO CHÚNG TA KHÔNG MUỐN VỀ VIỆT NAM

Lời người viết:  Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó – mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ – ghi lại môt cách trung thực. 
 
*
Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến  du lịch. Với những trung tâm “thư giản” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỷ – 1,000 US$ đến 1,500 US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )
Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới – thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XỌVụ cá độ hàng triệu US$ đã bị phanh phui. là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm.
Để vài hôm sau – đâu lại cũng vào đó…
 
Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở – vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự – ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm – phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…
Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 5.000.000 chiếc Honda – phun khói mịt mù – chưa kể đến xe hơi ???
Và hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn – nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 10.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung cộng  tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung công  giá khoản chừng 1,200 đô la Mỷ, chưa kể hàng Trung cộng  lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia – bia nội, bia ngoại – có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ – giai cấp thống trị -“Nhậu”. Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị – đã lột xác – không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa – mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút – thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn – ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu – nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ – thì rõ.

 
Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) – mặt tiền ngó vào trong – mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) – bên có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỷ kim – ngon ơ ! Tương tự như vậy – ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 – phố thương mãi,  quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động – nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.

> Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng . Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng Rắn” của Trần Độ).   

> Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn – đã biến mất.
> Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ – mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.

 
Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Nylông, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống… Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ … đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình).
 Image result for xe máy việtnam
Bộ mặt Sàigòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố – Nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu người của Việt Nam – theo thống kê của báo The Economist – bằng: 800 US$ năm 2011 (Hà Nội bốc lên 1,000 US$, Chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 3.500 US$ – Phi luật Tân: 2.000 US$ – Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 30.000 US$. (The Economist World, năm 2011 – p. 158, 176, 238) – Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy – nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? – Thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê – Giai cấp giàu có bây giờ là ai ? Giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ???
*
HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XA HÔI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRONG Ở SAIGÒN – KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.
Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỷ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn. Và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản – Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong – Cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – Cũng đều là người Bắc – Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc  tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam – Thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả.
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – Từ Trung ương đến địa phương – Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn – điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất – Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ.
Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp – nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? – Không ai biết.
Thông thường – những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ – để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ.Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.   
Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn. 
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.  Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình – các ông tự gọi mình đi.
Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền Nam – ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.
Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”: 
– “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.
– Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
– Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa.
Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.
Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.

Dưới sông – từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.

Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? – “ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.
Tờ T T – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát GIÁC  3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.
Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! 
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.

NGHÈO

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây  đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá.

Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “

MIỀN NAM – 37 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam – trong đó có miền Nam – có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN

– 37 năm nhìn lại:

 Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan. 
– 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

– 37 năm nhìn lại:
Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở” 

– 37 năm nhìn lại:
Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.
Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu.” (Trích Người việt hải ngoại – Nguyễn văn Trấn)
PHÓ THƯỜNG DÂN

Tiếng thở dài của người dân Cồn Sẻ

Tiếng thở dài của người dân Cồn Sẻ

Mỹ Hiệp (Danlambao) – 500 triệu USD cùng một lời “xin lỗi” chứ chưa nhận tội là cái giá rất bèo so với những hệ quả mà người dân phải gánh chịu từ hành động xả độc tố ra biển của tập đoàn Formsa. Hàng triệu ngư dân, thương nhân kinh doanh thủy hải sản, những người làm dịch vụ nhà hàng, du lịch, khách sạn ở miền Trung sẽ mất kế sinh nhai trong hàng chục năm trời.
Chúng tôi về đến Cồn Sẻ (Quảng Bình), một trong 4 tỉnh miền Trung đang phải gánh chịu thiệt hại nặng nề trong vụ cá chết dạt trắng bờ vừa đúng nhá nhem tối. Ấn tượng về những người dân tụm năm tụm bảy nhìn xa xăm ra biển, những đứa trẻ nhếch nhác xây lâu đài cát ven bờ có lẽ là những hình ảnh mãi in đậm trong tâm trí chúng tôi.

Kể từ thời điểm cá chết cho đến nay, hàng chục con tàu lớn, nhỏ trong thôn phải nằm phơi nắng, phơi sướng vì số lượng cá đánh bắt được ngày càng ít. Mặt khác người dân không dám mua cá về ăn do sợ cá nhiễm độc. Thậm chí nhiều chuyến đi biển về còn bị thua lỗ. Dù vậy, ngư dân vẫn phải tiếp tục bám biển để kiếm đồng tiền trang trải cho cuộc sống. Những người có sức khoẻ thì đánh cá xa bờ, còn lại một số khác thì phải tiếp túc đánh bắt gần bờ. Việc nuôi cá lồng bè trên Sông của ngư dân thôn Cồn Sẻ cũng gặp nhiều ảnh hưởng sau vụ cá chết.

Một số bà con ngư dân cho biết trước tình trạng cá chết hàng loạt liên tiếp tấp vào bờ khiến tâm lý của bà con nơi đây vô cùng hoang mang, lo lắng. Bởi có lên thuyền ra khơi khai thác thì những loại thủy hải sản đánh bắt được cũng không có ai mua nên bà con đành kéo thuyền lên bờ rồi ngồi thẫn thờ, mắt buồn nhìn hướng biển. Chú Tính một người dân nuôi cá lồng bè tại đây cho biết. “Lúc chưa xảy ra việc cá chết thu hoạch từ việc bán cá lồng lên đến hàng trăm ngàn đồng, nhưng hiện nay thì cá không thể bán được vì người dân sợ cá nhiễm độc nên không dám mua”. Cũng theo chú Tính, thời điểm này là vụ chính để bà con đánh bắt các loại thủy hải sản. Những năm trước thời điểm này luôn náo nhiệt, từ sáng đến chiều tấp nập các con thuyền vào ra cùng những thương lái đến thu mua cá thủy hải sản nhưng giờ thì không một bóng dáng người mua, ngư dân làm cá cũng chán nản và lo lắng vì nếu không bán được cá thì không có tiền cho sinh hoạt của gia đình.

Không những thế, một vài nhà hàng hải sản của người dân cũng phải đóng cửa vì vắng tanh khách. “Trước đây thu nhập của cửa hàng mỗi ngày từ 3-5 triệu, nhưng hiện tại thì không một bóng khách, nhà hàng của chú đã phải đóng cửa cả hai tháng nay“, chú Quyết chủ nhà hàng Hồng Thủy thở dài ngao ngán khi chia sẻ với chúng tôi.
Hiện tình hình đời sống của bà con ngư dân nơi đây vô cùng khó khăn, mọi sinh hoạt bị đảo lộn hoàn toàn. Trước đây vào thời điểm này, bà con chỉ ra khơi một đêm đến sáng về đưa các loại thủy hải sản đánh bắt được đem bán cho thương lái thu về từ 1 đến 2 triệu đồng để nuôi sống gia đình… nhưng hiện tại, tất cả thuyền nơi đây đều phải neo đậu hoặc kéo lên bờ vì có cá đâu mà khai thác. Mất nguồn thu nhập, cuộc sống của tất cả người dân trong vùng đang gặp rất nhiều khó khăn. Tương lai của các em nhỏ đang tuổi cắp sách đến trường đang là một dấu hỏi lớn được đặt ra.

Không thể trông chờ mãi vào 10kg gạo chống đói từ chính phủ, người dân nơi đây đã gửi 55 đơn kiến nghị và 1 đơn chung lên chính quyền các cấp để được giải quyết nhưng cho tới nay vẫn chưa nhận được câu trả lời. Chính quyền bỗng chốc trở nên yếu hèn hơn bao giờ hết. Đấy là chưa nói đến hành động không thể chấp nhận được của chính quyền khi thẳng tay đàn áp, đánh đập dã man khiến nhiều người bị thương nặng khi có khoảng gần 2.000 bà con giáo dân xứ Cồn Sẻ, hạt Hòa Ninh, giáo phận Vinh đã xuống đường biểu tình trên đường quốc lộ đoạn qua thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình để yêu cầu nhà cầm quyền đóng của nhà máy Formosa. Thế nên, có lẽ, sự mong mỏi đó sẽ mòn mỏi theo ngày tháng!
Họ không chấp nhận ngồi trên bờ để ăn, hưởng đền bù. Bởi “ngư dân sống bằng biển, chỉ hỗ trợ, trợ cấp một số mặt khác; còn họ “sinh nghề tử nghiệp”, sống chết với biển. Bây giờ, người dân ngồi trên bờ để ăn, hưởng đền bù. Ngư dân mong muốn dù bám biển, dù có nghèo, có khổ, có chết trên biển thì vẫn cam nhận”! Quan trọng hơn, đánh bắt thủy hải sản là nghề gắn bó với bà con Cồn Sẻ bao đời nay. Nguyện vọng của bà con là Formosa phải bị truy tố trước tòa án và làm sạch môi trường biển, sau đó cuốn xéo ra khỏi Việt Nam để họ lại được quay trở về truyền thống; môi trường biển được trong sạch trở lại; để những ngư dân lại dong thuyền ra khơi dựa vào mẹ biển mưa sinh./.
22/7/2016