Đi Hết Cuộc Đời Ta Còn Lại Gì?

 Một bài viết hay, cảm động, đánh thức nhiều suy tư.

(Trích Nhật Ký Từ Một Nữ Tu Phục Vụ Tại Khoa ICU – tgpSaigon.net)

Đã quá nửa đêm, chị em chúng tôi đang lau dọn sàn nhà, một chị điều dưỡng chạy tới giọng hối hả: “Các Sơ ơi, có người mới qua đời. Các Sơ vào cầu nguyện cho ông đi!”

Hai chị em bỏ dở công việc, chạy vội vào góc phòng. Các điều dưỡng đang gỡ máy móc, dây ống ra khỏi cơ thể đã bất động. Tôi nhìn gương mặt ông tím tái rồi nhạt dần. Vị bác sĩ trẻ vẫn chưa rời khỏi, cô lộ rõ nét buồn vì không giữ được sự sống cho ông sau một hồi cấp cứu. Cô đưa tay vuốt mắt cho ông rồi lặng lẽ quay đi. Các điều dưỡng nhanh chóng bọc ông cụ vào bao đựng tử thi rồi điện thoại cho nhân viên nhà xác mang xác đi. Tất cả diễn ra trong tích tắc khi chị em chúng tôi còn chưa đọc xong những lời kinh phó linh hồn.

Từ lúc vào giúp ở khoa ICU này, ngày nào cũng thế, cảnh tượng ấy dần rồi quen thuộc. Lúc đầu, tôi vô cùng ngạc nhiên, thậm chí là hơi sốc.

Ở gia đình, trong nhà dòng, tôi đã quen với việc nhìn thấy phút lâm chung của một người có biết bao người thân vây quanh. Người mất được tắm xác, mặc quần áo chỉnh tề, được tẩn liệm với bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu hương hoa, nhang nến, khăn tang, tiếng khóc thương đưa tiễn…

Còn đây là những cơn hấp hối và cái chết hoàn toàn trong cô đơn, lặng lẽ, chẳng có gì. Thật sự là không còn gì! Trong trận đại dịch, trong hoàn cảnh lây nhiễm, nhiều người phải từ giã cõi đời trong cái đau thương ấy! Nếu như tôi không ở đây, không tận mắt chứng kiến những cảnh tượng này, chắc tôi sẽ không có được cảm nghiệm sâu sắc về sự mong manh của phận người. Những ngày qua, tôi cứ suy nghĩ mãi: “Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?”

Những bệnh nhân trong khoa ICU này phần lớn đã hôn mê. Ngày nào tôi cũng đi từng phòng thăm và cầu nguyện cho họ. Họ là những người dân của Thành phố này. Nam có, nữ có, già có, trẻ có, mập có, ốm có… có đủ tất cả. Con virus này chẳng chừa ai. Chúng tấn công đủ mọi thành phần trong xã hội: có những người da dẻ trắng trẻo, mịn màng, trên người còn đeo nhiều trang sức và cũng có những người da nhăn nheo, khắc khổ; có những người giàu có, địa vị, tài giỏi, cũng có những người dân nghèo, bình dị, kém cỏi… Giờ đây, trong phòng Hồi sức Cấp cứu này, tất cả đều bình đẳng, tất cả những sự phân biệt đều quay về con số 0. Mọi người dù là ai đi nữa, chỉ còn là một sự trần trụi trên giường bệnh với nhưng hơi thở khó khăn, thoi thóp.

Và cái chết tinh thần đôi khi còn đến trước cái chết thể lý. Đó chính là sự cô đơn, sợ hãi khi không có lấy một người thân bên cạnh. Đi hết cuộc đời, làm bao nhiêu việc, tìm kiếm bao điều, bao mối tương quan… giờ chỉ còn một mình đối diện với cái chết cận kề. Cảm giác ấy thật không dễ dàng gì đón nhận!

Có lẽ nhiều người trong số các bệnh nhân đã cảm nhận được thân phận bụi tro của mình nên ra đi trong bình an. Nhưng tôi cũng thấy có người vẫn vùng vẫy trong hơi thở cuối cùng như còn điều gì chưa thỏa. Như hôm tôi chứng kiến cơn hấp hối của một cô độ 60 tuổi: Khi các bác sĩ vẫn đang nỗ lực cấp cứu, cô mở mắt ra lần cuối, đưa mắt nhìn quanh như tìm kiếm một người thân nào đó vì mới hôm trước, tôi nghe cô tâm sự: cả nhà đều bị nhiễm, mỗi người cách ly một nơi, cô rất lo vì mất liên lạc với mọi người. Thế nhưng xung quanh cô, giờ đây chỉ là những bức tường trắng xóa, những gương mặt xa lạ trong bộ đồ bảo hộ. Tôi thấy rõ ánh mắt đầy thất vọng và đượm buồn của cô. Máy thở đã không còn tín hiệu, cô ra đi mà mắt vẫn mở đầy thao thức. Thật không thể diễn tả được bao nỗi xót xa đau đớn. Mong manh quá, một kiếp người!

Nơi đây, tôi thấy ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ như một cái nháy mắt. Có người hôm nay còn thấy, ngày mai đã không còn nữa. Tất cả đều ra đi với đôi tay trắng như khi vào đời. Một cuộc đời còn lại gì? Không kèn trống, hương hoa, không một người thân đưa tiễn. Tất cả những bon chen giành giật, tìm kiếm danh vọng, địa vị, tiền bạc, sắc đẹp… không một điều gì có thể theo chúng ta vào cõi vĩnh hằng.

Lời Chúa vang lên soi sáng cho tôi: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời…” (Mt 6,20). Quả thật, khi cánh cửa thời gian khép lại, nguồn hy vọng duy nhất đời tôi chỉ còn là Lòng Thương Xót Chúa. Mọi sự thế gian đều phải bỏ lại thế gian. Chỉ có những công việc bác ái mà hàng ngày tôi tích góp mới trở nên kho tàng đích thực cho tôi, là người bạn duy nhất theo tôi đến trước tòa Chúa.

“Đi hết cuộc đời còn lại gì?”, bài học này thật quý giá cho tôi, để ngay lúc này, khi tôi còn hơi thở, tôi kịp thời chọn cho mình kho tàng không bao giờ hư mất.

Đồng Hồ Cát

httpv://www.youtube.com/watch?v=HQZY3vfKRL0&list=RDCMUCtoQh7mQikZsztA1OQRSFvw

Đi hết cuộc đời, ta còn lại gì?

YouTube player

THƯƠNG LẮM MẸ ƠI! | Nhật ký phục vụ tại bệnh viện dã chiến

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

VĂN HÓA LỪA HIỆN ĐẠI KIỂU TRUNG CỘNG.

(Bùi Văn Bông – Minh Diễn)

Nhóm chúng tôi có 12 người đi du lịch Trung Quốc, khởi hành từ Sài Gòn, theo chương trình sẽ đi thăm Bắc Kinh, Tô Châu, Quế Lâm. Hầu hết thành viên trong nhóm đều là cán bộ nghỉ hưu, gom góp mấy đồng tiền còm trong sổ tiết kiệm, và con cái phụ thêm cho chuyến tham quan. Người “có máu mặt” nhất là chị Lâm, vợ một ông tướng công an đương chức. Chị bao cho mẹ đẻ và mẹ chồng trong chuyến đi … “dối già”.

Đến Bắc Kinh, nhóm chúng tôi nhập vào một nhóm du lịch khác cũng từ Việt Nam sang hơn hai chục người, được một hướng dẫn viên người Trung Quốc đưa đi tham quan các nơi theo chương trình.

Phải nói Bắc Kinh là một thành phố vĩ đại, giàu bản sắc văn hóa Trung Quốc, nhiều công trình kiến trúc đẹp, nhiều di tích lịch sử rất đáng được chiêm ngưỡng và suy nghiệm. Thành phố này trật tự, nền nếp hơn Sài Gòn, Hà Nội, không chen chúc xe máy, không có người ăn xin, chụp giựt níu kéo du khách chặt chém từ vài quả cóc, lon nước đến bịch lạc rang như ở bờ Hồ Gươm.

Nói như vậy không phải người Trung Quốc thật thà, mà họ thuộc … hạng siêu lừa. Họ lừa có bài bản, lừa theo kiểu “kích dục mê tâm” – kích thích cái tham, làm cho lòng người mê mẩn thiếu sáng suốt rất dễ bị lừa. Phải thừa nhận là họ có “văn hóa lừa” hẳn hoi, ăn sâu, ăn đậm, và không ăn vặt.

Khi chúng tôi lên xe đi thăm Cố Cung, tay hướng dẫn viên du lịch nói nói:

– Thưa các bạn Việt Nam, Cố cung, là nơi các triều đại nhà Minh, nhà Thanh ngự trị suốt mấy trăm năm, lịch sử Trung Quốc trải qua bao thăng trầm xuất phát từ chốn cung vàng điện ngọc này… Viện bảo tàng Cố Cung.

Tay hướng dẫn viên nói như hát. Hắn mới khoảng hai nhăm tuổi, ăn mặc lịch sự, nói tiếng Việt làu làu, nhớ không ít tục ngữ ca dao Việt Nam, biết cả chửi thề, khoe rất thích ăn món thị chó rựa mận rìa đê Yên Phụ, Hà Nội và món cà pháo canh cua quán cơm bà Cả Đọi, Sài Gòn.

Nghe hắn nói Cố Cung hấp dẫn, ai cũng háo hức, nhưng hắn không cho vào thăm ngay, mà cho xe chạy qua cổng Bắc thành. Tôi hỏi sao lại đi vòng thế, hắn nói:

– Muốn vào thành phải được sự chấp thuận của các quan gác cổng, hôm nay tôi dẫn đoàn qua cổng Bắc, vượng khí đang ở hướng đó.

Nghe hắn như rót mật vào tai, ai cũng gật gù.

Vừa tới cổng thành, đã thấy bộ tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng rực rỡ nhảy múa đón rước. Rồi cả một ban tiếp tân, ăn mặc chỉnh tề, ân cần mời đoàn thăm quan lên lầu. Một căn phòng sang trọng, những dãy ghế đánh vec-ni bóng nhoáng.

Các du khách vừa an vị, tay hướng dẫn viên trịnh trọng giới thiệu vị giáo sư lịch sử ra nói chuyện với đoàn. Nhìn vị giáo sư, … thấy nghi nghi, hình như đây là một diễn viên đóng thế, bởi gương mặt non choẹt. Nhưng anh ta tỏ ra một diễn viên có tài, từ điệu bộ đến lời nói rất đĩnh đạc, nghiêm trang. Hắn nói một mạch về lịch sử Cố cung, về các triều vua, rất uyển chuyển không hề vấp váp, rồi chốt lại bằng câu chuyện con Tỳ Hưu thật hấp dẫn. Hắn nói:

– Thưa quý vị, đời vua Minh Thái Tổ, giữa lúc quốc khố bị rỗng, một đêm ngài nằm mơ thấy một con vật mình rồng, đầu to, ngực to, mông to, có sừng nhọn, lông dày, đứng hút nhanh từng thỏi vàng sáng chói vào bụng. Sau giấc mơ đêm ấy, nhà Minh hưng thịnh, quốc khố đầy vàng, nhà vua cho làm con đường vào thành theo trục Bắc Nam, hướng tài lộc, cho xây cổng Bắc thành này và dùng ngọc phỉ thúy tạc tượng con vật trong mơ, gọi là Kỳ Hưu, nghĩa là kỳ diệu, sau gọi là Tỳ Hưu đặt tại đây, gọi là tài môn, cổng tài lộc.

Hôm nay may mắn đoàn du khách Việt Nam được qua cổng tài lộc vào Tử Cấm thành, may mắn hơn vì quý vị sẽ được chiêm ngưỡng con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, tạc từ thời Minh Thái tổ…

Mọi người vỗ tay rào rào. Vị “giáo sư” mỉm cười nhã nhặn, ra hiệu mọi người ngồi xuống, nghe nói tiếp về sự mầu nhiệm của Tỳ Hưu:

– Tỳ Hưu là một con vật cực kỳ linh thiêng, mầu nhiêm, có đầu to, ngực to, mông to, nhưng bụng nhỏ và không có … hậu môn, chỉ hút vàng bạc châu báu của trời đất vào mà không nhả ra, chỉ làm giàu cho chủ mình chứ không để thất thoát đi đâu một đồng nào. Vì thế người đời xưa gọi là con Thiên Lộc. Từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh, vua ban sắc lệnh chỉ có vua và Hoàng hậu mới được thờ Tỳ Hưu, các hoàng tử, công chúa không được thờ. Đặc biệt nghiêm cấm các quan trong triều tuyệt đối không được thờ Tỳ Hưu, vì sợ quan sẽ giàu hơn vua.

Có một người dấu vua thờ Tỳ Hưu, là Hòa Thân, thời Mãn Thanh, đời Càn Long. Hòa Thân, tạc một con Tỳ Hưu bằng ngọc phỉ thúy, to hơn con Tỳ Hưu của vua, trưng trong biệt phủ của mình. Nhờ con Tỳ Hưu ấy Hòa Thân làm quan đến tột đỉnh, chỉ dưới một người trên muôn người, vơ vét hết của cải thiên hạ.

Theo thống kê thời ấy, Hòa Thân có biệt phủ 3.000 phòng, 6000 gia nhân, 600 thê thiếp, 32 km2 đất, 42 ngân hàng, 75 tiệm cầm đồ 600 cân sâm Cát Lâm, 60.000 lạng vàng, 100 thỏi vàng lớn mỗi thỏi 1.000 lạng, 56.000 thoi bạc mỗi thỏi 100 lạng, 90.000.000 lạng bạc lẻ, vân vân… Ước tính tài sản của Hòa Thân gấp 15 lần ngân quỹ quốc gia.

Có tiếng xuýt xoa của du khách. Mấy người cười khúc khích, nói với nhau: “Việt Nam mình cũng có vài Hòa Thân rồi đấy!”. Vị “giáo sư” ra hiệu mọi người im lặng rối nói:

– Không chỉ có Tỳ Hưu sinh tài, còn nhiều loại Tỳ Hưu khác mầu nhiệm không kém, như Bồ Lao, Trào Phong, Toàn Nghê, Bi Hi, Bế Ngạn, Phu Hi… Ai muốn con cháu văn hay chữ tốt thì thờ Phu Hi, muốn yên ổn bình an thì trưng Tiêu Đồ, muốn quyền cao chức trọng tiếm loát thiên hạ thì trưng Bế Ngạn…

Mấy vị du khách, mắt sáng lên, lấy sổ tay ghi tên loại Tỳ Hưu hợp với mình. Bà vợ ông tướng công an, không ghi kịp hỏi tôi:

– Cái con gì giữ quyền cao chức trọng anh nhỉ?

Tôi nói:

– Tên nó là Bế Ngạn chị ạ! Hình dáng nó như con hổ, loài chúa sơn lâm đấy.

Vị “giáo sư” đưa mắt nhìn khắp lượt, rồi bằng một thái độ hết sức trịnh trọng, anh ta mời mọi người qua phòng bên xem con Tỳ Hưu ngọc phỉ thúy, anh ta nhắc đi nhắc lại, chỉ được đi lướt qua, liếc mắt nhìn, tuyệt đối không sờ tay vào con vật linh thiêng. Tay hướng dẫn viên cúi rạp người xuống cám ơn vị “giáo sư”, rồi dẫn mọi người qua cái cửa hẹp vào phòng lớn.

Bốn người mặc quần xanh nẹp đỏ, đội mũ quan thời Minh, đứng canh cái bệ gỗ, trên bệ phủ mảnh vải đỏ. Sau khi thắp hương vái, bốn người cầm bốn góc tấm vải hất lên, phía dưới hiện ra con Tỳ Hưu lung linh dưới ánh đèn mầu nhấp nháy. Mọi người không được nhìn kỹ, nên chả biết con Tỳ Hưu bằng ngọc hay bằng đá? Thì tay hướng dẫn viên hối sang phòng bên.

Căn phòng rộng thênh thang, bày la liệt đủ các loại Tỳ Hưu to nhỏ lớn bé, trên kệ gỗ, trong tủ kính. Gần chục cô gái bán hàng sốt sắng chào mời khách. Tay hướng dẫn viên nói, chỉ ở đây mới có các loại Tỳ Hưu “thứ thiệt”, mỗi con vật linh thiêng này được đưa vào Cố Cung bày trước anh linh vua Minh Thái Tổ xin ban phúc lộc, rồi mới mang ra đây bán cho du khách.

Mọi người như bị mộng du, bước chân đi rón rén, không dám nói cười, và cứ ngoan ngoãn móc ví đếm tiền mua Tỳ Hưu. Bà vợ tướng công an mua một lúc bốn con Bế Ngạn bằng ngọc, giá mỗi con 9.000 tệ. Bà ta nói với tôi:

– Trưng ở nhà hai con, chỗ làm việc của nhà em hai con bác ạ!

Một con Tỳ Hưu nhỏ nhất ở đây có giá 3.200 tệ, tương đương 500 đô la Mỹ, tức 11.000.000 đồng Việt Nam. Tôi nói nhỏ với ông bạn đi cùng nhóm:

– Hình như không phải bằng ngọc ông ạ? Tôi trông giống hệt mấy con Tỳ Hưu bán ở Hà Nội, Sài Gòn, giá chưa đến một triệu một con?

Ông bạn vênh mặt lên:

– Không có tiền nên nói thế!

Ông rút một nắm tiền ném lên mặt tủ kính. Tôi vội lánh sang chỗ khác, nhìn những cô gái tíu tít đếm tiền, miệng cười tươi như hoa.

Khi đã bán được 26 con Tỳ Hưu, thấy không ai mua nữa, tay hướng dẫn viên du lịch mời mọi người lên xe vào Cố cung.

Đến đây mọi người chỉ được xem qua, vì kỷ luật bảo vệ di tích của Trung Quốc rất nghiêm khắc, hơn nữa theo chương trình còn đi thăm Vạn Lý Trường Thành.

Cách điểm thăm quan Vạn Lý Trường Thành không xa, tay hướng dẫn viên nói với du khách:

– Thưa quý vị, Vạn Lý Trường Thành được Hoàng đế Tần Thủy Hoàng xây dựng từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, dài 3.980 dăm, nơi đây, Mao Chủ tịch đã đến khắc bảy chữ vàng “Bất đáo trường thành phi hảo hán” nghĩa là chưa đến Vạn lý trường thành thì chưa phải là một anh hùng.

Muốn lên Vạn Lý Trường thành phải có sức khỏe tốt, vì vậy cơ quan y tế Trung Quốc đã thành lập một Trung tâm khám sức khỏe “miễn phí” cho du khách. Hôm nay trước khi lên Vạn Lý Trường Thành tôi xin giúp quý vị kiểm tra lại sức khỏe, cô bác nào có bệnh sẽ được điều trị ngay tại chỗ.

Cái trung tâm ấy là một tòa nhà bốn tầng, khang trang. Cũng như ở cổng Cố Cung, các bác sỹ ra tận cửa đón rước, mời chúng tôi lên phòng khám bệnh thênh thang, từng hàng ghế kê ngay ngắn. Các nhân viên mang nước mời mọc ân cần. Rồi năm, sáu người mặc blu-trắng xuất hiện, giới thiệu rất trịnh trọng, đây là giáo sư tiến sỹ Lu Zeng Ung nổi tiếng nhất Trung Quốc (?), đây là bác sỹ Hua Twen Xuang nổi tiếng nhất Bắc Kinh (?).

Những vị giáo sư, bác sỹ vạch miệng, vạch mắt, nghe tim phổi và bắt mạch cho từng người trong hai nhóm du khách với thái độ rất thân thiện, khi nheo mắt tỏ vẻ lo lắng, khi mím môi tỏ vẻ nghiêm trọng, rồi nhoẻn miệng cười đầy vẻ cao đạo.

Khốn nạn thân chúng tôi, ở nhà khỏe re, mà đến đây ai cũng có bệnh. Không cao huyết áp thì phù thận, suy tim, có người bị chứng xơ gan mới khiếp chứ!? Nhưng lại … “mừng vì phát hiện ra bệnh sớm” và vị giáo sư, tiến sỹ nói, đã tới đây thì bách bệnh sẽ được tiêu trừ hết, bởi Trung tâm này đã từng chữa bệnh cho nhiều vị nguyên thủ quốc gia Trung Quốc và thế giới.

Chúng tôi được kê đơn thuốc, có chữ ký của vị giáo sư tiến sỹ đàng hoàng, có con dấu của Viện Đông y thế giới Bắc Kinh đỏ choét. Ai cũng cảm thấy hả hê vì may mắn. Ở nhà đi bác sĩ tư thì bị chặt chém, đi bệnh viện công thì bị hành, chuyến đi này, vừa được thăm quan du lịch vừa khám chữa bệnh bốc thuốc, được tiếp đón ân cần như bố người ta thì còn gì sướng bằng?

Nhưng ít phút sau thì mọi người hơi ngán, bởi các giáo sư, bác sỹ, chỉ khám miễn phí, còn thuốc phải mua, mà đây là một Viện y học nổi tiếng, nên thuốc rất “đắt”. Mỗi bịch thuốc theo toa của “giáo sư, bác sĩ” rẻ nhất là 1.000 tệ tương đương 160 đô la Mỹ.

Như bị ma ám, ai cũng bỏ tiền ra, ôm một mớ thuốc nam và mấy hộp … “cao đơn hoàn tán”. Các vị giáo sư tiến sĩ Trung tâm y dược vẫn chưa chịu buông tha các con mồi. Họ kéo mọi người sang phòng bên ngồi xung quang cái sân khấu hình tròn.

Một anh chàng nhảy lên sân khấu, hung dữ như một thằng du đãng. Hắn hét toáng lên, rồi chạy xuống lôi một thanh niên đang ngồi lẫn trong đám du khách lên sân khấu. Chả rõ nguyên cớ vì sao, thù hằn gì mà hắn thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh anh thanh niên ghê thế. Đến nỗi du khách phải la lên phản đối. Thằng du đãng bỏ anh thanh niên nằm lăn lóc, lủi mất. Bấy giờ một bác sỹ chạy tới vén quần, vén áo anh thanh niên lên. Ôi cha mẹ ơi, từ ngực trở xuống, từ đít trở lên thâm tím như những quả đa mồi.

Anh ta không ngồi dậy được, rên ư ử như sắp chết. Bà bác sỹ lấy một viên thuốc cho anh ta uống, lấy một lọ thuốc nước đổ lên các vết thương, và … thật “mầu nhiệm”, thuốc chảy đến đâu vết thương lành đến đấy. Chai thuốc hết, anh thanh niên đứng dậy, khỏe re, toe toét cười. Tiếng vỗ tay vang lên và sau đó, tiếng xuýt xoa thán phục râm ran trong nhóm du khách.

Tiếp theo, một phụ nữ lên sân khấu, đổ cồn vào tay, châm lửa cháy đùng đùng. Khi lửa tắt bàn tay chị phồng rộp lên, Vị giáo sư liền mang lọ thuốc nước trong suốt ra, rưới vào tay chị, và chao ơi thuốc thần thuốc thánh cũng không hiệu nghiệm bằng, rưới đến đâu da tay chị phụ nữ hết phồng, trắng hồng trở lại đến đấy.

Thế là mọi người nhắm mắt, nhắm mũi, xỉa tiền mua thuốc bỏng, thuốc trị thương. Tôi thách bạn nào đi trong nhóm du lịch ấy, trong hoàn cảnh ấy, mà không mua một thứ gì. Mình cũng được khám bệnh như mọi người, bác sỹ nói mình có bệnh, kê đơn đàng hoàng sao mình không mua thuốc. Nói không có tiền giữa đám khách du lịch với nhau thì mắc cỡ lắm. Tôi đã bị người đàn ông trong nhóm khinh thường nên vội tránh đi nơi khác.

Lên Vạn Lý Trường Thành, nhìn núi non trùng điệp bao la, hiểu thêm, đất nước Trung Hoa vĩ đại bao nhiêu thì ta càng thấy … tham vọng của Trung Nam Hải càng dữ dội bấy nhiêu, mưu sâu kế hiểm bấy nhiêu, lừa lọc, lòng dạ rất hẹp hòi, lừa đảo như chớp, không rộng rãi như miệng lưỡi họ nói.

Những người đóng vai quân lính, người hầu cận vua chúa ngày xưa đứng bên những chiếc kiệu, sẵn sàng phục vụ du khách, những nhiếp ảnh viên đon đả mời chụp ảnh kỷ niệm, ân cần lắm, nhưng nhìn sâu vào mắt họ không có … chút chân thành nào.

Một người ra dáng thi nhân ngồi sau cái bàn viết thi pháp bán cho du khách. Tôi mua tờ giấy hoa văn hai mươi tệ, mượn bút viết mấy câu bằng chữ Hán: “Thử địa nhược đại mông. Bá đạo nhân thực nhân” – Nơi này ôm mộng lớn, toàn quân ăn thịt người!. Tôi tặng lại người viết, anh ta vái một vái, rồi gập tờ giấy lại đút vào túi.

Nhóm chúng tôi đến Tô Châu vào một buổi chiều. Thành phố cổ kính nổi tiếng bởi nhà thơ Trương Kế, thời vua Đường Túc Tông, với bài “Phong Kiều Dạ Bạc”:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cộ tô thành ngoại hàn sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Cụ Tản Đà đã dịch cực hay là:

Trăng tàn tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cậy ánh sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

Trước khi được đi thăm Hàn sơn tự, xây dựng 70 năm trước khi Trương Kế ra đời, để viết Phong kiều dạ bạc, chúng tôi được “mời” uống trà Loa Xuân, nổi tiếng Tô Châu. Hướng dẫn viên du lịch là một cô gái trẻ, miệng lưỡi không thua kém anh chàng Bắc Kinh, lại hấp dẫn hơn bởi sự duyên dáng. Cô nói:

– Mời các anh các chị, các chú các bác vào uống trà, tại nơi sản xuất loại trà Loa Xuân, nổi tiếng Trung Quốc.

Trong hoa viên lộng lẫy, ban giám đốc và nhân viên xếp hai hàng, ăn mặc chỉnh tề đón tiếp khách du lịch như đón nguyên thủ quốc gia. Một dãy sa lon bọc vải đỏ chót trong căn phòng mát lạnh. Uống trà khác với uống cà phê, càng khác với cà phê đá, trà đá, ở chỗ tĩnh, mát. Người Tô Châu hiểu như vậy, nên làm phòng trà mát lạnh.

Khách vừa ngồi ấm chỗ, nước được bưng lên, những gói trà được mang tới, và những cô gái trẻ trang phục bằng loại lụa tuyệt đẹp xứ lụa Tô Châu, nhanh nhẹn pha trà bằng các động tác chuẩn xác đến mức, một cô cầm chiếc ấm có cái vòi dài gần hai mét rót nước vào miệng cái bình trà nhỏ xíu mà không rớt ra ngoài giọt nào. Hàng chục cặp mắt cứ trố ra nhìn, tấm tắc khen, sao họ khéo thế.

Từng ly trà được mời từng vị khách. Giám đốc nhà máy cúi gập đầu chào mọi người, rồi nói xuất xứ loại trà Loa Xuân, sự kỳ công trong trồng tỉa, chế biến và tác dụng của nó. Kết thúc câu chuyện, là mời du khách mua trà với giá … khuyến mãi đặc biệt.

Được tiếp đãi như thượng khách, đã uống trà của người ta mời, chả nhẽ “nhổ đít” bước ra tay không? Có mà ê mặt! Hơn nữa lại là khách đi theo đoàn, đoàn Việt Nam hẳn hoi, chơi không đẹp ảnh hưởng quốc thể chứ đâu bỡn. Lại sợ người cùng đi nhìn mình, khinh mình kẹt sỉn, thế là đồng loạt rút ví.

Cũng phải thừa nhận uống tách trà họ vừa pha ngon thật, bập vào môi có vị hơi đắng , mùi thơm thoảng, uống vào có vị ngọt trong cổ họng. Tôi nói với người giám đốc, xin mua chính những gói trà vừa bóc ra pha cho chúng chúng tôi uống, hắn ta “hảo hảo” rồi lánh đi, không tiếp chuyện nữa!

Từ Tô Châu về Quế Lâm, ăn món tương ớt và món mỳ thịt ngựa nổi tiếng, nhưng sau mới biết bị lừa , ăn phải mỳ thịt … chuột.

Nhưng rồi cũng cho qua chuyện để đi thăm công viên Thất Tinh, núi Tượng Tị, đồi Trăng Khuyết… Đến mả Mã Viện, thấy tượng hắn đúc bằng đồng, cưỡi trên lưng con ngựa chiến, mặt hắn vênh váo, hai con mắt trừng trừng, miệng như đang gào thét, chẳng biết muốn đâm chém ai, hay đang đau đớn vì bệnh ỉa chảy, tôi vụt nhớ câu thơ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tới đây gần nửa thế kỷ trước: “Trăm năm mới đến nơi này, Ngàn năm mới thấy mặt mày ở đây!”.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Tân Sơn Nhất. Hầu như các loại thuốc quý đều vứt lại khách sạn bên Trung Quốc. Bà vợ viên tướng công an nói với tôi:

– Bác Minh Diện ơi, mấy sợi dây chuyền ngọc trai là đồ dỏm bác ạ, cái con Tỳ Hưu tử tiệt cũng dỏm. Sao bác biết mà không bảo em?

Tôi đưa mắt nhìn ông bạn cùng nhóm, ông nhếch miệng cười như mếu:

– Nó lừa mình khéo quá anh ạ! Mả cha cái bọn Tàu!

Bọn Trung Cộng nổi tiếng cả thế giới về hàng dỏm, hàng giả, hàng nhái; đã nhiều lần bị quốc tế lên án vì các thực phẩm độc hại… Bị phỉ nhổ vì các hành vi ăn cắp các công trình nghiên cứu và phát minh của Hoa kỳ.

Việt nam, thật đáng thương khi không may ở gần anh Trung Cộng xấu xa, là thùng rác khổng lồ để Trung Cộng tuôn hàng dỏm, hàng độc hại có nguy cơ gây ung thư, không ngừng giết hại dân ta từ từ mỗi ngày.

Chưa hết, chúng còn có âm mưu thâm độc và to lớn hơn khi được chính quyền Việt cộng tham lam và ngu dốt tiếp tay, đó là âm mưu sửa lại lịch sử, địa lý, văn hóa… của nước ta bằng cách in và phát hành hàng lọat các sách giáo khoa cho các trẻ thơ, trắng trợn dạy dỗ trẻ em: VN là một phần đất của Trung Cộng!

Qua bài viết trên đây, tác giả đã lột tả những hành động lừa lọc rất tinh vi của Ngành du lịch TC nhằm móc túi của du khách.

Trước sự xâm lăng biển, đảo, đất đai của VN một cách ngang ngược, đầy hiếu chiến; tàn phá môi trường thiên nhiên, biến đất đai của chúng ta thành những “tô giới” của Trung Cộng ngay trên quê hương của chúng ta, ở đó họ tự ý đưa người của họ vào VN, xây dựng nhà cửa, đường xá, trường học, bệnh viện, phố xá, hoàn toàn sử dụng tiếng Hoa, có luật pháp riêng… Không một người dân Việt nào, kể cả bộ đội, chính quyền địa phương được bén mảng tới.

Bùi Văn Bông – Minh Diễn

From: TU-PHUNG

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

“TÙ TÚNG” TRONG CHIẾC QUAN TÀI

Đường phố Sài Gòn thênh thang vắng lặng không một bóng người bởi thực hiện lệnh giãn cách xã hội nghiêm ngặt thời dịch Covid.  Có một lối vào lại đông đúc và chật hẹp chẳng thể thông giao.  Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa những ngày vừa qua bế tắc bởi xác người quá nhiều.  Đoàn xe đưa đám nối đuôi nhau đợi chờ hàng giờ hầu giải phóng cái gọi là “tù túng” cho cả đôi bên: người nằm trong và kẻ ở ngoài.  Cảnh “một cõi đi về” thời Covid sao nó vong thân đến tột cùng!

Câu chuyện “shipper buồn nhất thế giới” trên đường Âu Cơ – Lạc Long Quân những ngày qua làm cho người ta quặn đau bởi thân phận con người thời dịch hãi quá ư “bèo bọt” trong nắm tro tàn.  Đúng là thân phận con người, đi đến “mỏi gối chồn chân” của kiếp bụi tro tưởng được an yên phút giây biệt ly, nào ngờ vẫn còn đó sự mệt nhoài nghe tiếng ai oán gõ nhịp không nguôi.  Đọc những câu thơ trong bài “Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chúng ta mới thấm thía và chua xót cho cái “tù túng” của phận người trong “hũ tro cốt” như một món hàng giao dịch thời công nghệ 4.0: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp không nguôi.” 

Mạng xã hội truyền đi những video với thân phận “nhạt nhòa” của con người trên những chiếc xe tang dồn ứ quan tài.  Lò thiêu hoạt động ngày đêm vẫn không thể đưa những xác người “vượt qua ranh giới của cái hình hài” mà về với mẹ đất trong cái bụi.  Nằm trong chiếc quan tài “chập hẹp, gò bó, tù túng” có bao giờ vẫn có một cảm thức linh thiêng nơi ấy không được “thoải mái.”  Người ra đi còn đâu một nhịp thở trong hai tiếng hiện sinh; người đang sống “với hoài” cũng thấy xa tít chân trời một đoạn đường đưa tiễn.  Nỗi đau vẫn còn mãi và day dứt bởi cái chết mùa này sao “cách ly” đến cả đường về thế giới bên kia lẫn lời tiếc thương phân ưu của người thân ruột rà.  Thế mới đau!  Đau trong cái “chật hẹp” của phận người, đắng trong cái “gò bó” của thời cuộc, và xót xa trong cái “tù túng” trên đoạn đường cuối cùng của cuộc đời.

Trong thời đại dịch, “nghĩa tử là nghĩa tận” sao nó phong trần đến khó tả.  Cha mẹ mất con cái không thể gặp gỡ bày tỏ “nghĩa tận” của đạo hiếu.  Vợ chồng “có nhau” đến chẳng thể rời, “xương bởi xương tôi thịt bởi thịt tôi,” phút giây tạ thế cũng “nhân tình thế thái” đến lạ thường trong cái thực tại khốn cùng tạo ra.  Lời trần tình trên trang facebook Hạnh Maria cũng làm cho chúng đau tận cõi lòng: “Thế là xong một kiếp người.  Cô em dâu ra đi không một người thân là hai đứa con gái, người chồng thì chỉ đứng từ xa nhìn vào vì dịch, cũng vì dịch mà em bỏ lại hai đứa con thơ.  Không biết từ mai hai cháu sẽ bám víu vào ai.  Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn Maria mau hưởng tôn nhan Thiên Chúa.”  Nhìn chiếc quan tài đổ lệ, người ở lại tiếp tục gồng mình với thời đại dịch “tù túng” trong mọi sinh hoạt thường ngày.

Chết thời Covid vẫn là cái chết của phận người.  Chết trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng là thực tại chân thật nhất mà ai cũng sẽ trải qua.  Bởi đó, sinh ra là nguy cơ tiềm ẩn một ngày sẽ chết đi.  Sinh tử là một cặp “hữu thể thực hữu” nghe thì xa xôi nhưng thực chất rất gần, gần đến mức biên thùy của nó giống như khoảng không giữa hai nhịp thời gian hiện tại và tương lai.  Hầu như các triết gia hiện sinh ngắm nhìn cái chết không mấy mặn mà.  Và cả chúng ta nữa, trong giây phút đau buồn trước cái chết của anh chị trong đại dịch, chúng ta cảm thấy đắng lòng.  Sự “tù túng” trong chiếc quan tài kia có thể người đời gọi đó là định mệnh không thể cưỡng lại và chẳng chút nào khiên cưỡng với phận người.  Trong lối tâm thức này, chết đúng là tuyệt vọng thật. 

Tuy nhiên, tinh thần Kitô Giáo khả dĩ giúp chúng ta nhìn về tương lai bên kia bờ trần gian.  Chết không phải là định mệnh đưa con người vào hư vô, mà là “sự sống chỉ thay đổi chứ không mất đi,” là đưa ta vào sự sống vĩnh cửu.  Chết là sống lại cách bất diệt nơi Thiên Chúa, Đấng là uyên nguyên sự sống.

Thật vậy, cần một lời nguyện cầu cho người quá cố an vui bên kia nấm mồ, và lại cần một niềm hy vọng vào tương lai tươi đẹp cho con người nguy nan trong cơn đại dịch.  Thiên Chúa là nơi ta tìm gặp, là Đấng giải thoát muôn sự “tù túng” cho phận người cả đời này và đời sau.  Lời Chúa trong Chúa Nhật 19 thường niên hôm nay đặt chúng ta trong ơn gọi “cứu rỗi” cho cả hai cảnh vực này.  Niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, và ăn bánh hằng sống nơi Người sẽ giúp chúng ta hóa giải tất cả mọi đau khổ trong quá khứ, ngay lúc này và cả tương lai.  Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời.  Tôi là bánh trường sinh.  Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết.  Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.  Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.  Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 47-51).

Chúng ta chẳng thể có kinh nghiệm về cái chết của chính mình, nhưng cái chết của người bên cạnh giúp chúng ta gẫm suy về ý nghĩa cuộc đời.  Những khoảnh khắc “tù túng” trên đường về bên kia thế giới của những người ra đi trong thời dịch bệnh này, có làm cho cuộc đời chúng ta thay đổi không?  Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta vượt thắng với sự trân trọng “ơn hoán cải” mà Người khơi gọi lên trong lòng chúng ta qua những “dấu chỉ thời đại” của ngày hôm nay.

Phan Hiếu

Nguồn: https://dongten.net

From: Langthangchieutim

Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

 Kimtrong Lam asked a question in Lương Văn Can 75.

  Khi người chết vẫn ‘sống’ trên mạng xã hội

Lê Tây Sơn

8 tháng 8, 2021

Ảnh đại diện (avatar) trên tài khoản mạng xã hội sẽ sống mãi với thời gian, dù chủ nhân của nó không còn. Lúc đó avatar giống như ảnh trên bia mộ ngoài đời thật. Không ai thoát khỏi cái chết, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thể sống mãi dưới hình thức “avatar ảo” (digital avatar) để những người sống có thể thảo luận những câu chuyện, những suy nghĩ và những gì bạn đưa lên mạng giống như trò chuyện với bạn lúc còn sống?

Mạng xã hội, di sản để lại sau khi chết

Khác với di sản trong thế giới thật, việc khai thác di sản trong thế giới ảo hầu như không gặp trở ngại gì và nằm ngoài vòng can thiệp của pháp luật.

Rõ ràng, công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách suy nghĩ cũ về “di sản” và cách chúng ta viết “tự truyện” về mình. Tài khoản Facebook chính là nơi lưu giữ tự truyện của chủ nhân.

Một cuộc khảo sát mới nhất cho thấy, mỗi tài khoản mạng xã hội bỏ ra khoảng 12 giờ mỗi tuần để viết “nhật ký” trên Facebook bằng ngôn ngữ, hình ảnh hay video. Cuốn “tự truyện ảo” này vẫn còn nguyên vẹn sau khi chúng ta qua đời nếu chúng ta không chủ động xoá nó trước khi bị chết. Có người xem “nhật ký số” là “linh hồn số” (digital soul). Những đứa cháu có thể tìm hiểu về bà nội của chúng thông qua các post để ở chế độ “public” hay “friends” trên Facebook của bà. Trừ phi mạng xã hội này giải thể và đóng cửa.

Những biến cố lớn và đáng nhớ trong cuộc đời của bà nội đều được bà tự đưa lên Facebook hàng ngày hay hàng tuần. Những sở thích của bà cũng được đưa lên. Rồi cả những bức ảnh, video và những “chia sẻ” sống động. Người ta có thể dễ dàng biết được xu hướng văn hoá, tôn giáo và quan điểm chính trị của nhau qua Facebook.

Trong vài năm trở lại đây, nhiều công ty công nghệ mở rộng ý tưởng về “digital soul”. Software Eterni.me, phát hành năm 2014, sẽ tạo ra “phiên bản ảo về bạn” (digital version of “you”). Phiên bản này sẽ tồn tại mãi sau khi bạn qua đời. Nếu những software như Eterni.me thành công, thế hệ cháu chắt không chỉ biết nhiều về cuộc sống của ông bà mà còn có thể hỏi họ những câu hỏi và nhận được câu trả lời về những vấn đề mà chúng quan tâm giống như đang ngồi trước mặt.

“Nói vậy để thấy, giao tiếp sau khi chết là điều hoàn toàn có thể xảy ra” – một nhà tương lai học nói. Hãy nhìn qua robot Bina 48 được sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nhân Martine Rothblatt. Robot gần giống diện mạo vợ của Rothblatt và chứa các dữ liệu về ký ức cũng như giọng nói, cách nói của bà.

Rothblatt là tác giả cuốn sách “Virtually Human” và là Giám đốc điều hành của United Therapeutics. Là kẻ chuyển giới (transhumanist), châm ngôn cuộc sống của ông: “Chết là sự chọn lựa” (death is optional). Rothblatt tiên đoán trong tương lai gần người chết có thể hồi sinh nhờ vào software nhân bản (cloning) tư tưởng trong đó cho phép avatar suy nghĩ và phản ứng giống như người nó đại diện lúc còn sống.

Được hỏi, kỳ vọng này bao giờ mới trở thành hiện thực, Rothblatt nói: “Theo tôi, software nhân bản tư tưởng sẽ nhân bản hoàn hảo hơn chúng ta tưởng. Nói rõ hơn, avatar và người nó đại diện không khác biệt nhiều về tư duy và phản ứng trước một vấn đề”. Thậm chí có người còn nói đến việc “sao lưu não” (back-up brain) để bất tử hoá bộ não của các thiên tài. Lúc đó, “linh hồn ảo” sẽ không cho phép con người xóa bỏ quá khứ, quá khứ vẫn tồn tại và những người thân yêu đã qua đời sẽ tiếp tục sống với chúng ta. Quan hệ giữa người sống và người chết trong thế giới thực không còn nữa nhưng trong thế giới ảo vẫn còn nguyên. Sự đau đớn và thương tiếc quá đáng sẽ trở thành không cần thiết.

Trong The Memorius, truyện ngắn của nhà văn Jorge Luis Borges, nhân vật trung tâm Funes mất khả năng quên sau khi bị tai nạn xe cộ. Funes có thể kể lại vanh vách những cuốn sách ông đọc và nhắc lại chi tiết những gì ông trải qua mỗi ngày. Nhưng khả năng này đã biến bộ nhớ của ông thành “đống rác khổng lồ” không thể giải phóng được. Cuối cùng, Funes bị thất lạc trong bộ nhớ của mình, không thể phân biệt giữa nhớ và quên.

“Không thể để quá khứ lại phía sau đang trở thành bi kịch của con người trong thời đại kỹ thuật số” – nhà nghiên cứu Mayer-Schonberger nói. “Công nghệ số buộc chúng ta không được quên người chết. Đây vừa là sự may mắn vừa là điều bất hạnh – nhà xã hội học Jean Baudrillard cảnh báo – Bạn không cần phải đến nhà thờ hay nghĩa trang để tưởng nhớ người chết mà có thể vào thẳng mạng xã hội, nơi có những nghĩa trang khổng lồ và sống động như Facebook”.

Câu chuyện của Brandon Ambrosino

Theo một nghiên cứu đáng tin cậy, số người chết trên Facebook (hay số người dùng Facebook đã qua đời) đang gia tăng nhanh: khoảng 30 triệu người và còn tăng nữa. Năm 2012, chỉ tám năm sau khi Facebook ra đời, đã có 30 triệu người dùng qua đời, tám năm sau, con số chết cũng tương đương. Ước tính cho thấy có hơn 8.000 người dùng Facebook chết mỗi ngày. Trong thế giới ảo đang xâm lấn thế giới thật với tốc độ chóng mặt, mạng xã hội Facebook (và cả các mạng xã hội ít phổ thông hơn) là một lăng mộ ảo khổng lồ và không ngừng phát triển (a growing and unstoppable digital graveyard).

Đến một thời điểm nào đó, số người dùng Facebook chết sẽ đông hơn số người sống. Đối với những người còn ở lại, cái chết trên mạng xã hội của các “friend” gồm người thân, bạn bè và người xa lạ không hẳn là cái chết như trong thế giới thật mà sự tương tác vẫn còn qua hình ảnh, video và bài viết còn lưu lại. Facebook sẽ không có lời chia buồn và lưu ý về một chủ tài khoản đã chết nếu nó không được thông báo.

Một ngày sau khi cái chết của người dì, tôi (Brandon Ambrosino) khám phá ra dì đã viết cho tôi một lá thư thương yêu ở trang trước cuốn sưu tập những tác phẩm của văn hào Shakespeare mà bà tặng tôi. “Dì biết những lời dì viết cho con là quan trọng thế nào. Vì nó là quà tặng cho con với tất cả tình yêu. Bên con mãi mãi. Dì Jackie”.

Bức thư gây xúc động sâu sắc trong tôi. Tôi liền mở laptop của mình và tìm đến trang Facebook của dì giống như lúc bà còn sống và hy vọng sẽ khuây khỏa nỗi nhớ thương khi nhìn thấy những bức ảnh của dì và đọc những gì dì viết. Thậm chí tôi còn tưởng tượng dì đang trò chuyện với mình bằng giọng nói thánh thót quen thuộc trên những post video live.

Trên đầu trang Facebook dì để lại, có một video do người em họ chia sẻ (share) cảnh hai con voi con chơi đùa trong nước. Dì rất yêu loài voi nên có hàng ngàn bức ảnh voi treo khắp nhà. Bên dưới một số bức có lời bình của các sinh viên cũ của dì và cả một cáo phó của người em dâu cho một con voi bị chết. Tôi dùng chuột cuộn trang lên và lý lịch trích ngang của dì hiển thị.

Dì Jackie học Khoa Giáo dục tiếng Anh tại Đại học Frostburg State University và là cựu Trưởng khoa tiếng Anh tại một số trường học của thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland, nơi dì sinh sống. Không có dòng chữ hay dấu hiệu nào cho thấy dì đã chết. Nhưng dì Jackie của tôi đã thực sự từ giã thế giới này trước sự chứng kiến của những người thân.

Không có cáo phó trên Facebook, chủ tài khoản được mặc định là vẫn còn sống. Vì hầu như chẳng có mấy ai thông báo với Facebook là chủ tài khoản đã qua đời và xin hủy trang cá nhân. Như vậy là xét về lý lẽ, dì Jackie chưa từ giã trên thế gian.

Dì vẫn hiện diện trên mạng xã hội dù dì không có hoạt động mới nào trên đó. Thậm chí, nếu muốn, dì vẫn có thể nhờ người thân thay mặt mình để cập nhật trang cá nhân và thổi sức sống cho nó. Tôi nhớ lại cái đêm tôi cùng gia đình đứng quanh giường của dì Jackie khi những dây nhợ và máy móc giúp duy trì cuộc sống còn nguyên vị để chờ dì trút hơi thở cuối cùng.

Facebook, nghĩa trang không cần đất

Như vậy, việc một người tiếp tục “sống không ngừng” trên không gian mạng đã làm thay đổi thế nào đến cách chúng ta nghĩ về cái chết? Và sự thương tiếc có còn nhiều như cũ khi người chết vẫn hiện diện trong không gian ảo? Chỉ cần quan sát những gì xảy ra đối với người dùng mạng xã hội sau khi họ qua đời cũng đã thấy lắm điều thú vị.

Ở đây là dì Jackie của tôi, người tôi yêu, trò chuyện, nắm tay và chứng kiến những đường hiển thị màu xanh lá chậm dần và biến thành một đường thẳng khi dì chính thức giã từ cuộc sống sau vài ngày hôn mê. Sự ra đi của dì là “rõ ràng và không thể đảo ngược”. Vậy mà dì vẫn sống nhờ một dịch vụ máy tính từ xa điều hành hoạt động của mạng Facebook.

Những suy nghĩ, tâm sự, kỷ niệm, hình ảnh và những mối quan hệ của dì tiếp tục hiển thị trên trang cá nhân. Facebook không tự xoá nên nó sẽ tồn tại mãi với thời gian. Các post video dì Jackie cười nói vẫn yên vị ở đó để chờ người xem. Trong khi con người không thể hồi sinh thì sự kỳ diệu của công nghệ thông tin đã giúp họ tồn tại mãi trên trái đất này.

Chúng ta chết ngoài đời thật nhưng vẫn sống trên Facebook. Cuộc sống này sẽ kéo dài nếu chúng ta có “kẻ tiếp nối” trang cá nhân của mình. Vào trang Facebook của dì Jackie tôi có cảm giác là dì còn sống. Từ khi mạng xã hội trở nên phổ biến, số người chết trên Facebook không ngừng tăng với tốc độ nhanh. Như vậy, Facebook đã trở thành “nghĩa trang lớn nhất thế giới” và sự bành trướng của nghĩa trang này là không có điểm dừng.

Khi một tài khoản Facebook công bố chủ nhân của nó đã chết, Facebook sẽ gắn chữ “remembering” lên “profile” để tưởng niệm họ. Tài khoản của họ cũng thôi xuất hiện tại những không gian “public” như “People You May Know” giới thiệu kết bạn hoặc nhắc bạn bè ngày sinh nhật. Rất ít người dùng Facebook tự thông báo hay nhờ người khác thông báo với dịch vụ là họ… sắp chết.

Kerry, một trong những người bạn sống chung với tôi trong ký túc xá thời đại học đã tự tử cách nay vài năm. Tuy nhiên, vợ của anh, gia đình và bạn bè vẫn thường xuyên post bài hay hình ảnh lên trang của anh. Profile của Kerry tiếp tục xuất hiện trên Facebook và các không gian “công” vẫn có tên anh.

Cả Kerry và dì Jackie đều không có tên trong danh sách “tưởng niệm” của Facebook. Điều đó có nghĩa là, cái chết của họ không được Facebook biết và dịch vụ vẫn cư xử với họ như người còn sống. Những hoạt động quá khứ của họ được duy trì và không tự xoá.

Trên giường chờ chết của bệnh viện, những dấu hiệu sự sống trọng yếu của dì Jackie đã mất nhưng cỗ máy điều hành Facebook ở cách xa hàng ngàn dặm không hề biết người dùng dịch vụ của nó đã chết.

Mạng xã hội cho chúng ta thấy quyền năng của sự nối kết toàn cầu mỗi khi xảy ra một sự kiện đáng chú ý, từ đêm trao giải Oscar đến vòng chung kết World Cup, từ một bộ phim truyền hình nhiều tập đình đám đến các tin tức thời sự nóng hổi.

Nhưng mạng xã hội còn có vai trò lớn trong việc lưu giữ “di sản” của người dùng trong thế giới ảo thay cho di sản trong thế giới thật. Những gì bạn để lại trên Facebook sau khi chết chính là di sản của bạn.

(Theo The Atlantic Unbound 2021)

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Nghe lời cao cả, sao chỉ thấy rùng mình

Tuấn Khanh

8 tháng 8, 2021

Bác sĩ Khoa không thấy xuất hiện nữa, sau sự kiện gây sốt dư luận mạng xã hội mà bác sĩ Khoa kể rằng anh đã quyết “rút ống thở” của cha mẹ già, để nhường cho hai đứa trẻ sơ sinh vừa mới chào đời. Bản tin lan nhanh đến khủng khiếp trong đêm 7 Tháng Tám 2021. Bên dưới lời tâm tình gây chấn động đó, không ít các nhân vật tên tuổi để lại lời kính trọng và cám ơn. Thậm chí, có người còn ghi rằng họ nợ anh, về mạng sống của cha mẹ già mà anh đã quyết hy sinh.

Nhưng rồi chỉ đến rạng sáng hôm sau, mọi thứ bày ra một sự thật khủng khiếp: hóa ra đó là trò bịa đặt. Nó có giá trị như một cú hích truyền thông được tổ chức, nhằm tạo một luồng tâm lý mới trong xã hội đang quá bất mãn và đầy tiêu cực về những câu chuyện mất mát, khốn khó của người dân thời phong tỏa. Cùng với thực trạng bộ máy y tế Sài Gòn đang kiệt sức trước các mệnh lệnh chống dịch bất hợp lý và bế tắc.

Người ta tìm thấy vị bác sĩ tên Khoa ấy – tự xưng là làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Thế nhưng trả lời báo Tiền Phong, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy là ông Nguyễn Tri Thức đã khẳng định là không có bác sĩ nào tên Khoa và Bệnh viện Chợ Rẫy cũng không có khoa sản. Câu chuyện hai em bé sinh đôi cũng được vạch ra: là hình ảnh được ăn cắp từ trang Facebook của bác sĩ Cao Hữu Thịnh, về một ca mổ do chính bác sĩ này đảm trách.

Tâm lý đám đông bị hành hạ khủng khiếp vì kịch bản truyền thông này. Người Việt ở mọi nơi bị sững sờ và khuất phục bởi hình ảnh không khác gì những giai thoại trong truyện Tàu cũ – vốn đã ăn sâu vào tình cảm người Việt nhiều đời.

Hãy tự hỏi, có cái gì “cao quý” hơn việc một bác sĩ trong thời đại xã hội chủ nghĩa đã quyết hy sinh cả ba mẹ để cứu cho những đứa trẻ vừa ra đời? Nhất là chuyện đó xảy ra trong lúc đại dịch khốn khó, rõ là hình tượng sáng ngời và mẫu mực của đám đông đang cắn môi ứa lệ để giơ cao tay đi cùng thủ tướng, quyết “chống dịch như chống giặc”, sẵn sàng vượt qua mọi nỗi đau để chiến thắng. Kịch bản này đau đớn và đẹp đẽ tương tự như Tỷ Can chấp nhận ăn bánh bao thịt con mình, để thoát khỏi tay Trụ Vương, nghĩ đến ngày khởi nghĩa. Chuyện cũng bi phẫn như Quách Cự tự tay chôn sống đứa con ba tuổi để dành thêm cơm nuôi mẹ trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

Không đến 24 giờ đồng hồ sau, tâm lý đám đông lại bị hụt hẫng, đặc biệt với những người bị tác động khủng khiếp bởi đã để cảm xúc kiểm soát mình hơn là lý trí. Rất nhiều người nói mình đã cúi đầu, khóc thương hay ngưỡng mộ bác sĩ Khoa, nay lại rơi vào trạng thái tức giận và buông lời nguyền rủa.

Báo chí Nhà nước lao vào cải chính, vạch trần sự kiện này cũng nhanh đến mức bất ngờ. Nhưng có lẽ mọi thứ sẽ sớm qua đi, vì có vẻ như mọi nguồn cơn tìm thấy, xuất phát mạnh mẽ từ một người làm báo chuyên phát ngôn cho nhà nước, và cũng hay tổ chức sự kiện truyền thông để phục vụ mục đích chính trị mỗi khi có yêu cầu. Bên cạnh việc trang cá nhân của “vị bác sĩ trẻ tên Khoa” này biến mất, khiến nhà báo cũng phải xin lỗi và rút lại những gì đã đăng, mặc dù vẫn chống chế rằng “đã huy động tòa soạn kiểm tra nguồn tin đến 2 giờ sáng”.

Ở Việt Nam, đã có hàng trăm người bị gọi làm việc với công an, phạt tiền, bị bỏ tù… với các câu chuyện của họ trên Facebook từ năm 2020 đến nay, bởi các Điều khoản 117, 331 hoặc theo Nghị định 15 về viễn thông. Thế nhưng, không chắc là sẽ có ai liên quan bị khiển trách gì sau vụ này, nhất là với vị trí lãnh đạo của một sếp tờ báo về Pháp Luật.

Phải “khâm phục” là câu chuyện cổ tích giữa đời thường của “bác sĩ Khoa” phối hợp với một vài nhân vật KOL có chủ ý dẫn dắt dư luận trên Facebook, đã chọn đúng điểm rơi tâm lý của người dân lúc này.

Cả một đất nước đang lo lắng trước những câu chuyện đau thương, và vật vã trước những những đòn ngăn sông cấm chợ điên loạn của một lực lượng kiêu binh nổi lên, nhân danh Chỉ thị 16, thì rõ là mọi người đang khao khát được nghe những điều tử tế, những sự cao cả và lương thiện của con người dành cho nhau. Chính câu chuyện này có tác dụng làm ai nấy chùng lòng lại. Thậm chí những người đang kêu gào cho quyền lợi của mình hay cho người khác, đều có ít phút giây tự vấn về sự thấp hèn của mình khi nghe chuyện.

Nếu không bị vạch trần, chuyện của “bác sĩ Khoa” có tác dụng không nhỏ trong việc kềm hãm sự bức bối quyền lợi cá nhân, và nhu cầu bản thân bị thiệt thòi của đám đông bất bình đang ngày càng tăng trong phong tỏa. Và thậm chí, câu chuyện có thể trở thành sách khoa của giới tuyên truyền về việc dẫn chứng sự hy sinh bản thân của thế hệ mới xã hội chủ nghĩa cho tương lai đất nước.

Có người nêu câu hỏi, để dựng nên câu chuyện này, vì sao “bác sĩ Khoa” có thể giỏi đến mức tạo nên một khung hình cao thượng-nhẫn tâm thú vị như vậy, để hớp hồn nhiều tầng lớp dân chúng?

Thật ra, mọi thứ đều có tính truyền thống của nó, soi chiếu lại quá khứ sẽ thấy không khó nhận ra. Trong mỗi giai đoạn kiểm soát đất nước, tùy theo tình hình, các nhà lãnh đạo vẫn có khuynh hướng mị dân và thao túng bằng những câu chuyện được dựng thêm, hay sáng tác ra. Việt Nam đã có những chuyện đầy cảm hứng của thời chiến tranh như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… Và chẳng phải từ xa xưa, Lê Lợi đã thành vua trong suy nghĩ mê tín của người dân, qua việc cho viết bằng nước cơm trộn mật lên lá Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, để kiến đục thành chữ?

Những điều như vậy, cũng quen thuộc với tinh thần “Thép đã tôi thế đấy” của N.A.Ostrovsky: trung thành và sẵn sàng hy sinh theo mệnh lệnh, theo thời cuộc sắp đặt và tương lai mà cộng sản kêu gọi.

Chắc nhiều người còn nhớ tác phẩm “Người thứ 13”, truyện về cô gái Hồng quân bị kẹt trên đảo với một sĩ quan Bạch vệ đẹp trai. Gần nhau nên cả hai nảy sinh tình yêu. Nhưng đến khi một nhóm Hồng quân đến đảo và yêu cầu cô gái giết tên sĩ quan Bạch vệ, vì mệnh lệnh và nhân danh lòng phụng sự cao cả, cô đã bắn người yêu của mình.

Việt Nam cũng có, sách vở vẫn ghi lại rất nhiều trong năm 1945, trong đợt Cải cách ruộng đất. Để chứng tỏ trái tim đỏ và cao quý, nhiều thanh niên đã từ chối cha mẹ mình, thậm chí quay mặt khi họ bị bắn, đánh đập. Mục đích là để bản thân mình vươn cao hơn trong đám đông – một kiểu kiếm views thời chưa có internet – để lọt vào tầm mắt bề trên, và chấp nhận mình là con bài cần thiết của thời cuộc.

Nếu thật sự có một sự thật hy sinh vĩ đại như “bác sĩ Khoa” đã nói, sao anh ấy còn tỉnh táo đến mức dành thêm thời gian để khoe chuyện như vậy trên Facebook, và còn ăn cắp ảnh trẻ sơ sinh từ trang người khác để minh họa cho mình? Ấy là máu lạnh chứ đâu là sự thánh thiện – một người bạn tôi nhắn như vậy.

Đời người ngày càng khó biết, và khó đoán. Thật không dám nói gì thêm về cái gọi là sự thật trong những ngày tháng này. Nhưng trong tầm nhìn hạn hẹp của mình, thật lòng tôi không cảm thấy xúc động từ lúc đầu được biết về câu chuyện của vị bác sĩ tên Khoa. Nhưng rồi khi nhìn lại từ những gì lịch sử ghi lại, đã có đến nay, câu chuyện ấy chỉ khiến tôi lại thấy rùng mình.

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

Chuyến ‘di tản thứ ba’ của lịch sử Việt Nam: Bỏ chạy khỏi Sài Gòn

August 3, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt

QUẢNG TRỊ, Việt Nam (NV) – Là một trong hàng trăm ngàn người dân tứ xứ vừa thực hiện chuyến bỏ chạy khỏi Sài Gòn, vùng “đất lành chim đậu,” để về tận miền Trung nắng gió bằng xe gắn máy để tránh dịch COVID-19, cô Phan Thị Cẩm Nhung cho biết trước khi đi, cô đã đi xét nghiệm COVID-19, vì đó là tờ giấy thông hành của cô ở mỗi trạm kiểm soát.

Đoàn người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy trong đêm. (Hình: Facebook Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

Khuya Chủ Nhật, 1 Tháng Tám, từ khu cách ly ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, cô gái 32 tuổi kể lại với phóng viên nhật báo Người Việt về cuộc hành trình xa thẳm này: “Sáu giờ tối ngày 25 Tháng Bảy, em chạy xe gắn máy từ Gò Vấp về Quảng Trị. Lúc đó trời đang mưa. Qua những chốt, trạm kiểm soát đều có công an đứng chặn hỏi thì em đưa tờ giấy xét nghiệm [COVID-19] ra và họ cho đi. Suốt đường không có gì bán. Trước khi đi em chuẩn bị nước uống, bánh kẹo chứ trên đường không có bán đồ ăn thức uống gì cả. Mình cũng không dám tấp vào đâu hết. Họ sợ mà mình cũng sợ.”

“Di tản” bằng xe gắn máy

Không muốn ảnh hưởng đến giấc ngủ của những người đang cùng phòng cách ly, cô Nhung bước ra ngoài để nói chuyện. Đến Chủ Nhật là ngày cách ly thứ tư của cô ở Cam Lộ, sau hơn hai ngày hai đêm chạy xe gắn máy. Cái thời dịch giã, cái thời của Chỉ Thị 15, 16, 16+, không có hàng quán, nhà nghỉ nào hoạt động, chỉ trừ các cây xăng dọc đường.

“Em và một chị bạn chạy suốt đêm, lúc nào mệt thì tấp lại ven đường, nằm ngủ chút rồi chạy tiếp. Người ta đâu có cho mình nghỉ lại nhà nghỉ. Từ Sài Gòn về đến đây em mang theo 1.7 triệu đồng ($74). Tiền xăng, mua đồ ăn đi đường và đóng tiền cách ly cho 14 ngày (80,000 đồng [$3.5]/ngày), giờ em còn 100,000 đồng ($4.3),” cô nói qua điện thoại.

Vì sao cô phải quyết định “di tản” giữa lúc mọi chuyện ngổn ngang như thế? Chắc gì quê nhà (Quảng Trị) yên ổn hơn hoặc tốt hơn? Thân gái “dặm trường” biết bao là nguy hiểm? Cô trả lời nhanh: “Em vào Sài Gòn phụ người chị bán hàng. Từ khi dịch xảy ra, tiệm đóng cửa, không có việc, nhà trọ thì không giảm tiền thuê nhà nên em chọn cách về lại quê.”

Một gia đình “di tản” khỏi Sài Gòn bằng xe gắn máy nghỉ lại ven đường trong đêm. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Cùng một tuyến đường, nghĩa là từ Sài Gòn về Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị… cô Nhung gặp rất nhiều bạn “đồng hành.” Họ đều là những người “di tản” bằng xe gắn máy. Trước đây, họ là những người phải rời quê hương để tìm đường mưu sinh cho cuộc đời mình và cho gia đình đỡ vất vả hơn. Rồi giờ đây, cũng chính họ đang phải “tháo chạy” khỏi vùng đất ấy. Nơi đó không còn là “vùng trời bình yên” của những người dân lao động tứ xứ như cô nữa.

Vì không có hàng quán nào mở cửa trên suốt đoạn đường, nên bữa ăn của cô Nhung, và những người “di tản” khác chủ yếu là thức ăn đã chuẩn bị sẵn để mang theo. “Ngoài ra thì tụi em nhận được những phần cơm, nước uống từ bà con giúp đỡ dọc đường,” cô nói.

“Tháo chạy” bằng mọi cách

Từ Sài Gòn chạy về Quảng Trị hai ngày hai đêm, đó là bằng xe gắn máy. “Phi thường” hơn, là hai vợ chồng “chạy nạn” bằng cách đi xe đạp từ Lâm Đồng về Thanh Hóa trong ba tuần lễ. Người dân Phú Yên ghi lại được cảnh vợ chồng ông đang nhận nước uống từ nhóm thiện nguyện tại quốc lộ 1A, xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Hình ảnh trong video cho thấy ông luôn miệng cảm ơn khi nhận chai nước suối và hộp cơm từ người dân ven đường. Phía sau yên xe của người vợ là chiếc chiếu cói. Có lẽ đó là “giường ngủ” của hai vợ chồng ở dọc đường. Chiếc xe đạp cao quá khổ so với người phụ nữ. Bà phải “nhấp” vài nhịp mới leo lên được yên xe. Cuộc hành trình “di tản” của hai vợ chồng tiếp tục quay đều theo vòng xe nhọc nhằn.

Bữa cơm của cô Phan Thị Cẩm Nhung được người dân tiếp tế dọc đường. (Hình: Phan Thị Cẩm Nhung cung cấp)

Mạng xã hội những ngày qua tràn ngập hình ảnh đoàn người “dắt díu nhau chạy trốn.” Họ là những người cha, người mẹ vào đất Sài Gòn mưu sinh để nuôi gia đình. Họ là những người trưởng thành, chọn Sài Gòn là nơi kiếm sống.

Họ là những những đứa trẻ được sinh ra ngay chốn Sài Gòn hoa lệ, nhưng, như câu nói của cô Nhung: “Hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo.”

Họ là đứa bé chỉ mới vừa được sinh ra chín ngày tuổi, ánh mắt chưa kịp quen với ánh sáng cuộc đời. Họ là những người nằm mệt lả ngay giữa đèo Hải Vân, tạm nghỉ trên đoạn đường về nhà xa thẳm.

Họ, nói chung, là những người dân nghèo từ các vùng miền xa xôi tìm việc ở Sài Gòn. Đó là anh thợ hồ, chị lao công, cô gái phụ bán quán, anh thanh niên chạy “shipper”… Đó là những người làm nên một phần bản sắc của Sài Gòn.

Một trạm tiếp tế người đi xe gắn máy về quê của Quỹ Từ Thiện Bông Sen-VietBay Group. (Hình: Quỹ Từ Thiện Bông Sen)

“Người đi càng đêm càng đông dần” (lời trong ca khúc Kinh Khổ của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng). Dòng người “tháo chạy” khỏi Sài Gòn càng ngày càng nhiều hơn. Cho đến khi họ không thể “chạy” được nữa vì chỉ thị đưa ra nghiêm ngặt hơn: Người dân không được tự ý rời khỏi địa phương, nơi cư trú.

Lúc này, các doanh nghiệp tư nhân như xe khách Phương Trang, hoặc các hội đồng hương bắt đầu vào cuộc để giúp người dân về quê. Các chốt, trạm tiếp tế của người dân và nhóm thiện nguyện lập ra trên quốc lộ 1A cũng ngày càng nhiều.

Những đoàn người từ Sài Gòn đi xe gắn máy về Quảng Trị đêm 31 Tháng Bảy được cả cảnh sát giao thông đón, dẫn đường, với thông điệp “để bảo đảm an toàn.” Tại mỗi chốt kiểm soát, dòng người được tiếp tế thức ăn, nước uống và xăng.

Dù rằng, hình ảnh thật “hùng tráng” với xe cảnh sát hú còi, quay đèn chạy trước, theo sau là đoàn xe gắn máy trật tự, ngay hàng thẳng lối, tạo ra một bức tranh ánh sáng thật đẹp. Bất cứ nhiếp ảnh gia nào cũng có thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật với những dòng ánh sáng như thế.

Nhưng, những ánh sáng của đèn xe và nơi chốt kiểm soát vẫn không “làm mờ” được ánh mắt hoang mang, mệt mỏi của người đàn ông trong đêm tối, bế đứa bé nhỏ, có lẽ chỉ mới vài tháng tuổi đang ngủ ngon trên tay.

Giữa lúc chính phủ Việt Nam loan tin đón nhận thêm những lô vaccine viện trợ từ nước ngoài, hàng ngàn người dân nghèo vẫn tiếp tục “tháo chạy.” Trong dòng người quy cố hương ấy, có những đứa bé, sau này, sẽ là nhân chứng kể lại cho thế hệ sau biết về một lần quy cố hương. 

Chợt nhận ra bài hát “Đường Về Nhà” của ca nhạc sĩ Ái Phương chưa bao giờ buồn đến thế: “Trở về nhà bên mẹ cha có con sông chảy bên hiên nhà/ Có cánh diều đàn em bé thơ thả bay la đà/ Những buổi chiều xanh khói bếp, có khoai ngon mẹ ấp lửa vàng/ Có em cười ngây ngô sáng vang lên cả khúc sông…”  [qd]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.kalynh@nguoi-viet.com

 

 Chấp Nhận Cuộc Đời

 Chấp Nhận Cuộc Đời

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Làm sao vui vẻ chấp nhận cuộc đời nếu gặp:

1-Sự bất như ý:

Nhìn lại quãng đời đã qua của chúng ta, chắc chắn mỗi người trong chúng ta, đa số đều gặp những hoàn cảnh bất như ý:

* Làm nghề nghiệp mà mình không thích, không phải sở trường. Tốt nghiệp ngành này lại đi làm ngành nghề khác. Riêng tôi tốt nghiệp đại học luật khoa, không làm luật sư mà làm nghề dạy học. Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lại đi tù cộng sản. Năm 1983 ở tù về, không được dạy học, phải làm nhiều nghề để sống: dạy kèm tư gia, giặt bao nylon, bán bia và nước ngọt. Qua Mỹ, làm chỗ sang băng nhạc, tiệm grocery, bán bảo hiểm.

* Nhiều người thất nghiệp, mất nhà, mất xe, không có tiền bạc, sống cơ cực, khổ sở.

* Nhiều người gặp gia đình đỗ vỡ, chia ly tan tác ngoài ý muốn, con cái thất học, nheo nhóc.

*Nhiều khi con cái không làm theo ý mình hoặc hư hỏng, không chịu học hành theo băng đảng, hút sách.

 Nếu gặp sự bất như ý chúng ta không thể giải quyết được vì nó vượt ngoài tầm tay, sự hiểu biết, khả năng của chúng ta thì ta phải làm sao?

Chỉ có cách duy nhất là chịu đựng, không than van, và liên tục cầu nguyện. Cho nên nhà thờ, đoàn thể, các nhóm cầu nguyện rất cần thiết để chúng ta chia sẻ những khó khăn, những lo âu, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Chẳng những cầu nguyện mà còn nên ca ngợi Chúa về những hoàn cảnh bất như ý mà ta đã gặp phải. (1)

Đời sống tâm linh rất quan trọng.  Chúng ta thường xuyên đến nhà thờ, cầu nguyện với Thiên Chúa toàn năng, chắc chắn khi Chúa đóng cửa này sẽ mở cửa khác cho chúng ta. “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gỏ thì cửa sẽ mở cho.” (Mt 7, 7-12)

2- Bịnh hoạn, Tật nguyền

Nhà Phật có nói: Sinh Lão Bịnh Tử. Ai trong chúng ta cũng phải đi qua con đường này. Không thoát được.

Bịnh tật là tất yếu phải xảy ra. Khi lớn tuổi, sức khoẻ suy yếu, sinh ra bịnh tật… tiểu đường, cao máu, cao mở, đau nhức… chưa kể có người bị các chứng bịnh nan y như ung thư, đau thận, đau gan, đau phổi, đau tim, mổ tim… Không phải chỉ có những người già cả mới bịnh hoạn, có khi còn trẻ cũng đã vướng nhiều bịnh nan y rồi. Vậy làm sao được bình an khi gặp trường hợp không may xảy ra như bịnh hoạn?

Rất khó chấp nhận hoàn cảnh đau khổ, bịnh tật. Để được an ủi, để có thể chịu đựng những đau đớn về thể xác và về tinh thần, có thể học hỏi niềm tin, niềm cậy trông của thánh Gióp, niềm tin vào Chúa để chịu đựng khổ sở, khó khăn, chịu nhục hình như các thánh tử đạo Việt Nam. Học tập gương Thánh Giu se, gương Đức Mẹ, nhất là gương Chúa Giê su chịu đựng khổ hình đau đớn nơi thập giá. Nhờ đó chúng ta có thể chịu đựng được những đau khổ, khó khăn của chính mình. (1)

 3- Đau khổ, cô đơn.

Sự cô đơn, sống một mình, chịu đựng hoàn cảnh trống vắng, đơn độc.

Đến lúc nào đó, một trong hai vợ chồng phải ra đi sớm. Người còn lại phải chịu đựng sự cô đơn, mất mát vô cùng lớn lao không có gì bù đấp được. Vì gặp cảnh cô đơn chúng ta mới đến với Chúa, chúng ta cần Chúa nhiều hơn nữa. Xem cô đơn là một điều kỳ diệu!

 Làm sao khám phá niềm vui trong đau khổ?

Trong đau khổ làm sao có niềm vui? Tìm thấy “thú đau thương” chăng?

Thánh Phaolô biểu lộ ước muốn của mình là biết “thông phần những đau khổ của Đức Kitô, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.”

Thánh nhân đã nghe Chúa phán với mình: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”

 “Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”

Hàng ngày luôn luôn thức tỉnh, học tập, cố gắng thực hành yêu thương và tha thứ. “Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44) Nói thì dễ, nhưng làm rất khó. Với sức con người bình thường chúng ta không làm được, nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể làm được.

4- Sự chết:

Dầu là dân thường hay vua chúa, quan quyền, đến lúc nào đó cũng phải ra đi. Sự chết là tất yếu của đời sống của con người. Ai ai cũng trúng số “độc đắc” một lần, đó là sự chết. Nhưng vẫn có rất nhiều người, nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ chết?

Để cảm nghiệm về cái chết, ta nên thường xuyên đi đọc kinh nhà quàn, tham dự các thánh lễ an táng, tiễn đưa những người bạn bè, người thân quen, đã ra đi, để cảm nghiệm: “rồi chính mình cũng sẽ chết” cũng sẽ nằm im lặng, bất động trong quan tài giống như thế.

Khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi hư vô:

*Khi đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay lạnh ngắt

Quả tim không chuyển nổi máu tươi hồng

Thì danh vọng phải trả về cho sắc sắc

Thì bạc tiền đành hoãn lại chốn không không…

Những ân ái, hận thù và mưu chước

Những thăng trầm vinh nhục cũng luôn trôi. (2)

*Đời sống con nguời mong manh, mỏng dòn:

“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi.” (Thánh Vịnh 90,10)

*“Con đừng sợ án chết.

Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con,

Và sẽ có những người theo sau.

Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm

Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?” (Sách huấn ca 41, 3-4)

Đối với người kitô hữu:

Người chết là người đã vĩnh viễn hoàn tất đời mình. Là người Kitô hữu, chúng ta phải biết đón nhận sự hoàn tất đó với một tâm hồn bình an cao cả, vì mc khải Kitô giáo đã cho biết rằng cái chết như cánh cổng to lớn mở vào thánh điện an vui vĩnh hằng. Như thánh Phaolô đã xác định: vào ngày cuối cùng, cái hư hoại trong ta sẽ trở nên bất hoại, cái khả tử sẽ nên bất tử (x. 1Cor 15, 53)” (LM Thái Nguyên, bài “Suy gẫm về sự chết”, nguồn simonhoadalat.com).

Đức Giê-su khi biết mình sẽ phải chết, đã nhắc đến cuộc ra đi vượt qua của Ngài để các môn đệ yên tâm và không hoảng sợ trước sự chết. “Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 1-2).

Trong thư Rô-ma, thánh Phao-lô đã khẳng định: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rm 6, 8).”

Với niềm tin tưởng vào Đức Kitô, niềm an ủi lớn lao là chết không phải là yên nghỉ mà là tiếp tục sống. Vì cái chết chính là ngưỡng cửa đi vào đời sống vĩnh cửu. Với người Ki-tô hữu, “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).

Quả thật, với một cái nhìn đầy lạc quan và hy vọng, một niềm tin về đời sống vĩnh cửu, có sự sống lại đời sau nên trong giờ phút lâm chung thi sĩ Tagore đã thốt lên: “Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết”. (3)

 Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng nói: “Sự chết cũng là một bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến”. (Sách Đường Hy Vọng và Dẫn Giải)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tháng 08 năm 2021

(1) Sách Quyền Năng của Tâm Hồn biết ca ngợi LM Nguyễn Đức Mầu

(2) Trong bài Cảm Nghĩ tuổi già:

xem thêm: Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

(3) Trong bài “Kitô Hữu và Sự Chết” của Aug Trần Cao Khải

KỲ DIỆU CỦA CÔ ĐƠN

KỲ DIỆU CỦA CÔ ĐƠN

“Giải tán họ xong, Ngài lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Ngài vẫn ở đó một mình!”.

“Một là tự tử, hai là về thành phố, ba là ôm chặt Thiên Chúa!”. Đó là chia sẻ của cha René Voillaume khi ngài nói đến ‘thời gian nhà tập’ của một số tập sinh Tiểu Đệ Chúa Giêsu tại sa mạc Sahara, nơi nhiệt độ thông thường có thể nóng đến 58°C và lạnh dưới – 45°C và còn hơn thế nữa!

Kính thưa Anh Chị em,

Không cần phải đợi đến khi vào sa mạc Sahara, Chúa Giêsu mới chọn điều thứ ba; nhưng trong suốt cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã luôn luôn khôn ngoan ôm chặt Thiên Chúa. Thật thú vị, qua Tin Mừng hôm nay, chúng ta học bài học của sự cô đơn; đúng hơn, sự ‘kỳ diệu của cô đơn!’.

Khi chúng ta coi việc ở một mình là cô đơn, Chúa Giêsu lại coi đó là cô tịch; chúng ta coi cô tịch là lãnh địa của cô đơn, Chúa Giêsu coi đó là lãnh địa của gặp gỡ; chúng ta chạy trốn cô tịch, Chúa Giêsu đi tìm nó! Vậy mà, khi kiên trì ôm chặt Thiên Chúa như Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy sự ‘kỳ diệu của cô đơn!’; đó là thiên đàng của những cuộc gặp gỡ. Tuy nhiên, điều làm cô đơn nên kỳ diệu ở đây là một cô đơn có Chúa, ‘ôm lấy Chúa và được Chúa ôm lấy’ chứ không phải cô độc.

Tin Mừng hôm nay cho biết, sau khi giải tán dân chúng, Chúa Giêsu lên núi một mình để cầu nguyện. Ngài sẵn sàng rời bỏ sự vồ vập của đám đông để lên núi, ở một mình với Chúa Cha; ở với Chúa Cha, một điều gì đó mà Chúa Giêsu khao khát mỗi ngày. Khác với Chúa Giêsu, việc im lặng có thể nhanh chóng dẫn chúng ta đến một cô đơn nhất định và trống rỗng nội tâm; những lúc ấy, chúng ta cảm thấy bị thôi thúc muốn tìm một ai đó, hay bất cứ thứ gì, có thể giúp gây mê, hầu tránh được cảm giác đau đớn khi ở một mình. Nếu đúng vậy, chúng ta hãy học biết ôm chặt Thiên Chúa như Chúa Giêsu, ở lại với Ngài, học cách tận hưởng sự hiện diện của Ngài trong lặng lẽ. Bấy giờ, ‘kỳ diệu của cô đơn’ sẽ tỏ mình, nỗi đau từ im lặng có thể biến thành niềm vui và bình an.

Tận hưởng sự im ắng của việc ở một mình, chúng ta hướng lòng lên Chúa, quay lưng lại với chính mình; vậy mà, chính lúc đó, chúng ta vẫn không quay lưng lại với người khác hoặc với thế giới. Như Chúa Giêsu, chúng ta đang mở lòng mình với Thiên Chúa để có thể liên đới cảm thông với người khác. Tin Mừng tiết lộ, ở một mình trên núi “cho đến chiều tối”, Chúa Giêsu đã không loại bỏ những người khác khỏi lời cầu nguyện của Ngài; Ngài ý thức việc các môn đệ đang vật lộn trước gió giật và sóng lớn. Như vậy, dẫu đến gần Chúa Cha, ở trong Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn gần gũi các môn đệ; từ đó, Ngài đã kịp có mặt với họ trong cuộc chiến trên sóng dữ, kêu gọi họ can đảm; để cuối cùng, bước lên thuyền, giúp họ vượt qua bão tố và đưa họ vào bờ. Cũng thế, việc ở một mình trong cầu nguyện cũng sẽ đưa chúng ta đến gần những người khác trong tình yêu thương; và đó chính là sự ‘kỳ diệu của cô đơn’ khi tạo ra một cơ hội để chúng ta trở nên một phương tiện, mà qua đó, Thiên Chúa có thể đến với những người khác.

Bài đọc Dân Số hôm nay cũng nói đến một trải nghiệm ‘kỳ diệu của cô đơn’. “Lều Hội Ngộ” còn gọi là “Nhà Xếp Giao Ước”, được coi như điểm hẹn, một nơi cô tịch mà con người gặp gỡ Thiên Chúa và tìm lại chính mình. Thiên Chúa đã đòi vợ chồng Aaron và Miriam ra đó, vì hai người này có lỗi với Môisen, “Cả ba hãy đi ra Lều Hội Ngộ!”. Ở đó, Ngài đã tỏ mình, nói cho họ sự sai trái. Và cũng từ nơi cô tịch đó, con người nhận ra lỗi lầm của mình, để sau đó, mở miệng xin Thiên Chúa xót thương, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!”; đó cũng là tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca hôm nay.

Anh Chị em,

Tin Mừng cho biết, càng gần Thiên Chúa, Chúa Giêsu càng gần con người. Ngài dạy chúng ta ôm chặt Thiên Chúa để có thể gần gũi tha nhân như Ngài. Như vậy, cô đơn không thể mài mòn chúng ta; trái lại, giúp chúng ta trở nên nhạy bén với Thiên Chúa, với tha nhân, nhận ra sự yếu hèn của mình; và sau cùng, trở nên khí cụ bình an của Chúa. Đó là sự ‘kỳ diệu của cô đơn!’. Trong những ngày hôm nay, khi phải ở một mình nhiều hơn, chớ gì chúng ta biết tận dụng những hoàn cảnh đun đẩy như một ‘lợi thế’ sẵn có; qua đó, ở lại với Thiên Chúa, ở lại với những những thân yêu và thấy rõ con người của mình nhiều hơn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con đi vào vực sâu của việc cầu nguyện cả khi con sợ hãi phải ở một mình; xin giúp con ôm chặt lấy Chúa; nhờ đó, con luôn thấy được sự ‘kỳ diệu của cô đơn!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Cô Gái Pa Ko & Covi19 – Tưởng Năng Tiến

Cô Gái Pa Ko & Covi19

Mùa Hè 2021 – từ Buôn Hồ, Dak Lak – FB Huỳnh Thục Vy trở về Tam Kỳ, nơi bà sinh trưởng, để có dịp ngắm nhìn và ngâm mình lại trong sóng nước Tam Thanh. Khác với Phạm Duy, trong Nha Trang Ngày Về (“Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát/Chui sâu vào thân xác lưu đầy) Huỳnh Thục Vy chả có tâm sự gì ráo trọi, cũng không kêu than vô vọng (“Dã tràng ơi! Sao lấp cho vơi sầu này?’) mà chỉ thảm thiết kêu Trời :

Tắm biển để thư giãn mà còn bị tra tấn bởi mấy bài hát sặc mùi lên đồng và máu tanh: cô gái mở đường, cô gái vót chông, ‘chờ bọn bay diệt bọn bay’ bla bla, má ơi. Đề nghị ban quản lý bãi biển Tam Thanh chấm dứt ngay việc tra tấn người tham quan bằng những bài hát đáng lẽ phải vứt vô sọt rác lâu rồi ấy…

Những “bài hát sặc mùi lên đồng và máu tanh đáng lẽ phải vứt vô sọt rác lâu rồi ấy” khiến tôi chợt nhớ đến vô số những cô sơn nữ nơi quê hương, đất nước của mình :

Cô Gái Sông Ba “tay vót chông miệng hát không nghỉ.”

Cô Gái Bom Bo “giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa.”

Cô Gái Pa Ko “gùi trên vai súng đạn ra hoả tuyến”

Súng đạn đã im tiếng gần nửa thế kỷ qua. Các cô sơn nữ cũng đều đã qua hết thời xuân sắc tự lâu rồi, và đang phải đối mặt với vô số khó khăn trong cuộc mưu sinh vào những ngày tháng cuối đời – theo tường trình của RFA (“Người Dân Tộc Thiểu Số Vân Kiều và Pa Ko”) do Nhóm Phóng Viên Từ Việt Nam thực hiện :

Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.

Sự túng quẫn, cùng cực cũng có thể nhìn thấy được tại một phiên chợ sớm, họp lúc nửa khuya và tan lúc trời vừa hừng sáng – tại thị trấn A Lưới, Thừa Thiên, Huế – theo ghi nhận của hai ký giả Như Ý và Văn Long :

“Em Hồ Thị Nhơn, 5 tuổi (thôn Pơ Nghi 1, xã A Ngo) thức dậy từ 2h đêm với mớ rau má mang đi. Em Hồ Thị Hiền, học sinh THCS Hồng Quảng đang ngồi bên chậu hến. Hồ Thị Hiền tâm sự: ‘Buổi chiều, khi cô giáo cho lớp nghỉ là em lên cái suối xa để mò con hến, rồi chờ đến sáng sớm mai để đem xuống chợ.’ Mỗi lon hến tươi của Hiền có giá 1.000 đồng. Em vẫn đi mò thường xuyên, và sau mỗi buổi chợ em có được 10 đến 15 ngàn để giúp mẹ cải thiện bữa ăn gia đình và mua thêm sách vở.”

Chỉ có điều an ủi duy nhất là người dân Pa Ko (nói riêng) và những người có công với cách mạng (nói chung) đều được Tổng công ty Hàng không VN dành ưu tiên khi làm thủ tục lên tầu – theo như tin loan của báo Pháp Luật :

Ưu tiên tại khu vực soi chiếu an ninh, khách được ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia hoặc khách hàng thường xuyên. Dịch vụ ra tàu bay khách ra tàu bay trước cùng với các khách ưu tiên khác. Hành khách là người có công với cách mạng cần xuất trình đầy đủ giấy tờ xác nhận đi kèm (bản sao không cần chứng thực) để được ưu tiên phục vụ.

Thiệt là tử tế và ơn nghĩa hết biết luôn!

Tuy nhiên, với những kẻ suốt đời sống chui rúc dưới những “mái nhà sàn lợp tranh tuềnh toàng gió lộng” thì cái viễn ảnh “ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia” chắc còn xa lắm. E là họ phải chờ cho đến khi “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ này,” như vị Tổng Bí Thư đương nhiệm đã từng kỳ vọng!

Thói đời thì xưa nay vẫn vậy mà. Đâu cũng thế thôi. Bạc bẽo vẫn là lẽ thường tình của thế nhân, chứ chả riêng chi những người CSVN. Họ chỉ khác người cái điểm là tuy ăn ở, cư xử rất tệ bạc nhưng lại thích khoe khoang thành tích mà phần lớn đều là giả tạo. 

Thí dụ điển hình gần nhất là hình ảnh “Mẹ Pa Kô Quảng Trị Gùi Bí Ngô Để Ủng Hộ Đồng Bào Miền Nam” đang lan tràn trên nhiều trang FB, giữa mùa dịch bệnh,  cùng với không ít những lời ca ngợi :

  • Hồ Thị Thập: Thương mẹ quá.
  • Tiên Thanh: Tấm gương Sáng ngời !
  •  Chi Vân: Thương bà mong bà có thật nhiều sức khoẻ.
  • Hồ Kết: Bà của mình là người pa cô nha bạn. Sống tại thôn A Đăng/ xã Tà Rụt/ h Đakrông/ T. Qtri.
  • Hồ Nương: Họ thật thà thiệt bụng. Con gái là cô con cháu bác hồ.

Con cháu bác Hồ thì đâu mà chả (dại) y như thế, chứ có riêng chi nơi miền sơn cước. Ở miền xuôi họ cũng vậy thôi :

Báo Quân Đội Nhân Dân, số ra ngày 20/07/21, còn vừa hân hoan cho biết thêm một trường hợp vô cùng “cảm động” khác nữa kia :

Cụ bà 90 tuổi góp lương thực hỗ trợ đồng bào miền Nam chống dịch. Nghe loa truyền thanh xã thông báo, vận động bà con đóng góp hàng hóa, củ, quả ủng hộ đồng bào miền Nam chống dịch Covid-19, cụ ông nói với cụ bà: “Nhà ta có mấy bao lạc. Bà chọn loại ngon nhất đem đi giúp người ta. Miếng khi đói bằng gói khi no bà ạ!”

Tình nghĩa tới cỡ đó mà nhân thế vẫn có điều tiếng eo sèo.

 Blogger Dương Hoàng Mai:

Hình được chú thích đã khiến nhiều người cảm động, riêng tôi chả cảm động chi ráo, mà thấy bất nhẫn khi đọc tin bà cụ 90 tuổi ở miền núi xa xôi phải vác 5 kí lô đậu phộng đi ủng hộ miền Nam thân yêu ! Dù là tình nguyện thì cũng phải hỏi con cháu khỏe mạnh, hàng xóm khỏe mạnh sao không xách giúp bà, 5 kí lô, với quãng đường núi xa xôi, với 90 tuổi.. Tội nghiệp quá !

Blogger Hiếu Chân:

Truyền thông của đảng đăng bài ca ngợi những cụ già 85 tuổi lấy tiền để dành lo hậu sự góp vào quỹ, trẻ em 5 tuổi nói chưa sõi cũng đập heo đất lấy tiền góp vào quỹ, mỗi người cả trăm triệu đồng! Lối tuyên truyền lố bịch đó tưởng rằng nêu gương tốt nhưng thực tế đã làm cho người đọc thấy rõ thêm bộ mặt trâng tráo và lòng tham vô đáy của nhà cầm quyền, cố vơ vét tiền bạc bằng mọi cách, không chừa cả trẻ em và bà lão.

Tôi thì không tin rằng bây giờ “trẻ em” và “bà lão” ở VN vẫn còn có thể bị dụ vào việc chống dịch như cô gái Pa Ko đã từng lao đời vào chuyện chống “giặc” (một cách hồn nhiên) như ngày xưa nữa. Mọi tin tức và hình ảnh thượng dẫn chỉ là những thủ thuật đã lỗi thời, để phô trương thành tích, của đám dư luận viên ngu ngốc mà thôi.

 Bạn có thể lừa gạt  mọi người vào một thời điểm nào đó, và có thể lừa gạt vài người vào bất cứ lúc nào nhưng bạn không thể lừa gạt tất cả mãi mãi được. (“You can fool some of the people all of the time, and all of the people some of the time, but you can not fool all of the people all of the time” – Abraham Lincoln).

Tưởng Năng Tiến
8/2021

TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24

Đài Á Châu Tự Do

TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24

Theo trang thông tin về dịch bệnh của Bộ Y tế Việt Nam, TPHCM hiện có ít nhất 2.105 ca tử vong vì COVID-19 khiến lò thiêu phải hoạt động hết công suất.

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM Nguyễn Toàn Thắng hôm 5-8 cho hay, các bệnh nhân tử vong do COVID-19 tại thành phố được hỏa táng tại trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa (Lò thiêu Bình Hưng Hòa) và đang hoạt động 24/24 giờ.

Theo Vietnam Plus, ông Nguyễn Đình Thắng phủ nhận chuyện tăng giá hỏa táng và từ chối nhận ca tử vong do COVID-19 tại Bình Hưng Hòa.

Ông Thắng cho biết thêm, sau khi hỏa táng, tro cốt sẽ được lưu trữ tại điểm lưu trữ của Công ty Môi trường đô thị, có dán đầy đủ thông tin của người mất đến khi gia đình có điều kiện nhận tro cốt sẽ giao lại.

Nếu người mất thuộc diện hộ nghèo, UBND thành phố sẽ chi ngân sách để hỗ trợ toàn bộ chi phí ở các khâu cho người dân, Giám đốc Sở TN&MT TPHCM cho biết.

Ngoài ra, Sở Y tế thành phố khẳng định, hiện nay chi phí cách ly, khám chữa bệnh cho bệnh nhân liên quan COVID-19 và những chi phí khác (trong trường hợp có bệnh nhân mất vì COVID-19) được miễn phí hoàn toàn.

Chi phí hỏa táng người tử vong vì vi-rút corona sẽ ở mức 4,2 triệu đồng và được miễn phí, còn lại các chi phí khác về dịch vụ mai táng thì người nhà sẽ tự chọn với đơn vị dịch vụ mai táng.

Phần chi phí hỏa táng sẽ được phía bệnh viện chi trả với đơn vị thực hiện dịch vụ mai táng, cũng theo thông tin từ Vietnam Plus.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Phan Văn Mãi cũng cho hay, chủ trương của thành phố sẽ hỗ trợ đối với những gia đình không may có người mất bằng ngân sách của thành phố hoặc nguồn xã hội hóa và cho rằng “đây là việc thiêng liêng, cần được làm chu đáo”.

#RFAVietnamese #TinRFA #LoThieuBinhHungHoa #BinhHungHoa 

May be an image of text that says 'Ảnh chụp màn hình CHÂUTỰ DO ĐÀIÁCHÂUTO DO ĐÀI CHÂU DO TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24'

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜi MỸ & NGƯỜI VIỆT

May be an image of 1 person

Gam Nguyen

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜi MỸ & NGƯỜI VIỆT

– Người Mỹ không thích người khác biết mình có tiền. Người Việt thì tìm cách khoe của.

– Người Mỹ thả thú vào rừng. Người Việt vào rừng bắt thú.

– Người Mỹ nói ít làm nhiều. Người Việt nói nhiều làm ít hoặc nói một đằng làm một nẻo.

– Người Mỹ khi ra nước ngoài thì tìm học cái hay. Người Việt thì tìm chỗ ăn chơi (đủ kiểu chơi)

– Người Mỹ hôn nhau ngoài đường, đi tiểu trong toilet. Người Việt hôn nhau trong toilet, đi tiểu ngoài đường.

– Ở Mỹ, lễ tết sếp tặng quà cho nhân viên. Ở Việt Nam nhân viên tặng quà cho sếp.

– Người Mỹ ăn nhanh để đi làm. Người Việt làm nhanh để đi ăn.

– Đàn ông Mỹ tan sở về nhà ngay. Đàn ông Việt tan sở lê la quán nhậu.

– Người Mỹ yêu động vật. Người Việt đấu trâu, đấu chó, chém lợn.

– Người Mỹ vừa dạo chơi vừa nhặt rác. Người Việt vừa dạo chơi vừa xả rác ra đường.

– Người Mỹ đánh bắt hải sản thì thả mấy con nhỏ và con cái đang mang trứng. Người Việt đánh bắt hải sản thì tóm toàn bộ không tha con nào hết (càng nhiều trứng càng tốt vì bổ béo)

– Người Mỹ va chạm nhau trên đường thì bắt tay xin lỗi và ôn hòa. Người Việt thì múa tay, ăn đấm vào mặt, hung hăng ăn thua đủ

– Người Mỹ chủ nhật đem gia đình đi xa thành phố. Người Việt thì đem cả nhà đến trung tâm thành phố.

– Mỹ nhà xa mặt đường thì đắt. Việt Nam nhà xa đường thì rẻ.

– Người Mỹ không uống rượu trước mặt trẻ em. Người Việt uống rượu sai trẻ em đi mua thêm, đi chậm sẽ bị đánh đòn.

– Người Mỹ đến nhà hàng gọi ăn, uống vừa đủ. Người Việt sành điệu ăn uống phải bỏ lại nhiều (Người Mỹ bụng to hơn mắt, người Việt mắt to hơn bụng!)

– Yêu nhau người Mỹ hôn công khai. Người Việt hôn trong bóng tối.

– Người Mỹ đến nhà thờ cầu nguyện cho yên bình. Người Việt đến đền chùa để “hối lộ thần thánh” và cướp phá lộc, phết…

– Người Mỹ đi du lịch thì mặc cốt sao thoải mái và khám phá văn hóa. Người Việt đi du lịch thì mặc đẹp và chụp ảnh, khoe khoang lên facebook, etc..

– Mỹ không thích hỏi tuổi, hỏi lương. Người Việt là câu cửa miệng.

– Người Mỹ không bao giờ vứt rác sang nhà hàng xóm. Người Việt không vứt được phải chịu.

– Người Mỹ không thích đàm đúm nói xấu cấp trên. Người Việt như có gen di truyền.

– Người Mỹ sống thật không thích khoe mẽ. Người Việt không khoe sợ người khác nghĩ mình nghèo…

– Người Mỹ mập ú mà sải bộ rất nhanh. Người Việt nhỏ con mà chân bước chậm rề.

– Người Mỹ ra đường đàn ông tay xách nách mang. Đàn ông Việt ra đường toàn ông kễnh.

– Ở Mỹ chặt một cây thì trồng 3 cây. Ở Việt Nam chặt hàng trăm cây nhưng không trồng cây nào.

– Ở Mỹ lên xe là chạy. Ở Việt Nam lên xe là bóp còi.

– Người Mỹ nuôi con theo ý họ. Người Việt nuôi con theo chỉ đạo của mẹ chồng.

– Người Mỹ bàn xong thì làm. Người Việt bàn xong thì bàn tiếp tục và tiếp tục bàn hoài…

– Người Việt bị chỉ trích thì nhảy dựng lên. Người Mỹ bị chỉ trích thì tranh luận.

– Người Mỹ muốn đến nhà ai thì gọi điện thoại trước. Người Việt cứ đến nhà không thấy thì gọi hỏi sao không có ở nhà.

– Người Mỹ luôn hỏi ý kiến con trước mọi vấn đề. Người Việt coi con trẻ là không biết gì, phải nghe theo mình.

– Ở Mỹ học nhiều, tiến sĩ ít. Việt Nam học ít, tiến sĩ nhiều (theo đầu người).

….Góp nhặt