NGÀY LỊCH SỬ

Xuân Sơn Võ

Hôm nay VTV đã khẳng định, ngày mai, Luật an ninh mạng sẽ được thông qua. Cả hệ thống truyền thông đều diễn trò chơi chữ, họ gọi những cuộc biểu tình là tụ tập đông người. Thì ra, thu giá, tụ nước… chính là bản chất của họ.

Theo cách những gì hệ thống truyền thông nhà nước thể hiện hôm nay, sẽ khó có sự phục thiện nào từ chính quyền. Những chiêu trò giảm thời hạn cho thuê đất xuống dưới 99 năm, hoặc tạm ngưng thông qua luật đặc khu, chẳng qua chỉ là chiêu trò để thông qua luật an ninh mạng, nhằm bịt miệng người dân.

Càng ngày, chính quyền càng chọn con đường đi của nhà cầm quyền Trung quốc. Hãy nhìn những gì mà người Trung quốc lục địa, sản phẩm của chế độ XHCN mang màu sắc Trung quốc, đang thể hiện ở khắp nơi, tại Việt nam, tại bất cứ nước nào mà họ đến, chúng ta thấy con đường đi ấy dẫn đến đâu.

Đó là một xã hội mà sự phát triển của vật chất tỉ lệ nghịch với sự nhân bản và luôn hướng đến sự hủy hoại những giá trị văn minh của nhân loại. Ở đó, khi người ta càng có nhiều tiền bạc, vật chất, người ta càng bộc lộ sự ích kỉ, dã man, vô nhân đạo. Ở đó, mọi giá trị về tinh thần đều phải qui phục trước các giá trị vật chất.

Ngày mai, 12/06/2018, ngày đánh dấu sự ô nhục của dân tộc, khi luật an ninh mạng được thông qua. Kể từ ngày mai, đất nước này sẽ trở thành một đất nước mà ở đó cường quyền được pháp luật bảo trợ để bịt miệng bạn, bắt bạn phải nói điều họ muốn, và chỉ được nói điều họ muốn. Tôi tin rằng ngày mai, họ sẽ sớm công nhận hiệu lực của luật an ninh mạng.

Và rồi, luật đặc khu, và hàng loạt các luật khác, kể cả luật biểu tình, sẽ được thông qua (tối nay VTV thông báo là tháng 10 sẽ thông qua luật đặc khu). Tất cả những lo lắng của chúng ta về sự bành trướng của Trung quốc sẽ thành hiện thực. Khi ấy, có thể chúng ta sẽ chỉ được phép, thậm chí là bắt buộc phải đi biểu tình, để ca ngợi đảng, ca ngợi nhà cầm quyền Trung quốc.

Chỉ còn 10 ngày nữa là đến ngày Nhà báo Việt nam. Với những gì các báo thể hiện ngày hôm nay, tôi nghĩ nên đổi ngày Nhà báo Việt nam sang ngày 11/06 thì phản ánh đúng thực chất của báo chí Việt nam hơn.

Chê dân

Chê dân

FB Nguyễn Thông

Ảnh: internet

Tại sao cứ để dân phải phẫn nộ rồi mới giở giọng lên án, chê bai họ quá khích, bạo lực, vi phạm pháp luật, bị lợi dụng…, rằng “lòng yêu nước cũng cần phải tỉnh táo”, “hãy yêu nước một cách sáng suốt”, “đừng rơi vào bẫy của thế lực thù địch”.

Sáng nay tôi đọc được trên báo chí quốc doanh rất nhiều bài lên giọng dạy dỗ nhân dân, chê dân mà tác giả không dám chường mặt ra, chỉ ký những cái tên như kiểu Thiện Tâm, Thiện Văn, Dân Ý, Trung Thành; có cả vài bài trên mấy tờ báo bạo lực thì giở thói đe nẹt, dọa dẫm này nọ…

Tất cả đều nói lên rằng họ vẫn coi dân chả ra gì, mặc dù đã phần nào ngầm biết ngại sức mạnh của dân.

Đến thời buổi 4.0, 5.0 như vầy mà vẫn giọng điệu cũ dạy dỗ, dọa dân, vẫn đánh giá dân thuộc hạng ngu đục dễ bị lợi dụng, thật không hiểu nổi.

Cuộc xuống đường phản đối luật đặc khu xảy ra vào ngày hôm qua (10.6.2018), về thực chất là cuộc biểu dương sức mạnh của dân, nhằm mở mắt đảng, chính phủ, quốc hội để nhìn thấy những nguy cơ mà tiền nhân An Dương Vương đã mắc phải, “giặc ngồi sau lưng mà nhà vua không biết”. Xưa vua không biết, không có ai chỉ cho vua, dẫn tới thân bại danh liệt, mất nước; nay vua không biết thì dân chỉ cho mà biết, còn hờn trách dân nỗi gì.

Họ vẫn đang rêu rao giọng điệu dân không biết điều, chính phủ đã trình quốc hội, đề nghị lùi việc thông qua dự luật đặc khu tới kỳ họp sau, vậy mà vẫn cố tình đi biểu tình làm loạn. Chỗ này cần phải nói rõ rằng, thời gian qua, nếu không có những lên tiếng quyết liệt của dân chúng, nhất là các cựu chiến binh vào sinh ra tử, thì gần 500 vị nghị gật đã thông qua cái luật ấy rồi. Nay dân tiếp tục phản đối bởi họ không chấp nhận sự câu giờ, lùi này lùi nọ, mưu mẹo tiểu nhân. Bỏ thì bỏ hẳn bởi sự tai hại của luật đó, người bình thường ai cũng biết, chỉ những kẻ đầu óc ngớ ngẩn mới đòi giữ nó lại.

Nếu vừa rồi, chính phủ đề nghị bỏ hẳn, hoặc quốc hội ra quyết định biểu quyết bác bỏ luật đặc khu, tôi cam đoan vẫn có cuộc xuống đường, thậm chí còn rầm rộ mạnh mẽ hơn ngày hôm qua, nhưng đó là cuộc xuống đường ủng hộ, cùng chung ý chí giữa nhà cai trị và dân chúng.

Đừng nghĩ nắm truyền thông trong tay thì muốn nói thế nào cũng được. Thời nay khác rồi.

Ba đặc khu, ba đại hiểm họa

Ba đặc khu, ba đại hiểm họa  (VOA)


Vị trí Bắc Vân Phong trên bản đồ. Ảnh: Lê Anh Hùng
Vị trí Bắc Vân Phong trên bản đồ. Ảnh: Lê Anh Hùng

Suốt gần một tháng nay, Dự luật Đơn vị Hành chính – Kinh tế Đặc biệt đã trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận người Việt trong và ngoài nước. Chưa bao giờ một dự luật được chính phủ trình ra Quốc hội lại khiến công chúng Việt Nam phản đối mạnh mẽ và rộng khắp đến vậy.

Sự kiện này làm người ta nhớ lại bầu không khí phản đối trong các tầng lớp nhân dân đối với dự án Bauxite Tây Nguyên 10 năm trước. Và giống như lần trước, lý do khiến công chúng bày tỏ sự lo ngại đặc biệt về ảnh hưởng của dự luật đối với an ninh quốc gia và tương lai giống nòi cũng chính là Trung Quốc, quốc gia láng giềng phương bắc to xác và xấu bụng của Việt Nam.

Đặc khu kinh tế của Việt Nam, mối quan tâm của Trung Quốc

Theo Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Quảng Ninh, ngày 20/3/2014, tại thành phố Hạ Long, Ban Chỉ đạo Tổ chức Hội thảo quốc tế tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và Trung tâm Nghiên cứu Đặc khu Kinh tế Trung Quốc thuộc Đại học Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) đã tổ chức cuộc hội thảo quốc tế mang tên “Phát triển Đặc khu kinh tế – Kinh nghiệm và Cơ hội”. Tham dự cuộc hội thảo, ngoài một số “yếu nhân” từ Hà Nội do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn đầu, còn có lãnh đạo các tỉnh Quảng Ninh (nơi có Vân Đồn), Khánh Hòa (nơi có Bắc Vân Phong), Kiên Giang (nơi có Phú Quốc) và Lâm Đồng.

Trước đó 7 tháng, ngày 21/8/2013, thường trực Tỉnh uỷ Quảng Ninh đã có buổi làm việc với đoàn chuyên gia Trung tâm nghiên cứu đặc khu kinh tế Trung Quốc thuộc Trường Đại học Thâm Quyến để chuẩn bị cho cuộc hội thảo. Phía Trung Quốc thậm chí còn “sát sao” đến mức thảo luận với phía Việt Nam về cả kinh phí tổ chức hội thảo. Hai ngày sau, ngày 23/8/2013, với sự hiện diện của Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh Phạm Minh Chính, tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm Nghiên cứu Đặc khu Kinh tế Trung Quốc thuộc Trường Đại học Thâm Quyến đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác tổ chức cuộc hội thảo.

Tháng 8/2012, sau khi đề nghị với Trung ương để phát triển Móng Cái, Vân Đồn thành đặc khu kinh tế, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh Phạm Minh Chính (nay là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Phó ban Chỉ đạo Quốc gia về Xây dựng các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt) thậm chí còn đề xuất cho thuê đất đặc khu với thời hạn lên tới… 120 năm.

Sự hiện diện của lãnh đạo Khánh Hoà và Kiên Giang tại cuộc hội thảo “Phát triển Đặc khu kinh tế – Kinh nghiệm và Cơ hội” diễn ra ở Hạ Long cho thấy Bắc Kinh không chỉ quan tâm đến Vân Đồn, mà cả Bắc Vân Phong và Phú Quốc. “Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán.” Song cái sự “tính toán” của họ lại chẳng đem đến điều gì tốt lành cho Việt Nam ngoài những hiểm hoạ “đặc sắc Trung Quốc”.

Hiểm hoạ “đặc khu kinh tế Vân Đồn”

Bài học Crưm của Ukraina hoàn toàn có thể lặp lại với Việt Nam trong trường hợp Vân Đồn trở thành đặc khu kinh tế. Vân Đồn chỉ cách Trung Quốc vài chục km, và làn sóng người Trung Quốc di cư sang đây rồi sinh đẻ con đàn cháu đống hết thế này đến thế hệ khác là một viễn cảnh mà ai cũng có thể nhìn thấy.

Đến thời điểm nào đó, khi số lượng người Hoa tại Vân Đồn đông hơn cả người Việt, họ có thể đưa ra yêu sách ly khai hòng tạo cớ cho Bắc Kinh can thiệp quân sự.

Chưa hết, khi chiến tranh nổ ra, nếu kiểm soát được Vân Đồn, nơi có một sân bay quốc tế đang được Sun Group xây dựng, kết hợp với sân bay quân sự trên đảo Hải Nam, Bắc Kinh sẽ dễ dàng khống chế được toàn bộ vùng trời vùng biển Đông Bắc Việt Nam.

Hiểm hoạ “đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong”

Vân Phong là khu vực có địa thế “núi thò chân ra biển”, tức là một bên là núi, một bên là biển. Quốc lộ 1A là tuyến đường duy nhất nối liền giao thông Bắc – Nam chạy qua đây. Vì thế, khi hữu sự, chỉ cần một lực lượng tại chỗ vừa phải là đủ sức khiến giao thông Bắc – Nam bị chia cắt, tê liệt.

Từ Bắc Vân Phong chạy theo quốc lộ 26 chỉ chừng 130km là đã tới Tây Nguyên, nóc nhà Đông Dương, nơi mà các nhà quân sự từng ví von là ai làm chủ được nó thì sẽ làm chủ được cả Đông Dương. Tại đây, một loạt “quả bom bùn đỏ” của hai dự án khai thác Bauxite ở Nhân Cơ (Đak Nông) và Tân Rai (Lâm Đồng) đều do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu đang sẵn sàng chờ Bắc Kinh kích hoạt. Cả vùng Đông Nam Bộ có thể bị nhấn chìm trong biển bùn đỏ nếu các quả bom này được kích nổ.

Cách Tây Nguyên không xa là Campuchia, nơi đội quân nằm vùng của Trung Quốc núp dưới vỏ bọc các “dự án kinh tế” đã túc trực và áp sát biên giới Việt Nam từ lâu.

Vịnh Vân Phong là vùng biển có độ sâu trung bình từ 20-27m, đủ sức đón mọi loại tàu bè lớn nhỏ. Đặc biệt, nhờ sự che chắn của các đảo và bán đảo, nên đây là một vịnh kín gió, có giá trị chẳng khác gì một Cam Ranh thứ hai. Diện tích mặt biển vịnh Vân Phong thậm chí còn lớn gấp 3 lần vịnh Cam Ranh.

Khi hữu sự, đội quân nằm vùng tại Bắc Vân Phong sẽ kết hợp với lực lượng từ ngoài biển ồ ạt đánh vào, lực lượng bên kia biên giới thần tốc đánh sang, Việt Nam sẽ bị chia cắt và mất kiểm soát từ Tây Nguyên xuống Vân Phong.

Kiểm soát được vịnh Vân Phong, Trung Quốc có thể uy hiếp được tàu bè ra vào vịnh Cam Ranh (“bảo bối” lợi hại nhất của Việt Nam trong chiến lược bảo vệ Biển Đông và chỉ cách Cam Ranh chừng 65km), đồng thời đe doạ và vô hiệu hoá các cơ sở quân sự của Việt Nam và đồng minh tại Cam Ranh.

Hiểm họa “đặc khu kinh tế Phú Quốc”

Không ít người cho rằng trong 3 đặc khu kinh tế tương lai thì Vân Đồn bất an nhất vì gần Trung Quốc nhất (chỉ chừng 100km) và Phú Quốc an toàn nhất, bởi nó cách xa Trung Quốc hơn cả.

Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi Phú Quốc cách bờ biển Kiên Giang 46km thì nó lại chỉ cách bờ biển Campuchia vỏn vẹn 26km. Từ năm 2016, Phnom Penh đã cho Trung Quốc thuê 20% chiều dài bờ biển (90km) trong 99 năm để xây dựng căn cứ quân sự. Theo ông Geoff Wade, một chuyên gia về châu Á từ Đại học Quốc gia Australia, cảng nước sâu mà Bắc Kinh đang xây dựng tại Campuchia có thể chứa hầu hết các tàu khu trục và chiến hạm khác của hải quân Trung Quốc.

Khi thời cơ đến, bên cạnh lựa chọn can thiệp quân sự để ủng hộ “yêu sách ly khai” của người Hoa ở Phú Quốc, Bắc Kinh còn một lựa chọn nữa là núp bóng quân đội Campuchia đánh chiếm hòn đảo để đòi chủ quyền cho Phnompenh.

Lúc này, sân bay Vân Đồn và sân bay Hải Nam sẽ giúp Trung Quốc khống chế toàn bộ vùng trời vùng biển Đông Bắc Việt Nam, còn sân bay Phú Quốc cùng sân bay Hải Nam, sân bay Phú Lâm (Hoàng Sa) và sân bay Gạc Ma (Trường Sa) sẽ giúp họ kiểm soát nốt vùng trời vùng biển còn lại của Việt Nam.

Ngày 15/6 tới đây, Quốc hội Việt Nam sẽ bấm nút hoặc thông qua hoặc bác bỏ Luật Đặc khu. Tương lai Việt Nam đang thực sự đứng trước một thời khắc vô cùng hệ trọng.

NHÂN DÂN ĐÃ ĐIỂM MẶT VÀ LỊCH SỬ SẼ GHI TÊN NHỮNG TỘI ĐỒ DÂNG GIANG SƠN VIỆT NAM CHO TÀU CỘNG VÀ ĐẨY DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO BẮC THUỘC

 NHÂN DÂN ĐÃ ĐIỂM MẶT VÀ LỊCH SỬ SẼ GHI TÊN NHỮNG TỘI ĐỒ DÂNG GIANG SƠN VIỆT NAM CHO TÀU CỘNG VÀ ĐẨY DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO BẮC THUỘC

Phạm Đình Trọng

1988. Với lệnh trói tay chiến sĩ Việt Nam giữ đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa không được nổ súng chống trả quân Tàu Cộng tràn lên cướp đảo, Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhà nước cộng sản Việt Nam đã dâng Gạc Ma cho Tàu Cộng và biến 64 chiến sĩ Việt Nam giữ Gạc Ma thành tấm bia sống cho lính Tàu Cộng thảm sát.

1990. Nguyễn Văn Linh, Đảng trưởng cộng sản Việt Nam dẫn đầu đoàn hàng thần sang Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Tàu Cộng kí cam kết Thành Đô chấp nhận sự bảo kê của Tàu Cộng cho sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bão táp của thời đại đang cuồn cuộn nổi lên quét sạch bãi rác cộng sản của lịch sử khỏi đời sống chính trị loài người. Cam kết Thành Đô đã mở ra một thời Bắc thuộc mới đau đớn của dân tộc và ô nhục của lịch sử Việt Nam.

2001. Nông Đức Mạnh, Đảng trưởng cộng sản Việt Nam kí Tuyên bố chung với đồng cấp Tàu Cộng Giang Trạch Dân, cam kết đón Tàu Cộng vào khai thác bô xít Tây Nguyên.2009, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nhà nước cộng sản Việt Nam tuyên bố: Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam. Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đã rước hàng sư đoàn quân Tàu Cộng mặc bộ đồ công nhân trá hình là những lao động khai thác bô xít vào chiếm lĩnh Tây Nguyên, biến điểm cao chiến lược Tây Nguyên thành đất nhượng cho Tàu Cộng, người Việt không được lai vãng đến.

2006. Là Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng kí quyết định thành lập khu kinh tế Vũng Áng. 2008, là Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng, Võ Kim Cự đã kí vượt thẩm quyền cấp phép cho Công ty Hưng Nghiệp Formosa đầu tư dự án Nhà máy liên hợp luyện gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương với thời hạn 70 năm. Hưng nghiệp Formosa thương hiệu là doanh nghiệp Tàu Đài Loan nhưng tiền đầu tư vào Vũng Áng, công nghệ và con người đổ bộ vào Vũng Áng là Tàu đại lục. Sau bức tường sừng sững, Vũng Áng đã trở thành lãnh địa riêng của Tàu Cộng, thành căn cứ quân sự, thành pháo đài cắt đôi đất, cắt đôi biển Việt Nam.

Xả thải giết chết sự sống của biển Việt Nam, Formosa là thảm họa khủng khiếp, lớn lao, lâu dài của sự sống trên đất nước Việt Nam. Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Võ Kim Cự là những tội đồ dâng Vũng Ánh cho Tàu Cộng cũng là tội đồ giết chết sự sống Việt Nam.

2018. Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc do Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Chí Dũng chủ trì soạn thảo được trình ra Quốc hội. Toàn bộ nội dung luật, cách diễn đạt của luật cho thấy luật chỉ hướng về Tàu Cộng, luật làm ra chỉ để dành ba vùng đất yếu huyệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc trên ba miền đất nước Việt Nam dâng cho Tàu Cộng trong 99 năm. Để giấu giếm ý đồ đó, trong từ ngữ, luật né tránh tuyệt đối nhắc đến tên Tàu Cộng và tên Tàu Cộng được thay bằng “nước chung đường biên giới với Quảng Ninh”.

Qua chỉ lệnh của Chủ tịch Quốc hội Thị Kim Ngân với Ủy ban Thường vụ Quốc hội:. “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật”, cho thấy luật mở ba đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc để đón Tàu Cộng vào Việt Nam là ấp ủ, là hoài thai từ Bộ Chính trị mà đứng đầu là Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng và luật đã được Đảng trưởng cùng bộ Chính trị xét duyệt, xác quyết rồi chỉ còn thủ tục đưa ra Quốc hội để hợp thức hóa mà thôi.

Dù kì họp Quốc hội lần này hay kì họp Quốc hội lần sau bấm nút cho ra đời luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc, xẻ đất, xẻ biển, xẻ thịt cơ thể Tổ quốc Việt Nam nhượng cho Tàu Cộng 99 năm, 70 năm hay 50 năm, đánh đổi lấy sự bảo hộ của Tàu Cộng cho sự tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam thì Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Chí Dũng cùng những ông nghị, bà nghị cộng sản bấm nút chấp thuận dự luật này đều là những tội đồ ô nhục của giống nòi Việt Nam, những tội đồ kế tiếp sau Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Võ Kim Cự. Tội đồ bán nước!

P.Đ.T.

10 lý do cần phản đối dự Luật An ninh mạng

10 lý do cần phản đối dự Luật An ninh mạng

Vì nếu Dự Luật này được thông qua thành Luật:

1/ Quyền tự do ngôn luận của công dân trên không gian mạng bị xâm phạm tuỳ tiện.

2/ Quyền riêng tư về dữ liệu cá nhân bị một lực lượng công quyền chiếm đoạt với những lý do mập mờ.

3/Quyền tiếp cận, truy cập Internet, một quyền trở nên phổ quát trên thế giới, bị cản trở, gây khó khăn ở Việt nam.

4/Chi phí khổng lồ của nhà nước, xã hội, doanh nghiệp cho bộ máy “chuyên trách an ninh mạng” lẫn thực thi, đáp ứng điều kiện của Luật này. Tốc độ phát triển kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng (có số liệu giảm 1,7 % GDP).

5/ Bóp nghẹt giới khởi nghiệp sáng tạo, hạn chế phát triển các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin.

6/ Đẩy các tập đoàn công nghệ thông tin quốc tế của Phương Tây (như Facebook, Google ) ra khỏi thị trường và không gian mạng Việt nam (do không chấp nhận các điều kiện theo Luật này) và tạo điều kiện cho các tập đoàn CNTT của Tàu vào thống trị Việt nam.

7/ Xuất hiện một “lực lượng chuyên trách” có thể không cần phán quyết của Toà án hay phê chuẩn của Viện kiểm sát được áp dụng các biện pháp “cưỡng chế” đối với cá nhân, doanh nghiệp, can thiệp vào các quan hệ dân sự, kinh tế. Nhà nước pháp quyền (dù chỉ danh nghĩa) không còn giá trị.

8/ Luật này phá vỡ những cam kết quốc tế của Việt nam, khiến giới đầu tư nước ngoài (chắc ngoài gốc Tàu) giảm sút hoặc rút vốn đầu tư ở Việt nam (có số liệu xác định giảm 3,1% đầu tư nước ngoài), các nước liên quan sẽ áp dụng các biện pháp đáp trả tương xứng, kinh tế Việt nam khó “cất cánh”.

9/ Do việc phê phán, phản biện trên mạng xã hội và Internet bị bóp nghẹt theo luật này, tham nhũng, quan liêu, chính sách sai lầm sẽ có cơ hội gia tăng mà không bị phản ứng, bóc trần. Tiến bộ xã hội bị cản trở, đẩy lùi.

10/ Do không có cơ chế giám sát chặt chẽ, “lực lượng chuyên trách về an ninh mạng” có thể lạm quyền, phục vụ lợi ích nhóm, cấu kết với những tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước hình thành một hệ thống quyền lực đen khống chế nhà nước, xã hội và nền kinh tế. Những vụ việc như tướng Hoá, tướng Vĩnh và C50 (cục cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao) có thể lặp lại, ở mức độ rộng lớn hơn, thậm chí không thể “phát hiện, xử lý” được do nhóm lợi ích này biết cách rút kinh nghiệm, biết cách liên kết tinh vi.

Với tư cách chuyên gia luật có kinh nghiệm trong những lĩnh vực liên quan, đã nghiên cứu Dự thảo Luật An Ninh Mạng, tôi sẵn sàng tranh luận với những người có quan điểm phản bác những lý do trên.

Tôi đồng ý với nhiều chuyên gia trong và nước ngoài, Việt nam cần hoãn thông qua Luật An Ninh Mạng. Tôi hy vọng, các FBER, vì chính quyền và lợi ích của mình, hãy lên tiếng phản đối Dự Luật này. Nếu các bạn đồng ý với tôi, hãy chia sẻ bài này cho nhiều người cùng biết và phản đối.

Thì Ra Đây Là Lý Do

httpv://www.youtube.com/watch?v=okXnfQJtxfc

Thì Ra Đây Là Lý Do Chúng Ta Phải Cho Trung Quốc Thuê Đất 99 Năm Làm 3 Đặc Khu Kinh Tế

httpv://www.youtube.com/watch?v=yEAXPUJykjQ

Cho Thuê Đất Đặc Khu 99 Năm: 3 Điều Kiện Nhất Định Phải Có Để Vẫn Phát Triển Mà Không Lo Mất Nước

Luật đặc khu: Đỉnh điểm của phẫn nộ toàn dân

Luật đặc khu: Đỉnh điểm của phẫn nộ toàn dân

Blog VOA

Bùi Tín 

Đất nước Việt Nam đang sống trong tình trạng biến động, sôi sục. Lãnh thổ của tổ quốc, chủ quyền của đất nước, nền độc lập của quốc gia đang bị thử thách lớn.

Sự kiên nhẫn của một dân tộc từng trải qua những thử thách ngàn cân treo sợi tóc lại bị đem ra thách thức một cách nghiêm trọng nhất.

Người dân bình thường, em học sinh bình thường cũng hiểu rõ rằng Luật Đặc khu hành chính – kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Bình Định) và Phú Quốc là mưu đồ bành trướng thâm hiểm nhất quán của Trung Cộng mà Bộ Chính trị đảng CSVN buộc phải « đem thịt dân mình nuôi lũ hổ đói » – Bành trướng phương Bắc.

Bao nhiêu điều dối trá, ngụy biện đều vô hiệu. Nào là ta đã có hàng trăm đặc khu kinh tế rải khắp, nay có thêm 3 cái, có là bao, sẽ thu lợi cực lớn. Thế giới họ có biết mấy đặc khu, mang lợi to lớn, là những tổ trứng Phượng Hoàng, phồn vinh thịnh vượng. 99 năm mới thật hấp dẫn các FDI lớn của thế giới, có giành riêng cho nước nào đâu!

Bà chủ tịch Quốc hội leo lẻo: « Đây là chủ trương của Bộ Chính trị, không thể không làm. » Vậy đây là quốc hội của nhân dân hay đảng hội của đảng?

Ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thấy rõ « làn sóng phản đối khủng khiếp » nên hứa lắng nghe, sẽ điều chỉnh, có vẻ như chỉ sẽ điều chỉnh số năm 99 xuống thấp hơn, nhưng công luận lập tức trả lời: Phải từ bỏ hẳn dự Luật chứ không phải điều chỉnh, không thể cò kè ở những điểm như thế.

Vì ai cũng biết cả 3 vùng nói trên đều đã có chủ đầu tư khá sâu, toàn là đại gia tư bản đỏ người Việt thân Trung Quốc, nay họ cần những khoản vốn cực lớn mới.

Vài chục tỷ đôla để đầu tư thêm cho sòng bạc, nhà đỏ cao cấp, nơi nghỉ dưỡng cho cánh thượng lưu, sân gôn, vườn thú, bãi biển cho các đại quý tộc, nằm trong chiến lược kinh tế « một vành đai, một con đường » – one belt, one road – của Hoàng Đế CS Trung Hoa Tập Cận Bình.

Đây là lúc Bộ Chính trị bế tắc, ngân sách thâm thủng, tham nhũng là thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng, kinh tế lụn bại, nợ chồng chất, cố tìm ra một lối thoát hào nhoáng nhưng hoàn toàn mạo hiểm và liều lĩnh.

Họ tính rằng người dân ta hiền lành quá, dễ bảo quá, quốc hội lại nằm trọn trong tay đảng, khi gần 90% là đảng viên, phải tuân theo kỷ luật, chỉ thị của đảng, làm sao khác được.

Nhưng lại có một sự thật là sự chịu đựng cam chịu của người dân là có hạn, con sên bị xéo phải oằn lên, thế tận cùng tắc biến, uy tín của đảng đang ở mức thấp nhất, nhân dân bắt đầu nhận ra đảng không còn xứng đáng là lực lượng tiên phong soi đường chỉ lối, không còn là lực lượng chính đáng lãnh đạo, mất hoàn toàn tính chính danh – legitimacy – nay lại đổ thêm dầu vào lửa bằng dự Luật bán nước này, thách thức láo xuợc nhân dân là chủ thể duy nhất của đất nước.

Một văn kiện phản đối Luật đặc khu lập tức có 737 chữ ký, hôm sau lên 1382 chữ ký, nay lên đến 1591 người tham gia do mạng Bô-xit đề xướng, trong ngoài nước các tổ chức kêu gọi biểu tình ngày Chủ nhật 10/6 đòi hủy bỏ dự Luật, gần 30 đại biểu quốc hội nghi ngại, yêu cầu hõan việc bỏ phiếu để thảo luận sâu thêm, rộng rãi thêm, các nhà kinh tế Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà nghiên cứu Tương Lai, Nguyễn Trung, Hà Sỹ Phu, các nhà báo Phạm Đình Trọng, Bùi Minh Quốc, các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Thiều… đều lên tiếng phản đối mạnh mẽ đạo luật phản động này.

Ông tổng bí thư nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị đang đứng trước một đỉnh điểm phẫn nộ xung thiên của toàn dân. Ông tổng Trọng ốm yếu, uy tín suy giảm tệ hại do cầm đầu chủ trương cuộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh phi pháp chà đạp pháp luật quốc tế bằng bạo lực, gây căng thẳng với CHLB Đức, Tiệp, Slovaque, Ba Lan… và toàn Liên Âu, lại bị tố cáo là nhu nhược với Trung Cộng nhất trong tất cả 5 tổng bí thư sau sự kiện Thành Đô: Tệ hơn cả Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh.

Đã có yêu cầu của một số blogger nếu có bỏ phiếu về Luật đặc khu cần công khai không chỉ con số, tỷ lệ, mà công khai cả tên những ai tán thành, những ai chống, các nhà nhiếp ảnh cần chụp cho rõ, đầy đủ cảnh bỏ phiếu, vì sau này có thể có các phiên tòa xử bày lũ bán nước buôn dân cần đến để làm chứng cứ.

Cả nước sẽ chăm chú theo dõi cuộc bỏ phiếu này.

Để xem ông Tổng Trọng và Bộ Chính Trị có gan lỳ được trước ý chí và phẫn nộ xung thiên của nhân dân hay không?

Luật an ninh mạng để trị dân chứ không phòng giặc

Luật an ninh mạng để trị dân chứ không phòng giặc

Blog VOA

Trân Văn

Nếu không có gì thay đổi, cuối kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa này, các đại biểu sẽ bỏ phiếu, biến hai dự luật, một về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” (trước giờ vẫn được gọi tắt là Luật Đặc khu) và một về “an ninh mạng” thành luật.

Sự vô lý, các yếu tố đáng ngờ và những hiểm họa tiềm ẩn trong dự luật về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” đã khiến nhiều người quên dự luật về “An ninh mạng” vốn đáng ngại và đáng bàn không kém (1)

***

Từ khi máy vi tính và Internet trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của cả cá nhân lẫn sinh hoạt xã hội, tin tặc trở thành một vấn nạn trầm kha, đe dọa từ chính trị, kinh tế, tới an ninh, quốc phòng của tất cả các quốc gia.

Theo tính toán của các chuyên gia về bảo mật – an ninh mạng máy tính và Internet, năm 2016, tổn thất do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Nam vào khoảng 10.400 tỉ đồng.

Sang năm 2017, mức độ tổn thất tăng thêm chừng 15% nữa so với năm 2016. Trong năm 2017, tổng thiệt hại do tin tặc gây ra đối với máy tính và Internet tại Việt Namđược ước đoán là 12.300 tỉ đồng, tương đương 540 triệu Mỹ kim (1).

So với nhiều quốc gia khác, thiệt hại vật chất mà tin tặc gây ra cho Việt Nam không phải là lớn song hiểm họa tiềm ẩn từ tin tặc đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng thì lại đặc biệt đáng ngại.

Tháng 5 năm 2014, hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bị tin tặc đánh sập. Tháng 11 cùng năm, hàng chục ngàn modem của những người sử dụng dịch vụ Internet do Công ty FPT cung cấp tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình khiến họ không thể truy cập vào Internet.

Cũng trong năm 2014, ông Trần Quang Chiến, Giám đốc điều hành Security Daily, tiết lộ với báo giới rằng, có 30 trang web của các cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam bị tin tặc đoạt quyền điều hành trong cả tháng.

Tin tặc đánh sập hàng ngàn website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bày tỏ sự bất bình trước sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào thăm dò – khai thác dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Modem của hàng chục ngàn người sử dụng dịch vụ Internet tại Bình Dương bị tin tặc xâm nhập, thay đổi cấu hình, khiến họ không thể truy cập Internet vì Bình Dương là nơi bùng phát đợt biểu tình chống Trung Quốc và chuyển thành bạo động.

Lúc đầu, ông Chiến chỉ tiết lộ rằng, các cuộc tấn công – đánh sập website của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, các vụ xâm nhập – phá hoại modem, chiếm đoạt quyền điều hành hàng loạt website của chính phủ Việt Nam là do “tin tặc nước ngoài” gây ra.

Sau đó, cực chẳng đã, Security Daily phát cảnh báo chính thức rằng, tin tặc Trung Quốc (nhóm 1937cn và nhóm Sky-Eye) đứng phía sau tất cả những vụ tấn công, đánh sập, phá hoại, chiếm đoạt quyền điều hành ấy.

Chẳng phải chỉ có Security Daily đề cập đến nguy cơ máy tính và Internet Việt Nam bị tin tặc Trung Quốc khống chế.

Tháng 5 năm 2015, tại một cuộc hội thảo ở Hà Nội, ông Wias Issa, Chuyên viên cao cấp của FireEye – chuyên về bảo mật, an ninh máy tính và Internet, cảnh báo: APT30 đã theo dõi, xâm nhập các website, mạng máy tính tại Việt Nam ít nhất là 10 năm.

Theo FireEye, APT30 có tổng hành dinh tại Trung Quốc, suốt 10 năm, hạ tầng kỹ thuật không đổi, tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo ca, mục tiêu nhất quán (xâm nhập, thu thập các dữ liệu của nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm các máy tính của các chính phủ khác).

Không đủ bằng chứng để khẳng định APT30 của chính phủ Trung Quốc nhưng FireEye dựa vào các đặc điểm của APT30 như đã kể để nhấn mạnh phỏng đoán, APT30 được chính phủ nào đó tài trợ tài trợ đầy đủ để thực thi và hoàn thành nhiệm vụ.

2015 cũng là năm mà ThreatConnect và Defense Group (DGI) – hai hãng chuyên về bảo mật, an ninh máy tính Internet tại Hoa Kỳ, cho biết, tin tặc Trung Quốc đã gài mã độc vào những email, hình ảnh liên quan đến sự kiện Hải quân Thái Lan khống chế ngư dân Việt Nam để mở đường xâm nhập máy tính của nhiều người.

Tờ Wall Street Journal (WSJ) đã dựa trên kết quả điều tra này để tiếp tục cảnh báo về 78020 – bí số của một đơn vị tình báo được đặt dưới sự chỉ huy của Quân khu Thành Đô, phạm vi trách nhiệm bao gồm cả Tây Tạng, khu vực giáp giới Việt Nam, Miến Điện, Ấn.

Mark Stokes, một chuyên gia của Hoa Kỳ, bảo với WSJ rằng, 78020 chỉ là một trong hơn 20 đơn vị của quân đội Trung Quốc chuyện phân tích và khai thác sơ hở của các hệ thống mạng máy tính…

Riêng với Việt Nam, chỉ trong hai tháng 7 và 8 của năm 2015, có hơn 1.000 máy chủ và khoảng 2.500 trang web bị tấn công, trong số này có khoảng 20 trang web của hệ thống công quyền, 50 trang web của hệ thống giáo dục.

Khi loan báo những số liệu vừa đề cập, Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (Vncert), thuộc Bộ Thông tin – Truyền thông Việt Nam, xác nhận, thủ phạm gây ra tất cả những vụ tấn công vừa kể đều là tin tặc Trung Quốc.

Vào thời điểm đó, Vncert công khai than rằng, cơ quan này đã gửi nhiều cảnh báo cho những nơi có liên quan, đặc biệt là các cơ quan công quyền nhưng tất cả đều rất thờ ơ, cho dù chủ đích những cuộc tấn công ấy rõ ràng là đánh cắp những thông tin quan trọng.

Thờ ơ chỉ mới là một khía cạnh…

Năm 2014, Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam từng cảnh báo về một vấn nạn nan giải đối với an ninh máy tính và Internet tại Việt Nam: Gần như toàn bộ thiết bị mà các công ty viễn thông Việt Nam đang sử dụng là sản phẩm do hai công ty Huawei và ZTE của Trung Quốc sản xuất.

Theo Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam, có 6/7 công ty viễn thông ở Việt Nam đang sử dụng thiết bị và công nghệ do Huawei và ZTE cung cấp. Trên toàn Việt Nam, có khoảng 30.000 trạm thu phát sóng (BTS) đang sử dụng thiết bị của Huawei và ZTE.

Trước nữa, chỉ tính riêng năm 2009, đã có hơn năm triệu thiết bị như: modem, router, USB do Huawei và ZTE sản xuất đã được bán trên thị trường Việt Nam. Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam xác nhận là chưa thống kê được số thiết bị do Huawei và ZTE sản xuất, đã được bán tại Việt Nam.

Huawei và ZTE là hai công ty chuyên cung cấp thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực viễn thông, từng được Ủy ban Tình báo của Hạ viện Hoa Kỳ đánh dấu về khả năng cấy những tác nhân độc hại trước khi bán cho khách hàng, đe dọa an ninh đối với Hoa Kỳ.

Có tương quan nào giữa việc mua thiết bị, công nghệ của Trung Quốc với thực tế mà Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam lưu ý: Khoảng 400 máy chủ ở Việt Nam bị “kết nối thường trực” với “nước ngoài” để thu thập các thông tin quan trọng cần bảo mật?

Rõ ràng đã tới lúc, Việt Nam phải có một bộ luật để đặt định các giải pháp thiết yếu nhằm phòng vệ hữu hiệu cho an ninh máy tính và Internet bởi đó cũng là an ninh quốc gia. Thế nhưng Dự luật về “An ninh mạng” làm nhiều người vỡ mộng!

***

Tháng trước, sau khi tham khảo Dự luật về “An ninh mạng”, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cảnh báo, dự luật này giống như tạo thêm công cụ để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Không những thế, dự luật sẽ nguy hại cho kinh tế Việt Nam.

Chẳng riêng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, Hiệp hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) cũng lên tiếng vì Dự luật về “An ninh mạng” có nhiều qui định “có thể gây rủi ro, xâm phạm các quyền chính trị, kinh tế cơ bản của công dân”. VDCA tính toán, nếu Dự luật về “An ninh mạng” trở thành luật, một số quy định sẽ khiến chi phí của các doanh nghiệp gia tăng, vừa làm giảm sự hấp dẫn của thị trường, vừa có thể khiến Việt Nam gặp thêm rắc rối do vi phạm các cam kết quốc tế. Chưa kể GDP của Việt Nam sẽ giảm khoảng 1,7% GDP và đầu tư nước ngoài sẽ giảm 3,1% (3).

Ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông số, phân tích để chứng minh, Dự luật về “An ninh mạng” sẽ tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích của ít nhất 3 nhóm doanh nghiệp (Sản xuất – kinh doanh thiết bị, giải pháp kỹ thuật, an ninh mạng. Kinh doanh dịch vụ tài chính công nghệ. Cung cấp giải pháp, dịch vụ nội dung số và giải pháp công nghệ nói chung) (4).

Tuy nhiên những cảnh báo chẳng khác gì “nước đổ đầu vịt”. Ngay cả khi một số đại biểu Quốc hội tỏ ra băn khoăn vì dường như các cảnh báo có vể hữu lý, ông Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Việt Nam vẫn “xin giữ nguyên như dự thảo” (5).

Tới lúc đó thì các ông: Đặng Hữu (cựu Bộ trưởng Khoa học – Công nghệ), Chu Hảo (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ), ông Mai Liêm Trực (cựu Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, cựu Thứ trưởng Bộ Bưu chính – Viễn thông), Nguyễn Khánh Toàn (Thượng tướng, cựu Thứ trưởng Bộ Công an) quyết định phải nói chứ không… nín nữa.

Ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn vốn được xem là những “nguyên lão” của ngành ICT Việt Nam (tham gia thẩm định, chuẩn bị để đưa Internet vào Việt Nam hồi thập niên 1990) soạn một thư ngỏ, gửi các đại biểu của Quốc hội và Thủ tướng Việt Nam, đề nghị loại bỏ năm điều: 24, 26, 38, 39, 40 ra khỏi Dự luật về “An ninh mạng”.

Theo họ, an ninh mạng là cuộc chiến kỹ thuật nhưng Dự luật về “An ninh mạng” chẳng những chẳng giúp gì cho việc bảo vệ an ninh máy tính, Internet mà còn có thể kéo lùi sự phát triển của Internet, của kinh tế số và xã hội thông tin tại Việt Nam.

Cả bốn ông cho rằng, Dự luật về “An ninh mạng” xâm hại quyền dân sự, chính trị của công dân, thu hẹp quyền tiếp cận, cơ hội sử dụng Internet để học hành, nghiên cứu, kinh doanh, trao đổi thông tin, hạn chế tự do Internet, đặt công dân trước rủi ro vi phạm pháp luật và bị kiểm tra, nhũng nhiễu bởi lực lượng chuyên trách an ninh mạng.

Bởi cuộc chiến về bảo mật, bảo vệ an ninh máy tính, Internet là “cuộc chiến thông minh, đòi hỏi am hiểu cả về chuyên môn kỹ thuật lẫn pháp lý”, ông Hữu, ông Hảo, ông Liêm, ông Toàn đề nghị Quốc hội giao Dự luật về “An ninh mạng” cho Ủy ban Khoa học – Công nghệ – Môi trường thẩm tra.

Cần lưu ý là Dự luật về “An ninh mạng” do Bộ Công an chủ trì việc soạn thảo và việc thẩm tra vốn do Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội Việt Nam thực hiện. Đứng đầu ủy ban hết sức tha thiết trong việc biến dự luật thành luật này là một ông từng mang ba sao và từng giữ vai trò Thứ trưởng Quốc phòng.

Cứ thử đọc Dự luật về “An ninh mạng” ắt sẽ bật ra thắc mắc, tại sao cả quân đội lẫn công an không hề bận tâm đến chuyện làm sao bảo vệ an ninh – an toàn cho máy tính, Internet tại Việt Nam trước sự xâm nhập, phá hoại càng ngày càng tăng của tin tặc, đặc biệt là tin tặc Trung Quốc (theo thống kê của VnCert, năm ngoái, có ít nhất là 10.000 cuộc tấn công vào hệ thống máy tính và Internet của Việt Nam) (5), mà chỉ chăm chăm bịt miệng, đổ móng – dặm nền để dễ dàng tống giam những công dân dùng Internet để bày tỏ suy nghĩ của họ hoặc dùng Internet để chia sẻ những thông tin mà họ cảm thấy thú vị?

Chú thích

(1) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Cong-nghe-thong-tin/Du-thao-Luat-an-ninh-mang-351416.aspx

(2) https://www.bkav.com.vn/hoi-dap/-/chi_tiet/511114/tong-ket-an-ninh-mang-nam-2017-va-du-bao-xu-huong-2018

(3) http://ictnews.vn/cntt/bao-mat/hoi-truyen-thong-so-kien-nghi-bai-bo-sua-doi-mot-so-quy-dinh-trong-du-thao-luat-an-ninh-mang-167799.ict

(4) http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/90-11322–lam-sao-de-cac-quy-dinh-moi-cua-luat-an-ninh-mang-anh-huong-it-nhat-toi-dn.html

(5) https://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/bao-mat/gan-10-000-vu-tan-cong-mang-tai-viet-nam-nam-2017-3639613.html

Tôi phản biện các vị ủng hộ dự luật bán nước

9-6-2018

Tín chấp là gì? Là dùng uy tín của cá nhân hoặc tổ chức để đảm bảo cho một khoản vay mượn. Nói về vay tín chấp ở ngân hàng thì ai cũng hiểu là không dùng tài sản thế chấp. Ở ngoài đời cũng vậy, có kẻ mượn trăm tỷ dễ như trở bàn tay, nhưng cũng có những kẻ vay một xu không ai cho thì đó là gì? Là dựa vào uy tín của người vay.

Vậy uy tín là gì? Đó là lịch sử giữ lời hứa, lịch sử về trách nhiệm của đối tượng đó và khả năng tài chính của kẻ đó. Tất cả những điều đó tạo nên uy tín của đối tượng. Vậy để xem kẻ đó có uy tín không thì xem xét lịch sử của kẻ đó một cách toàn diện nhất.

Trên thế giới, có những công ty độc lập chuyên xếp hạng mức tín nhiệm của các quốc gia hoặc các doanh nghiệp. Trên thế giới có 3 ông lớn trong lĩnh vực này là Standard & Poors, Moody’s, và Fitch Group chiếm 95% thị phần xếp hạng trên thế giới. Họ là những đơn vị nghiên cứu hồ sơ lịch sử tín dụng của nhiều chính phủ, nhiều công ty để đưa ra mức định lượng làm cơ sở cho những nhà cho vay xem xét. Từ mức AAA của Mỹ đến mức B của Việt Nam cách nhau đến 8 bậc. Mức tín nhiệm của Mỹ là mức tuyệt đối, các nhà cho vay phải xếp hàng để được Mỹ vay bằng lãi suất do Mỹ ấn định, tức là mua trái phiếu chính phủ Mỹ. Mức B của Việt Nam là mức cảnh báo, nhà cho vay phải cẩn thận. Vì vậy, Việt Nam phải đi khắp nơi năn nỉ các nước cho mình vay. Chủ yếu Việt Nam vay ODA. Vay ODA về bản chất là nhà cho vay không tín nhiệm chính quyền đi vay. Phía cho vay phải thực hiện dự án và tự tay lấy về khoản lợi nhuận dưới dạng tiền lời của dự án. Nếu giao hết tiền cho chính phủ này, sợ họ xà xẻo bỏ túi riêng mà chẳng thực hiện dự án.

Uy tín của Việt Nam với thế giới chỉ là con số zero. Vậy uy tín của chính quyền với nhân dân thế nào? Muốn biết hãy nhìn vào lịch sử của chính quyền này để biết được họ đã có được “uy tín” gì trong lòng dân? Để biết thêm chi tiết, xin đưa ra một vài ví dụ trong vô số trò lừa đảo bội tín nhân dân của ĐCS.

Đầu tiên là công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng giấu nhẹm mà không hề công bố với nhân dân. Để sau này phía Trung Quốc công bố công khai trên internet thì tìm cách chống chế khoả lấp. Nhân dân đã bị lừa.

Kế tiếp là lừa quân dân cán chính quân lực VNCH rằng, đi học tập cải tạo chỉ vài tuần. Thế nhưng họ đã ở tù trong nhiều năm, có người ở tù xuyên thế kỷ như ông Nguyễn Hữu Cầu. Dân miền Nam đã bị lừa.

Tiếp theo là, lừa Việt kiều về nước đầu tư rồi xẻ thịt để chiếm đoạt tài sản. Vụ Việt kiều Hà Lan – Trịnh Vĩnh Bình là ví dụ.

Ngay trong bản Hiến pháp cũng rất nhiều điều khoản dùng để lừa dân. Ví dụ, điều 2 lừa dân rằng nhà nước là của dân do dân và vì dân, nhưng điều 4 lại khẳng định ĐCS là độc quyền lãnh đạo. Điều 25 Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận, nhưng luật an ninh mạng đã chà đạp lên điều này của Hiến pháp.

Ngay trong điều luật gọi là “an ninh mạng” mà chẳng có bảo vệ an ninh mạng. An ninh mạng phải chống các hacker làm sập mạng gây thiệt hại kinh tế cá thể và kinh tế đất nước. Còn luật được gọi là “an ninh mạng” này là thứ điều khoản bịt mồm những người này tỏ chính kiến trên internet, hoàn toàn nó chẳng bảo vệ mạng internet.

Với vô số sự lừa gạt nhân dân từ thời chiến tranh đến thời bình, từ thời ăn lông ở lỗ đến thời đại internet. Tất cả đều là những chuỗi trò lừa đảo. Trong luật pháp cũng đầy rẫy từ ngữ mơ hồ để lừa nhân dân sập bẫy, như những điều 79, điều 88, điều 258 BLHS… là ví dụ. Luật pháp gài bẫy là một thứ luật pháp lừa gạt toàn dân.

Hiện nay luật đặc khu cho thuê 99 năm, cho tòa án nước ngoài xử án ngay trên vùng đặc khu. Và một điều ít ai để ý, đó là sự kết hợp giữa luật an ninh mạng và luật đặc khu. Luật an ninh mạng thực chất nó cấm tự do ngôn luận, nó khống chế sự lan tỏa sự thật trong xã hội chứ hoàn toàn nó không vì an ninh mạng đúng nghĩa (nghĩa là chống hacker). Nếu chính quyền không có mưu đồ bất chính với dân tộc, với đất nước này thì cớ sao đem điều luật an ninh mạng ra quyết đồng thời với dự luật đặc khu? Có đui có mù cũng thấy, luật an ninh mạng là lá chắn cho mưu đồ trong luật đặc khu. Đây là hành động lừa nhân dân.

Vậy thì uy tín của chính quyền với nhân dân có không? Xin thưa là không. Mà chính quyền không có uy tín với dân thì chính quyền lấy gì để tín chấp cho một đạo luật đây? Mô khi đối tượng không có uy tín nó sẽ không có trách nhiệm thi hành cam kết. Thằng có tiền sử quỵt nợ, bạn có dám cầm tiền tỷ cho nó mượn không? Uy tín bằng zero nó sẽ không giữ lời hứa và chắc chắn nó sẽ quỵt. Với dân, chính quyền CS không có uy tín thế chấp để nhận lấy sự tin tưởng từ nhân dân.

Trên mạng xã hội có một số kẻ bênh vực cho dự luật đặc khu. Có cả những vị “luật sư” căn cứ vào câu chữ của văn bản luật mà phán rằng, đó là luật mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài chứ không phải chỉ dành riêng cho Trung Quốc. Những kẻ này đã nhìn một tầm nhìn chỉ bằng trang sách, họ căn cứ vào câu chữ mà phán tính khả thi. Nên nhớ rằng, nhà nước CS không phải là nhà nước pháp quyền. Mà không phải nhà nước pháp quyền thì sẽ như thế nào? Nghĩa là nếu câu chữ không có lợi cho chính quyền thì nó sẽ chà đạp. Quyền biểu tình sờ sờ trong Hiến pháp đó mà nó có cho dân biểu tình đâu? Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội cũng sờ sờ ra đó, trong Hiến Pháp đó mà nó có cho đâu? Uy tín của chính quyền CS đối với dân là con số zero tròn trĩnh. Nói đúng hơn, nó không chiếm độc quyền nhà nước thì nó là một tổ chức lừa đảo không hơn không kém.

Các vị luật sư, khi phán một đạo luật ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc phòng, các bạn không thể căn cứ vào câu chữ mà phán nó khả thi. Để xét đến một đạo luật có khả thi hay không bạn phải căn cứ 2 yếu tố. Thứ nhất là nội dung đạo luật. Thứ nhì là uy tín của nhà nước đó có đảm bảo tính pháp quyền trong thi hành không? Lưu ý là uy tín của một chính quyền với dân phải đặt cao hơn nội dung câu chữ nhá. Vì nếu chính quyền có tiền sử chà đạp hiến pháp và pháp luật thì không có một đạo luật nào được đảm bảo thực thi đúng nội dung. Vậy khi chính quyền có tiền sử chà đạp lên hệ thống pháp luật mình ban ra thì phán xét ý đồ trong một đạo luật ta dựa vào đâu? Khi tính thượng tôn pháp luật không được đảm bảo thì hãy nhìn vào lợi ích của ĐCS là gì thì sẽ có sự phán đoán chính xác hướng đi của một đạo luật. Sự phản kháng của toàn dân đã căn cứ vào điều này mà cản đường âm mưu ĐCS, dân đã đúng.

Tôi xin khẳng định lại điều này để các vị luật sư ủng hộ rõ nhé, để đánh giá một âm mưu ẩn giấu phía dưới đạo luật mà quý vị đem nội dung câu chữ ra cắt nghĩa thì xin lỗi, tôi thấy các vị ngây ngô. Căn cứ vào câu chữ một đạo luật đó là công việc nghề nghiệp của các vị để gỡ tội cho thân chủ trước tòa. Nhưng ở đây đánh giá hướng đi của một đạo luật nhạy cảm, có ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng trong một nhà nước côn đồ có thói quen chà đạp cả Hiến pháp và pháp luật, thì không phải đòi hỏi ở nghiệp vụ nghề luật mà nó đòi hỏi cái nhìn toàn diện, trong đó lịch sử ứng xử của ĐCS với nhân dân với đất nước sẽ có vai trò quyết định. Các vị nên nhớ, các vị căn cứ vào câu chữ suy ra tính khả thi hay không thì điều đó chỉ đúng với một nhà nước biết thượng tôn pháp luật, nhớ nhá!

Chính quyền CS có thượng tôn pháp luật không? Chắc chắn là không. Cho nên trong vấn đề bộ đôi luật an ninh mạng – luật đặc khu được thông qua này làm dân phản ứng gay gắt là hoàn toàn đúng. Sân chơi theo luật chỉ dành riêng cho nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Còn nơi đây, nơi ĐCS ngự trị thì nhìn mưu đồ của nó trong quá khứ và hiện tại thì biết. Không pháp quyền không có chỗ cho những kẻ phân tích luật trên văn bản nhá quý vị.

CÔNG DÂN CÓ QUYỀN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH

No automatic alt text available.

Cat Bui

Đôn An Võ 

CÔNG DÂN CÓ QUYỀN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH

Biểu tình là quyền cơ bản của công dân, được tất cả các nước trên thế giới ghi nhận trong hệ thống pháp luật, nhằm bảo đảm quyền tự do dân chủ của mỗi người dân.

Biểu tình là hình thức đấu tranh bất bạo động, được thể hiện dưới nhiều hình thức như: xuống đường diễu hành, chiếm đóng, khỏa thân tập thể… để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề nào đó trước nhà nước, nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình hoặc cho xã hội.

Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình.

Không ai được quyền cản trở người dân biểu tình. Được biết, kể từ khi thành lập nước CHXHCN Việt Nam năm 1945 đến nay, chưa có một người dân nào bị bắt giam hoặc bị bỏ tù về tội biểu tình.

Điều 167 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu tình của công dân… thì bị phạt tù từ 1 đến 5 năm.

Tóm lại: người dân có quyền tự do biểu tình mà không sợ bất cứ điều gì, biểu tình là quyền và đồng thời là nghĩa vụ của mỗi người dân. NGUỒN LS VÕ AN ĐÔN

TRUNG CỘNG ĐÃ LÀM GÌ Ở CÁC ĐẶC KHU CHÂU PHI?

Image may contain: outdoor and water
Nguyễn Vô added a new photo to the album: THẮC MẮC NHỎ.

THẮC MẮC NHỎ
TÌM HIỂU 039: TRUNG CỘNG ĐÃ LÀM GÌ Ở CÁC ĐẶC KHU CHÂU PHI?

Tính đến cuối năm 2016, Trung cộng đã đầu tư xây dựng 77 đặc khu kinh tế (SEZ) tại 36 quốc gia trên thế giới với tổng đầu tư ước tính hơn 24,2 tỉ USD và đạt giá trị sản xuất hơn 70,3 tỉ USD. Kinh nghiệm từ các đặc khu do Trung cộng đầu tư tại các nước đang phát triển như châu Phi, Sri Lanka sẽ là những bài học quý giá đối với Việt Nam khi nghiên cứu mô hình này.

I- TRUNG CỘNG HÓA ĐẶC KHU KINH TẾ Ở CHÂU PHI
Kể từ năm 2006, Trung cộng bắt đầu xuất khẩu mô hình đặc khu của mình sang các nước châu Phi khi chính phủ nước này đưa ra mục tiêu xây dựng khoảng 50 đặc khu hợp tác kinh tế và thương mại ở nước ngoài. Những đặc khu này là một phần giúp nước này thực hiện “quyền lực mềm” của mình, tức chúng không chỉ là kinh tế và thương mại mà còn có những mục tiêu chính trị.
Từ đó có 7 đặc khu được mở tại các quốc gia châu Phi là Algeria, Ai Cập, Ethiopia, Mauritius, Nigeria (2 đặc khu) và Zambia.
Năm 2010, có 6 đặc khu được xây dựng trong khi đặc khu ở Algeria bị hủy bỏ do những thay đổi trong chính sách đầu tư nước ngoài của quốc gia này. 
Điều đáng lưu ý là các đặc khu ở Ethiopia và Mauritius do 100% người Tàu làm chủ sở hữu. Các đặc khu ở các nước còn lại thì mang hình thức hợp tác với các đối tác của nước sở tại nhưng đối tác của nước sở tại chỉ chiếm tỉ lệ sở hữu ít ỏi. Chẳng hạn, đặc khu Ogon của Nigeria thì đối tác trong nước chỉ sở hữu có 18%, đặc khu Suez của Ai Cập thì người Ai Cập chỉ sở hữu có 20%. 
Như vậy, gần như tất cả đặc khu kinh tế ở Châu phi đều do người Tàu nắm giữ, các đối tác trong nước nếu có tham gia thì chỉ với một tỉ lệ nhỏ mà thôi.
Theo báo cáo của McKinsey năm 2015, Trung cộng thống trị các hạng mục thương mại từ FDI, từ giá trị hàng hóa, viện trợ đến phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài yếu tố thị trường, FDI sẵn có của Trung cộng và thặng dư lao động, đây cũng là những quốc gia có sức ảnh hưởng chính trị nhất định, hứa hẹn sẽ không chỉ đa dạng hóa hoạt động cho các công ty Trung cộng mà còn thúc đẩy các mục tiêu của Trung cộng tại châu lục.
Theo thống kê của chính phủ Trung cộng, cuối năm 2011, các đặc khu trên tạo ra 4,52 tỉ USD giá trị sản xuất và đóng góp 143 triệu USD tiền thuế.

II- TÌNH TRẠNG TRÌ TRỆ TẠI CÁC ĐẶC KHU Ở CHÂU PHI
Tuy nhiên, các đặc khu trên vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng và kỳ vọng của các nước sở tại. Sau 12 năm trục trặc đủ đường, đặc khu Jinfei của Mauritius hiện chỉ hoàn thiện hạ tầng cơ bản với 4 công ty hoạt động. Ước tính có 107 người dân đã lâm vào cảnh khốn đốn khi phải nhường đất cho dự án. Đặc khu tại Zambia thì chỉ thu hút được một nửa doanh nghiệp theo kế hoạch, trong khi quan ngại về ô nhiễm môi trường hay mưa acid xuất hiện ngày càng nhiều.
Các đặc khu của Ai Cập và Nigeria tuy thu hút được nhiều sự chú ý và vốn đầu tư nhưng đến năm 2014 cũng chỉ đạt gần 10% – 30% kế hoạch. Đặc khu của Ethiopia thậm chí còn phải thu nhỏ 60% diện tích do chủ đầu tư Trung cộng gặp khó khăn về tài chính, trong khi dự án tại Algeria vẫn còn đang nằm trên giấy.
Theo UNDP, chính sự nhập nhằng của các bên tham gia phát triển mà đa phần đến từ các công ty Trung cộng, vấn đề vốn cho cơ sở hạ tầng và các trở ngại trong việc kết nối với nền kinh tế địa phương đã gây ra tình trạng trên. Bên cạnh đó, các khoản vay ưu đãi từ phía Trung cộng sẽ dễ dàng tăng thêm gánh nặng nợ cho các nước chủ nhà, nhất là trong các trường hợp SEZ dạng liên doanh, dẫn đến khả năng vỡ nợ.

III- SRI LANKA “GÁN” HẢI CẢNG ĐỂ TRẢ NỢ 
Vỡ nợ là trường hợp điển hình của Sri Lanka, một quốc gia châu Á.
Nội chiến kết thúc năm 2009 kéo theo nhu cầu kiến thiết đất nước khẩn cấp của Sri Lanka và Bắc Kinh là nhà cung cấp viện trợ hào phóng nhất, lên đến 15 tỉ USD trong giai đoạn 2005-2017. Tính đến cuối năm 2015, Sri Lanka nợ nước ngoài lên đến 94% GDP, trong đó có 8 tỉ USD của Trung cộng.
Tháng 9-2014, dự án thành phố cảng Colombo của Sri Lanka và Trung cộng được khởi công với sự có mặt của lãnh đạo 2 nước là ông Mahinda Rajapaksa và Chủ tịch Tập Cận Bình. Trong vòng 2 năm sau đó, tiến độ xây dựng liên tục bị trì hoãn do xích mích giữa nhà thầu và chính quyền địa phương khiến Hải cảng này vẫn không thu hút được tàu thuyền Quốc tế. 
Khu vực cảng Hambantota với vốn đầu tư 1,5 tỉ USD cũng chịu tình trạng thất bại tương tự và đến cuối năm 2017 thì chính phủ Sri Lanka đã bán 80% hải cảng này cho Trung cộng với giá 1,1 tỉ USD để giải quyết áp lực nợ.
Sự hoạt động kém hiệu quả so với vốn đầu tư của hai dự án đã đóng góp không nhỏ vào số nợ nước ngoài của Sri Lanka.

IV- TRƯỜNG HỢP “ĐIỂN CỨU” THÂM QUYẾN CỦA CHÍNH TRUNG CẨU
Là biểu tượng cho mô hình đặc khu không chỉ của Tàu mà là cả thế giới, Thâm Quyến có nhiều đặc điểm cá biệt để có thể thành công vang dội.

1- Đầu tiên là mô hình kinh tế:
Dưới chủ trương đặc khu, nền kinh tế thị trường mang bản sắc chủ nghĩa xã hội Trung cộng đã được cổ vũ phát triển mạnh mẽ tại đây trong giai đoạn Trung cộng còn theo đuổi cơ chế bao cấp và những hệ quả nặng nề của cuộc Cách mạng văn hóa. Đây là điều kiện tối quan trọng đối với đầu tư cả trong và ngoài nước và càng cấp bách trong bối cảnh Mỹ và Trung cộng vừa hoàn tất bình thường hóa quan hệ.
Những cơ hội mới ngày càng nhiều ở đặc khu và nhất là sự cạnh tranh công bằng, minh bạch và không tiêu cực với cả những công ty quốc doanh đã tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt. Nhưng gần 40 năm sau, với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, những hiệp định thương mại tự do đa phương, những chính sách ưu đãi của đặc khu không còn đủ tiến bộ so với mặt bằng chung của quốc gia này để có thể tạo được động lực thần kỳ như trước.

2- Thứ hai là vị trí chiến lược của Thâm Quyến:
Các ưu đãi về tài chính, nhân công, thuế, cam kết môi trường ổn định và thậm chí là cạnh tranh giữa các chính sách ưu đãi như thời hạn thuê đất có thể lên 99 năm ở các nước Đông Nam Á, 76-80 năm ở châu Phi là chưa đủ. Thâm Quyến có vị trí đắc địa, kết nối đặc biệt với Hong Kong – một trung tâm tài chính thế giới mà bấy giờ vẫn là tô giới của Anh. Các nhà đầu tư Hong Kong cũng chính là những người rót nhiều vốn nhất cho giai đoạn phát triển ban đầu của Thâm Quyến. Chính phủ Trung cộng cũng chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng để tăng cường khả năng nối đặc khu này với thị trường rộng lớn toàn quốc, một điều đã được rất nhiều quốc gia áp dụng.

3- Thứ ba, định hướng phát triển của thành phố luôn được chú trọng và cải tiến:
Từ những ngày đầu chỉ xây dựng nhà máy, gia công, sản xuất hàng tiêu dùng giá trị thấp, nay Thâm Quyến đã là trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trung cộng (chỉ đứng sau Thượng Hải và Bắc Kinh). Những nhà máy sản xuất mô hình ngày xưa đang dần đóng cửa để nhường chỗ cho các mô hình dịch vụ và tiêu dùng.

4- Nhưng đặc khu Thâm Quyến không chỉ màu hồng:
– Theo điều tra năm 2006, có đến 7 triệu trong 12 triệu dân ở Thâm Quyến là những người lao động nhập cư mà đa số là không được bảo vệ về mặt luật pháp và xã hội.
– Tỉ lệ chết nơi người lao động công nghiệp ở đây cũng cao và có hơn 500.000 lao động trẻ em.
– Theo điều tra năm 2003, có ít nhất phân nửa số công ty ở Thâm Quyến đang nợ lương người lao động và có ít nhất 1/3 công nhân Trung cộng được trả lương thấp hơn mức tối thiểu.
– Tỉ lệ lao động bỏ việc là trên 10%.
– Vào năm 2006, giới công nhân Thâm Quyến tiến hành hơn 10.000 cuộc đình công dù không có công đoàn độc lập nào.
– Tình trạng người lao động bị lạm dụng gắn liền với tình trạng tội phạm. Hiện nay, tỉ lệ tội phạm ở Thâm Quyến cao gấp 9 lần Thượng Hải và đây cũng là nơi nổi tiếng về việc buôn bán phụ nữ và mại dâm.

Theo HOÀNG PHÚ – MINH TIẾN

QUỸ ĐẠO CỦA TRUNG QUỐC ĐƯỜNG CÙNG CỦA NHÂN DÂN

Văn Lang is with Văn Lang.

ĐƯỜNG CÙNG CỦA NHÂN DÂN

Tài khoản Facebook của bạn có thể khóa bất cứ lúc nào, dịch vụ 3/4G cũng có thể bị cắt, bạn dễ dàng bị ra tòa hoặc thậm chí bị bỏ tù… Bạn không chỉ bị tước đoạt. Bạn bị “lột sạch” quyền công dân khi Luật an ninh mạng được Quốc hội thông qua ngày 12-6-2018. Không phải tự nhiên mà Luật an ninh mạng được bấm nút vài ngày trước khi Luật đặc khu thoát ra khỏi cánh cửa sân khấu Quốc hội.

Điều 5 Luật an ninh mạng quy định:

– Ngăn chặn, yêu cầu ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông công cộng, mạng viễn thông dùng riêng, mạng internet, việc sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

– Yêu cầu xóa bỏ, truy cập, xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

– Thu thập dữ liệu điện tử liên quan tới hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

– Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

– Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

(Căn cứ những quy định này thì bạn hoàn toàn không còn là “chủ” tài khoản của mình. Công an kiểm soát toàn bộ không gian biểu đạt cá nhân của từng công dân. Công an không chỉ có quyền yêu cầu “xóa bỏ” (thông tin) mà thậm chí cấm “truy cập”. Bạn dễ dàng bị quy chụp “vi phạm” vào những điều mơ hồ như “thông tin trái pháp luật”, “thông tin sai sự thật”. Bạn bị theo dõi và bị đánh cắp thông tin cá nhân một cách công khai vì công an có quyền “thu thập dữ liệu điện tử”. Chưa hết, công an có quyền “kiểm tra an ninh mạng đột xuất” (Điều 12). Nói cách khác, “cuộc sống mạng” của bạn thuộc quyền quyết định gần như tuyệt đối của công an!

Ở Điều 15, bạn bị cấm loan tải:

– “Thông tin có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân” (Những bức ảnh “chế” hoặc bình luận các phát ngôn nhảm nhí của đám quan chức có chịu sự áp đặt của quy định này?)

– “Thông tin có nội dung tuyên truyền, kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở sự hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm chống chính quyền nhân dân hoặc gây mất ổn định về an ninh trật tự” (Những chia sẻ ủng hộ giới tài xế ứng phó với BOT có nằm trong quy định này? Hiểu theo cách nào đi nữa thì thực chất quy định này là nhắm vào các kêu gọi biểu tình ôn hòa)

Ở Điều 16, bạn bị cấm “Cố ý nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái phép” (Như thế nào là “ghi âm trái phép”? Ghi âm đoạn nói chuyện giữa một người dân với một tên cảnh sát công lộ vòi vĩnh hối lộ có “trái phép” không?)

Ở Điều 21, “Các doanh nghiệp viễn thông, internet, công nghệ thông tin, cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an” để “ngừng cung cấp thông tin mạng tại các khu vực cụ thể”.

Ở Điều 26, họ (các doanh nghiệp viễn thông…, trong nước lẫn nước ngoài) bị yêu cầu:

– “Thiết lập cơ chế xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách… khi có yêu cầu bằng văn bản”;

– “Xóa bỏ thông tin, ngăn chặn việc chia sẻ thông tin… chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng”;

– Ngoài ra còn phải “lưu vết liên quan để cung cấp cho lực lượng chuyên trách”; và tệ hại hơn: “Không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng cho tổ chức, cá nhân… khi có yêu cầu” (Điều đó có nghĩa dù bạn không hề được cung cấp miễn phí dịch vụ truyền thông khi đăng ký sử dụng mạng nhưng bạn không những không thể đòi hỏi bất kỳ giá trị cộng thêm nào của dịch vụ mà còn có thể bị cắt bất cứ lúc nào)

“Cuộc sống mạng” của bạn thuộc quyền quyết định gần như tuyệt đối của công an (kinhtedothi)

Luật an ninh mạng Việt Nam thực chất gần như là phiên bản tiếng Việt của Luật an ninh mạng Trung Quốc (có thể dễ dàng so sánh hai luật, bằng cách tham khảo bộ luật Trung Quốc, với tên tiếng Anh “Management Regulations on Internet Forum and Community” hoặc tiếng Hoa “互联网论坛社区服务管理规定”). Điều này dễ hiểu vì sĩ quan an ninh mạng Việt Nam được đào tạo ở Trung Quốc và “công tác” an ninh mạng được hai nước thường xuyên chia sẻ. 
Cũng không loại trừ khả năng thiết bị kỹ thuật và hạ tầng an ninh mạng của Việt Nam được chính Trung Quốc thiết kế giúp. Hai nước cũng gần như luôn “vai kề vai” ở vị trí chót bảng về tự do internet do tổ chức Freedom House xếp hạng hàng năm. Thậm chí thời điểm áp dụng cũng chẳng cách xa nhau nhiều. Chỉ gần một năm sau khi Trung Quốc tung ra các quy định khắc nghiệt hơn trong khuôn khổ Luật an ninh mạng (vào ngày 25-8-2017; có hiệu lực 1-10-2017) thì Bộ Công an, Bộ Quốc phòng lẫn một cơ quan gọi là “Cơ yếu chính phủ” của Việt Nam cũng hối hả “thực tế hóa” Luật an ninh mạng bằng “lá phiếu” của Quốc hội bù nhìn vào ngày 12-6-2018.

Ngày 7-9-2017, Cơ quan quản lý không gian mạng Trung Quốc (“Quốc gia hỗ liên võng tin tức biện công thất”) đã yêu cầu các công ty mạng nội địa WeChat, QQ, Weibo, Zhihu, Inke, Yizhibo… phải cung cấp “thông tin chia sẻ” lẫn thông tin cá nhân người sử dụng. 
Với Việt Nam, mạng nội địa như Zalo chắc chắn sẽ tương tự và không loại trừ khả năng các công ty mạng nước ngoài cũng phải thực hiện. 
Chẳng phải tự nhiên Việt Nam yêu cầu các công ty như Google hoặc Facebook đặt máy chủ ở Việt Nam. Đó là một trong những cách “kiếm chuyện” để Google hoặc Facebook phải thỏa hiệp, như cách Google đầu hàng trước Trung Quốc để có thể tiếp tục khai thác thị trường này. “Bán linh hồn cho quỷ” là chuyện bắt đầu trở nên bình thường đối với các tập đoàn khổng lồ nói chung. Mark Zukerberg từng công khai vuốt ve Tập Cận Bình; và tháng 12-2017 tại Quảng Châu, Tim Cook nói rằng Apple “tôn trọng luật an ninh mạng của Trung Quốc và sẽ tuân thủ “luật chơi”.

Trở lại với Luật an ninh mạng Việt Nam. Việc tài khoản Google hoặc Facebook của bạn bị khóa theo yêu cầu công an có thể còn khó nhưng việc bạn có nguy cơ vĩnh viễn bị cô lập khỏi thế giới mạng (vì bị nhà mạng Việt Nam cắt hoặc từ chối không cho đăng ký dịch vụ nối mạng), một khi bạn lọt vào “sổ đen”, là điều hoàn toàn có khả năng xảy ra. 
Luật an ninh mạng không phải để bảo vệ mạng. 
Luật an ninh mạng là để bảo vệ chế độ. 
Luật an ninh mạng là để bịt miệng người dân, và 
Luật an ninh mạng được thiết kế để bảo vệ Luật đặc khu (nhằm ngăn cản các ý kiến chống đối những gì xảy ra xung quanh đề tài đặc khu, bây giờ cũng như trong tương lai).

Chẳng phải tự nhiên mà hai dự luật này được bấm nút gần như cùng thời điểm (Luật an ninh mạng ngày 12 và Luật đặc khu ngày 15-6-2018). Tất cả đã được tính từ trước và tính từ lâu. Có thể có sự tư vấn của Trung Quốc. Đây là một “quyết tâm” của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là quyết tâm của Nguyễn Phú Trọng. 
Chưa bao giờ mà ý định đẩy Việt Nam vào quỹ đạo Trung Quốc rõ bằng lúc này. Hãy xem lại các tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc từ các chuyến công du Bắc Kinh của Nguyễn Phú Trọng. Những gì còn “mơ hồ” (đối với người dân) thật ra đã được ghi bằng giấy trắng mực đen. Đã có những cam kết giữa hai nước và bây giờ từng bước được thực hiện, đúng “quy trình”.

@ Trí Việt News