Luôn muốn trừng trị kẻ khác mình? Bạn có thể có tính cách độc đoán

Luôn muốn trừng trị kẻ khác mình? Bạn có thể có tính cách độc đoán

Ai cũng có thể bị tiêm nhiễm tính cách độc đoán. Đó là nền tảng của chế độ độc tài.

 16/11/2021

By  VINCENTE NGUYEN

Minh họa: Luật Khoa. Ảnh: Nikkei, NatGeo, Karen Stenner.

Độc tài (authoritarian) thường được xem là đặc tính của một chính quyền hay một chính đảng. Ít ra là trong phạm vi chính trường Việt Nam, chúng ta thường nhắc đến độc tài như là một tính từ đương nhiên để nói về một thứ rất to tát, rất trừu tượng.

Nhưng nếu dùng một từ khác tương đương để diễn tả – độc đoán – đặc tính này lại trở nên cụ thể và gần gũi hơn nhiều. Với cách hiểu đó, các nhà khoa học xã hội không xem khái niệm độc tài/ độc đoán chỉ là để nói về cấu trúc nhà nước hay phương thức phân bổ quyền lực. Độc đoán có thể là một tính cách, bản chất, lối tư duy của một người (thường gọi chung là “authoritarian personality”). Chính tính cách này tạo không gian và nền tảng cho các nhà nước độc tài phát triển. [1]

Trong cuộc bầu cử vô tiền khoáng hậu vào năm 2016 khi ông Donald Trump giành chiến thắng trước bà Hillary Clinton, nhiều nhà khoa học đã cố gắng chứng minh tính cách độc đoán của một bộ phận dân cư Hoa Kỳ là lý do dẫn đến việc Trump thắng cử. [2]

Số khác lại cáo buộc những nhóm dân cư ủng hộ các giá trị truyền thống, ủng hộ “kỷ cương, phép nước” là những người có sẵn tính cách độc đoán và dễ bị tác động nhất. [3]

Một số cây bút phản biện, nhắc nhở rằng sẽ thật sai lầm khi cho rằng chỉ có các nhóm dân cư thủ cựu thì mới có tính độc đoán. [4]

Bỏ qua sự phức tạp, lộn xộn và dễ gây tranh cãi của chính trị Hoa Kỳ, “tính cách độc đoán” đã là một chủ đề nghiên cứu từ trước đó khá lâu của các nhà xã hội học. Quyển sách “The Authoritarian Dynamic” của giáo sư tâm lý chính trị học Karen Stenner (từng giảng dạy tại Đại học Princeton) là một điểm bắt đầu khá tốt để hiểu về tính cách độc đoán. [5]

*** 

“The Authoritarian Dynamic” được xuất bản vào năm 2005 với 10 chương sách. Thông qua các chương này, độc giả được giới thiệu khá đầy đủ về những đặc tính cơ bản của tính cách độc đoán: từ vấn đề về tư duy như “chỉ có một con đường đúng”, “chỉ có một tập thể đúng”, cho đến các kỹ thuật và số liệu liên quan, rồi vai trò của sự sợ hãi trong việc hình thành tính cách độc đoán cũng như mối tương quan giữa chủ nghĩa độc đoán (authoritarianism) và chủ nghĩa thủ cựu (conservatism).

Bìa sách “The Authoritarian Dynamic” và tác giả Karen Stenner. Ảnh: Amazon, The Larger Us Podcast.

Phần giới thiệu của quyển sách đặc biệt ấn tượng. Nó chuẩn bị đầy đủ tâm thế cho bạn đọc trước khi tiếp thu nội dung sách.

Karen Stenner nhắc người đọc rằng sẽ có những người không bao giờ sống thoải mái trong một nền dân chủ cấp tiến hiện đại (modern liberal democracy).

Đó là những người không thể đối xử một cách tử tế với bất kỳ ai mà họ cho rằng không phải “phe của họ”; những người cho rằng chỉ có những ai “nghĩ đúng” mới được quyền nêu ý kiến của mình trong môi trường chính trị; những người cho rằng bất kỳ lựa chọn đạo đức nào của một cá nhân cũng là vấn đề chung của toàn thể xã hội – và hiển nhiên là phải có sự can thiệp của nhà nước, v.v.

Đó là những cá nhân mà quyển sách muốn tìm hiểu. Vì sao họ lại như thế? Và hệ quả dành cho tất cả chúng ta là gì?

***

Theo Stenner, tính cách độc đoán là khuynh hướng tâm tính cơ bản liên quan đến cách nhìn của một người về điểm cân bằng phù hợp giữa uy quyền (authority), sự đồng nhất (uniformity) của một xã hội với các yếu tố đối nghịch như tự chủ cá nhân (individual autonomy) và đa dạng xã hội (diversity). Theo đó, những người có tính cách độc đoán sẽ thường xem trọng uy quyền và sự đồng nhất xã hội hơn là sự tự chủ hay đa dạng.

Khung phân tích của Karen Stenner để phân định giữa độc đoán (authoritarianism) và thủ cựu (conservatism).

Stenner cũng nhấn mạnh rằng tính cách độc đoán không nhất thiết chỉ áp dụng cho “lề phải” hay “lề trái”. Một người được cho là có tính cách này khi họ có xu hướng tư duy chính trị cương quyết, cho rằng họ cần bảo vệ hay thiết lập một trật tự chung, thống nhất và tương đồng (oneness and sameness) để có thể định danh, vinh danh và dành đặc quyền cho những người giống như họ – bất kể họ nhận mình thuộc “lề” nào.

Thú vị hơn, độc đoán theo Stenner không phải là hệ quả từ trên xuống của xung đột tư tưởng chính trị (politics of ideas). Nó là một biểu hiện cảm tính của những cảm xúc nguyên sơ (primitive passions), được xây dựng dựa trên biến tấu chính trị của nỗi sợ hãi (politics of fear).

***

Đáng tiếc là những thông tin tổng hợp trên (chủ yếu nằm ở chương I và chương II) là những phần dễ đọc nhất của quyển sách. Các chương sau đó khá nặng về số liệu và kỹ thuật.

Stenner áp dụng một số kỹ thuật nghiên cứu dữ liệu như Cultural Revolution Experiment (CRE), Multi-Investigator Study (MIS), Durham Community Study (DCS) cùng với một loạt các nguồn dữ liệu sẵn có như National Election Studies (NES), World Values Surveys (WVS), hay General Social Surveys (GSS). Nhìn chung, đây không phải là một quyển sách mà bất cứ độc giả nào cũng có thể cầm lên đọc từ đầu đến cuối mà không cần bỏ sách xuống mỗi mười trang để… chửi vài câu.

Tuy nhiên, giá trị nội dung mà cuốn sách mang lại là không nhỏ.

Ví dụ, ngay từ năm 2005, Stenner đã tìm ra cách lý giải vì sao một lượng lớn những người ủng hộ Trump đột nhiên xuất hiện nhiều vô kể vào năm 2016 – những người mà trước đó các chính trị gia nghĩ rằng không tồn tại.

Theo bà, có sự khác biệt giữa khuynh hướng độc đoán (authoritarian predisposition) và tính cách độc đoán (authoritarian personality). Số lượng người có khuynh hướng độc đoán thường không có sẵn các biểu hiện của tính cách độc đoán hay các kỳ vọng độc đoán ở chính quyền. Tuy nhiên, khi bị đặt vào các môi trường nhất định, với những chất xúc tác nhất định, tính cách độc đoán sẽ hình thành.

Tính cách độc đoán hình thành trong môi trường phù hợp. Ảnh minh họa: Các thành viên của tổ chức phát-xít Balilla dành cho trẻ em từ 8-15 tuổi tại Ý. Nguồn: Getty Images.

Ví dụ, trong một nghiên cứu, bà đặt ra hai lựa chọn về mục tiêu nuôi dạy con cho phụ huynh: “một đứa trẻ cần biết vâng lời cha mẹ” hay “một đứa trẻ cần nhận thức trách nhiệm cho các hành vi của mình”. Stenner cho rằng những câu hỏi này sẽ chỉ xác định được khuynh hướng độc đoán và giá trị nào là quan trọng đối với một cá nhân, chứ chưa xác định được họ sẽ có những hành vi hay thái độ ủng hộ hoạt động chính trị độc đoán.

Vì vậy, theo Stenner, cần cẩn trọng và đánh giá tính cách độc đoán ở nhiều tầng giai đoạn, nhiều hình thức và nhiều trạng thái khác nhau. Tính cách độc đoán không chỉ giới hạn ở một trạng thái, một hệ quy chiếu hay một xã hội nhất định.

Ngoài ra, vị giáo sư cũng cảnh báo tính cách độc đoán hoàn toàn có thể được xây dựng và củng cố bên trong cá nhân một cách hệ thống.

Theo đó, tính cách độc đoán, ngoài tiền tố là khuynh hướng độc đoán, sẽ chịu ảnh hưởng từ các vấn đề khác như hạn chế về nhận thức (cognitive limitations), môi trường và trình độ học vấn (environment and net of education), kinh nghiệm (experience) và sự tận tâm (conscientiousness). Từ cơ sở này, Stenner dẫn đến kết luận rằng ai cũng có thể bị tiêm nhiễm tính cách độc đoán/ toàn trị.

Hệ tính cách này, dù không biểu hiện trong đời sống thường nhật, hoàn toàn có thể bộc lộ trong những thời điểm xuất hiện các thảo luận chính trị cụ thể hay những phong trào chính trị mang đến nhiều thay đổi.

***

Dù đại đa số các nghiên cứu của Stenner là dựa trên hệ thống chính trị Hoa Kỳ hoặc châu Âu, kết quả nghiên cứu của bà cho phép chúng ta đối chiếu, so sánh và hiểu về nền tảng chính trị Việt Nam.

Chỉ cần lướt qua các trang mạng xã hội của các nhà hoạt động, những người có quan điểm khác, quan điểm trái chiều, bạn sẽ thấy vô vàn những bình luận yêu cầu công an vào cuộc, yêu cầu những người này bị bỏ tù, yêu cầu họ phải bị trừng trị. Đó là biểu hiện cơ bản của những cá nhân thiếu khả năng khoan dung và chấp nhận sự khác biệt – những dấu hiệu của tính cách độc đoán.

Đáng lo ngại hơn, như Stenner mô tả, tính cách độc đoán này hoàn toàn có thể được truyền dạy và thấm nhuần qua môi trường xã hội. Nếu tính cách này trở nên phổ biến trong cộng đồng, tương lai của các cải tổ chính trị tại Việt Nam là không hề đơn giản.

BÍ ẨN ĐẠI VĂN HÀO VOLTAIRE NHÌN THẤY QUỶ DỮ PHÚT HẤP HỐI

Make Christianity Great As Always

BÍ ẨN ĐẠI VĂN HÀO VOLTAIRE NHÌN THẤY QUỶ DỮ PHÚT HẤP HỐI

Bức phù điêu bằng sáp này được làm vào cuối thế kỷ 18 bởi Samuel Percy ((1750-1820), nay được trưng bày tại bảo tàng Victoria & Albert ở Luân Đôn mô tả những giờ phút cuối cùng trước khi lâm chung của đại văn hào nước Pháp Voltaire với gương mặt hoảng loạn, đau đớn, vật vã.

Tài liệu ghi lại các nhân chứng chứng kiến lại trong giây phút hấp hối, Voltaire đã hoảng loạn và gào thét những điều khó hiểu, như thể ông trông thấy quỷ.

François-Marie Arouet hay Voltaire (1694 – 1778) là một nhà văn, nhà triết học người Pháp nổi tiếng trong phong trào” triết học ánh sáng” và những quan điểm ngụy biện về quyền “tự do” của con người. Ông là nhà văn chống Chúa và đánh phá Kitô giáo, đấu tranh cho những mục tiêu chính trị núp bóng danh nghĩa là quyền bình đẳng của xã hội…

Nhắc đến nước Pháp thế kỷ 18 và nhắc đến cuộc Cách mạng Pháp đẫm máu bạo lực, độc tài đã đưa mấy ngàn người vô tội lên máy chém, bỏ tù hàng vạn người Công giáo gồm nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ không thể không nhắc tới Voltaire có đóng góp rất lớn cho cuộc cách mạng này.

Sinh thời, Voltaire được biết đến là người bài xích Kitô giáo một cách ngông cuồng. Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc, cha là một quan chức thuế và mẹ thuộc dòng dõi cao quý nhưng ông lại chống Chúa và đánh phá Công giáo.

Tư tưởng bài xích Kitô giáo bằng ngôn từ sắc sảo khiến Voltaire trở thành biểu tượng cho phong trào chống Chúa lúc bấy giờ.

Ngày 30/5/1778, Voltaire qua đời ở tuổi 84. Có nhiều tài liệu nghiên cứu về cái chết của một nhà văn, triết gia lỗi lạc này; đặc biệt là khoảnh khắc hấp hối khó hiểu của ông.

Một số tài liệu ghi lại Voltaire qua đời do đột quỵ. Nhưng trong giây phút đau đớn, ông đã phát ra những tiếng hét đáng sợ mà không ai hiểu được.

Theo lời kể lại của bà giúp việc trong nhà ông thì Voltaire đã nhìn thấy những hình ảnh ghê rợn, rồi ông tru tréo: “Một bàn tay đang kéo tôi xa rời Chúa Trời…quỷ bắt lấy tôi rồi…,tôi trông thấy hỏa ngục… Hãy cút đi, chính mày đã đưa ta đến tình trạng này, hãy buông tha cho ta”.

Có lúc, ông lại van xin trong ai oán: “Xin Chúa Trời hãy thương xót”, rồi quay ra than vãn với người trong nhà rằng “Ta phải ra đi trong sự bỏ rơi của Chúa”.

Theo một tài liệu khác, nhân chứng tận mắt thấy những giờ phút cuối đời của Voltaire tả rằng: “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ dội như Voltaire”.

Wikipedia không ghi rõ chi tiết về cái chết của Voltaire nhưng có đề cập tới một số giả thiết khó hiểu về giây phút lâm chung đau đớn của đại văn hào. Wiki cũng đề cập thêm rằng sau khi qua đời, Voltaire bị các thánh đường tại Paris từ chối chôn cất bởi ông đã không ít lần báng bổ Chúa bằng giọng văn châm biếm, miệt thị.

Bạn bè thân và gia đình đã phải mang thi thể ông tới Scellières, thuộc thành phố Champagne, cách Paris khoảng một trăm dặm. Tại đây, một linh mục bằng lòng cho chôn cất Voltaire với đầy đủ nghi lễ Công giáo.

Đó chỉ là trường hợp đặc biệt và còn nhiều nhân vật khác chống lại Thiên Chúa. Một cá nhân dù là người nổi tiếng hay là không nổi tiếng, nếu báng bổ Thiên Chúa, chính là không biết tôn trọng lương tri, đạo đức con người, người đó sẽ phải chịu nhận hậu quả đáng tiếc, sau này dẫu có hối hận cũng muộn màng. Từ cổ chí kim tới nay những kẻ chống lại Thiên Chúa chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp cả, cho nên đừng có dại mà chống lại Ngài.

Nguồn : Chiến sĩ Chúa Kitô

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

Tạ ơn Chúa vì con bị HIV!

Đây là lời cầu nguyện “ngược đời” của một con người hạnh phúc trong khổ đau. Chị là một người giữa bao người. Chị bình thường trong một cuộc sống bình thường. Thế nhưng, một ngày đã tới, ngày mà chị biết mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV. Chẳng mấy chốc, mọi người đều rời xa chị. Chị cô đơn đến tuyệt vọng. Chị kiệt sức. Chị muốn chết.

Phúc thay, chị được đưa đến mái ấm có các sơ chăm sóc. Dần dần, sức khỏe chị khá lên. Ngày qua ngày, niềm vui chị nhận được từ những người xa lạ, dần lớn lên trong chị. Lần đầu tiên trong đời chị biết Chúa Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận được tình thương mến lạ lùng từ những người tin vào Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị nhận ra ơn của Chúa ngay trong nghịch cảnh, nhận ra sức sống ngay trong sự tiều tụy. Sự kinh ngạc và niềm vui lớn tới nỗi chị thốt lên: “Nếu con không bị HIV, con nào biết Chúa trên đời. Vì con bị HIV như thế này mà con có dịp biết Chúa. Tạ ơn Chúa.”

Vâng, con người bỏ rơi nhau, còn Chúa thì không bao giờ.

Tại sao con theo đạo Phật, mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?

Đó là lời “than trách khó hiểu” của một bà bị tai biến, hiện liệt nửa người, đang ở trong nhà dưỡng lão mà các sơ chăm sóc. Trước kia, bà vốn ở một mình. Nhìn khuôn mặt bà, nghe bà kể chuyện, tôi nhận thấy niềm tiếc nuối rất lớn về quá khứ. Bà nói: “Trước kia con đẹp lắm, làm ăn được lắm, có của ăn của để, bạn bè rất nhiều… Đến một ngày, con bị tai biến, liệt nửa người. Thế là, tiền bạc của con có dư thì cũng không cứu được con. Bạn bè con bỏ con hết, chẳng còn ai. Người thân của con thì ai họ cũng phải lo việc nhà của họ. Con còn lại một mình.”

“Cũng chẳng biết ở đâu, vì không có người chăm sóc, con đành ở trong nhà dưỡng lão này. Từ trước tới giờ, con sùng đạo Phật lắm. Khi vào đây ở, có các sơ, con mới biết Chúa. Các sơ có an ủi con thế này: Bà chịu khó vác thánh giá Chúa trao.”

Bà thắc mắc về số phận khó chấp nhận của mình, bà hỏi tôi: “Khi con bị tai biến, con đâu biết Chúa. Tại sao con theo đạo Phật mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?” Nhìn bà, tôi nhủ thầm: “Bà ơi! Bệnh tật là một phần của đời người, chẳng ai tránh được. Chỉ có điều, mỗi người đối diện với bệnh tật một cách mà thôi. Bà buồn rầu và thất vọng không phải vì bà bị bệnh, mà là vì bà bị bỏ rơi và bị quên lãng, là vì bà chưa có sức mạnh từ bên trong, là vì bà chưa có những người thực sự thân thiết yêu thương.”

Cầu chúc bà có thể nhận thấy tình thương mến của những người đang sống với bà.

Đối diện với đau khổ và cái chết, mỗi người chọn cho mình một thế đứng. Tùy điểm tựa mà mỗi người vững vàng hay sụp đổ. Có một điều chắc chắn là ai cũng chết, cũng có một điều khá chắc chắc là hầu như người ta cứ nghĩ mình còn lâu mới chết. Giá trị đời người và giá trị con người, ngày càng bị lãng quên trong cuộc sống xô bồ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết tìm điểm tựa nơi Ngài, để con sống một cuộc đời đáng sống và chết một cái chết bình an, và dù có chết thì con vẫn sống trong Ngài. Amen.

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

No photo description available.

Khinh trí thức

Khinh trí thức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

26-11-2021

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Nói “cố hữu” vì nó gắn liền với bản chất giai cấp của đảng Cộng sản. Có lẽ không ai không biết câu ví trí thức với cục phân của Mao Trạch Đông tại cuộc hội nghị văn nghệ ở Diên An năm 1943. Mấy năm sau, câu nói ấy được du nhập vào Việt Nam và được giới văn nghệ sĩ, trí thức học tập ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Nguyễn Thành Long kể:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854, Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt, từ 1954 về sau, người ta có thể dễ dàng tìm thấy vô số bằng chứng về chính sách đối xử tàn tệ đối với giới trí thức, kể cả những trí thức được coi là cực kỳ xuất sắc, là những niềm tự hào hiếm hoi mà dân tộc Việt Nam có được. Thì cứ nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Trần Đức Thảo (1917-1993), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trương Tửu (1913-1999) mà xem. Có thể nói họ là bốn đỉnh cao trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn trước cách mạng tháng Tám.

Người đầu tiên nổi tiếng là học giỏi (22 tuổi có hai bằng tiến sĩ ở Pháp) và là luật sư giỏi; người thứ hai được xem là triết gia duy nhất có tầm vóc quốc tế của Việt Nam cho đến thời điểm này; người thứ ba, bằng con đường tự học, trở thành một dịch giả, một sử gia, một nhà từ điển học và văn hoá học lừng lẫy; còn người cuối cùng là một nhà phê bình và lý thuyết văn học vừa uyên bác vừa tài hoa. Vậy mà, suốt mấy chục năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả đều bị hắt hủi, thậm chí, dập vùi một cách vô cùng tàn bạo. Họ không những đói, khổ mà còn bị nghi ngờ và khinh bỉ. Công việc duy nhất mà một vài người trong họ có thể làm được là dịch thuật. Nhiều khi dịch mà vẫn không được phép ghi tên trên tác phẩm mình dịch.

Tất cả chỉ được khen ngợi sau khi… chết.

Khi khen ngợi, người ta cũng tảng lờ đi những năm tháng họ bị ruồng rẫy.

Và người ta cũng tảng lờ đi là, cho đến sau này, nhiều tài năng khác, hay trí thức nói chung, vẫn tiếp tục bị khinh rẻ.

May, không phải ai cũng tự lừa mình hay lừa người khác như vậy.

Đã có nhiều người lên tiếng. Trước, lên tiếng ở những chỗ riêng tư. Sau, dần dần, họ lên tiếng một cách công khai.

Người lên tiếng nhiều và cay đắng nhất có lẽ là nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nói đi nói lại nhiều lần. Một lần, trong bài viết “Phê bình văn học trong trong tình hình mới” đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) số ra ngày 29-8-1987, ông viết: “Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít”. Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn, ông lại nói: “Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển.” Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Sau này trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh lại lặp lại ý kiến ấy khi nói đến sự kiện một số cán bộ lãnh đạo sử dụng một số cây bút đàn em để đánh phá những văn nghệ sĩ và học giả mà họ không thích:

“Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn […]. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến.”

Liên quan đến chuyện khinh bỉ giới trí thức, những lời kể của Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” về Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ, khá thú vị:

“Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng – bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên – Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng: ‘Rặt một lũ ăn hại đái nát! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c… Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ!’ Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.

[…]

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Đọc xong câu chuyện ấy, tự dưng tôi nhớ đến câu chuyện do Huỳnh Thúc Kháng kể trong cuốn “Thi tù tùng thoại”: Khi bị giam ngoài Côn Đảo, ông và một số người khác – toàn là dân khoa bảng chống Pháp – bị bắt đi đập đá. Thấy mọi người làm việc vụng về, tên cai ngục, vốn là một đứa vô học, cầm roi gõ vào đầu từng người hỏi: “Mày làm gì?” Người kia đáp: “Dạ, Cử nhân.” Hắn quất cho một roi, rồi nói: “Cử nhân nè!” Hỏi người khác: “Mày làm gì?” Đáp: “Dạ, Tiến sĩ” Hắn quất cho một roi và nói: “Tiến sĩ nè!”

Cứ thế, hết người này đến người khác.

Đau xót, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ:

Tấn sĩ nhỉ hà vật
Ngôn ngữ thái ngạo mạn
Tặng nhỉ nhứt trường tiên
Sử tri ngã thủ đoạn

Ông tự dịch:

Tiến sĩ là cái gì
Ăn nói rất vô lễ
Cho mày một ngọn roi
Mày biết tay tao nhé!

Đọc, cứ tưởng như chuyện hài hước.

Vậy mà chúng có thực. Có thực, thời Pháp thuộc. Có thực, thời cách mạng. Và không chừng cũng có thực, cả đến tận bây giờ nữa.

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Lm Anthony De Mello S.J.

Xu-phi Bayazid thuật lại điều liên quan đến đời ông như sau. “Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mọi lời cầu nguyện của tôi đối với Chúa như sau: ‘Lạy Chúa, xin cho con nghị lực để thay đổi thế giới.’

 “Khi tôi đứng tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người đã trôi qua đi mà tôi không thay đổi được một người nào hết nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi tất cả mọi người mà con sát cánh hằng ngày. Nếu chỉ được điều đó đối với gia đình và bè bạn thì con cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi.’

“Giờ đây tôi đã già nua và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, tôi chỉ còn cầu xin như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính mình con.’ Giả như tôi biết cầu nguyện như thế ngay từ đầu thì tôi đã không uổng phí cuộc đời của tôi.”

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích Như Tiếng Chim Ca

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

Nguyễn Tiến Dân

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

1-Khi được hưởng những điều may mắn và tốt đẹp từ người khác đem lại, ta luôn nhớ đến họ với lòng biết ơn chân thành.

Cha mẹ, đã sinh ra ta. Có thế, ta mới may mắn được đứng trên trái đất, được ngắm nhìn ánh sáng măt trời và được sống với vô vàn những điều kì diệu khác.

Không có thày cô dạy dỗ, ta không thể có tri thức, không thể có trí tuệ. Không có trí tuệ, sao có thể phân biệt được phải – trái, đúng – sai. Mông muội như thế, nếu có sống, ta cũng chẳng khác gì những loài thú vật.

Bởi thế, đã là con người, trước hết, ai cũng phải nhớ đến ơn sinh thành của cha mẹ, nhớ đến ơn dạy dỗ của thày cô. Nói rộng ra, phải nhớ ơn cả Xã hội đã bao dung và nuôi dưỡng ta thành người.

-Ở Việt nam, đầy những kẻ nghèo hèn, đầy những kẻ tàn tật về trí tuệ và nhân cách. Tuy vậy, chúng vẫn khát khao muốn làm cha thiên hạ. Chỉ đến khi xuất hiện Mác – Lê cùng Chủ nghĩa Cộng sản, giấc mộng ấy, mới thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã dung dưỡng, đã đem tới cho chúng vinh hoa và phú quý. Khi tận hưởng cuộc sống xa hoa còn hơn cả những bậc Đế vương, lẽ tự nhiên, chúng phải nhớ ơn Mác – Lê và nhớ ơn những ông Tổ bịp bợm của mình.

-Không ai nhớ ơn những kẻ đã đem những điều tồi tệ nhất đến cho mình. Tô Lâm đó, không oán hận thì thôi, chứ đời nào ngài lại biết ơn kẻ đã mời mình miếng thịt bò nạm vàng. Ngài cũng không thể nhớ ơn đám thuộc hạ ở Đà nẵng. Đúng vào lúc nhạy cảm nhất, chúng thản nhiên sát thêm muối vào vết thương của ngài. Bằng cách, liên tục quấy nhiễu ông Lâm bún bò, có biệt danh: “thánh rắc hành”.

2-Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người, là một mối quan hệ chằng chịt và có tác động tương hỗ lẫn nhau. Chuyện nhớ ơn, cũng vậy.

Nhờ có địa chủ, người nông dân mới có được ruộng đất, để cấy cày. Nhờ có công xưởng của giới chủ, người công nhân mới có công ăn – việc làm. Một cách tự nhiên, giới làm thuê, họ phải nhớ ơn những người đã tạo dựng môi trường làm việc và đưa đến thu nhập cho mình.

Ngược lại, nếu không có những người kia, giới chủ cũng không thể tự mình làm được tất cả mọi việc. Một cách tự nhiên, giới chủ cũng phải nhớ ơn những người làm công – ăn lương. Chính họ, đã mang lại cuộc sống giàu sang – phú quí cho mình và giới chủ cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc cho họ.

Chỉ cần một trong hai phe đó, ai cũng muốn đội cái tôi của mình lên đầu và không cần biết đến đối tác, đình công – bãi công sẽ nổ ra và xã hội sẽ bị đảo lộn.

3-Trở lại với mệnh đề: “Đảng Cộng sản Việt nam, họ luôn bắt dân chúng phải ơn Đảng”.

a-Sự thực, từ khi bị đẻ rơi ở Hương cảng cho đến bây giờ, không chỉ giới cần lao mới nuôi dưỡng và bao che cho Đảng. Ngay cả những nhà Tư sản yêu nước như cụ Trịnh Văn Bô và những Địa chủ yêu nước như cụ Nguyễn Thị Năm, họ cũng đã góp công rất lớn, để nuôi Đảng. Nhưng Đảng đã trả cái ơn nuôi dưỡng và che chở của họ, như thế nào? Việc này, nên dành riêng, để đám Tuyên giáo trình bày.

Người dân Việt nam, họ đã hi sinh biết bao nhiêu của cải và sinh mạng, để giúp Đảng Cộng sản giành được chính quyền và có được mọi thứ như ngày hôm nay. Rõ ràng, Đảng phải tri ân dân Việt nam và lẽ ra, phải phụng dưỡng cho họ, như phụng dưỡng cha mẹ đẻ của chính mình. Thế, mới phải Đạo.

b-Nhưng kiểm lại, suốt cả cái quá trình gọi là Cách mạng này, người dân và đất nước Việt nam, họ đã nhận được những gì từ Đảng Cộng sản?

-Đảng Cộng sản có công rước được Chủ nghĩa Mác – Lê vào Việt nam.

Buồn thay, cái mớ rác rưởi này, từ lâu, thiên hạ đã liệng nó ra ngoài cái bãi rác của Lịch sử. Còn những kẻ đã đưa nó vào Việt nam, chúng cũng chẳng mặn mà gì với cái thứ thối tha này. Của nổi – của chìm, chúng vơ sạch vào người và được chuyển thành vàng, thành USD và thành bất động sản ở những nước Tư bản. Ốm đau, chúng không sang Trung quốc chữa bệnh, Con cái, chúng không nhờ Bắc Triều tiên dạy dỗ.

Người dân Việt, họ vẫn trắng tay. Đâu rồi, lời hứa: “nhà máy, thuộc thợ thuyền – ruộng đất, thuộc dân cày”?

Nhà máy, không thuộc về thợ thuyền. Công nhân vẫn đã, đang và sẽ mãi mãi là người đi làm công. Đảng chỉ đứng ra làm cai đầu dài, để mời gọi giới Tư bản nước ngoài đến Việt nam và cùng với họ, bóc lột công nhân. Thậm chí, còn thậm tệ hơn xưa. Đại dịch cúm Tàu ở Sài gòn, nó đã bóc trần sự thực về cuộc sống của giai cấp công nhân Việt nam. Sau bao năm đi làm thuê cho Đảng, tích lũy của họ, chỉ đủ để ăn mì tôm trong vài ba tháng. Quá nữa, hết sạch. Quá nữa, rùng rùng tháo chạy, Quá nữa, hồi hương và bất chấp hậu quả.

Ruộng đất, vẫn không thuộc về dân cày. Quyền sở hữu ruộng đồng, thuộc về Đảng. Đảng vẫn đang phát canh – thu tô, như bọn địa chủ năm nào. Đảng vẫn thu thuế và thu của nông dân ngày càng tàn bạo hơn. “Một quả trứng, chịu 14 loại phí. Một con lợn, cõng 51 loại thuế phí”. Đó là những câu chuyện đã không còn quá xa lạ đối với những người nông dân Việt nam.

Mang tiếng là được Tổ tiên để lại cho cả một cơ đồ đồ sộ. Trong đó, có “rừng vàng – biển bạc”. Nhưng để lại bao nhiêu, Đảng giành bằng hết về cho mình bấy nhiêu. Khai thác dầu thô, Đảng không cho dân chúng hưởng chút váng dầu nào, thì đã đành. Khốn nạn nhất, đang lúc dịch dã, Đảng còn nhẫn tâm dùng tên lửa xuyên lục địa, để phóng giá ét xăng lên trời và bắt dân chúng phải mua với cái giá cắt cổ.

-Đảng biện bạch, nhờ có chủ nghĩa Mác – Lê, chúng ta mới giành được Độc lập.

Đúng là, chúng ta đã đuổi được đi 2 nền Văn minh là Pháp và Mỹ. Sau đó, Đảng rước cái bọn man rợ là Tàu cộng vào, để thế chỗ. Ai còn mơ màng về chuyện Độc lập của Việt nam, xin hãy nghe lại bài nói chuyện của tướng Trương Giang Long, bắt đầu từ phút thứ 10: 30.

Chúng ta khát khao, để có được Độc lập. Nhưng Đảng đã dùng thuốc độc, là Chủ nghĩa Mác – Lê, để giúp chúng ta giải khát. Uống liều thuốc độc này vào người, cả Tự nhiên lẫn Xã hội của Việt nam, băng hoại.

-Đảng có công đã kéo tụt lùi sự phát triển của cả Đất nước ta và Dân tộc ta.

Ngày xưa, khi đến nhận chức Toàn quyền Đông dương, ngài Paul Doumer đã đánh giá rất cao về người Việt nam. Ông xếp người Việt nam ngang hàng với người Nhật bản. Thậm chí, còn xếp cao hơn người Trung hoa, một bậc. Thời Việt nam Cộng hòa, cả vùng Đông nam Á, đâu cũng ngóng về đó với sự ngưỡng mộ sâu sắc.

Còn bây giờ, ước tính, chúng ta phải cần thời gian ngót 200 năm nữa, để đuổi kịp được Singapore và đang cố hết sức, để không bị tụt lại phía sau của Lào và Campuchia. Chúng ta chỉ đi trước thiên hạ, vài thứ. Đối ngoại, có 2 thứ đặc sản được xuất khẩu vượt trội: một là, lao nô và hai là, đĩ điếm. Trong nước, tượng đài, chùa chiền, lăng mộ…, thứ nào cũng “xứng tầm khu vực và Thế giới”. Riêng trường học và bệnh viện, thì không. Còn nợ, thì thôi rồi. Cả bà Ngân lẫn ông Phớc, ai cũng công khai thừa nhận: “ngân sách, như dòng sông đã cạn”

-Đảng đã có công thú hóa con dân Đất Việt.

Từ chỗ, “thương người như thể thương thân”, Đảng đã cài số lùi, để dẫn dắt chúng ta quay trở lại thời kì Luật rừng. Nơi đó, “cá lớn, nuốt cá bé”. Xã hội, hỗn loạn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, cai trị.

Hai mươi năm đầu của thế kỉ thứ 21 đã trôi qua, nhưng Thế giới vẫn phải rùng mình, chứng kiến cảnh: Ở xã Đồng tâm, Đảng giết đồng chí của mình, rồi mổ bụng và phanh thây. Chứng kiến cảnh, một viên Bí thư Huyện ủy quèn, nhưng nó cũng có thể coi đám nữ thuộc cấp như hậu cung của nhà mình. Nứng lúc nào, bốc ngay cô gần nhất, đè người ta ra, hãm hiếp. Thậm chí, chẳng cần quây màn, để che lại cảnh đó. Còn chuyện, “Đảng vay tiền của người ta, rồi ăn quịt. Hàng chục năm trôi qua, đòi không chịu trả”, nhiều vô thiên lủng.

-Đảng góp công rất lớn, làm cho diện tích đất đai của Tổ quốc ngót đi khá nhiều.

Mục nam quan, thác Bản Giốc và bãi Tục lâm, từ xa xưa, chúng hoàn toàn thuộc về đất Việt nam. Đến thời Cộng sản cai trị, cái thì mất hoàn toàn, cái thì mất một phần cho Trung cộng. Mắt thấy – tay sờ, còn như thế. Nói chi đến chuyện đám, “đày tớ Cộng sản”, chúng chẳng thèm hỏi ý kiến của những “ông/bà chủ”, để tùy tiện “chuyển nhượng” biết bao nhiêu lãnh thố và lãnh hải khác cho bố Tàu, với cái giá, mà dân Việt, họ mãi mãi không bao giờ biết.

c-“Xét về tổng thể”, con dân Đất Việt, họ đã được Đảng thí cho những quyền cơ bản nào của một con người? Câu trả lời, nó nằm ở một phần ba đầu tiên, trong 9 chữ: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Nói trắng ra, tất cả, đều chỉ nằm trên giấy. Tất cả, đều chỉ là những cái bánh vẽ.

4-Rõ ràng, Đảng không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và đang làm tổn hại cho Đất nước. Tại sao, Đảng lại bắt người dân phải mang ơn Đảng?

Luận điểm này, cái loại trẻ con như Võ Văn Thưởng, hoặc võ biền như Nguyễn Trọng Nghĩa, chắc chắn, họ không dám và không thể trả lời một cách công khai được.

Ông Tổng ơi, đừng hùng biện trước đám ma nơ canh – những “cử tri tuyển” của Đảng nữa. Có giỏi, hãy vung bút, để thể hiện cho toàn dân Việt biết, ngài vẫn là “chân Giáo sư” và vẫn là “chân Tiến sĩ”. Lí luận, thì đầy mình và gi gỉ gì gi, cái gì cũng “ở tầm Tư tưởng”.

Đừng xô bọn “đầu lâu – xương chéo” ra và cũng đừng giả điếc mãi như thế.

Nhục lắm

Nguyễn Tiến Dân

Điện thoại: 038-50-56-430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa đảo, cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai đó, chưa có nơi ở cố định.

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Cầu xin cho tâm trí được mãn nguyện

Lm Anthony De Mello S.J.

Thần Vishnu nói với tín đồ ngoan đạo: “Ta đã chán ngấy bởi những lời cầu xin dai dẳng của con. Ta sẽ ban cho con ba điều ước nguyện. Con nhớ chọn lựa chắc chắn kỹ càng, bởi vì khi đã ban cho rồi, ta sẽ không cho con điều gì nữa hết.” Rất đổi hân hoan, người sùng đạo đã xin không chút do dự: “Đây là điều thỉnh cầu thứ nhất của con. Xin cho vợ con chết đi để con có thể tái hôn với một người đàn bà khác khá hơn.”

Nhưng khi bà con bè bạn tụ họp dự lễ tống táng và bắt đầu kể lể những nhân đức của bà vợ, người sùng đạo mới nhận ra rằng mình đã hành động hấp tấp. Do đó, ông đã xin Thần cho bà ta sống lại. 

Ông chỉ còn lại mỗi một lời cầu xin mà thôi. Ông nhất quyết sẽ không nhầm lẫn lần nầy vì sẽ không có cơ hội sửa chữa được nữa. Ông đã tham khảo ý kiến một cách rộng rãi. Có người khuyên ông nên xin được trường sinh bất tử. Nhưng những người khác bảo rằng sống lâu có ích lợi gì nếu không có sức khỏe tốt? Và sức khỏe tốt để làm gì nếu không có tiền bạc? Và có tiền bạc để làm gì nếu không có ai làm bạn với mình?

Nhiều năm tháng trôi qua mà người đó không quyết định được phải chọn lựa làm sao: sống lâu, sức khỏe, giàu sang, quyền lực hay ái tình.

Cuối cùng người đó đã cầu khẩn Thần như sau: “Xin Ngài dạy cho con biết phải xin gì đây.” Thần cười khi thấy người đó bối rối nên nói: “Con hãy xin cho được mãn nguyên, dù cuộc đời có xảy ra như thế nào”.

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích “Như Tiếng Chim Ca”

LỜI TẠ ƠN TRONG NGÀY LỄ THANKSGIVING

LỜI TẠ ƠN TRONG NGÀY LỄ THANKSGIVING

Văn Duy Tùng

Hàng năm vào ngày Thứ Năm tuần cuối cùng của Tháng Mười Một, Hoa Kỳ có một ngày lễ rất ý nghĩa và tôi lấy làm thích thú nhất trong tất cả những ngày lễ nghỉ ở đất nước Hiệp Chủng Quốc này. Ðó là ngày lễ Thanksgiving – ngày Lễ Tạ Ơn.

Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên xảy ra tại Hoa Kỳ vào năm 1621 sau khi những người Pilgrims từ nước Anh tìm ra và đặt chân xuống đây để chọn vùng đất sống. Vùng đất dồi dào và màu mỡ để từ đó con cháu họ và những thế hệ nối tiếp đã lập lên một quốc gia Hoa Kỳ lớn mạnh và giàu có nhất thế giới.

Số người tham dự ngày Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên ấy chỉ vỏn vẹn có 140 người, trong đó 90 là người Wampanoag (người da đỏ) và 50 là người Pilgrims. Một số người Pilgrims đã bỏ xác giữa đường trong cuộc hành trình tìm đến đây và cũng đã bị chết rất nhiều khi chưa thích nghi với khí hậu, nhất là những bệnh tật với mùa đông băng giá… 140 người đầu tiên đó, họ đã dành đúng 3 ngày để tế Lễ Tạ Ơn sau khi vụ mùa đầu tiên được thu hoạch.

Ba ngày đó, họ làm gì và tạ ơn ai?

Vâng, điều đầu tiên là họ tạ ơn Trời, tạ ơn Thượng Ðế đã cho họ được sống sót trên chuyến đường ngàn dặm và đã cho họ gặp may mắn tìm ra được vùng đất màu mỡ, vùng đất có sữa và mật. Họ tạ ơn Thượng Ðế đã chúc phúc cho họ có được một vụ mùa gặt đầu tiên bội thu. Họ cũng không quên tạ ơn những người da đỏ đã giúp họ biết canh tác, trồng trọt và hướng dẫn họ cách chăn nuôi trong những ngày tháng chân ướt chân ráo.

Và hôm nay đây sau gần 400 năm, người dân Hoa Kỳ đã tái diễn lại ngày lễ Tạ Ơn đó mỗi năm như là một sự nhắc nhở con cháu họ phải biết đến ơn Trời, nhớ ơn người và luôn ghi khắc trong lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn.”

Qua câu chuyện The First Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn Ðầu Tiên) và những người Pilgrims, tôi liên tưởng ngay đến người Việt Nam tỵ nạn trên vùng đất Hoa Kỳ này hoặc một quốc gia nào khác.

Quả thật, chúng ta cũng chẳng khác gì với cuộc hành trình của người Pilgrims khi bỏ nước ra đi tìm tự do và đất sống. Con đường và những chuyến vượt biên, vượt đại dương của bạn và tôi trên những chiếc thuyền nan mong manh, đã gặp bao nhiều điều gian khổ và nguy hiểm. Sự gian khổ và nguy hiểm ấy có thể đến mức 99% của sự chết bởi biển cả, bởi sóng gió và bão táp, bởi đói khát và hải tặc để chấp nhận đánh đổi còn lại mong manh 1% của sự sống.

Biết bao nhiêu khó khăn trong những ngày đầu tiên ở các trại tỵ nạn, bao nhiêu sự xa lạ và khác biệt giữa đời sống: Bất đồng ngôn ngữ, tập quán, văn hóa v.v… trong những ngày tháng đầu tiên định cư tại Hoa Kỳ và những quốc gia khác. Thế rồi ngày hôm nay, khi ngoảnh mặt lại, bạn và tôi đã nhớ và khám phá ra rằng chúng ta đã mang ơn biết bao người, biết bao điều trong cuộc sống mà thường thì con người hay quên hay cố quên những người đã làm ơn làm phước trong cuộc đời của chúng ta. Nhất là sau khi bạn và tôi đã công thành danh toại, đã trở nên giàu có và đầy đủ trên vùng đất Hoa Kỳ này.

Ðể rõ và chắc chắn hơn sự vô ý hay quên không nhớ đến những người mà ta đã mang ơn; xin hãy vào nhà thờ hay chùa chiền, chúng ta sẽ thấy và nghe được toàn là những lời cầu xin rôm rả của giáo dân, của thiện nam tín nữ mà quên đi lời tạ ơn. Hãy xem tờ thông tin hay tờ mục vụ ở những nơi này, chằng chịt những người xin lễ, xin ơn, xin cho, xin được, xin thêm, xin điều này điều kia, mà không thấy một lời, một lễ để tạ ơn, nếu có thì cũng rất giới hạn. Và mặc dù sự tạ ơn của chúng ta cũng chẳng thêm lợi ích gì cho Thượng Ðế. Thế nhưng, Ngài muốn lòng con người phải nhớ và biết ơn để sinh thêm hoa trái, mang lợi ích cho mình, cho người khác và có thể nhìn thấy sự liên đới tốt đẹp trong đời sống chung quanh của con người.

Hôm nay trong ngày Lễ Tạ Ơn với bầu trời ảm đạm của mùa Thu tại vùng thủ đô Washington. D.C, bầu trời có sương khói lam chiều như bên quê nhà. Ngoài kia, những chiếc lá đang dần úa vàng, những cơn gió nhẹ nhàng mơn man như vuốt ve hàng cây, rồi những chiếc lá vàng rơi rụng về với cội nguồn, về với lòng đất. Ðời con người đâu khác chi những chiếc lá; xanh tươi rồi úa tàn. Lá sẽ mục nát trong lòng đất và biến thành chất hữu cơ cho cây được bén rễ, để ươm chồi cho những mầm mống nối tiếp của ngày mai.

Việc đầu tiên và trên hết, bạn và tôi hãy dâng lời cảm tạ lên Thượng Ðế vì điều kỳ diệu và tuyệt vời nhất Ngài đã tạo dựng cho chúng ta hình hài làm người mà không phải hình hài một con khỉ hay con đười ươi hoặc một con vật nào khác. (Loài người phát sinh từ loài khỉ theo “Thuyết Duy Vật Biện Chứng.”)

Tạ ơn Ngài đã thổi trong hình hài ta một sự sống và sự sinh tồn, một lý trí để xét suy, một trí tuệ biết nhận định đúng, sai, biết sự thiện, sự ác và biết nhận diện để tìm đến con đường Thượng Trí, tìm đến ánh sáng của Chân-Thiện-Mỹ. Ngài còn tạo và đặt để trong ta một trái tim. Trái tim không chỉ có bổn phận bơm máu nuôi cơ thể mà còn để ban phát tình yêu thương và sự rung cảm trong đời sống. Nhờ có trái tim mà lý trí và bản năng của con người được kiềm chế, được xoa dịu, nhất là khi đối diện và gặp phải những lúc cường độ xung đột và khác biệt trong nhịp sống nơi bản chất của con người. (Theo khoa học, những bộ phận đầu tiên để hình thành một bào thai, là một giọt máu biết đập. Ðó chính là quả tim.)

Vâng, nếu trong đời sống của chúng ta chỉ biết liên quan, đối diện hoặc giao hảo dựa trên lý trí và bản năng, thì có lẽ chúng ta đã và sẽ chém giết nhau từng ngày một. Vì đời nào lý trí và bản năng của tôi chịu thua lý của bạn. Huống gì sự tranh chấp, sự bất đồng, sự khác biệt nhan nhản xảy ra trong đời sống hằng ngày mà có thể dẫn đến sự xung đột, sự nổi loạn rồi sẽ hơn, thua… Ngài biết rõ bản chất của con người, nên đã tạo cho mỗi con người có một trái tim để một cách nào đó kiềm chế lý trí, kiềm chế bản năng là thế.

Khi nói đến quả tim là đề cập đến sự sống, là nói đến sự yêu thương, hạnh phúc, bình an và hòa bình… Nếu mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi gia đình, mọi con người luôn để con tim trước lý trí để “xử lý” với nhau trong bất cứ mọi tình huống, mọi hoàn cảnh thì có lẽ thế giới này sẽ thôi chiến tranh, con người sẽ gần lại với nhau, sẽ nâng đỡ và thương yêu nhau, gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ giang rộng cánh tay chào đón tất cả mọi thành phần mà không phân biệt màu da, chủng tộc, mũi tẹt hay da màu…

Xin hãy để con tim đứng trước để xử lý và bàn thảo trong mọi lĩnh vực, luật lệ, mọi quyết định, mọi việc, mọi sinh hoạt trong đời sống… Hẳn, Thượng Ðế đã có lý do tạo ra quả tim (giọt máu biết đập) đầu tiên để hình thành con người trong bào thai trước cả cái đầu, cái miệng và đôi tay… Vậy, tại sao không để trái tim của chúng ta xử lý trước tiên trong mọi điều, mọi việc nơi đời sống hằng ngày, trong xã hội nhiễu nhương và bất công, nơi thế giới đầy rẫy những tranh chấp và hận thù.

Xin hãy cúi đầu để tạ ơn sự tuyệt diệu của Ngài khi tạo dựng nên loài người và tạo dựng nên vũ trụ bao la. Ôi Ðấng Quyền Năng vô song và tuyệt hảo!

Có lẽ bạn và tôi không cùng một tôn giáo và một niềm tin, nhưng chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của Thượng Ðế đã tạo dựng nên vũ trụ, sông biển, núi đồi, cỏ hoa, nắng mưa và cầm thú… với mục đích là chỉ vì yêu thương con người, rồi cho con người được ân hưởng và làm chủ tất cả các vạn vật đó. Ngài còn sắp xếp mọi vật thể trong vũ trụ, chuyển mình theo tuần tự trong bàn tay vạn năng và an bài của Ngài.

Bạn cứ tưởng tượng xem, nếu ta sống không có ánh sáng trong 24 tiếng đồng hồ hoặc một tháng thì sẽ bất tiện đến thế nào. Hoặc những vì sao va chạm, rơi rớt, vũ trụ, trời đất, tinh tú hỗn loạn thì đời sống con người sẽ ra sao. Vậy, tất cả và thậm chí ngay cả ngày và đêm cũng nằm trong chương trình sáng tạo và xếp đặt để cho con người có được năng lượng ánh sáng của mặt trời và được nhận ra thời gian, năm tháng, ngày và đêm để nghỉ ngơi hay làm việc.

Sau khi tạ ơn Trời, bạn và tôi chắc chắn nghĩ ngay đến gia đình. Ngày Lễ Tạ Ơn cũng là ngày quy tụ mọi thành viên trong gia đình. Tất cả con cái từ phương xa trở về với tổ ấm, về với gia đinh để tạ ơn đấng sinh thành.

Thượng Ðế đã khôn ngoan hình thành xã hội đầu tiên cho loài người, đó là người chồng, người vợ và từ đó họ sinh ra con cái. Chung quy lại đó chính là gia đình. Nơi gia đình ta tìm được chỗ nương tựa và yêu thương, được an ủi và vỗ về, được chia sẻ ngọt bùi hay đắng cay, hạnh phúc hay khổ đau…

Cao điểm nhất trong Ngày Lễ Tạ Ơn này đối với các gia đình, đó là sự gần gũi và nhất là trong bữa cơm tối. Tất cả ông bà, cha mẹ, con cái và cháu chắt quây quần bên bàn ăn rồi dâng lên lời tạ ơn Thượng Ðế đã ban cho biết bao ân huệ trong năm qua. Tạ ơn đấng sinh thành đã dưỡng dục nuôi nấng ta đến ngày khôn lớn.

Còn gì hạnh phúc và ý nghĩa cho bằng khi có được đầy đủ mọi người trong gia đình bên bàn ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn, mặc dù những món ăn không phải cao lương mỹ vị mà chỉ là những món ăn đơn giản như khoai lang, đậu, ngô, bí… đã được chế biến, nhất là món turkey (Gà Tây) thì không thể thiếu được. Những món ăn này bắt nguồn từ ngày Lễ Tạ Ơn đầu tiên của người Pilgrims và nay đã trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu trong ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm.

Chúng ta còn tạ ơn ai nữa không?

Vâng, còn nhiều lắm, bạn ạ! Này nhé: Vào những năm đầu sau năm 1975, có biết bao người Việt Nam bỏ nước ra đi, những ngày tháng lênh đênh và ngoi ngóp trên biển cả, lạc lõng trong rừng sâu. Nếu như không có những chiếc tàu và lòng thương xót của người ngoại quốc cứu vớt, thì xác thân bạn và tôi đã làm mồi cho cá rồi. Vì thế, chúng ta không thể không biết ơn đến những người đã ra tay nghĩa hiệp cứu vớt những thuyền nhân lênh đênh trên biển, các trại tỵ nạn, những trại định cư, trại tiếp tế, trại chuyển tiếp như Thái Lan, Mã Lai, Hồng Kông, Phi Luật Tân… Nhờ những trại đó để cho chúng ta có cuộc sống ngắn hạn và tạm thời sau bao ngày tháng lênh đênh trên biển cả và lạc lối trong rừng sâu trước khi lên đường định cư ở một quốc gia khác.

Ơn cao cả và lòng nghĩa hiệp đó là từ tấm lòng nhân đạo của các thuyền trưởng, của Liên Hợp Quốc, Hội ICM, các hội từ thiện, Hội USCC, các cơ quan bảo lãnh và từ thiện của Catholic, v.v…

Làm sao bạn và tôi có thể quay mặt hoặc có thể quên bẵng đi được với những ân nhân người Mỹ đã bảo lãnh, ra tận phi trường đón và đưa chúng ta về, cho ở trong nhà rồi đối xử, giúp đỡ và ân cần như một thành viên trong gia đình của họ.

Tạ ơn đến những người lính canh gác nơi tiền đồn, những chiến sĩ đã hy sinh nằm xuống để gìn giữ quê hương, những người cảnh sát, những cơ quan bảo vệ hòa bình, chặn đứng và dẹp tan quân khủng bố và những thành phần bất hảo trong xã hội để cho gia đinh bạn và tôi, cho tất cả mọi người có cuộc sống thanh bình.

Liên quan trong đời sống hằng ngày, chúng ta biết ơn đến những vị chức sắc nơi các tôn giáo: Các giám mục, linh mục, mục sư, các vị đại đức, thượng tọa, các vị tu sĩ nam nữ của các tôn giáo có bổn phận hướng dẫn đường tâm linh, chỉ cho chúng ta nhận ra ánh sáng của sự cứu rỗi trong cuộc đời đau khổ hôm nay.

Thiên Chúa thương con người và đã ban Ðức Giêsu Kitô xuống thế gian chịu chết vì tội lỗi chúng ta rồi cho chúng ta được ơn cứu độ của Ngài, để kết nối giữa trời và đất và không còn khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Cũng thế, Phật Thích Ca đã chua xót khi thấy chúng sanh quá đau khổ, xã hội nhiễu nhương để rũ áo hoàng tử và từ bỏ đời sống vua chúa, quyền quý, cao sang, thốt nên lời bi ai “Ðời Là Bể Khổ” trước khi lên đường tầm đạo cứu chúng sanh.

Vâng, đời là khổ thật nên ta phải cần đến các vị ấy để được hướng dẫn và giúp ta định hướng tìm được sự sống nơi vĩnh hằng, gặp được bến bờ của bình an trong cuộc đời trầm kha này.

Ôi, các vị này chính là “Cái đẹp cứu rỗi thế giới.”

Chúng ta luôn ghi ơn đến những người thầy, người cô đã khai thông sự ngu dốt của ta, dạy ta biết nhận thức và mở trí ta để thông suốt những sự kiện, mở mang kiến thức để ta phát triển tài năng, hướng dẫn ta biết luân thường đạo lý, biết Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín, biết Tam Tòng Tứ Ðức, biết lễ phép, tiên học lễ, hậu học văn… để ngày hôm nay ta dùng kiến thức và sự hiểu biết đó mà sống còn và phát triển mọi mặt trong đời sống, để đối diện và giao hảo tốt đẹp, hài hòa với mọi người trong xã hội, bạn bè và gia đình.

Xin cám ơn những vị y sĩ, bác sĩ, y tá đã tận tình chữa trị những lúc ta trái gió trở trời, những lúc ta gặp bệnh hoạn, những lúc bị dồi máu cơ tim, bị đột quỵ, bị ung thư, và những cơn bệnh nguy kịch khác… Ai là người ra tay để cứu chữa cho bạn và tôi đây?

Nhưng xin bạn và tôi cũng đừng vội quên những người và công việc của họ xem rất tầm thường, nhưng ảnh hưởng rất lớn trong đời sống của chúng ta. Từ bác đưa thư, người tài xế, thậm chí người đổ rác nhà bạn nữa. Hãy nghĩ xem, chỉ cần 2 tuần thôi những bao rác nơi nhà bạn không được lấy và dọn đi, bạn có sống được với mùi hôi thối nồng nặc nơi đống rác ấy không?

Và xin tạ ơn biết bao người liên quan trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Riêng tôi sẽ không quên cảm ơn đến người bạn đời đã cùng với tôi gầy dựng mái ấm gia đình, đã chia sẻ với tôi trong những lúc gian nan, hoạn nạn, luôn bên cạnh tôi trên những đoạn đường thăng trầm của cuộc sống, đã vỗ về, an ủi, đã chia sẻ ngọt bùi, dù niềm vui hay nước mắt, dù khổ đau hay sướng vui… Người bạn đời này sẽ còn lại trong những ngày tháng cuối đời của tôi, sẽ gần gũi và đỡ nâng tôi khi già yếu, bệnh tật, sẽ dìu tôi đến nhà vệ sinh, sẽ nhắc nhở và đưa thuốc cho tôi uống, phủ chăn ấm cho tôi khi đêm về, sẽ thao thức và ân cần với tôi mặc dù lúc đó tôi đã mất trí nhớ vì bệnh Alzheimer của tuổi già… Và, sẽ đau xót, tiếc nuối, khóc thương, rồi hương khói cho tôi khi tôi ra đi về bên kia thế giới.

Ôi cuộc đời dễ thương và đẹp biết bao khi chúng ta có nhau và biết ơn nhau !

Xin cúi đầu muôn đời tạ ơn. Tạ ơn Trời, tạ ơn tất cả mọi người đã làm ơn làm phúc trong của đời của bạn và của tôi.

Và sau cùng, kính chúc bạn có một ngày Lễ Tạ Ơn thật êm đềm và ý nghĩa bên những người thân và gia đình.

Happy THANKSGIVING!

Văn Duy Tùng

 

From: NguyenNThu

CON TẠ ƠN CHÚA

CON TẠ ƠN CHÚA

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

(Bài cũ nhưng xin gởi một lần nữa vì thấy có ý nghĩa trong ngày lễ Tạ ơn)

Con tạ ơn Chúa vì chồng của con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp,

bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải bên ai khác.

Con tạ ơn Chúa vì con của con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con,

bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ,

bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến kéo đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng trở nên hơi chật,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ ở sát bên con, nhìn con làm việc,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì nền nhà cần quét, cửa sổ cần lau, màng xối cần sửa,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của tháng này lại tăng cao,

bởi lẽ như thế nghĩa là Con đang được ấm áp.

Con tạ ơn Chúa vì cái bà ngồi phía sau con trong Nhà Thờ

hát sai tông lạc nhịp,

bởi lẽ như thế nghĩa tai con còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ rất lớn phải giặt và ủi,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp trong người con

nó mệt rũ ra vào cuối ngày,

bởi lẽ như thế nghĩa là con có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm vào buổi sáng,

bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại, hít thở và cười nói,

bởi lẽ như thế nghĩa là con đang còn sống được thêm một ngày nữa.

Và cuối cùng…

Con tạ ơn Chúa vì đã nhận được quá nhiều E-mails gửi về,

bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con

Con gửi bài này để bạn bè con hiểu rằng:

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương,

cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào !”

Bản dịch của cố Gs. TRẦN DUY NHIÊN

VÀ Ở CÙNG CHÚNG TA!

VÀ Ở CÙNG CHÚNG TA!

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Mùa Vọng đã về.  Mùa Vọng là mùa Phụng vụ đầu tiên của năm Phụng vụ mới.  Mùa Vọng nhắc chúng ta nhớ lại một lịch sử dài trải qua nhiều thế hệ.  Đó là lịch sử của niềm mong đợi Đấng Cứu thế mà Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa.  Niềm mong đợi Đấng Cứu thế đã nuôi dưỡng đức tin của dân tộc Do Thái trong mọi biến cố thăng trầm, nhất là trong những năm tháng bi đát của lịch sử, như thời lưu đày.  Mùa Vọng cũng nhắc cho chúng ta sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa: đó là sự kiện Ngôi Lời giáng sinh làm người và ở cùng chúng ta.  Thiên Chúa ở cùng con người.  Ngài không còn chỉ là Đấng ngự trên chín tầng mây xanh cao thẳm.  Ngài cũng không còn ngỏ lời với con người qua những trung gian như thời Cựu ước.  Thiên Chúa đã trực tiếp nói với chúng ta bằng chính Con của Ngài.  Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa.  Người đến trần gian để ở với chúng ta, để chung chia vui buồn với mỗi con người đang lang thang phận người trên cõi dương gian.

Nội dung Bài đọc I và Bài Tin Mừng hướng chúng ta tới một tương lai, khi Thiên Chúa thực hiện lời Ngài đã hứa.  Lúc đó, Đấng Công chính sẽ xuất hiện, mạnh mẽ như Đavít.  Người sẽ đem lại cảnh an hòa cho vũ trụ, và dân tộc Israen sẽ được cứu thoát.  Xin lưu ý, Giêrêmia là một vị ngôn sứ sống trong giai đoạn lịch sử vô cùng khó khăn của Israen, tức là thời khủng hoảng chia rẽ trước cuộc lưu đày ở Babylon.  Vị ngôn sứ đã loan báo niềm hy vọng, để mời gọi dân mình cậy trông vào lời hứa Thiên sai, vì Chúa là Đấng trung thành.  Ngài sẽ thực hiện những gì Ngài đã phán.

Lời hứa ban Đấng Thiên sai đã được thực hiện, khi Chúa Cha sai Con Một của Ngài làm Đấng Cứu độ trần gian.  Đức Giêsu đã đến trong lịch sử.  Người là trung gian của lịch sử.  Vì vậy, những gì xảy ra trước khi Người sinh hạ được gọi là “trước Công nguyên” và ngược lại.  Mùa Vọng vừa kỷ niệm ngày Chúa Giêsu đến trần gian, vừa nhắc nhớ cho chúng ta, Người sẽ lại đến trong vinh quang, vào lúc tận cùng của thời gian.  Tuy vậy, nếu chúng ta xác tín vào việc Người sẽ đến vào ngày tận thế, thì chúng ta cũng tin chắc rằng Chúa sẽ đến gặp mỗi người chúng ta, khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay kết thúc cuộc đời.  Vì vậy, trong khi chờ đợi Chúa Giêsu đến vào lúc chúng ta kết thúc cuộc đời, Lời Chúa nhắc bảo chúng ta: hãy tỉnh thức.  Không ai sinh ra rồi sống mãi trên đời.  Cuộc sống con người có ngày khởi đầu thì cũng sẽ có ngày kết thúc.  Vì vậy, người tin Chúa cần tỉnh thức cầu nguyện, để luôn trong tình trạng sẵn sàng khi Chúa đến.  Tỉnh thức là tình trạng thánh thiện, đạo đức.  Đó cũng là một cuộc sống an bình thanh thản, không hờn giận bon chen, không mưu mô tính toán, với niềm tín thác nơi vị Thẩm phán công minh là chính Đức Giêsu, Đấng Cứu độ con người.  Tỉnh thức còn là sự trân trọng đối với những người sống xung quanh chúng ta.  Đức tin khẳng định, họ cùng là anh chị em với chúng ta, và cùng là con của Cha trên trời.  “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy” (Bài đọc II).  Tình yêu thương là nền tảng của mọi cộng đoàn Đức tin, là điều kiện cốt lõi để công cuộc truyền giáo có hiệu quả.

Hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ấn định: Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng năm nay, cũng là ngày khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XVI ở cấp Giáo phận.  Đức Thánh Cha đã quyết định triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục thế giới và ngài chọn chủ đề cho Thượng Hội đồng là “Vì một Giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham dự và sứ vụ.”  Chủ đề này nhấn mạnh tới sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội.  Quả vậy, nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu đều được gọi tham gia phần mình, tùy khả năng Chúa ban, vào việc xây dựng Giáo Hội, cụ thể là nơi cộng đoàn đức tin mình đang sống.  Mỗi Kitô hữu đều là chi thể của Giáo Hội, với ba chức năng Chúa ban: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế.  Trước khi cử hành chính thức Thượng Hội đồng vào tháng 10/2023, Đức Thánh Cha muốn lắng nghe ý kiến từ các Giáo Hội địa phương, sau đó ngài sẽ đưa ra một định hướng mục vụ phù hợp với bối cảnh thế giới và nguyện vọng của Dân Chúa. Để cụ thể tinh thần của Thượng Hội đồng, đây là dịp để mỗi người tín hữu chúng ta ý thức vinh dự và sứ mạng của mình, đồng thời góp phần làm cho sức sống nơi cộng đoàn đức tin mình đang sống được phát triển.

Nếu Thiên Chúa nhập thể làm người để đồng hành với phận người nơi trần thế, thì Giáo Hội cũng phải đồng hành với con người trong bối cảnh cụ thể của mọi quốc gia và mọi nền văn hoá.  Một hạn từ nổi bật trong chủ đề của Thượng Hội đồng là “hiệp hành.”  Hiệp hành có nghĩa là “đi cùng nhau”, là “liên kết”, là gắn bó với nhau để làm việc chung.  Khi liên kết với nhau trong tinh thần đức tin và đức mến, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh phi thường.  Sự hiệp thông liên kết cũng làm nên vẻ đẹp kỳ diệu của Giáo Hội, qua đó chúng ta diễn tả một Giáo Hội của Chúa với bốn đặc tính: Duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.

“Đức-Chúa-là-sự-công-chính-của-chúng-ta.”  “Ngôi Lời đã làm người và ở cùng chúng ta.”  Đây là những danh xưng diễn tả nguồn gốc thiên linh và sứ mạng của Đấng Thiên Sai.  Những danh xưng này cũng nói lên sự gần gũi thân thương giữa Thiên Chúa và con người.  Vâng, Chúa Giêsu là sự Công chính của chúng ta, và Người vẫn đang ở với chúng ta cho đến ngày tận thế.  Chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn để đón Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Happy Thanksgiving

Tạ ơn Chúa hôm nay ta còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được e-mail

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn Thân hữu gần xa

Hàng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

E-mail nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu chan hòa!