“Trí thức là cục phân” là do Lê nin viết lần đầu vào năm 1919, Mao chỉ là… nói lại!

Trần Bang

“Trí thức là cục phân” là do Lê nin viết lần đầu vào năm 1919, Mao chỉ là… nói lại!

BBC (25/1/2020):

Trong lá thư viết hôm 15/09/1919, Lenin bàn luận với nhà văn Maxim Gorky về nhà thơ Vladimir Korolenko và lên án “giới trí thức tư sản”.

Mở đầu thư, Lenin cập nhật cho Gorky một số tin nhân sự và giải thích việc bắt nhóm Đảng Dân chủ Lập hiến:

Aleksei Maksimovich thân mến,

Tôi gặp Tankov, và trước khi ông ấy tới thăm, và trước khi nhận thư của anh, chúng tôi đã quyết định tại Tseka (Trung ương Đảng) bổ nhiệm Kamenev và Bukharin vào phụ trách công tác đánh giá lại các vụ bắt giữ bọn trí thức tư sản thuộc nhóm Kadet (Constitutional Democrat), rồi đã cho thả ra.

Điều quá rõ ràng là có những sai lầm đã phạm phải trong vụ việc.

Nhưng cũng rất rõ ràng rằng việc bắt nhóm này là cần thiết và đúng đắn.

Khi đọc ý kiến thẳng thắn của anh[Gorky phản đối việc bắt giữ], tôi nhớ lại cuộc tranh luận của chúng ta ở London, Capri và câu nói của anh khi đó để lại ấn tượng rất mạnh với tôi.

“Bọn văn nghệ sĩ chúng tôi là những kẻ vô trách nhiệm.”

Lenin tìm cách lý giải vụ bắt ” vài trăm quý ông Kadet và giả Kadet” là để phòng ngừa một âm mưu như vụ ở pháo đài Krasnaia Gorka, và nói đó chẳng phải là “bi kịch gì cả”.

Tiếp theo, Lenin chuyển sang câu chuyện về tác phẩm Chiến tranh, Đất mẹ và Nhân loại của Vladimir Korolenko (1853-1921) ấn hành tháng 8/1917.

Trong thư, Lenin gọi Korolenko, người Gorky coi như đàn anh, là kẻ “giả Kadet, gần như là một tay Menshevik”(phái chống Bolshevik trong Đảng Xã hội Nga).

Nhân đó, Lenin lên án “trí thức tư sản” và nói với Gorky rằng chỉ có “tri thức của công nông” mới là sức mạnh thực sự:

“Các lực lượng trí thức của công nhân và nông dân đang vươn lên, ngày càng mạnh hơn trong cuộc chiến đấu lật đổ bọn tư sản, những kẻ đồng phạm của chúng -tức là giai cấp có giáo dục, tay sai của đồng vốn tư bản -những kẻ cứ nghĩ chúng là bộ não của dân tộc.

Nhưng trên thực tế, chúng không phải là não, mà là cục phân của dân tộc.”

Lenin kết thúc lá thư bằng lời kêu gọi Gorky hãy bỏ ngay quan hệ trí thức tư sản càng sớm càng tốt.

Coi trí thức tư sản là ‘cục phân’ trong hoàn cảnh nào?

Nước Nga sau Cách mạng 1917 rơi vào cảnh hỗn loạn, nội chiến và bị bao vây.

Korolenko

NGUỒN HÌNH ẢNH, FOTOSOYUZ

Chụp lại hình ảnh,

Vladimir Korolenko sinh ở Zhitomir trong gia đình gốc Ukraine – Ba Lan và qua đời tại quê hương sau thời gian thất vọng nặng nề với hành xử của chính quyền Xô Viết

Tháng 2/1919, Maxim Gorki trong “Lời kêu gọi gửi ra toàn thế giới đã ca ngợi Lenin và cách mạng Nga vốn đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù:

“Lãnh đạo chiến dịch chống lại Nga là Woodrow Wilson. Vladimir Lenin đang nắm chắc ngọn đuốc của Cách mạng Nga trong tay và rọi chiếu ánh sáng ra toàn thế giới. Giai cấp vô sản và người lao động trí thức (intellectual workers) cần chọn giữa những kẻ bảo vệ trật tự cũ, những kẻ đại diện cho chính phủ của thiểu số kiểm soát đa số, chế độ cũ không có tương lai, và những người phá đổ tất cả thứ văn hóa đó, những người kiến tạo lý tưởng xã hội mới, và là hiện thân của của ý tưởng hạnh phúc, việc làm tự do, tình huynh đệ của nhân dân với công nhân.”

Tuy thế, cũng từ năm 1919, Gorky và nhiều trí thức Nga ủng hộ cách mạng đã lo ngại trước làn sóng bắt bớ của chính quyền Lenin nhắm vào nhóm cựu Kadet, gồm nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục Nga nổi tiếng.

Đảng Kadet là lượng chính trị trung hữu, ủng hộ tự do cá nhân, bảo vệ thiểu số Do Thái, có mặt trong Viện Duma Nga từ 1906.

Sau Cách mạng 2/1917, Kadet có bốn thành viên vào chính phủ lâm thời, nhưng sau bị chính quyền Bolshevik cho là bất hợp pháp.

Từ năm 1919, chính quyền của Lenin ra lệnh bắt hàng loạt trí thức, nhà khoa hoặc, văn nghệ sĩ Nga, gồm cả những người theo Kadet.

Chính quyền trục xuất những cựu thành viên Kadet và các đảng Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng, Menshevik và Dân tộc chủ nghĩa.

Các đợt trấn áp này bị trí thức từng ủng hộ Cách mạng tháng 10 phản đối.

Vì những người đã bị đuổi sang Phương Tây tiếp tục viết bài, lên tiếng phê phán chế độ ở Nga, Lenin cấm những người ở lại được xuất cảnh.

Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng.

Hè năm 1918, ông bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành.

Cho đến lúc chết năm chưa đến 54 tuổi, trong người Lenin vẫn còn hai viên đạn.

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya

NGUỒN HÌNH ẢNH, GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya. Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng vì bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành năm 1918.

Những tâm hồn Nga

Ngày nay, nước Nga đã có cái nhìn khác về di sản bạo lực một thời và những nhân vật nổi bật thời kỳ trước và sau năm 1917.

Sau 1990, việc phục hồi các trí thức Kadet và nhiều nhân vật khoa bảng thời trước cách mạng đã diễn ra.

Trên thực tế, dù bị Lenin phê phán, Korolenko vẫn có uy tín lớn với các nhân vật cộng sản châu Âu.

Rosa Luxemburg, một lãnh tụ cộng sản châu Âu gốc Do Thái, đã viết về Korolenko khi ngồi tù ở Breslau (nay là Wroclaw, Ba Lan) tháng 7/1918, ca ngợi và so sánh hai tài năng của văn học tiếng Nga:

“Tác phẩm Thời thơ ấu của Maxim Gorky có thể so sánh ở nhiều góc độ với Lịch sử đương đại của Korolenko. Về mặt nghệ thuật, họ thật khác nhau một trời một vực. Korolenko, như Turgenev mà ông luôn ngưỡng mộ, có tâm hồn mẫn cảm, có bản tính đầy chất thơ, con người của nhiều tâm trạng. Gorky, theo đúng truyền thống Dostoevsky, nhìn đời đầy kịch tính, là người đàn ông của các nguồn năng lượng và hành động rất tập trung…”

Là bậc đàn anh của Maxim Gorky, Korolenko, nổi tiếng với nhiều tác phẩm trong đó có Russkoe Bogatstvo, đã rút lui về quê nhà ở Ukraine sau cách mạng 1917 và qua đời năm 1921.

Sau khi Lenin chết, Maxim Gorky (sinh năm 1868) thì trở thành gương mặt của văn học công nông Liên Xô, và được Stalin tôn trọng, đề cao.

Tuy thế, các lá thư ông trao đổi với Stalin và Genrikh Yagoda (bộ trưởng an ninh Liên Xô) được công bố trong thập niên 1990 cho thấy Gorky vào những năm cuối đời cũng dần mất hết ảo tưởng rằng tự do có thể tồn tại trong thể chế Xô Viết và viết nhiều hơn về các chủ đề trước cách mạng 1917.

Qua đời năm 1936, đến 1938 tên tuổi Gorky lại bị lôi ra trong một vụ án với cáo buộc chính nói là Yagoda đã chủ mưu giết ông.

Các sử gia ngày nay cho rằng đó chỉ là vụ việc do Stalin dàn dựng.

Nguồn https://www.google.com.vn/…/culture-social-51211733.amp

May be an image of 2 people and text that says 'BBC BBCNEWS|TIÉNGVIỆT NEWS TIẾNG VIỆT Lenin lần đầu gọi 'trí thức là phân' trong thư gửi Gorky'

Ăn trên xương máu đồng bào

Ăn trên xương máu đồng bào

Bởi AdminTD

 Phạm Minh Vũ

5-11-2021 

Đây là Tô Lâm, Tô Ân Xô và đàn em ngày hôm qua gây phẫn nộ dư luận khi một đoạn clip trên tiktok do chủ nhà hàng “thánh rắc muối” đăng tải cho thấy cả đám hí hửng, mặt đỏ khi uống rượu và đợi thịt bò dát vàng ra xắt miếng, mõm Tô Lâm há ra đợi để táp một miếng, rồi đàn em vỗ tay.

Khi clip loan tải, dư luận phẫn nộ là bởi vì bữa ăn thịt bò dát vàng và do đích thân thánh rắc muối phục vụ sẽ thanh toán không dưới 1 tỉ đồng. Và tiền đó sẽ là tiền bằng mồ hôi xương máu của nhân dân ta, nai lưng quần quật đóng thuế.

Sẽ có bọn dư luận viên cao cấp bào chữa rằng đó là bữa tiệc chiêu đãi của nước sở tại, xin thưa, ở châu Âu những quốc gia Dân chủ văn minh họ sẽ không bao giờ chiêu đãi kiểu kệch cỡm, chơi ngông học làm sang ấy đâu. Vì Chính phủ của họ khi sử dụng một đồng tiền đều phải minh bạch, nếu tiêu quá một đồng phải đứng trước Quốc hội mà giải trình với quốc dân của họ.

Ở Pháp năm 2019, vợ chồng Bộ trưởng Môi trường đã bị áp lực dư luận và phải lột áo vì ăn tôm hùm chi bằng ngân sách vì phung phí của Dân. Ai sẽ dám mời Tô Lâm đi ăn kệch cỡm vậy?

Vì thế, đây là tiền là xương máu của đồng bào ta. Nó sẽ tính vào giá xăng giá điện, bằng hàng hàng lớp lớp thuế mà đảng giăng ra trấn lột của nhân dân. Là mồ hôi của chú nông dân thức sớm ra đồng, là của chị lao công thức khuya để dọn đường, là anh chị em công nhân chắt chiu từng đồng chen chúc trong khu trọ chật chội để mà có tiền nộp thuế cho đảng cướp, và có khi là của anh bác sĩ, của giáo viên của bác kỹ sư… tất cả là tiền của Dân ta.

Ở quê nhà, khi Dân phải gồng mình vì đói khổ, Dân không còn sức để kêu gào vì đã quá đói mà bị Chính phủ phớt lờ, tiền hỗ trợ thì bắt nhận trên tivi, Dân phải ăn cơm chan nước lã, phải bắt ve sầu để ăn thì cả đám lại mở tiệc linh đình ở trời Tây, khi rượu cạn ly, quý vị sẽ nghĩ gì? Làm sao thu thuế thật cao, không cho ai kêu la, hay nghĩ cách vơ vét xong chuồn qua đó ở, để hưởng lạc như vậy mãi?

Tôi không biết các vị nghĩ gì nữa, song, chắc chắn sẽ không bao giờ nghĩ cho Dân, cho tổ quốc này. Nếu đã nghĩ thì làm sao phung phí như thế trong khi Nhân dân cơm không có mà ăn. Nên nhớ, một bữa ăn mà bằng chi cho 700 người Dân nhận hỗ trợ bị ảnh hưởng covid, mà có mấy ai được nhận đâu? Cay đắng tận cùng.

Mồi đã hết, rượu cũng cạn ly, uống máu Dân – nó tanh không quý vị?

“Giai cấp mới” tại Việt Nam

“Giai cấp mới” tại Việt Nam

Bởi  AdminTD

 Trần Trung Đạo

7-11-2021

Milovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau:

“Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bản chất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.“ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm Minh Ngọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)

Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”

Nhưng câu này của Milovan Djilas mới là chí lý: “Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ, nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)

Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩm ra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47 năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.

Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẽ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.

Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe.

Như các báo loan tin, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếng Thomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.

Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền cho đại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng 1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.

Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankings trong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1.000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.

Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.

Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”, “mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.

Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.

Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.

Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.

Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11 vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịt bò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.

Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìn Tô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.

Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.

Theo họ, lẽ ra Tô Lâm biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang nuốt.

Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.

Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.

Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trung Cộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trong nhiều năm.

Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.

Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.

Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mail của Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình.

Nguyễn Thanh Hùng (chồng Nguyễn Thị Phương Thảo) và Tập Cận Bình. Ảnh trên mạng

Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được nhờ cấu kết với những kẻ gây nên tội ác chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem là đồng tiền chính đáng.

Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủ tịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.

Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho tham nhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoành hành.

Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máy tuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.

Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắt kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.

Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay Cu Ba mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ năm trăm cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ 1.000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.

Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.

Hàng triệu người dân hôm nay có thể đã trở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khóc nửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.

Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi, những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp người bị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.

Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ư? Không. Nếu biết đau và biết nhục bà Thảo đã không đem tiền để mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đất nước không có ngay cả gói mì để ăn.

Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâm Việt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.

Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.

Tô Lâm ‘được đút tận miệng thịt bò dát vàng,’ rồi sao?

Van Pham

Đảng VC và chính miệng tên Tô Lâm mới căng mồm kêu gào: – “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Thế nhưng thực chất bên trong chúng ăn chơi, hưởng thụ như thế nào, mọi người đã rõ….

***

Tô Lâm ‘được đút tận miệng thịt bò dát vàng,’ rồi sao?

Tư Ngô

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ba ngày qua, kể từ hôm 4 Tháng Mười Một, mạng xã hội dậy sóng và nổ tung với video clip trong đó quay cảnh ông Tô Lâm, bộ trưởng Công An CSVN, đang há miệng căn miếng thịt bò dát vàng từ tay đầu bếp nổi tiếng Nusret Gokce, hay “Thánh Rắc Muối” (Salt Bae), tại nhà hàng Nusr-Et ở London.

Video clip chỉ dài 41 giây, có thể được chính ông “Thánh Rắc Muối” hay hệ thống nhà hàng của ông, đưa lên mạng TikTok như một cách quảng cáo, rồi chẳng bao lâu sau bị gỡ xuống. Tuy nhiên, rất nhiều người khác kịp sao chép lại rồi phổ biến đi khắp nơi, đặc biệt qua mạng Facebook, Twitter.

Báo Anh Quốc, Mỹ, Hongkong, Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Malaysia…theo nhau đưa tin riêng hoặc đăng tải lại tin của các hãng thông tấn quốc tế, kèm theo video clip nói trên.

Giới Facebookers Việt Nam khắp thế giới đương nhiên không bỏ sót sự việc hiếm có này của một kẻ quyền hành trùm thiên hạ ở Việt Nam ai cũng sợ.

Vai vế Tô Lâm trong hệ thống cầm quyền chỉ là bộ trưởng nhưng trên thực tế cái ghế bộ trưởng công an đáng sợ hơn hẳn những ủy viên bộ chính trị khác dù là chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, trưởng ban kiểm tra trung ương đảng, thường trực ban bí thư.

Hàng ngàn người bình luận sôi nổi trên các trang Facebook chuyển đi video clip ông Tô Lâm há miệng cắn miếng thị bò. Người ta cãi nhau phải gọi là “đớp” hay “táp” mới đúng.

Người ta nguyền rủa khi thấy báo chí nêu ra cái giá kinh hoàng một phần ăn tối đó bằng ba tháng lương của ông Tô Lâm. Rồi người ta đặt dấu hỏi tiền đâu ông ta ăn? Hay có kẻ nào cống nạp.

Chuỗi nhà hàng “siêu” thượng lưu có tên là Nusr-Et do đầu bếp người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Nusret Gökçe, còn có biệt danh là Salt Bae hay “Thánh Rắc Muối” có chi nhánh tại nhiều nước từ Thổ Nhĩ Kỳ, Anh Quốc, Mỹ, Hy Lạp, và một số nước Trung Đông. Giá thì “siêu đắt đỏ”, nhất là một bữa ăn lại muốn chính tay chủ nhân “Thánh Rắc Muối” tới trình diễn cắt thịt, rắc muối kiểu cọ trên tảng thịt bò có một lớp vàng mỏng bao bọc.

Vàng là một kim loại chẳng có một giá trị dinh dưỡng nào, chỉ được dùng để diễn tả “đẳng cấp” của kẻ ăn vào miệng. Nuốt nó vào bụng rồi sau đó nó lại theo hậu môn đi ra ngoài. Nhưng một bữa ăn tại Nusr-It có chính tay “Thánh rắc muối” hầu bàn thì không mấy ai có khả năng trả tiền, trừ phi có nhu cầu chiêu đãi hay để quay phim, chụp hình lấy tiếng.

Tháng lương bộ trưởng công an CSVN của ông Tô Lâm chỉ hơn 15 triệu đồng tức hơn $600 thôi, chắc chắn ông ta và đám tùy tùng của Bộ Công An đi theo ông thủ tướng trong chuyến công du một tuần lễ từ Anh sang Pháp, ngân sách không có khoản chi ngoại lệ đó. Nó phải có người tài trợ chỉ có Tô Lâm và một vài người nữa biết.

Chuyện những bữa tiệc và trác táng của đám quan chức CSVN xưa nay từng được đề cập nhiều trên mạng xã hội. Khi các quan đi ăn, họ gọi cho một chủ doanh nghiệp địa phương tới hầu tiệc, mang tiếng là bàn bạc việc nọ việc kia nhưng thực chất chỉ là kẻ trả chi phí từ rượu đến gái gú.

Người ta cũng từng nói tới chuyện quan chức CSVN mượn cớ đi “tham quan” nghiên cứu chuyện nọ chuyện kia ở nước ngoài, có cả “chân dài” được sắp xếp cho đi chuyến bay khác, đến ở sẵn khách sạn chờ sẵn.

Còn chuyện các quan chức nhận quà biếu với vàng, đô la nhiều ngập mặt, từng bị tiết lộ qua một vài vụ án. Mới nhất là ông tướng công an Nguyễn Duy Linh. Mấy năm trước có các ông bộ trưởng Thông Tin & Truyền Thông Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn.

Chuyện ông Tô Lâm ăn thịt bò dát vàng bây giờ không còn là chuyện nhỏ nữa vì cả thế giới đều biết. Việt Nam là một nước vẫn đang cố gắng “thoát nghèo”, đại đa số dân chúng cơm ngày hai bữa chưa biết ra sao.

Theo Tổng Cục Thống Kê CSVN, thu nhập trung bình đầu người Việt Nam năm 2020 là khoảng $180 một tháng. Năm nay, đại dịch hoành hành còn nặng hơn năm ngoái, dân tình rên siết như thế nào, mọi người nhìn trên mặt báo chí trong nước và cả mạng xã hội đều thấy.

Nay ông Bộ trưởng công an ăn một bữa tối như thế, dậy sóng dư luận như vậy, báo chí nước ngoài phơi bày “thể diện quốc gia” như thế, liệu ông tổng bí thư “chủ lò” Nguyễn Phú Trọng có để yên cho “đồng chí” Tô Lâm hay không. Hiện giờ thì chưa thấy gì và có vẻ dư luận đang chờ xem thêm mấy ngày nữa xem sao.

Giữa Tháng Tám năm ngoái, ông Tô Lâm được báo nhà nước đưa tin là “đọc bài diễn văn nhân kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Công An Nhân Dân” đã lớn tiếng khoe rằng “Các thế hệ chiến sĩ Công An Nhân Dân đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư,” theo trang mạng của đài VOV.

Ngày 30 Tháng Sáu 2016, Bộ Chính Trị đảng CSVN ra nghị quyết về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, người ta thấy viết là “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực” là một trong những điều cấm kỵ của đảng viên CSVN.

Bài báo trên VOV thuật lời tướng Tô Lâm khoe “cán bộ, chiến sĩ” công an CSVN “không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức…” (Hình: Cắt từ mạng VOV)

Mới ngày 4 Tháng Mười Một vừa qua, ông Nguyễn Trọng Nghĩa, trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương CSVN khi tới tỉnh Hưng Yên chỉ đạo trong một buổi họp ở địa phương đã thúc giục “tập trung kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở các lĩnh vực, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng.”

Cuối tháng trước, ông Nguyễn Phú Trọng cho ban hành Quy Định số 37 với “19 điều đảng viên không được làm”.

Theo “Điều 14”: “Tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc lợi dụng vị trí công tác để môi giới, hối lộ dưới mọi hình thức; tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hoạt động rửa tiền, đi vay, cho vay trái quy định của pháp luật.”

Và “Điều 15”: “Tặng, nhận quà dưới mọi hình thức để tác động đến tổ chức, người có trách nhiệm dẫn đến việc quyết định sai, có lợi riêng cho bản thân hoặc cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp.”

Liệu ông Tô Lâm có bị “chủ lò” Nguyễn Phú Trọng trừng trị hay cho chìm xuồng. Bàn dân thiên hạ đang chờ xem màn cuối của vở kịch hài.

– Bộ trưởng Công an CSVN Tô Lâm há mồm ăn miếng thịt bò dát vàng do đầu bếp/chủ nhà hàng “Thánh Rắc Muối” Nusret Gökçe đút. (Hình: Cắt từ Twitter)

– Bài báo trên VOV thuật lời tướng Tô Lâm khoe “cán bộ, chiến sĩ” công an CSVN “không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức…” (Hình: Cắt từ mạng VOV)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tù Nhân Phạm Đoan Trang

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tù Nhân Phạm Đoan Trang

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Nguyễn Xuân Phúc không phải là người hùng biện hay nói năng lưu loát. Mọi câu chữ ngô nghê của ông (cờ lờ mờ vờma dzê in Việt Nam …) đều trở thành đề tài cho thiên hạ cười đùa, giễu cợt. Ngay cả khi ông phát biểu những lời lẽ (nghe) có vẻ thống thiết chăng nữa, ông cũng vẫn bị mọi người coi thường và đều bỏ ngoài tai.

Ngày 4 tháng 8 năm 2017, trong buổi làm việc với Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, ông tuyên bố: “Thủ tướng luôn lắng nghe bất cứ văn nghệ sĩ nào có những ý tưởng xây dựng đất nước.”

Bốn năm sau – hôm 26 tháng 7 năm 2021 – khi đọc Diễn Văn Nhậm Chức Của Chủ Tịch Nước, ông không quên ân cần nhắc nhở:“Chủ tịch nước sẽ lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.”

Vài  tuần kế tiếp, vào hôm 16 tháng 9 năm 2021, trong Thư Gửi Đồng Bào Cử Tri TPHCM, ông Phúc lại tiếp tục thiết tha bầy tỏ sự cầu thị (cứ) y như thiệt vậy: “Gia tài lớn nhất của chính quyền là niềm tin của nhân dân. Vì vậy, cần có nhiều kênh, nhiều cách để lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của người dân, đáp ứng ở mức cao nhất.”

Thế mà đám cử tri ở Sài Gòn (nói riêng) và giới văn nghệ sĩ/trí thức (nói chung) đều thủ khẩu như bình. Chả ai có “ý kiến, tâm tư, nguyện vọng” gì ráo trọi – trừ TS Nguyễn Đình Cống :

“Tôi đã hai lần gửi thư chuyển phát nhanh qua Bưu điện, có biên nhận. Ngày 22 tháng 9 gửi trực tiếp cho Chủ tịch. Ngày 24 gửi cho ông Chủ nhiệm Văn phòng, nhờ chuyến cho Chủ tịch. Thư gửi đến Văn phòng chủ tịch nước, số 2 Hùng Vương, Hà Nội…

Nhưng cho đến ngày 7 tháng 10 vẫn bặt vô âm tín. Phải chăng thư đã bị chặn hay là thất lạc đâu đó, chưa đến tay Chủ tịch, hoặc đã đến tay nhưng ông không xem.”

Thiệt là may mắn. May là “thư đã bị chặn hay là thất lạc đâu đó,” chớ không thì ông Cống (hay ông Nghè, hoặc ông gì bất cứ) cũng đã “nằm co” trong nhà tù Hoả Lò rồi.

Thiệt là hú hồn, hú vía!

Thận trọng hơn, T.S Mạc Văn Trang bèn nghĩ ra một phương cách an toàn khác. Thay vì gửi thư “góp ý” như T.S Nguyễn Đình Cống, ông cho lên trang FB ảnh một cái cây lá vẫn còn xanh nhưng gốc đà mục rễ, rồi xin độc giả cho một lời bình.

Thiệt là một sáng kiến. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, có đến gần 600 độc giả sốt sắng tham dự. Điều lạ lùng là tuyệt đại đa số đều phát biểu những câu chữ, với nội dung tương tự nhau. Xin ghi lại năm bẩy ý kiến đầu tiên :

Tiếng nói của cư dân mạng nghe cứ như tiếng cú khiến tôi nhớ đến lời báo tử của nhà văn Nguyên Ngọc: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?”

Trung ngôn nghịch nhĩ !

“Kịch bản nào” thì cũng rất trái tai ông Chủ Tịch Nước và những vị lãnh đạo cấp cao của chính phủ hiện hành. Nguyên Ngọc – tuy thế – chỉ bị đám dư luận viên xúm vào bề hội đồng thôi, chứ chưa phải tù tội một ngày nào cả.

Ngoài cái uy tín của một người cầm viết có thực tài (và có đông độc giả), một sĩ quan cao cấp với rất nhiều công trạng, Nguyên Ngọc còn có ưu thế của một già làng sắp đến tuổi cửu tuần. Trong một xã hội mà “mọi công dân đều là một tù nhân dự khuyết” thì nhà nước Việt Nam bắt ai chả được nhưng tóm Nguyên Ngọc hôm trước rồi hôm sau (lỡ) ổng “chuyển qua từ trần” luôn thì …chết mẹ, nếu không lôi thôi lớn thì cũng lôi thôi lắm!  

Phạm Đoan Trang, tiếc thay, không có cái “ưu thế” tương tự. Tuy ôn tồn, nhỏ nhẹ, và hoà nhã thấy rõ (chỉ “yêu cầu tổ chức bầu cử tự do và công bằng ở Việt Nam” thôi) nhưng nhà báo đã bị bắt giam – từ ngày 6/10/2020 – và bị “hành” cho bầm dập từ hơn một thập niên trước đó.

Bỉnh bút Trần Phương (Tạp Chí Luật Khoa) ghi nhận :

Năm 2008 – 2009 Đoan Trang là nhà báo Việt Nam đầu tiên viết bài phân tích sâu về quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Đó là những bài viết gây tiếng vang lớn trên chuyên trang Tuần Việt Nam của báo VietNamNet…

Năm 2009, một sự kiện bất ngờ đã bẻ lái cuộc đời cô sang một hướng khác. Ngày 27/8/2009, blogger Người Buôn Gió, tên thật là Bùi Thanh Hiếu, bị bắt. Một ngày sau đến lượt Đoan Trang; và rồi blogger Mẹ Nấm, tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bị bắt vài ngày sau. Công an cho rằng cả ba người đã xâm phạm an ninh quốc gia vì đã tham gia in ấn áo thun chống dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên…

Sau vụ bị bắt tạm giam năm 2009, Đoan Trang bị báo VietnamNet sa thải mà không có lý do… Ngày 5/8/2012, Đoan Trang bị công an bắt trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội.

Sáng ngày 26/4/2015, nhóm Vì Một Hà Nội Xanh tổ chức tuần hành phản đối chính quyền Hà Nội chặt cây xanh. Trong lúc biểu tình, công an đã cưỡng bức Đoan Trang cũng như nhiều người biểu tình khác lên xe buýt…

Sau vụ việc này, Đoan Trang bắt đầu đi đứng khập khiễng. Vào tháng 5/2015, cô được bác sĩ chẩn đoán là khớp gối bị tràn dịch khớp và viêm bao hoạt dịch…

Tháng 10/2016, Nhóm Green Trees xuất bản sách “Toàn cảnh thảm họa môi trường biển Việt Nam” trên Amazon do Đoan Trang và các nhà hoạt động khác làm đồng tác giả. Đây là cuốn sách ghi lại các diễn biến, thực trạng trong và sau sự cố Công ty Formosa làm ô nhiễm biển vào giữa năm 2016. Cũng trong năm này, sách “Từ Facebook xuống đường” được xuất bản trên Amazon

Năm 2017, Đoan Trang viết sách “Chính trị bình dân” trong những ngày bị giam lỏng tại nhà ở Hà Nội. Tháng 7/2017, để tránh bị công an sách nhiễu, cô đã rời khỏi Hà Nội và đến Sài Gòn.

Ngày 22/9/2017, sách “Chính trị bình dân” của Đoan Trang ra mắt độc giả. NXB Giấy Vụn và nhóm Green Trees đã xuất bản cuốn sách này. Đây là một cuốn sách nhằm phổ biến các kiến thức chính học căn bản đến tất cả mọi người, nhất là các bạn trẻ hoạt động xã hội, và nhân quyền.

Ngày 15/8/2018, Đoan Trang bị công an mặc thường phục đánh đập khi đến nghe đêm nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín. Đêm ca nhạc bị công an giải tán, những người tổ chức và tham gia bị công an thẩm vấn và đánh đập… Trong hơn ba năm kể từ tháng 7/2017, Đoan Trang đã sống ở ít nhất 60 chỗ ở khác nhau ở khắp các tỉnh thành. Cô đã đi lại hơn ba năm qua cùng với đôi chân thương tật, và nỗi sợ hãi nặng nề đeo bám, bị đánh đập, bị hành hung, bị công an bao vây bất cứ lúc nào…

Mà nào chỉ có thế!

Ngoài việc bị lực lượng công an ngày đêm rình rập, thường xuyên sách nhiễu và hành hung, lực lượng tuyên giáo của nhà nước còn cho phổ biến hằng trăm bài viết với một thứ ngôn từ bẩn thỉu và hạ tiện chưa từng thấy:

Không rõ “bao nhiêu cuốn lịch đang chờ Phạm Đoan trang” trong những ngày tháng tới nhưng mọi người đều biết sắp có một phiên toà (ô nhục) dàn dựng bởi một nhà nước hèn hạ, và hèn nhát. Họ nắm trọn mọi quyền lực trong tay, sử dụng tất cả những thủ đoạn đê tiện và thô bạo nhất (trong hơn chục năm trời) nhưng vẫn không thể khuất phục được một lương dân chỉ bầy tỏ ý kiến rất ôn hoà (yêu cầu tổ chức bầu cử tự do và công bằng ở Việt Nam”) như nhà báo Phạm Đoan Trang.

Cuối cùng thì chế độ hiện hành đã phải dùng đến hạ sách là “giam người bịt miệng. Ấy thế mà vẫn cứ trơ tráo “ tham gia ứng cử vào Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (và mồm mép vẫn cứ leo lẻo “lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân”) mà không đứa nào biết ngượng ngùng hay hổ thẹn gì ráo trọi!

 LÁ THƯ NGỎ GỬI BÀ GÓA NGHÈO

  LÁ THƯ NGỎ GỬI BÀ GÓA NGHÈO

Lm Piô Ngô Phúc Hậu

Bà Đại Tâm kính mến!

Tôi là dân Galilê về thủ đô dự lễ.  Tình cờ tôi thấy Thầy Giêsu ca tụng tấm lòng to lớn của bà.  Vì thế tôi mạn phép đặt tên cho bà là Đại Tâm.  Bà hiểu tôi rồi chứ.  Bây giờ xin mời bà nghe tôi kể chuyện. 

Ở ngoài Bắc, dân chúng say mê thầy Giêsu như một siêu sao.  Người đi đến đâu, thì dân đeo theo tới đó.  Người ta chen lấn nhau, để được Người đặt tay trị bệnh.  Lắm lúc Người không còn thời giờ ăn uống và nghỉ ngơi.  Có khi vừa ăn vừa giảng.  Giảng mải mê đến mức độ ổ bánh mì cầm ở tay, mà lâu lắm mới cắn được một miếng.  Khi nào đuối sức quá, thì Người phải trốn sang bên kia sông Giođan, hoặc lên tận miền cực Đông Bắc, vùng núi Hermon để nghỉ ngơi đôi chút.

Vừa về tới thủ đô, tôi vội vã đi tìm Thầy Giêsu.  Tìm mãi chả thấy.  Bỗng thấy Người ngồi trên bậc thềm.  Rất đăm chiêu.  Thấy người nghiêm nghị quá, tôi không dám lại gần, chỉ đứng xa xa mà chiêm ngưỡng.  Người quan sát thiện nam tín nữ bỏ tiền vào thùng công đức.  Dường như Ngài hiểu hết tâm tư của người dâng tiền.

Có những người Do Thái kiều từ nước ngoài trở về.  Quanh năm họ sống trên mảnh đất của người ngoại.  Hằng ngày họ giao tế với người không cắt bì.  Họ giàu lắm, nhưng lương tâm họ không lúc nào mà không cắn rứt.  Họ mang mặc cảm tội lỗi đầy mình.  Hôm nay về quê hương, họ bỏ tiền vào thùng công đức thật nhiều, vừa có ý đền tội, vừa có ý khoe: khoe đạo đức; khoe giàu sang.  Thầy Giêsu nhìn họ bằng nét mặt vô tư.

Có những bà mệnh phụ giàu sang: vòng vàng đeo rủng rỉnh; lại có vài cô hầu đi theo.  Họ đứng bên thùng tiền, nói chuyện với nhau thật rôm rả, moi tiền trong bóp ra một cách chậm rãi, bỏ tiền vào thùng một cách trang trọng và nhiều lần.  Khách bàng quan nhìn họ bằng cặp mắt thèm thuồng và kính trọng.  Nét mặt của Thầy Giêsu cứ vô tư.

Có những chàng thanh niên tay này cầm ổ bánh mì, miệng nhai nhóp nhép; tay kia cầm đồng tiền bỏ vội vào thùng, rồi quay ngoắt một cái.  Vừa chạy đi vừa cười toe toét, y như một trò chơi vô duyên.  Không ai nói gì, vì đấy là chuyện bình thường.  Thầy Giêsu cúi đầu, cắn môi tỏ vẻ buồn phiền.

Có một ông trung niên, khăn áo chỉnh tề, dõng dạc đi tới trước thùng tiền.  Mọi người lui ra để nhường chỗ.  Ông moi từ hầu bao ra bảy đồng tiền bóng láng, xếp một hàng ngay ngắn trên mặt thùng, rồi nhón từng đồng, nhẹ nhàng bỏ vào thùng.  Bỏ xong đồng tiền thứ bảy, ông dang tay cầu nguyện một lúc lâu, rồi trang trọng lui gót.  Mọi người cúi đầu chào.  Ông mỉm cười, giơ tay vẫy chào.  Thầy Giêsu xòe hai bàn tay bưng vội lấy mặt.  Dường như Ngài thổn thức…

Có một người đàn bà rụt rè đi tới.  Khăn áo lùng bùng, cũ kỹ, nhưng không tồi tàn.  Bà cầm giữa hai ngón tay một đồng xu mỏng dính, nhét vào kẽ thùng công đức, rồi thẹn thùng rút lui.  Thầy Giêsu đứng bật dậy, tập trung lập tức mười hai đệ tử đang đứng xớ rớ xung quanh đó.  Người dang tay chỉ về phía người đàn bà đang lủi vào đám đông, phấn khởi tuyên bố: “Đó là người dâng cúng nhiều nhất.  Người giàu có bỏ vào thùng nhiều tiền lắm, nhưng dù nhiều thì cũng chỉ là tiền lẻ trong sinh hoạt của gia đình thôi.  Còn bà góa ấy tuy chỉ bỏ vào thùng một đồng xu thôi, nhưng đồng xu ấy là tất cả những giọt mồ hôi của một ngày tất bật lao động, là nồi cơm mỏi mắt trông chờ của một gia đình.”

Mười hai đệ tử kiễng chân và rướn người để tìm người đàn bà ấy.  Còn tôi thì ba chân bốn cẳng, rượt theo người đàn bà ấy.  Người đàn bà ấy chính là bà đấy…

Tôi lặng lẽ và lẽo đẽo theo bà cho tới tận xóm ổ chuột.  Bà chui vào căn chòi tồi tàn.  Còn tôi thì đi từ đầu đến cuối xóm.  Nhà nào tôi cũng vào, để điều tra lý lịch của bà.  Tôi phải hiểu thật nhiều về bà, để hiểu thật nhiều về Thầy Giêsu của tôi.

Bà Đại Tâm kính mến!

Bây giờ bà đang lúi húi bên bếp lửa, trong cái chòi tồi tàn ở xóm ổ chuột.  Còn tôi thì đang ngồi xếp bằng trên giường nệm của một nhà trọ.  Tôi không muốn ăn, vì không thấy đói.  Tôi không muốn ngủ, vì lòng trí tôi không chịu ngưng đọng.  Tôi muốn nghĩ thật nhiều: nghĩ về Thầy Giêsu trong bối cảnh đại lễ tại thủ đô; nghĩ về bà, một người “Bần cư trung thị, vô nhân vấn” (người nghèo ở giữa chợ, chẳng ai thèm hỏi), thế mà lại được sư phụ Giêsu tôn vinh như một hoa hậu, như một siêu sao.

Ở ngoài Bắc dân chúng đeo theo Thầy Giêsu trùng trùng điệp điệp.  Thế mà hôm nay về thủ đô tôi thấy Ngài ngồi thơ thẩn một mình.  Ngài rảnh rỗi đến độ ngồi xem người ta bỏ tiền vào thùng.  Quần chúng đi lại nườm nượp, đi qua ngay trước mặt Ngài, mà cứ phớt lờ như không biết.  Tức quá, tôi mở ngay một cuộc điều tra.  Ra ngoài phố, gặp ai tôi cũng hỏi.  Hỏi từ ông kinh sư, đi đứng đàng hoàng như ông thiên triều, cho tới người hành khất ngồi co ro, dúm dó như con khỉ già sắp chết.  Chừng đó tôi mới hiểu.

Sau sự cố Thầy Giêsu cho ông Ladarô chui ra từ hầm mộ, nơi ông được an táng đã bốn ngày, thì uy tín của Thầy bao trùm trên mọi tâm tư của toàn thể dân cư ở thủ đô Giêrusalem.  Uy tín của Ngài lên cao bao nhiêu, thì uy quyền của thượng tế Caipha và Công nghị xuống thấp bấy nhiêu.  Bị dồn vào chân tường, Caipha ra vạ tuyệt thông cho bất cứ ai tin theo Thầy Giêsu.  Bị vạ tuyệt thông đồng nghĩa với bị truất quyền tín đồ và công dân Do Thái.  Một nỗi sợ bao trùm.  Mọi lương tâm áy náy.  Thương Thầy Giêsu quá, nhưng lại sợ vạ tuyệt thông quá thể.  Đành cắn răng, cúi mặt làm thinh.

Thầy Giêsu cô đơn giữa một rừng người hâm mộ.  Chuyện ngược đời.  Nhưng đời là thế và vẫn thế.  Tức quá, tôi đi tìm Thầy Giêsu và phỏng vấn Ngài.  Ngài không buồn không tủi, trả lời một cách bình thản: “Chúa Cha đã an bài hết rồi.  Tôi sẽ bị bắt, bị hành hạ, bị giết.  Nhưng ngày thứ ba tôi sẽ sống lại.”  Tôi nghe Thầy tâm sự mà như vịt nghe sấm.  Không dám hỏi, vì không muốn tỏ ra là mình dốt.  Tôi để đấy, để ngẫm nghĩ từ từ.  Sau chừng mười giây im lặng, tôi chuyển đề tài phỏng vấn sang hướng khác.

Tôi hỏi: “Tại sao một người đàn bà nghèo mạt chỉ bỏ vào thùng công đức một đồng xu quèn, mà Thầy hứng chí và ca tụng rùm beng làm chi vậy?”  Thầy âu yếm nhìn tôi và tâm sự rất lâu.  Giọng nói ôn tồn và ánh mắt trìu mến của Thầy làm tôi xúc động đến ứa lệ.

Bây giờ tôi mới biết Thầy yêu người nghèo da diết.  Thầy sống nghèo như người nghèo và với người nghèo để chia sẻ kiếp sống lầm than của họ.  Thầy tự đồng hóa với họ để dạy loài người một bài học: yêu người nghèo là yêu Chúa, khinh dể người nghèo là xúc phạm đến Chúa.  Ngài quyết tâm nâng đạo yêu người lên ngang tầm với đạo yêu Chúa.  Ngài kể lại cho tôi nghe dụ ngôn “Ngày thẩm phán cuối cùng.”

Con Người ngự trên ngai phán với người lương thiện rằng: “Hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc…”  Mọi người lương thiện đều trợn mắt lên tỏ vẻ bỡ ngỡ cực kỳ: “Chúa ơi, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, thấy Chúa khát mà cho uống đâu…”  Đức Vua từ trên ngai vui sướng dang tay, niềm nở giải thích ngay tức thời: “Ta bảo thật: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta, thì là làm cho chính Ta.”  Người lành kéo nhau vào thiên đàng vừa đi vừa bỡ ngỡ nhìn nhau.

Sau đó Đức Vua dòm sang bên trái, gay gắt phán với bọn ác nhân rằng: “Hỡi quân bị nguyền rủa, hãy cút đi mà vào lò lửa đời đời dành sẵn cho Ác Quỷ.  Ngày xưa Ta đói mà không cho ăn; Ta khát mà không cho uống…” Hàng ngàn cánh tay vung lên phản đối ầm ĩ: “Chúng tôi có thấy Chúa bao giờ đâu mà Chúa bảo chúng tôi không cho Chúa ăn, không cho Chúa uống…?” Chúa nghiêm nghị trả lời: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những kẻ nhỏ nhất đây, thì là đã không làm cho Ta…”  Bọn ác nhân khóc òa lên một cách tuyệt vọng.

Bà Đại Tâm ơi, sau khi Thầy Giêsu ngỏ bày hết nỗi lòng của Ngài đối với người nghèo, Ngài xúc động nhắc đến bà, quý mến bà như cục vàng trong hũ, như ngàn hoa trên rừng Xuân.  Chỉ vì cái tấm lòng của bà: cao quý quá, chân thành quá.  Đối với Thầy Giêsu, cái tâm ấy là tuyệt vời.  Cái tâm ấy mà ẩn chứa trong thân phận nghèo khổ như bà, thì là trên tuyệt vời.

Bà Đại Tâm ơi! Mừng cho bà!

Lm Piô Ngô Phúc Hậu

From: Langthangchieutim

CHIẾC ÁO RÁCH VÔ GIÁ

 Quốc Văn Giáo Khoa Thư thời nay.

CHIẾC ÁO RÁCH VÔ GIÁ

Đang đi chầm chậm trên đường ρhố, một ρhụ nữ giàu có bất ngờ bị tông xe. Maγ mắn là vụ va chạm không mạnh nên cô chỉ bị xâγ xước qua loa.

Sau khi mang xe đi sửa, Cô gáι mới chợt nhớ ra nhà bố mẹ mình ngaγ gần đó. Lâu lắm rồi, cô chưa về nhà thăm họ. Nghĩ vậγ, cô liền cuốc bộ về nhà và quγết định ở lại với bố mẹ một đêm.

Sáng hôm sau, lúc cô chuẩn bị đi, cô nhận được chiếc áo từ mẹ và ρhát hiện vết rách trên taγ đã được mẹ vá lại, những mũi kim thật dàγ.

Thoáng chút cảm động nhưng cô cũng cảm thấγ việc làm của mẹ có chút thừa – “mình là người có tiền, chiếc áo nàγ sau khi về mình sẽ bỏ đi, chẳng mặc lại làm gì”, cô gáι nghĩ trong đầu.

Nhưng vì công việc quá bận rộn, trên đường trở về, cô đã quên mất sự việc nàγ nên cứ thế mặc chiếc áo vá chằng chịt đi khắρ nơi, thậm chí còn đàm ρhán xong xuôi một ρhi vụ làm ăn lớn kéo dài từ rất lâu.

Đến tối muộn, cô mới sực nhớ ra mình đang mặc chiếc áo rách. Cô nhanh chóng cởi chiếc áo, ném vào thùng rác.

Sáng ngàγ hôm sau, thỏa thuận làm ăn đàm ρhán từ hôm trước chính thức được ký kết. Khách hàng hỏi cô:

“Hôm naγ không thấγ cô mặc lại chiếc áo hôm qua?”

“Tôi giặt rồi”, Hải Yến ngại ngùng tìm lý do trả lời câu hỏi của đối tác.

Vị đối tác tiếρ tục nói:

“Có thể cô không biết nhưng chúng tôi quγết định ký hợρ đồng với cô là vì thấγ cô mặc chiếc áo vá. Từ đường kim mũi chỉ có thể thấγ cô là một người chất ρhác, đã trải qua nhiều gian khổ.

Mà một người như thế, chúng tôi ᵭάпҺ giá rất cao, cô chính là đối tác tốt nhất của chúng tôi”.

Trở về nhà, cô gáι vội mở thùng rác lôi chiếc áo vá ra, giặt lại sạch sẽ và treo vào góc trong cùng của tủ áo, nghĩ rằng có thể sẽ có lúc dùng đến.

Một tuần trôi qua, vào một buổi sáng khi người ρhụ nữ giàu có nàγ vừa chuẩn bị đi làm, bỗng nhiên có hai viên cảnh sάϮ ghé qua nhà cô. Thì ra vào một buổi tối tuần trước, có một ρhụ nữ giàu có đã bị Ьắt cóc nhưng nghi ρhạm đã bị Ьắt giữ sau đó không lâu.

Khi thẩm vấn, chúng đều khai nhận rằng ban đầu, ᵭốι Ϯượпg mà chúng nhắm tới là cô nên cảnh sάϮ mới qua nhắc nhở cô.

Người ρhụ nữ vô cùng kinh ngạc, hỏi cảnh sάϮ rằng:

“Vậγ tại sao cuối cùng chúng không Ьắt tôi?”

– Vì hôm đó cô mặc chiếc áo vá.

Thì ra hôm đó, những ké Ьắt cóc vì nhìn thấγ cô mặc áo vá, cho rằng những người có tiền chẳng bao giờ mặc áo vá và cô chẳng giàu như tin đồn nên đã từ bỏ ý định.

Cô gáι không khỏi thảng thốt, không ngờ miếng vá đã cứu cô một mạпg. Sau khi cảnh sάϮ rời đi, người ρhụ nữ mở tủ, lấγ chiếc áo ra, taγ vân vê trên những đường chỉ dàγ chằng chịt, khóc như một đứa trẻ.

Nửa Cuốn Sách Cuội – Tràm Cà Mau

Nửa Cuốn Sách Cuội – Tràm Cà Mau

Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó.

  1. Đi tìm lý tưởng

Cầm tờ lịch ghi ngày 5 tháng 5 năm 1960 trong tay, An nhìn Tâm và hỏi:

“Hôm nay bạn đúng mười chín tuổi, con đường học vấn của tương lai còn xa hun hút. Bạn muốn kê vai chống đỡ trời. Phải tự liệu sức mình trước, rồi mới dự phóng cho mộng tưởng mai sau. Bạn thử tự nhìn lại mà xem. Thân thể bạn xanh xao yếu đuối, xem bộ trói gà không chặt. Lá gan bạn cũng không lớn bao nhiêu, cứ thấy con gái là run sợ xanh mặt, ăn nói lắp bắp, bọn chúng có ăn thịt bạn đâu mà sợ đến thế? Hiểu biết và sức học của bạn, thì cũng mới qua khỏi trung học, chưa ra cơm ra khoai gì cả. Thế mà bạn cứ tự dằn vặt tâm trí làm chi. Bạn chưa làm được việc gì to tát, thì cũng bình thường mà thôi. Bạn mơ mộng chuyện đội đá vá trời, muốn thay đổi cục diện cả thế giới? Khổ chưa?”

Tâm liếc qua An, rồi ấp úng nói:

“Xưa nay các bậc anh hùng, ban đầu có ai ra gì đâu? Cả cái ông Hitler đã chọc trời khuấy động địa cầu, ban đầu cũng chỉ là một gã thợ sơn quèn, ốm yếu, đi lính thì mới có là hạ sĩ quan, học hành cũng chẳng là bao. Vua Tàu dựng nên nhà Minh ngày xưa, là một kẻ chăn trâu thất học. Và ông Mao Trạch Đông ngày nay, thời gian học hành gom lại cũng chỉ được mấy năm lẻ mà thôi…”

An cắt ngang lới bạn:

“Bởi thế nên gây khổ đau cho nhân loại, làm chết chóc hàng trăm triệu người, và cả nhiều tỉ người quằn quại trong gông cùm áp bức. Bạn muốn gì? Muốn tên tuổi bạn được lừng lẫy, không lý gì đến khổ đau của người khác?”

Tâm đỏ mặt trả lời:

“Không, không phải. Tôi chỉ muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp. công bằng tuyệt đối . Không có người bóc lột người. Ai ai cũng đều được sung sướng, ấm no, hạnh phúc.”

An cười đáp lời bạn:

“Tuyệt đối công bằng? Ngay cả trên thiên đường cũng chưa có. Thượng Đế thì ngồi chểm chệ thoải mái trên ngai vàng, tiên nữ mặt đẹp như ngọc cũng ôm ống nhổ đứng hầu cho rã lưng ra. Ông thánh còn phải làm nghề gác cửa. Mình ở trong thế gian nầy, thì phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Đòi hỏi cái tuyệt đối chỉ tổ làm khổ bản thân, bất mãn. Thời nào cũng có nhiều kẽ nghĩ là họ sinh lầm thế kỷ. Làm chi có tuyệt đối trên cõi đời trần tục khốn khổ nầy. Bạn có biết không, khi một người Ả Rập dệt được một tấm thảm mà không có một sơ sót nào, thì họ dùng dao cắt một sợi chỉ trên thảm, để cho nó mất cái hoàn hảo, vì sợ đụng chạm đến Thượng Đế, vì chưa chắc ngài đã được hoàn hảo. Bây giờ, giả sử bạn được nắm hết quyền hành trên toàn cõi đất nước nầy, liệu bạn có thực hiện được bao nhiêu phần trăm những điều bạn mơ ước cho xã hội?”

Tâm tần ngần ấp úng:

“Ít nhất cũng xóa bỏ được tất cả mọi bất công hiện tại. Bạn thử nhìn qua bên kia vĩ truyến 17, ở miền Bắc họ xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng và no ấm hơn. Không có áp bức, khủng bố.”

An nóng cả mặt, nói lớn:

“Ai bảo với bạn như thế? Bạn đã sống trong xã hội đó chưa mà cho là công bằng, no ấm hạnh phúc? Bạn có nghe và biết những đấu tố giết người oan uổng trong cuộc cải cách ruộng đất, đàn áp và khủng bố nhóm nhân văn giai phẩm …”

Tâm khoát tay và cắt ngang lời nói của An:

“Toàn cả những tuyên truyền ấu trỉ, lếu láo, trẻ con nghe cũng không tin được. Trên đời nầy, làm chi có chuyện con cái đấu tố cha mẹ, văn nghệ sĩ bị đàn áp vì vài ba bài văn, bài thơ.”

Tâm rút trong hộc bàn mấy cuốn sách viết về lý thuyết cộng sản đưa cho An xem. Tâm gật gù:

“Tôi cho bạn mượn về đọc. Bạn sẽ thấy, càng nghiền ngẫm, càng thấm thía và muốn dấn thân ngay. Tôi ước mơ được đem tâm huyết, đem tuồi trẻ hiến dâng cho lý tưởng cao đẹp, phục vụ cho công bằng, bác ái. Xây dựng cho đất nước mau chóng được rạng rỡ hơn.”

An biết không thuyết phục được bạn, và hiểu rằng, khi tuổi trẻ say mê lý tưởng, thì còn hơn say mê tình yêu. Yêu là mù quáng, không mù quáng thì không yêu. Kẻ say mê lý tưởng, còn mù quáng gấp nhiều lần hơn. Nếu được chết cho lý tưởng, họ cũng sẵn sàng và cam lòng. An nói:

“Tôi có đọc sơ về lý thuyết cộng sản. Thấy mê lắm. Nhưng thực tế thì khác hẳn. Tôi có một người bà con, nay cụ đã hơn 95 tuổi. Cụ từng học hành, lớn lên và sinh sống tại nước Nga từ thời Nga Hoàng, thời cách mạng 1917, và cả thời trước sau đệ nhị thế chiến. Cụ biết rõ ràng cái thiên đường mơ ước của bạn. Nếu bạn muốn, tôi sẽ dẫn bạn đi thăm và thỉnh ý cụ. Sau đó, may ra bạn được sáng suốt hơn trong việc đi tìm lý tưởng cho tương lai.”

An và Tâm lặn lội đi tìm thăm cụ Long. Từ miền Trung lấy xe lửa về Nam, chuyển xe đò xuống miệt Long Xuyên, rồi chèo ghe nhỏ qua sông lạch, vào đến quận lỵ xa xôi vắng vẻ, đi bộ thêm vài cây số đường thì đến nhà ông cụ.

Tâm được dẫn vào bái kiến cụ Long, một ông già gầy gò, ngồi co ro nửa thức nữa ngủ. Râu cụ lưa thưa, tóc có nhiều cộng còn đen, hai hàm răng phía trước gần như nguyên vẹn, đóng bợn nâu vàng. Nhìn thấy dáng dấp bên ngoài của cụ, không có vẻ gì là tiên phong đạo cốt như Tâm đã vẽ vời trong trí, Tâm cũng hơi thất vọng trong lòng. Tự nhiên, niềm trân trọng trong lòng cũng hao hớt rất nhiều. Cái náo nức đi tìm lời khuyên dạy vàng ngọc cũng nguội bớt .

Trong một buổi mạn đàm uống trà, ăn bánh ngọt. Tâm do dự thưa:

“Cháu nghe nói nói cụ đã từng mòn gót chân phiêu lảng khắp năm châu bốn biển. Đã từng gặp gỡ và là bằng hữu của những nhân vật làm nên lịch sử hiện đại. Xin cụ vui lòng cho cháu biết cơ duyên nào đưa đẩy bước chân của cụ đi xa quê hương vạn dặm, đi ra xứ người trong một thời gian dài như vậy không?”

Cụ già Long khoát tay, lắc đầu nói:

“Thôi, thôi, đừng nhắc những chuyện xa xôi đó nữa, không ích lợi gì, thêm bận lòng già. Nay ta cũng đã 95 tuổi, thời gian còn thấy bóng mặt trời không lâu nữa. Ta muốn vùi chôn quá khứ. Nhiều lúc ta cũng mãi ân hận không nguôi, có lẽ ta cũng đã góp phần không ít, làm đau khổ di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới nầy.”

Tâm nghĩ là ông già đã lẫn, nói chuyện mê sảng trong khi thức. Con người tầm thường như ông, làm sao mà di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh được. Tâm nói:

“Thưa cụ, làm sao mà cụ lại lưu lạc trôi dạt qua tận nước Nga xa xôi lạnh lẽo đó. Khi ra khỏi nước, cụ đã bao nhiêu tuổi? Ở bên Nga, cụ đã làm gì?”

  1. Tâm sự tuổi già

Cụ Long nhìn Tâm với ánh mắt thương xót mà nói:

“Tôi nghe cháu An nói anh đang đi tìm lý tưởng, và muốn chết cho lý tưởng anh đang tôn thờ. Đáng ra tôi im lặng, nhưng phải nói để anh biết, và sáng suốt hơn, khỏi đi lạc đường, nguy hiểm lắm. Tôi ra khỏi nước do một sự tình cờ. Nguyên ông cụ thân sinh tôi làm quan võ dưới triều vua Tự Đức, bị hàm oan phải bỏ xứ ra đi. Khi đó tôi vừa 15 tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử, đang chuẩn bị về kinh đô tham dự kỳ thi hội. Sợ bị bắt tội, ông cụ tôi hốt cả kho đụn công khố, lấy tiền vàng trả cho chủ tàu Hòa Lan, đem vợ con đi ra khỏi xứ, khi đó chưa biết đi đến đâu. Trên tàu, nhờ có võ nghệ, ông cụ tôi đã khóa tay, và giựt được con dao của một người say rượu, cứu mạng và bảo vệ cho một thương gia người Nga khỏi bị thương tích. Ông nầy có cơ sở kinh doanh tại thành phố Saint Petersburg. Vị thương gia người Nga nầy đề nghị cho cụ tôi hợp tác kinh doanh, trông nom một cửa hàng tạp hóa tại thành phố ông ở. Nhờ có đem theo nhiều vàng ngọc, của cải nên chẳng bao lâu, ông cụ tôi đã làm chủ riêng được một cơ sở kinh doanh tại Kazan. Cụ làm ăn rất mau phát đạt nhờ cần cù, chăm chỉ, lương thiện, nên có được uy tín. Sau đó, bắt chước đám Do Thái, mở thêm tiệm cho vay, cầm đồ. Dân nghèo địa phương kháo nhau về nơi cho vay không cắt cổ quá đáng, không bóc lột như các nơi khác.”

Cụ Long ho một hồi dài, nước bọt phun ra bay trong nắng. Cụ tiếp:

“Chính nơi đây, nhiều nhà cách mạng Nga khi còn long đong, hàn vi đói rách, đã là thân chủ trung thành của tiệm cầm đồ. Có khi vay non tiền lương để vợ con bớt nheo nhóc đói khát, dài cổ trông chờ bánh mì hẩm nguội. Cũng tại đây, mà tôi quen ông Vladimir Ulianov, tức ông Lê Nin. Một hôm ông đến cầm đồ, và nhận ra tôi là bạn chung trường tại đại học Kazan, tôi học trên ông hai lớp ở phân khoa Luật học. Dạo đó vào khoảng năm 1887, khi đó tôi đã 22 tuổi, và ở nước Nga đã được bảy năm. Khi đã nhận ra bạn chung trường, chung khoa, tôi thường cho ông nầy mượn chút tiền lẽ, mà ít khi thấy ông thanh toán lại sòng phẳng. Nhưng tôi không cần đòi nợ, vì tiền do cha mẹ làm ra, không phải là mồ hôi nước mắt của riêng mình nên không tiếc. Giao tình giữa tôi và ông ấy từ đó mà thân thiết hơn.”

Cụ Long mơ màng, đưa tay vuốt mặt, rồi nói:

“Bẵng đi một thời gian chừng hơn một năm, tôi mới gặp lại ông Vladimir nầy, trông bộ gầy gò xơ xác. Đói. Ông cho biết đã bị đuổi học, và bị phát lưu đến miền Kokushino. Ông hỏi mượn tiền, và đưa một cuốn sách cũ nát làm của thế chấp. Được biết cuốn sách nầy là vật gia bảo truyền đời từ hơn nhiều ngàn năm. Không biết ông nầy có thấy tôi là người sang nên bắt quàng làm họ hay không. Ông nói rằng, tổ tiên bốn đời trước của ông cũng là người Việt, họ phò tá một vị vua mất ngôi chạy sang Tàu. Mưu sự không thành, rồi trôi dạt lên miền Ngoại Mông, Tây Bá Lợi Á, cuối cùng qua Nga lập nghiệp, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái. Ông Vladimir cho biết tên Việt của ông là Lê Ninh. Tổ tiên nguyên họ khác, nhưng vì có công giúp vua Lê Lợi khởi nghĩa, nên được đặc ân đổi thành họ Lê. Tôi nghĩ là ông nầy túng bấn, muốn mượn tiền, nên bày đặt câu chuyện làm quà mua vui. Nhưng có điều khó hiểu, là làm sao ông nầy biết được một phần của lịch sử nước Việt mình mà nói như thật. Khi mở lớp da bao bên ngoài cuốn sách, thì tôi giật mình vì thấy mấy giòng chữ Nôm ghi:

“Đừng mở và đọc tập sách nầy, vì có thể gây đại họa cho bách tính.” Sách đã cháy xém nhiều nơi. Bên trên cuốn sách, cũng có một câu phiên dịch bằng tiếng Nga, với ý nghĩa tương tự. Sau nầy truy cứu, tôi mới biết đây là nửa cuốn sách còn lại của ông Cuội trong truyện cổ tích, khi bà vợ Cuội đem sách nói dối ra đốt. Ông Cuội về kịp dập tắt, còn lại nửa cuốn.”

Tâm nháy mắt nhìn An, nghi ngờ lời nói của cụ Long là chuyện tếu của ông già lẩm cẩm. Cụ Long vẫn bình tỉnh kể tiếp:

“Tôi bằng lòng cho ông Vladimir mượn tiền, nhưng không giữ cuốn sách lại. Thấy tôi đọc được phần chữ Nôm bên ngoài, ông Vladimir hớn hở muốn biết nội dung của cuốn sách gia bảo truyền đời. Tôi cũng tò mò, dở ra xem, thì thấy sách nguyên thủy viết bằng loại chữ loăng quăng như dun bò, loại chữ viết của dân Việt trước thời kỳ Bắc thuộc, nay đã bị bỏ quên. Nhưng bên cạnh có chua bằng chữ Nôm, chữ li ti rất nhỏ. Có nơi nét đã nhòe, nếu không vững về Hán tự, thì khó mà đọc được. Tôi phiên dịch cho ông nghe vài đoạn, ông thích thú la hoảng lên như bắt được vàng. Thế là từ đó, ông cứ quấy rầy tôi mãi, đến nhờ tôi phiên dịch từng trang, và cẩn thận, trân trọng ghi chú vào cuốn sách riêng của ông. Tôi cũng khá bực mình, vì nội dung cuốn sách toàn những mánh khóe nói dối, lừa gạt, gian xảo. Thế mà ông Lê Ninh mê say như tìm được chân lý chói lòa. Bây giờ tôi cứ gọi ông Lê cho tiện, không Vladimir, Vladi-miếc gì nữa. Tôi cũng tức cười vì cái câu ghi ngoài cuốn sách, mánh khóe nói dối bịp thiên hạ, thì làm sao mà gây đại họa cho bách tính được?”

Tâm ngắt lời cụ Long:

“Thưa cụ, cụ kể chuyện đùa cho vui, hay là chuyện thật?”

Cụ Long nhíu mày nói:

“Anh nói gì? Đùa hay thật? Các anh biết, trên đời nầy, có những chuyện thật như đùa, và có những chuyện đùa như thật. Cái ông Lê nầy khá thông minh và láu lỉnh, là một người đầy tham vọng, mưu mô. Vì bị đuổi học, nên ông mượn tôi mớ sách vở, tài liệu cũ của trường Luật mà tự học, và nhờ tôi cho đề thi cũ, nhiều đề đã làm sẵn như bài tủ, mà thi đậu như thí sinh tự do. Khi tôi chuyển về Saint Petersburg làm việc cho một văn phòng luật sư, thì ông Lê xin đi theo. Tôi cho ông làm trợ tá pháp lý. Chuyên thu thập tài liệu, tin tức lặt vặt, như đánh ghen, tranh chấp hàng rào, đất đai, của cải nho nhỏ, mà ngày nay báo chí thường gọi là tin xe cán chó.”

Cụ Long im lặng một hồi, nhấp ngụm trà, cười ranh mảnh mà nói:

“Sau nầy các anh có gia đình, đừng có lăng nhăng, léng phéng thêm bà nầy, cô kia mà khổ. Chúng nó đeo dai như đỉa, gỡ không ra đâu. Dạo ấy, tôi có một người bạn gái đeo riết, đó là nàng Na-Đê. Cô ta hiền lành, dễ thương và rất lý tưởng. Dù tôi đã có vợ và hai con, nhưng cũng không gỡ ra được mối oan tình nầy. May mắn cho tôi, ông Lê thầm yêu cô nầy mê mệt. Chúng tôi ba bốn người thường cùng uống cà phê bên vỉa hè và kháo chuyện trời đất. Tôi tìm cách gán cô Na Đê qua cho ông Lê, và hai người dính nhau. Tôi thường mời cả hai đi ăn chung, và giúp đỡ tiền bạc, vật chất cho họ. Thoát ra khỏi sức bám của cô nầy, tôi mừng lắm. Khoảng cuối năm 1895 ông Lê lại bị bắt, và sau đó bị đưa đi đày tận miền đông bắc buốt giá của nước Nga. Sau ba năm đi đày về, ông Lê viết được nhiều cuốn sách, đem cho tôi xem thử. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ, vì nội dung sách ông viết, đậm đặc ý tưởng trong nửa cuốn sách Cuội mà tôi đã dịch cho ông ghi lại. Tôi bảo ông nên đem đốt hết đi, đừng nên phổ biến những tư tưởng dóc lác nầy, làm hư cái chân thiện của loài người. Ông không giận tôi, mà còn cười, cái cười đểu lắm. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái nụ cười đểu giả đó.”

Xoa hai tay vào nhau cho nóng, rồi cụ Long vuốt mặt, trầm giọng xuống, cụ nói:

“Tôi vẫn ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh cho hai vợ chồng ông. Dù sao, bà Lê cũng là bạn cũ thân thiết của tôi. Sau nầy, ông Lê viết thêm được nhiều tập sách khác nữa. Nội dung cũng không ra ngoài nữa cuốn sách Cuội mà ông có. Nghĩa là bịp, bịp bợm. Ông uốn nắn cái duy vật biện chứng của ông Mác, một thứ triết lý không tưởng, ác độc, và nhuần nhuyển kết hợp với tư tưởng ông Cuội để làm căn bản cho những sách của ông viết, và những điều ông nói. Phần tôi, làm ăn càng ngày càng khấm khá. Còn ông Lê cứ bị truy lùng, và phiêu dạt nay đây, mai đó, khi ra ngoại quốc, khi lẻn về nước Nga. Tôi thường an ủi bà Na-Đê, vợ ông, vì số phận bà hẩm hiu. Đừng nghĩ là tôi có tò te với bà nầy vì tình cũ không rũ cũng tới. Nhưng tôi đã nhiễm luân lý Khổng Mạnh, nên không làm điều thất thố với vợ bạn được. Thế giới chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, tình hình nước Nga dạo ấy rối ren khủng khiếp. Thực phẩm khan hiếm, đã lạnh mà còn đói nữa, khổ lắm. Lòng dân như một nồi nước sôi bí hơi căng cứng, chờ dịp bùng nổ. Ông Lê biết vậy, và nói với tôi: “Cứ la toáng lên, hứa hẹn đại rằng, sẽ có công ăn việc làm, có bánh mì ăn, áo mặc, công bằng, hạnh phúc, sung sướng. Sẽ có đủ thứ, thì thợ thuyền, dân nghèo ùn ùn chạy theo. Thanh niên mới lớn, lòng đầy lý tưởng bác ái, nhân đạo, nghe được những điều đó, thì mê tơi củ kiệu. Có chết cho lý tưởng, cũng hãnh diện, cam lòng”. Nhiều người cho tôi biết rằng, nước Đức đã tài trợ, cung cấp phương tiện, đưa ông Lê về để quấy động làm suy yếu nước Nga. Ông Lê cũng biết vậy, nhưng cơ hội đến, thì cứ nắm bắt và lợi dụng. Ông Lê cũng cất dấu bớt một số tiền lớn làm của riêng, nên sau nầy tôi cũng không cần giúp đở thêm cho bà Na-Đê nữa.”

An rót thêm trà vào chén cho cụ Long, cụ tiếp:

“Thỉnh thoảng ông Lê cũng có mời tôi tham gia các buổi họp kín trong nội bộ của đảng ông. Ông muốn quyến dụ tôi. Tôi đi họp vì tò mò, chứ tôi vốn không ưa chuyện chính trị. Có lẽ vì tôi chịu chi tiền, mua bánh trái, trà nước cho các buổi họp thêm phần hấp dẫn, và có lẽ nhờ có ăn uống chút chút, mà thu hút được đông đảo các đồng chí của ông hơn. Sau buổi họp, tôi thường đi uống cà phê với họ. Do đó mà tôi quen biết nhiều với các tay gộc trong nhóm cầm quyền nước Nga sau nầy. Các tay gộc nầy, sau khi nắm được chính quyền, xâu xé tranh dành nhau dữ dội. Đa số bị giết chết vì nội bộ thanh toán, một số nhỏ chạy thoát ra ngoại quốc ẩn mình, thế mà cũng bị truy lùng tận diệt. Sau khi hoàng gia Nga bị xử bắn, ông Lê nắm được chính quyền và lên làm lãnh tụ, ông cho thanh toán và khủng bố dữ dội. Nước Nga bao trùm trong sợ hãi. Tịch thu tài sản của người giàu. Nhà cửa bị sung công cho dân nghèo chia nhau trú ngụ. Bọn đồ điếu tha hồ tung hoành, tác oai tác quái. Trí thức bị trù dập, bắt bớ, tù đày. Nạn đói còn khủng khiếp hơn trước thời chiến tranh. Sau đó, lương thực được phân phối theo khẩu phần, thành ra ai cũng đói cả.”

Ngưng nói, cụ Long nhìn về phía xa xăm thở dài:

“Trong lúc cả nước đều khốn khó, vì đói khát, khủng bố, lo lắng, bắt bớ, tù đày, thì gia đình tôi vẫn sung túc, nguyên vẹn, nhà cửa không bị tịch thu, trưng dụng, của cải không hề bị đụng chạm mảy may. Bởi tôi đã có quen biết, ân nghĩa nhiều với các Ủy Viên trong toàn Bộ Chính Trị đang cầm quyền. Có mấy ông đảng ủy địa phương không biết cái thế của tôi, đòi tịch thu nhà cửa, của cải, tài sản. Mấy ông nầy đều bị bắt, và đưa đi đày ở miền Tây Bá Lợi Á cả. Tôi không biết họ bị đi đày, tưởng đâu họ chỉ bị chuyển công tác qua vùng khác mà thôi.”

Tâm ngần ngại hỏi:

“Thế thì trong chế độ đó, cũng còn có thế thần, quen biết nữa sao?”

Cụ Long cười:

“Đâu mà không có thế thần. Trong chế độ nầy, bè phái và thế thần còn hơn ở xứ nào cả. Khi nước Nga chìm đắm trong sợ hãi, ngột ngạt, khủng bố trắng, khủng bố đen, một hôm tôi hẹn gặp ông Lê, hai người nằm chung giường, gác chân lên nhau mà tâm sự chuyện đời đến khuya. Tôi nói cho ông biết tình hình thực sự trong xã hội, vì e rằng, ông ở chức vụ cao, nghe báo cáo sai không đi sát thực tế. Thì ra ông biết rõ hết. Tôi hỏi ông: “Tại sao không đoàn kết toàn xã hội mà xây dựng đất nước, bày ra làm chi phân chia và đấu tranh giai cấp, lấy thợ thuyền làm chủ và lảnh đạo”. Ông cười và bảo rằng: “Anh mới biết một, mà không biết hai. Vì thợ thuyền đa số đều ngu dốt, cho một chút quyền hành, thỏa mãn cái thèm khát thấp hèn trong lòng họ, thì bảo gì, cũng nghe theo, nói gì cũng tin tưởng. Hăng hái làm theo mệnh lệnh. Có thế mới củng cố được địa vị của tôi và đảng tôi.”

Tôi hỏi ông:

“Chính sách khủng bố, thanh toán, có nên chấm dứt sớm, để cho nhân dân bớt sợ hãi, bớt lo lắng mà yên lòng làm ăn không?”

Ông cười lớn, vỗ vai tôi, nói rằng:

“Thế thì anh chưa hiểu được cái ý nghĩa của mấy chữ ‘bạo lực cách mạng’ do tôi bày ra. Phải khủng bố, và khủng bố nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, khủng bố cho đến khi dân chúng sợ hãi cực độ, hoàn toàn mềm nhủn ra, không còn một sức đối kháng nào, thì đảng, và chính quyền cùng địa vị của tôi thêm bền vững, chắc chắn.”

Tôi hỏi thêm:

“Liệu các chính sách kinh tế, xã hội của ông có cơ may nào đem no ấm hạnh phúc cho dân chúng như ông đã từng hứa hẹn, lặp đi lặp lại thường ngày hay không?”

Ông đáp:

“Hứa hẹn thì cứ hứa hẹn, dân chúng có ấm no hạnh phúc hay không thì mặc họ. Dân càng đói, càng dễ trị. Cứ nắm chặt cái bao tử dân, cho ăn lưng lửng bụng, thì mọi người đều khuất phục, vì họ sợ mất cái phần ăn ít oi kia đi, khổ lắm. Mình cứ hứa hẹn tương lai cho họ nghe sướng lỗ tai là đủ. Chứ cho dân ăn no, thì cũng dễ sinh ra loạn lạc.”

Tôi nghe mà buồn và thở dài. Ông nói rằng:

“Lòng dạ anh còn yếu đuối như đàn bà.” Tôi hỏi thêm: “Tại sao nhiểu người bị thanh toán, bị đi đày oan ức tội nghiệp”.

Ông cười:

“Muốn được yên ổn, thì hy sinh chừng bấy nhiêu triệu người, cũng chẳng đáng là bao”.

Tôi đem điều lo lắng nhất trong lòng ra tâm sự cùng ông:

“Nhiều năm qua, nhân tâm suy đồi lắm. Con người cứ lấy dối trá ra mà cư xử nhau, nhà nước cũng nói toàn điều không thật. Đó là điều nguy hại cho nhiều thế hệ mai sau.”

Ông Lê vùng dậy bật đèn lên, lấy cuốn sổ tay cũ kỹ trên kệ, phất phất trước mặt tôi, và hỏi có nhớ cuốn nầy không? Ông cười toe toét thỏa mãn lắm. Tôi nhận ra đó là cuốn sách ghi lời dịch của tôi từ nửa cuốn sách Cuội. Ông Lê nói lớn thêm rằng:

“Tôi sẽ thống trị thế giới nhờ cuốn sổ tay nầy.”

Ngừng lại một lúc, cụ Long lom khom đi ra vườn sau, vạch quần vung vãi nước vào bụi chuối. Cụ trở lại và nói tiếp:

“Mấy năm sau, ông Lê bị tai biến mạch máu não, nửa người tê liệt, nằm trên ghế dựa, méo mồm, tay chân co quắp, thế mà vẫn hung hăng con bọ xít. Bà Nê-Đa vợ ông, tận tâm, không quản ngại mệt nhọc, chăm sóc ngày đêm. Ông vẫn đưa mệnh lệnh, vẫn thanh toán người nầy, cất nhắc người kia qua trung gian của ông Stalin. Đáng ra trong tình trạng bệnh hoạn đó, con người phải biết cái lẽ sai đúng của trời đất mà tỉnh ngộ, thôi làm điều ác. Tôi có đến thăm ông Lê mấy lần, miệng ông chảy dãi lòng thòng, nói ngọng, khó khăn, thế mà vẫn còn nhắc đến chuyện ngày xưa những khi cùng đi đến chỗ yêu hoa mua dục. Khi đó, mắt ông ấy rực sáng lên khoái trá.”

Thở một hơi dài, cụ Long nói:

“Người ta xầm xì rằng, hôm đó bà vợ ông Lê có công chuyện đi vắng. Ông Stalin vào trình báo công việc, thấy ông Lê đang há hốc miệng nằm ngáy, cuốn sổ tay rơi nằm trên sàn nhà. Ông Stalin mở sổ ra xem, càng xem ông càng hớn hở. Rồi động tâm cơ, ông Stalin dấu cuốn sổ vào túi áo vét, và lấy chiếc gối đè ghịt lên mặt ông Lê. Ông Lê vùng vẫy yếu ớt, giẫy giẫy chân tay, vãi phân, vãi tiểu ra cả quần mà băng hà. Đồng chí gái phục vụ thấy được, nhưng không dám nói ra vì sợ mất mạng. Dạo đó vào mùa xuân năm 1924, ông Lê được 54 tuổi, và tôi xấp xỉ tuổi sáu mươi. Ông Stalin chớp được bản dịch sơ lược nửa cuốn sách Cuội từ ông Lê, và đem ra thi hành triệt để. Quyền hành càng vững chắc hơn bao giờ cả. Ông phát huy tối đa lý thuyết Cuội, và đem truyền bá đi khắp năm châu bốn biển. Nhiều tỉ người mê sảng trong dối gian, láo khoét mà rất nhiều khi chính ngay bản thân họ, cũng không biết là họ đang nói dối hay nói thật.”

Mặt Tâm nhăn nhó khó chịu khi nghe đến đây, Tâm mím môi lắc đầu, không muốn tin. Cụ Long tiếp:

“Bạn bè cũ của tôi trong Bộ Chính Trị, thuộc giới cầm quyền, bị thanh toán, bị hành quyết dần dần, ông nào trước khi chết cũng có bản tự khai, thú tội là phản cách mạng, là tay sai tư bản đế quốc. Dù tôi cũng có quen biết, có chút ân tình với ông Stalin, vì đã che dấu, cho ông trú ngụ, cơm ăn, áo mặc vào thời kỳ ông vừa vượt ngục trốn trại tù khổ sai từ Silberia về. Và cả về sau, khi ông còn vất vưởng không nhà, thỉnh thoảng cũng dúi cho một ít tiền còm mua bánh mì ăn qua bữa. Nhưng tôi cũng ngán và sợ tiếp xúc với ông. Ông nầy như con thú ác hiểm. Những người có ân nghĩa với ông trước đây đều bị thanh toán, dứt đẹp. Ngay cả những vị trong Chính Trị Bộ được ông mời ăn cơm thân mật, buổi tối khi ra về, cũng hồi hộp không biết sẽ được về đâu, ra nghĩa địa hay đi đày Silberia, hay được thực sự về nhà với vợ con. Chỉ khi đóng cửa nhà, mới hú hồn mừng rỡ. Đó, tôi không ngại sao được. Tôi nghĩ, càng thu mình lại, càng lu mờ càng tốt. Thời gian nầy, tôi rất muốn di cư ra khỏi nước Nga, mà sợ, không dám xin đi.”

An châm thuốc cho cụ Long hút, phà khói trắng, cụ nói:

“Một lần tình cờ gặp ông Stalin, tôi hỏi:

“Bao giờ thì nước Mỹ trở thành cộng sản?”

Ông lắc đầu nói:

“Không bao giờ cả, bởi Mỹ mà thành cộng sản thì ai bán lúa mì cho chúng ta ăn. Vì khi đó thì Mỹ cũng đói dài dài, đói rã họng, đói cả nước.”

Có lần gặp một ủy viên trong bộ chính trị, tôi dò ý, muốn nhờ ông nầy vận động cho tôi được đi ra khỏi nước Nga. Tôi thăm dò và hỏi ông:

“Tại sao có nhiều người muốn đi ra khỏi xứ nầy, và làm sao mà họ xin đi được, ai là cấp thẩm quyền chấp thuận cho họ được ra đi?”

Ông trả lời rằng:

“Những người không muốn sống trong xã hội chủ nghĩa nữa, thì cần gởi họ đi lao động ở miền Silberia cho họ biết giá trị của đời sống hiện nay. Trong xã hội chủ nghĩa có bảy điều siêu việt, mà các xứ tư bản không thể có được. Thứ nhất, tất cả mọi công dân đều có công ăn việc làm. Thứ hai là có công việc làm, nhưng ai cũng không cần làm việc chi cả. Thứ ba, dù không ai làm việc cả, nhưng tất cả mọi kế hoạch đều đạt được chỉ tiêu mỹ mãn. Thứ tư, dù mọi chỉ tiêu đều đạt, nhưng hàng hóa tiêu dùng vẫn thiếu hụt. Thứ năm, dù hàng hóa thiếu hụt nhưng mọi người vẫn có đủ mọi thứ. Thứ sáu, dù đã có đủ mọi thứ, mà tất cả mọi người đều cứ ‘thuổng’ thêm của công. Thứ bảy, dù mọi người đều ‘thuổng’ của công, nhưng không có báo cáo bị mất gì cả.”

Ông ấy tiếp lời:

“Nếu không là xã hội chủ nghĩa, thì làm sao có được những điều ưu việt như thế”(*). Nghe được vậy, tôi cũng lặng người mà thôi. Tôi cũng có gặp gỡ một số người Việt Nam đi qua Nga Sô để huấn luyện nghề cộng sản. Tôi gọi là nghề, vì theo cộng sản là một cách kiếm ăn mà khỏi lao động cực nhọc. Những người nầy, họ có nghe đến tôi, và tìm gặp. Họ là những người như ông Phú, ông Thành, cô Khai, tôi đều có đãi ăn vài ba lần, và lâu lâu cũng có giúp đỡ một ít tiền bạc, hoặc một cái vé xe lửa đi đường xa. Tôi cũng có khuyên họ rằng, sau nầy nếu có thành công trong việc tranh đoạt chính quyền, cũng nên lấy nhân ái làm gốc, đừng khủng bố, áp bức kềm kẹp nhân dân trong gọng kềm chuyên chính, đừng làm suy đồi xã hội bởi lý thuyết dối trá ông Cuội. Than ôi, lời khuyên của tôi cũng chẳng khác chi nước xối đầu vịt. Nhưng tôi phải nói, phải dặn dò, dù biết trước mười mươi rằng, sau nầy họ không nghe, không làm theo.”

Cụ Long ngáp dài lia lịa, lắc đầu và nói:

“Tôi cũng có gặp và quen biết nhiều cả với ông Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nhà nước Trung Hoa khi qua Nga học nghề cộng sản. Những khi cho ông ăn, tôi cũng có nhắn nhủ ông nầy nhiều lần về đạo làm người, lòng nhân ái. Bên ngoài, thì ông nầy lể phép, dễ thương, nhưng làm sao mà đọc được lòng người.”

Tâm và An đưa mắt nhìn nhau và mĩm cười. Cụ Long không để ý, tiếp lời:

“Sau khi thế giới đại chiến lần thứ hai chấm dứt, nhiều quốc gia Âu Châu trở thành cộng sản, và sống trong tai họa tầy đình của sự hà khắc, áp bức ngu xuẩn đó. Và về sau, ở bên Trung Hoa, ông Mao, ông Lưu, cũng vớ được vài trang bản sao sách Cuội học được từ đàn anh Liên Xô, mà nắm được chính quyền trong tay vào năm 1949. Cả gần một nửa nhân loại trên hành tinh nầy chịu áp bức, đày đọa, hăm dọa ngày đêm, từ tinh thần đến vật chất. Tôi cảm thấy có phần trách nhiệm, tội lỗi đã gây ra khi dịch nửa cuốn sách Cuội cho ông Lê ghi chép lại. Bởi thế cho nên tôi sợ chết, vì chết sẽ bị về địa ngục hành hình. Tôi rán sống, rán kéo dài ngày đi đền tội ác đã gây ra. Tội của tôi, tuy gián tiếp, nhưng cũng có thể nặng hơn tội các ông lãnh tụ trực tiếp vấy máu trên tay. Nhiều năm tôi ân hận, mất ngủ, và thương xót nhiều ngàn triệu người đang bị chủ thuyết Cuội xéo dày.”

  1. Đoạn kết

Cụ Long nghỉ một lát, chiêu thêm hớp trà , rồi từ tốn nói tiếp:

“Này anh bạn. Khi tuổi còn trẻ, thì có một lý tưởng là tốt. Không có lý tưởng thì như con thuyền không lái, lênh đênh, bơ vơ không biết về bến bờ nào. Cứ mơ mộng đi, mộng to, mộng nhỏ, mộng nào cũng tốt cả. Có lý tưởng, để đem mộng vào thực, và đem thực vào mộng. Nhưng đa số những người nuôi mộng, phải cố gắng, đấu tranh cực lực với ngoại cảnh, với bản thân, và sau khi mộng đã thành, thì họ cảm thấy hụt hẩng, như không có gì cả, như phí phạm cả một đời để được cái ‘không’, mà phải hy sinh toàn thể năng lực, xương máu, và thời gian sống của đời người. Bởi vậy, có nhiều kẻ xem những người trẻ có lý tưởng là một lũ ngu ngơ, dại khờ. Và vì ngu ngơ, khờ dại nên rất dễ bị lợi dụng, bị cho ăn phân gà mà cứ vênh mặt lên hãnh diện. Đã có rất nhiều người trẻ chết cho lý tưởng, chết vì lý tưởng, và sung sướng đem mạng mình ra để làm một viên gạch xây dựng lý tưởng. Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó. Hoặc cái lý tưởng đó, quay lại gây nên khổ đau cho nhân quần xã hội. Người lớn tuổi mà còn hăng say lý tưởng, thì có thể xem như một kẻ gàn, cứng đầu, khó thỏa hiệp. Không có chi khủng khiếp và đau buồn hơn khi người ta biết đã chọn lầm lý tưởng.”

Nghe cụ Long kể chuyện, Tâm chán nản trong lòng, nghĩ rằng, có lẽ ông già đã hóa khùng, lẩm cẩm, kể chuyện hoang đường, không tưởng.

Mấy năm sau, chiến tranh lan tràn khắp đất nước, bom đạn, chết chóc. Tâm được “tổ chức” giao phó trách nhiệm làm công tác trí vận tại tại nội thành Sài Gòn. Tâm hăng say hoạt động trong bí mật, không quản ngại nguy hiểm khó khăn, mơ một ngày tươi sáng, toàn dân được sống trong công bằng, no ấm và hạnh phúc hơn.

Năm 1975, chiến tranh chấm dứt. Tâm được cử đi thăm trái tim tổ quốc Hà Nội. Được sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà bao năm nay anh hằng mơ ước. Tâm đã thấy rõ sự thực, anh tìm về mộ cụ Long, thắp hương và nước mắt dầm dề, lòng tràn đầy ân hận. Mấy năm sau, Tâm đã cùng An ra khơi đi tìm tự do. Trước khi nhắm mắt lìa đời vì đói và khát trên biển, Tâm đã nói cùng An:

“Tôi tưởng Nữa Cuốn Sách Cuội là chuyện hoang đường, không ngờ có thật.”

Bữa tiệc đầu tiên

Bữa tiệc đầu tiên

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

5-11-2021

Từ vụ “rắc muối”, nhớ đến một chuyện xưa cũ, đó là năm thứ nhất đại học. Sau buổi đại hội, tôi “được” các bạn bầu làm bí thư của lớp. Đại hội, tất nhiên rồi, thành công tốt đẹp.

Chúng tôi được dắt đến một nhà hàng. Tôi từ nông thôn lên thành phố đi học, cái nhà hàng và bữa tiệc như thế khá xa lạ với tôi. Tôi áng chừng, với đồ ăn, bia bọt… như thế bữa tiệc này có thể bằng mấy tháng tiền cha mẹ chu cấp cho mình ở thời điểm đó. Lúc ấy, tôi ngồi cạnh một anh năm 4 là bí thư liên chi đoàn. Tôi hỏi anh “Mình đi nhậu thế này, là tiền ai?”, anh ấy trả lời “Tiền quỹ đoàn”.

Sau này, vì cứ thắc mắc mãi trong lòng, tôi mang chuyện này hỏi thầy tôi, rằng tại sao “cán bộ” đi nhậu mà lại dùng tiền quỹ của đoàn viên đóng góp, tiền ấy đáng ra phải được sử dụng vào những việc công và hữu ích chứ…”. Thầy tôi nói một câu dường như rất lạc đề: “Em là người chưa tha hóa”.

Lúc ấy tôi không hiểu, mãi về sau mới dần dần cảm nhận được ẩn ý của thầy khi đã nhìn thấy, đọc thấy, nghe thấy đủ nhiều. Chính cái “bữa tiệc đầu tiên ấy” đã ở lại mãi trong tâm trí tôi, nó khiến tôi nhìn và luôn nhìn vào cái cách tổ chức, cách vận hành và cách xài tiền công, về cả căn bệnh “vua tập thể”, nó dẫn tôi đến ngó sâu hơn vào cả nạn tham nhũng, tệ mua quan bán tước, ăn trên ngồi trước… Viết đến đây bỗng nhớ bài thơ “Sở kiến hành” (Những điều trông thấy lúc đi đường) của Nguyễn Du, miêu tả hai hình ảnh trái ngược của quan và dân:

“Thức ăn thừa đổ đi
Chó no ngấy món ngon,
Biết đâu bên đường quan,
Có mẹ con cực khổ!”

Đến nay, những hình ảnh như thế dường như càng được tô đậm hơn bởi những bất công oan nghiệt giữa thế kỷ 21 này.

Tiêu tiền của người khác dĩ nhiên là không thể chấp nhận được rồi, điều ấy không cần phải bàn nữa; nhưng hoang phí tiền bạc của chính mình cũng vẫn là một điều tệ hại. Tôi không khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng có những giá trị phổ quát mà cả nhân loại thừa nhận và nỗ lực giữ gìn, xiển dương, như là đức khiêm cung, là sự tiết độ. Xã hội chỉ lành mạnh khi con người sống lành mạnh và giàu có về tâm hồn.

Từ những bữa tiệc cò con ở cấp thôn xã lên tiệc sang của cấp huyện tỉnh, rồi đại yến… Nó không phải chỉ đơn thuần là câu chuyện lãng phí hay tiêu tiền chùa. Sự hưởng thụ vật chất vô độ chỉ chứng tỏ một tinh thần nghèo nàn thảm hại. Sự trống rỗng của cái đầu và trái tim phải được bù đắp bằng sự đầy ắp của cái bụng và cái đít.

Hoang phí bằng lối sống xa hoa phè phỡn là biểu hiện của sự tha hóa nhân tính. Đối với một triều đại thì đó là dấu hiệu của suy tàn và diệt vong.

Tận cùng bất lương, tận cùng giả dối

 Tận cùng bất lương, tận cùng giả dối

Bởi  AdminTD

Phạm Đình Trọng

5-11-2021

Năm 2016, người đứng đầu nước Mỹ giầu nhất thế giới, tổng thống Barack Obama thăm chính thức Việt Nam. Sau những lễ nghi và thăm viếng ngoại giao ở Hà Nội, đến bữa, Tổng thống Mỹ ra quán bún chả bình dân phố Huế ăn trưa cùng dân thường Hà Nội. Một bát nước chấm, chả nướng. Một đĩa bún. Một đĩa rau sống. Một chai bia Hà Nội. Bữa ăn của Tổng thống Mỹ khi công cán ở Hà Nội chỉ vài chục ngàn đồng tiền Việt, chỉ hai, ba đô la Mỹ.

Tổng thống Mỹ ăn bữa trưa bình dị cùng người dân thường Việt Nam không những là hình ảnh đẹp của con người Barack Obama mà còn là hình ảnh đẹp của nước Mỹ, hình ảnh lung linh của một chính quyền dân chủ, chính quyền từ dân mà ra, gần dân, chan hoà với dân, không có gì cách biệt với dân.

Đoàn Chính phủ nhà nước cộng sản Việt Nam thăm vương quốc Anh với những thành viên như Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm đầy tai tiếng. Tai tiếng ở trong nước đàn áp, bắn giết dân. Đàn áp quyền biểu tình, đàn áp quyền tự do ngôn luận của dân. Xông vào tận giường ngủ bắn giết dân ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội. Tai tiếng cả trên thế giới đến mức trở thành tội phạm quốc tế khi đưa cả thê đội mật vụ với hai tướng chỉ huy đột nhập phi pháp vào nước Đức, đạp lên luật pháp nước Đức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đưa về Việt Nam.

Đoàn Chính phủ của đất nước tận cùng nghèo mạt. Người dân phải lang bạt, vật vờ khắp thế giới kiếm sống. Đàn ông bán sức lao động làm thuê. Không có việc làm thuê thì làm tội phạm. Buôn ma tuý. Buôn người. Làm băng đảng cướp của giết người. Làm kẻ cắp vặt ở siêu thị. Đàn bà bán thân làm nô lệ tình dục.

Đầy tai tiếng cả về nhân cách con người và tai tiếng cả về danh dự, thể diện quốc gia, trong đoàn Chính phủ nhà nước cộng sản Việt Nam thăm nước Anh, Bộ trưởng Tô Lâm lại một lần nữa lộ ra nhân cách thấp hèn, chỉ biết có miếng ăn, không biết đến nhân dân khốn khó, không biết đến thể diện quốc gia.

Tổng thống Mỹ đến Việt Nam đi ăn bữa trưa bún chả, chỉ, hai, ba đô la. Bộ trưởng Tô Lâm đi ăn bữa tối thịt bò dát vàng. Giá miếng thịt bò dát vàng trong miệng Bộ trưởng Tô Lâm cả ngàn đô la. Tổng thống Mỹ tự cầm chai bia, ngửa cổ lên tu như mọi người dân lao động bình thường. Bộ trưởng Tô Lâm không cần động tay, chỉ việc há miệng. Hai vành môi banh ra như mỏ con chim non chờ chim mẹ mớm mồi. Tô Lâm há mồm chờ người hầu đút miếng thịt bò dát vàng vào miệng. Một hình ảnh rất kệch cỡm, chướng mắt, thiếu thẩm mĩ và vô chính trị.

Nơi Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm cong môi chờ người hầu đút miếng thịt bò dát vàng triệu đô la vào miệng chính là nơi mới năm trước ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói, trên đường trốn chui trốn lủi phi pháp vào nước Anh kiếm miếng ăn đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô vào cái dạ dày tham lam ở ngay chính nơi ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói chết thê thảm trên đường trốn chui trốn lủi vào nước Anh kiếm miếng ăn. Càng thấy sự tận cùng bất lương, tận cùng mất tính người ở ông Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an.

Vì có những người Việt Nam sung sướng giơ ngón tay cái lên tỏ ra hãnh diện khi nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô mới có ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói đi kiếm miếng ăn phải chết cóng trong thùng xe đông lạnh.

Ở ngay nơi ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói đi kiếm miếng ăn chết thảm, Ông Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô rồi mau mắn, hăm hở đến thành kính dâng hoa tri ân ông thuỷ tổ cộng sản thế giới Karl Marx và ông thuỷ tổ cộng sản Việt Nam Hồ Chính Minh, bày tỏ tấm lòng trung thành với lí tưởng đấu tranh chống bất công, nghèo đói, mang lại ấm no hạnh phúc cho giai cấp vô sản. Không phải chỉ tận cùng bất lương, ông Uỷ viên Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng bộ Công an còn tận cùng giả dối.

Có phải người cộng sản là như vậy: Tận cùng bất lương. Tận cùng giả dối?

Điều gì khó chịu nhất ở Việt Nam?

Điều gì khó chịu nhất ở Việt Nam?

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Thọ

5-11-2021

Nhiều người nước ngoài đã đến Việt Nam thường bày tỏ những cảm xúc khác nhau về đất nước, con người xứ này.

Trang Quora.com có đăng ý kiến của Michael Gailey, người Mỹ đã sống 12 năm ở VN. [1] Dù rất thích sống ở Việt Nam, lấy vợ Việt, anh vẫn kể ra một loạt các vấn đề khiến anh khó chịu. Nào là các cây cột điện chằng chịt dây, nào là sự rối loạn trong giao thông, rắc rối trong việc quản lý tiền tệ, ngoại hối. Rồi bụi, ồn, ô nhiễm, v.v. và v.v.

Tất cả những chuyện đó người Việt đều biết, đều khó chịu và rồi đều cùng chung tay làm cho không khí thêm bụi, nước thêm ô nhiễm, tiếng ồn càng tăng, cột điện càng chằng chịt, biển số nhà càng rối loạn, giao thông càng ùn tắc… Ai cũng chặc lưỡi chấp nhận một nền hành chính quan liêu, từ nhà bank đến đăng ký tạm trú, khai báo covid…

Nhiều người Việt coi nguồn gốc của mọi vấn nạn ở chỗ nhà nước yếu kém, ở chế độ chính trị lạc hậu. Điều đó đúng 100%, xét về phía nhà nước. Nhưng còn 100% của vế kia, của người dân thì ít ai nhắc đến.

Người Tây vào Việt Nam thì lại ít kể về nhà nước pháp quyền, về tự do ngôn luận, về quyền con người. Vì họ biết là họ đang ở đâu. Họ thường chú ý đến cách hành xử của con người, đến cái cột điện, cái quán nhậu để đánh giá văn hóa của chủ nhà.

Có một số người Tây khó chịu khi thấy quán cà phê, quán nhậu lúc nào cũng đông và đặc biệt thường là người trẻ tuổi ngồi. Các bạn trẻ đó có thể ngồi cả ngày, trong khi họ là những người có năng lực lao động nhất trong gia đình, xã hội.

Đã thế người Việt lại có thói quen khoe ảnh lúc ăn nhậu. Tôi dị ứng nhất khi nhìn thấy các bức ảnh kiểu này, bất kể khi cả bọn quần đùi bệ rạc ngồi bệt trên chiếu, bát đũa lôi thôi, hay các đại gia ngồi bên cỗ bàn đắt tiền, rượu bạc triệu. Kèm theo đó là những nụ cười mãn nguyện, hả hê trước miếng ăn, mâm cỗ.

Đó là lỗ hổng văn hóa!

Như vậy thì hình ảnh cái cột điện chằng chịt, cái biển số nhà dài lê thê, cảnh ngã tư ùn tắc hay những nụ cười hả hê bên mâm nhậu đều cùng một nguồn gốc.

[1] https://www.quora.com/What-do-you-not-like-in-Vietnam