Nhà Khoa Học chứng minh về Thượng Đế

Nhà Khoa Học chứng minh về Thượng Đế – Người Dân VN trải nghiệm về Thượng Đế

25 nhà khoa học lừng danh nói về Thiên Chúa

  Bàn Thờ Thiên

Tôn giáo phổ biến tại Miền Nam VN

Thờ Ông Trời với tất cả lòng thành kính

1- Johannes Kepler (1571–1630), Một trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất:   “Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Ngài vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn. Hãy ca tụng Ngài bằng ngôn ngữ của mình, hỡi trời và đất, mặt trời và mặt trăng, các tinh tú. Lạy Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng nên con! Với trí khôn giới hạn của con, con muốn loan báo sự kỳ diệu của các công trình Ngài cho mọi người hiểu được”

2- Nicolaus Copernicus (1473–1543), nhà thiên văn học và là người đề xuất thuyết nhật tâm (heliocentrism):   “Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý? Nào ai không thán phục vị kiến trúc sư của tất cả các công trình này?”

3- Isaac Newton (1643–1727), khám phá ra luật vật lý:  “Điều ta biết được chỉ là một giọt nước, điều ta chưa biết là cả một đại dương bao la. Những xếp đặt và hài hòa của vũ trụ chỉ có thể xuất phát từ bản vẽ của một Đấng toàn năng và toàn tri”

4- Carl Linnaeus (1707–1778) :   “Tôi đã thấy Thiên Chúa toàn năng, vô hạn và vĩnh cửu đi ngang qua rất gần, và tôi quỳ xuống bái lạy Ngài”

5- Alessandro Volta (1745–1827), người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện:  “Tôi tuyên xưng đức tin Công giáo Roma, thánh thiện và tông truyền. Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin này, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”

6- Andre-Marie Ampere (1775–1836), người khám phá ra các định luật cơ bản về điện:  “Thiên Chúa vĩ đại biết bao, mà khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh!”

7- Augustin Louis Cauchy (1789–1857), nhà toán học kiệt xuất và nhà sáng lập môn Toán phân tích phức tạp (complex analysis):   “Tôi là Kitô hữu, có nghĩa là tôi tin vào thần tính của Đức Kitô, cũng như tất cả các nhà thiên văn vĩ đại, và các nhà toán học lớn của thế giới đều tin như thế.”

8- Carl Friedrich Gauss (1777-1855), được cho là “Ông hoàng của các nhà toán học” vì đã đóng góp nhiều vào lãnh vực toán học và khoa học: “Khi giờ cuối cùng đã điểm, chúng ta vui sướng hân hoan vì sẽ nhìn thấy Đấng mà chúng ta chỉ có thể thấy lờ mờ trong tất cả những khám phá của chúng ta”

9- Justus von Liebig (1803–1873), nhà hóa học lừng danh:  “Sự vĩ đại và trí khôn vô tận của Đấng Tạo Hóa, chỉ được nhận thấy bởi những người cố công rút ra những ý tưởng của mình từ cuốn sách vĩ đại mà chúng ta gọi là thiên nhiên”

10- Robert Mayer (1814–1878), nhà khoa học tự nhiên (Định luật bảo tồn năng lượng):   “Tôi đang dần kết thúc cuộc đời mình với sự quả quyết rằng:  khoa học thật sự và triết học thật sự không là gì khác ngoài là môn dẫn nhập vào Kitô giáo”

11- Angelo Secchi (1803–1895), nhà thiên văn học lừng danh:  “Từ chiêm ngưỡng đất trời đến Thiên Chúa chỉ là một khoảng cách ngắn”

12- Charles Darwin (1809–1882), Thuyết tiến hóa:   “Tôi không bao giờ từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi nghĩ thuyết tiến hóa phù hợp với niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi cho rằng bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa đó là ta không thể giải thích hay hiểu được vũ trụ mênh mông vượt xa mọi phép tính toán và không thể giải thích được rằng con người là kết quả của ngẫu nhiên”

13- Thomas A. Edison (1847–1931), nhà sáng chế nắm giữ 1200 bằng sáng chế:  “Tôi tôn trọng và ngưỡng mộ tất cả các kỹ sư, đặc biệt là Người kỹ sư vĩ đại nhất vũ trụ: Ngài là Thiên Chúa.”

14- Carl Ludwig Schleich (1859–1922), nhà phẫu thuật nổi tiếng, người tiên phong của phương pháp gây tê tại chỗ (local anesthesia):   “Tôi trở thành tín hữu Công giáo qua kính hiển vi, và quan sát thiên nhiên, và tôi muốn đóng góp theo khả năng mình vào sự hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo.”

15- Guglielmo Marconi (1874–1937), nhà sáng chế vô tuyến điện thoại, giải Nobel 1909:   “Tôi hãnh diện tuyên xưng rằng mình là Kitô hữiu. Tôi tin vào quyền năng của sự cầu nguyện, và tôi tin không chỉ như là người Công giáo, mà còn là một nhà khoa học.”

16- Robert Millikan (1868–1953), Nhà vật lý Hoa Kỳ, giải Nobel 1923: “Tôi có thể khẳng định rằng việc từ chối đức tin là thiếu nền tảng khoa học. Theo quan điểm của tôi, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa đức tin Công giáo và khoa học.”

17- Arthur Eddingtong (1882–1946), Nhà thiên văn học người Anh, nhà toán học và vật lý thiên thể:  “Trong số những người sáng tạo nên thuyết vô thần thì không có ai là nhà tự nhiên học. Tất cả họ đều là những triết gia tồi.”

18- Albert Einstein (1879–1955), người đặt nền cho vật lý hiện đại (giải Nobel 1921:   “Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém.”

19- Max Planck (1858–1947), người sáng tạo nên vật lý lượng tử (quantum physics), giải Nobel 1918:  “Do xung lượng của kiến thức đòi hỏi, không gì ngăn cản chúng ta liên kết trật tự của vũ trụ với Thiên Chúa của Công Giáo.  Đối với người tin, Thiên Chúa đứng ở đầu câu chuyện; đối với nhà vật lý, Thiên chúa ở cuối câu chuyện.”

20- Erwin Schrödinger (1887–1961), người khám phá ra cơ học sóng (wave mechanics), giải Nobel 1933:   “Kiệt tác tinh vi nhất là tác phẩm của Thiên Chúa, theo các nguyên tắc cơ học lượng tử (quantum mechanics)…”

21- Howard H. Aiken (1900-1973), người tiên phong trong lãnh vực máy tính:  “Vật lý hiện đại dạy tôi rằng thiên nhiên không thể tự xếp đặt mình theo trật tự.  Vũ trụ là một khối trật tự khổng lồ. Vì vậy, nó đòi hỏi một “Nguyên Nhân Đầu Tiên” thật vĩ đại và không phụ thuộc vào đinh luật biến đổi năng lượng, và đó là Đấng Siêu Nhiên.”

22- Wernher von Braun (1912–1977), kỹ sư tên lửa và kiến trúc sư không gian:  “Trên hết mọi sự là vinh quang Thiên Chúa, Đấng mà con người và khoa học khám phá và tìm kiếm mỗi ngày với sự tôn kính thẳm sâu.”

23- Charles Townes (1915), Nhà vật lý cùng nhận giải Nobel 1964 Nobel vì đã khám phá ra các nguyên tắc của tia laser:  “Là người có tôn giáo, tôi cảm thấy được sự hiện diện và can thiệp của Đấng Sáng Tạo ở cách xa tôi nhưng luôn rất gần … một trí năng siêu phàm, đã sáng tạo nên các định luật của vũ trụ.”

24- Allan Sandage (1926-2010) Nhà thiên văn Hoa Kỳ, người tính toán tốc độ giãn nở của vũ trụ và tuổi của nó bằng cách quan sát các vì sao xa:   “Thuở thiếu thời tôi là người vô thần. Khoa học đã đưa tôi đến kết luận rằng thế giới này phức tạp hơn tôi tưởng. Tôi chỉ có thể giải thích mầu nhiệm hiện hữu bằng cách nại vào một Đấng Siêu Nhiên.”

25- Tấm danh thiếp và sự ngạc nhiên:   Một sinh viên trẻ ngồi cùng toa xe lửa với một ông già đang lần hạt. Anh mạnh dạn bắt chuyện với ông: “Thay vì lần hạt, tại sao ông không dành thời gian học hỏi và tự đào luyện bản thân đôi chút nhỉ?  Tôi có thể gởi cho ông một cuốn sách hướng dẫn”.

Ông già đáp:  “Anh làm ơn gởi cuốn sách đến địa chỉ này”, và ông trao cho anh sinh viên tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp ghi là: Luis Pasteur, Viện khoa học Paris. Anh sinh viên cảm thấy xấu hổ vô cùng. Ạnh định khuyên nhủ một học giả lừng danh nhất của thời đại mình, nhà sáng chế ra vaccines, được cả thế giới ca tụng và là một người siêng năng lần hạt Mân Côi.

Tác giả Javier Ordovás là nhà kinh tế học đã viết hơn 500 bài báo ca ngợi đức tin Công giáo.

 Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính  chuyển ngữ 

Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

 

GÓC SUY GẪM…

Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

Nhân gian vô thường, thế sự khó lường, vật đổi sao dời, con người cũng chỉ đang mò mẫm trong cõi nhân sinh. Đời người ngắn chẳng tày gang, vậy thì, có những chuyện nào không thể đợi, không thể sợ, không thể lựa chọn trong kiếp người?

Sinh mệnh như ngọn đèn trước gió, chẳng ai dám tự tin nói rằng ngày mai mình vẫn còn trên thế gian này hay không.

Chỉ mới gặp hôm qua mà hôm nay choàng tỉnh, người ấy đã về cõi thiên cổ rồi. Chỉ trong chớp mắt mà âm dương cách biệt nghìn trùng. Thân xác tuy còn đây mà linh hồn đã về nơi xa lắm, vĩnh viễn chẳng có ngày gặp lại.

Vậy thì, có những chuyện nào không thể đợi, không thể sợ, không thể lựa chọn trong kiếp người?

Hai thứ không thể sợ:

  1. Cái chết

Đã sinh ra làm kiếp con người, thì dẫu là người quyền quý cao sang hay bần cùng túng thiếu, có ai mà không một lần “yên giấc nghìn thu”?

Vũ trụ rộng lớn mênh mang luôn mang theo quy luật “Thành, trụ, hoại, diệt” mà luân chuyển vạn vật trong cõi thế gian. Con người cũng chỉ ở trong vòng quay vĩ đại ấy mà thôi. Sinh lão bệnh tử đã là quy luật tự nhiên, chẳng thể thay đổi, thì chúng ta lo sợ nào có ích chi?

Chi bằng chúng ta hãy vui vẻ chấp nhận và thay đổi góc nhìn của mình về cuộc đời. Nếu ai cũng một lần phải rời xa cõi thế gian thì thay vì tiếc nuối, hãy trân quý từng phút giây chúng ta được sống. Đừng hoài phí tháng năm vào những trò chơi vô bổ, vào những thú vui tầm thường.

Hãy biến mỗi ngày thành một ngày có ý nghĩa và tràn ngập niềm vui; hãy lưu lại cho thế hệ sau những điều tốt đẹp. Nếu muốn sống mãi trên cuộc đời, thì hãy sống mãi trong lòng người; muốn sống mãi trong lòng người, thì cần phó xuất nhiều hơn, nghĩ tới người khác nhiều hơn. Chỉ có như vậy thì vào giây phút cuối cùng khi từ biệt cõi trần chúng ta mới không thảng thốt, cũng không tiếc nuối.

Nếu “chết” chỉ là cái cớ để trở về với đất mẹ yêu thương, trở về ngôi nhà chân chính của mình, thì chắc hẳn trong lòng chẳng có sợ hãi, mà chỉ còn lại yêu thương và hạnh phúc vô bờ.

  1. Nỗi cô đơn

Chúng ta sinh ra đã sợ nỗi cô đơn. Khi còn thơ bé, chúng ta sợ phải ở nhà một mình, lúc nào cũng chỉ muốn sà vào lòng cha mẹ yêu thương. Lúc ấy chỉ cần thức giấc nhìn quanh không thấy bóng người, chúng ta lại òa khóc, mong một vòng tay đưa ra hay nghe thấy giọng nói của mẹ cha.

Khi cắp sách đến trường chúng ta lại vui cùng bè bạn, sợ cảm giác cô đơn, thui thủi một mình. Lớn lên, nỗi cô đơn đã thúc giục chúng ta tìm một nửa yêu thương của mình, cùng nhau vun vén một mái ấm hạnh phúc. Khi những đứa con tung cánh bay xa, chúng ta lại sợ phải một mình đối diện với nỗi cô đơn của tuổi già, chỉ mong có người bầu bạn, con cháu sum vầy.

Chúng ta trốn tránh sự cô đơn bằng cách tìm cho mình những mối quan hệ thân mật, nhóm nọ nhóm kia.

Nhưng có khi nào đang vui vầy cùng bè bạn, đứng giữa biển người mênh mang, chúng ta lại thấy lòng cô đơn đến lạ lùng? Như ánh mắt ai đó đang khắc khoải, như trái tim ai đó đang chờ mong chúng ta trở về? Chúng ta không nghe thấy hơi thở của họ, không nghe thấy nụ cười của họ, không nhìn thấy đôi mắt họ, nhưng chúng ta mơ hồ cảm nhận được họ bằng trái tim mình.

Trải nghiệm khác nhau trong cuộc sống của mỗi người tạo nên những suy nghĩ khác nhau và cảnh giới khác nhau. Mỗi người đều là tác phẩm độc nhất vô nhị của tạo hóa. Nên chăng sự khác biệt của mỗi người cũng là điều quá đỗi bình thường? Nếu mọi người không hiểu chúng ta, không tán đồng với ý kiến của chúng ta, thì cứ cười xòa cho xong chuyện. Những gì cần làm thì cứ bình tâm mà làm cho đến nơi đến chốn.

Điều thật kỳ lạ là những người tu luyện trên núi cao, rừng già, xung quanh chẳng một bóng người mà họ lại không hề thấy cô đơn. Phải chăng họ đã tìm được sợi dây liên hệ vô hình giữa mình và vũ trụ bao la này, nên mới sống an nhiên, tự tại đến vậy?

Phải chăng khi con người tìm được chính Đạo, tìm được ý nghĩa chân chính của đời mình thì sẽ không còn cảm giác cô đơn ấy nữa? Chỉ còn lại trong họ tình yêu cuộc sống và trân quý những phút giây họ đặt chân trên thế gian này.

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

May be an image of 6 people, including Hangnga Lê and people standing

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

Trân Văn

Bà Thiều Thị Tân, một trong những cựu tù nhân nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và là một trong những tấm gương của… chủ nghĩa anh hùng cách mạng (1) thành ra chẳng xa lạ gì với dân chúng Việt Nam, vừa liên lạc với ông Mạc Văn Trang (từng làm việc tại Viện Khoa học Giáo dục thuộc Bộ GDĐT Việt Nam khoảng 30 năm) đề nghị ông ghi lại và giới thiệu về giai đoạn bà bị giam ở Bệnh viện Tâm trí mà thiên hạ quen gọi là Nhà thương điên Biên Hòa năm 1972…

Bà Tân và chị gái (Thiều Thị Tạo) nổi tiếng cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam từ thuở còn là thiếu nữ. Gia đình tuy nghèo nhưng học giỏi nên hai chị em bà học trường Tây từ bé đến lớn. Cả hai tự tìm – theo Việt Cộng, trở thành thành viên Biệt động Sài Gòn. Lúc đó, bà Tạo mới 16 tuổi đã được cử làm Đội trưởng Đội Binh vận, bà Tân chỉ 13 tuổi đã được cử làm Đội phó (2). Hai năm sau (1968), họ bị bắt vì mang chất nổ vào phá hoại Tổng nha Cảnh sát Quốc gia (giống như trụ sở Bộ Công an hiện nay)…

Cả hai bị Tòa án Quân sự Mặt trận của VNCH kết án và bị đưa ra giam giữ tại Trung tâm Cải huấn Côn Sơn (Côn Đảo). Việc giam giữ hai thiếu nữ đã khiến chính quyền VNCH bị báo chí cả trong lẫn ngoài chỉ trích trích kịch liệt… Chính quyền VNCH thừa nhận sự khắc nghiệt của môi trường lao tù khiến bà Tân, bà Tạo suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần nên năm 1972, chuyển họ từ Trung tâm Cải huấn Côn Sơn về Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp (Biên Hòa – nay là Đồng Nai)…

Chuyện chưa ngừng ở đó, áp lực từ dư luận khiến chính quyền VNCH phải mở cửa nhà tù cho các phái đoàn quốc tế đến kiểm tra các trung tâm cải huấn. Khuyến cáo của nhiều giới ở trong nước, của các chính phủ, tổ chức quốc tế khiến Bộ ngoại giao VNCH yêu cầu Bộ Nội vụ VNCH phải xem xét lại một số trường hợp, trong đó có trường hợp của bà Tân. Nha Cải huấn thuộc Bộ Nội vụ VNCH phải chuyển bà Tân đến Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa…

Bà Tân đã cho ông Trang xem toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển bà vào Bệnh viên Tâm trí Biên Hòa và đưa bà ra khỏi đó. Có rất nhiều công văn, công điện trao qua, đổi lại giữa Bệnh viện Tâm trí – Trung tâm Cải huấn Biên Hòa – Chỉ huy trưởng CSQG tỉnh Biên Hòa – Nha Cải huấn,… Những công văn, công điện ấy cho thấy, nhân viên y tế các cấp của Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa không run sợ, không mệt mỏi trong việc sử dụng tư cách thầy thuốc để bảo vệ bà Tân – bệnh nhân của họ.

Theo ông Trang, sở dĩ bà Tân liên lạc với ông, mời ông đến để kể chuyện cho ông nghe, trao hồ sơ cho ông đọc để ông viết Chuyện người tù Việt Cộng trong Bệnh viện Tâm thần VNCH (3) vì bà đọc được Thư gửi các thầy thuốc có lương tri mà ông công bố hồi cuối tháng rồi. Từ những thông tin liên quan đến cách thức đối xử với một số tù nhân chính trị của “ta” như: Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương,… bị cưỡng bức điều trị tâm thần, ông Trang hy vọng các thầy thuốc nhớ và thượng tôn y đức (4).

Đó không phải là hy vọng của riêng ông Trang. Bà Tân cũng vậy. Bà hy vọng như vậy nên mới liên lạc với ông Trang, kể chuyện cho ông nghe, đưa hồ sơ cho ông đọc để ông có thể dùng trường hợp của chính bà như một ví dụ trong nỗ lực thúc giục các bác sĩ, các nhân viên y tế ráng nhớ, ráng ý thức dù ở dưới bất kỳ chế độ nào thì họ hãy cố giữ đúng lời thề Hippocrate, cứu chữa bệnh nhân đúng với lương tri của người thầy thuốc… Ông Trang chỉ kể chuyện, không bình luận dù có biết bao điều lớn lao đáng suy ngẫm…

***

Cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền của “ta” đang hối hả chuẩn bị để cuối tuần này long trọng kỷ niệm 46 năm ngày “đánh cho Mỹ cút, ‘ngụy’ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”.

Sắp tròn nửa thế kỷ… toàn thắng nên dư dữ kiện thực tế để chính “ta” có thể so sánh – nhận định những khác biệt giữa “ta” với “ngụy”.

“Ngụy” tự điều chỉnh để hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền được xem là văn minh như phần còn lại của nhân loại, không phớt lờ chỉ trích, khuyến cáo của dân chúng, các chính phủ, các tổ chức quốc tế, mở cửa – mời khảo sát hệ thống trại giam, thay đổi biện pháp tư pháp, không lên án những chỉ trích, khuyến cáo là… thù địch – xuyên tạc sự thật (5), hay gián tiếp chê bai những chỉ trích khuyến cáo là… ngu ngốc vì… dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam (6)…

“Ngụy” đã để tất cả các giới, kể cả trẻ con xem, nghe, tiếp nhận mọi thứ bất lợi cho mình, có lợi cho đối phương nên bà Tân, bà Tạo sớm… giác ngộ cách mạng khi còn là thiếu niên.

“Ngụy” cho những dân biểu (như bà Kiều Mộng Thu – giống Đại biểu Quốc hội của “ta”), những luật sư (như Luật sư Tòa Thượng thẩm Nguyễn Long) sự tự tin vào quyền hạn, chức trách, hiệu quả công việc để đòi hệ thống công quyền phải cung cấp thông tin, thay đổi cách hành xử với cả những cá nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

Sự tự tin vào quyền hạn, chức trách nghề nghiệp, vị thế mà “ngụy” tạo ra nơi công dân của VNCH cũng là lý do các nhân viên y tế từ trên xuống dưới ở Bệnh viện Tâm trí đồng loạt kháng cự hệ thống cải huấn để bảo vệ bà Tân một cách nhiệt thành. Luật pháp và cách quản trị, điều hành quốc gia của “ngụy” khiến Bộ Nội vụ, CSQG phải xem xét – phúc đáp cẩn thận mọi yêu cầu, tiết lộ cả những thông tin mật để thỏa mãn đòi hỏi của thường dân do họ có quyền của giới khoác blouse trắng.

Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện của “ngụy” khác rất xa với bệnh viện tâm thần của “ta”.

Thời “ngụy”, nhiều đồng chí của “ta” như bà Huỳnh Thị Ngọc – người mà năm 1972 ném lựu đạn vào đêm lửa trại của thanh niên (Hướng đạo, Gia đình Phật tử, Hội Hồng thập tự), học sinh trung học Quy Nhơn tại sân vận động Quy Nhơn khiến một nữ giáo sư, 10 học sinh mất mạng, hơn 100 học sinh khác bị thương (7) – giả điên để hệ thống tư pháp VNCH phải gửi vào Bệnh viện Tâm trí điều trị rồi trốn thoát (8)…

Thời “ngụy”, Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện là nơi mà dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ, đòi “ngụy” phải an trí nhiều phạm nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia tại đó vì lý do nhân đạo.

Thời “ta”, dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ không ngừng bày tỏ sự lo ngại, lên án “ta” vô nhân đạo, vi phạm nhân quyền khi biến bệnh viện tâm thần thành nơi đày ải, vô hiệu hóa những cá nhân bất đồng chính kiến.

Bà Ngọc – người theo lệnh của “ta”, vì muốn giết một tỉnh trưởng của “ngụy” mà liệng lựu đạn vào nơi có cả ngàn giáo sư, học sinh, rồi giả điên để né tránh trách nhiệm không chỉ được “ta” khen là… mưu trí dũng cảm mà còn được “ta” phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Hồ sơ liên quan đến bệnh án của bà Ngọc vẫn đang trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ (Quận 3, TP.HCM)! Có thể đến đó để tận mục sở thị và kiểm chứng về sự khác biệt giữa “ta” và “ngụy”.

Về ngữ nghĩa, “ngụy” là giả trá, xảo quyệt nhưng nếu không tử tế hoặc ít nhất là nỗ lực hướng đến sự tử tế thì “ngụy” không thể như đã thấy và trước những gì đang diễn ra trên thực tế dưới sự quản trị – điều hành của “ta”, bà Tân chẳng còn cách nào khác, đành phải dùng chính trường hợp của bà để khuyên đội ngũ nhân viên y tế của “ta”đối xử với những cá nhân bị “ta” cáo buộc là… chống phá đúng với lương tri thầy thuốc. Bao nhiêu người tin đội ngũ nhân viên y tế dám hành xử tử tế như lời khuyên của bà Tân?

Thậm chí bao nhiêu người dám đoan chắc một người như bà Tân có thể bình an vô sự sau khi vì muốn thấy sự tử tế mà mở miệng khuyên can. “Ta” có nên giữ mãi sự hãnh diện vì luôn luôn đi ngược hướng với “ngụy”, kể cả tử tế với những khác biệt, kễ cả đối lập, đối kháng như… “ngụy”. Thêm bao nhiêu năm nữa ta mới tử tế như… “ngụy”?

***

– Những người đang bị giam giữ tại Việt Nam; kể cả bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Từ phải sang: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Lê Anh Hùng, Phạm Đoan Trang, Hồ Sỹ Quyết. Photo Tập hợp từ Facebook.

“Chống đảng Cộng sản và nhà nước, chỉ có thể là tâm thần”.

 

Trần Bang

“Chống đảng Cộng sản và nhà nước, chỉ có thể là tâm thần”.

—————————–

Hầu như ai yêu văn chương, cũng đều biết đến nhà thơ người Nga, gốc Do Thái Joseph Brodsky. Đến Mỹ từ đầu thập niên 70, Brodsky trở thành một trong những biểu tượng hàng đầu về ngôn ngữ thi ca. Nhiều giải thưởng quốc tế trao cho ông để vinh danh, trong suốt một thời gian dài, cao quý nhất là Nobel Văn chương năm 1987.

Cho tới khi Brodsky qua đời (1996), đa số giới phê bình vẫn đồng quan điểm rằng ba nhân vật quan trọng hàng đầu, là Joseph Brodsky, Octavia Paz và Gabriel Garcia Marquez đã kiến tạo nên sự đẹp đẽ của ngôn ngữ thi ca văn chương thế kỷ 20.

Ấy vậy mà, ít ai tưởng tượng được, trong thời kỳ sống và sáng tác ở Liên Xô, Brodsky bị mật vụ đưa vào các trại tâm thần, chỉ vì ông có đường lối sáng tác riêng, cũng như không khuất phục các yêu cầu tư tưởng từ lãnh đạo chính trị. Bị kết án là phi lao động và là thành phần có tư tưởng phản Xô-viết, Brodsky ra tòa vào tháng 3-1964, và bị đưa vào trại tâm thần, bên cạnh việc lao động cưỡng bức.

Một nhân vật kiệt xuất của loài người như Joseph Brodsky, mà cũng bị đưa vào trại cưỡng bức điều trị tâm thần, thì có lẽ không còn ai sống trong chế độ cộng sản có đủ nhân tính, đủ tỉnh táo lại được tự do bên ngoài.

Trong một lần trả lời phỏng vấn ở Mỹ, sau khi định cư, nhà thơ Brodsky kể rằng mình bị giam trong phòng riêng ở trại tâm thần, và được y tá đến tiêm những loại thuốc ‘an thần’ không tên. Nếu kháng cự, ông sẽ bị trói vào giường và được chụp hình lại để làm bằng chứng trong hồ sơ về mức độ nguy hiểm của giai đoạn tâm thần. Brodsky thường bị đánh thức vào nửa đêm, các bác sĩ và y tá “điều trị tâm thần” dẫn ông đi, xịt nước và bắt ngâm mình trong bồn nước lạnh.

Từ thời Josef V. Stalin, việc đẩy các tù nhân chính trị vào trại tâm thần để cách ly với xã hội khá phổ biến, nhưng đến thập niên 60, thời của tổng bí thư Leonid Brezhnev, tâm thần được biến hóa thành một công cụ hoàn chỉnh để loại bỏ các đối thủ chính trị hay những người bất đồng chính kiến, hoặc thậm chí với những người dám công khai bày tỏ sự mâu thuẫn với giáo điều cộng sản.

Trong tiếng Nga, có chữ Psikhushka (психу́шка), mà hầu hết những người có hiểu biết về chế độ cộng sản đều nhớ đến nó như một nỗi ám ảnh. Trong thời đại cưỡng ép mọi người phải cúi đầu trước chủ nghĩa Marx-Lenin và bạo quyền, toàn cõi Liên Xô khi nhắc về Psikhushka, là nhắc những trại tù tâm thần, với đủ các trò tra tấn để hủy diệt con người không chịu khuất phục.

Thậm chí, các cuộc tranh luận về tính thực tế của lý thuyết Marx, Lenin… trên báo chí hay các diễn đàn, người thắng cuộc phản biện cũng có thể bị đưa vào nhà thương điên, với chẩn đoán chuẩn mực Xô viết, là những kẻ philosophical intoxication – bị ngộ độc triết học, và cần phải được chạy chữa.

Mikhail I. Buyanov, bác sĩ tâm thần và thần kinh học, viết trong cuộc khảo sát lịch sử về tâm thần học của Liên Xô sau khi hệ thống này tan rã, do Uchitelskaya Gazeta xuất bản, viết rằng “các nhà lãnh đạo thỏa thuận với nhau về nội dung: ở đất nước chúng tôi không có những người bất đồng chính kiến ​​- chỉ có những người tâm thần mất trí hay vi phạm pháp luật”. Đến thời của Nikita S. Khrushchev, lời giải thích chính thức kèm theo, trở thành câu nói cửa miệng của giới công an, là “không một người lành mạnh nào chống lại chủ nghĩa xã hội”.

Lịch sử vẫn ghi lại rõ tội ác của những kẻ thủ ác, từ những trại tập trung của Phát xít Đức trong đệ nhị thế chiến, cho đến vụ thảm sát dân thường ở Hungary vào năm 1956 của Hồng quân Liên Xô. Thế nhưng ghi chép về các âm mưu biến người bất đồng chính kiến thành các bệnh nhân tâm thần trong thời chiến tranh lạnh, chưa bao giờ tỏ rõ được hết sự man rợ của các nhà lãnh đạo cộng sản. Đặc biệt trong đó có sự hợp tác của các bác sĩ được gọi là chuyên gia tâm thần. Sau này, trong cuốn State of Madness: Psychiatry, Literature, and Dissent After Stalin (tạm dịch: Tình trạng cuồng điên: Tâm thần học, Văn chương và Bất đồng chính kiến thời sau Stalin), tác giả Rebecca Reich gọi các loại bác sĩ đó là những nhà viết kịch bản đại tài để bỏ tù những người bất đồng chính kiến.

Chẳng hạn như với trường hợp của nhà thơ Joseph Brodsky, không có hồ sơ bệnh án nào. Nhưng từ phán quyết của Snezhnevsky, một bác sĩ “chính trị tâm thần” lừng danh trong thời Xô-viết, đã trở thành mệnh lệnh trước tòa để quyết định đưa Brodsky đi “điều trị tâm thần”. Ông này đã nói rằng “nhìn Brodsky là biết có bệnh tâm thần phân liệt”, và Snezhnevsky kết luận rằng “anh ta không phải là một người có giá trị gì cả và nên cho đi vào trại tâm thần”. Lúc đó, Joseph Brodsky chưa đến 24 tuổi.

Liên Xô được coi là văn minh nhất, vì có cả những tòa án xét tội tâm thần. Tại tòa, Brodsky bị đại diện Viện kiểm sát kết án là “đã không thực hiện được nghĩa vụ hiến định của mình là làm việc lương thiện vì lợi ích của Tổ quốc”. Khi ấy, ông bị chất vấn “ai cho phép anh xưng là nhà thơ, ai cho phép anh tự mình đứng vào hàng ngũ các nhà thơ?”’ – “Không ai cả”, Brodsky trả lời, “Vậy ai đã ghi danh tôi vào hàng ngũ loài người?”. Sau cuộc đối chất đó, Joseph Brodsky bị kết án 5 năm, vừa chữa tâm thần, vừa cải tạo lao động cưỡng bức 5 năm tại tỉnh Arkhalgelsk, miền bắc nước Nga.

Tài liệu điều tra của nhà nghiên cứu Benjamin Zajicek (The Psychopharmacological Revolution in the USSR: Schizophrenia Treatment and the Thaw in Soviet Psychiatry, 1954–64), phát hiện rằng vào những năm 1950 và 1960, sự ra đời của các loại dược phẩm tâm thần mạnh mẽ, đặc biệt là Chlorpromazine (Thorazine), các bác sĩ “chính trị tâm thần” Liên Xô đã lạm dụng với tên Aminazine, và sử dụng tùy tiện nơi các tù nhân chính trị, các nhân vật bất đồng chính kiến. Thậm chí, Liên Xô còn hợp thức hóa việc điều trị chuyên biệt ở bệnh viện, sang điều trị ‘hỗ trợ’ trong cộng đồng, tức một người nào bị tạm giam 1 hay 4 tháng để điều tra ở bất kỳ đồn công an nào, họ cũng có thể bị ép hoặc lừa dùng thuốc này, để thao túng lời khai hay trạng thái của người bị giam giữ.

Tài liệu này cũng ghi nhận, ít nhất sau 12 tháng điều trị, nếu thấy thể chất của người bị áp dụng thuốc vẫn tốt, thường liều lượng được tăng lên gấp 2 hoặc gấp 4 lần, để phục vụ việc ra tòa hoặc kết thúc nhanh sự vụ.

Việc cưỡng bức điều trị tâm thần ở Liên Xô bị tố cáo trong các kỳ Đại hội của Hiệp hội Tâm thần Thế giới ở Mexico City (1971), Hawaii (1977), Vienna (1983) và Athens (1989), gây ra thiệt hại không thể cứu vãn đối với uy tín của nền y học Liên Xô. Thậm chí năm 1974, nhà tranh đấu Vladimir Bukovsky và bác sĩ tâm thần bị giam giữ Semyon Gluzman đã cùng viết cuốn Cẩm nang hướng dẫn đối phó về việc bị cưỡng bức điều trị tâm thần cho những người bất đồng chính kiến, cung cấp cho các nạn nhân tiềm năng của bệnh “tâm thần vì chính trị”, hướng dẫn cách cư xử trong quá trình điều tra để tránh bị chẩn đoán là bệnh tâm thần.

Sự việc bùng nổ hơn vào năm 1968, khi nhà ngôn ngữ học Viktor Isaakovich Fainberg, nhân vật nổi bật của phong trào bất đồng chính kiến ​​ở Liên Xô, cùng 6 người bạn của mình biểu tình ở Quảng trường Đỏ phản đối Liên Xô xâm lược Tiệp Khắc, qua đó khởi phát Chiến dịch chống lạm dụng tâm thần.

Về vấn nạn cưỡng ép người khác biệt quan điểm chính trị hay hoạt động xã hội vào trại tâm thần, có thể được xem Liên Xô là anh cả, kế đến là Trung Quốc và nhiều nước cộng sản đàn em khác. Thập niên 2000, việc đưa vào trại tâm thần được áp dụng nhiều ở Trung Quốc và các nước cộng sản và độc tài, vì rất tiện lợi: không cần ra tòa, chỉ cần có công an và bác sĩ thỏa hiệp với nhau. Nhưng khác với thời chiến tranh lạnh, giờ đây, hành động đó hiển nhiên được coi là tội ác chống loài người, dù được ngụy trang với bất kỳ vỏ bọc nào.

Năm 1996, nhà thơ Joseph Brodsky qua đời tại căn hộ của mình ở Brooklyn Heights, New York. Sau đó ít lâu, Vladimir Radunsky, một họa sĩ Nga hâm mộ ông, đến làm một bia mộ, trên đó có dòng chữ tiếng Latin “Letum non omnia finit” (Chết chưa là hết). Diễn ngôn này mô tả danh tiếng của Brodsky, nhưng có lẽ cũng nhắc cho mọi người nhớ, nhà thơ vĩ đại này ra đi, nhưng ký ức về loại tội ác với con người của chế độ cộng sản, mà ông là một trường hợp, sẽ luôn được ghi nhớ.

Bài copy FB Khanh Nguyen ( NS Tuấn Khanh)

30/4 – Điều Cần Nói

30/4 – Điều Cần Nói

Tôi sẽ không nói ngày ấy là ngày gì bởi với bên thắng cuộc, ngày ấy là ngày “chiến thắng”, “giải phóng”, “thống nhất”, bên thua cuộc là ngày “mất nước”, “thua cuộc” là ngày bắt đầu một thời kì mà những người dính líu tới quân quyền của VNCH sẽ bắt đầu chịu sự đày đoạ trong những trại “cải tạo” trong nhiều năm và bắt đầu làn sóng vượt biển đầy máu và nước mắt của hàng triệu người để tìm một cuộc sống mới.

Tôi sẽ không nói tới lý tưởng bởi bên nào cũng có lý tưởng của riêng mình, bên nào mà chẳng cho là lý tưởng của mình cao đẹp hơn.

Người ta nên bàn về lịch sử, hiểu lịch sử để định hình hiện tại và tương lai, người ta cũng có quyền phán xét lịch sử nhưng với một con mắt bao dung bởi vào thời điểm ấy nhận thức của những nhân vật lịch sử có sự hạn chế và nếu chúng ta, những kẻ hậu sinh với nhận thức của thời đại nếu được trao lá cờ vào những thời điểm quá khứ, liệu ta có chắc là sẽ không mắc sai lầm?

Điều đáng nói là về quan niệm, phát ngôn và ứng xử của những người cầm quyền hiện thời với ngày 30/4. Sau 46 năm mà quan niệm, phát ngôn và ứng xử vẫn y như trước thì đấy mới là một sự man rợ, cố chấp và u muội.

Máu người Việt đã thấm trên từng mét vuông trên mảnh đất hình chữ S, người phía nào cũng là con của mẹ Việt, cũng đều đau xót. Số phận của dân tộc, của mảnh đất hình chữ S này đã khốc liệt và đau khổ biết bao khi tài chính, vũ khí và lương thực được cấp cho người Việt của hai bên chiến tuyến bắn giết nhau.

Các bạn đứng ở bên nào, tôn thờ lý tưởng của bên nào là quyền của các bạn, với tôi mọi lý tưởng chỉ là phù phiếm khi người Việt chĩa súng vào nhau.

Ở góc nhìn này, tôi thấy rằng những người cực đoan cả hai phía đều không bao giờ có thể làm được một thứ được gọi là “hoà hợp hoà giải dân tộc”.

Tuy nhiên, trách nhiệm để làm được sự nghiệp này đa phần nằm trên vai của bên thắng cuộc. Tất cả sẽ chỉ là câu chữ, là một khẩu hiệu oang oang rỗng tuếch và tình trạng chia ly về nhân tâm vẫn y nguyên sau 46 năm nữa khi bên thắng cuộc sau mấy chục năm không trở nên văn minh hơn, có cái nhìn nhân văn hơn.

Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Chỉ khi những người có địa vị cao nhất có tâm, có tầm, có cái nhìn nhân văn, thực sự tha thiết hàn gắn nỗi đau của người Việt thì mới hy vọng cái sự nghiệp hoà hợp hoà giải dân tộc to đùng kia mới được cải thiện.

Hãy nhìn chính quyền Úc đã ứng xử thế nào với những người bản xứ đã bị tàn sát để chiếm đất. Những người đứng đầu đã công khai xin lỗi vì một lỗi lầm của tổ tiên trong quá khứ xa xôi và họ đã có một chính sách ưu đãi như để chuộc lỗi cho tổ tiên của mình.

Ở đây, tôi phải nhấn mạnh để bò đỏ rận rệp không có cớ mà chửi bới, xuyên tạc, tôi không có ý muốn nói là ai phải xin lỗi ai ở Việt Nam mà tôi đề cao một cái nhìn nhân văn, hợp lòng người của những người trong bộ máy chính quyền của Úc.

30.4 nào tôi cũng có bài viết, nhiều đến nỗi mà chỉ sợ lặp lại chính mình và bản thân cũng thấy nhàm chán, nhưng không viết thì thấy như thể có lỗi gì đấy.

Chỉ xin kết bằng một câu rằng, mọi lý tưởng chỉ là tương đối, cái này đúng hôm nay có thể là rất sai của ngày mai, chỉ có tấm lòng yêu thương con người, sự thông cảm và hiểu biết với “phía bên kia” mới khiến con người gần lại nhau mà thôi.

Nghĩ như vậy và nhìn những vấn đề nhỏ hơn trong cuộc sống, tôi cũng thấy nhiều tranh cãi vụn vặt thực ra là vô nghĩa, cuộc sống này chỉ tình yêu con người mới là thứ đáng nói mà thôi.

– Đoàn Bảo Châu

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nguyễn Hưng Quốc vừa gửi đến thân hữu và độc giả của ông một stt ngắn:

Elie Wiesel, một giáo sư người Mỹ gốc Do Thái, nói một câu thật hay: “Trái ngược với tình yêu không phải là sự thù ghét mà là sự dửng dưng. Trái ngược với nghệ thuật không phải là cái xấu mà là sự dửng dưng. Trái ngược với đức tin không phải là tà giáo mà là sự dửng dưng. Và trái ngược với sự sống không phải là cái chết mà là sự dửng dưng.”

Ứng dụng vào trường hợp của Việt Nam, chúng ta cũng có thể nói: đối lập với dân chủ không phải là độc tài mà là sự dửng dưng; đối lập với độc lập và chủ quyền trên lãnh thổ không phải là sự xâm lược mà là sự dửng dưng; đối lập với sự phát triển không phải là sự lạc hậu mà là sự dửng dưng.

Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.

Kiểu “ứng dụng” và cách “nói tóm tắt” như trên rất có thể khiến nhiều người hiểu lầm rằng dân Việt vốn tính thờ ơ, lạnh lùng, và ăn ở không có (hoặc thiếu) cảm tình.

Hổng dám “thiếu” đâu. Sợ còn dư nữa là khác, theo tin tức của báo chí nhà nước:

Fan bóng đá còn đông đảo và cuồng nhiệt hơn gấp bội :    

Ở California hay Washington, DC năm rồi cũng thế. Người Việt tị nạn cũng tụ tập đông đảo hay biểu tình rầm rộ để ủng hộ hai ứng viên tổng thống (Dân Chủ hoặc Cộng Hoà) cùng biểu ngữ, cờ xí, và “hào khí” ngất trời luôn!

Dân Việt – rõ ràng – hoàn toàn không dửng dưng, cũng không vô cảm. Họ chỉ hờ hững và lạnh nhạt trước chuyện sống còn của quê hương đất nước thôi.

Sao kỳ vậy cà?

Trước những sự kiện đang diễn ra ở Miến Điện, bỉnh bút Du Uyên (Tuần Báo Trẻ, số 1237, phát hành từ Texas, ngày 2 tháng 4 năm 2021) có vài nhận xét cùng đôi ba câu hỏi nhỏ :

Họ bất chấp hy sinh tất cả, ngay cả kinh tế của từng gia đình, từng người để đổi lấy một nền dân chủ thực sự trên đất nước mình. Tuyên bố sẵn sàng chia sẻ thức ăn, nước uống và các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày cho nhau, giúp đỡ nhau đến khi kinh tế do quân đội độc tài điều hành sụp đổ…

Người dân Miến Điện không chỉ tin vào tự do, dân chủ, mà họ còn tin nhau. Bởi vậy mới có sự đoàn kết như thế! Thường thì có sự gì trên thế giới, dân tình đều sẽ nhìn lại bản thân mình. Nhiều người Việt cũng vậy, không ít người đã hỏi: liệu chúng ta có đủ niềm tin cho nhau khi “loạn lạc” hay không? Và nếu xảy ra những cuộc nội chiến tương tự, thì dân Việt có đủ tin vào tự do, dân chủ để làm nên những điều trên hay không?

Không … là cái chắc!

Người Việt cũng sở hữu rất nhiều thuộc tính như đa phần nhân loại, chỉ thiếu mỗi … niềm tin thôi. Họ hoàn toàn không tin tưởng gì vào vận mệnh và tương lai của đất nước nên hết thế hệ này, sang thế hệ khác đều sẵn sàng (và lũ lượt) rời bỏ quê hương, không chút luyến thương. T.S  Phương Mai gọi đây là “cuộc tị nạn niềm tin”!

Dân Việt cũng chả có chút kỳ vọng hay tin tưởng gì vào nhau cả, theo như lời than thân của nhà hoạt động xã hội Đỗ Cao Cường:

“Khi một người Hồng Kông đứng lên, cả triệu người Hồng Kông che chắn, nhưng khi một người Việt Nam đứng lên, họ phải xác định không gia đình, không sự nghiệp, không bạn bè. Đôi khi, một mình họ chống lại cả thế giới này.”

Sao đến nông nỗi thế?

Dù cũng bao gồm hằng trăm sắc dân (và sống hơn nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài) nhưng người Miến chưa bao giờ bị ép buộc phải đấu tố, canh chừng, rình rập, và tố giác lẫn nhau. Nhờ vậy nên dù thường trực phải chịu đựng áp lực của một thể chế cường bạo, họ vẫn còn niềm tin vào tha nhân. Ngoài ra, dân Miến cũng còn giữ được niềm tin vào tôn giáo vì không gian tâm linh của họ không bị vấy bẩn (hay lũng đoạn) bởi đám tu sĩ quốc doanh – như ở Việt Nam.

Từ Yangon, nhà báo Từ Khanh tường thuật: “Nhà chùa, dưới chế độ quân phiệt, đóng vai trò hướng dẫn cuộc sống đời và đạo… Các lớp học trong chùa suốt năm thập niên qua tiếp tục dạy con người trở thành kẻ hiền lương trong mọi hoàn cảnh.”

Cũng như người Lào, người Miến hiền thật (và hiền lắm) hiền tới cỡ khiến du khách phải lấy làm … ái ngại. Những ông phu xe đều xua tay và lắc đầu quầy quậy, nếu hành khách có nhã ý trả cho họ một số tiền nhiều hơn giá cả thông thường. Các ông tài xế taxi ở Myanmar cũng thế. Dù xe không có máy tính tiền nhưng chả ai phải mặc cả hay trả giá cò kè gì sất.

Những ngày ở Burma, tôi hay la cà nơi quán xá vỉa hè nên thỉnh thoảng vẫn bị chủ quán vội vã rượt theo, la ơi ới, vì tưởng thực khách bỏ quên tiền – số tiền trà nước (pour boire) kín đáo để lại cho những đứa bé chạy bàn. Thực là một dân tộc hiền lương, chất phát, và chắc là rất cả tin.

Điều may mắn là đất nước của họ vẫn còn nhiều điều khả tín. Miến Điện có đảng đối lập (Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ Đảng – National League for Democracy) với thực lực, cùng lãnh đạo tầm vóc và được người dân tin tưởng.

Dân Việt thì hoàn toàn tay trắng, chả có gì làm vốn để chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy, một cắc cũng không luôn.

Nếu tính từ tháng tư năm 1975 đến nay thì chế độ hiện hành ở Việt Nam chưa gặp phải một đối lực nào đáng kể. Đảng đối lập không, lãnh đạo phản kháng cũng không – nếu “quên” kể hai khuôn mặt bệnh hoạn thấy rõ là Tổng Thống Đào Minh Quân và Thủ Tướng Nguyễn Hữu Chánh. Cả hai đều là tuyệt phẩm của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Tôi bị bạn bè trách móc vì đã đôi lần đặt đôi câu hỏi nhỏ (Nó Rớt Rồi Sao hay Nó Sập Rồi Sao) với không ít bi quan. Lắm người chỉ muốn nó đổ ngay đi cho khuất mắt, rồi hậu xét.

Nếu ngày mai chế độ quân phiệt Miến Điện cáo chung thì Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ở xứ sở này sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm và quyền bính. Còn nếu ngày mốt mà bọn cộng sản (bỗng) lăn đùng ra chết hết thì không biết dân Việt sẽ loay hoay và và xoay trở ra sao, với những cái xác thối tha trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Không có niềm tin vào nhau, và vào tương lai của đất nước thì ai cũng đều giữ cái thái độ dửng dưng và vô cảm cả (cho nó an toàn) là chuyện tất nhiên. Thiên hạ nơi đâu và thời nào cũng thế, chứ chả riêng chi dân Việt.

Tưởng Năng Tiến
4/2021

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam, Jean-Marie MÉRILLON nói gì?

 May be an image of 1 person

 Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỷ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975..

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi.

Chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ.

Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

5 LÝ DO VUA HÙNG THIẾT THA ĐỀ NGHỊ TỪ NĂM SAU KHỎI CẦN LÀM GIỖ

Cuong Hoang

5 LÝ DO VUA HÙNG THIẾT THA ĐỀ NGHỊ TỪ NĂM SAU KHỎI CẦN LÀM GIỖ.

  1. Hàng ngàn năm sau khi Vua mất, gần 100 triệu con dân của Người, phần đông vẫn không học được những điều đơn giản nhất mà cả thế giới (trừ trung quốc) đều biết: phải xếp hàng – phải tự giác giữ trật tự ở chỗ đông người, không chen lấn xô đẩy gây hỗn loạn, biết giữ văn minh khi đi du lịch- thăm quan. Khổ bà già, tội trẻ con, thương người có bệnh. Từ trên đỉnh non cao, nhìn đàn con có lớn mà không có khôn, Vua thấy mà buồn không tả xiết!
  2. Mỗi lần Giỗ Vua, Vua lại thấy đau lòng trước thói hình thức- lãng phí kệch cỡm đến vô lý của đám cháu con. Thời của Vua, dù cho bánh chưng là đất, bánh dày là trời thì cũng chỉ nhỏ nhỏ xinh xinh như một nét văn hoá tươi đẹp; chứ không phải bánh chưng tấn rưỡi, bánh dày tạ hai như bây giờ. Ở miền cao, trẻ con còn mơ được ăn cơm có thịt, ở miền Tây, sắp khô hạn cả rồi, đất nước còn nghèo khó, nợ công mỗi lúc một dày, Vua lòng dạ nào mà ăn cho được. Và hơn cả, Vua đâu dám ăn vì ai dám chắc thịt nhân bánh không có chất tạo nạc, gạo nếp kia không phải hạt nhựa Tàu, ăn vào có khi Vua băng hà lần nữa. Vua thấy mà đắng lòng!
  3. Mỗi lần giỗ, Vua mệt mỏi vì những lời khấn nguyện xàm xí của cháu con. Kẻ cầu cho con được trúng mánh lên đời xe, đứa thì mong cho con được thăng quan tiến chức, ti tiện hơn thì cầu cho con năm nay xà xẻo được nhiều……Vua nghe xong chỉ muốn đuổi tất cả lũ về, tìm ngay lại chuyện Mai An Tiêm mà đọc. Không có quả ngọt nào chỉ cần cầu khấn mà có. Thế kỉ nào rồi mà còn mơ làm ít ăn nhiều. Phải là nước mắt, mồ hôi gian khó, trí tuệ cần cù mới mong có hoa thơm trái ngọt. Vua thấy mà thêm sầu!
  4. Vua buồn khi cháu con chỉ mượn cớ giỗ Vua để thêm ngày nghỉ, bày trò nhậu nhẹt tối ngày, say xỉn hò hét như thể nơi rừng xanh núi đỏ. Để rồi mỗi lần giỗ vua xong là năm sau lại thành giỗ của vài ngàn đứa chết vì tai nạn giao thông rồi đánh nhau ẩu đả. Thương cha Lạc mẹ Rồng thì cố gắng làm lụng chăm chỉ, đừng hò nhau đổ về Phú Thọ nữa, núi Nghĩa Lĩnh đã chật chội lắm rồi. Vua ngẫm mà thấy ứa nước mắt.
  5. Giỗ Vua nhưng ngày càng ít cháu con biết về lịch sử. Quang Trung giờ chúng nó còn cho thành bạn chiến đấu của Nguyễn Huệ thì nói gì đến vua ở cách đó cả ngàn năm. Lịch sử cách đây vài chục năm đã bị xói mòn nghiêm trọng, Gạc Ma không ai nhắc tới, Vị Xuyên ngày càng nhiều người quên……thì nói gì đến 18 đời họ nhà Hùng của Vua tên dài dòng khó nhớ. Vua nghĩ tới mà giận khôn cùng!

Tổ tiên nào cũng mong muốn được thờ cúng, được cháu con nhớ tới, nhưng hơn hết tất cả tổ tiên mong muốn cháu con sống tốt- sống đẹp – sống có ích trong một đất nước hùng cường- văn minh- lịch sự. Vua chết cả ngàn năm nay rồi còn thiết tha gì nữa đâu một ngày giỗ mọn. Chi bằng từ năm sau toàn dân vẫn cứ đi làm ngày 10/3 Âm lịch nhưng lấy lương bổng ngày đó để làm từ thiện cho đồng bào. Suối sâu còn cần cầu, núi cao học sinh còn cần “Cơm có thịt”, đồng bằng cần học phép tắc ứng xử văn minh, trẻ con cần học ngoan ngoãn, người lớn cần tự sửa mình để lúc nào cũng làm người tử tế chứ đợi lúc về hưu thì đã quá muộn…..Chỉ cần vậy thôi là Vua chẳng cần giỗ nữa rồi mà vẫn sống đời đời bên cháu con hạnh phúc.

Hoàng Huy

#VitaminTours

CÂU CHUYỆN TẠI NHÀ BANK

CÂU CHUYỆN TẠI NHÀ BANK

Sau khi phải tốn cả tiếng đồng hồ với cha tôi tại nhà bank chỉ để cho ông cụ chuyển một số tiền, tôi nói

– Tại sao mình không dùng internet, ba?

– Tại sao phải qua internet? Ông hỏi lại.

– Tại vì mình sẽ không tốn hàng giờ vô bổ ở đây. Không chỉ nhà bank, ba có thể đi shopping mua bất cứ thứ gì từ internet. Mọi chuyện đều dễ dàng.

– Nếu vậy thì ba sẽ không cần ra khỏi nhà ư?

– Đúng vậy, -Tôi cao hứng kể tiếp- Bất cứ món gì ba muốn, Amazon có thể mang đến tận cửa cho mình.

Và những lời sau đây của cha tôi đã làm tôi chợt tỉnh

– Con thấy không, từ khi vô đây ba đã có dịp gặp gỡ chuyện trò 4 người bạn cũ. Có dịp trao đổi với nhân viên nhà bank, và họ bắt đầu biết ba là ai.

Ba đang ở một mình. Đây là nơi ba sẽ cần đến. Ba muốn gặp mặt từng người họ để tạo sự quan hệ cá nhân với nhau. Ba có đủ thì giờ để làm việc này.

Con còn nhớ hai năm trước ba bị bệnh nặng, ông chủ tiệm tạp hóa đầu đường đã đến thăm ba ngay tại giường?

Một lần khác mẹ con bị vấp té khi đang đi bộ trên đường. Một người bán hàng gần đó đã mau chóng dùng chính xe của anh ta chở mẹ về đúng nhà mình.

Ba làm sao có được sự quan tâm giúp đỡ đó nếu phải mua tất cả online trên internet?

Đó là lý do tại sao ba muốn giao dịch với người ta, giữa những con người với nhau chứ không phải chỉ bằng những cái máy computer.

Ba thực sự muốn biết “con người” thật ba đang cần đến, trao đổi trong đời sống, không phải chỉ thuần túy là một kẻ “bán hàng”.

Amazon đâu thể cung cấp tất cả những thứ đó cho ba, phải không?

Khoa học và kỹ thuật không phải là đời sống con ạ

Chúng ta cần có thời gian nhiều hơn giữa con người với nhau, không phải giữa con người và những cỗ máy vô tri.

===========================

(#suutam từ trang Fuzzi Snail.)

(Thai NC lược dịch)

KẺ TRỘM XÂU CHUỖI

 KẺ TRỘM XÂU CHUỖI

Có một ngôi chùa, nhân vì thờ một xâu chuỗi Phật Tổ từng đeo mà nổi tiếng. Nơi thờ phụng sợi chuỗi chỉ có thầy trụ trì và 7 đệ tử biết.

Bẩy người đệ tử đều rất có ngộ tánh, thầy trụ trì cảm thấy tương lai đem y bát truyền cho bất kỳ người nào trong bọn họ, đều có thể làm rạng rỡ Phật Pháp. Không ngờ, xâu chuỗi đột nhiên biến mất.

Thầy trụ trì bèn hỏi 7 đệ tử: “Các ngươi ai đã lấy xâu chuỗi, chỉ cần trả về vị trí cũ, ta sẽ không truy cứu, Phật tổ cũng không trách tội”.

Các đệ tử đều lắc đầu.

Bẩy ngày trôi qua, xâu chuỗi vẫn không được trả về. Thầy trụ trì lại nói: “Chỉ cần ai đó thừa nhận, xâu chuỗi sẽ thuộc về người đó”.

Lại trải qua 7 ngày, vẫn không ai thừa nhận.

Thầy trụ trì rất thất vọng: “Ngày mai các người hãy rời khỏi chùa xuống núi hết đi, riêng kẻ đã lấy xâu chuỗi ta cho phép ở lại đây”.

Qua ngày hôm sau, 6 đệ tử thu dọn xong hành lý, thở nhẹ một hơi dài, nhẹ nhàng ra đi. Chỉ có một người ở lại.

Thầy trụ trì hỏi đệ tử ở lại:

– Xâu chuỗi đâu?

– Con không lấy.

– Vậy tại sao chịu mang lấy tiếng trộm cắp?

– Mấy ngày nay các huynh đệ đều nghi ngờ lẫn nhau, nếu có người đứng ra, mới giải thoát cho chuyện này. Xâu chuỗi tuy mất, Phật vẫn còn đây.

Thầy trụ trì cười, lấy xâu chuỗi từ tay áo mình ra, đeo vào tay người đệ tử.

Không phải mọi việc đều cần nói rõ ràng, cái quan trọng hơn nói rõ ràng đó là: có thể gánh vác, có thể hành động, có thể hóa giải, có thể sắp xếp, có thể thay đổi, nghĩ về mình, càng phải nghĩ cho người khác, đây chính là Pháp.

Người hiểu bạn, không cần phải giải thích.

Người không hiểu bạn, giải thích cũng vô ích.

Đây không chỉ là một loại cảnh giới, mà hơn hẳn là một loại đại trí huệ.

Tran Dung

From: TU-PHUNG

‘Ngày Mai Đã Muộn Rồi!’- TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

Van Pham

TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

‘Ngày Mai Đã Muộn Rồi!’

Ở thời niên thiếu, chúng tôi đã được xem một cuốn phim tình cảm đen trắng do Ý sản xuất trong một rạp chiếu bóng ở một tỉnh nhỏ miền Trung. Cuốn phim mang tên “Ngày Mai Đã Muộn Rồi,” Demain c’est trop tard!) liên quan đến việc giáo dục giới tính phù hợp cho giới trẻ. Cuốn phim nêu ra chuyện nếu hôm nay không được chỉnh sửa hay là được làm đúng, ngày mai đã quá trễ, muộn màng.

Tuổi ấy, chúng tôi không hiểu nhiều về tình tiết của câu chuyện, và luận đề cuốn phim đưa ra, nhưng sau này, rất thích lập lại tên của cuốn phim trong nhiều tình huống của cuộc sống. Phải chăng, đừng để đến ngày mai mà muộn màng, những gì làm được hôm nay thì hãy làm.

Bây giờ bước vào tuổi già, bạn đã có bao điều hối hận: phải chi ngày trước mình biết cách yêu thương, định hướng cho bản thân và nỗ lực hơn, biết trân quý bạn đời hơn, biết giáo dục con cái hơn…

Trước khi biết mình qua đời, người sắp chết cũng có bao nhiêu điều phải hối tiếc. Bước qua một năm mới, chúng ta cũng có những điều tự hỏi vì sao đã bỏ phí trong năm qua. Và rồi qua một ngày, có bao giờ bạn thấy hối hận đã không làm việc ấy ngay hôm nay không?

Thời gian cứ trôi đi và chẳng bao giờ dừng lại để chờ đợi ai, cũng chẳng chờ cho chúng ta làm xong việc này hay kết thúc một việc khác. Một ngày qua đi và một ngày không trở lại, và công việc ấy chúng ta không làm hôm nay, sẽ không bao giờ chúng ta có cơ hội thực hiện nữa. Không phải là cứ một đời người, hay một năm, mà một ngày cũng đã là quá muộn!

Bạn tôi đang nằm trong bệnh viện, vừa qua một cuộc giải phẫu khá quan trọng. Tôi có dự định đi thăm người bạn ấy hôm nay, nhưng quen thói lần lữa, giải đãi, lòng hẹn lòng đợi một này nào đó, thật rỗi rảnh sẽ đi thăm bạn. Nhưng cái ngày đó không bao giờ đến, vì chỉ vài ngày sau đó, bạn tôi đã từ giã cuộc đời này, mà tôi thì vẫn chưa thực hiện được cuộc viếng thăm đơn giản ấy, nên lòng ân hận mãi.

Thân bằng quyến thuộc của chúng ta không thiếu gì những người già, đang nằm trong bệnh viện, nhà dưỡng lão, như ngọn đèn cạn dầu trước gió, cần một lần thăm viếng, một cái cầm tay hay một lời nói thân tình. Những người này không còn thời gian để đợi chúng ta, mà chúng ta thì cứ mãi “lòng hẹn lòng!”

Có bao nhiêu bậc cha mẹ già, trên ngưỡng cửa ngôi nhà xưa, ngóng chờ những đứa con trở về một lần thăm viếng. Nhưng rồi thì vì thời gian bận rộn vì công việc làm ăn, cuối tuần còn đưa con đi chơi thể thao, học đàn, học võ; kẹt một chuyến du lịch xa, hay bận rộn vì con chó con mèo, con cá lia thia trong chậu, sợ bỏ đói, không ai chăm sóc.

Thật lòng không biết có ai hối hận không, nhưng đừng để bao giờ phải hối hận.

Giá mà ta làm việc ấy hôm nay, hay tự đặt cho mình một mệnh lệnh: “Hãy làm việc ấy hôm nay!” Ngày không thể không đi và đêm không đến vì việc ấy ta làm chưa xong!

Suốt đời, chúng ta đã bỏ bao nhiêu cơ hội, để làm một việc hay để nói một lời.

Không phải đến bây giờ người ta mới nhắc nhở “Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ. Đừng để ngày mai đến lúc tôi xa người… (*) mà ngày xưa, tình duyên đôi lứa đã một lần muộn màng, vì người con trai đã bỏ đi cơ hội nghìn vàng, để ngậm ngùi suốt đời.

“Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!

Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng như cá cắn câu

Cá cắn câu biết bao giờ gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Có người hối hận để mất một cuộc tình, nhưng cũng có người đánh lỡ mất cả cuộc đời, để rồi than thở:

“Đến nay tôi hiểu thì tôi đã

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!” (TTKh.)

Richard Templar là một tác giả người Anh, người đã viết nhiều cuốn sách về con đường thành công trong cuộc sống. Ông chia sẻ “con đường dẫn đến thành công” của mình trong một loạt sách, trong đó 100 quy tắc đơn giản được trình bày để đạt được thành công, trong kinh doanh, tiền bạc hoặc cuộc sống nói chung. Và “quy tắc của cuộc sống” của Richard Templar là “đừng để qua ngày mai!”

Người ta thường hẹn trong ngày mai sẽ làm công việc dự định hôm nay, nhưng đối với nhà thơ Norma Cornett Marek lại khác: “Ngày Mai Không Bao Giờ Đến!” đó cũng là tựa đề bài thơ của bà. “Nếu ta đang chờ ngày mai đến thì tại sao lại không làm điều đó ngày hôm nay? Vì nếu ngày mai không bao giờ đến, thì chắc chắn ta sẽ hối tiếc suốt phần đời còn lại của mình!”

Không ai biết đây là lần gặp gỡ cuối cùng, một lời nói giã biệt, vì không một ai, trong chúng ta, trẻ hay già, đoan chắc rằng, họ sẽ sống qua hôm nay, để ngày mai thấy mặt trời lên! Trên trái đất này, đêm nay có những người cũng lên giường như chúng ta, nhưng ngày mai, họ không còn thức trở dậy!

Đó chính là ân huệ của cuộc đời chứ không phải là một chuyện đương nhiên: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương!

Xin đừng để quá trễ, hãy nói với ai đó một lời yêu thương hôm nay. Hãy nói một lời xin lỗi. Hãy nói một lời cám ơn. Nếu ai cũng nghĩ rằng hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc sống để hành động, để yêu thương, để dịu dàng với nhau…thì cuộc đời này đẹp biết bao nhiêu!

Xin hãy làm điều đó hôm nay. Ngày mai đã muộn rồi!

***

HÌNH: Nhà thờ Đức Bà Paris bốc cháy trong sự tiếc nuối của hàng triệu người, nhất là những ai đang có dự định đến thăm nơi này. (Hình minh họa: Getty Images)

Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ.

Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ.

Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng, cúi đầu, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói: “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng: Người Việt của bạn là những người hung dữ”.

Người Việt chúng ta là những người hung dữ.

Đấy là tình cảnh một dịp gần đây, trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jakarta (Indonesia), tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi. Trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc, chị hỏi tôi từ đâu đến.

Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. “Tại sao chị lại nghĩ vậy?” – Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch.

Đến TP.HCM, khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại, rồi vút đi bằng xe máy.

Vụ cướp giật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể (do bị kéo té ngã) mà còn cú sang chấn về tinh thần: Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy chị lại hoảng hốt.

Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền TP.HCM đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.

Chị cho biết, trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh: Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn, xô đẩy; người ta bóp kèn inh ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút.

Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.

Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt: Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm, người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế.

Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo đẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời.

Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc, đầy ắp tiếng cười, nhưng không phải. Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rả rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi.

Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm mống của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ?

Người Việt chúng ta là những người hung dữ. Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó

Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trút giận lên nhau?

Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự TP.HCM. Đó là Manila (Philippines) và Jakarta (Indonesia).

Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùn tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng.

Nhưng thật lạ, trong bốn năm sống ở Manila và một năm rưỡi sống ở Jakarta, tôi thấy trên đường phố, dù kẹt xe đến mấy, ít ai bóp còi.

Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh, tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nạt như tôi từng gặp mỗi khi về nước.

“Người Việt là những người hung dữ”, câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bột phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình (bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản), trong trường học (bạo hành học sinh), trên mạng xã hội (người ta có thể thoải mái mạt sát, thóa mạ lẫn nhau). Đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng.

Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm, bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự.

Theo lời bình của bộ phim: “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn…”.

Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bền vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.

Nhà văn NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

From: Phi Phuong Nguyen