BÁC BA PHI TỨC KHÍ

Suong Khoimay shared a post.
Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor

Từ Kế Tường

TỪ KẾ TƯỜNG

BÁC BA PHI TỨC KHÍ

Bá Ba Phi ngủm củ tỏi lâu rồi. Lẽ ra Bác Ba đã yên giấc nghìn thu, ngậm cười nơi chín suối nhưng vì nghe trên trần thế đám quan chức ăn nói tào lao bát xế quá. Nào là thu phí hô thu giá, kẹt xe thì kêu ùn ứ, mưa ngập đường thì cải tiến chữ nghĩa bảo là tụ nước. Lại có ông đại biểu không biết ăn trúng hóa chất gì mà ong óng hô mấy bà bán trà đá, vé số có thu nhập khủng, chỉ số lợi nhuận cao ngất mây xanh từ 5.000% đến 7.000%, thế mà không đóng đồng thuế nào vào ngân sách, chỉ góp phất phơ ở địa phương. Đại ý ông đại biểu này so bì, nói mấy bà bán trà đá, bán vé số có thu nhập khủng mà không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là rất bất công.

Bá Ba Phi nghe nói vậy tức hơn bò đá, đang nằm thẳng cẳng dưới ba thước đất ở rừng U Minh bỗng đội mồ sống dậy, cưỡi con rùa vàng hồi vụ cháy rừng năm nẵm nhờ Bác Ba Phi quăng dây thừng vô đám cháy rừng, con rùa này ngậm được đầu sợi dây thừng, được Bá Ba kéo thoát ra ngoài. Cảm ơn cứu mạng, con rùa vàng bị cháy một góc cái “mu” tự nguyện làm vật cưỡi cho Bác Ba Phi đi bất cứ đâu. Do vậy hôm nay Bác Ba Phi cưỡi rùa cháy mu lên gặp Từ Kế Tường chửi cho hả cục tức.

-Mẹ nó, tao ngủ giấc ngàn thu mà cũng không yên. Dốt thì chịu dốt, bày đặt dốt mà hay nói chữ, thu phí thì nói thu phí, nói thu giá đến Diêm Vương cũng không hiểu. Còn ngập thì nói mẹ nó là ngập, mắc gì tìm từ thay thế mà nói là tụ nước. Tụ cái…cái…cái…con…con…do tức quá Bác Ba Phi cà lăm luôn.

Từ Kế Tường liền dúi cho Bá Ba Phi ly cà phê pin, đặc sản của đất Sè Gềnh để Bá Ba uống hạ hỏa. Uống xong Bác Ba trợn mắt:

-Mẹ nó, còn kẹt xe thì nói thẳng là kẹt xe, ùn ứ là cái quái gì. Rồi mấy bà bán trà đá, vé số là những người bần hàn, cơ cực, sống dưới đáy xã hội bán mấy ly trà đá, mấy tờ vé số độ nhựt mà hô có thu nhập khủng, chỉ số lợi nhuận kinh doanh cao ngất ngưởng mà không đóng đồng xu thuế nào. Mẹ nó, ngu cũng vừa thôi. Cho cha nội đại biểu nói như người cõi trên này về vườn đi bán trà đá, vé số coi thu nhập khủng đến cỡ nào.

Từ Kế Tường cười hì hì:

-Bá Ba bớt giận, nuốt cục tức xuống kẻo tắt thở chết thêm lần nữa. Quan chức bây giờ ghê lắm, toàn tiến sĩ này, tiến sĩ kia nên ăn nói vung tí mẹt mà tưởng mình thông thái.

Bá Ba Phi chu miệng phun cái phẹt:
-Mẹ nó, xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ. Thôi tao cưỡi rùa dìa U Minh đây, thử qua mấy cái trạm BOT coi nó thu phí hay thu giá con rùa của tao để tao tính.

NIỀM TIN vs QUỐC TỊCH

Trần Bang shared a post.

Bỏ nước chạy đi trước

Image may contain: 1 person, smiling, text

Lê Ngọc Thanh

NIỀM TIN vs QUỐC TỊCH 

[Vũ Xuân Tráng]

Chồng chị là đảng viên. Chị cũng đảng viên, cả hai đều là đảng viên thứ gộc. Họ làm ăn rất tài và phất rất nhanh. Hết mua bán đất đến mua bán nhà, rồi mua bán chung cư, rồi đến chơi chứng khoán. Đầu tư quả nào trúng ngay quả đó.

Một hôm, chị nói với tôi rằng, “Chị vừa mua thêm căn hộ ở Singapore, em ạ.” Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chị nói như thế. Trước đây, tôi có nghe kể rằng chị đã mua một ngôi nhà ở Australia và một ngôi nhà nữa ở Mỹ, bang Cali hẳn hoi. Nghĩa là cho con đi du học ở xứ nào thì chị mua nhà cho chúng ở xứ đó. Trước để khỏi phải tốn tiền thuê nhà, khi học xong thì cũng vừa trả xong tiền nợ, và giá trị căn nhà cũng tăng đủ để sinh lời. Tuy vậy, tôi hỏi thêm cho rõ, “Nhưng chị đã có nhà ở Úc và ở Mỹ rồi thì mua thêm ở Sing làm gì?”

Chị bình thản chia xẻ thật với tôi, “Chị đầu tư mà em. Vả lại vốn vay tại Singapore cực rẻ. Chị sẽ chuyển toàn bộ tài sản ra nước ngoài luôn. Cái quy chế có chừng nửa triệu đô thì được nhập tịch ở Canada rất thoáng, nhà chị đang lo. Như thế sẽ an toàn hơn. Ở mình, giờ nhìn đâu cũng thấy bóng dáng thần chết. Từ thực phẩm cho đến xe cộ, sơ sảy chút là không toàn mạng. Thậm chí, tháng nào bọn chị cũng bay qua Singapore mua thực phẩm rồi đem về Hà Nội sử dụng dần dần. Mấy cái siêu thị ở đây cũng không thể tin được. Làm sao mà biết chắc rằng chúng không bán hàng đểu cho mình. Ăn bậy vào nếu không ngộ độc thì cũng ung thư.”

Chị lại khuyên, “Mấy đứa nhỏ ở nhà ráng lo cho chúng đi du học hết đi. Ngày xưa thì hết tị nạn chính trị đến tị nạn kinh tế, còn bây giờ thì phải kể thêm tị nạn giáo dục nữa. Mà thật ra thì thời buổi này, ở cái đất nước này, mọi chuyện đều phải tính hết, không thể ù lì chờ nước tới chân mới nhảy. Em cố gắng mà chạy cho được thêm cái quốc tịch. Dù sao có hai cái quốc tịch vẫn hơn… Lỡ có chuyện gì… thì… bay hơn một tiếng đã đến Singapore.”

Trời ơi, cỡ làng nhàng dân ngu khu đen như tôi thì làm sao mà… chạy thêm cái quốc tịch? Quốc tịch chứ có phải là mớ rau ế mua ở chợ chiều đâu mà dễ chạy vậy ta? Làm sao mà sống tiếp đây? Chẳng lẽ, cái xứ này đến hồi vận mạt rồi sao?

Tôi tình thật hỏi tiếp luôn, “Vậy anh chị nghĩ sao về cái vụ đảng viên của mình chứ? Đảng viên mà còn tính như thế thì dân đen như em phải làm sao? Niềm tin đặt vào chỗ nào đây?”

Chị đáp, “Chị có còn sinh hoạt đảng gì nữa đâu, có cái thẻ thì giữ cho có để khỏi bị chúng hà hiếp. Ngó tới thêm nhục! Còn ông ấy thì phải giữ vì còn phải làm việc trong bộ. Rồi cũng tới lúc phải vất thôi. Chị còn nghe thằng bé nhà chị ở Mỹ nó nói là, ở nước ngoài các chính phủ họ căng với đảng viên lắm. Thậm chí khi thi quốc tịch ở Mỹ nó còn hỏi người ta khai ra có phải là đảng viên phát xít và cộng sản hay không, nếu có là phăng teo luôn.”

Tôi thầm nghĩ, trời ơi, làm sao mà sống tiếp đây? Các đại gia, các nhà tư sản đỏ mới có điều kiện để trở thành người tiêu dùng thông thái, nhà đầu tư thông minh như thế. Ai ai cũng thủ thế và chuẩn bị bài chuồn để bảo toàn mạng sống và của cải. Thường thường bậc trung như mình, nghĩ thì cũng nghĩ tới đấy nhưng chẳng thể làm được. Thôi thì có chết thì chết chung với nhau, chết chùm cả nước, chứ có riêng gì mình. Lỡ có chuyện gì thì làm ơn… lỡ sớm sớm giùm một chút.

Nguồn ảnh: Internet, chỉ để minh họa  

LẦN CUỐI VỀ “THU GIÁ”

Image may contain: night, sky, car and outdoor
Image may contain: 1 person

Chú TễuFollow

BÀI VIẾT HAY NHẤT VỀ “THU GIÁ” LÀ BÀI CỦA NHÀ BÁO TRẦN ĐĂNG TUẤN

LẦN CUỐI VỀ “THU GIÁ”

Tác giả: Trần Đăng Tuấn

1- “Thu giá” là sự ngu độn về ngôn ngữ. Nhưng đây chẳng phải sự ngu độn thật thà. Ngu cái này nhưng cáo già trong cái khác. Bởi vì:

2- ‘Thu giá” là sự trí trá về lập luận. Đường BOT không phải là “sản phẩm của doanh nghiệp”. Nếu doanh nghiệp mua quyền sử dụng đất, làm đường riêng không dính gì vào các tuyến đường của nhà nước, thì đó mới là sản phẩm doanh nghiệp, họ định giá vé thế nào, có ai đi là việc của họ. Còn BOT là sản phẩm của hợp tác công tư. Doanh nghiệp làm đường trên đất nhà nước cho, cải tạo đường vốn có của xã hội, được khai thác trong thời hạn nhất định để hoàn vốn và có lãi trong khuôn khổ được định ra qua phương án tài chính. Hiện nay đa số các dự án đó ký với nhà nước là hợp đồng “mở”. Nghĩa là thời gian họ được thu tiền căn cứ vào lưu lượng xe đi qua và mức phí xe đi qua phải trả. Cho nên họ mới được kêu ca là thu thấp thì phải thu lâu hơn. Bây giờ nói là sản phẩm của họ tức là phủi cái phần của dân của nước trong BOT đó.Thử hỏi nếu nó là sản phẩm của doanh nghiệp sao lại phải kiểm soát xác minh số tiền thực đầu tư, số tiền thực mỗi ngày thu vào như vừa qua đã buộc phải làm?

3- “Thu giá” là sự xảo quyệt về ý đồ. Việc thu tiền vé đi đường BOT theo cách thực hiện ở Việt Nam thời gian qua xung đột với quy định về phí theo pháp luật. Tách nó ra khỏi phí là để hợp pháp hoá việc thu tiền lần thứ hai đối với người dân trên nhiều đoạn đường BOT, đánh bật khỏi tay người dân vũ khí pháp lý hợp pháp để phản đối sự bất công thiếu minh bạch.

4- “Thu giá” là sự lỳ lợm và trắng trợn trong thái độ đối với người dân. Dân không phản đối BOT, dân không phản đối chuyện đi đường BOT tốt hơn thì phải nộp tiền. Cũng không phải BOT ở chỗ nào cũng không hợp lý. Có những đường, cầu BOT làm cả vùng xưa nay thiếu đường,thiếu cầu nay đi lại giao thương thuận lợi hơn. Cái đó dân ủng hộ. Dân phản đối cái gì?. Dân phản đối chuyện đường quốc lộ số 1 của đất nước tráng lên một lớp rồi thu như thể đường đó họ làm ra từ đầu. Dân phản đối chuyện không có lựa chọn, đi đường nào cũng phải nộp BOT. Dân phản đối chuyện khai khống giá trị đầu tư BOT rồi từ đó định ra giá vé và thời hạn thu. Dân phản đối chuyện cầu nhà nước làm vẫn đi được bị ngăn lại lùa xe sang bắt đi cầu mới phải trả tiền BOT. Dân phản đối chuyện cho thu BOT cả đường mới lẫn đường cũ để lùa dân sang đường mới BOT. Dân phản đối chuyện không dùng đường BOT nhưng buộc phải đi qua trạm và phải mất tiền. Dân phản đối chuyện ém giảm số lưu lượng xe qua trạm BOT để thu lời tối đa. Dân phản đối chuyện chẳng có cuộc đấu thầu nào cả mà chỉ số quan chức cùng doanh nghiệp ký với nhau làm BOT chỗ này, chỗ kia. Dân phản đối chuyện làm BOT có thể “tay không bắt..vàng”. Dân phản đối vì đóng thuế, đóng phí đường bộ và đóng góp suốt bao năm bây giờ đất nước đến con đường xuyên Việt đầu tiên cũng chi chít trạm thu tiền. Dân phản đối vì tiền nộp BOT nhiều hơn chi cho xăng dầu, mọi hoạt động kinh tế hay dân sinh đều bị thêm gánh nặng.

Những cái đó có không? Dân phản đối có sai không?

Đành là có những cái sai đã xảy ra nhưng khó xoá đi làm lại được, mà phải chấp nhận hậu quả, thì cách làm vẫn là phải nhìn vào bản chất sự thật mà nói với dân.

Thay vì thẳng thắn rành mạch với dân, cùng dân tìm giải pháp khắc phục, thì lấy chữ mà che đậy bản chất vấn đề, nặn ra cái cơ sở lý cùn để ép dân phải theo. Đó là cái cách mà ngài Thể chọn.

5- Do vậy, “thu giá” chỉ xuẩn về chữ, chứ rất gian về tâm, về trí. Khi sự gian xảo xuất phát từ một quan chức cấp Bộ và những cố vấn của ông ta, nó là sự phá hoại tính công chính của Nhà nước. Tôi sẽ rất thất vọng nếu cái cách cư xử này được Nhà nước cho qua.

Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em

 Thứ Ba VII Thường Niên – Năm B – II – 22-5-201

Gia-cô-bê 4:1-3

1Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiếntrong con người anh em đó sao?2 Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin;3 anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc.

Gợi ý cầu nguyện:

  1. Lời Chúa từ thư của Gia-cô-bê hôm nay thật mạnh mẽ có thể đánh thức tôi về nguyên nhân của những xung đột giữa tôi với những người xung quanh.Trước khi trách người hãy trách mình và xét mình. Giờ cầu nguyện hôm nay có thể là lúc tôi xét lại chính mình, xem những bất hòa giữa tôi với những người xung quanh đến từ đâu?  Phải chăng đến từ tôi?  Từ những bám víu lệch lạc trong đời sống của tôi, như ghen tương, đố kỵ, nghi ngờ, tham lam, khinh khi người khác, tự ái, kiêu căng…?  Tôi có thể xin Chúa cho tôi biết kiêm nhường để có thể mưu cầu tình thương, sự bình an và hòa giải. 
  2. Gia-cô-bê hôm nay cũng chỉ cho tôi cách phải cầu nguyện như thế nào.  Ơn xin quan trọng nhất của các giờ cầu nguyện có lẽ là xin cho có lòng yêu mến Chúa Kitô.  Một khi tôi có lòng yêu mến Chúa Kitô, tôi sẽ cảm thấy tự do thanh thoát đến mức không còn ghen tương, đố kỵ, nghi ngờ, xét đoán, ích kỷ, thù hận hay tự ái, kiêu căng đối với tha nhân.  Một khi tôi có lòng yêu mến Chúa Kitô, tôi sẽ có thể yêu thương và tha thứ lẫn nhau.  Tôi có thể kết thúc giờ cầu nguyện bằng lời Kinh Hòa Bình của Thánh Phan-xi-cô Assisi, hoặc bài hát: Đâu Có Tình Yêu Thương.   

Phạm Đức Hạnh, SJ 

************************************************************

Kinh Hoà Bình:

https://www.youtube.com/watch?v=bXB9dVtWehk

Note: Xin nhớ học, hỏi và hành về phần trừ Tà những con Quỷ này và Trận Chiến Thiêng Liêng, Trận Chiến Nội Tâm nhé.

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

DỤC VỌNG

 DỤC VỌNG

Có người hỏi Thiền sư: Điều đáng sợ nhất trên cõi đời này là gì?
Thiền sư đáp: Dục vọng!”
Người đó lộ vẻ hoài nghi.
Thiền sư nói: “Hãy để tôi kể vài câu chuyện cho ông nghe vậy”.

Chuyện thứ nhất: Bạc vàng đáng sợ

Một vị tăng nhân hốt hoảng từ trong rừng chạy đến, vừa khéo gặp hai người bạn vô cùng thân thiết đang tản bộ bên rừng. Họ hỏi vị tăng nhân: “Chuyện gì mà ông hốt hoảng quá vậy?”.
Vị tăng nhân nói: “Thật là kinh khủng, tôi đào được một đống vàng ở trong rừng!”.
Hai người bạn, không nhịn được liền nói: “Thật đúng là tên đại ngốc! Đào được vàng, việc tốt như thế mà ông lại cho là kinh khủng, thật không thể hiểu nổi!”.
Thế là họ lại hỏi vị tăng nhân kia: “Ông đào được vàng ở đâu? Chỉ cho chúng tôi xem với!”.
Vị tăng nhân nói: “Thứ xấu xa như thế, các ông không sợ sao? Nó sẽ nuốt chửng người ta đấy!”.
Hai người kia gạt phăng, hùng hổ nói: “Chúng tôi không sợ, ông mau mau chỉ chỗ xem nào!”.
Vị tăng nhân nói: “Chính là bên dưới cái cây ở bìa rừng phía tây”.
Hai người bạn liền lập tức tìm đến chỗ vị tăng nhân vừa chỉ, quả nhiên phát hiện được số vàng đó. Người này liền nói với người kia rằng: “Tên hòa thượng đó đúng là ngốc thật, thứ vàng bạc mà mọi người đều khao khát đang ở ngay trước mắt, thế mà lại trở thành quái vật ăn thịt người”. Người kia cũng gật đầu đồng tình.

Thế là họ bàn với nhau làm thế nào để chuyển số vàng này về nhà. Một người trong đó nói: “Ban ngày mà đem nó về thật không an toàn cho lắm, hay là đêm đến chúng ta mới vận chuyển, vậy sẽ chắc ăn hơn. Tôi ở lại đây canh chừng, ông hãy về mang chút cơm rau trở lại, chúng ta ăn cơm rồi đợi đến trời tối mới chuyển số vàng này về nhà”.
Người kia liền làm theo người bạn nói. Người ở lại nghĩ:“Nếu như số vàng này đều thuộc về sở hữu của riêng ta thì hay biết mấy! Đợi hắn quay lại, ta hãy dùng cây gậy gỗ đánh chết đi, vậy thì toàn bộ số vàng này là của ta hết rồi”.
Thế là khi người bạn đem cơm rau đến khu rừng, người kia liền từ phía sau lưng dùng gậy gỗ đánh mạnh vào đầu khiến ông ta chết ngay tại chỗ, sau còn nói rằng:“Bằng hữu ơi, chính là số vàng này buộc tôi phải làm như vậy”.
Sau đó ông ta vớ lấy thức ăn mà người bạn mang đến, ăn ngấu nghiến. Chưa được bao lâu, người này cảm thấy rất khó chịu, trong bụng giống như bị lửa thiêu đốt. Khi đó, ông ta mới biết rằng mình đã bị trúng độc. Trước lúc chết, ông mới nói rằng: “Lời hòa thượng đó nói quả thật không sai!”.
Đây thật là ứng với lời người xưa để lại: Người chết vì tiền tài, chim chết vì miếng ăn. Đều là họa do lòng Tham đưa đến, chính Dục Vọng đã khiến người bạn thân nhất trở thành kẻ thù không đội trời chung.

Chuyện thứ hai: Người nông dân mua đất
Có một người nông dân muốn mua đất, ông ta nghe nói một người ở vùng khác có đất muốn bán, liền quyết định đến đó hỏi thăm. Người bán đất nói với ông ta rằng: “Chỉ cần giao một nghìn lạng bạc, ta sẽ cho ông thời gian một ngày, bắt đầu tính từ lúc mặt trời mọc, đến khi mặt trời lặn xuống núi, ông có thể dùng bước chân khoanh tròn được bao nhiêu đất, thì số đất đó sẽ chính là của ông, nhưng nếu ông không trở về nơi khởi điểm, thì ngay cả một tấc đất ông cũng sẽ không có được”.
Người nông dân đó nghĩ thầm: “Nếu như hôm nay ta vất vả một chút, đi nhiều đường hơn một chút, thì chẳng phải có thể đi được vòng rất lớn, theo đó sẽ có được một mảnh đất rất lớn hay sao? Làm ăn như vậy quả thật là rất có lợi!”. Thế là ông ta liền ký kết giao ước cùng người chủ đất đó.

Mặt trời vừa mới nhô lên, ông ta liền cất bước thật dài đi nhanh về phía trước; đến giữa trưa, bước chân của ông vẫn không dừng lại giây phút nào, cứ mãi đi về phía trước, trong lòng nghĩ: “Hãy ráng chịu đựng một hôm nay, sau này sẽ có thể hưởng thụ hồi báo của vất vả hôm nay mang đến rồi”.
Ông ta cứ thế tiếp tục đi về phía trước, đến khi mặt trời sắp lặn rồi mới chịu quay trở về, trong lòng vô cùng lo lắng, bởi vì nếu như không về kịp thì một tấc đất cũng chẳng có. Thế là ông ta vội vàng trở về theo đường tắt. Tuy nhiên, mặt trời sắp xuống núi, ông ta đành phải liều mạng mà chạy, cuối cùng chỉ còn thiếu vài bước thì đến vạch khởi điểm, nhưng sức lực đã cạn kiệt, ông ngã nhào xuống nơi đó.
Dục vọng của con người và ranh giới với hiện thực mãi mãi cũng không cách nào vượt qua được, bởi lòng tham là vô đáy. Con người mãi mãi không biết thỏa mãn, đây chính là khuyết điểm lớn nhất trong nhân cách.

Chuyện thứ baPhật và Ma
Có một họa sĩ rất nổi tiếng, ông muốn vẽ Phật và Ma, nhưng không tìm được người làm mẫu phù hợp, vì đầu óc ông không tài nào tưởng tượng ra nổi hình dáng của Phật, nên rất lo lắng. Trong một lần tình cờ, ông lên chùa bái lạy, vô tình nhìn thấy một hòa thượng. Khí chất trên vị hòa thượng này đã thu hút người họa sĩ sâu sắc. Vậy là ông liền đi tìm vị hòa thượng đó, hứa cho hòa thượng một số tiền lớn để làm người mẫu cho ông.
Về sau, tác phẩm của họa sĩ đã hoàn thành, gây chấn động ở vùng đó. Nhà họa sĩ nói: “Đó là bức tranh vừa ý nhất mà tôi từng vẽ qua, bởi người làm mẫu cho tôi quả khiến người ta vừa nhìn thấy nhất định cho rằng anh ta chính là Phật, loại khí chất thanh thoát an lành trên người anh có thể cảm động bất kì ai”.

Người họa sĩ sau đó đã cho vị hòa thượng đó rất nhiều tiền như lời đã hứa.
Cũng nhờ bức tranh này, mọi người không còn gọi ông là họa sĩ nữa, mà gọi ông là “họa Thánh”.
Bẵng đi một thời gian, họa sĩ chuẩn bị bắt tay vào việc vẽ Ma, nhưng điều này lại trở thành một vấn đề khó của ông, vì chẳng biết tìm hình tượng ma quỷ ở đâu. Ông đã hỏi thăm rất nhiều nơi, tìm rất nhiều người có vẻ ngoài hung dữ, nhưng không ai vừa ý cả.

Cuối cùng, ông tìm được trong nhà tù một tù nhân rất phù hợp với đối tượng ông cần vẽ. Họa sĩ vô cùng mừng rỡ, nhưng khi ông đối diện phạm nhân đó, người này đột nhiên khóc lóc đau khổ trước mặt ông.

Nhà họa sĩ rất lấy làm kinh ngạc, liền hỏi rõ ngọn ngành.
Người phạm nhân đó nói: Tại sao lần trước khi người mà ông tìm để vẽ Phật là tôi, bây giờ khi vẽ Ma Quỷ, người ông tìm đến vẫn là tôi!”
Người họa sĩ giật cả mình, thế là ông lại nhìn kỹ người phạm nhân đó, rồi nói: “ Sao lại có thể chứ ? Người mà tôi tìm để vẽ Phật ấy khí chất phi phàm, còn cậu xem ra chính là một hình tượng ma quỷ thuần túy, sao lại có thể là cùng một người được? Điều này thật kì lạ, quả thật khiến người ta không thể nào lý giải được”.
Người kia đau khổ bi ai nói: “Chính là ông đã khiến tôi từ Phật biến thành ma quỷ”.
Họa sĩ nói: “Sao cậu lại nói như vậy, tôi vốn đâu có làm gì đối với cậu đâu”.
Ngươi đó nói: “Kể từ sau khi tôi nhận được số tiền ông cho, liền đi đến những chốn ăn chơi đàng điếm để tìm thú vui, mặc sức tiêu xài. Đến sau này, tiền tiêu sạch hết, mà tôi lại đã quen với cuộc sống đó rồi, dục vọng đã khởi phát mà không thể thu hồi lại được. Thế là tôi liền giật tiền người ta, còn giết người nữa, chỉ cần có được tiền, chuyện xấu gì tôi cũng có thể làm, kết quả đã thành ra bộ dạng này của ngày hôm nay đây”.
Người họa sĩ nghe xong những lời này, cảm khái vạn phần, ông sợ hãi than rằng Bản tính con người trước Dục Vọng lại biến đổi mau chóng đến thế. Con người chính là yếu nhược như vậy đó. Thế là ông áy náy quăng cây bút vẽ xuống đất, từ đó về sau không còn vẽ bức tranh nào nữa.

Con người ta, một khi rơi vào trong cạm bẫy theo đuổi ham muốn vật chấtthì rất dễ đánh mất bản thân mình, muốn thoát ra khỏi đã trở thành mục tiêu rất khó khăn, vậy nên bản tính con người không thể đi cùng với lòng tham.

Thiền sư kể xong mấy câu chuyện, nhắm nghiền mắt lại không nói gì cả, còn người kia đã biết được đáp án từ trong những câu chuyện này: Thì ra điều đáng sợ nhất trên cõi đời này chính làDục Vọng, dục vọng của người ta càng nhiều, thì sẽ càng không thỏa mãn, vậy nên sẽ càng không vui vẻ và phiền não vì thế cũng sẽ càng nhiều hơn.

Dịch giả: Tiểu Thiện

****************************** ****************************** *****

“Tuyệt vời của cuộc đời là sự khác biêt !”

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Những điều luật trong Bộ Luật Hình Sự trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Những điều luật trong Bộ Luật Hình Sự trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Thông tin trên mạng xã hội gần đây có những bài viết đáng chú ý:

– “Trở lại trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức” [1] của Luật sư Lê Công Định.


– “Về Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức” [2] của Luật sư Ngô Ngọc Trai (gồm 3 phần và còn nữa).

Sau khi đọc xong những bài phân tích và viện dẫn một cách chuyên nghiệp của 2 vị Luật sư nói trên, tôi xin phép góp thêm một góc nhìn về triết lý xây dựng và thực thi pháp luật, tuân theo đặc thù của xã hội Việt Nam.

Mọi chủ trương và quyết sách phải tuân theo Cương lĩnh của ĐCSVN

Báo VNExpress ngày 28/9/2013 dẫn lời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi sửa đổi Hiến Pháp, ông cho biết [3]: “Hiến pháp – văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. Vậy, phải khẳng định: Cương lĩnh là một văn kiện pháp lý cao nhất trong toàn bộ hệ thống “văn bản pháp lý” của Nhà nước CHXHCNVN. Cương lĩnh ĐCSVN xuyên suốt và chi phối toàn diện và căn bản cho quản trị điều hành của Chính phủ.

Với đặc thù của xã hội Việt Nam, chấp nhận tiền đề nói trên là một điều mà tất cả cơ quan Đảng và Nhà nước cũng như công dân Việt Nam cần phải tuân thủ. Theo đó, mọi kiến giải, yêu cầu, đề đạt đều phải lấy Cương lĩnh của ĐCSVN làm căn cứ cao nhất.

Cương lĩnh ĐCSVN đã được chỉnh sửa, bổ sung và khai triển theo đúng quy luật triết học “vận động là tuyệt đối”, nhằm mục tiêu cải tạo xã hội Việt Nam ngày càng văn minh, tiến bộ và thích ứng với thời buổi hội nhập quốc tế mà Đảng và Nhà nước đang kiên trì theo đuổi. 

Thật vậy, Cương lĩnh ĐCSVN đã có những thay đổi rất quan trọng. Tại Đại hội XII diễn ra từ ngày 20 đến 28 tháng 1 năm 2016, ĐCSVN đã thông qua Cương lĩnh về lĩnh vực tư tưởng, trong đó có một thay đổi rất tiến bộ và vô cùng quan trọng [4]: 

“…tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam…”

Hiến Pháp 2013

Song song với thay đổi về lĩnh vực tư tưởng – lĩnh vực quan trọng bậc nhất trong Cương lĩnh, Hiến Pháp 2013 đã dành hẳn một chương nhấn mạnh về Quyền Con Người, trong đó, điều 14 quy định:

  1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Tính “Liên Tục & Kế Thừa” khi xây dựng và áp dụng luật

Đó là thuộc tính khoa học căn bản mà bất cứ một nhà soạn luật nào cũng đều hiểu và nắm chắc khi soạn thảo và áp dụng luật. Thật vậy, trong Lời Nói Đầu của Hiến Pháp 2013 đã viết:

“Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Lời Nói Đầu đã trình bày 2 tính chất căn bản nhất:

– Thể chế hóa Cương lĩnh của ĐCSVN.

– Kế thừa các Hiến pháp trước đây.

Như vậy, 2 tính chất nêu trên là tiền đề để ba cơ quan “Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp” tuân thủ, sao cho tất cả cả mọi chủ trương, quyết sách, hành động phải bảo đảm đúng với Cương lĩnh của ĐCSVN. Cụ thể, về mặt tư tưởng, người dân có quyền suy nghĩ, viết ra tất cả các ý tưởng, miễn sao “KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

Những điều luật trái với Cương lĩnh ĐCSVN

Đó là các điều luật trong Luật Hình Sự 1999 như: điều 79, điều 88, điều 258 và sau này được thay thế bằng những điều luật tương ứng trong Luật Hình Sự 2015 như: điều 109, điều 117, điều 331. 

Trước đây, những điều luật nói trên đã được nhiều tác giả phân tích và chứng minh thành công về “tính chất mơ hồ” mà thế giới và quốc nội đều biết. Nay, Luật sư Lê Công Định đã chỉ rất rõ và cụ thể về trường hợp của ông Trần Huỳnh Duy Thức bị kết án 16 năm tù giam và 5 năm quản chế về điều luật mơ hồ này. Góp thêm vào đó, Luật sư Ngô Ngọc Trai đang tiến hành các bước theo đúng trình tự pháp lý để đề nghị Nhà nước CHXHCNVN nghiên cứu xem xét, ngõ hầu “đặc xá” cho vị doanh nhân vô tội này.

Xoay quanh “trục cốt lõi” – Cương lĩnh ĐCSVN, chúng ta thấy, những vấn đề nêu trong cáo trạng quy tội cho doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức (như Luật sư Ngô Ngọc Trai phân tích) hoàn toàn là “NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

Thêm vào đó, Luật sư Lê Công Định qua bài viết của mình, đã chứng minh thành công: “…trong BLHS 1999 không có bất cứ điều khoản nào quy định, dù cụ thể hay tổng quát, các yếu tố định danh và định tính về một “tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”…” mà có lẽ không có một học giả hay chuyên gia về luật có thể chứng minh rõ hơn được nữa.

Đặc xá là một điều đúng theo khoa học và tiến bộ

Với các phân tích nêu trên, việc đề xuất “đặc xá” cho ông Trần Huỳnh Duy Thức là một điều đúng theo khoa học và tiến bộ, bởi:

– Cương lĩnh trước đây vì chưa quy định rõ về mặt tư tưởng, nên khi người dân bày tỏ ý kiến, suy nghĩ hay phát ngôn v.v… trên mọi lĩnh vực dễ bị quy chụp “lật đổ chính quyền nhân dân” hay “tuyên truyền chống nhà nước” hoặc”lợi dụng tự do dân chủ”, nhưng nay nhờ có việc “…TÔN TRỌNG NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC” làm căn cứ, cho nên, những gì ông Trần Huỳnh Duy Thức bị quy tội trong cáo trạng đã không còn giá trị “bảo chứng”, nhờ sự thay đổi của Cương lĩnh. Nghĩa là tư duy và ý tưởng của ông Thức “KHÔNG TRÁI VỚI LỢI ÍCH CHUNG CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC”.

– Hiến pháp 2013 tại điều 2 khoản 2 quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Theo đó, những ý tưởng của ông Thức không những đúng theo thay đổi tiến bộ của Cương lĩnh ĐCSVN mà còn không hề vi phạm vào khoản 2 điều 2 Hiến pháp 2013.

– Tất cả các luật đều phải xoay quanh Cương lĩnh và Hiến pháp. Khi Cương lĩnh và Hiến pháp chưa sửa đổi, ông Trần Huỳnh Duy Thức bị quy tội một cách “mơ hồ”, nên khiên cưỡng phải chấp nhận. Nay Cương lĩnh đã được sửa đổi và Hiến pháp đã đề cao Quyền Con Người.

Về đối ngoại và đối nội

Việc trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức còn có ý nghĩa rất lớn cho ĐCSVN và Nhà nước CHXHCNVN trong tình hình hiện nay.

Không những thế…

– Tất cả những người bị kết án với tội danh theo điều: 79, 88, 258 đang thụ án cũng cần được “đặc xá” theo phân tích trên.

– Tất cả những người đang chịu án quản chế (như cá nhân người viết bài này) cũng được chấm dứt thi hành án quản chế.

– ĐCSVN và Nhà nước CHXHCNVN nên nghiên cứu và vận dụng đúng theo sửa đổi của Cương lĩnh và Hiến pháp để, hoặc là xóa bỏ những điều luật 109, 117, 331 hoặc là định nghĩa rất rõ các nội dung buộc tội, sao cho những ai bị kết án từ những “tội danh này”, họ phải thấy rõ tư tưởng, hành vi của mình là “trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc”.

Tù Nhân Nhân Quyền Nguyễn Đình Ngọc – Blogger Nguyễn Ngọc Già

_____________________________________________________________

[1] https://www.facebook.com/LSLeCongDinh/posts/2037462326527541 (Luật sư Lê Công Định)

[2] https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1136823149791479&set=a.334810426659426.1073741827.100003914154408&type=3 (Luật sư Ngô Ngọc Trai)

[3] https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tong-bi-thu-de-phong-the-luc-muon-xoa-bo-dieu-4-hien-phap-2886937.html (báo điện tử VNExpress)

[4] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=44966&print=true. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 158 – 159 (Tạp Chí Cộng Sản).

Nguồn dẫn đều từ hai công dân với đầy đủ quyền hạn: Lê Công Định, Ngô Ngọc Trai và các trang báo hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Nhấn mạnh điều này để thưa rõ với dư luận, những phân tích trên hoàn toàn là học thuật, tác giả bài viết không có bất kỳ “ý đồ xấu” nào để bị ghép vào “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 117 – Bộ Luật Hình Sự 2015 mà trước đây bản thân người viết đã buộc phải nhận lãnh án oan sai với 3 năm tù giam và 3 năm quản chế từ điều 88.

Bài viết cũng được gởi tới: Tạp Chí Cộng Sản,Báo Nhân Dân, Báo Sài Gòn Giải Phóng, Báo Thanh Niên thông qua email: dinhngocnguyen1234@gmail.com

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đang đùa với dân?

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đang đùa với dân?

Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể – Tác giả “trạm thu giá BOT” đang “giỡn mặt bầu cua” với dân, với Quốc hội và đổ tội nhiệm kỳ trước!

Bộ trưởng Thể gốc nông dân miền Tây – vùng đất cư dân vốn sống chất phác, “có sao nói vậy”; không lắt léo câu chữ, ma mị ngôn từ. Cụ thể ông Thể là dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên chắc hiểu từ “giỡn mặt bầu cua” của dân miền Tây; nó na ná như “múa rìu qua mắt thợ” của bà con miền Bắc – tức làm cái trò mà ai cũng biết tẩy đó là trò con nít khi đổi tên các trạm thu phí BOT thành thu giá.

Giữa sóng gió dư luận đang đồng loạt lên án cái trò “giỡn mặt bầu cua” này thì trong buổi họp Quốc hội sáng 22-5-2018, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, đại biểu Quốc hội đoàn Sóc Trăng sau khi thừa nhận: “Thời gian qua có vấn đề trạm thu giá BOT là việc hết sức nóng, có thể nói chưa lúc nào nóng như vừa qua” đã đổ tội: “Đây là sản phẩm của giai đoạn trước”.

Ông Thể quên hay cố tình không nhớ chính ông là người ký hơn 20 dự án BOT giao thông, trong đó có BOT Cai Lậy tai tiếng – khi ông là thứ trưởng GTVT? Rồi ông khẳng định trước các đại biểu của dân: “Đến thời điểm này có thể nói tương đối ổn định. Chúng tôi sẽ nghiên cứu, vận dụng để làm sao những trạm thu giá BOT sắp tới sẽ thực hiện nghiêm“.

Các trạm thu phí BOT hiện đồng loạt thay bằng trạm thu giá. Ảnh: Internet

Thu phí hay thu giá, thu gì cũng là thu tiền; không chỉ là một kiểu làm dơ bẩn, lập lờ tiếng Việt vốn trong sáng và đẹp đẽ mà còn vi phạm pháp luật; cụ thể là Luật Phí và lệ phí 2015 – được Quốc hội thông qua ngày 25-11-2015, có hiệu lực từ ngày 1-1-2017, không hề có một từ nào quy định về thu giá mà chỉ có thu phí.

Ở điều 3 – Giải thích từ ngữ – của luật này, các từ ngữ được hiểu:

1. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

2. Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này.

Trả lời câu hỏi của phóng viên: “Tại sao Bộ GTVT lại chuyển tên gọi từ “thu phí” thành “thu giá” BOT?”, ông đã thú thật: “Phí mang tính chất quản lý Nhà nước liên quan đến HĐND, Quốc hội quyết định. Hình thức đầu tư BOT (Kinh doanh – Xây dựng – Chuyển giao) được xem là một sản phẩm của doanh nghiệp nên họ tự định giá. Do vậy, chúng ta cần điều chỉnh từ phí sang giá cho chính xác.

Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể – Ảnh: Việt Dũng/ báo Tuổi Trẻ

Việc chuyển đổi tên trạm “thu phí” thành trạm “thu giá” không có gì khác mà còn linh động hơn rất nhiều cho việc điều chỉnh mức thu. Bởi lẽ muốn điều chỉnh phí thì phải thông qua HĐND nên rất chậm”.

Ông buộc phải thú thật điều này cho thấy ông rất rành Luật Phí và lệ phí, trong đó quy định ai được quyết định việc thu phí (khoản 2 điều 4 Luật Phí và lệ phí quy định): “Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định các khoản phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí, được quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí”.

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật! Bộ trưởng GTVT Nguyễn Văn Thể đã am hiểu luật rất rõ mà vẫn cố tình lách luật để vi phạm Luật phí và lệ phí mà Quốc hội đã ký mới hơn 1 năm, liệu có thể khởi kiện được không?

Có cần một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội hay không?

Có cần một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội hay không?

Kính Hòa RFA
2018-05-22
 
Một quán cà phê tại trung tâm Hà Nội. Việt Nam có hơn 50 triệu người sử dụng mạng xã hội. Ảnh chụp tháng 11/2013.

Một quán cà phê tại trung tâm Hà Nội. Việt Nam có hơn 50 triệu người sử dụng mạng xã hội. Ảnh chụp tháng 11/2013.

 AFP
 

Ngày 18/5/2018 Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam tổ chức một buổi tọa đàm tại Hà Nội, đặt ra vấn đề là cần phải có một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội tại Việt Nam.

Ý kiến cho rằng cần phải có bộ qui tắc ứng xử

Tiến sĩ xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng tình trạng phát triển của mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu cần phải có bộ qui tắc ứng xử:

Khi đặt ra vấn đề là cần có một bộ qui tắc ứng xử trên mạng có nghĩa là vấn đề giao thương giao tiếp, va chạm trên mạng đã cần phải có sự kiểm soát, điều tiết. Một thực tế chúng ta không thể chối cãi được là có những vấn đề rất là phức hợp, nhạy cảm, không rõ ràng, về quốc kế dân sinh, về sinh hoạt văn hóa tinh thần, đặc biệt là sự va chạm trong vấn đề con người và xã hội.”

Nhưng ông cho rằng bộ qui tắc ứng xử này không phải là những điều luật mà là những qui định dưới luật, và việc xử lý những điều xảy ra trên mạng xã hội là không đơn giản vì mạng xã hội là một bức tranh phức hợp, đa dạng.

Cũng đồng ý là cần phải có những qui tắc ứng xử, nhưng nhà báo Bút Lông Phan Lợi cho rằng nó nên được thực hiện theo những nhóm tự nguyện qui ước với nhau về những điều gì mà các thành viên nên làm và không nên làm. Ông Phan Lợi cho biết là ông đã thực hiện việc này với các nhóm mà ông thành lập trên Facebook.

Ông Phan Lợi nói cụ thể những chuyện cần phải tránh đối những thành viên của các nhóm mà ông tham gia, hay thành lập:

“Ví dụ họ có thể tấn công những người khác, hay là có những người bị đem ra bêu riếu về những vấn đề tôn giáo, giới tính, hay sự sử dụng hình ảnh, liên quan đến những nhóm yếu thế, những nhóm dễ bị tổn thương như là trẻ em, những người dân tộc thiểu số, v.v…”

Áp dụng như thế nào? Hay là không cần thiết?

Tiếp nối ý kiến của nhà báo Phan Lợi, ông Trương Duy Nhất, một nhà báo tự do và là một blogger nói rằng thực ra tất cả những cơ quan đều có ban hành qui định phải ứng xử như thế nào trên mạng xã hội, và những nhà báo có trong biên chế của báo chí nhà nước cũng đã bị ràng buộc bởi những qui định như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là rằng một bộ qui tắc như vậy có thể được áp dụng lên những nhà báo tự do như ông:

“Bây giờ Bộ Thông tin Truyền thông có ra những bộ qui tắc gì đó, thì nó cũng ngoài tầm, ngoài cuộc sống của chúng tôi. Nó chả có tác động gì với chúng tôi, chả có hiệu lực gì với chúng tôi cả, bởi chúng tôi có ràng buộc gì với họ đâu?”

Không ai đưa ra thông tư để hướng dẫn hay chế tài những nguyên tắc, qui tắc ứng xử của những người tự do cả.
-Nhà báo Phan Lợi.

Ông nói rằng tác động của những nhà báo tự do trên mạng xã hội là mạnh hơn rất nhiều so với những nhà báo làm cho báo chí chính thống của nhà nước.

Bà Nguyễn Thị Hậu, một chuyên gia ngành khảo cổ cho chúng tôi biết là bà cũng có chứng kiến những chuyện rắc rối liên quan đến ứng xử trên mạng xã hội, nhưng bà nghi ngờ về khả năng áp dụng một bộ qui tắc chung:

“Thực sự nếu xã hội không có những điều đó thì mạng xã hội nó sẽ không phản ánh. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là bộ qui tắc ứng xử, đặt ra thì dễ, nhưng để kiểm soát, và xử lý tất cả theo bộ qui tắc đó như thế nào thì đó là cái mà tôi rất quan tâm.”

Nguyên nhân của việc mà Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu đưa ra cho câu hỏi của mình là mạng xã hội có một điều kiện kỹ thuật riêng, cho nên những sai phạm hay những hành vi ứng xử trên đó sẽ không được quan sát, xử trí theo như trong một không gian xã hội truyền thống được.

Luật sư Hà Huy Sơn ở Hà Nội thì nói rằng một bộ qui tắc ứng xử cho mạng xã hội là không cần thiết, ông giải thích lý do:

“Tôi cũng chưa biết người ta sẽ qui định cái gì, nó có hạn chế quyền của công dân theo hiến pháp qui định hay không? Nhưng theo chủ quan của tôi thì chắc là người ta muốn quản lý, siết chặt tự do tư tưởng. Còn nếu mà người ta có những mặt tích cực, hạn chế những chuyện như là đưa tin sai, vi phạm văn hóa, thì tôi nghĩ những cái đó luật dân sự, luật hình sự cũng đã qui định rồi, quan điểm của tôi là đưa những qui tắc này ra nó cũng không cần thiết.”

Tính đạo đức và pháp luật của mạng xã hội

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, mạng xã hội chỉ khác đời thường ở chổ là có những quan hệ rất trực tiếp mặc dù người ta không biết nhau ngoài đời, và điều đó xóa đi làn ranh của sự vị nể, làm cho người tham gia mạng xã hội phải chấp nhận những chỉ trích đến với mình, cũng như phải có trách nhiệm cao hơn với những hành động của mình, do đó theo bà, những yêu cầu về đạo đức trên mạng xã hội cao hơn đời thường:

“Ở ngoài đời nếu có một tin đồn thì ngồi quán trà nói xong thì thôi, nhưng trên mạng xã hội, do đặc điểm kỹ thuật của nó thì do tính tương tác lan truyền của nó rất nhanh, mà lại trực diện nữa, cho nên con người mình phải có trách nhiệm hơn. Thế nên tôi thấy đạo đức trên mạng xã hội nó vẫn thuộc phạm trù đạo đức, nhưng rõ ràng nó đòi hỏi cao hơn môi trường xã hội bình thường, môi trường truyền thống.”

Nhưng đạo đức và pháp luật là hai lĩnh vực khác nhau.

Nhà báo Phan Lợi quan niệm rằng mạng xã hội cũng giống như là một xã hội dân sự, mà trong đó nhà nước nên là một thành viên tham gia chứ không thể là một tác nhân ngồi lên trên để quán xuyến tất cả những gì xảy ra trên mạng xã hội. Theo ông cơ quan pháp luật không thể căn cứ vào những qui chuẩn của một bộ qui tắc ứng xử nào đó mang tính đạo đức, để xử lý những cá nhân vi phạm. Ông nói về buổi tọa đàm vừa qua tại Hà Nội:

“Có đoạn cuối trong bài báo tường thuật buổi tọa đàm đó thì tôi thấy nói rằng việc đưa ra qui tắc cho người sử dụng mạng xã hội, rồi căn cứ vào đấy để ban hành các thông tư để dựa vào đấy mà xử lý thì tôi thấy là không chuẩn. bởi vì thông tư chỉ có thể hướng dẫn những vấn đề pháp luật thôi, chứ không ai đưa ra thông tư để hướng dẫn hay chế tài những nguyên tắc, qui tắc ứng xử của những người tự do cả.”

Mạng xã hội Facebook được lan truyền rộng rãi tại Việt Nam ngay từ khi nó mới ra đời tại Mỹ, và theo nhiều số liệu khác nhau thì hiện có đến hơn 50 triệu người Việt Nam tham gia mạng xã hội.

Đạo đức trên mạng xã hội nó vẫn thuộc phạm trù đạo đức, nhưng rõ ràng nó đòi hỏi cao hơn môi trường xã hội bình thường.
-Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu.

Nhiều nhà hoạt động dân sự, chính trị, bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng xã hội để nêu lên chính kiến của mình, cũng như thúc đẩy các hoạt động xã hội như biểu tình vì môi trường, chống Trung Quốc,… Người ta cũng chứng kiến những tranh cãi rất dữ dội giữa những nhóm khác nhau trên mạng xã hội Việt Nam với những quan điểm chính trị đối lập nhau.

Nhiều người tham gia mạng xã hội với những phát biểu mang tính chính trị hay chỉ trích nhà cầm quyền đã bị bắt bỏ tù.

Ngày 19/5/2018, Báo Quân đội nhân dân có đăng bài viết nói rằng “cần xử lý hiện tượng loạn ngôn trên mạng xã hội,” trong đó có nêu trường hợp ông Nguyễn Văn Đực, một thành viên của Hiệp hội bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh. Báo Quân đội nhân dân cáo buộc rằng ông Nguyễn Văn Đực đã xúc phạm các cán bộ cấp cao và làm ảnh hưởng đến đường lối chính sách của nhà nước, và của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi có liên lạc với ông Nguyễn Văn Đực, nhưng ông không có bình luận gì về cáo buộc đó.

Theo quan sát của chúng tôi trong thời gian gần đây, ông Nguyễn Văn Đực không phải là người duy nhất có những chỉ trích các viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam, mà có rất nhiều người, ẩn danh có mà dùng tên thật cũng có, và đối tượng bị chỉ trích bao gồm cả các quan chức cao cấp nhất như Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ…

CON RÁI CÁ BỊ LỘT DA KHIẾN THỢ SĂN XUẤT GIA ?

CON RÁI CÁ BỊ LỘT DA KHIẾN THỢ SĂN XUẤT GIA ?

 Đây là một câu chuyện có thật, do một vị hòa thượng đích thân kể lại. Ông nói rằng khi chưa xuất gia, ông từng là một người chuyên đi săn rái cá.
Một ngày nọ, ông vừa ra ngoài đã săn được một con rái cá cái. Sau khi đã lột bộ da quý của nó, ông đặt con rái cá còn thoi thóp lên một bãi cỏ. Sẩm tối, ông quay về chỗ cũ, nhưng không thấy con rái cá đâu cả. Ông quan sát kĩ, phát hiện trong đám cỏ có dính một chút máu, vết máu dẫn đến một cái hang nhỏ gần đó. 
Khi đến hang, nhìn vào trong, ông ngỡ ngàng giật mình: Thì ra con rái cá chịu nỗi đau đớn bị lột da, cố lết về hang của mình. Tại sao nó lại phải làm như thế?
Khi ông ta lôi con rái cá đã tắt thở ra, liền phát hiện có hai con rái cá con vẫn còn chưa mở mắt, chúng đang ngậm chặt đầu vú khô của rái cá mẹ đã chết.
Nhìn cảnh tượng ấy, ông bàng hoàng sửng sốt, ớn lạnh cả sống lưng. Từ xưa đến nay, ông chưa từng nghĩ đến việc động vật lại có tình cảm mẹ con thiêng liêng đến mức ngay cả con người cũng không thể làm được. Trước lúc chết vẫn còn nghĩ đến cho đứa con sơ sinh bú sữa, vì sợ con mình đói. Nghĩ tới đó, bất giác người thợ săn thấy cay cay cánh mũi, nước mắt tuôn rơi, cảm thấy tội lỗi, xấu hổ vô cùng vì hành động không thể dung thứ của mình. Thế là, ông gác bỏ đồ đao, giã từ nghề săn rái cá, xuất gia tu hành. 
Mỗi lần vị hòa thượng ấy nghĩ lại chuyện quá khứ của mình, trong mắt lại ngấn lệ, chỉ trực trào ra…
Mục đích thấp nhất của ăn uống là để chống đói bụng, nhằm đảm bảo sinh mệnh, mục đích cao nhất là vì khoái khẩu. Mà giữa chống đói và khoái khẩu, khoảng cách của chúng đâu chỉ có trăm ngàn dặm, nhưng vị giác của chúng ta từ miệng cho đến yết hầu chỉ có hơn 10 xen-ti-mét, nuốt qua họng là chẳng còn cảm nhận được gì nữa. Chúng ta vì sao không nhịn đi cảm giác kéo dài 10 xen-ti-mét mà lại đi tàn sát biết bao nhiêu sinh linh vô tội?

From Tu-Phung gởi

Du khách Tàu, áo “lưỡi bò” và sự hèn hạ quen thuộc!

Du khách Tàu, áo “lưỡi bò” và sự hèn hạ quen thuộc!

Song Chi
2018-05-19

RFA

Khách Trung Quốc mặc áo có in hình đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh 13/5/2018.

Khách Trung Quốc mặc áo có in hình đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh 13/5/2018.

Courtesy of Facebook
 

Sự việc 14 du khách Trung Quốc mặc áo “đường lưỡi bò” khi nhập cảnh sân bay Cam Ranh ngày 13.5 vừa qua và cách xử lý của phía VN, một lần nữa lại cho thấy cái tâm lý bạc nhược, sợ Tàu của đa số quan chức Việt.

Về phía đám du khách, đây không phải là một sự sơ xuất gì mà là cố tình vì cả nhóm ăn mặc rõ ràng theo kiểu đồng phục. Phải coi thường nước chủ nhà lắm thì họ mới dám đi cả đám, mặc cái áo ngang nhiên thách thức chủ quyền nước chủ nhà như vậy. Vậy mà cả đám quan chức từ trên xuống dưới lúng túng không biết làm sao xử lý! Nào cả Tổng cục Du lịch, cả Bộ Ngoại giao, Bộ Công an cùng phối hợp xử lý, «cơ quan điều tra thì làm việc với các đơn vị liên quan để làm rõ động cơ của nhóm khách này”, Phó Giám đốc Công an tỉnh Khánh Hòa thì cho rằng “Chúng tôi phải điều tra, khi đấy mới có đủ cơ sở kết luận để có hướng xử lý”, (“Khánh Hòa lúng túng xử lý vụ khách Trung Quốc mặc áo ‘đường lưỡi bò”, VNExpress).

Thật là cẩn trọng, chu đáo!

Càng lúng túng, càng cẩn trọng thì truyền thông báo chí Trung Quốc càng cười cho vào mũi (“Tờ Hoàn Cầu: ‘VN thiếu tự tin vụ áo lưỡi bò’, BBC), ra cái điều đường chín đoạn trên Biển Đông, hay còn gọi là đường lưỡi bò, đường chữ U, là phần lãnh thổ chính danh của Tàu, chả có gì phải bàn cãi nữa, VN làm như vậy chỉ “nhằm thổi lên tâm lý bài Trung” mà thôi.

Trong khi đó người dân Việt Nam chỉ cần mặc cái áo có hình No-U (“SAY NO TO U-LINE!) hoặc giăng biểu ngữ “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam” là bị tóm về đồn ngay lập tức, chả cần điều tra gì cả cho mất thì giờ. Và chừng vài lần như vậy là bị tống vào tù, xử qua quít rồi kết án luôn, nhẹ thì năm ba năm, nặng hơn 10, 13 năm…

Chưa hết, chủ quyền quốc gia là điều tối quan trọng, người làm quan lại càng phải ý thức rõ điều này, vậy mà ông Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Văn Tuấn lại cho rằng: ‘Không để sự cố nhỏ ảnh hưởng đại cục’. (“Khách TQ mặc áo in lưỡi bò: ‘Không để sự cố nhỏ ảnh hưởng đại cục’, VietnamNet)

Đại cục là cái đại cục gì? Là mối quan hệ giữa VN-Trung Quốc? Hóa ra cái mối quan hệ bất bình đẳng, đầy rủi ro, thiệt thòi cho phía VN từ hồi nào tời giờ đó lại phải coi trọng hơn cả chủ quyền quốc gia? Hay đại cục là giữ cho được hòa khí với Trung Cộng để không bị Trung Cộng tấn công? Nhưng liệu giữ hòa khí, hòa bình bằng sự hèn hạ, nhục nhã thì có giữ được lâu dài, nhất là một khi kẻ cướp ngày càng mạnh, ngày càng hung hăng, nhiều tham vọng?

Mà đâu riêng gì một tay Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch này, cái lối suy nghĩ hèn hạ, bạc nhược, nhắm mắt làm ngơ tất cả mọi sự khiêu khích, mọi hình thức xâm lăng, xâm phạm chủ quyền VN của Trung Cộng từ bao lâu nay, miễn sao giữ được chế độ, là cái suy nghĩ của không it lãnh đạo, quan chức cộng sản VN từ trên xuống dưới.

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Ý NGHĨA CUỘC SỐNG

Chúa Thánh Thần đem lại gì cho chúng ta.  Đó là câu hỏi chúng ta cùng nhau tìm hiểu.  Và ơn huệ đầu tiên Ngài đem lại đó là đức tin.  Chính đức tin sẽ tạo nên nơi chúng ta một cái nhìn mới.

Kể từ nay, chúng ta không còn cúi mặt nhìn xuống đất, mà còn có thể ngước mắt nhìn lên trời.  Và qua những thực tại trần gian, chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị siêu nhiên.  Chúa Thánh Thần sẽ mở ra một chân trời mới, sẽ hướng dẫn chúng ta bước vào cõi sống đời đời.  Hẳn rằng đã hơn một lần chúng ta băn khoăn và tự hỏi: Hỡi người, người là ai?  Tại sao người lại sống trên mặt đất này.  Rồi người sẽ đi về đâu?  Mục đích cuộc sống của người là gì?  Ý nghĩa cuộc sống của người là gì?

Có một nhà hiền triết nọ cũng đã suy tư như thế.  Hôm đó, ông đi lang thang trong rừng, miệng không ngừng lặp lại câu hỏi: Đâu là ý nghĩa của cuộc sống?  Bỗng một con họa mi bay đến và nói: Ý nghĩa cuộc sống ư?  Chỉ là tiếng hót véo von.  Rồi nó bay đi nhưng vẫn còn vương lại những âm thanh dễ mến.  Nghe vậy, chú chuột chù phản đối: Đời là một cuộc chiến đấu không ngừng với bóng tối.

 

Thế nhưng chị bướm lại lắc đầu không chịu: Cuộc sống chỉ là hưởng thụ và vui thú.  Bấy giờ bác ong mật phát biểu: Cuộc sống không chỉ là vui thú, mà còn là lao động, lao động nhiều hơn vui chơi.  Cô phượng hoàng thì vỗ cánh và nói: Chẳng ai có lý hết, đời sống chính là tự do, được tung bay trên khắp khoảng trời xanh.  Cụ tùng bách thì lắc đầu và bảo: Đời sống là một cố gắng để vươn cao.  Nhưng cô hồng nhung lại quả quyết: Cuộc đời chỉ là những tháng ngày trau chuốt cho vẻ đẹp được thêm duyên dáng.  Còn chàng mây lang thang lại thở dài: Đời sống chỉ là những lần chia ly, khổ đau, cay đắng và nước mắt.  Còn bà sóng thần thì bảo: Đời là một sự đổi thay không ngừng.

 Nhà hiền triết hốt hoảng và chạy trốn khỏi khu rừng để không còn nghe tiếng nói của muôn loài trước một vấn nạn chưa được giải quyết.

Còn chúng ta thì sao?  Rất có thể chúng ta cũng đã băn khoăn như nhà hiền triết, để rồi cảm thấy như bế tắc, không tìm ra đáp số cho bài toán.

Thế nhưng với biến cố Hiện xuống, các môn đệ đã nhìn rõ vấn đề, đã thấu suốt được những chân lý mà Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Với ơn Chúa Thánh Thần chúng ta cũng sẽ nếm thử được niềm an bình và nỗi mừng vui, bởi vì chúng ta xác tín rằng: quê hương chúng ta không phải ở mặt đất này, nhưng là ở chốn trời cao.  Cuộc sống tạm bợ phù du này sẽ kết thúc để rồi mở ra một chân trời hạnh phúc, kéo dài tới vĩnh cửu.  Nhờ đức tin lãnh nhận, chúng ta có được cái nhìn mới và biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian, biết xử dụng chúng để xây dựng cuộc sống siêu nhiên.

Thánh Cyrillo đã so sánh: Chúa Thánh Thần tác động trong chúng ta như ánh sáng mặt trời tác động trên con mắt.  Nếu đi từ bóng tối ra ánh sáng, chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều vật trước kia chúng ta không nhìn thấy.  Cũng vậy, với Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ nhìn xem tất cả bằng cặp mắt siêu nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra những giá trị thiêng liêng cho cuộc sống tạm gửi này, để rồi chúng ta sẽ không dừng lại, sẽ không đầu tư cho những vui thú chóng qua, nhưng sẽ tìm kiếm và đầu tư cho hạnh phúc vĩnh cửu.

Ngày xưa Chúa Thánh Thần bay lượn trên nước và đã biến cái đám hỗn mang thành một vũ trụ có trật tự thế nào, thì bây giờ Ngài cũng bay lượn, cũng hiện diện trong tâm hồn để biến con người tội lỗi, vô trật tự của chúng ta thành một Kytô hữu đích thực, Ngài sẽ cởi bỏ con người cũ của chúng ta, biến chúng ta trở nên một tạo vật mới, một con người mới.  Vậy con người mới ấy là như thế nào?  Chắc hẳn bề ngoài chúng ta vẫn như trước vẫn giống với mọi người, có đầu, có mắt, có trái tim, nhưng cách thức chúng ta nhìn ngắm, cách thức chúng ta suy nghĩ, cách thức chúng ta yêu mến thì lại hoàn toàn thay đổi, như lời tiên tri Êgiêkiel đã diễn tả: Ta sẽ rảy nước tinh tuyền trên các ngươi và các ngươi sẽ được trong sạch.  Ta sẽ cất khỏi các ngươi trái tim bằng đá, nhưng sẽ ban cho các ngươi một trái tim bằng thịt.  Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới và một thần khí mới.

Với Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhìn cuộc sống, nhìn những người anh em, nhìn thế giới, nhìn dòng lịch sử một cách khác.  Chúng ta sẽ nhìn những khổ đau, những thử thách và những đắng cay một cách khác.  Chúng ta sẽ tìm thấy được những giá trị siêu nhiên của chúng.

Bởi đó, hãy mở cửa đón nhận Chúa Thánh Thần, hãy lắng nghe tiếng nói của Ngài, hãy bước đi dưới sự soi dẫn của Ngài, hãy sống theo những gì Ngài chỉ bảo.  Đừng dập tắt ngọn lửa của Ngài, để nhờ đó, Ngài sẽ hun đúc đức tin, để nhờ đó chúng ta biết đánh giá đúng mức những thực tại trần gian.

Xin hãy đến!  Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến, thay đổi đời sống tâm linh chúng con, xin giúp chúng con tìm ra ý nghĩa đích thực cuộc sống mình.  Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ để chúng con đủ can đảm đi theo Chúa mỗi ngày cho đến trọn đời.  Amen!

Sưu tầm

From Langthangchieutim gởi

Đất đai: vàng và máu!!!

Đất đai: vàng và máu!!! (nguồn : Dân Làm Báo)

Tự do Ngôn luận – Không ai có nỗi ám ảnh về đất đai như người Cộng sản, vì họ luôn có nỗi ám ảnh về quyền lực. Và một trong những phương thế để giữ quyền lực là sở hữu đất đai, kho vàng bất tận, nguồn phát sinh mọi của cải khác. Mà sở hữu đất đai theo quan niệm của họ là phải đoạt lấy bằng vũ khí, đồng thời làm cho những ai bị tước đoạt không có khả năng đòi lại. 

Chính vì thế, sau khi nhắm được chính quyền ở miền Bắc, họ đã tổ chức cái gọi là “Cải cách ruộng đất” mà thực ra là đoạt lấy đất của những người bị gán danh hiệu địa chủ, và đoạt bằng cách đấu tố giết chết ngay những kẻ xấu số này. Những địa chủ ấy từng là ân nhân của đảng cũng có thể đem bắn, điển hình là bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm. Những địa chủ ấy từng hiến nhiều cơ ngơi cho đảng cũng có thể bị lột sạch, như ông bà Trịnh Văn Bô. Kết quả của vụ Cải cách Ruộng đất đẫm máu đó không hề là chia đất cho bần cố nông, thực thi chính sách “người cày có ruộng”, nhưng là đoạt hết mọi đất đai (ở miền Bắc) vào trong tay đảng. 

Để có thể chiếm đất thêm, VC tiến hành cuộc chiến xâm lăng miền Nam. Sau khi cướp được quyền lực trên khắp cả nước, đầu tiên họ tống cổ dân giàu các thành thị đi kinh tế mới, bắt giam quân cán chính VNCH vào các trại tù hẻo lánh xa xôi, thực hiện “cải tạo công thương nghiệp”… để cướp đất, cướp nhà, cướp cơ sở kinh doanh, sản xuất. VC còn gây đủ khó khăn khốn đốn cho cuộc sống dân miền Nam, khiến hàng triệu người phải tìm cách vượt biên, bỏ lại nhà cửa. Phần lớn ruộng đất và cơ sở của các tôn giáo cũng bị tước đoạt. Sau đó, VC hiến định quyền sở hữu đất đai của đảng, bằng cách đưa ra nguyên tắc mỵ dân mơ hồ: Đất đai, rừng núi, tài nguyên thiên nhiên…. đều thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, tập thể và cá nhân chỉ được quyền sử dụng (Hiến pháp 1980 điều 19+20 và HP 1992 điều 17+18). HP 2013 điều 50 thì còn thêm: nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhằm củng cố điều 5 Luật Đất đai 2003. 

Chỉ cần chừng đó là đã biến tất cả mọi ai cư trú trên mảnh đất hình chữ S trở nên người thuê đất của đảng và có thể bị tống cổ khỏi nơi cư trú bất cứ lúc nào, để nhà nước lấy đất làm việc riêng. Và cũng kể từ đó, xuất hiện tại CHXHCN Việt Nam một “giai cấp” còn thảm hại hơn cả giai cấp vô sản mà chế độ CS luôn đề cập, “giai cấp Dân Oan” với quân số hàng chục triệu người. Sẽ vang rền trong lịch sử những cái tên như Thủ Thiêm (Sài Gòn), Cồn Dầu (Đà Nẵng), Tiên Lãng (Hải Phòng), Tân Rai, Nhân Cơ (Tây Nguyên), Dương Nội, Đồng Tâm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên), Vụ Bản (Nam Định)… Ở những nơi đó, ngoài vàng chảy vào túi đảng, đảng viên, nhà nước, quan chức nhà nước, đại gia đỏ, công ty quốc doanh đỏ… còn là nước mắt và máu của dân oan, vì bị cán bộ, công an, côn đồ, bảo vệ, có khi cả bộ đội, dàn quân đánh như đánh địch, san bằng nhà cửa, tiêu diệt hoa màu, quật ủi mồ mả, và kết thúc kiểu trừ hậu hoạn là bắt bớ bỏ tù dài hạn (để “chúng” hết khả năng và ý chí để đòi lại tài sản). Có cần thì tử hình như anh Đặng Văn Hiến ở Đak Nông. 

Nhưng đâu chỉ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tư nhân. Đến cả rừng núi bao la, biển cả ngút ngàn, hang động kỳ ảo, lăng tẩm vua quan, duyên hải xinh đẹp, tài nguyên quốc gia phong phú như Fansipan, Hạ Long, Sầm Sơn, Vũng Áng, Phong Nha, Kẻ Bàng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, Lăng Cô, Hải Vân, Mỹ Khê, Hòa Quý, Hòa Xuân, Bà Nà, Sơn Trà, Cửa Đại, Lý Sơn, Nha Trang, Tây Nguyên, Phú Quốc… cũng đã bị xẻ thịt, bị phá nát cảnh quan, bị biến thành resort cao cấp, sân golf quý tộc, cũng đã đuổi hết cư dân sinh sống hay bắt họ thành nô lệ phục dịch, cũng giao hết cho công ty nọ, tập đoàn kia, trong đó không ít là của người Tàu, cũng đã trở thành tài sản kinh doanh riêng cho những nhóm lợi ích cá mập. 

Nhiều bãi biển được cả thế giới công nhận thuộc loại đẹp nhất hành tinh như Mỹ Khê (Đà Nẵng), Cửa Đại (Hội An), Bãi Dài, Bãi Sao (Phú Quốc), nơi mà trước đây người dân có thể thoải mái bơi lội hay tự do đánh bắt hải sản thì giờ đây, phần lớn diện tích nói trên đã được dành cho các đại tập đoàn khai thác bỏ túi. Quần thể công trình du lịch văn hoá dịch vụ cáp treo, vui chơi giải trí, khách sạn Fansipan Sapa đã phá nát sinh cảnh vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn, chiếm nơi ăn chốn ở của không biết bao nhiêu cư dân bản địa. Dự án Công viên đại dương Hạ Long xâm phạm, san lấp hàng trăm hecta mặt biển thuộc vùng đệm của di sản thiên nhiên thế giới độc đáo và bậc nhất này. Nhiều cánh rừng phòng hộ ven biển Sầm Sơn đã bị xóa sổ để xây dựng sân golf, resort, người dân xunh quanh đó chẳng còn được cào ngao đánh cá, không biết bao nhiêu gia đình sống nhờ nghề bám biển từ nhiều thế hệ bị cướp kế sinh nhai. Hoà Quý, Hoà Xuân ở Đà Nẵng được gọi là khu du lịch sinh thái nhưng thực chất không phải. Người ta đã đuổi hết dân đi, quy hoạch thành khu đô thị rồi bán nền lại với giá từ 50 đến 100 triệu đồng mỗi mét vuông trong khi chỉ đền bù cho dân khoảng 15 ngàn đồng/m2, mức giá nông nghiệp rẻ mạt. 

Chưa bao giờ, đảng bộ và nhà cầm quyền VC nhiều nơi, nhiều cấp lại quyết liệt, hung hăng thu (cướp) đất của dân trao cho các tập đoàn địa ốc như Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Đại Quang Minh, FLC một cách dễ dãi và dã man đến thế. Điều đó dễ hiểu, vì các cơ quan, quan chức liên can từ trung ương đến địa phương đều được ăn chia trong các dự án của những tập đoàn này, phần lớn là được tặng hay bán rẻ biệt thự. Chẳng hạn trong dự án Ecopark (Văn Giang, Hưng Yên) thu hồi của dân 500 ha, 7 cán bộ ở ban tổ chức trung ương đảng được “nhượng” 7 biệt thự diện tích từ 500-1.200 m2/biệt thự với giá “bèo” 2 triệu đ/m2 trong khi giá một m2 căn hộ cao tầng ở đây là từ 26-32 triệu/m2. Theo dân Văn Giang thì ở dự án Ecopark có ít nhất 150 biệt thự “ngoại giao”dành cho hệ thống quan chức từ trung ương tới địa phương trong đó đủ thành phần lãnh đạo đảng, chính quyền, công an, tài nguyên môi trường, địa chính… Ở dự án Vinhome của đại gia Phạm Nhật Vượng tại quận Long Biên (Hà Nội), bà con phường Phúc Đồng cũng kể vanh vách những biệt thự, căn hộ “ngoại giao”của ông nọ, bà kia ở thành phố, trung ương phường, quận,… Mới đây, dư luận đã rùm beng về chuyện đại tá giám đốc Công an Đà Nẵng Lê Văn Tam được Vũ “nhôm” tặng cho một biệt phủ 100 tỷ tại Làng Châu âu (Eurovillage) ở quận Sơn Trà, Đà Nẵng. 

Và cũng chưa bao giờ, những tập đoàn cá địa ốc như Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Đại Quang Minh, FLC… lại giàu nhanh đến thế. Giàu một cách cực kỳ dễ dãi và tàn độc trên đất đai và thân xác đồng bào. Đây là những tên tư bản cá mập đúng nghĩa mà Karl Marx (vừa được nhắc nhớ 200 năm sinh nhật) đã mô tả trong Tư bản luận: “…Tư bản ghét cay, ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận hay có quá ít lợi nhuận chẳng khác gì giới tự nhiên ghê sợ chân không. Lợi nhuận mà thích đáng thì tư bản trở thành can đảm; Lợi nhuận mà được đảm bảo 10% thì người ta có thể dùng được tư bản khắp nơi; Bảo đảm được 20% thì nó hăng máu lên; Bảo đảm được 50% thì nó không biết sợ là gì; Bảo đảm được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ loài người; Bảo đảm được lợi nhuận 300% thì nó chẳng từ mọi tội ác nào mà không dám phạm, thậm chí có bị treo cổ nó cũng không sợ…”. Trong thực tế, những tên tư bản cá mập này đã không hề có và không thể có trong thế giới tư bản giẫy chết, nhưng chỉ có và có nhiều trong thế giới thiên đường cộng sản, từ Trung Quốc cho tới Việt Nam. Hãy lấy Thủ Thiêm, một ví dụ đang nổi bật trong công luận. 

Những hậu duệ vốn học tập chủ thuyết Mác-xít để xây dựng một mô hình xã hội “có nhân dân làm chủ”, “của dân, do dân và vì dân”, lại “tài giỏi” gấp trăm ngàn lần về khả năng bóc lột các “ông chủ đất nước” và có khả năng tạo ra các mức “lợi nhuận đảm bảo” lên tới 20000 % như FLC, Đại Quang Minh, Vingroup, Sungroup, Bimgroup, Vạn Thịnh Phát, Tân Thuận… ở Thủ Thiêm. Mức “lợi nhuận tư bản” từ việc ăn cướp, khi chỉ bỏ ra 1 đồng đền bù rẻ mạt, bán lại với giá gấp hàng ngàn, hàng vạn lần, chắc chắn chỉ có trong chế độ tư bản nhà nước mà thực chất là chế độ tư bản thân tộc cho đảng viên và tay chân của đảng. Tại buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội thành Hồ sáng ngày 09 tháng 05 mới đây, bà Lê Thị Bạch Tuyết cho biết vừa liên hệ với công ty Đại Quang Minh, phòng kinh doanh dự án Khu đô thị Sala, tại khu vực nhà cũ của mình, để hỏi giá. Họ nói 350 triệu đồng/m2 và đã hết hàng, đến năm sau mới có một số căn hộ bán giá 23 tỷ, đang khi nhà cầm quyền thời ba tên cướp Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua và Tất Thành Cang đã chỉ đền bù cho bà (sở hữu 3000m2) 18 triệu đồng/m2. Bà Nguyễn Ngọc Thanh có căn nhà 59m2 trên đường Lương Định Của, dành dụm gần 50 lượng vàng mới mua nổi, nhưng khi giải tỏa chỉ được đền bù 94 triệu đồng, phải đóng thêm hơn 800 triệu mới mua được một căn tái định cư…

Đó là chưa kể tập đoàn mafia liên minh này (từ trung ương tới địa phương) đã cùng nhau đồng loạt tiêu hủy bản đồ nguyên thủy được thủ tướng Võ Văn Kiệt phê chuẩn năm 1996, làm lại một bản đồ mới, thu lố thêm đất ngoài quy hoạch (vốn được quyết định là 500 ha) và biến 150 ha đất tái định cư thành đất dự án xây dựng đô thị, đẩy gần 15 ngàn hộ dân Thủ Thiêm (đa phần nghèo khổ) ra khỏi nơi sinh cơ lập nghiệp từ bao đời. Không ít người đã bị đánh đập, bỏ tù vì chống việc cưỡng chế, vì phản đối lối đền bù bố thí, kiểu giết dần mòn. Không ít gia đình đã tan đàn xẻ nghé vì miệt mài khiếu kiện trong tuyệt vọng mấy chục năm trời. Hàng tấn đơn khiếu kiện đã bị vứt vào sọt rác. Hầu hết mọi cơ sở văn hóa tôn giáo đều bị san bằng, trong đó đặc biệt có nhà thờ của Hội thánh Tin lành Mennonite, chùa Liên Trì của Giáo hội Phật giáo Thống nhất. Giáo xứ Thủ Thiêm với dân số 2000 người bị đuổi chỉ còn 500 mạng. Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm với tu viện và 3 cơ sở giáo dục thì cũng sống với thanh gươm Damocles do Nguyễn Thiện Nhân (bí thư) và Nguyễn Thành Phong (chủ tịch thành Hồ) treo trên đầu, chẳng biết bị đánh úp và san bằng lúc nào đây. 

88 năm kể từ ngày thành lập đảng CSVN, những tưởng, “thành tựu cướp bóc vĩ đại” đã biến những ông bà thiến heo, cai đồn điền, bần cùng, vô sản, sát nhân và lừa đảo năm xưa trở thành những nhà tư bản đỏ giàu có ức vạn, quyền lực che kín “càn khôn” hôm nay sẽ bớt thói tham lam đôi chút để cho dân tình được làm ăn yên ổn. Nhưng đó là một nhận định sai lầm. Những cuộc tước đoạt tài sản người dân, vơ vét tài nguyên đất nước, phá hủy di sản văn hóa, đàn áp tôn giáo tín ngưỡng trên qui mô toàn quốc với mức độ khốc liệt như hiện nay ở xã hội Việt Nam thực ra là sự tiếp nối các cuộc “cải cách ruộng đất” chưa bao giờ kết thúc của VC. Bởi lẽ ám ảnh về quyền lực và về đất đai chưa bao giờ mất đi trong lòng họ. 

Ban Biên Tập –  Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 291 (15-05-2018)