Vì sao du học sinh Việt nam “một đi không trở về”?

Vì sao du học sinh Việt nam “một đi không trở về”?

 Trong số 13 nhà vô địch chương trình đường lên đỉnh Olympia được đi du học thì 12 người đã không trở về, hầu hết các sinh viên du học sau khi tốt nghiệp đều muốn ở lại nước ngoài làm việc.

Phan Mạnh Tân – quán quân năm thứ 2 chương trình đường lên đỉnh Olympia (học sinh từ trường THPT Năng khiếu Hà Tĩnh), đã hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ và đã đi làm ở công ty IBM, Melbourne, Australia.

Huỳnh Anh Vũ – quán quân năm thứ 8 chương trình đường lên đỉnh Olympia, có điểm số rất cao trong trận chung kết (325 điểm), là một trong hai người hiếm hoi được giữ lại làm giảng viên ngành kinh tế trường ĐH Swinburne, Australia.

Con số thống kê cho thấy, có 70% số du học sinh sau khi tốt nghiệp đã chọn ở nước ngoài chứ không về nước.

Vì sao du học sinh không muốn về nước?

Các sinh viên khi du học ở các nước tự do, việc đầu tiên là cần thích nghi với môi trường cởi mở nơi đây. Nhưng sau khi thích nghi cuộc sống nơi đầy rồi họ lại không còn muốn về nước nữa, bởi họ không muốn về nước lại phải đối mặt với những thủ tục chạy chọt xin việc, ngay cả du học về nhiều khi vẫn phải có tiền mới mong xin được việc.

Môi trường ở nước ngoài khác biệt hoàn toàn ở trong nước, các du học sinh ra nước ngoài đã quen với cung cách “dám nghĩ dám làm”, nói những điều thực với lòng mình, còn ở trong nước, nói ra điều gì cũng phải dè chừng xem ý lãnh đạo thế nào mới dám nói, không thể sống thực với chính mình.

Nếu về nước làm việc nhiều khi không phát huy được sở trường sở học của mình, trang thiết bị trong nước yếu kém và thiếu thốn, dữ liệu phục vụ nghiên cứu không có. Chưa kể cần phải có những mối quan hệ thì mới tồn tại và phát triển được.

Thực tế cho thấy có những trường hợp sau khi du học về nước lại phải làm những việc trái với sở trường, lại phải lo lắng xây dựng các mối quan hệ với lãnh đạo cho tốt, khiến tài năng cũng như ước mơ hoài bão bị thui chột theo thời gian.

Chưa kể nếu về nước, thu nhập thấp không tương xứng với cống hiến, lại phải đối mặt với tệ nạn con ông cháu cha đầy rẫy trong các cơ quan, DN nhà nước.

Các du học sinh nói gì?

Một sinh viên kiến trúc học tại Pháp, 28 tuổi, sắp lấy bằng tiến sỹ cho trang Ngoisao biết: “Em không biết khi về có một môi trường tốt để làm việc không? Ở đây, em đang có cơ hội việc làm. Một năm làm việc ở đây có thể bằng nhiều năm làm việc tại VN. Vấn đề không chỉ là thu nhập cao, mà là sự rút ngắn thời gian trưởng thành và cơ hội sáng tạo”.

du-hoc-sinh

A.Đ – một trong những sinh viên hiếm hoi có được tấm bằng tiến sĩ khi mới ngoài 20 tuổi chia sẻ với Ngoisao rằng: “Những gì chúng em được học và muốn làm thì rất khó thực hiện ở Việt Nam. Sự thiếu thốn các điều kiện thực hiện, và hàng loạt những vấn đề tế nhị khác về vấn đề thủ tục hành chính, về kinh phí, về con người và đặc biệt là sự nhìn nhận thiếu công bằng đối với những trí thức trẻ đã khiến những sinh viên giỏi không muốn trở lại môi trường làm việc ở Việt Nam sau khi tốt nghiệp”.

Thanh Tuấn – là một du học sinh tại Mỹ cho RFA biết: “Vấn đề xin việc làm hay vào công ty của Việt Nam thì phải là con ông cháu cha, phải đút lót. Bên này, vấn đề đó dựa vào thực lực của mình nhiều hơn. Và bên này, tốt nghiệp ra đi làm với đồng lương căn bản mới bắt đầu thì mọi người vẫn sống đủ chứ không phải quá chật vật như bên Việt Nam. Còn với một số bạn nhà có cơ sở ở Việt Nam muốn quay về làm cho nhà thì cũng tốt, nhưng đa số mọi người muốn ở lại chứ không muốn đi về tại vì cuộc sống bên này tốt và thoải mái hơn. Hơn nữa là tự do hơn và được thể hiện hơn”.

Một du học sinh nữa ở Mỹ cũng cho biết: “Lý do khiến đa số muốn ở lại Mỹ là về Việt Nam chính quyền không biết trọng dụng nhân tài. Giống như anh có tiền nhiều anh sẽ được chức cao hoặc công việc tốt; còn nếu anh không có tiền cho dù có tài cũng không có được”.

Anh Trung Kiên – nghiên cứu sinh tiến sĩ tại một trường đại học của Canada đã chia sẻ ý kiến của mình trên Vnexpress rằng: “Trước khi sang đây, tôi cũng đã làm công tác giảng dạy khá lâu tại một trường đại học của Việt Nam. Ở cơ quan tôi cũng có nhiều cán bộ được đi đào tạo tại các nước trên thế giới, kể cả châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á. Khi mới về nước mọi người đều rất hăm hở với các vấn đề khoa học mà họ đã được đào tạo, nhưng dần dần tôi nhận thấy mọi người đều phải chuyển sang làm thêm những việc khác mặc dù không thích vì lý do thu nhập đơn thuần. Một số bạn bè cùng công tác với tôi đã được đào tạo tiến sĩ hoặc thạc sĩ ở nước ngoài nhưng khi về nước xin đi làm cho một số tổ chức phi chính phủ và chịu nộp một phần thu nhập hằng tháng cho cơ quan. Do vậy việc giảng dạy vẫn chủ yếu tập trung vào một số cán bộ cũ hoặc những người mới ra trường không có điều kiện đi làm thuê bên ngoài. Thực chất vấn đề là ở chỗ việc trả lương và sắp xếp công việc cho các cán bộ khoa học chưa hợp lý. Lương thấp buộc mọi người phải tìm các công việc có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy việc giảng dạy và nghiên cứu lúc này trở nên là việc phụ đối với họ.

Còn việc trang thiết bị của một trường đại học đối với chúng ta hiện nay thực sự là vấn đề bức xúc, mặc dù trong các năm gần đây đã được sự đầu tư nhiều hơn từ nhà nước, trang thiết bị của chúng ta còn quá ít ỏi và quá lạc hậu so với nhiều nước trong vùng, chứ chưa nói tới các nước đã phát triển”

Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng từ Canada cũng chia sẻ với Vnexpress rằng:“Tôi không biết phải bắt đầu như thế nào ở Việt Nam bởi lẽ điều kiện ở đây còn quá thấp. Các trường đại học chưa có hoặc chỉ mới sơ sài những ngành nghề mà chúng tôi được học ở nước ngoài. Thêm vào đó là trường đại học lại không tiếp nhận và tin tưởng những cái mới của chúng tôi. Nói cách khác nếu trở về Việt Nam, thật sự chúng tôi không có điều kiện để phát triển khả năng. Với tình hình như vậy xin hỏi có người trí thức nào muốn trở lại Việt Nam làm việc không?”

Anh Nguyễn Hải Nam – hiện đang công tác ở Mỹ chia sẻ: “Nhiều đề tài cấp nhà nước tiêu tốn hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng nhưng về giá trị khoa học cũng như thực tiễn nó chỉ giúp đánh bóng hoặc làm dày thêm ngăn kéo vốn đã đầy của Bộ KHCN&MT. Mặt khác sự quản lý lỏng lẻo trong việc quyết toán đề tài đã biến nguồn kinh phí này trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự tham nhũng (ví dụ: như sự mua bán hoá đơn chứng từ, những hợp đồng khoa học khống…). Trong khi đó ở đại đa số các trường đại học, nhiều cán bộ khoa học rất cần nguồn kinh phí của nhà nước, dù là rất nhỏ để hoạt động và tồn tại. Điều này dẫn đến thực trạng là đa số máy móc trong phòng thí nghiệm ở Việt Nam hiện nay hết sức cũ kỹ và lạc hậu, nhiều cán bộ có điều kiện ra nước ngoài thực tập không biết cầm pipet thí nghiệm như thế nào”.

Vậy để thu hút du học sinh trở về nước làm việc, thì cần phải có môi trường tốt để thu hút du học sinh và những người tài trở về, nếu không những tài năng của đất nước sẽ “một đi không trở lại”.

Chương trình đường lên đỉnh Olympia, mỗi năm tổ chức một lần, được xem là sân chơi đỉnh cao trí tuệ trẻ ở Việt Nam, được ĐH Kỹ thuật Swinburne Úc trao tặng 100% học bổng. Vì thế đừng để những chương trình như vậy chỉ để sàng lọc học sinh giỏi và nhân công cho nước ngoài, khi mà chỉ 1 trong số 13 quán quân của chương trình này trở về nước.

Ngọn Hải Đăng

Anh chị Thụ & Mai gởi

Phúc Nổ – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Phúc Nổ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Ảnh của tuongnangtien

Tuongnangtien

RFA

Xế chiều, tôi mới để ý tới ca dao:

Buồn vì một nỗi tháng Giêng
Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài
Buồn vì một nỗi tháng Hai
Đêm ngắn ngày dài thua thiệt người ta
Buồn vì một nỗi tháng Ba
Mưa dầu nắng lửa người ta lừ đừ
Buồn vì một nỗi tháng Tư
Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn
Buồn vì một nỗi tháng Năm
Chưa đặt mình nằm gà đã gáy kêu
Bước sang tháng Sáu lại đều

Vậy mà qua tới tháng Chín rồi  nhưng sao tôi vẫn chưa cảm thấy “lại đều” gì ráo, vẫn cảm thấy nặng lòng vì những nỗi buồn ngun ngún từ vài tháng trước. Hồi tháng Tư (cái tháng “lừ đừ cơm chả muốn ăn”) nghe ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu, tại Hội Nghị Doanh Nghiệp Việt Nam, khiến tôi thiếu điều còn muốn bỏ uống luôn nữa kìa:

“Đặc biệt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và hội nhập để không những phát triển kinh tế trong nước mà còn có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu ở nước ngoài, mang thương hiệu mà ta hay gọi là ‘Ma dzê in Việt Nam’. Đất nước mình anh hùng như vậy, giải phóng dân tộc như vậy, tại sao không thể xuất khẩu lớn được? ”

Tôi hoàn toàn không phiền hà gì cái thứ tiếng Anh ba rọi, và ba trợn của ông Phúc, vì đó chỉ là tiểu tiết. Một vị thủ tướng không nhất thiết phải thông thạo ngoại ngữ (bất kể là thứ tiếng nào) nhưng ít nhất thì cũng phải biết về tình trạng kinh tế của nước mình chớ bộ. Ông cho biết: “Dù bận cỡ nào, hằng ngày… tôi cũng đọc tin tức trên các báo để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp …” mà chả lẽ không rõ những mẩu tin sau:

– 58,2% doanh nghiệp FDI phải chi phí “bôi trơn” để được việc

– Làm được 10 đồng, thuế ‘ăn’ 4 đồng

– Gần 29.000 doanh nghiệp “chết lâm sàng” trong 5 tháng

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 5 tháng đầu năm nay là 4.643 doanh nghiệp, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh chú thíchvneconomy

Là người đứng đầu chính phủ hiện hành mà ông Phúc không thấy rằng ngành doanh nghiệp Việt Nam đang sống dở (và chết dở) sao? “Chúng ta chưa tự làm được cái đinh vít,” đã đành; “tăm tre, đũa tre cũng phải nhập khẩu cả chục ngàn tấn mỗi năm.”  Vậy lấy cái gì ra “để xuất khẩu lớn,” ngoài thân xác của người dân Việt!

Đếm tháng Bẩy, vào ngày 18, báo Dân Trí đưa tin:

“Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo cơ quan chức năng có giải pháp cụ thể chăm lo cho những Việt kiều nghèo từ Campuchia về nước, sống ở đầu sông Sài Gòn, đoạn nằm giữa 2 tỉnh Bình Phước và Tây Ninh…”

Mẹ ơi! Việt kiều về từ Campuchia đâu phải chỉ có một nhóm nhỏ ở đầu sông Sài Gòn – cha nội! Họ đang sống vất vưởng tại rất nhiều nơi khác nữa: Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, Đồng Nai, An Giang, và Kiên Giang.

Những đứa trẻ ở xóm “liều” biên giới không được đi học như những người bạn cùng trang lứa khác vì không có giấy khai sinh, hộ khẩu, quốc tịch và không thuộc quốc gia nào.  Ảnh: Thuận Thắng. Chú thích: Tuổi Trẻ Online

Tình trạng Biển Hồ cạn nước, và tình hữu nghị Việt/Miên cũng đang đang từng bước cạn theo thì số lượng người Việt buộc phải hồi hương sẽ mỗi lúc một tăng. Theo luật lệ hiện hành của Việt Nam thì những người Việt “không có một manh giấy lận lưng này” sẽ phải chờ hai mươi năm sau mới được nhập tịch, nếu họ được cấp chứng minh thư và hộ khẩu.

Và không có quốc tịch thì họ sẽ không có việc làm, không được hưởng bất cứ phúc lợi xã hội nào, con cái cũng không được đến trường. Nếp sống khốn cùng và bấp bênh này sẽ kéo dài qua đến thế hệ kế sau, nếu không có sự tu chính về luật lệ di trú đối với những người dân bất hạnh này.

Đây là một vấn đề lớn, ở tầm mức quốc gia. Trong cương vị Thủ Tướng, ông Phúc cần phải có cái nhìn toàn diện và cách giải quyết rốt ráo. Chớ đâu phải bạ đâu nói đó (“Chỉ đạo cơ quan chức năng có giải pháp cụ thể chăm lo cho những Việt kiều nghèo từ Campuchia về nước, sống ở đầu sông Sài Gòn, đoạn nằm giữa 2 tỉnh Bình Phước và Tây Ninh…) là xong!

Còn “những Việt kiều nghèo từ Campuchia về nước” ở những nơi khác thì sao? Không lẽ thây kệ họ! Đó là chưa kể đến những công dân, cũng chả có giấy khai sinh hay căn cước gì ráo trọi, đang sống trong những “xóm liều” giữa lòng Hà Nội mà ông Phúc (dám) chưa nghe ai nói đến bao giờ.

Xóm Liều giữa lòng Hà Nội. Ảnh: Báo Mới

Qua tháng Tám, tại Hội Nghị Ngoại Giao Lần Thứ Hai Mươi Chín, ông T.T. lại “nổ” một phát nghe cũng phát ù tai: “Khắc phục tình trạng nói không ai nghe.”

Ông Phúc à, ráng “khắc phục” chuyện gì dễ hơn chút xíu đi. “Khắc phục tình trạng lạm thu phí visa” của Bộ Ngoại Giao thử coi có được không?

Được chết liền!

Nếu không lạm thu, và không buôn lậu thì các sứ quán Việt Nam sẽ phải đóng cửa ráo trọi vì tất cả nhân viên ngoại giao sẽ chết đói hết trơn. Họ sống sao nổi, ở nước ngoài, với cái đồng lương đốn mạt của nhà nước Việt Nam ?

Ông nói chi đến chuyện viển vông (“khắc phục tình trạng nói không ai nghe”) nghe sao mệt quá hà! Dối tránói lấy đượcnói cho qua chuyện, nói một đằng làm một nẻo đều là những nét văn hoá đặc trưng – đậm đà bản sắc dân tộc – của những quốc gia theo CNXH mà:

  • “Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy ‘nói vậy mà không phải vậy’! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.” (Nguyễn Khải –  Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất).
  • “Nói dối mãi thành quen, thành tự nhiên, thành ‘mày phải’… nói dối. Không nói dối không thành gì cả, không được gì cả. Một xã hội ứng xử bằng nói dối là một xã hội đang đứng bên bờ vực thẳm hay đang rơi tự do xuống vực thẳm.” (Nguyễn Trọng Tạo – Ngày Nói Thật Cho Việt Nam).
  • “Người nói cứ nói. Thừa hiểu mình nói dối, chẳng ai tin, nhưng cứ nói. Rất thành thật thiết tha. Thuyết giảng chân lý, thuyết giảng con đường. Người nghe làm ra vẻ chăm chú, rất chăm chú, mê say. Nhận thức đường đi. Sáng lòng sáng mắt. Tuy biết tỏng rằng người nói cũng chẳng mảy may tin những điều họ nói, thì mình tin sao được. Nhưng vẫn làm ra vẻ tin, tin thật, tin lắm. Xuýt xoa, tấm tắc dù biết ngời nói nhìn thấu ruột gan mình. Vở diễn vẫn cứ kéo dài năm này sang năm khác. Vì không ai dám nói ra sự thật nên vở vẫn cứ diễn. Cứ giả cách nói, giả cách nghe, giả cách tin tưởng”. (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).
  • Nhà nước hiện hành được thiết lập, xây dựng trên một thứ nền móng xảo trá và tồn tại tại được là nhờ vào dối gạt triền miên: “Cứ giả cách nói, giả cách nghe, giả cách tin tưởng …” Đòi “khắc phục tình trạng” này là đi ngược lại với chính sách cùng chủ trương của Đảng và Nhà Nước chớ đâu phải chuyện giỡn chơi, cha nội.

Nổ nhỏ và nổ bớt chút xíu đi, ông Phúc. Mỏng mỏng thôi. Nổ hoài và nổ quá Trời dễ bị ù tai lắm; đã vậy, có bữa còn bị trúng miểng (uổng mạng) như không.

Kết cục bi thảm của các nhà cựu độc tài

Kết cục bi thảm của các nhà cựu độc tài

25/10/2011

Những nhà độc tài khét tiếng như Gaddafi, Saddam Hussein hay Hitler đều phải đón nhận một kết cục bi thảm, dù cái chết của mỗi người không ai giống ai.

Kết cục bi thảm của các nhà cựu độc tài

Những nhà độc tài khét tiếng như Gaddafi, Saddam Hussein hay Hitler đều phải đón nhận một kết cục bi thảm, dù cái chết của mỗi người không ai giống ai.

Gaddafi (7/6/1942 – 20/10/2011)

Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới

Sau 42 năm cầm quyền, Gaddafi bị bắt trong một ống cống ở thành phố Sirte quê hương. Người đàn ông ước tính có tới 200 tỉ USD, số tài sản gấp gần 4 lần Bill Gates, đã bị bắt bởi những kẻ mà ông thường gọi là “chuột” và “sâu bọ”.

Từ ngai vàng và cuộc sống xa hoa xuống ống cống, đó là điều mà ông Gaddafi không bao giờ nghĩ tới. Tuy nhiên, điều đáng nói hơn là khi bị bắt, người đàn ông từng đầy quyền lực đó đã nói những từ của kẻ thua cuộc: “Đừng bắn, đừng bắn”. Những tay súng của phe nổi dậy đã giẫm đạp, kéo lê ông khắp thành phố, trước khi kết liễu nhà cựu độc tài bằng một phát súng vào giữa thái dương.

Saddam Hussein (28/4/1937 – 30/12/2006)

Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Hình ảnh ông Saddam Hussein bị treo cổ.

Saddam Hussein là Tổng thống Iraq từ năm 1979 tới năm 2003, khi Mỹ tấn công đất nước này với lý do đã “tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Ông đã bị bắt và phải ở tù. Tháng 11/2005, ông bị đem ra tòa án xét xử. Lúc đó có nhiều ý kiến trái chiều nhau về việc xét xử ông Saddam Hussein, nhưng cuối cùng ông này bị kết án “chống lại loài người” vì vụ thảm sát hơn 150 người tại thị trấn Dujail phía Bắc Iraq năm 1982 và cuộc tận diệt khoảng 200.000 người Kurd năm 1988 bằng vũ khí hóa học. Ngày 30/12/2006, ông đã bị thi hành án tử hình treo cổ tại Baghdad, Iraq.

Trong thời kỳ Saddam Hussein tại vị, nền kinh tế Iraq xuống dốc một cách trầm trọng, trong khi người đứng đầu đất nước lại giàu đến mức khó tin. Người ta cho rằng ông đã tích được hàng tỉ USD trong các ngân hàng Thụy Sĩ.

Adolf Hitler (20/4/1889 – 30/4/1945)

Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Adolf Hitler và Eva Braun, người tình và sau này là vợ ông.
Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Nơi thi thể của Hitler và vợ bị đốt cháy.
Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Chiếc giường ngày nào của trùm phát xít Hitler.

Adolf Hitler là Thủ tướng Đức quốc xã từ năm 1933. Ông thiết lập chế độ độc quyền quốc, cấm chỉ tất cả các đảng đối lập và bức hại các đối thủ chính trị. Ông đã gây ra Thế chiến lần thứ 2, thúc đẩy một cách có hệ thống quá trình tước đoạt quyền lợi và sát hại khoảng 6 triệu người Do Thái châu Âu cùng một số nhóm chủng tộc, tôn giáo, chính trị khác. Những tội ác của Hitler được thừa nhận ở bất kỳ góc độ nào.

Ngày 30/4/1945, biết Berlin thất thủ và không có gì cứu vãn được, Hitler cùng vợ đã tự vẫn. Trùm phát xít dùng súng lục tự bắn vào miệng mình, còn vợ nuốt thuốc độc chết. Với những chính sách và cuộc chiến đã gây ra, Hitler đã kéo tụt quá trình phát triển của nhân loại trong một thời gian dài và phải nhận cái kết cục bi thảm.

Augusto Pinochet (25/11/1915 – 10/12/2006)

Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới

Pinochet là cựu Tổng thống độc tài của đất nước Chile. Năm 1973, ông này đã lãnh đạo một cuộc đảo chính và tự bổ nhiệm làm Tổng thống Chile từ năm 1974.

Trong suốt 16 năm nắm quyền, Pinochet đã thực hiện nhiều vụ trấn áp chính trị, giết chết 3.000 người dân Chile. Ngoài ra, nhà độc tài này đã tra tấn hoặc bỏ tù hàng chục nghìn người khác. Pinochet đã từng nói rằng ở Chile, nếu không có sự tác động của ông, một chiếc lá cũng không dám lung lay. Điều đó cũng phần nào nói lên sự độc tài của Pinochet và nỗi kinh hoàng của người dân Chile dưới thời ông ta nắm quyền.

Nhà độc tài này sau đó đối mặt với hàng loạt lời buộc tội vi phạm nhân quyền, nhưng ông chưa bao giờ phải ngồi tù vì sức khỏe yếu. Ngày 10/12/2006, Pinochet qua đời mà không phải chịu bất kỳ hình phạt nào. Cái kết này có vẻ như khá nhẹ so với những gì mà Pinochet đã gây ra cho đất nước và người dân Chile.

Benito Mussolini (29/7/1883 – 28/4/1945)

Kết cục bi thảm của các cựu độc tài trên thế giới
Mussolini cùng người tình và thư ký bị treo cổ ở Milan.

Benito Mussolini là thủ tướng độc tài cai trị phát xít Italy, với một thể chế quốc gia quân phiệt khắc nghiệt. Với vai trò là thủ tướng, Mussolini dần dần chuyển chế độ chính trị sang chủ nghĩa phát xít. Năm 1924, người đại diện cho chủ nghĩa xã hội, Matteotti, bị ám sát. Quốc hội Ý bị tan rã vào năm 1928, và chế độ độc tài lại được thiết lập theo con đường phát xít. Người đàn ông này đã sống một cuộc đời xa hoa và đầy quyền lực, với những khoản đầu tư lớn trong ngân hàng.

Mussolini đưa Italy vào khối trục của Hitler chống lại quân Đồng Minh trong Thế chiến II. Mussolini là thân hữu của Hitler cùng đồng hành trong Thế chiến II. Trước sự suy sụp của phe phát xít trước quân Đồng Minh, Musolini bị bắt và đưa vào tòa án binh. Sau đó, ông và người tình bị treo cổ.

đỗ quyên

Theo Bưu Điện Việt Nam

Chủ Nghĩa cộng sản biến con người thành Cỗ Máy, Lô Nệ ngay trên quê hương mình

httpv://www.youtube.com/watch?v=PKv20N11tIg

Chủ Nghĩa cộng sản biến con người thành Cỗ Máy, Lô Nệ ngay trên quê hương mình.

Bài giảng tháng 07 năm 2015 ở nhà thờ Thái Hà, Hà Nội, hôm nay  nghe lại vẫn thấy quá chính xác , quá đúng , quá đã, áp dụng cho xã hội Việt nam hiện nay, năm 2016.

LM Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong

BẠN BỊ CƯỚP HẠNH PHÚC GIỮA BAN NGÀY

BẠN BỊ CƯỚP HẠNH PHÚC GIỮA BAN NGÀY

 

Và anh thanh niên ấy bỏ đi vì tiếc tài sản kếch sù của mình” (Mc 10,22).

Bạn có ngạc nhiên không khi biết rằng

bạn đã bị lập trình (cài đặt) để sống bất hạnh

và vì thế, dù bạn làm bất cứ điều gì… để mong hạnh phúc, bạn cũng cứ thất bại !!

Tương tự như máy của bạn đã được nhập đầy các phương trình toán học, nên mỗi khi bạn gõ phím để lấy ra những câu thơ của Shakespeare, bạn đều thất bại.

Nếu muốn hạnh phúc thì điều trước tiên bạn cần làm

không phải là nỗ lực,

cũng không phải là có thiện chí

hay có những ước muốn tốt lành, thậm chí có vẻ thánh thiện nữa

 PHẢI hiểu rõ bạn đã bị lập trình chính xác như thế nào.

Sự việc ấy như sau:

1.     Trước hết xã hội và văn hoá đã dạy bạn  tin rằng

mình không thể nào hạnh phúc  không có một số người  một số điều.

Thử nhìn chung quanh bạn: đâu đâu người ta cũng tìm cách xây dựng cuộc đời dựa trên một niềm tin không bao giờ xét lại rằng

nếu không có một số điều kiện như tiền bạc, quyền lực, thành công, sự tán thưởng, danh tiếng, tình yêu, tình bạn, linh đạo, Thượng Đế

thì người ta không thể hạnh phúc.

Còn quan niệm riêng của bạn là gì?

2. Một khi đã tiếp nhận niềm tin ấy, tự nhiên bạn sẽ quyến luyến người này hay vật kia mà bạn cho là nếu thiếu thì không thể hạnh phúc.

3. Sau đó, bạn ra sức chiếm cho bằng được điều quí giá hay con người quí báu ấy,

rồi khi đã có thì bám chặt lấy,

đồng thời triệt hạ hết mọi thứ có thể đánh mất người ấy hay điều ấy.

4. Rốt cuộc bạn trở nên lệ thuộc trong tình cảm,

tới mức đối tượng bạn quyến luyến ấy như có ma lực thu hút bạn

làm bạn phải lo lắng mỗi khi có nguy cơ đánh mất đối tượng ấy

và trở nên khổ sở mỗi khi bị mất đối tượng ấy.

Bây giờ hãy dừng lại một lát; bạn sẽ hốt hoảng khi thấy có cả một danh sách dài lê thê các điều mà lâu nay bạn đã nô lệ.

Hãy nghĩ đến những sự việc và con người cụ thể, chứ không phải là những sự việc và con người trừu tượng…

Một khi các điều mình quyến luyến đã kềm kẹp được bạn, bạn sẽ bắt đầu thu hết sức lực để lúc nào cũng tìm cách sắp xếp lại thế giới chung quanh mình, sao cho mình có thể nắm bắt được và giữ gìn được những điều mình tha thiết.

Đây là một công việc tốn hơi tốn sức, sẽ làm bạn chỉ còn chút ít nghị lực để sống và để hưởng cuộc sống cách đầy đủ. Nhưng đó cũng là một công việc bất khả thi trong một thế giới luôn biến chuyển mà bạn không tài nào có thể kiểm soát.

Thế nên, thay vì sống một cuộc sống thanh thản và sung mãn, bạn đã khiến mình phải sống một cuộc sống đầy sự lo âu, bất  an, căng thẳng và hồi hộp, vỡ mộng..

Quả thật là có một vài lúc ngắn ngủi thế giới như chịu theo những nỗ lực của bạn và tự sắp xếp cho hợp với ước muốn của bạn.

 Trong chốc lát, bạn cảm thấy hạnh phúc.

Hay đúng hơn, bạn cảm thấy một ánh chớp hoan lạc,

nhưng đó không phải là hạnh phúc vì kèm theo sự khoan khoái ấy bạn cảm thấy có một nỗi lo sợ sâu xa  rằng bất cứ lúc nào cái thế giới của những sự việc và con người ấy – mà bạn đã cực nhọc sắp xếp – cũng có thể vượt ra khỏi sự kiểm soát của bạn, làm bạn thất vọng – một điều mà không sớm thì muộn sẽ xảy ra.

5. Và đây là một điều nữa cần cân nhắc:

mỗi khi bạn lo lắng hay sợ sệt, đó chẳng phải là vì bạn không nắm bắt được điều mình tha thiết hay sao?

Và mỗi khi bạn cảm thấy ghen tương, đó chẳng phải là vì có người nào đó cướp mất  điều bạn tha thiết hay sao?

Và chẳng phải là hầu như mọi sự giận dữ của bạn đều xuất phát từ chỗ có ai đó ngăn cản bạn nắm lấy điều mình tha thiết hay sao?

Chẳng phải bạn trở nên đa nghi mỗi khi thấy điều mình tha thiết bị đe doạ hay sao

– bạn lại không thể nào suy nghĩ một cách khách quan:

đó có thể là do toàn bộ cái nhìn của bạn đã bị thiên lệch?

Mỗi khi bạn cảm thấy buồn chán, đó chẳng phải là bạn

 không được cung cấp đủ cái mà bạn cho là sẽ làm mình hạnh phúc,

 không cung cấp đủ điều mình đang tha thiết hay sao?

Và mỗi khi bạn suy sụp và khổ sở, ai cũng thấy rõ nguyên nhân là vì cuộc sống đã không cho bạn cái mà bạn tin là không thể hạnh phúc nếu không có.

Hầu như mọi cảm xúc tiêu cực của bạn đều là hậu quả trực tiếp của sự tha thiết.

Thế là bạn phải oằn lưng vác lấy đủ điều mình tha thiết –

và ra sức tìm hạnh phúc bằng cách ôm chặt gánh nặng ấy.

Một suy nghĩ thật ngu xuẩn.

Điều bi đát là đó lại chính là phương pháp duy nhất mọi người đã được chỉ vẽ để mưu tìm hạnh phúc –

một phương pháp chỉ đem lại lo lắng, thất vọng và hối tiếc.

Hầu như chẳng ai được nói cho biết sự thật này:

muốn hạnh phúc thật sự thì chỉ có một điều duy nhất cần làm là

xoá chương trình bị cài đặt,

là giải gỡ mình ra khỏi những sự tha thiết  ấy.

Khi va vấp trước sự thật hết sức hiển nhiên ấy, người ta thường hốt hoảng vì nghĩ rằng mình sẽ phải đau khổ lắm nếu phải bỏ đi những sự tha thiết ấy.

Nhưng quá trình ấy không hề đau đớn. Ngược lại…

Giải gỡ mình khỏi những quyến luyến ràng buộc là một công việc hết sức thích thú,

nếu phương tiện bạn dùng để làm việc ấy không phải là sức mạnh của ý chí, cũng không phải là sự từ bỏ, mà là sự kiến ngộ.

Tất cả những gì bạn cần làm là:

a. Mở mắt và nhìn xem mình không thực sự cần cái mình đang quyến luyến ràng buộc;

b. Ý thức rõ mình đã bị cài đặt chương trình, đã bị tẩy não để cho rằng mình không thể hạnh phúc hay không thể sống mà không có người ấy, điều ấy.

Hãy nhớ bạn đã một lần đau khổ thế nào, bạn đã một lần cho rằng mình sẽ không bao giờ có lại hạnh phúc vì đã mất người này hay vật kia mà mình hết sức quí mến?

Thế rồi điều gì đã xảy ra?

Thời gian trôi qua và bạn đã học được cách sống vui vẻ trở lại, không đúng sao?

Lẽ ra điều ấy phải cảnh giác bạn về sự giả dối trong những điều mình tin tưởng, về cái trò ma mãnhmà bộ óc bị cài đặt đã chơi bạn.

Ai trong chúng ta cũng đã từng kinh nghiệm:

Lỡ yêu say đắm một con chim vành khuyên…nhưng lại bị gia đình phản đối mãnh liệt đến nỗi phải chia tay trong đau đớn.. như đứt từng khúc ruột và tưởng rằng sẽ không thể sống nổi…Nhưng rồi 3 năm sau, tôi lại háo hức lao vào trong cuộc tình tươi mới….

Chẳng may làm ăn thất bại gần như trắng tay…tôi vài lần muốn tự tử cho tiêu đời…nhưng rồi một thời gian sau…tôi từ từ lấy lại bình tĩnh và vui thú làm ăn trở lại…

 

HÃY NHỚ RẰNG

Một điều mình quyến luyến không phải là một điều có thực,

đó chỉ là điều mình tin như thế, điều mình tưởng tượng như thế trong đầu mình, do mình đã bị cài đặt.

Nếu như điều tưởng tượng ấy không được đưa vào đầu mình, hẳn bạn đã không quyến luyến. Bạn sẽ yêu quí những sự vật và con người, sẽ tận hưởng chúng, nhưng vì không có niềm tin ấy bạn sẽ tận hưởng chúng mà không quyến luyến chúng.

Nhận ra điều này , tôi sẽ thấy kinh nghiệm của Phaolo thật thấm thía, dù Phaolo6 không có vợ :

từ nay những người có vợ hãy sống như không có ;

30 ai khóc lóc, hãy làm như không khóc ;

ai vui mừng, như chẳng mừng vui ;

ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả ;

31 kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng.

Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi. (1 Cr 7: 29-31)

 

Thế thì, có cách nào khác để tận hưởng cuộc đời không?

Bây giờ hãy duyệt lại tất cả những sự tha thiết của bạn.

Và mỗi khi nhìn tới đâu, bạn hãy nói:

 “Tôi không quyến luyến bạn thật sự đâu.

Tôi chỉ tự đánh lừa mình mà cho rằng không có bạn tôi sẽ không hạnh phúc”.

Hãy chân thành làm việc này và bạn sẽ thấy nơi mình có những thay đổi:

“Tôi không quyến luyến bạn thực sự đâu.

Tôi chỉ tự đánh lừa mình mà cho rằng không có bạn tôi sẽ không hạnh phúc”. 

Tác giả: Anthony de Mello, dòng Tên
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành

From vuisongtrendoi

 

Lời kể của cậu bé trở về từ Thiên đường trả lời câu hỏi linh hồn sẽ đi đâu

Lời kể của cậu bé trở về từ Thiên đường trả lời câu hỏi linh hồn sẽ đi đâu

linh hon1

 

Con người hiện đại đều rất “mê tín” vào các nhà khoa học, nhưng khoa học nhiều lúc cũng mang đến cho chúng ta những nhận thức sai lầm. Vũ trụ còn rất nhiều điều bí ẩn, nếu chỉ dựa vào lý thuyết khoa học thì chỉ đi đến đường cùng.

Linh hồn con người sau khi chết sẽ đi về đâu? (Ảnh: Internet)

Các nhà khoa học thông thường chỉ tin tưởng vào các loại máy móc thiết bị, đối với những hiện tượng tự nhiên bên ngoài, nếu không thể dùng máy móc hiện đại để kiểm chứng, thì đều không chịu thừa nhận. Vậy nên, máy móc đã trở thành cây gậy batoong của các nhà khoa học, nếu như không có nó, thì cũng không thể làm gì được.

Konstantin Korotkov, một khoa học gia người Nga thông qua việc sử dụng kỹ thuật quay phim điện tử sinh vật (bioelectrographic), đã sử dụng kỹ thuật chụp ảnh Kirlian tiên tiến quay chụp được cảnh tượng linh hồn rời khỏi thân thể trong khi người ta chết đi. Sau đó, ông đã tuyên bố rằng con người ta chết vốn không giống như ngọn đèn tắt, con người là có linh hồn. Nhưng linh hồn của con người đã đi đâu? Các nhà khoa học không có nói tiếp được nữa.

linh hon2

Một phụ nữ Ấn Độ trong lúc hỏa táng, máy quay phim đã quay chụp được một hình ảnh từ trong đống lửa lớn đang cháy bay ra. (Ảnh chụp từ clip)

Điều này cũng giống như châm cứu huyệt vị trên thân thể người mà Trung y đã sử dụng hàng nghìn năm qua, hơn nữa cách trị liệu rất hiệu quả. Về sau này, xuất hiện một số nhà khoa học, tuy họ biết châm cứu thực sự có thể trị khỏi bệnh, nhưng họ vẫn muốn bỏ ra một lượng lớn nhân lực, vật lực để nghiên cứu, để chính cặp mắt thịt của mình nhìn thấy “kinh lạc” rồi mới thừa nhận.

Một khoa học gia của Hàn Quốc sau này đã lợi dụng kỹ thuật nhiễm sắc thể và máy móc tiên tiến, cuối cùng đã phát hiện ra kinh lạc, gây phấn khích trong giới khoa học.

Trên các trang mạng còn có lưu truyền một số đoạn video, cho thấy cảnh tưởng linh hồn rời khỏi thể xác. Một đoạn video trong đó cho thấy, trong lúc thi thể của một phụ nữ Ấn Độ đang bị hỏa thiêu, máy quay phim đã quay được một hình ảnh bay ra từ trong đống lửa lớn đang cháy. Hình ảnh này lúc thì nhảy múa xung quanh đống lửa, lúc thì ẩn hiện trong đống lửa lớn.

 httpv://www.youtube.com/watch?v=AdLJt5aiCBs

Gulte.com – Dead Body Burning – Soul Caught On

Các nhà khoa học sau đó tuyên bố đây chính là linh hồn của người phụ nữ. Nếu như đoạn video này không có hiện ra hình ảnh đó, thì liệu người ta có tin rằng người phụ nữ này có linh hồn hay không?

Một đoạn video khác quay lại một cảnh tai nạn xe cộ xảy ra ở miền trung Tây Ban Nha, trong lúc cảnh sát và nhân viên cứu hộ đang xử lý hiện trường, một hình ảnh từ trong chiếc xe xảy ra tai nạn chậm rãi đi ra, sau đó bay đi.

httpv://www.youtube.com/watch?v=Ac04RVl3RIA

 Real GHOST caught on tape after fatal car crash accident GHOST CAUGHT ON TAPE Scary videos of ghosts

Colton Burpo giải đáp linh hồn đã đi đâu

Các nhà khoa học lợi dụng máy móc kỹ thuật đã phát hiện ra con người là có linh hồn, nhưng người ta sau khi chết linh hồn sẽ đi về đâu? Các nhà khoa học đến nay vẫn không có câu trả lời.

Một thanh niên người Mỹ 15 tuổi, cách đây 12 năm đã từng gặp một sự việc nguy hiểm, mạng sống nguy kịch. Sau khi được cứu sống lại, cậu đã giải đáp được vấn đề mà các nhà khoa học không thể tìm ra câu trả lời, đó chính là linh hồn của con người sẽ đi về đâu.

Cậu bé này tên Colton Burpo, năm cậu được 3 tuổi trong chuyến du lịch cùng bố mẹ đã bị sốt cao, viêm ruột thừa, bị chẩn đoán là cảm mạo, trên đường trở về nhà tình hình càng chuyển biến xấu. Đưa đến bệnh viện kiểm tra, mới phát hiện ruột thừa đã thủng, mạng sống nguy trong sớm tối, cần phải làm phẫu thuật ngay. May mắn là, cậu bé Colton mạng lớn, cuối cùng đã chuyển nguy thành an.

Khoảng một năm sau, có một ngày cậu cùng với bố, mẹ, chị gái cả nhà 4 người lái xe đi ngang qua bệnh viện đã từng cứu sống cậu, bố hỏi Colton rằng cậu có còn nhớ nơi này hay không? Cậu trả lời: “Đương nhiên còn nhớ, các Thiên thần đã hát cho con nghe ở chính nơi này”.

Cậu nói tiếp rằng: “Bởi vì con sợ hãi, vậy nên Chúa Giê-su đã bảo Thiên thần hát cho con nghe”. Cậu còn nói rằng Chúa Giê-su còn bế cậu lên, để cậu ngồi trên đùi của Ngài.

linh hon3

Colton trong tiết mục truyền hình chứng thực Thần thật sự tồn tại. (Ảnh: Internet)

Colton nhớ lại rằng, hôm đó cậu bay lên từ trên chiếc giường phẫu thuật, cúi đầu nhìn xuống, thấy các bác sĩ đều đang bận rộn, cậu bèn đi xuyên qua bức tường, nhìn thấy bố đang cầu nguyện, sau khi mẹ cầu nguyện thì nói chuyện điện thoại. Cậu kể lại không sai chút nào, điều khiến bố mẹ khó tin chính là, cậu nói bố mẹ lúc đó cầu nguyện ở trong những gian phòng khác nhau.

Một ngày, Colton đột nhiên nói: “Mẹ ơi, con có hai người chị gái”. Mẹ cậu rất kinh ngạc, bà chưa từng kể lại với cậu chuyện này, trước khi cậu ra đời, có một người chị gái, vì bị sảy thai nên đã không có cơ duyên đến thế giới này.

Cậu nói: “Người chị ở Thiên đường nhìn rất quen, chị ấy ôm con rất vui mừng, nói cuối cùng đã gặp được người nhà rồi!”.

Colton nói ở trên Thiên đường cũng nhìn thấy ông cố đã qua đời cách đây hơn 30 năm trước. Mặc dù ở nhân gian trước khi Colton ra đời thì ông cố đã mất từ lâu, nhưng ở Thiên đường, Colton lại gặp được ông ấy.

httpv://www.youtube.com/watch?v=QdUGoFTfP7w

11 yr Old Went to Heaven and Back, and Tells What He Saw

Colton miêu tả rằng Thiên đường thật sự rất đẹp, có rất nhiều màu sắc, “có đầy đủ tất cả màu sắc của cầu vồng”hơn nữa còn đẹp hơn rất nhiều so với màu sắc của nhân gian, chúng luôn phát sáng, đầy sức sống, bầu trời cũng không bao giờ tối.

Trên cánh cửa vàng kim có khảm rất nhiều trân châu; ngoài Chúa Giê-su ra, mỗi một người đều có cánh, có thể bay lượn khắp nơi, mỗi người mặc áo bào màu trắng với dây đai màu sắc khác nhau, trên đầu còn tỏa ánh hào quang. Chúa Giê-su có thể đặt cả thế giới trong lòng bàn tay của Ngài…

Tháng 11/2010, sau khi FoxNews đăng tải câu chuyện về trải nghiệm lên Thiên đường của cậu bé này, đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, đây như một bằng chứng để chứng minh “Thiên đường tồn tại”. Rất nhiều trang truyền thông quốc tế đang tiếp tục theo sát những báo cáo này.

Các nhà khoa học chứng minh có linh hồn tồn tại, còn Colton thì trả lời được linh hồn đã đi đến đâu, cũng đã chứng thực Thiên đường thật sự tồn tại.

Những quan niệm cố chấp do khoa học tạo thành, khiến người ta tin rằng không thấy thì không tin, khiến người ta mất đi ước thúc về mặt đạo đức tâm linh, để rồi chuyện xấu gì cũng đều dám làm.

Theo Epochtimes.com

Phạm Quỳnh và Việt Nam trong giai đoạn thoát Hán ngữ

Phạm Quỳnh và Việt Nam trong giai đoạn thoát Hán ngữ

 

PHAM QUYNH

 

 

 

 

 

 

Phạm Quỳnh khi còn làm quan nhà Nguyễn

   Trong bài Khảo về chữ quốc ngữ của Nam Phong tạp chí số 122, tháng 10.1927, Phạm Quỳnh đã khẳng định một niềm tin, và lời ông vẫn còn giá trị cho đến hôm nay: “Tôi tin rằng hậu vận nước Nam hay hay là dở là ở chữ quốc ngữ, ở văn quốc ngữ”.
Nói đến chữ quốc ngữ hiện chúng ta đang dùng, phải ngược về thế kỷ 17, thời nó được khai sinh. Nhưng ở thời điểm ra đời, loại chữ viết dùng mẫu tự Latinh ghi âm tiếng Việt ấy chỉ sử dụng trong phạm vi nhỏ hẹp để truyền giáo. Phải đến đầu thế kỷ 20, khi người Pháp hiện diện ở nước Nam, chữ quốc ngữ mới dần được dùng nhiều hơn, phổ biến cho đến nay.

Lần hồi về cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, cái thuở mà những nhà nho cựu học chưa quen với cảnh “vứt bút lông đi viết bút chì”. Ấy là lúc Nho học dùng Hán – Nôm với tân học dùng chữ quốc ngữ, chữ Pháp có sự va chạm mạnh mẽ. Còn nhớ như cụ đồ Chiểu, từng xem đây là thứ chữ của “Tây xâm”, bài bác kịch liệt lắm.

Ấy nhưng, dần dà qua thời gian, ngoài việc người Pháp đưa chữ quốc ngữ vào giảng dạy trong hệ thống trường học Việt, thì nhiều trí thức Tây học, nhận thấy sự thuận tiện của loại chữ ghi âm tiếng Việt theo mẫu tự Latinh này, vừa dễ đọc, dễ viết, dễ truyền tải văn hóa, không như chữ Hán, chỉ phổ biến trong giới nho học là đọc thông, viết thạo, còn bình dân thì đa phần một chữ bẻ đôi chưa tỏ. Riêng chữ quốc ngữ, chỉ dăm bữa nửa tháng là có thể tập đọc, tập viết được.

Nhận thấy đây là lợi khí to lớn, nhiều trí thức Tây học bấy giờ đã ra sức hô hào, vận động và đi tiên phong trong việc phổ biến học chữ quốc ngữ. Ta còn nhớ, Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 đã gây một hiệu ứng lớn cho dân Việt trong việc học thứ chữ này. Rồi những hoạt động của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Trương Minh Ký… trong địa hạt báo chí quốc ngữ đã có những tác dụng đầu tiên ở cuối thế kỷ 19. Sang đầu thế kỷ 20, góp vào tiếng nói ấy, chính là những hoạt động sôi nổi của “Tứ kiệt Hà thành” cho công cuộc dùng chữ quốc ngữ. Ở đây, ta bàn riêng về nhà văn hóa Phạm Quỳnh với chữ quốc ngữ mà thôi.

Sinh thời, họ Phạm có một câu nói rất nổi tiếng về chữ quốc ngữ, mà ngày nay, hậu thế vẫn còn ghi nhớ: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn”. Dẫu giỏi Pháp ngữ, rồi sau này bồi bổ cả vốn Hán ngữ, nhưng Phạm Quỳnh nhận thức rõ vai trò của Việt ngữ. Trong Nam Phong tạp chí số 122, tháng 10.1927, ở bài Bảo tồn Nam ngữ, ông chỉ rõ vai trò quan trọng của thứ tiếng mà ông gọi là Nam ngữ: “Muốn cho được tỉnh, muốn cho được khôn, thì chỉ có một không hai, là phải học chữ quốc ngữ, phải trau dồi tiếng quốc âm nước nhà, là phải học hành tra cứu cho cao thẳm thuần túy vậy”, hay trong bài Chữ Pháp có dùng làm quốc văn An Nam được không? đăng trên Nam Phong tạp chí số 22, tháng 4.1919, ông cho rằng Việt ngữ “đủ dùng cho người nước Nam, phàm cái trí người An Nam ta nghĩ được đến đâu, tiếng An Nam phải nói được đến đấy”. Quan điểm của Phạm Quỳnh là người Nam phải dùng Việt ngữ – Nam ngữ, tức là quốc ngữ bây giờ vậy.

Đề cao tầm quan trọng của Nam ngữ, cũng là thể hiện bản sắc, linh hồn, văn hóa dân tộc. Phạm Quỳnh mặc dù giỏi ngoại ngữ, nhưng ông không đề cao tuyệt đối Pháp ngữ hay Hán ngữ. Trong quan điểm của học giả họ Phạm, việc học ngoại ngữ cũng rất quan trọng, bởi “Học chữ ngoại quốc để bồi bổ cho chữ nước nhà” (bài Bảo tồn Nam ngữ) nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của ngoại ngữ. Tỉ như việc học Pháp ngữ, ông cho rằng đó là phương tiện để mình tiếp cận, thu thái văn minh phương Tây, nghĩ là lấy nó làm cầu nối để mình tiếp thu cái tiến bộ của nhân loại: “Chữ Pháp là văn tự hay, người mình nên học tập, nghiên cứu cho thâm để nhờ đó mà thâu nhập lấy những kết quả tốt cho văn minh đời nay”. Còn Hán ngữ, theo ông là để bảo tồn văn hóa cổ chứ không phải là dứt hẳn nó. Quan điểm của học giả họ Phạm, đến nay ta vẫn thấy còn giá trị khi dân Việt chỉ một bộ phận nhỏ hẹp biết tiếng Hán, nhiều di sản vật thể, phi vật thể có liên quan đến thứ chữ này dần lụi tàn theo thời gian.

Để chăm chút cho Nam ngữ lan tỏa nhiều hơn nữa trong dân Việt, Phạm Quỳnh liên tục viết bài phân tích điểm hay, cái lợi của việc học chữ quốc ngữ trên báo chí, đặc biệt là trên Nam Phong tạp chí. Bình sinh, ông đã thực hiện nhiều lần đăng đàn diễn thuyết về vấn đề học chữ quốc ngữ. Không chỉ dùng công cụ báo chí từ tờNam Phong tạp chí ông lập năm 1917 là vũ khí truyền thông tuyên truyền cho vai trò của Nam ngữ, mà trên tờ báo ấy, văn chương quốc ngữ, những bài luận, bài sử… bằng quốc ngữ đã góp phần làm nên tên tuổi của những Nguyễn Bá Trác, Phạm Duy Tốn, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Tương Phố…

Năm 1919, ông cùng nhiều nhà trí thức tham gia lập Hội Khai Trí Tiến Đức và là Tổng thư ký của Hội. Phạm Quỳnh chính là một trong mười người tham gia biên soạn cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc… toàn những tay “anh hùng hảo hán” trong lĩnh vực văn chương thuở ấy. Ông còn là Hội trưởng Hội Trí Tri với chủ trương hoạt động “tiên trí kỳ tri, trí tri, tại cách vật (trước hết để biết, biết tường tận là do biết nguyên lý sự vật).  Trong thời gian 1924 – 1932, theo Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội (từ thế kỷ XI đến giữa  thế kỷ XX) cho hay, Phạm Quỳnh còn trực tiếp tham gia giảng dạy về ngôn ngữ và văn chương Hán Việt tại Trường cao đẳng Hà Nội.

Hoạt động văn chương, báo chí, mà đặc biệt qua tờ Nam Phong tạp chí ông nắm, Phạm Quỳnh đã góp phần to lớn cho thứ chữ dân tộc, như trong Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 ghi: “tạp chí Nam Phong đã xây dựng nên một nền văn học căn bản và vững chắc cho văn chương chữ quốc ngữ”. Nhờ hoạt động cũng như uy tín bấy giờ của Phạm Quỳnh, ông đã góp thêm một tiếng nói trong công cuộc vận động đưa Việt ngữ thành quốc ngữ. Trong bài Khảo về chữ quốc ngữ của Nam Phong tạp chí số 122, tháng 10.1927, Phạm Quỳnh đã khẳng định một niềm tin, và lời ông vẫn còn giá trị cho đến hôm nay: “Tôi tin rằng hậu vận nước Nam hay hay là dở là ở chữ quốc ngữ, ở văn quốc ngữ”. Và năm 1945, khi nước Việt Nam mới ra đời, Việt ngữ chính thức trở thành chữ viết của dân tộc. Trước đó vào năm 1939, Hội Truyền bá học chữ quốc ngữ còn xuất bản một cuốn sách giúp dân Việt học Việt ngữ hết sức giản tiện mang tên Vần quốc ngữ dạy theo phương pháp mới do Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Hy Trác biên soạn, hết sức giản tiện, mà ta có thể ngâm nga qua mẹo học như:

i, t giống móc cả hai,

i ngắn thêm mũ, t dài có ngang.

Hay:

a, o hai chữ khác nhau,

vì a có cái móc câu bên mình…

Trần Đình Ba

Thím Ngân

 Thím Ngân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Hồi nẳm, không hiểu thi sĩ Bùi Giáng si mê kịch sĩ Kim Cương cái điểm nào; chớ còn bây giờ thì tui chết mê chết mệt chỉ vì nhan sắc khuynh thành của thím Nguyễn Thị Kim Ngân.

Chủ Tịch Quốc Hội ăn mặc cách chi tôi ngó cũng xinh, chụp hình kiểu nào tui coi cũng đặng. Ngay cả cái cách bà ấy đổ (mẹ) nguyên cả sô bắp xuống ao cá bác Hồ tui cũng thấy (sao) nhí nhảnh, ngây thơ và dễ thương hết sức!

Một phụ nữ xinh đẹp và khả ái quá cỡ như vậy, tất nhiên, không thể nào tránh được lòng ghen ghét hay đố kỵ của bàn dân thiên hạ. Chả trách thím Ngân bị nhiều người (trong cũng như ngoài nước) mắng nhiếc và xỉ vả không tiếc lời, dù hổng có làm điều chi sai trật cả.

Coi: Quốc Hội khoá XIV tiếp tục lùi luật biểu tình thì có gì bất ngờ hay mới lạ đâu nào? Cả chục khoá trước cũng đều “bàn lùi” hết trơn hết trọi mà.

Thím Ngân chỉ nói lên là một sự thật hiển nhiên, khi bầy tỏ quan ngại về tình trạng “rối loạn đất nước” thôi. Chớ hơn bẩy mươi năm qua, kể từ khi mà cách mạng cướp được quyền bính, có ngày nào mà xứ sở này được an bình đâu mà không lo “rối loạn” ?

Có xét nét lắm thì cũng chỉ nên phiền trách thím Ngân về một chuyện nhỏ thôi, nhỏ còn hơn con thỏ nữa, đó là việc Quốc Hội khoá XIV đã dùng phiên họp khai mạc để thảo luận về một dự luật mà tôi e là hoàn toàn không cần thiết – Luật Cảnh Vệ.

Dự thảo Luật gồm 5 chương, 29 điều. Xin trích dẫn vài khoản trong điều 10 để rộng đường dư luận:

 Đối với Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ áp dụng các biện pháp, chế độ cảnh vệ sau đây:

  1. a) Bảo vệ tiếp cận;
  2. b) Bố trí lực lượng Cảnh vệ vũ trang tuần tra, canh gác tại nơi ở, nơi làm việc;
  3. c) Kiểm tra an ninh, an toàn đồ dùng, vật phẩm, phương tiện đi lại, các tác nhân khác; kiểm nghiệm thức ăn, nước uống trước khi sử dụng;nắm tình hình, khảo sát xây dựng, triển khai phương án bảo vệ.

Thảo nào mà đã có lúc ông Tôn Đức Thắng la làng là trong nhà toàn là “lính kín” không hà:

“Một người bạn tôi quen thân với cụ, cha anh trước kia là đàn em cụ, kể rằng một hôm anh đến thăm cụ, vào thời gian nghị quyết 9, thì cụ dắt anh vào phòng riêng thì thào: ‘mày có thấy lính kín theo mầy tới đây không mầy?’ Anh ngạc nhiên quá. Tưởng anh lo lắng cho cụ, cụ mỉm cười hiền hậu:’Là tao lo cho tụi bây, chớ tao hổng lo cho tao .Trong nhà tao nè, lính kín không có thiếu.” (Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California: Văn Nghệ, 1997).

Bác Tôn (chắc) bị bệnh hoang tưởng? Đảng bố trí lực lượng cảnh vệ vũ trang tuần tra, canh gác tại nơi ở, nơi làm việc của lãnh tụ mà ổng lại tưởng “lính kín” đang rình rập nhà mình.  Tổng Bí Thư Đặng Xuân Khu cũng vậy, cũng đa nghi dữ lắm:

“Trường Chinh chết, Hồng Ngọc, vợ Hoàng Minh Chính và Hà, con gái cả đến nhà chia buồn. Hai mẹ con về, Đặng Xuân Kỳ tiễn. Kỳ vừa đi qua sân sỏi vừa nói: ông cụ tôi ngoài không dám ăn uống bất cứ thứ gì. Họp Bộ chính trị với Trung ương cũng uống nước của nhà mang theo và nếu không về nhà ăn trưa được thì ông cụ nhịn.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, tập II. Người Việt, Westminster, CA: 2014).

Cũng ở tác phẩm dẫn thượng, nơi trang 194, tác giả còn cho biết thêm là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng có thói quen “thì thào” với khách quen ở ngoài vườn vì ổng sợ trong nhà … có rệp!

Coi: Chủ Tịch Nước, Tổng Bí Thư, Thủ Tướng đều không dám ăn, cũng không dám nói, vì sợ bị đầu độc hay nghe lén. Nếu Dự Luật Cảnh Vệ có điều “ngăn cấm các đồng chí không được rình rập và hãm hại lẫn nhau” thì hay biết chừng nào. Hay nhất là qúi ông Dương Bạch MaiPhạm Quí NgọNguyễn Bá ThanhPhạm Duy Cường, Ngô Ngọc Tuấn … đã không uổng mạng!

Luật Cảnh Vệ chỉ chuyên chú vào việc bảo vệ các đồng chí lãnh đạo khỏi bị những thế lực thù địch ám sát thôi hà. Thiệt là suy bụng ta ra bụng người. Rảnh, xem qua vài đoạn trong cuốn hồi ký (Gió Mùa Đông Bắc) của bác sĩ Trần Ngươn Phiêu coi:

Lúc Pháp chưa trở lại chiếm Sài Gòn, ngày 09-09-1945 người của Trần Văn Giàu là Lý Huê Vinh thuộc Quốc gia Tự vệ Cuộc, đã bao vây trụ sở Việt Nam Độc lập Vận động Hội để bắt Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo, Huỳnh Phú Sổ ở biệt thự đường Miche (tức Đường Phùng Khắc Khoan). Ông Huỳnh Phú Sổ đã thoát, nhờ sang được một nhà bên cạnh.

 Quốc gia Tự vệ Cuộc với sự trợ giúp của Mai Văn Bộ, đã dàn cảnh để bêu xấu Ông Huỳnh Phú Sổ bằng cách ngụy tạo chưng bày một rương đầy hình ảnh phụ nữ khỏa thân mà họ phao vu là đã bắt gặp trong khi lục soát nhà.

Trong đêm 23 tháng 9 năm 1945, ngày lịch sử mở màn cuộc Kháng chiến Cách mạng Mùa Thu ở Nam bộ, người bị giết đầu tiên, thây phơi trên đường Albert 1er (Đường Đinh Tiên Hoàng) là ông Lê Văn Vững, bí thư vùng Sài Gòn-Chợ Lớn của nhóm Tranh Đấu và cũng là người phụ trách phát hành lại báo Tranh Đấu. Như vậy người Việt Nam đầu tiên đã bỏ mình trong cuộc Kháng chiến chống Pháp không do thực dân giết mà lại do Tự vệ Cuộc miền Nam thanh toán…

Vài ngày sau 23 tháng 09, 1945 nhà giáo Nguyễn Thi Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc, Chợ Lớn. Cuộc khủng bố trắng, săn bắt, ám sát các nhân sĩ  ái quốc có uy tín nhưng không thuộc Đảng Cộng sản từ đó đã xảy ra hằng ngày, bắt đầu từ Bùi Quang Chiêu đến Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Luật sư  Hồ Vĩnh Ký và vợ là Bác sĩ Nguyễn Thị Sương (nguyên Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong) v.v…

Đối với bọn tay sai Mỹ/Ngụy, bán nước cầu vinh thì Đảng còn mạnh tay hơn nữa. Báo Dân Việt, số ra hôm 30 tháng 4 năm 2011, có bài viết (“Tôi Ám Sát Người Sắp Làm Thủ Tướng Sài Gòn”) của chiến sĩ đặc công Vũ Quang Hùng. Xin trích dẫn đôi đoạn:

Trưa 10.11.1971. Một tiếng nổ long trời tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản khiến ông Nguyễn Văn Bông – Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, người chuẩn bị nắm chức thủ tướng (ngụy) chết tại chỗ…

Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam – Phó ban An ninh T4 (tức khu vực Sài Gòn-Gia Định): “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch.

Ảnh: Blog Sự Đời

Giáo sư Nguyễn Văn Bông không phải là người “trí thức có uy tín” đầu tiên, hay duy nhất, bị cách mạng … trừ khử bằng chất nổ và lựu đạn. Hai năm trước đó, G.S.  Lê Minh Trí cũng bị giết chết theo cùng một cách.

Bộ Trưởng Giáo Dục Lê Minh Trí bị ám sát năm 1969. Ảnh: Minh Đức

Cách ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông và Lê Minh Trí, tuy thế, “văn minh” hơn thấy rõ nếu so với kiểu “trừ khử” học giả Phạm Quỳnh – theo lời kể của ông Phạm Tuân:

Thầy tôi bị giết trước, bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc, sau đó còn bị bắn bồi thêm 3 phát đạn… Cụ Khôi cũng bị bắn 3 phát… ông Huân hoảng sợ, vùng chạy thì bị bắt lại và bị bắn một phát ngay vào đầu… Cả 3 thi hài bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất.”

Cuối bài tiểu luận (Những Cái Chết Tức Tưởi Của Nhà Văn, Chuyện Bây Giờ Mới Kể) nhà nghiên cứu văn học Thái Doãn Hiểu hạ bút:

“Những người bị giết đều là những tinh hoa, là  danh sĩ đạo cao đức trọng, yêu nước thương dân, có thành tựu văn hóa sáng giá cống hiến cho nền văn hiến nước nhà. Họ chết mỗi người mỗi cách đau xót và hàm oan: Nhà văn Lan Khai bị xô xuống vực, văn hào Ngô Tất Tố bị bức cho treo cổ tự vẫn, Khái Hưng bị bỏ rọ trắn sông, Phạm Quỳnh đối thủ  đáng gờm của thực dân Pháp bị xử tử, Tạ Thu Thâu nhà yêu nước lớn bị tử bắn; nàng thơ  nữ sĩ Thu Hồng bị bắn lén từ sau lưng; Nhượng Tống dịch giả tài hoa số 1 bị ám sát; Dương Quảng Hàm vị giáo sư đáng kính ra khỏi nhà đi  mãi không về; vị bồ tát Thiếu Chửu bị bức hại nhảy xuống sông tự tận…”

Tính gồm luôn mạng sống của những thường dân vô tội bị xử tử trong Cải Cách Ruộng Đất (ở miền Bắc) Chiến Cuộc Mậu (ở miền Trung) và vô số viên chức xã ấp bị lôi ra khỏi nhà bắn chết giữa đêm (ở miền Nam) thì con số nạn nhân của cách mạng dám lên tới hàng triệu mạng. Thay vì bàn thảo về Dự Luật Cảnh Vệ, nếu Quốc Hội khoá XIV khai mạc phiên họp đầu tiên bằng dự luật phục hồi danh dự cho những nạn nhân kể trên thì chắc chắn thím Ngân sẽ để lại một dấu ấn tốt đẹp hơn trong lòng người.

Nói qua nói lại gì chăng nữa thì chuyện cũng dĩ lỡ hết trơn rồi.  Chủ Tịch Quốc Hội cùng các bạn đồng viện, nói nào ngay, cũng đã làm việc hết sức mình theo cái tâm và cái tầm của họ.

Chúng ta không nên khắt khe và kỳ vọng nhiều quá vào một cơ quan lập pháp mà nhà nước hiện hành chỉ đặt ra để làm kiểng, ngó cho nó đẹp mắt thôi. Mà đã nói đến cái đẹp thì nhan sắc của phụ nữa là điều rất đáng quan tâm, mọi thứ khác đều là chuyện nhỏ và là đồ bỏ!

Học tiếng Hán làm gì? Chủ yếu là … mất công?

Học tiếng Hán làm gì? Chủ yếu là … mất công?

Jonathan London

5-9-2016

** Học tiếng Hán làm gì? Chủ yếu là … mất công? **

Về tranh cãi ‘học tiếng Hán làm gì?’ Được biết người Việt trong nước đang cãi nhau về chữ Hán (Old Chinese Script) hơn là tiếng Trung (Modern Chinese language, Mandarin) – Song, xin góp ý ngắn gọn về vấn đề dạy học cả về tiếng Hán lẫn tiếng Trung:

Việt Nam không nên mất quá nhiều thời gian và quá nhiều công sức trong việc học cả tiếng Hán lẫn tiếng Trung.

Việc học tiếng Trung/Hán chỉ cần thiết cho những người cần…. v.d. cho những người đang hay có ý định sống ở Hoa Lục, hoặc có việc với Trung Quốc, có quan tâm sâu sắc đến lịch sử của đất nước và nhất là sự phát triển của Tiếng việt, những người buôn bán, những mục đích bảo vệ đất nước, bãi biển Đà Nẵng của Việt Nam v.v… Còn đối với những người khác, hỏi học tiếng Hán để làm gì là đúng. Học tiếng Trung làm gì, là hai câu hỏi sâu sắc.

Mặt khác, có khá nhiều lý do để không học. Trong đó, đối với tôi lý do lớn nhất và đúng nhất đó là mất công! Nghe có vẻ hoặc thực chất là quá đáng, có lẽ không nên nói thế. Xin giải thích thế này:

Khi còn đang sống ở HK cả hai nhóc trong nhà (8 tuổi và 6 tuổi) đều ‘được’ hoặc buộc phải học tiếng Trung phổ thông (TTPT – tức Mandarin) ít nhất năm tiết trong tuần. Thực ra, nếu chúng học tiếng Quảng Đông tôi sẽ yên tâm hơn vì lúc đó chúng tôi đang sống ở HK.

Mặc dù hai con của tôi học rất giỏi, đặc biệt là đứa lớn, nhưng không vì thế mà tôi buồn, còn bây giờ thì tôi rất vui vì chúng sẽ không phải học tiếng TTPT nữa.

Vì sao? Vì theo tôi, học tiếng Trung/Hán là vô cùng không hiệu quả (cả về thời gian lẫn về sự phát triển con người) … Tuy là một ngôn ngữ dù giàu truyền thống đi nữa nhưng phải nói là vô cùng mất công.

Trẻ em Việt Nam vốn đã phải mang gánh nặng lớn bởi nền giáo dục phổ thông/thêm của mình, vì vậy, thực sự là nên tập trung vào việc giáo dục trẻ em tốt đã. Nếu có vài phần trăm học sinh (hoặc có cha mẹ) muốn học tiếng Tầu thì ok.

Ở các nước nói tiếng Trung, nhất là Hoa Lục và Hồng Kông, trẻ em phải dành quá nhiều thời gian để thuộc lòng vô số chữ của một hệ thống viết vô cùng phi logic. Cách học duy nhất là học thuộc lòng.

Ừ thì biết rằng tiếng Nhật cũng khó ở chỗ đó. Ừ thì biết rằng tiếng Hán có một vị trí cốt yếu trong lịch sử ngôn ngữ học của Việt Nam.

Nhưng tôi đã thấy trực tiếp số phận của bao nhiêu trẻ em ở HK không có thời gian để nghỉ ngơi và để phát triển một cách bình thường. Con tôi có mấy bạn cuối tuần chả đi đâu cả, chỉ học chữ mà thôi. Buồn!

Ở Đông Á, hai nước Triều Tiên và Việt Nam khá là may mắn khi đã thoát khỏi hệ thống ngôn ngữ lỗi thời của Hoa Lục.

Như ta biết, Hangul của Hàn Quốc mới phát triển từ thế kỷ 16 và theo hệ thống alphabet chứ không phải là một writing system based on characters (chữ viết dựa trên ký tự). Dù ngữ pháp của tiếng Hàn không dễ nhưng ít nhất hệ thống viết cực kỳ đơn giản, dễ học. Ta có thấy một tỷ lệ lớn người Hàn Quốc học tiếng Hán không? Không.

Cụ thể, tôi đề nghị như thế này: Đừng buộc trẻ em Việt Nam học tiếng Trung hay tiếng Hán. Nếu chúng muốn học thì sẽ tạo điều kiện. Về việc làm sao dạy trong trường cấp III hay cấp II thì tôi không nói. Chỉ xin đề nghị rằng không hề có bất cứ lý do tốt nào để bắt buộc một tỷ lệ lớn trẻ em Việt Nam học tiếng Trung/Hán cả.

Nếu không đồng ý với ý kiến của mình thì o.k. Nếu dạy hay là chuyên gia về tiếng Trung/Hán thì xin đừng hiểu ý sai. Nếu đang ăn lương của Học Viện Không Tử hay có âm mưu thì tôi cũng hiểu.

Cũng sẵn sàng thừa nhận quan điểm của mình về vấn đề này là hơi quá … (ngay trong gia đình của tôi có một trong những học giả hàng đầu trên thế giới về vấn đề dạy tiếng Trung mà… )

Chỉ muốn trẻ em Việt Nam lớn lên một cách vui vẻ. Để bay và không bị bắt.

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh lễ phong thánh Mẹ Têrêsa

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh lễ phong thánh Mẹ Têrêsa

Ngày đăng: 04/09/2016

Dongten.net

VATICAN. Hàng ngàn khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới đã tề tựu về Quảng Trường Thánh Phêrô trong buổi lễ tôn phong hiển thánh cho mẹ Têrêsa Calcutta. Thánh lễ do Đức Thánh Cha Phanxicô chủ tế lúc 10h30 giờ địa phương, tức 15h30 giờ Việt Nam.

Thánh lễ được mở đầu với Ca nhập lễ Năm Thánh Lòng Thương Xót, tiếp đó là lời khẩn cầu của Đức Hồng Y Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, xin Đức Thánh Cha ghi tên mẹ Têrêsa vào Sổ Bộ các thánh. Tiếp đó là Kinh Cầu Các Thánh và nghi thức phong thánh cho mẹ Têrêsa.

Thánh lễ được tiếp tục với Kinh Vinh Danh. Các bài đọc theo lịch phụng vụ của Giáo hội, Chúa Nhật 23 Thường Niên. Bài đọc một trích Sách Khôn Ngoan, bài đọc hai trích Thư của Thánh Phaolo Tông đồ gởi Phi-lê-môn. Sau khi bài Tin Mừng theo thánh Luca, được thầy phó tế công bố bằng hai thứ tiếng, Latinh và Hy lạp; Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng:

“Nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa?” (Kn 9, 13). Lời chất vấn này trong Sách Khôn Ngoan, chúng ta đã nghe ở bài đọc một. Bài đọc một trình bày cuộc sống con người như là một mầu nhiệm và chìa khóa để giải thích mầu nhiệm ấy không thuộc quyền sở hữu của ta. Luôn có hai nhân vật chính trong suốt chiều dài lịch sử: Thiên Chúa và con người. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa và thi hành thánh ý của Người. Nhưng để thực thi thánh ý mà không có nghi ngại chần chừ, chúng ta phải tự hỏi chính mình: đâu là ý muốn của Thiên Chúa trong cuộc đời tôi?

Cũng trong Sách Khôn Ngoan, chúng ta tìm thấy câu trả lời: “Con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài” (Câu 18). Để xác tín vào lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta phải tự tra vấn chính mình và biết điều gì làm đẹp lòng Chúa. Rất nhiều lần, các tiên tri đã loan báo những điều đẹp lòng Thiên Chúa. Thông điệp được loan báo ấy là một tổng hợp tuyệt vời được gói trọn trong lời diễn tả sau đây: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Hs 6, 16; Mt 9,13). Thật vậy, mỗi công việc bác ái đều làm vui lòng Thiên Chúa, vì nơi người anh em mà chúng ta giúp đỡ, ta nhận thấy gương mặt của Thiên Chúa, Đấng chưa có ai thấy được bao giờ (Ga 1, 18). Mỗi lần cúi mình xuống trước nhu cầu hay sự cần kíp của anh em là chúng ta đã cho chính Đức Giêsu được ăn, được uống; là chúng ta đã cho mặc, đã giúp đỡ và thăm viếng chính Con Thiên Chúa (Mt 25,40). Tắt một lời, chúng ta đã tiếp chạm vào da thịt của chính Đức Kitô.

Chúng ta được mời gọi để diễn tả ra bằng những hành động cụ thể những gì chúng ta đã nài xin trong cầu nguyện cũng như khi chúng ta tuyên xưng đức tin. Không gì có thể thay thế cho lòng bác ái: ai dấn thân phục vụ tha nhân, ngay cả những người không quen biết, chính là những người được Chúa yêu thương (Ga  3, 16-18; Gc 2, 14-18). Tuy nhiên, đời sống Kitô không đơn giản chỉ là giúp đỡ những ai đang thiếu thốn. Giúp đỡ người khác chắc chắn là một sự diễn tả dễ thương của tình đoàn kết nhân loại, tạo nên ích lợi ngay lập tức. Nhưng nếu chỉ như thế, việc giúp đỡ sẽ trở nên nghèo nàn, khô cằn vì thiếu nền tảng. Thế nên, nhiệm vụ mà Thiên Chúa trao cho chúng ta là một lời mời gọi đến với lòng bác ái. Trong tình bác ái, mỗi môn đệ của Đức Kitô đặt trọn cả đời sống của mình vào việc phục vụ ngõ hầu được triển nở mỗi ngày trong tình yêu mến.

Chúng ta đã nghe Tin Mừng thuật lại: “Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu” (Lc 14, 25). Ngày hôm nay, “đám người rất đông” ấy chính là một số lượng đông đảo các thiện nguyện viên, những người quy tụ nhau nơi đây trong dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Anh chị em chính là đám đông ấy, đang bước theo Vị Thầy Chí Thánh và hiện thực hóa tình yêu cụ thể của Thầy cho mọi người. Tôi muốn nhắc lại với anh chị em những lời của Thánh Phaolô Tông Đồ: “Tôi rất vui mừng và lấy làm an ủi khi thấy đức bác ái của anh, bởi vì anh đã làm cho lòng trí các người trong dân thánh được phấn khởi” (Plm 7). Bao nhiêu tâm hồn đã được các thiện nguyện viên an ủi! Bao nhiêu bàn tay đưa ra đã được họ nắm lấy đỡ nâng; bao nhiêu giọt nước mắt đã được họ lau khô; bao nhiêu tình yêu mến đã được ủ ấp trong những việc phục vụ hết sức thầm lặng, khiêm nhường và vô vị lợi! Việc phục vụ cao cả ấy là tiếng nói của đức tin và là sự diễn tả lòng thương xót Thiên Chúa Cha, Đấng luôn gần gũi những ai đang thiếu thốn.

Bước theo Giêsu là một việc hết sức nghiêm túc và đồng thời cũng rất vui tươi; đòi hỏi chiều sâu và lòng can đảm để nhận thấy Vị Thầy Chí Thánh nơi những người nghèo khổ nhất và bắt tay vào việc phục vụ họ. Chính vì điều này, các thiện nguyện viên sẵn sàng phục vụ những người rốt hết và những ai đang thiếu thốt nhất vì tình yêu của Đức Giêsu. Họ không mong chờ những lời cám ơn hay phần thưởng đáp đền. Họ sẵn sàng từ bỏ tất cả vì họ đã khám phá ra tình yêu đích thực. Giống như Thiên Chúa đã bước đến gặp gặp gỡ tôi, đã cúi xuống bên tôi trong những lúc tôi khó khăn thiếu thốn; thì chính tôi cũng phải bước đến gặp Ngài và cúi xuống bên những ai đang mất niềm tin tưởng hay đang sống như thể Thiên Chúa không tồn tại. Tôi phải cúi xuống bên những bạn trẻ không tìm thấy lý tưởng hay giá trị của cuộc sống; cúi xuống bên những gia đình đang gặp khủng hoảng, bên những người bệnh tật và những ai trong cảnh tù đày; cúi xuống bên những người di cư, tị nạn, bên những ai yếu đuối và không được bảo vệ chở che cả về tinh thần lẫn thể xác; cúi xuống bên những trẻ em bị bỏ rơi, bên những người già bị lãng quên trong cô độc. Khắp mọi nơi đều có những bàn tay chìa ra kêu xin sự giúp đỡ để họ được đứng thẳng trên đôi chân của mình. Chính vì thế, sự hiện hữu của chúng ta và sự hiện hữu của Giáo hội phải là sự hiện hữu để duy trì và trao ban niềm hy vọng cho mọi người. Và điều này gợi nhớ lại cách sống động chính bàn tay đỡ nâng của Thiên Chúa trên cuộc đời tôi khi tôi té ngã.

Mẹ Têrêsa, trong suốt cuộc đời, đã là thừa tác viên phân phát quảng đại lòng thương xót của Thiên Chúa. Mẹ luôn sẵn sàng với tất cả mọi người ngang qua việc đón tiếp và bảo vệ sự sống con người, từ những trẻ em không được sinh ra tới những người bị bỏ rơi và loại trừ. Mẹ đã dấn thân trong việc bảo vệ sự sống và không ngừng tuyên bố rằng “những trẻ em chưa được sinh ra chính là những người yếu ớt, mong manh nhất, nhỏ bé nhất và nghèo túng nhất”. Mẹ đã cúi xuống bên những người kiệt sức, bị bỏ mặc chết bên vệ đường. Mẹ nhận ra phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã trao ban cho họ. Mẹ tha thiết nói với những người cầm quyền trên thế giới để họ có thể nhận ra tội lỗi của mình trước những tội ác của nghèo đói do chính họ gây ra. Đối với mẹ, lòng thương xót là “muối” khiến cho mỗi việc mẹ làm thêm đậm đà hương vị, và là “ánh sáng” chiếu soi những nơi tối tăm trong cuộc đời của những ai không còn nước mắt nữa mà khóc thương cho sự nghèo nàn và đau khổ.

Sứ mạng của mẹ là ở những vùng ngoại biên của các thành phố và điều ấy vẫn tồn tại trong thời đại chúng ta hôm nay như một chứng tích hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa đối với những ai nghèo khổ nhất. Hôm nay tôi gửi gắm hình ảnh đầy biểu trưng này về người phụ nữ và về đời sống hánh hiến cho toàn thể những thiện nguyện viên trên khắp thế giới: Mẹ là gương mẫu của anh chị em về sự thánh thiện! Tôi nghĩ rằng có lẽ chúng ta cảm thấy không quen khi gọi mẹ là thánh Têrêsa. Bởi vì, sự thánh thiện của mẹ quá gần gũi với chúng ta nên chúng ta vẫn muốn gọi mẹ là mẹ Têrêsa hơn.

Người lao công không biết mệt mỏi này của lòng thương xót giúp chúng ta ngày càng hiểu hơn rằng tiêu chuẩn hành động duy nhất đó là tình yêu nhưng không, thoát khỏi mọi ý thức hệ và mọi ràng buộc. Tình yêu ấy được thông truyền đến tất cả mọi người mà không hề có sự phân biệt nào về ngôn ngữ, văn hóa, chủng tộc hay tôn giáo. Mẹ Têrêsa thích nói rằng: “Có lẽ tôi không nói ngôn ngữ của họ, nhưng tôi có thể cười.” Chúng ta hãy ôm ấp vào trái tim nụ cười của mẹ và chúng ta hãy trao nụ cười ấy cho tất cả những ai chúng ta gặp gỡ trong suốt hành trình đời ta, đặc biệt là những người đang sầu khổ. Bằng cách đó, chúng ta sẽ mở rộng chân trời của niềm vui và hy vọng cho tất cả những ai đang chán nản, đang cần sự thấu hiểu và cảm thông.”

Chuyển dịch từ Ý ngữ: Vũ Đức Anh Phương SJ

Ngày Độc lập, dân Việt vẫn mơ độc lập

Ngày Độc lập, dân Việt vẫn mơ độc lập

VOA

Trà Mi

3-9-2016

Lễ diễu binh, diễu hành mừng 70 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 ở Hà Nội, 2/9/2015. Ảnh: AP

Việt Nam hôm nay kỷ niệm 71 năm Ngày Quốc khánh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Truyền thông nhà nước đăng bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân Lễ Độc lập năm nay kêu gọi phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước yêu cầu mới.

Ông Quang nói sức mạnh của đảng nằm ở mối quan hệ gắn bó với nhân dân. Ông thúc giục “mọi chủ trương, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước phải hợp với lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của người dân” và, vẫn theo lời ông, phải “đi vào cuộc sống.”

Phát biểu được đưa ra trong lúc ngày càng xuất hiện nhiều chỉ trích và kêu gọi nhà cầm quyền lắng nghe tiếng nói và nguyện vọng của người dân để thực hiện những cải cách sâu rộng, cụ thể về nhiều mặt từ kinh tế, chính trị, đến đời sống xã hội và chính sách bảo vệ chủ quyền giữa những vấn nạn về tham nhũng, tai tiếng về nhân quyền của Việt Nam và mối đe dọa từ Trung Quốc.

Anh Nguyễn Đình Hà, một nhà hoạt động trẻ tại Hà Nội, chia sẻ cảm xúc nhân ngày Quốc khánh năm nay:

“Trong tiêu đề của Việt Nam rằng ‘Độc lập-Tự do-Hạnh phúc’, cả ba điều đó tại Việt Nam hiện nay gần như không đạt được điều nào cả. Quyền tự do của công dân thì bị xâm phạm. Độc lập của đất nước thì không thật sự toàn vẹn vì lãnh thổ bị xâm chiếm, kinh tế bị lệ thuộc nước ngoài. Còn về hạnh phúc thì đời sống người dân cơ cực-đau khổ, đặc biệt là người dân ở các tỉnh miền Trung hiện nay do thảm họa môi trường. Đời sống dân hết sức khó khăn mà chính quyền không có sự quan tâm đúng mức, cần thiết.”

Từ Sài Gòn, nhà thơ Đỗ Trung Quân, một trí thức trong giới văn nghệ sĩ được nhiều người biết đến, nói Lễ Độc lập đối với phần lớn dân chúng nhìn chung chỉ là một ngày nghỉ, không mấy ai háo hức chờ đón trong ý nghĩa thiêng liêng của nó:

“Đối với tôi, ngày hôm nay như là một ngày bình thường. Chính quyền vẫn làm những buổi kỷ niệm tưng bừng. Còn người dân đa phần coi đây là một ngày được nghỉ để đi du lịch, thư giãn, giải trí. Trong tình hình đất nước như thế này, với bao nhiêu biến cố từ biển đảo cho đến vấn đề Formosa thì tinh thần người dân bị tổn thương, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng. Lễ lạc phải đi kèm với một cuộc sống sung túc thì người ta mới đón nhận được. Còn bây giờ, trong hoàn cảnh này, người dân Hà Tĩnh vẫn xuống đường và họ vẫn bị đàn áp. Như thế, rất khó có một tâm trạng ‘vui chung’. Các vấn nạn xảy ra cho xã hội như thế, người dân không hoàn toàn tập trung vào lễ lạc được.”

Trong cảm xúc chia sẻ trên Facebook, anh Paulus Lê Sơn, một nhà hoạt động trẻ ở Nghệ An, viết rằng:

“Độc lập ơi độc lập,
Sao tên người cứ mãi xa xôi
Dân nước Nam bao giờ mới thấy
Dân chủ tự do như mấy anh Tây.”

Và anh kết thúc bài viết của mình với dòng thơ: “Ngày độc lập sao ta vẫn mơ độc lập?”

Nhà thơ Đỗ Trung Quân chia sẻ với hoài bão này:

“Đó không phải là tâm trạng của một tác giả đâu. Tôi cũng mơ như thế đấy. Tôi mơ một cái độc lập thật sự, chúng ta có một chủ quyền thật sự. Chiến tranh đã quá lâu rồi, lệ thuộc quá nhiều rồi.”

Người bạn trẻ tên Hà ở Hà Nội tiếp lời:

“Em mong muốn trong tương lai, đất nước mình được thật sự dân chủ, phát triển; người dân được thật sự độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không chỉ là những khẩu hiệu. Mọi mặt ở đây đều gắn liền với vấn đề chính trị. Phải dựa trên cải cách về chính trị. Chính quyền phải tôn trọng quyền tự do-dân chủ của người dân. Nền kinh tế phải được là kinh tế thị trường không có sự định hướng xã hội chủ nghĩa gì cả vì hiện nay nền kinh tế Việt Nam bị rối loạn bởi sự định hướng rất sai trái và quản lý không hiệu quả. Về mặt xã hội thì bị băng hoại bởi thực trạng giáo dục. Đạo bây giờ còn bị suy thoái. Em mong muốn những khẩu hiệu [độc lập-tự do-hạnh phúc] đó phải được thực hiện dựa trên những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội.”

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 nhấn mạnh đến một nước Việt Nam “độc lập-tự do-hạnh phúc”, sáu chữ vàng mở đầu các văn bản hành chánh chính thống và là tôn chỉ trong các khẩu hiệu tuyên truyền của đảng Cộng sản cầm quyền.

Sở Thái Bình không khuyến khích nông dân tự sản xuất điện, Nhật Bản nhanh tay hốt ngay hàng nóng!

Sở Thái Bình không khuyến khích nông dân tự sản xuất điện, Nhật Bản nhanh tay hốt ngay hàng nóng!

Chủ nhân chiếc lò đốt triệt để rác thải và tạo ra điện năng cho biết đã dỡ bỏ chiếc lò chỉ vì bị Sở KHCN Thái Bình cấm chế tạo.Ngay lập tức, các chuyên gia Nhật Bản đánh hơi được mùicông nghệ và nhảy vào đề nghị hợp tác. Chuyên gia Nhật cho biết nếu ông Bùi Khắc Kiên không được khuyến khích sáng chế tại Việt Nam, họ sẵn sàng mời ông sang Nhật Bản làm việc.
Bảo làm sao công nghệ của Việt Nam cứ mãi ì ạch.

Sở Thái Bình không khuyến khích nông dân tự sản xuất điện, Nhật Bản nhanh tay hốt ngay hàng nóng!

Sở Thái Bình không khuyến khích nông dân tự sản xuất điện, Nhật Bản nhanh tay hốt ngay hàng nóng!

 

Với sáng chế lò đốt có khả năng đốt triệt để rác thải ở nhiệt độ cao và dùng nhiệt năng để phát điện, đã có công ty của Nhật quan tâm.’ name=’description

Khi được hỏi về cách làm khoa học của người Nhật Bản, ông Nakayama cho biết: “Tại Nhật Bản, không chỉ có các chương trình hỗ trợ các nhà khoa học nghiên cứu mà có rất nhiều chương trình, cuộc thi nhằm khuyến khích sự sáng tạo của nhân dân. Mỗi sáng chế của người dân đều được một hội đồng có trách nhiệm thẩm tra tính ứng dụng và tạo điều kiện tốt nhất để họ tiếp tục phát huy sáng tạo của mình.”

Có thể thấy rằng, để có một nền khoa học phát triển như hiện nay, người Nhật Bản đã có cách làm rất khác với Việt Nam. Bởi để giúp được ông Bùi Khắc Kiên đi đăng ký bản quyền, đoàn công tác của Bộ Khoa học Công nghệ cũng phải năm lần bảy lượt tới địa phương để tìm hiểu, trong khi Sở KHCN Thái Bình đã nhanh chóng cấm đoán người dân sáng chế mà không tìm hiểu cái hay, cái dở của họ, tính ứng dụng ra sao.
Khi được hỏi về cách làm khoa học của người Nhật Bản, ông Nakayama cho biết: “Tại Nhật Bản, không chỉ có các chương trình hỗ trợ các nhà khoa học nghiên cứu mà có rất nhiều chương trình, cuộc thi nhằm khuyến khích sự sáng tạo của nhân dân. Mỗi sáng chế của người dân đều được một hội đồng có trách nhiệm thẩm tra tính ứng dụng và tạo điều kiện tốt nhất để họ tiếp tục phát huy sáng tạo của mình.”

Xem thêm: 

Thảm cảnh lò đốt rác phát điện: Người Nhật thấy “ngọc”