Một trang hồi ký về “Lênin toàn tập”, thanh gươm không đối thoại

Một trang hồi ký về “Lênin toàn tập”, thanh gươm không đối thoại

Bởi  AdminTD

 Lê Phú Khải

8-12-2021

Nhân đọc bài “Quan điểm của Lênin về Nhà nước” của GS. Nguyễn Đình Cống trên trang mạng Bauxite Việt Nam ngày 06-12-2021, một bài viết công phu, đã chỉ ra, dù ở một khía cạnh hẹp, vì sao Liên Xô dù hùng mạnh đến thế… đã sụp đổ… chỉ vì Stalin đã tiếp tục thực thi một cách sắt máu “chuyên chính vô sản” của Lênin. Giáo sư Nguyễn Đình Cống cũng nhắc đến bộ “Lênin toàn tập” đồ sộ 55 tập (tiếng Việt).

Tôi có một kỷ niệm khá thú vị về bộ sách Lênin toàn tập 55 cuốn, mỗi cuốn dày cộp, chữ nhỏ li ti này. (Thực ra những lần đầu bộ sách này được in bằng tiếng Việt thì đều in ở nhà xuất bản Tiến Bộ bên Liên Xô).

Số là, những năm làm phóng viên thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi có giao du với anh Kim Tinh, quê Bến Tre, là Phó Tổng biên tập báo Ấp Bắc của đảng bộ tỉnh Tiền Giang. Anh Kim Tinh vì in tại nhà in báo Ấp Bắc tờ báo “Người Kháng chiến cũ” của ông Nguyễn Hộ, Chủ tịch Hội Người Kháng chiến cũ của thành phố Hồ Chí Minh, nên bị khai trừ đảng, cách chức Phó Tổng biên tập. Ông Nguyễn Hộ thì bị bắt tại Sông Bé, sau bị giam lỏng ở Sài Gòn.

Chán ngán sự đời, anh Kim Tinh lập một trang trại nhỏ ở ngoại vi thành phố Mỹ Tho nuôi chim cút. Thời gian rảnh rỗi anh đọc Lênin toàn tập. Mấy năm sau, tôi có dịp đến thăm trang trại nuôi chim cút của Kim Tinh. Vừa gặp tôi, anh đã khoe: Tôi đã đọc hết Lênin toàn tập!

Tôi “kinh hoàng” quá, vì ở Việt Nam, và có lẽ, trên cả thế giới, ít ai dám cả gan đọc hết bộ Lênin toàn tập gồm 55 cuốn dày cộp! Tôi hỏi Kim Tinh: Anh đọc hết Lênin toàn tập thấy thế nào? Kim Tinh nói: Lênin sai, Causki đúng! Tôi lại hỏi: Sai đúng ra sao? Kim Tinh nói: Causki phê phán Lênin rằng, khi có chính quyền trong tay rồi, mà vẫn thực hiện chuyên chính vô sản thì đó là thanh gươm không đối thoại!

Về sau, tôi có để thời gian tìm hiểu tác phẩm “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causki” của Lênin, được xuất bản lần đầu vào tháng 10 năm 1918, và còn tìm hiểu cả tác phẩm “Bàn về chuyên chính vô sản” của Causki. Đã ở tuổi 79, có nghĩa là, tôi đã sống cả đời người trong chế độ chuyên chính vô sản “ở ngay cả các nước lạc hậu, công nhân và nông dân nghèo, thậm chí thiếu kinh nghiệm nhất, thiếu học thức…” như Lênin đã từng viết trong tác phẩm “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causki”. Chế độ đó đã quản lý đất nước như thế nào?

Tôi đã chứng kiến các toà án nhân dân trong Cải cách ruộng đất, đã chứng kiến cải tạo tư sản ở Hà Nội, đã chứng kiến đấu tố Nhân văn – Giai phẩm, v.v… càng thấy Causki đúng khi ông phê phán “thanh gươm không đối thoại” của chuyên chính vô sản!

Chính “thanh gươm không đối thoại” ấy đã phạt đầu cụ già Lê Đình Kình ở Đồng Tâm khi cụ dám chống lại chuyên chính vô sản.

Giáo sư Hoàng Xuân Phú đã bào chữa cho cụ Kình: Tội của cụ Kình là vô tội. Vì nếu có tội thì cụ Kình đã bị bắt và đem xử trước toà. Và như thế thì không chết. Vì vô tội nên cụ Kình phải chết!

Tháng 3 năm 1991, lúc Liên Xô sắp tan rã, tôi được may mắn cơ quan cử đi Liên Xô làm việc với Ban Việt ngữ của Đài Phát thanh Đối ngoại Mátxcơva. Các bạn trong Ban Việt ngữ Đài Phát thanh nói tiếng Việt rất trôi chảy. Chị Irina, Trưởng ban Việt ngữ hỏi tôi: Anh Phú Khải có biết vì sao ở Liên Xô người ta nói: Lênin là người nói đến dân chủ nhiều nhất không? Tôi chưa biết trả lời thế nào, thì Irina nói: Vì người thứ hai nói đến dân chủ đã bị ông ta đập đầu chết rồi…!!!

Các bạn trong Ban Việt ngữ còn cho tôi biết, ở Liên Xô không có gia đình nào, không có dòng họ nào không có người bị Stalin giết hại!

Chuyên chính vô sản đã sụp đổ ngay chính trên quê hương của nó. Còn “ở ngay các nước lạc hậu, công nhân và nông dân nghèo…” như Việt Nam, thì người cầm “thanh gươm không đối thoại” bây giờ không phải là giai cấp vô sản mà là những ông chủ ở biệt phủ và ăn thịt bò dát vàng!!!

Anh Kim Tinh dân Bến Tre đã đi xa… Bài viết này là để tưởng nhớ đến người đã có công đọc hết 55 cuốn sách trong bộ Lênin toàn tập để phát hiện ra câu nói bất hủ của “tên phản bội” Causki!

Còn Lại Chút Gì Để Thương Nhớ

 Kha Ngo Van

Còn Lại Chút Gì Để Thương Nhớ

Cái chết thời Covid nó thế, vẫn diễn ra hàng ngày, rất lạnh lùng, tàn nhẫn, chẳng kiêng dè điều gì, chẳng từ một ai. Nó vồ lấy từng người, nhai ngấu nghiến cho thỏa cơn đói, cái đói của Tử thần từ thuở hồng hoang, khi con người phản nghịch lại Thiên Chúa. Nó thèm khát từ thân xác tới linh hồn con người, từng ngày cứ gặm nhấm hoặc bất chợt nuốt trọn…

Một kiếp người trong cõi nhân sinh, với những vui buồn, nụ cười và nước mắt, những ước mơ, tính toán, những vun đắp và cống hiến, những thành công và thất bại, những hiểu lầm… Tất cả là quá khứ, là chấm hết với cõi đời này, với những người đang còn sống trên cõi hồng trần này. Có còn lại gì cho trần gian này, thì họa may còn lưu lại chút ký ức bồng bềnh bám víu vào những kỷ niệm rời rạc, bất định, chợt có, chợt tan, trong dĩ vãng của những người thân thiết nào đó.

Giờ này, khi kiếp người đã khép, và cùng với nó, ngưng lại vĩnh viễn những gì thuộc về thế giới này, chẳng còn quá khứ, chẳng có tương lai, nhưng thật ra, lại là “chạm bước chân” vào trong cái Hiện Tại vô biên, để lần theo hương thơm của Tình yêu dào dạt của Chúa, và cứ thế tiến vào, ngày càng sâu hơn, vào trong hạnh phúc vĩnh hằng của Thiên Chúa.

Phải rồi, cuối cùng, ai cũng thế, chẳng còn phân biệt nào, cho dù nhỏ, tất cả bình đẳng trước cái chết và sự khác biệt, chính là khi ra trước Nhan Thánh Chúa, chịu sự phán xét của Chúa, một sự phán xét trong tình yêu về những gì người đó đã sống, đã làm trong lòng mến, để sáng danh Chúa, trong ý thức là người môn đệ Chúa.

Còn lại chút gì lưu vết trên dương gian này, cũng chỉ thế thôi.

Nhưng đó là tất cả những chọn lựa, vất vả đấu tranh với chính mình với những yếu hèn của bản thân, trong một cuộc chiến không cân sức, trước sức mạnh của kẻ thù, những cơn cám dỗ và trước những thử thách phải đương đầu hằng ngày trong lo âu, phiền muộn, trong nước mắt, những sự hối hận. Và cả những trải nghiệm thiêng liêng của đức tin về sự trợ giúp mạnh mẽ từ tình thương và ân sủng Chúa, vào sự chữa lành diệu kỳ và sự bổ sức của Chúa. Nên giờ đây, mới có thể dám nói, Tất Cả Là Hồng Ân.

Phải rồi, nếu còn gì để lại cho đời, cho những người thân yêu còn sống trên trần gian đầy hỉ nộ ái ố này, vẫn còn đang loay hoay, xoay sở với mọi vấn đề bủa vây, là lời tạm biệt “trong xương cốt”, là cám ơn đời, là lời cám ơn người, khi kết thúc hành trình một đời người, với mọi sự buông bỏ, cho đến “sự hủy mình ra không”, để thanh thoát đi về với Đấng “muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” đang ngóng chờ.

Và quả thật, mọi sự sẽ Ra Không Tất Cả, nếu không có đức tin vào Chúa và vững tin vào Lời Chúa, nếu không có tình yêu Chúa, và sự ứng đáp tình yêu lớn ấy, trong tiếng nhặt khoan của từng giai đoạn của đời sống, trong tiếng nấc nghẹn của một người với kinh nghiệm – hiện sinh, thế nào là Ơn Cứu Chuộc, thế nào Lòng Thương Xót cao cả vô bờ bến của Chúa!

Một xác thân đã trở về tro bụi ở dưới thế này, với một linh hồn đang trên hành trình về bên Chúa, trong sự lực hấp dẫn ấm áp của Tình Yêu Ba Ngôi, trong sự dìu dắt của Thánh Cả Giuse, trong tình yêu ấp ủ của Đức Nữ Trinh Maria Vô Nhiễm mà cả Giáo Hội đang hân hoan mừng lễ hôm nay.

Nhưng vẫn còn một cái hẹn, như một lời trăn trối chân thành để lại, hẹn gặp nhau trong nước Chúa. Một cái hẹn dựa trên sự chắc thực của Lời Chúa hứa; một cái hẹn dựa vào ơn Chúa, dựa vào lòng lân tuất hay thương xót của Chúa.

Cậy vào lòng từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, cha Thánh Anphongsô, các thánh, các Chân phuc và các vị Tử Đạo trong Dòng, xin cho linh hồn cha Giuse Lương Văn Long mau được hưởng Nhan thánh Chúa.

Amen

(Ảnh fb cha Paul Lộc)

TÂM TÌNH MÙA VỌNG

TÂM TÌNH MÙA VỌNG

Mỗi khi Mùa Vọng về, hình ảnh Gioan Tẩy giả lại xuất hiện trong phụng vụ. Ông là vị Tiền hô đến dọn đường cho Chúa Cứu thế. Ông cũng là mẫu mực về sự khiêm tốn, can đảm và trung thành. Gioan khiêm tốn nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. So sánh với Chúa Giêsu, ông nhận mình giống như người phù rể. Người phù rể hân hoan trước niềm vui của chú rể. Là người giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, ông hạnh phúc khi thấy người ta tuôn đến cùng Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Dù chỉ là tiếng kêu trong sa mạc hoang vu, Gioan vẫn kiên trung trong sứ mạng dọn đường.

Hành trình Đức tin của người tín hữu chính là cuộc tìm kiếm và gặp gỡ với Chúa. Đây là một hành trình lâu dài, liên lỉ và có nhiều chướng ngại. Để theo Chúa và trung tín với Ngài, chúng ta luôn phải kiên trung và can đảm vượt qua những chướng ngại đó. Như những vận động viên chuyên tâm khổ luyện để đạt được vòng nguyệt quế dành cho người chiến thắng, người Kitô hữu phải luôn chiến đấu trong trận chiến thiêng liêng để thuộc trọn về Chúa.

Ông Gioan dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những cố gắng hoàn thiện bản thân: lấp đầy lũng sâu, bạt thấp núi đồi, nắn thẳng quanh co uẩn khúc. Kinh nghiệm cho thấy, người ta có thể dễ dàng chiến thắng trong trận chiến với kẻ thù, nhưng lại ngã gục trước cám dỗ của cái tôi ích kỷ và đầy tham vọng. Cuộc chiến đấu để thanh luyện chính mình là một cuộc chiến đấu dai dẳng, đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh.

Mùa Vọng vừa mời gọi chúng ta nhìn lại mình, vừa nhắc chúng ta hãy nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Những cố gắng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và thực thi bác ái sẽ giúp chúng ta bạt núi kiêu ngạo, lấp thung lũng hèn nhát. Cuộc sống hôm nay có nhiều cám dỗ, quá nhiều khuynh hướng khác nhau, lôi kéo chúng ta đi lạc đường. Những bon chen bận rộn của cuộc đời dễ làm chúng ta đắp những quả đồi hoặc khoét sâu khoảng cách đối với anh chị em.

Khi can đảm dẹp bỏ mọi chướng ngại trong tâm hồn, chúng ta sẽ được “nhìn” thấy Chúa và vinh quang của Ngài. Lúc đó, Chúa sẽ là tất cả của đời sống chúng ta, và chúng ta sẽ chỉ nhìn lên Ngài như định hướng tuyệt hảo duy nhất của cuộc đời.

Bài chia sẻ LM Vũ Yên

From: Hưng-Lan

THÁNH NICÔLA – GIÁM MỤC (Thế kỷ IV)

THÁNH NICÔLA – GIÁM MỤC(Thế kỷ IV)

Thánh Nicôla, vị đại thánh bình dân, nhưng chỉ tìm được tiểu sử 200 năm sau khi Ngài chết.  Người ta có thể nói rằng: Ngài đích thực là giám mục Myra, đã hiện ra với vua Constantinô trong một giấc mơ.  Sau đó dường như các nhà chép sử lại lẫn lộn với Nicola người Simon đã bị tù dưới thời Diocletianô, đã xây một tu viện và được chôn cất tại vương cung thánh đường thành Myra.  Trừ sự kiện trên, nảy sinh ra nhiều huyền thoại và hơn nghìn năm sau, thánh Nicôla nhân hậu đã thành danh tiếng khắp thế giới.

Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, hai vợ chồng giàu có Anna và Euphêmiô vì không con đã cố gắng tìm an ủi trong công việc từ thiện.  Thiên Chúa chúc lành cho lòng bác ái của họ.  Cuối cùng họ có được một mụn con và đăt tên cho con là Nicôla, có nghĩa là “sự chiến thắng của dân.”  Đây cũng là tên cậu Ngài, vị giám mục Myra.

Ông cậu đã tiên đoán rằng: Nicôla sẽ là “Mặt trời soi chiếu thế gian.”  Khi mới tắm rửa lần đầu, con trẻ đặc biệt này đã chắp tay, đứng trong thau nước hai giờ liền, mắt hướng về trời.  Thứ tư và thứ sáu, Ngài không chịu bú cho tới chiều để ăn chay.  Chị vú nuôi sợ Ngài chết, nhưng trái lại, Ngài đã trở nên một con trẻ kiêu hùng.

Nicôla có nhiều đức tính tốt như một trẻ em gương mẫu.  Cha mẹ mất sớm.  Nicôla thừa hưởng một gia tài kếch xù.  Nhưng Ngài lại coi tất cả tài sản này như của Chúa cho vay.  Người phân phát cho những người bất hạnh và thực hiện đức bác ái như một sự tế nhị dễ thương.  Chẳng hạn một người cha có ba cô con gái, ông tính cho con làm nghề bất lương để có tiền cưới hỏi.  Nhưng rồi đêm kia, ông thấy ba túi vàng chuyển qua cửa sổ, và có thể làm lễ cưới hỏi cách lương thiện cho các cô.  Khi biết được người cho, ông đến xin thánh Nicôla cầu cho ơn tha thứ cho dự tính đáng chúc dữ của mình.  Rồi bất kể sự ngăn cấm của thánh nhân, ông đã kể lại khắp nơi cử chỉ bác ái của thánh nhân đã thực hiện để cứu 3 người phụ nữ khỏi cảnh bất lương như thế nào.

Nicôla đã ao ước hiến đời mình cho Thiên Chúa.  Ông cậu giám mục của Ngài khi sắp chết đã truyền chức và đặt Ngài làm bề trên tu viện thánh Sion.  Khi Ngài du hành qua Thánh địa, cơn bão nổi lên, các hành khách run sợ, Nicôla cầu nguyện cho họ và các cơn sóng dịu xuống, con tàu êm đềm theo đuổi cuộc hành trình.  Những cuộc can thiệp khác nữa làm cho thánh Nicôla trở thành Đấng bảo trợ những người vượt biển.  Các thủy thủ làm chứng rằng khi bị đắm chìm, nhớ cầu tới Ngài là thấy Ngài đến cầm tay lái đưa tới cảng, rồi biến đi…

Khi những người thoát nạn tới nhà nguyện tu viện tạ ơn, người ta ngạc nhiên vì thấy vị cứu tinh của mình đang chìm đắm trong kinh nguyện như không hề rời bỏ nơi này.  Họ không cầm nổi những lời tán tụng biết ơn xuất phát tự cõi lòng, nhưng thánh nhân bảo họ: “Hãy chỉ nên ngợi khen Chúa về cuộc cứu thoát này, bởi vì đối với tôi, tôi chỉ là một tội nhân và một đầy tớ vô dụng.”

Và Ngài đã cho biết rằng, nguy hiểm họ vừa trải qua là hình phạt vì các tội kín, cũng như sự hối lỗi của các thủy thủ đã cứu thoát họ.

Nicôla xuống Alexandria là nơi Ngài đã chữa lành các bệnh nhân, rồi đi thăm thánh Antôn ở Ai cập.  Sau cùng, Ngài đến Giêrusalem kính các nơi thánh và trải qua ít tuần trong hang mà Thánh Gia đã dừng lại khi trốn qua Ai cập.  Nơi đây, sẽ xây cất một thánh đường thánh Nicôla. Vừa mới trở về Myra, nơi các tu sĩ đang nóng lòng chờ đợi cha họ trở về, Ngài đã tăng gấp một cách lạ lùng đống bánh cho cả trăm người ăn.

Giám mục Myra qua đời, các giám mục miền Lycia cân nhắc để chọn vị mục tử mới.  Một sứ giả từ trời xuống báo tin cho vị niên trưởng biết, người được chọn là linh mục Nicôla ngày mai sẽ tới nhà thờ trước hết.  Trời vừa sáng, Nicôla tới nhà thờ theo lòng sốt sắng và nghe loan báo mình làm giám mục.  Ngài muốn chạy trốn, nhưng phải theo ý nguyện của Đấng Cao Cả hơn mình, trời cao chúc lành cho Ngài: dịp lễ đầu tay, thánh Nicôla đã làm cho một em bé bị phỏng sống lại.  Từ kỷ niệm này, người ta hay kêu cầu thánh nhân những khi gặp nguy hiểm vì lửa.

Trở thành mục tử cả dân, thánh nhân rất cưng chiều những người bị áp bức, mồ côi, bênh hoạn và tù tội hơn.  Ban đêm, Ngài cầu nguyện, nghỉ một chút trên đất, ăn ngày một bữa, mặc áo quần khiêm tốn khác với hình ảnh ngày nay nhiều.  Những y phục lộng lẫy theo hình vẽ ấy, Ngài chỉ mặc vào những ngày đại lễ.

Đời sống tín hữu xáo trộn vì những cuộc bách hại: vị giám mục bị lưu đày, đánh đập.  Cuộc trở lại của vua Constantinô đem lại tự do.  Trên đường về, Ngài rao giảng Chúa Kitô, cải hóa lương dân, phá đổ các đền thờ và ngẫu tượng.  Ngài làm nhiều phép lạ như mưa.  Các thế hệ tương lai, còn kể lại huyền thoại của ba đứa trẻ bị một đồ tể tham lam độc ác cắt cổ và để trong thùng muối ướp thịt đã sống lại nhờ lời cầu nguyện của thánh Nicôla.

Các truyện có nhiều thêm thắt như: Truyện người gian giảo có cây gậy đầy vàng, truyện đứa trẻ bị quỉ giả bộ ăn xin bóp cổ, nhưng đã được thánh nhân cứu sống, truyện thánh nhân dàn xếp giữa thày thuốc với bệnh nhân hiếm muộn con cái, hứa tặng chén vàng mà khi được lại không giữ lời hứa.  Gần với sự thực hơn là việc các nhà buôn lúa gạo ở Sycily nhờ sự bao bọc lạ lùng của giám mục đã nuôi những người đói mà không giảm thiểu của dự trữ.  Vua Constantinô cũng mơ thấy thánh nhân đến gặp để cứu cuộc xử tội bất công của ba viên chức.  Sau đó các người bị giữ kêu cầu Ngài giải cứu và được nhận lời bằng một phép lạ.  Thế là các nạn nhân bị xử oan hay kêu cầu Ngài.

Sau khi hoàn tất bao nhiêu việc lành thiêng liêng lẫn vật chất, thánh Nicôla muốn vào cõi đời đời.  Bảo vệ giáo thuyết công giáo tinh tuyền, Ngài đã chống lại lạc giáo tham dự cộng đồng Nicea.  Khi thấy sắp kết thúc cuộc đời.  Ngài muốn lui về tu viện, nơi mà buổi thiếu thời Ngài đã tự hiến cho Thiên Chúa, và chính tại nơi đây, Ngài phú dâng linh hồn trong tay Chúa.

Năm 1087, Myra rơi vào tay người Thổ, người ta vội đưa hài cốt vị thánh về Bari gần Naples.  Từ đó, huyền thoại đời Ngài lại lan rộng.  Mỗi miền nói theo cách của mình.  Dân ca Đông phương coi Ngài như một vị Chúa trên trời.  Đối với người Nga, Ngài là thừa kế thần linh lo chuyện gặt hái.  Siberia cho Ngài là người chế tạo rượu “bia.”

Các vua nước Pháp sùng kính Ngài.  Các chủ tịch luật sư đoàn cầm gậy có hình thánh Nicôla.  Bên tây phương, lễ thánh Nicôla trở thành lễ của thiếu nhi vì làm sao các em lại không yêu mến vị thánh nhân hậu đã cứu ba đứa trẻ đi mót lứa được?  Vị giám mục đầy huyền bí này sau cùng đã trở thành ông già Noel ngày nay.

Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim

NHỚ LẠI VÀ LẮNG NGHE

NHỚ LẠI VÀ LẮNG NGHE

 ĐGM. Bùi Tuần

Mừng lễ Đức Mẹ Vô nhiễm là một niềm vui của các con cái Đức Mẹ.  Có nhiều cách mừng.  Riêng tôi, khi cuộc đời đã sang thu, sắp bước vào mùa đông, tôi mừng lễ Đức Mẹ vô nhiễm một cách cũng rất riêng tư.  Tôi mừng lễ bằng cách vừa nhớ lại Đức Mẹ trong Phúc Âm, vừa nhìn lại Đức Mẹ trong đời tôi.  Để rồi lắng nghe Mẹ nhắn nhủ hôm nay.

Nhớ lại.

Tôi thấy Đức Mẹ thuở xưa trong Phúc Âm cũng là Đức Mẹ trong chuyến đi dài đời tôi.  Đức Mẹ dạy tôi bằng Phúc Âm.  Đức Mẹ cũng dạy tôi bằng những dắt dìu trong dòng lịch sử.  Nếu cần tóm tắt, thì xin vắn gọn thế này:

Đức Mẹ, tuy được ơn vô nhiễm, nhưng cũng chịu nhiều đau đớn, để góp phần vào công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu.  Đúng như lời tiên tri Simeon đã báo trước: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2,25).

Những con cái Mẹ, nhất là tôi, mình đầy ô nhiễm, càng không được phép miễn khỏi thánh giá.  Ít là phần nào.  Chúa Giêsu là con Mẹ, xưa “đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thánh giá” (Pl 2,8).

Đức Mẹ nên giống Chúa cứu thế không phải ở sự chịu đóng đinh, nhưng ở sự Mẹ chịu những lưỡi gươm đâm vào lòng.  Những lưỡi gươm vô hình, với những nhát đâm vô hình, cùng những vết thương vô hình.  Vô hình, nhưng thực sự đau đớn.  Chẳng nói hết được những đau đớn đó của Mẹ.

Còn những con cái Mẹ, thì kẻ cách này, người cách nọ, họ cũng được thanh luyện bằng trải qua những đớn đau lớn nhỏ.  Đớn đau của họ tự nó chẳng có gì là giá trị.  Nhưng nhờ Mẹ nhuộm nó vào tình yêu của Mẹ, nên nó trở thành bông hoa.  Những bông hoa như thế nơi tôi chẳng nhiều.  Nếu muốn tìm nó, thì phải tìm ở những dòng nước mắt.

Trước hết là hoa sám hối trong những nước mắt ở cuộc chiến nội tâm.  Cuộc chiến nội tâm của tôi cũng đã có một người xưa trải qua và diễn tả rất rõ.  Đó là thánh Phaolô.  Ngài phơi bày như những tiếng nức nở nghẹn ngào: “Vẫn biết rằng Lề luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi.  Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu, vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm..

Bởi đó tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay.  Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa.  Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí.  Nó giam cầm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?  Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,14-25).

Cuộc chiến nội tâm giữa thiện và ác nơi thánh Phaolô chỉ được tả là rất cam go.  Còn chiến thắng hay chiến bại thì không thấy ngài nói.  Phần tôi, có lúc thắng và cũng có lúc bại.  Vì thế mà tôi sám hối.  Sám hối là bông hoa đầu tiên tôi dâng lên Mẹ vô nhiễm.  Mẹ đã thương giúp tôi trở về, như Mẹ đã giúp kẻ trộm lành xưa chịu treo trên thập giá.

Bên cạnh bông hoa sám hối trồng trong dòng nước mắt ăn năn, tôi có thể lượm được một bông hoa khác.  Tôi tạm gọi nó là hoa cảm thương trôi trong dòng nước mắt bất lực không thể phục vụ.  Biết bao lần, tôi cảm thấy đau đớn vì bất lực trong việc loan báo Tin Mừng.  Tôi nghĩ Đức Mẹ xưa đã khóc khi phải chấp nhận âm thầm bồng con trốn sang Ai Cập và ở lại đó ẩn mình trong cảnh nghèo khó (Mt 2,13-18).

Đức Mẹ chắc cũng đã khóc, khi phải chứng kiến cảnh con mình bị hành hạ và bị giết (Ga 19,25-27).  Mẹ đã không cứu được con mình.  Nhưng Chúa lại muốn như vậy.  Sự vâng lời như thế còn đau hơn là chết.

Chương trình cứu độ của Chúa rất khác ý nghĩ của con người.  Chúng ta tưởng sẽ cứu được các linh hồn và làm vinh danh Chúa, nhờ những phô trương quyền bính, cao rao chức tước, thổi phồng uy tín, tổ chức lễ lạt linh đình.  Nhưng tất cả sẽ không có giá trị bằng sự vâng phục ý Chúa.  Ý Chúa là muốn ta chấp nhận hạ mình xuống, đi theo con đường Chúa cứu thế đã đi, và Đức Mẹ vô nhiễm cũng đã vâng ý Chúa bước theo từng bước.

Ngoài ra, biết bao lần, tôi cảm thương đau đớn vì bất lực trong việc cứu giúp những người cần được giúp đỡ, hoặc về vật chất hoặc về tinh thần.  Tôi muốn giúp.  Nhưng ý muốn của tôi đụng vào những giới hạn khắp nơi của tôi.  Những giới hạn đó càng ngày càng lớn, khi tuổi tác bệnh tật càng tăng lên.  Phục vụ trong những tình trạng này sẽ chỉ còn là tập trung vào cầu nguyện và dâng đau khổ với tình yêu siêu nhiên lên Chúa giàu lòng thương xót, qua trái tim Mẹ vô nhiễm, để góp phần nào vào việc loan báo Tin Mừng.

Chính trong những tình trạng này, mà tôi được thu hút nhiều hơn đến việc lắng nghe Đức Mẹ nhắn nhủ con cái Mẹ đang sống trong thời điểm hiện nay.

Lắng nghe.

 Thời điểm hôm nay là một thời điểm rất đáng ngại.  Ngại vì ma quỉ và thế tục xấu đang cố tình tạo ra một môi trường ô nhiễm.  Tôi không muốn nói về môi trường ô nhiễm sinh thái, mà về môi trường phong hoá và luân lý.

Ô nhiễm khắp nơi.  Ai cũng phải sống chung với ô nhiễm.  Nhưng khả năng và mức độ chịu ảnh hưởng ô nhiễm sẽ tuỳ theo ba cái mốc này: Nơi chốn, lứa tuổi và giới phái.

Nơi chốn là một nước, một vùng, hoặc một văn hoá, một tôn giáo hay không tôn giáo, hoặc một giai cấp, một mức sống, một tổ chức.  Có nơi ô nhiễm hơn nơi khác.  Lứa tuổi là lớp già, lớp thanh niên, lớp thiếu nhi, lớp trẻ thơ.  Có lớp tuổi dễ bị ô nhiễm hơn lớp tuổi khác.  Giới phái là nam, là nữ.  Có giới phái dễ bị ô nhiễm hơn giới phái khác.

Hiện nay, làm sóng ô nhiễm mạnh nhất về phong hoá là hưởng thụ độc hại.  Người ta tìm mọi cách để tìm hưởng thụ đó.  Hưởng thụ nhờ danh vọng, chức tước, địa vị, quyền lợi, tiền bạc, ăn uống, tiện nghi, giải trí, sắc dục, vv….  Nếu không cảnh giác, thì cả những gì vốn được tôn trọng là thánh thiêng, cũng có thể bị lợi dụng cho mục đích hưởng thụ xấu xa.

Trước một nguy cơ lớn mạnh và tinh vi có khả năng tiêu diệt những giá trị thiêng liêng, đẩy các linh hồn vào tay thần dữ, để chúng tha hồ lôi xuống hoả ngục, Đức Mẹ vô nhiễm đã hiện ra ở Lộ Đức, ở Fatima, ở Mễ Du và nhiều nơi khác, để tha thiết kêu gọi nhân loại sám hối, khiêm tốn đi vào đàng thiện.  Kẻo sẽ quá muộn.

Vậy ta hãy lắng nghe Mẹ, mà vâng phục ý Chúa.  Chính bản thân ta hãy trở thành đền thờ Chúa Thánh Thần, trong đó ta được hưởng thụ những gì là chân thiện mỹ, bình an, hạnh phúc đích thực và bền vững.

Tôi có cảm tưởng là nhiều người hiện nay đang sống như không có lương tâm, hoặc với một cái tâm đã lạnh cứng.  Không còn khả năng rung cảm với những nỗi đau của Chúa, của Đức Mẹ, của Hội Thánh, của những kẻ khốn cùng đang dở sống dở chết xung quanh mình.

Nhưng tôi vẫn tin vững vàng lời Chúa phán trong Phúc Âm: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).  Nhất là với lời cầu bầu của Đức Mẹ vô nhiễm.  Nên sự phục hưng lại Hội Thánh giữa một thế giới đầy ô nhiễm sẽ thực hiện được.

Nhưng đừng quên sự phục hưng như thế phải bắt đầu từ mỗi người chúng ta, con cái của Mẹ vô nhiễm.

Trong mỗi người, việc phục hưng sẽ bắt đầu và nhấn mạnh ở cái tâm.  Cái tâm làm sao giữ không bị nhiễm, sẽ dẫn đưa tất cả con người về đàng thiện.  Không bị nhiễm là nhờ thánh giá.  Hoặc bị nhiễm mà được rửa sạch cũng là nhờ thánh giá.

Chúng ta ít là hãy ước muốn việc đó, và dâng ước muốn chân thành đó lên trái tim Mẹ vô nhiễm.  Người là Mẹ Chúa Cứu thế và cũng là mẹ chúng ta.  Người là hy vọng của những ai sống bé mọn và tín thác nơi trái tim vô nhiễm đầy tình mẫu tử dịu dàng xót thương của Người.  Người là nơi trú ẩn của những kẻ lỗi lầm biết sám hối.  Người là Đấng cầu bầu đắc lực nhất trước toà Chúa cho tất cả những ai tin tưởng nơi Người.

ĐGM. Bùi Tuần

From: Langthangchieutim

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Bang Uong

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Nhiều người hay than thở rằng cuộc đời này thật bất công. Thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ quý giá nhất trên đời này đều miễn phí. Cuộc sống vốn đơn giản, chỉ có điều chúng ta luôn làm cho mọi thứ phức tạp lên mà thôi.

* Ánh sáng mặt trời là miễn phí

Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ diệu đó chưa?

* Không khí là miễn phí

Phật dạy mạng người mong manh như hơi thở. Chúng ta có thể nhịn ăn vài tuần mà không chết, chúng ta có thể chịu khát được một vài ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút là chúng ta sẽ chết. Chúng ta đang được hít thở không khí miễn phí nhưng lại coi đó là đương nhiên và không trân trọng, bởi vậy nên chúng ta thản nhiên phá hại môi trường, làm ô nhiễm bầu không khí chung. Có khi nào bạn ngồi thư giãn hít thở dưới tán cây xanh? Hãy tri ân nếu bạn đang có không khí trong lành miễn phí để thở hàng ngày.

* Tình yêu thương là miễn phí

Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình rằng: “con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.

Tình yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn nhận được tình yêu thương này trước sau như một. Nếu bạn đang được sống trong tình yêu thương của gia đình, người thân, hãy biết ơn điều đó.

* Tình bạn là miễn phí

Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng, người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?

* Nụ cười

Mọi người vẫn thường nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, nụ cười đem đến rất nhiều lợi ích: giảm căng thẳng, tăng hưng phấn, khiến mọi người thêm gần gũi và yêu thương nhau hơn… Và đặc biệt, không ai “đánh thuế” nụ cười cả, vậy tại sao chúng ta không cùng cười thật tươi hằng ngày để cho cuộc đời thêm vui nhỉ?

* Những cái ôm nồng ấm

Một điều cực kì tuyệt vời nữa trong cuộc sống bạn có thể thoải mái trao và nhận, đó chính là những cái ôm. Bạn đâu có phải trả phí khi muốn ai đó ôm mình hay muốn ôm người bạn yêu thương đúng không? Vậy còn chần chừ gì nữa mà không thoải mái thể hiện tình cảm chân thành nhất của bản thân với những cái ôm.

* Những kỉ niệm đẹp

Có những ký ức đẹp có thể tiếp thêm động lực cho chúng ta vào những lúc khó khăn hoặc bất cứ khi nào cần, nó hoàn toàn miễn phí. Thay vì tiếc nuối quá khứ đã qua, hãy để những kỷ niệm đẹp cho chúng ta thêm niềm tin yêu cuộc đời.

* Hy vọng là miễn phí

Bất luận bạn đang giàu có hay nghèo đói, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình. Mục tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.

Còn có gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì sao lấp lánh trên trời…

Vậy nên bạn đừng có than thở nữa, hãy quan sát cuộc sống để thấy những điều tốt đẹp luôn hiện hữu. Hãy tri ân cuộc sống và hân hưởng những gì mình đang có.

ST

  Người phu xe hiếm có

   Người phu xe hiếm có

Tinh thần quốc dân của người Nhật qua chuyện “Người phu xe hiếm có”

Phan Bội Châu

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu không biết chữ Hán bèn đi tìm một đồng nghiệp khác biết chữ. Người này viết chữ trao đổi: “Bạn tôi không thông chữ Hán nên tiến tôi với các ông. Tôi biết chữ Hán nên nếu muốn đi đâu, các ông cứ viết chữ ra là tôi đưa các ông tới”.

Nói rồi, người phu đưa 2 ông tới Chấn Võ Học Hiệu, hỏi học sinh Ân Thừa Hiến. Té ra anh này đang thuê nhà nơi khác chờ qua năm, không ai biết ở đâu.

Người phu xe nghĩ một lúc rồi kéo xe vào bên đường và nói: “Các ngài hãy cứ chờ tôi ở đây vài ba tiếng, tôi đi tìm chỗ ở của người đó, rồi sẽ quay lại”.

Đứng chờ từ 2h đến 5h chiều, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ nghĩ, Tokyo quá rộng, lữ quán có muôn nhà, tìm chỗ ở một học sinh Tàu, gốc Vân Nam chỉ biết tên thiệt không lấy gì làm chắc, nếu cùng một nết với dân Việt, e sẽ khốn nạn với vấn đề tiền nong… Ai dè sau 3h, anh phu xe mừng rỡ chạy về, dắt hai người đi thêm 1 tiếng, đến một lữ quán có treo biển với hàng chữ “Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”.

Giờ mới hỏi đến tiền công, anh phu nói: “Hai hào năm xu”. Phan Bội Châu làm lạ, rút một đồng bạc ra trao và tỏ tấm lòng đền ơn. Người phu xe đáp lại khảng khái: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước NHẬT mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người NHẬT BẢN đó!”.

Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ tạ ơn người phu xe đáng kính, lòng thêm tủi!

Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với người phu xe Nhật Bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!

(Tự phán, Phan Bội Châu)

From: TU-PHUNG

Lợi ích của đọc sách

Lợi ích của đọc sách

Có một chú tiểu sống trên núi cùng với sư phụ tại một ngôi chùa nhỏ, cậu bé rất chăm chỉ làm các việc đã được giao phó như gánh nước, nấu cơm, quét dọn bụi bặm… nhưng riêng việc đọc sách cùng sư phụ là cậu không hào hứng cho lắm.

Trong khi đó, ngày nào sư phụ cũng không quên nhắc cậu đọc sách, cậu thắc mắc: “Tại sao chúng ta phải đọc nhiều sách như vậy, con thấy việc đọc sách có ích gì đâu?”.

Sư phụ nghe vậy bèn mỉm cười nói với cậu ngày mai hãy mang cái giỏ dính đầy than bẩn để xách nước thay vì cái thùng hay xách bấy lâu nay. Chú tiểu mặc dù không hiểu nhưng vì đó là yêu cầu của sư phụ nên chú đành nghe và làm theo. Ngày nào cũng mang cái giỏ đi để xách nước nhưng bao nhiêu nước cũng chảy hết qua cái lỗ trên giỏ, không thể mang chút nước nào về nhà.Khi cậu thắc mắc về việc này thì sư phụ nói hãy cứ tiếp tục và cậu vâng lời nhưng chẳng được bao lâu. Nỗi thất vọng ngày càng lớn khi ngày nào cũng phải làm việc vô ích này khiến cậu chán nản, đến khi không chịu được nữa cậu nói với sư phụ rằng từ ngày mai mình sẽ không đi xách nước nữa.

Sư phụ mỉm cười, bảo chú tiểu lấy cái giỏ ra đây và ôn tồn nói: “Con nghĩ việc làm của con là vô ích sao? Hãy nhìn thử xem, cái giỏ này trước kia đựng than đen nhẻm nhưng từ ngày con lấy nó để xách nước nó đã sạch trong không còn lấm lem vết than như xưa nữa.

Việc đọc sách cũng vậy, lợi ích của nó không thấy được bằng mắt, không phải ngày một ngày hai để mong thành công nhưng không có nghĩa là quá trình này trải qua vô nghĩa. Con đọc một quyển sách mỗi ngày, tâm hồn sẽ được rửa trôi một ít, đến khi đủ thì sẽ sạch bong như cái giỏ than này”.

Chú tiểu hiểu ra, thầm cảm ơn sư phụ và từ đó không còn chán ghét việc đọc sách nữa.

Nhìn chung có rất nhiều lợi ích của đọc sách như để giải trí, để có thói quen lành mạnh, hoàn thiện kỹ năng viết, nâng cao kiến thức, kích thích tinh thần, cải thiện trí nhớ… Thế nhưng hầu hết chúng ta né tránh chúng chỉ vì một chữ LƯỜI và bao biện rằng không có thời gian, trong khi họ chỉ cần 20-30 phút mỗi ngày để cho não mình được “ăn” mà họ không chịu thực hiện.

Cơ thể chúng ta muốn nạp năng lượng thông qua việc tiêu thụ thức ăn, còn não của chúng ta cũng vẫn hàng ngày cần “ăn” nhưng ta chẳng bao giờ chịu chăm sóc chúng.

Có hai cách để bạn có được kiến thức: một là tự học, tự đọc và tìm hiểu, cách thứ hai là có một người thầy chỉ dẫn. Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bao lâu nay vẫn sẵn sàng ở bên chúng ta nhưng không phải ai cũng nhận ra.

Nếu bạn phải học qua thực tế, qua vấp ngã của chính mình thì điều đó không chỉ gây đau đớn mà còn tốn rất nhiều thời gian. Cách để giảm bớt rủi ro và rút ngắn thời gian đó là thông qua sách vở.

Đọc sách như là một cách để trò chuyện với những bộ não vĩ đại nhất trên thế giới này khi họ đã ghi ra những kiến thức, hiểu biết của mình vào những cuốn sách sống mãi với thời gian.

Sách là tri thức lưu truyền mãi cho thế hệ về sau, là những công trình nghiên cứu, là nguồn kiến thức tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Vì vậy đừng nghi ngờ về ý nghĩa của việc đọc sách, hay có suy nghĩ chúng chẳng có tác động gì đến cá nhân bạn cả.Không có quyển sách nào vô ích cả, tiểu thuyết, sách văn học, sách kinh doanh, sách dạy kỹ năng mềm, sách hội họa, âm nhạc, lịch sử… đều cho ta những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống này. Bằng một cách vô tình nào đó, tất cả đều tác động đến nhân cách cũng như cuộc sống mỗi người chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó mà thôi.

S.T.

From: TU-PHUNG

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Trên đời có 3 thứ làm ta đau khổ: Rượu  ngon làm ta mất trí, tiền nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ

J.P.  Sartre

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Ông đã để lại cho chúng ta 4 lời phát biểu như sau:

1.Không có gì là vĩnh cửu trong cái thế giới này,kể cả những phiền muộn của chúng ta.

2.Tôi thích đi dạo dưới trời mưa,vì không ai có thể nhìn thấy tôi rơi nước mắt.

3.Ngày mất mát nhiều nhất trong đời là ngày chúng ta không cười.

4.Có 6 vị bác sĩ giỏi nhất trên thế giới là:

-Mặt trời.

-Sự nghỉ ngơi.

-Thể dục.

-Ăn kiêng.

-Lòng tự trọng.

-Bạn hữu.

Hãy thực hiện 4 điều đó trong tất cả giai đoạn của cuộc đời mình và hãy tận hưởng cuộc sống khỏe mạnh..

Nếu bạn nhìn thấy mặt trăng, bạn nhìn thấy vẻ đẹp của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy mặt trời, bạn nhìn thấy sức mạnh của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy tấm gương, bạn nhìn thấy tác phẩm đẹp nhất của Thượng đế.

Hãy tin điều đó, tất cả chúng ta là những du khách, Thượng đế là hãng lữ hành của chúng ta, người xác định lộ trình, đặt chỗ, nơi đến…

Hãy tin Thượng đế và tận hưởng cuộc sống.

Cuộc đời là một chuyến lưu hành, vì vậy hãy sống cho ngày hôm nay…

Ngày mai có thể sẽ không đến.

St.

From: TU-PHUNG

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Phạm Trọng Chánh – Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Sorbonne, Paris

Tượng Hồ Xuân Hương. (nguồn: https://en.wikipedia.org)

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, đó là lý do khiến Tốn Phong trong 31 bài thơ tặng Xuân Hương, đã có 29 bài nhắc đến Mai, có bài nhắc đến hai ba lần. Hồ Phi Mai hiệu là Xuân Hương, hoa mai bay trên hồ nơi ngắm cảnh xuân, Mai là hương hoa mùa xuân.

Hồ Xuân Hương xuất thân từ một gia đình danh giá. Hoàng các khấu lai chân vọng tộc, bài 1, thơ Tốn Phong. Hoàng các vốn gia đình vọng tộc.

Thân phụ là Hồ Phi Diễn sinh năm 1703 và mất năm 1786. Năm 20 tuổi ông đậu Tam Trường (Tú Tài) khoa Thi Hương đời Bảo Thái thứ tư, tức năm Quý Mão 1723. Ông đồ Nghệ phiêu bạt đi dạy học tại Hải Dương và kết hôn với mẹ nàng họ Hà quê Hải Dương, ông sinh Hồ Phi Mai lúc 69 tuổi, ông mất lúc Hồ Phi Mai 14 tuổi, bà mẹ sinh nàng có lẽ lúc khoảng hai mươi và còn sống đến sau năm 1814, năm Tốn Phong trở lại đề tựa Lưu Hương Ký và tặng thêm 21 bài thơ, Tốn Phong đã biết đến Hồ Xuân Hương đã yêu và hứa hẹn với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển nên chúc mừng ; « Xe loan mong sớm với người xa. » Nhưng mãi đến hai năm sau Trần Phúc Hiển mới rước nàng về Vịnh Hạ Long. Mẹ Hồ Xuân Hương mất trong khoảng thời gian này nên nàng phải cư tang ít nhất một năm.

Hồ Phi Diễn chánh quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Họ Hồ tại Quỳnh Lưu rất có tiếng tại Nghệ An và có từ đời nhà Hậu Hán cai trị (917-971). Viên Thái Thú Diễn Châu là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật làm nhà ở đây, con cháu phồn thịnh sau khi nước nhà độc lập. Đời Trần có chi ra Thanh Hóa sau sinh ra Hồ Quý Ly. Gia phả họ Hồ ở Nghệ An chép đến đời Trần Xương Phù (1377-1389) một cách liên tục. Đời Trần có một chi vào đất Đông Thành cùng phủ sinh Hồ Tông Thốc có ba đời Trạng nguyên. Chi ở xã Hoàn Hậu đời Lê có nhiều người đỗ Tiến sĩ nổi danh như Hồ Sĩ Dương nhà chính trị học, sử học. Riêng chi, đời thứ 8 Hồ Sĩ Anh (1618-?) đời Lê có hai người đỗ Hoàng Giáp là Hồ Phi Tích (1665-1734) đỗ năm 1700 và Hồ Sĩ Đống (1739-1785) đỗ năm 1772. Có chi ra Tây Sơn đổi họ Nguyễn, Hồ Phi Phúc sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, do đó vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống và nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Tú tài Hồ Phi Hội cùng có một ông tổ đời thứ 8 là Hồ Sĩ Anh. Ngày xưa bà con bốn đời là rất gần. Tốn Phong biết đến Hồ Xuân Hương vì nàng là em của quan lớn họ Hồ. Phạm Đình Hổ trong bài Thi Ca trong Vũ Trung Tùy bút, đã viết Hồ Sĩ Đống, Hoàn Hậu Công là một trong ba bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng cùng với Nguyễn Tông Khuê (thầy của Lê Quý Đôn) và Nguyễn Huy Oánh (cha Nguyễn Huy Tự, học trò hơn 30 người đỗ Tiến Sĩ).

Khi Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du bị nạn kiêu binh phải bỏ trốn lên Sơn Tây với Nguyễn Điều, thì Hồ Sĩ Đống được Chúa Trịnh gọi về thay chức Hành Tham Tụng (quyền Thủ Tướng), Hồ Sĩ Đống đã làm yên được kiêu binh, Hồ Sĩ Đống còn được gửi vào Phú Xuân, có lẽ Chúa Trịnh mong muốn thương thuyết với anh em Tây Sơn, nhưng Tây Sơn đang bận những chiến trận với Chúa Nguyễn phương Nam nên không gặp. Hồ Sĩ Đống từng làm Phó Sứ năm Mậu Tuất 1778, khi đi đến Động Đình Hồ, Chánh Sứ Võ Khâm Tự tự tử và đốt tờ biểu xin sắc phong vương của Chúa Trịnh Sâm thay vua Lê, Hồ Sĩ Đống thay thế làm Chánh Sứ, Nguyễn Trọng Đan làm Phó Sứ, cuộc đi sứ hoàn tất trở về và Chúa Trịnh cũng không dám hỏi ông việc xin phong vương, Hồ Sĩ Đống sống thanh liêm giản dị, chu tất việc triều chính, ông mất sớm năm 1885 chỉ mới 46 tuổi, ông được mọi người đều thương tiếc, nhà Trịnh vua Lê cũng sụp đổ một năm sau đó.

Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên tại làng Nghi Tàm bên Hồ Tây, nơi nổi tiếng nghề dệt lụa, làm giấy, dệt lĩnh đen và trồng hoa. Tây Hồ có cảnh đẹp Tây Hồ Bát Cảnh, một thi xã đời Vĩnh Hựu (1735-1739) đã ca tụng tám cảnh đẹp quanh Tây Hồ :

– Bến Trúc Nghi Tàm, bến tắm chúa Trịnh Giang dưới dãy trúc ngà làng Nghi Tàm.

– Rừng bàng Yên Thái, rừng bàng trên núi đất làng Bưởi do chúa Trịnh Giang bắt trồng.

– Đàn thề Đồng Cổ do vua Lý Thái Tông xây để hàng năm quần thần đến thề để tỏ lòng trung hiếu.

– Phật say làng Thụy. Pho tượng Phật chống gậy dáng đi như người say rượu ở chùa Làng Thụy Chương. (Làng Thụy Khuê có nghề nấu rượu rất ngon nên Phật cũng say).

– Sâm cầm rợp bóng. Nghề săn ngỗng trời các làng quanh Hồ Tây, do ngỗng mập mạp, người ta cho rằng ngỗng ăn sâm từ Cao Ly bay về nên gọi là sâm cầm.

– Đồng hoa Nghi Tàm, làng Nghi Tàm làm nghề trồng hoa có những vườn hoa rất đẹp.

– Chợ đêm Khán Xuân, Chúa Trịnh thường họp chợ đêm cùng các cung nữ, thái giám giả làm người mua bán làm vui. Khu đất ngày xưa rất rộng nơi đình làng Nghi Tàm ngày nay. Bên cạnh có ngôi Gác Tía của Nguyễn Khản làm nơi câu cá hầu Chúa Trịnh.

Cổ Nguyệt Đường được xây dựng khoảng năm 1783, ngày xưa khi thầy được 80 tuổi, để mừng thọ thầy, học trò lớn, bé, làm quan hay không đều góp công góp sức xây nhà cho thầy. Do việc xây cất bề bộn, Hồ Xuân Hương được gửi về quê nội Quỳnh Lưu, đó là dịp Hồ Xuân Hương xướng họa với Dương Tri Tạn. Cổ Nguyệt Đường là một cơ ngơi rộng rãi, theo thơ Tốn Phong gọi là viện hay mai đình có tả viện là nơi tiếp khách, phòng ăn, nơi bán sách giấy bút mực của vợ và con gái thầy. nghĩa có tiền viện nơi thờ phượng, hữu viện nơi dạy học và hậu viện phòng ngủ, chính giữa là khoảng sân rộng có hòn non bộ, chậu kiểng và bếp. Phong cách kiến trúc hình chữ khẩu, hình vuông ngày nay còn lại trong các ngôi nhà cổ, đình chùa Việt Nam. Nhà quay mặt hướng Đông (Đối mặt trời xanh mưa móc thuận, bài 1), trước Cổ Nguyệt Đường có cây bàng lớn, (Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình, bài 6 ), cạnh Bến Trúc Nghi Tàm (Bến Trúc mừng vui gặp mỹ nhân, bài 25), quanh nhà có trồng nhiều hoa (Nàng đây đối mặt giữa hoa ngàn, bài 7). Khi cụ Hồ Phi Diễn mất năm 1786, người trưởng tràng là Tử Minh tức Cả Tân thay thầy dạy học. Ba bài thơ Hồ Xuân Hương khóc Tử Minh là có những chi tiết quý báu. Khi Tử Minh mất năm 1811, 40 tuổi để lại vợ và hai con trai, Hồ Xuân Hương ngừng đi buôn do tình hình bất an do loạn Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục (1810-1822) vùng Sơn Nam, nàng trở về đảm nhận lớp học. Học trò nàng có hai con Tử Minh và cô Nguyễn Thị Hinh tức là bà Huyện Thanh Quan sau này, về sau bà học với Tiến sĩ Phạm Quý Thích, chung lớp với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.

Cổ Nguyệt Đường dùng đèn bạc khác với mọi người dùng đèn đất, hay đèn sứ và có cả hồ đồng để coi giờ theo mực nước, là một cơ ngơi khá giả đương thời. Năm 1892 Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại về làng Nghi Tàm chép thơ Hồ Xuân Hương, thì hai người con Tử Minh, nếu còn sống cũng khoảng 80 tuổi, Hồ Xuân Hương không con cháu, hai người con trai Tử Minh là người thân thiết nhất trong gia đình đã sưu tập thơ Hồ Xuân Hương và trông coi Cổ Nguyệt Đường. Ba bài thơ Khóc Tử Minh là bằng chứng của việc này vì thơ phúng điếu chỉ có gia đình người quá cố cất giữ. Tập thơ này nhiều bài lẫn lộn với thơ vua Lê Thánh Tôn, tôi cho rằng đó là những bài thơ Hồ Xuân Hương yêu thích, là mẫu mực thi ca của bậc thầy, cần thiết trả lại các bài thơ Chợ Trời, Đánh Đu, đền Khán Xuân.. cho ông Vua Thơ Nôm Lê Thánh Tôn, không thể sửa đổi vài chữ rồi cho rằng thơ ấy hay hơn thơ vua Lê, phải công nhận là thơ Hồ Xuân Hương như Xuân Diệu viết trong sách Các nhà thơ Cổ Điển. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến từng làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ đã viết Giai Nhân Dị Mặc dựa theo văn bản này. Văn bản này còn lưu trử tại Société Asiatique tại Paris, Giáo sư Maurice Durand đã dùng để viết sách L ́Oeuvre de la poétesse vietnamienne Hồ Xuân Hương EFEO Paris 1968.

Thuở nhỏ Hồ Xuân Hương học chữ với cha, cha mất năm Hồ Xuân Hương 14 tuổi, có lẽ nàng tiếp tục đọc sách và học hỏi với trưởng tràng Tử Minh. Mẹ bán quán giấy bút, sách nôm, nghề bán giấy bút và sách vở ngày xưa là nghề của vợ và con gái các thầy đồ, vì người bán cũng biết đọc và đọc qua các sách. Từ nhỏ Hồ Xuân Hương chăm chỉ đọc sách vừa ăn trầu, làm bếp cũng nhớ chuyện sử sách : “Mở sách ra rồi lại nhá trầu” (thơ Dương Tri Tạn), hay “Học thói Bàn Canh nấu bún Thang”. Cổ Nguyệt Đường còn có nghề dệt và trồng hoa có gia nhân chăm sóc. Các chú dẫn trong thơ Văn bản Landes, Hồ Xuân Hương thường đi lễ chùa du xuân, lễ Thanh Minh với bạn gái vợ Tử Minh và các học trò trai gái.

Có thể chia tác phẩm Hồ Xuân Hương làm ba phần:

– Thơ văn Hồ Xuân Hương theo văn bản Anthony Landes trước năm 1892, (thời kỳ này chưa có Trường Viễn Đông Bác Cổ, ông là người đầu tiên mướn người sao chép sách cổ Việt Nam, Landes chết đuối trên sông Sài Gòn năm 1892) văn bản gồm những bài thơ truyền khẩu. Những bài thơ ứng khẩu thời Hồ Xuân Hương không chép thành thi tập. Các văn bản về sau của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và nhà in Xuân Lan.. dựa theo văn bản này.

– Thơ Lưu Hương Ký, Tốn Phong đề tựa là những bài thơ viết về chuyện tình mình với các danh sĩ Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển.

– Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập những bài thơ viết trao đổi với Nguyễn Du và các bài thơ trong thời kỳ sống với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Tập thơ này bị phân tán làm nhiều mãnh.

Cổ Nguyệt Đường chiết tự chữ Hán chữ Hồ, chữ Cổ là xưa và chữ Nguyệt là trăng , là nơi Hồ Xuân Hương dạy học, bên cạnh có quán trà của bà mẹ đã là Phòng Khách Văn Học của Việt Nam đầu thế kỷ 19. Là nơi các tao nhân mặc khách, các nhà thơ lớn đương thời xướng họa : Thi hào Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ tác giả Vũ Trung Tùy Bút, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh. Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, Tốn Phong Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Tử Minh, Cư Đình và cả một Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường 28 người mà Trần Ngọc Quán được bầu làm Thi Tướng. Bản Lưu Hương Ký còn lưu lại tại nhà cụ Cử Nguyễn Văn Tú làng Hành Thiện và bản Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập ông Trần Tường tìm ra tại Nam Định năm 1974, có lẽ là từ những người có chân trong Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường.

Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập là tập thơ cuối cùng của Hồ Xuân Hương. Tập thơ này đã được Miên Thẩm Tùng Thiện Vương và đại thần Trương Đăng Quế đọc, nên họ so sánh Hồ Xuân Hương với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh. Tập thơ này gồm các bài : Tưởng đáo nhân tình, Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, Vịnh Thạch Phu Phụ, Quá Khinh Dao từ hoài cổ, Ngư Ông khúc hành, Tái ngoại văn châm, Bán chẩm thư hoài.. Tám bài Vịnh cảnh Hạ Long (nay còn 5 bài) và tám bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn.. Các tác giả thế kỷ 19 không nhìn Hồ Xuân Hương như một nhà thơ dâm tục.

Năm Hồ Phi Mai, 18 tuổi, năm 1790, Nguyễn Du sau ba năm lưu lạc giang hồ Trung Quốc, sau cuộc khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông, tỉnh Thái Nguyên thất bại, cùng Quyền Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Đăng Tiến tức Nguyễn Đại Lang (trong Thanh Hiên thi tập), Cai Già (trong Lịch Triều Tạp Kỷ) Cai Gia (trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí) và Nguyễn Quýnh (tức Nguyễn Sĩ Hữu) họ bị chỉ huy Giáo bắt và giải về cho Vũ Văn Nhậm (theo Lê Quý Kỷ Sự, tr. 100). Nhậm trân trọng khí khái tha chết và cho muốn đi đâu thì đi. Hai câu : “Sinh tử giao tình tại, Tồn vong cùng khổ khi” bài Biệt Nguyễn Đại Lang của Nguyễn Du cho biết ông cũng bị bắt và cùng được tha trong trận này. Sau đó họ lên đường đi Vân Nam, nơi cách Trường An ngàn dậm, có tuyết, có lá vàng rơi, trưởng giả còn ăn mặc theo thời nhà Hán (không thắt bính đuôi sam, ăn vận theo nhà Thanh) và không dùng lịch nhà Tần (họ dùng lịch theo Tây Tạng). Tại Vân Nam, vì không quen khí hậu miền núi Nguyễn Du bị bệnh ba tháng xuân, phải bán con ngựa đi đường và ở nhà người thầy thuốc để chữa bệnh (Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ), Vườn thuốc đìu hiu lạnh trúc thưa, bài Sơn cư mạn hứng). Hết bệnh Nguyễn Du thực hiện ước mơ mình, “Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại”, Ước gì thoát khỏi vòng trần tục (bài Sơn Thôn), Nguyễn Du đã xuất gia thành nhà sư mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu dùng cho đến năm 1796, hai bài thơ Chí Hiên tặng trong Lưu Hương Ký. Theo gương Lý Bạch lúc 21 tuổi, mặc áo trắng đạo sĩ, mang trường kiếm đi ngao du khắp Ngũ hồ và các sông Giang Bắc Giang Nam, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân nơi các đạo quán trên đường đi. Nguyễn Du thành nhà sư Chí Hiên, cũng “Giang Nam Giang Bắc nhất nang không”, (bài Mạn Hứng II), Giang Bắc, Giang Nam một túi không, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân trong các chùa trên đường đi, tụng kinh Kim Cương, nhà chùa đãi cho món ăn rau đậu,và tặng xôi oản. Trong túi vải Nguyễn Du có bản Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn, quyển sách được trí thức Bắc Hà yêu chuộng thời bấy giờ, Nguyễn Du đi khoảng gần 5000 km (Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh, Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế, bài Mạn Hứng II) và đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (ba năm) bài Phân Kinh Thạch Đài.

Đến Liễu Cao Lâm, Liễu Châu họ chia tay nhau, Nguyễn Đại Lang về thăm quê cũ ở Việt Đông, vùng Quế Lâm cao sơn lưu thủy, và hẹn gặp lại tại Trung Châu. Nguyễn Sĩ Hữu trở về làm chủ Hồng Lĩnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nguyễn Du đến Quế Lâm thăm mộ Quế Lâm Cù Các Bộ và lăng mộ Quế Vương nhà Minh (khi đi sứ sang triều đình nhà Thanh, Nguyễn Du ở công quán không thể đi thăm mộ và di tích những người Phản Thanh Phục Minh), sau đó đi theo sông Tương, Mịch Giang thăm nơi Khuất Nguyên trầm mình. (Viết bài Ngũ nguyệt quan cạnh độ) xem đua thuyền nhân lễ Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5, khi đi sứ Nguyễn Du qua nơi này tháng 7 và trở về tháng 3 Âm lịch. Nguyễn Du còn viết bài Phản Chiêu Hồn bài bác thơ Tống Ngọc, mượn cớ để nói chuyện chính sự Việt Nam đời Tây Sơn :”Về thành Yên thành Dĩnh làm chi nữa, Thành quách y nguyên dân sự khác, Cát bụi lấm cả quần áo người, Đi ra xe ngựa, về vênh váo, Lên mặt Cao, Quỳ tán chuyện đời..” và bài Trường Sa Giả Thái Phó : “Trời ban tài lạ không có chỗ dùng.” Khi đi sứ Nguyễn Du đã được vua Gia Long biết tài, trọng dụng tất nhiên không còn viết như thế.

Nguyễn Du đến thành Tín Dương, khi trận chiến Tây Sơn thắng Tôn Sĩ Nghị năm Kỷ Dậu 1789 đã xãy ra, cách biên giới trăm dặm dân chúng Trung Quốc hoảng sợ bỏ chạy theo tàn binh rút lui. Trận chiến làm rung động cả đất khách. (Tây Phong biến dị hương, bài Tín Dương tức sự).

Nguyễn Du đến Vũ Hán rồi sang sông Hán Dương đi Trường An (Ngã biệt phù Giang Hán) tại Trường An (tức Tây An, Thiểm Tây) làm bài Dương Phi Cố Lý, quê Dương Ngọc Hoàn tại làng Hoàng Nông huyện Hòa Âm tỉnh Thiểm Tây và Bùi Tấn Công Mộ tại Vị Thành, Trường An. Sau đó đi Lạc Dương kinh đô nhà Tùy, nơi đây có chùa Bạch Mã, ngôi chùa tổ đình, đầu tiên của Phật Giáo Trung Quốc lập năm 65 sau công nguyên, Nguyễn Du thăm đình Tô Tần , đình chỉ có tại Lạc Dương quê hương ông, Nguyễn Du viết hai bài thơ Đình Tô Tần, và bài Phân Kinh Thạch Đài có nhắc đến bạch mã. Sau đó Nguyễn Du theo kênh đào Đại Vận Hà đi Hàng Châu, nơi đây Miếu Nhạc Phi, Nguyễn Du dừng chân nơi này khá lâu nên viết 5 bài thơ. Tôi cho rằng đây là điểm hẹn “Tương kiến tại Trung Châu” với Nguyễn Đại Lang, trong bài Biệt Nguyễn Đại Lang. Trước Miếu Nhạc Phi có con đê Tô, do Tô Đông Pha khi làm Thứ Sử Hàng Châu đã cho nạo vét lòng hồ đắp thành đê, nối liền Miếu Nhạc Phi với chùa Hổ Pháo, nơi Từ Hải từng tu hành với danh hiệu Minh Sơn hòa thượng trước khi thành nụy khấu, cướp biển. Nguyễn Du có bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tân Tài Nhân nơi này, tại Hàng Châu đã khắc bản gỗ in ấn và bán thời nhà Thanh. Tôi bác bỏ thuyết cho rằng Nguyễn Du đi ngang Miếu Nhạc Phi ở Thang Âm quê hương ông vì nơi đây không có núi Thê Hà như thơ mô tả, cũng không có tượng vợ chồng Tần Cối quỳ chịu tội cùng Trương Tuấn, tên tướng bắt Nhạc Phi và tên cai ngục Vạn Sĩ Tiết. Ngô Thời Nhiệm khi đi sứ triều Tây Sơn, trong Hoàng Hoa đồ phả có bài thơ Miếu Nhạc Phi tại Thang Âm.

Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang, họ cùng đi Yên Kinh (Bắc Kinh) gặp quần thần Lê Chiêu Thống, họ đã bàn việc xin nhà Thanh một tỉnh Thái Nguyên, như nhà Mạc xin Lạng Sơn, làm hương hỏa nhà Lê, nhưng không thành, vì Tể Tướng Hoà Thân tiếp sứ thần Tây Sơn do Ngô Vi Quý mang quà tặng riêng, nên đày các quần thần nhà Lê đi xa. Phan Huy Ích và Đoàn Nguyễn Tuấn có thơ tặng Ngô Vi Quý khi hai đoàn sứ gặp nhau tại Vũ Hán. Nguyễn Đại Lang cùng Nguyễn Du quay trở về đến Hoàng Châu vào mùa thu năm 1790, thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn phó sứ trong sứ đoàn Phan Huy Ích. Đoàn có tặng văn nhân họ Nguyễn hai bài thơ, cho biết họ bàn luận sôi nổi chuyện văn chương (Hồng nhan đa truân), Đoàn Nguyễn Tuấn cho tin Nguyễn Nể ( anh cùng cha cùng mẹ, còn gọi Nguyễn Đề, Nể là kính nể, Nễ dấu ngã không có nghĩa) đã ra làm quan Tây Sơn làm Hàn Lâm thị thư, đã đi sứ và cố vấn cho vua Quang Trung, ngày ngày nhà vua gióng ngựa quý sang thăm bàn việc nước. Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích phải tiếp tục đi Nhiệt Hà, cung điện mùa hè vua Càn Long đang nghỉ nơi này, và hẹn gặp lại Nguyễn Du vào mùa xuân. Nguyễn Du đi xe song mã về đến Long Châu, sông Long Thủy, xóm Nam Đài và trở về Thăng Long.

Nguyễn Du về sống tại Thăng Long, nương tựa anh Nguyễn Nể, nhưng nơi dinh thự cũ bị kiêu binh phá, và trận cháy lớn do Lê Chiêu Thống sai đốt phủ Chúa Trịnh khi chúa Trịnh Bồng trốn đi, toàn bộ Thăng Long thành tro khói, Nguyễn Nể khi ra làm quan đã cho xây dựng lại mới nơi nền cũ nhà cụ Nguyễn Nghiễm tại Bích Câu. Nhưng nơi đây thường hội họp ca hát với quan tướng Tây Sơn, bài Long Thành cầm giả ca cho biết Nguyễn Du chỉ đứng trong bóng tối xem ca hát, Nguyễn Du không ở với anh mà ra ở nơi Gác Tiá, nơi câu cá của anh Thượng Thư Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Tại đây Nguyễn Du quen cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai, tuổi vừa 18, cùng đi hái sen với nàng và mối tình ba năm. (Chữ tình chốc đã ba năm vẹn, Bài Cảm Cựu kiêm trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân.) Những ngày gặp gỡ Hồ Xuân Hương viết bài Duyên kỳ ngộ và Hỏi Trăng, Nguyễn Du ghi lại mối tình cô hàng xóm bằng bài Mộng đắc thái liên (Mơ thấy hái sen).

Năm 1792, vua Quang Trung mất, Nguyễn Nể nhận được nhiệm vụ mới phải vào Phú Xuân, giữ chức vụ Trung Thư Lĩnh và dạy dỗ vua Cảnh Thịnh mới lên mười. Nguyễn Du và Nguyễn Ức được anh trao nhiệm vụ và tiền bạc về Tiên Điền xây dựng lại làng Tiên Điền, từ đường họ Nguyễn, đình làng, chùa, cầu Tiên bị tướng Lê Văn Dụ đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh chống Tây Sơn. Nguyễn Du báo tin này cho Hồ Phi Mai và nàng viết bài : Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Hồ Xuân Hương tiễn đưa Nguyễn Du về Hồng Lĩnh tại Thạch Đình, bến thuyền bên sông Vị Hoàng, Nam Định. nàng viết bài Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam) trong cuộc tiễn đưa này Nguyễn Du viết bài Thạch Đình tặng biệt, và Hồ Xuân Hương họa lại bài Họa Thanh Hiên nguyên vận.

Nguyễn Du về Tiên Điền dựng nhà tranh bên bến Giang Đình, sách vở thư viện không kém gì thư viện Phúc Giang dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu, bị đốt mười phần chỉ còn lại một hai chất bốn vách, ngoài sân trồng khóm cúc vàng, nơi này tiếp nhận gỗ, gạch chở bằng thuyền đến. Nguyễn Ức chỉ huy vẽ kiểu xây cất, Nguyễn Ức thừa hưởng cái tài khéo léo xây cất của anh Nguyễn Khản, dinh thự Chúa Trịnh đều do tay Nguyễn Khản, về sau Nguyễn Ức làm Thiêm Sự Bộ Công, kinh thành Huế thời Gia Long đều do ông vẽ kiểu và chỉ huy xây dựng, Lê Quý Thanh con Lê Quý Đôn coi phong thủy.

Thời gian Nguyễn Du ở Tiên Điền, khi có dịp người đi về, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương trao đổi thơ từ, ta có thể dễ dàng nhận ra những bài thơ đối đáp qua những chữ dùng như thanh chiên, Tây phong, nhạn ảnh, hàn trùng, giấc mộng, Tây Hồ.. được lập lại. Hồ Xuân Hương gửi bài Nhân Tặng Nguyễn Du đáp lại bằng bài Ký Hữu (Gửi bạn), nàng viết bài Thu dạ hữu hoài chàng trả lời bằng bài Thu Dạ I, nàng lại đáp bằng bài Thu Vũ, khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh vào cuối năm. Nguyễn Du lại đáp bằng bài Thu Dạ II. Hồ Xuân Hương đáp lại bằng bài Cố Kinh thu nhật dùng chữ thanh chiên, Nguyễn Du đáp bằng bài Khai Song cũng dùng lại chữ thanh chiên, Xuân Hương viết bài Thu Nhật tức sự cho biết Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du cũng đáp lại Thu nhật ký hứng , lập lại chữ Tây phong, cho biết Tây Sơn ra Bắc nên chàng không ra Thăng Long được. Hồ Xuân Hương còn cho biết có người đến ve vản nàng và mẹ thúc ép nàng nhận lời lấy chồng : “Thẩn thơ trước viện nhà khoe gió, Đồng vọng bên tai địch thét đâu. Ướm hỏi trăng già khe khắc lắm. Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.” Nguyễn Du viết bài Ký Mộng, mơ Xuân Hương về thăm mình: “Mộng đến ngọn đèn sáng, Mộng đi gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương.”. Hồ Xuân Hương bài Cảm Cựu.. nhắc lại : “Giấc mộng rồi ra nửa khắc không”.

Trở về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du làm Hồng Sơn liệp hộ, dẫn chó vàng đi săn, nhưng thương xót loài nai, hoảng nên chỉ đến để nhìn dấu mùi nai còn thơm trên cỏ ướt, không nỡ giết hại các loài, lòng chẳng cầu danh lợi, nên chỉ “đi săn” được măng non và củ mài..

Năm 1796, khi Nguyễn Ánh đánh tới thành Diên Khánh, Nguyễn Du lại làm Nam Hải điếu đồ, đi câu cá và kiếm thuyền đi về phương Nam. Nguyễn Du bị Quận công Nguyễn Văn Thận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần, chờ đến ngày bạn là Nguyễn Nể đi sứ mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con về thì thả ra. Nguyễn Du ra đến Thăng Long thì hay tin, trong lúc chàng nằm tù, thì mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang, con Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài Chí Hiên tặng, oán trách nàng tệ bạc, và “cảnh cáo” nàng : “Có mắt mà xem mặt nước non “. Nguyễn Du được Nguyễn Nể đi sứ về, mai mối cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em út họ Đoàn (sinh trước năm 1775, năm cụ Đoàn Nguyễn Thục mất). Nguyễn Du về Quỳnh Hải, Thái Bình sống cuộc đời hạnh phúc với vợ, chấm dứt cuộc đời “mười năm gió bụi”. Điều này phản bác gia phả sách vở, cho rằng mười năm gió bụi là thời gian Nguyễn Du sống nơi quê vợ, và ngược với câu thơ Nguyễn Hành viết về chú: “Giang hồ, long miếu hai điều đủ. Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh”. Nguyễn Du có cuộc đời giang hồ nghĩa là đi rong chơi trên các sông và các hồ lớn Trung Quốc như Phạm Lãi, Lý Bạch, khác nghĩa chữ “giang hồ” ngày nay. Thời gian từ 1786 đến 1796, Nguyễn Du 20 đến 30 tuổi, là thời gian mười năm gió bụi, Nguyễn Du đi rong chơi đây đó, từ Thái Nguyên đi Trung Quốc, lại về Thăng Long Tây Hồ câu cá, về Hồng Lĩnh bị tù, nhà cửa dinh thự Bích Câu lẫn Tiên Điền đều bị đốt cháy, làng Tiên Điền thành chiến địa bị làm cỏ, yêu đương lại dang dỡ với Cô Cúc làng Trường Lưu, cô Xuân Hương làng Nghi Tàm. Thu Cúc Xuân Lan thành mộng ảo. Từ năm 30 tuổi, (1796) sống hạnh phúc bên vợ, Nguyễn Du dạy văn, dạy võ, cho đến khi Gia Long ra Bắc năm 1802. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh ngựa, bò lương thực dâng sớ tiếp đón vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, nhà vua phong ngay cho Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung, trấn Sơn Nam. Sự kiện này giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương, được phong chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành nhắc đến trong bài Đi Săn.

Thơ Tốn Phong viết : “Mai quả đã từng ba độ kết”, nghĩa là Hồ Xuân Hương ba lần lấy chồng. Dựa vào thơ Lưu Hương Ký, Gs Hoàng Xuân Hãn nhận thấy có ba khoảng trống nàng vắng làm thơ: 1794-1798, 1802-1806 và 1810-1813. Tương truyền lần thứ nhất nàng lấy một thầy Lang, thầy thuốc mất sớm, nàng viết bài Bà Lang khóc chồng, lần thứ hai lấy Tổng Cóc, một viên chánh tổng tên Cóc, và lần thứ ba tri phủ Vĩnh Tường. Gs Hoàng Xuân Hãn bác bỏ việc lấy tri phủ Vĩnh Tường, vì trước năm 1822, phủ mang tên Tam Đái suốt thời Gia Long, năm 1821 đổi ra Tam Đa, năm 1822 mới đổi thành Vĩnh Tường. Do đó bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường chỉ là bài thơ do người đời sau viết, hay sửa đổi thơ Hồ Xuân Hương khóc Trần Phúc Hiển.

Khi Nguyễn Du bị tù, mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang con thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tầm, Thơ Phạm Đình Hổ bài Hoài Cổ trêu chọc Hồ Phi Mai: “Năm xưa hoa đào nở, Em tôi học cài trâm, Năm nay hoa đào nở, Mẹ gả xóm Tây gần.. Em nhìn hoa mà khóc, Sầu vương nét mi cong”. Thầy thuốc ngày xưa đi chữa bệnh, bốc thuốc cam thảo, trần bì.. anh Lang trẻ chưa có kinh nghiệm, không đọc sách Vệ Sinh Toát Yếu của Hải Thượng Lãn Ông, nên gặp những bệnh lây nhiểm như bệnh dịch, bệnh lao.. thì cũng đi đời như bệnh nhân, Hồ Xuân Hương góa chồng sớm.

Một mối tình ghi dấu trên thơ Lưu Hương Ký từ năm 1799 đến 1801, năm Hồ Xuân Hương 27, 29 tuổi là mối tình với Mai Sơn Phủ. Mai Sơn là bút hiệu, Phủ là tiếng sang trọng để xưng người đàn ông. Phạm Đình Hổ bút hiệu là Tùng Niên (cây tùng lâu đời nhựa thành hổ phách), nên gọi là Tùng Niên Phủ. Nguyễn Kính là Kính Phủ. (Nguyễn Kính thường cùng Phạm Đình Hổ đi thăm chùa Kim Liên, năm 1807 làm Tri huyện Phù Dung nơi Nguyễn Du từng trấn nhậm) Mai Sơn Phủ người Vịnh Phố, tức Vinh ngày nay. Mai Sơn Phủ yêu nàng ngỏ ý xin cưới nàng hai người từng cắt tóc, trích máu vào chung rượu thề nguyền, nếu phụ lòng nhau sẽ bị trừng phạt bằng dao búa. “Dao búa nguyền xin lụy đến mình”. Mối tình Mai Sơn Phủ đã để lại cho Hồ Xuân Hương những bài thơ tình nồng nàn thắm thiết : Thuật ý khiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ, Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ. Nguyệt dạ ca.. Bài Điệu ca Xuân Đình lan : “Tâm ở Vu Phong, Hồn ở Vu Phong. Ân ái cuộc tao phùng”, Hồ Xuân Hương thổ lộ không dấu diếm hai người đã ân ái với nhau. Mai Sơn Phủ tài thơ kém hơn Hồ Phi Mai, nên bài Thu Tứ Ca mượn cả bốn câu thơ cổ nổi tiếng tương truyền của một vị vua Trung Quốc: Thu phong khởi hề bạch vân phi.. để rồi thề thốt: Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta có đàn chừ chẳng tri âm. Và chàng thề không uống rượu và chẳng gảy đàn, chàng chỉ uống trà xanh thôi để nhớ tới nàng.

Mai Sơn Phủ từ biệt Xuân Hương, về quê làng Liên Cừ, Vịnh Phố, Phạm Đình Hổ trong bài Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, mùa hè xa cố đô, mà Hồ Phi Mai khóc sướt mướt : Sơ mai hương đậu Hoàng Giang vũ. Hoàng giang mưa điểm hương mai nở. Mùa hè làm gì có mai nở, chỉ có Phi Mai khóc.

Mai Sơn Phủ về đến quê nhà, có lẽ bị cha mẹ bắt gả vợ, chàng đã phụ lời thề hay đã chết vì dao búa trong chiến tranh ? Tháng ba năm 1801. Nguyễn Ánh chiếm Quảng Nam, sau đó thừa thắng tiến đánh Đà Nẵng, tháng năm thủy quân đánh cửa bể Tư Dung, thừa thắng kéo vào kinh thành Phú Xuân. Vua Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc, trận chiến tiếp diễn tại Nghệ An, Thanh Hoá, trấn thủ Nguyễn Văn Thận chạy ra Thanh Hoá bị bắt giết. Tháng năm Nhâm Tuất 1802. Nguyễn Ánh lập đàn ở đồng An Ninh, Phú Xuân tế trời đất lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long. Trong lúc đó Nguyễn Nể được lệnh triều Tây Sơn đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về Phú Xuân, đang kẹt trong chiến trận thì được Gia Long cho gọi đến. Gia Long tha cho Nguyễn Thiếp về quê quán, và đem theo Nguyễn Nể theo hầu để hỏi chuyện đi sứ xin phong vương. Do đó người đi theo Gia Long từ Phú Xuân ra Thăng Long không phải là Nguyễn Du như gia phả Nguyễn Tiên Điền viết mà là Nguyễn Nể.

Trong tình hình đó Hồ Xuân Hương viết bài Tự Thán I, II “Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt, Trong suốt nhân tình dạ muốn say. Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn, Một đời riêng mấy tiếng chua cay.”. Mối tình Mai Sơn Phủ chấm dứt nơi đây, ta không biết được số phận Mai Sơn Phủ thế nào, trong giai đoạn cuộc chiến dữ dội. Nhưng Hồ Xuân Hương thì đau điếng, miệng lưỡi người đời chua cay dèm pha tình nàng với Mai Sơn Phủ. Trong cơn túng quẩn, quán trà ế khách, trường thiếu học trò, chiến tranh sắp xãy ra tại Thăng Long, bỗng có chàng Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, học trò cũ của cha, đến ve vãn, rước nàng về dạy kèm cho con, đưa nàng lánh nạn lên Vĩnh Phú nay thuộc Hưng Yên, năm đó nàng 29 tuổi, mở đầu thời kỳ : Mười năm lận đận như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Thập tải phong trần quán nhỉ linh. (1801-1811)

Cóc tiếng Việt ngày xưa có nghĩa là Biết. Cóc hay thân ảo (Phú Cư trần lạc đạo của Vua Trần Nhân Tôn). Ba, bốn làng ngày xưa họp lại thành một Tổng, làng có chế độ tự trị rộng rãi, phép vua thua lệ làng, Hội đồng Hương chính do các người đàn ông thế lực trong làng cử ra. Quyền hành triều đình chỉ đến cấp huyện, do triều đình bổ nhiệm một vị Cử nhân hay Tiến sĩ trấn nhậm, Cai Tổng là một chức vị trung gian không có thực quyền, chẳng có lương bổng, liên hệ giữa Hội đồng Hương chính làng với quan Tri huyện, do đó các làng thường cử một người giàu có ruộng đất làm công việc này. Ông Cai Tổng chỉ vác ô đi ăn đám giỗ. và nhận quà cáp dân chúng biếu xén dăm con cá rô, cá lóc khi tát ao ruộng. Cai Tổng phải biết chữ nho để đọc các Sắc, Lệnh của vua quan, hay Sớ trong các buổi lễ, do đó Tổng Cóc không phải là người dốt.

Theo tài liệu Nguyễn Hữu Nhàn trong bài Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc. Hồ Xuân Hương Thơ và Đời, Văn Học Hà Nội 1989, trang 218, tài liệu do cụ Dương Văn Thâm cung cấp. Tổng Cóc người Tứ Xã tên thật là Nguyễn Bỉnh Kình, tự là Nguyễn Công Hòa, dòng dõi Nguyễn Quang Thành, đỗ Tiến sĩ năm 1680. Tổng Cóc từng là một nho sinh, từng lều chỏng đi thi nhưng không đỗ. Tổng Cóc tính ăn chơi, chẳng bao lâu cửa nhà sa sút, vợ Cả ghen. Tổng Cóc bỏ đi biệt sau khi Hồ Xuân Hưng có thai ba tháng.

Bài thơ Gửi Tổng Cóc, câu thơ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi, nói ngược lại sự việc trên. Hồ Xuân Hương bỏ Tổng Cóc, chứ không phải Tổng Cóc bỏ Hồ Xuân Hương, cũng không phải Tổng Cóc chết, Hồ Xuân Hương mắng nhiếc, như Xuân Diệu và nhiều nhà bình thơ giải thích. Cóc ngày xưa vào nền nhà bằng đất, cóc thường trốn vào gầm giường xó bếp, đánh đuổi đi cóc cũng trở lại chỗ cũ, chỉ có bôi chút vôi ăn trầu vào cóc là cóc bỏ đi mất tiêu. Do đó câu thơ có nghĩa là: Dù có cho tôi nghìn vàng, tôi cũng không trở về với anh, như cóc đã bị bôi vôi.

Hồ Xuân Hương, trở về Tây Hồ, theo tôi do nàng nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Câu thơ “Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như.” Có nghĩa là Không biết rồi đây ba trăm năm nữa, Ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Hiểu “tố như” là Nguyễn Du là chuyện phi lý, sáu câu đầu viết về nàng Tiểu Thanh bổng nhiên câu kết, tự hỏi ai khóc mình, là thơ lạc đề. Nguyễn Du không thể làm thơ lạc đề, Nguyễn Du không phải là phụ nữ, cũng không phải là kẻ đồng tính luyến ái để sánh mình với phụ nữ. Ngày xưa nam nhi không ai sánh mình với phụ nữ. Tố như chỉ xuất hiện duy nhất trong bài thơ này, Tố theo Tự điển Thiều Chửu có nghĩa là tơ trắng, là người (phụ nữ) phẩm hạnh cao quý, như là như thế, như vậy. Không ai chứng minh được Nguyễn Du là phụ nữ hay một người á nam á nữ, thì “tố như” chỉ là một sự lầm lẫn như người viết Gia phả Tiên Điền đã lầm như Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu thành Nguyễn Du, hay Đoàn Nguyễn Tuấn cùng Nguyễn Du chống Tây Sơn tại Quỳnh Hải, trong lúc Đoàn Nguyễn Tuấn làm quan thị thần bên cạnh vua Quang Trung.. Hồ Xuân Hương trở về đáp lại thơ Nguyễn Du :”Tây Hồ hoa uyển tận thành khư”, Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu, bằng : “Tây Hồ phong cảnh vẫn như xưa.” bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn.

Việc Hồ Xuân Hương, có thai và sinh con, được Tốn Phong xác nhận : “Chốn dời, mai đã nẩy thêm cành”, tiếc thay con nàng mất sớm sau khi sinh.

Hồ Xuân Hương trở về Thăng Long, mở quán sách khoảng năm 1804-1807, với sự giúp đỡ của bạn bè như Phạm Đình Hổ cho mượn năm ba quan tiền, nàng mở quán bán sách bút kế bên trường ông Nghè Phạm Quý Thích (1760-1825), người bạn thân thiết của Nguyễn Du, mở ở Phố Nam thành Thăng Long, thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, gần đền Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không và chùa Báo Thiên (khu Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay). Nhà Nguyễn Kính cũng ở gần nơi này. Quán sách không lời vì những cậu học trò nhỏ như Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) lúc đó mới 8 tuổi, “Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, đến ngắm bà chị 35 tuổi, sắc đẹp đổ nước nghiêng thành, các quan thị từ cung vua Lê, chúa Trịnh, cung điện cháy chẳng còn nơi ở, thất nghiệp đến la cà, hay anh chàng Cư Đình không nhà sống trong đình làng.. khách hàng như thế thì chẳng mua bán được gì !.. Hồ Xuân Hương bán các sách truyện: Nữ Tú, Phương Hoa, Tuyển Phu, Chinh Phụ, Bích Câu Kỳ Ngộ.. (bài Cô Hàng Sách) và dĩ nhiên các sách Giáo khoa Nho học đương thời : Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tâm, Ấu học ngữ ngôn thi, Minh Tâm bảo giám. Minh đạo gia huấn. Tứ Thư, Ngũ Kinh.. Sách Toát Yếu, sách “học tủ” để đi thi của cụ Nghè Bùi Huy Bích dạy học làng Thịnh Liệt, Thanh Trì, và những sách do thương nhân Trung Quốc từ Quảng Đông đưa sang: Xuân Thu Chiến Quốc, Tam Quốc Chí, Liêu Trai Chí Dị, Đào Nguyên ký, Nam Hoa Kinh, Minh Sử, Tống Sử.. điều này chứng minh sau thời gian bán sách thơ Hồ Xuân Hương dùng nhiều điển tích hay lạ khác với ngày trước thơ ứng khẩu.

Thời kỳ 1807-1811. Hồ Xuân Hương xoay qua nghề đi buôn sách bút tại các nơi, thơ nàng lưu dấu nhiều nơi : Đền Sầm Nghi Đống, chùa Hương Tích ở Hà Đông, Đá ông Chồng Bà Chồng ở Tuyên Quang, Kẽm Trống ở Ninh Bình, Đèo Ba Dội núi Tam Điệp, Quán Khánh ở Thanh Hóa.. Hồ Xuân Hương bán cả sách bút cho cả các quan trấn nhậm, đó là cơ hội nàng gặp gỡ Trần Quang Tĩnh Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ (vùng Nam Định), Trần Ngọc Quán Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng tại Châu Cầu và Trần Phúc Hiển, Tri phủ Tam Đái ( Việt Trì). Các quan trấn nhậm, xa quê quán, xa vợ con gặp một người đẹp sắc nước hương trời biết xướng họa thơ, đến bán sách bút thì chắc nàng bán gì cũng mua hết. Tuy nhiên tình hình loạn nông dân Đặng Đình Siêu và Võ Đình Lục từ 1810 đến 1822 làm tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bất an, các phụ nữ xinh đẹp đi buôn có khi mất cả vốn lẫn người. Năm 1811, người bạn thân Tử Minh lại mất, để lại lớp học, vợ và hai con dại, Hồ Xuân Hương phải đảm nhận lớp học Cổ Nguyệt Đường.

Lưu Hương Ký từ đây lưu lại các mối tình xướng họa thơ văn với Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh và người chồng Trần Phúc Hiển.

Tốn Phong cùng họ với Phan My Anh, người Hoan Châu huyện Thạch Hà, nơi chánh quán. dòng họ Phan Huy Ích. Bài thơ số 10 Tốn Phong cho Hồ Xuân Hương địa chỉ: Từ biệt trường đình nàng còn nhớ. Ghi lấy Hoan Nam, Thạch Ẩn nhi. Tốn Phong họ Phan Huy tên Huân hay Nam Sơn, Huân là Gió Nam, Phong còn có nghĩa là núi, Núi Nam hiệu là Nham Giác Phu là người ẩn trong núi mà hiểu sự đời. Đến Thăng Long, Tốn Phong ở cạnh hồ Kim Âu nơi Cửa Giám (Văn Miếu), Phan Huy Ích có mở nhà học nơi này, có nhiều thầy dạy họ Phan, như Phan Mậu Hiên, có lẽ Tốn Phong là một người dạy nơi này. Sau khi Gia Long lên ngôi, triều đình Huế mở khoa thi đầu tiên năm 1807 đến năm 1813 mới mở khoa thi Hương thứ hai. Tốn Phong đi thi trường Nghệ, nhưng cả hai khoa đều hỏng. Tốn Phong đã có vợ nhưng tán tỉnh nàng “Lạ mặt dám quen cùng gió nước” tại quán sách, chàng ví mình như như anh thuyền chài lạc Vũ Lăng đến chốn Đào Nguyên, chàng ăn mặc áo xanh lục bảnh bao, xức nước hoa xạ hương : Sương xoa áo lục nhồi hương xạ, dáng đi thơn thớt: Gió lọt cành lê lướt mặt hồ. Nhưng Hồ Xuân Hương trải qua bao kinh nghiệm tình ái : Trong trần mấy kẻ tinh con mắt. Biết ngọc mà trao mới kể cho, nhưng yêu Tốn Phong thì không vì : Tơ nguyệt rày xe ba mối lại, Hỏi khách đa tình nhẽ có hay. Năm canh hồn bướm thêm bơ bãi. Ông tơ bà nguyệt không có tài se được ba mối tơ : chàng, vợ chàng và tôi vào một, Xuân Hương sợ dấn thân vào cảnh khổ một anh đồ nghèo, sợ hãi như cánh bướm bay bơ vơ bừa bãi nên từ chối. Năm 1814 gặp lại Xuân Hương, mối tình si đã hết, Xuân Hương đưa tập thơ Lưu Hương Ký cho Tốn Phong đề tựa, và kể chàng nghe những mối tình, chàng cũng cầu chúc cho Xuân Hương sớm hạnh phúc với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Chàng trở về Hoan Châu với lời thề như Tư Mã Tương Như, không lập công danh không trở lại qua cầu này, chàng đã thi hỏng, từ đó không còn trở lại gặp Xuân Hương và bạn Cư Đình ở Thăng Long.

TÌNH BẠN HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM ĐÌNH HỔ (1768-1839)

Phạm Đình Hổ là một cây bút tài hoa, Vũ Trung Tùy Bút, chuyện viết lan man trong ngày mưa, ông mô tả toàn cảnh xã hội Việt Nam, ngày nay muốn tìm hiểu về xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương không thể không đọc sách ông.

Phạm Đình Hổ chánh quán xã Đan loan huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, mồ côi cha sớm lúc 10 tuổi, năm Giáp Thìn (1784-1785), ông mới ra du học tại Thăng Long, ông xin được vào Trường Quốc Tử Giám, theo dự các buổi bình văn chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất. Ông tục gọi là Chiêu Hổ, chữ Chiêu do Chiêu Văn Quán đời vua Lê Trang Tông (1533-1548) đổi Sùng Văn Quán lập từ đời vua Lê Thánh Tông, nơi tòng học của con quan từ tam phẩm trở lên, tuy nhiên chế độ thụ nghiệp ban hành năm 1492 bỏ lâu không giảng nữa, nhưng vẫn theo tục cũ con quan từ ngũ phẩm trở lên được gọi Chiêu Văn Quán, con quan các hàm cuối gọi là Tú Lâm Cục. Cậu Chiêu, Cậu Tú bắt đầu từ thời này.

Phạm Đình Hổ cư ngụ tại Hàng Buồm, thân thiết với Nguyễn Án cư ngụ gần chùa Lý Quốc Sư, ông dạy học tại thôn Khánh Vân, hạ lưu sông Tô Lịch (nay là xã Khánh Hà). Bài thơ Quá Kim Liên trong Đông dã ngôn thi tập ông cho biết : Bèo dạt làm thân khách cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần. Chùa Kim Liên bên cạnh Cổ Nguyệt Đường là nơi Phạm Đình Hổ và bạn bè thường đến, có lẽ ông đã từng học với cụ Hồ Phi Diễn, Phạm Đình Hổ có nhiều bài thơ tả một cô gái nhỏ tuổi hơn ông, yêu hoa mai và biết làm thơ và thường đứng trước gương uốn éo như đứt ruột.

Cô gái ấy là ai ? Phạm Đình Hổ trêu cô có tình ý với anh chàng đang viết Đoạn Trường Tân Thanh ? Bài thơ Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, ông còn trêu mưa ướt cả hoa mai nở trong mùa hè. mùa hè làm gì có mai, chỉ có Phi Mai khóc sướt mướt.

Khi vua Gia Long lên ngôi, ông tham dự kỳ thi 1807 đỗ Tam Trường, Nguyễn Ḱính đỗ Tứ Trường được bổ làm Tri huyện Phù Dung. Khoa thi 1813 Phạm Đình Hổ thi hỏng, khoa 1919 đang thi thì bị bệnh phải bỏ ra về.

Năm 1821, vua Minh Mệnh ra Bắc, lưu ý khuyến khích việc soạn sách, ông được vời ra diện kiến, ông viết Hành tại diện đối tả cuộc gặp gỡ này, nhân dịp này ông dâng sách được vua ban thưởng được bổ làm Hành Tẩu, một tháng sau thăng Hàn Lâm Viện biên tu. Năm ấy Hồ Xuân Hương chồng đã bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường làm câu đối mừng : Mặc áo Giáp cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý. Lấy những chữ trong thập can ý muốn chế giễu Phạm Đình Hổ, không thi đỗ nhưng nhờ dâng sách, nên mặc áo nhà quan ra vẻ ta đây. Chiêu Hổ nổi nóng đối đáp lại bằng lời mắng nặng nề : Là đỉ Càn. Tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn. Lấy những chữ trong Bát quái mắng Hồ Xuân Hương là con đỉ càn dỡ lại còn tự phụ cho rằng mình khôn. Những lời mắng nặng nề đó có lẽ chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Hồ Phi Mai từng bị tai tiếng là thèo đảnh, tai tiếng chua cay trong mối tình Mai Sơn Phủ, nay bị mắng là đỉ càn.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM HẠ TRẦN QUANG TĨNH

Trần Quang Tĩnh vốn quê ở Gia Định mới ra Bắc Hà làm quan lần đầu. Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ gồm đất Thái Bình, Nam Định ngày nay. Được nghe tiếng Xuân Hương đã đến thăm và tỏ tình qua lại nhiều lần. Tháng 3 năm Kỷ Tị 1809 nhân dịp lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành đã ghé thăm Xuân Hương. Xuân Hương làm tiệc tiễn chân. Trần Quang Tĩnh xướng và Xuân Hương họa lại nàng muốn thoát xác như Sãnh Nương đi theo chàng.

Trần Quang Tĩnh xướng : Nâng chén dưới đèn tiệc tiễn chân. Tơ sầu dằng dặc lặng câm buồn. Cây lặng gió im chim lặng tiếng, Ngoài rèm trăng xế khách kêu ồn, Ta thẹn không tài thơ Bạch Tuyết. Khen bạn duyên cao sinh Cửa Son. Trùng phùng còn biết ngày nao gặp, Ngơ ngẫn tình say vướng mộng hồn.

Xuân Hương đã họa : Gặp gỡ bèo mây dưới nguyệt tròn, Ngỗn ngang sầu vọng nói gì hơn. Phượng Cầu ai gảy đàn đưa ý, Chim Khách kêu chi ngõ vắng buồn. Ai chuộc tiếng kèn về Hán khuyết. Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn. Chia tay giữa tiệc tình lưu luyến. Ngây ngất hồn say mộng Sãnh Nương.

Hai bài thơ nguyên tác chữ Hán dùng điển tích thật khéo léo tài tình.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM THƯỢNG TRẦN NGỌC QUÁN

Trần Ngọc Quán người Quảng Bình, theo vua Gia Long, giỏi văn chương năm 1890 giữ chức Hàn Lâm thị thư và được phong làm Cai Bạ doanh Quảng Đức,( Thừa Thiên sau này). Bốn doanh đất kinh kỳ chức vị đứng đầu là quan Cai Bạ, phụ tá có quan Ký Lục. (nhiều người lầm Nguyễn Du làm Cai Bạ Quảng Bình là người coi địa bạ ruộng đất). Tháng ba năm Ất Hợi 1815 được bổ nhậm chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, đất này gồm hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên về sau. Trị sở ở Châu Cầu, Phủ Lý.

Mối tình Hồ Xuân Hương với Trần Ngọc Quán là mối tình đến muộn, vì nàng đã yêu Tham Hiệp Trần Phúc Hiển. Trần Ngọc Quán nghe tiếng danh nàng từ khi ở Phú Xuân, nên khi đến trấn nhậm Sơn Nam Thượng đã đến thăm nàng:

Tài cao nhã phượng thế gian kinh, Nay đến Long Thành được thấy danh.

Trần Ngọc Quán khuyến khích lập Tao Đàn tại Cổ Nguyệt Đường và được bầu làm Thi Tướng. Hồ Xuân Hương mời thi nhân hội họp ngâm thơ, nhưng cũng có người cười chê nàng là “thèo đảnh”, phụ nữ mà tụ họp nam giới uống rượu ngâm thơ. (Thèo đảnh khen ai khéo đặt cho).

Rằm tháng 7 trung thu năm 1815, Hội Thơ được tổ chức tại phủ đường Châu Cầu, Hồ Xuân Hương sợ bà Hiệp Trấn ghen, ngụ tại phủ đường bà sẽ đối xử “mát mẻ”, ngụ tại quán khách lòng bà sẽ chẳng yên “băn khoăn”. Hồ Xuân Hương làm bài Tặng Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, để từ chối, nói lên một tâm sự tế nhị phức tạp thật tuyệt tác:

Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn năn, Cái kiếp phù sinh những nợ nần. Cửa viện xuân về hoa mát mẻ, Đài trang nương náu nguyệt băn khoăn. Duềnh xanh nước chảy tin lai láng, Lá thắm gieo thơ bút ngại ngần. Son phấn dám đâu so ngọn bút, Mượn tay thi tướng nhắc đồng cân.

Trần Ngọc Quán mất năm 1818, trong thời điểm cuộc thanh trừng vây cánh Nguyễn Văn Thành vì bài thơ Nguyễn Văn Thuyên. Phải chăng Nguyễn Văn Thuyên thường ra Bắc Hà đã đến cư ngụ nơi Trần Ngọc Quán. Mối quan hệ với vị chỉ huy toàn quân đội Nguyễn Văn Thành, khi làm Cai Bạ vùng đất kinh đô Phú Xuân là điều bình thường, trở thành một mối lo âu khi Nguyễn Văn Thành tự tử, trước áp lực của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất, phe Lê Văn Duyệt, tôi cho rằng điều này đã dẫn đến cái chết của Trần Ngọc Quán. Thơ văn Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường bị đốt, bị cất dấu do ảnh hưởng việc này.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ TRẦN PHÚC HIỂN.

Trần Phúc Hiển con Trần Phúc Nhàn, giữ chức tham mưu trong quân đội Nguyễn Ánh trước khi chiếm được Phú Xuân, có lẽ tử trận, để đền công khi lên ngôi Gia Long phong cho con là Phúc Hiển chức Hàn Lâm Thị Thư năm 1803, sau đó được thăng dần đến chức Tri Phủ Tam Đái, Việt Trì ngày nay, thuộc trấn Sơn Tây, tháng 12 năm 1813 được thăng chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng. Hồ Xuân Hương quen biết Trần Phúc Hiển từ khi còn là Tri Phủ Tam Đái. Một bài thơ không tựa, ghi dấu sự kiện này : Trăm năm gặp gỡ là bao nã, Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra.

Phép trị gia ngày xưa vợ cả không theo chồng tại chức mà ở lại quê chăm sóc gia trang, Phúc Hiển rời phủ Tam Đái dòng thuyền qua Thăng Long để đi Yên Quảng nhậm chức mới, để rủ bạn tình cùng đi, đến gần trấn lỵ sông Bạch Đằng, Phúc Hiển để bạn tình trở lại Thăng Long và hẹn sẽ rước nàng về làm vợ, nhưng mẹ Xuân Hương mất trong thời gian này, Xuân Hương phải cư tang, nên năm 1816, Trần Phúc Hiển mới trở lại cưới Hồ Xuân Hương, về Hạ Long nàng tham dự việc quan cùng chồng, thời gian này Xuân Hương viết các bài thơ vịnh cảnh Hạ Long, cảnh Đồ Sơn, Sầm Sơn bằng chữ Hán. Năm 1818 nhân việc ruộng Châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều, do dân bỏ đi làm nghề chài lưới được nhiều lợi hơn, Quan Tham Hiệp ép dân trở về cày ruộng, dân không chịu. Viên Án Thủ Dung vốn có tị hiềm xui dân kiện Phúc Hiển đòi ăn hối lộ 700 quan tiền, Phúc Hiển bị bắt. Vua Gia Long phê án “Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì khuyến liêm” và bảo quan Bắc Thành trị tội. Phúc Hiển bị giam một năm đến tháng 5 năm 1819 thì bị tử hình.

Cùng một thời kỳ, xãy ra các vụ án bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, vì có câu : “Giúp nhau thay đổi hội cơ này”. Thuyên bị án chém, cha là Trung Quân Nguyễn Văn Thành, thống lĩnh toàn quân đội phải tự tử, Thầy dạy là Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du làm quan Hữu Tham Tri Bộ Hình bị án giảo, được giảm án đày đi Quảng Nam năm 1828 mới được ân xá. Thượng Thư Bộ Binh Đặng Trần Thường bị xử thắt cổ (án giảo), Nguyễn Gia Cát Tham Tri Bộ Lễ, Vũ Quý Đĩnh Thiêm Sự Bộ Lễ cũng bị án giảo. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán cũng chết có lẽ tự tử.. Các vụ án mang nhiều nghi vấn một cuộc thanh trừng phe phái với phe Tả Quân Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Án Thủ Dung và phe Trung Quân Quân Nguyễn Văn Thành. Vua Gia Long khi về già, lo sợ uy quyền các công thần lấn lướt, nên hành xử theo lối “được chim bẻ ná, hết thỏ thịt chó săn”, việc này thường xãy ra trong các triều đại Trung Quốc và Việt Nam. Phúc Hiển là người được Nguyễn Văn Thành che chở. Xuân Hương có mặt trong vụ xử tử chồng. Trong một bản văn Nôm cổ bài Khóc chồng có hai câu : Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc. Giọt máu trên tay mĩm miệng cười. Xuân Hương đã khóc cười điên dại bên xác chồng.

Khi Trần Phúc Hiển bị nạn lúc đó Trần Quang Tĩnh trở ra làm Tào Binh Bắc Thành, Tham Tri Bộ Binh, Hồ Xuân Hương có đến cầu cứu, nhưng quan Tham Tri lánh mặt. Bài Bán Chẩm Thư Hoài Hồ Xuân Hương viết: “ Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng. Tình ma không sức đuổi sầu binh”. Người bạn tình từng ngâm thơ đã lánh mặt, và nàng bị lính hầu xua đuổi.

Tương truyền sau khi chồng mất, Hồ Xuân Hương có vào chùa Giải Oan núi Yên Tử, nhưng rồi không hợp cảnh thiền môn, nàng trở về làng Nghi Tàm vài năm sau năm 1822 thì mất, hưởng dương 51 tuổi. Mộ được chôn tại nghĩa địa Đồng Táo trước chùa Kim Liên.

Hai mươi năm sau năm 1842, Miên Thẩm Tùng Thiện Vương theo anh vua Thiệu Trị ra Hà Nội tiếp sứ sang phong vương. Vương thăm Hồ Tây có viết 14 bài thơ tứ tuyệt thể liên hoàn Long Biên Trúc Chi từ trong Thương Sơn thi tập có đoạn viết về mộ Hồ Xuân Hương.

Đầy hồ rực rỡ hoa sen nở, Sai đứa hoa nô hái cúng dường. Chớ trèo qua mộ Xuân Hương nhé, Suối vàng nàng vẫn xót xa duyên. Phấn rữa hoa tàn trơ một nấm, Xuân Hương đã khuất cỏ mồ xanh, U hồn say mãi nay chưa tỉnh, Xuân qua mấy độ gió vô tình.

Năm 1869, Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1840-1878) viết Xuân Đường Đàm Thoại, một thể văn hư cấu tạo nên hai nhân vật Hùng Lĩnh Xuân Mai và Hoa Đường Ngọc Như tượng trưng cho Nguyễn Du và Phạm Quý Thích, mỗi người làm một bài phú tán tụng Hồ Xuân Hương. (Đặng Trần Côn trong Tùng Bách thuyết thoại và Đoàn Thị Điểm trong Hải Khẩu linh từ, từng viết thể văn hư cấu này).Trần Bích San đã nói tới mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, qua Hùng Lĩnh Xuân Mai: “Xuân Hương là một nữ lưu phù hoa, vẻ mặt như hoa đào, nhan sắc như nước mùa thu. Tôi lúc trẻ đã có một dạo giao du. Nào đàn, nào cờ, nào rượu, nào thơ, có thể viết nên một thiên “Phong tình tân lục”.

Về sau khi đắp đường Cổ Ngư, mực nước Hồ Tây lên cao, ngôi mộ Xuân Hương tại nghĩa địa Đồng Táo xây bằng đá vôi, chìm xuống lòng nước khoảng một thước. Khi Cuba xây dựng khách sạn Thắng Lợi dưới nước còn ngỗn ngang mồ mã. Nhiều người đi câu làng Nghi Tàm còn cho biết họ từng đứng trên các ngôi mộ đá vôi. Việc hạ lại mực nước Hồ Tây, xuống trở lại mực nước cũ không phải là chuyện khó khăn ngày nay.

Kỷ niệm 250 Hồ Xuân Hương, không gì quí bằng đề án xây dựng lại Cổ Nguyệt Đường gần chùa Kim Liên thành một viện bảo tàng, sưu tập thơ văn Hồ Xuân Hương được phổ biến trên thế giới, với một công viên cây cảnh như Tốn Phong viết trong thơ và đưa mộ Hồ Xuân Hương ra khỏi lòng nước Hồ Tây và dựng lại ngôi Gác Tía cạnh đình làng Nghi Tàm nơi Nguyễn Du từng ở ba năm tình với Xuân Hương. Thành phố Hà Nội có thêm một di tích văn hóa quí báu cho khách du lịch bốn phương trời đến thăm và tưởng nhớ hai thi hào lớn của dân tộc từng sinh sống tại kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TÓM LƯỢC :

BÙI HẠNH CẨN. Hồ Xuân Hương Thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại. Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 1995.

DURAND MAURICE . L ́ Oeuvre de la poétesse vietnamienne, Hồ Xuân Hương. Eds EFEO Paris 1968.

HOÀNG XUÂN HÃN. Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long. Về Tình sử và thơ văn Hồ Xuân Hương. Tạp chí Khoa Học Xã Hội Số 10 và 11 tháng 12-1983.

NGUYỄN DU. Thơ chữ Hán. Văn Học Hà Nội 1965,

NGUYỄN VĂN HANH. Hồ Xuân Hương tác phẩm, thân thế và văn tài. Ipr Aspar. Sài Gòn 1937.

PHẠM ĐÌNH HỔ. NGUYỄN ÁN . Tang Thương Ngẫu lục. TTHL Saigon 1971

PHẠM ĐÌNH HỔ. Vũ Trung Tùy Bút. Bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Đông Nam Á Paris tái bản.

PHẠM TRỌNG CHÁNH. Hồ Xuân Hương , Nàng là ai ? Eds Khuê Văn. Paris. 2001

TRẦN THANH MẠI. Bản Lưu Hương Ký và lai lịch phát hiện nó, TCVH.11-1964 tr69-78.

XUÂN DIỆU Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tập II Hồ Xuân Hương nxb Văn Học.1982.

Cứu Cánh & Phương Tiện-Tưởng Năng Tiến

Cứu Cánh & Phương Tiện-

Tưởng Năng Tiến

Cùng với vài chục tờ báo quốc doanh khác, Người Lao Động (số ra ngày 15 tháng 11 năm 2021) cũng trân trọng đưa tin:

“Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho thân sinh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Cụ Nguyễn Văn Hiền (SN 1917, quê xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) từ khi còn trẻ đã tích cực tham gia các phong trào của Hội Thanh niên phản đế tại địa phương. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí hết mình cống hiến cho Đảng, Nhà nước và được kết nạp Đảng vào năm 1947, kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại địa phương và các cơ quan, đơn vị.”

Bản tin thượng dẫn – dường như – không được công luận tán thưởng hay lưu tâm gì lắm, trừ bỉnh bút Sơn Trà của trang VNTB :

Nhìn hình ảnh một cụ ông sinh năm 1917 nằm thiêm thiếp trên giường bệnh y tế với sắc mặt hom hem, mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín…, mang đến cảm giác bất nhẫn khi dùng những hình ảnh đó phục vụ tuyên truyền cho nghi thức có tên “trao huy hiệu đảng”… nhờ vào tin tức trao huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, công chúng biết rằng chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc đang có thân phụ phải sống cuối đời trên giường bệnh với những hom hem rất thương tâm. Trong tình cảnh ấy, cụ ông vẫn phải buộc sắm vai veston – cravat để nhận huy hiệu Đảng chụp hình đăng báo để phục vụ tuyên truyền chính trị.

Về lý thuyết, theo khoản 1 Điều 32 của Bộ luật dân sự 2015 thì: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý”… Trong trường hợp như cụ ông Nguyễn Văn Hiền thì ở tuổi 104, sức khỏe tâm thần của cụ dường chừng không còn đủ sức đưa ra bất kỳ quyết định nào. Như vậy ở đây không khó nhận ra người quyết định thay cụ, chính là người con trai đang làm chủ tịch nước.

Chuyện pháp lý thì “bao la” quá, tôi vốn dốt luật nên xin được miễn bàn thêm. Vấn đề, nếu chỉ nhìn ở góc cạnh đạo lý, cũng đủ khiến cho nhiều người bất nhẫn khi thấy một ông cụ đang thiêm thiếp trên giường bệnh cùng với thằng con – mặt trơ, trán bóng – đứng tươi cười bên cạnh!   

Ông Hiền không phải là nhân vật đầu tiên (hay duy nhất) đã nằm trong cái tình trạng đáng thương và trớ trêu như thế. Hoàn cảnh của Võ Nguyên Giáp, lúc đã gần đất xa trời – xem ra – cũng rất khó coi và bất nhân không kém.

Ông cũng bị dựng dậy, bắt mặc quân phục, đeo huy chương, và tuy “mắt đã nhắm nghiền” nhưng vẫn bị dí vào mặt một lá thư mời (tham dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội) dù chắc là cụ đang mặc tã, và không còn sức lực để có thể tự đứng dậy một mình được nữa.

Binh nghiệp (cũng như sự nghiệp chính trị) của Võ Nguyên Giáp kể như là chấm hết, sau khi ông buộc phải từ bỏ chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng và trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Sinh Đẻ Có Kế Hoạch – theo ghi nhận của dân gian :

Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em

Nhờ cái hào quang “cầm quân ngày xưa” (cùng thái độ vô cùng nhịn nhục khi bị bắt phải cầm quần) nên tuy thất thế Võ Nguyên Giáp vẫn được sống bình an. Đám con cháu cũng nhờ vào chút “dư âm” này để dễ bề xoay sở làm ăn, và đều ăn nên làm ra cả. Bởi thế, việc chúng tận tình khai thác cái xác sống của ông (cho mãi đến hơi thở cuối cùng) không phải là chuyện lạ.

Có lạ lùng chăng chỉ là cách ứng xử bất cận nhân tình của Nguyễn Xuân Phúc vào lúc này thôi. Ở cương vị Thủ Tướng, rồi đương kim Chủ Tịch Nước, ông có còn thiếu thứ chi đâu mà vẫn cứ dựng cái thi thể (“mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín”) của thân phụ mình dậy “để chụp hình đăng báo phục vụ cho tuyên truyền chính trị”!

Tuyên truyền cho cái gì vậy, hả Trời? Bộ muốn thêm tên NXP vô danh sách của Nhị Thập Tứ Hiếu chắc?

Đúng là hết khôn dồn đến dại!

Thế mới biết tại sao mà quyền lực và danh lợi vẫn thường được ví như ma túy. Bao nhiêu cũng không vừa. Không ít kẻ còn chỉ vì chút lợi danh mà có thể đấu tố cha mẹ nữa cơ.

Wikipedia tiếng Việt, tuy luôn được biên soạn theo đúng khẩu vị của dân Ba Đình – Hà Nội, vẫn có đoạn đáng chú ý như sau :

Trong cải cách ruộng đất, Chu Văn Biên được xem là người thực hiện nghiêm túc nhưng cũng khét tiếng hiếu sát. Theo hồi ký Đèn cù của Trần Đĩnh, ông là người đã đấu tố cả mẹ mình khi là bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh, ông ngồi trên thềm cao chỉ tay mẹ mình nói: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”… Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

Một đảng viên cộng sản Việt Nam có thể giết cả mẹ đẻ chỉ vì danh lợi nên không có gì ngạc nhiên khi toàn Đảng đã đồng lòng bắt vị “cha già dân tộc” phải nằm phơi thây từ hơn nửa thế kỷ qua, dù dân gian đã vô cùng sốt ruột hay xót ruột :

Vào trong lăng bác âm u
Chị em phụ nữ dở mu ra chào
Ông là đứa mả mẹ nào
Sao không hạ xuống để đào đất chôn ?

G.S Ngô Bảo Châu, một vị trí thức khoa bảng nên nói năng lịch sự và nhỏ nhẹ hơn: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.” Đến xác chết của cụ Hồ Chí Minh mà chúng còn không tha thì xá gì mấy cái xác sống của Võ Nguyên Giáp hay Nguyễn Văn Hiền.

Lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện vốn là châm ngôn của người cộng sản. Họ có thể dùng ngay cả xác chết của lãnh tụ, hay xác sống của chính tứ thân phụ mẫu để “củng cố” hay “che chắn” cho chuyện lợi danh thì cũng … OK. Mọi người đều có quyền tự do hành xử theo quan niệm sống của riêng mình.

Tuy nhiên, khi nhân danh một thứ cứu cánh thổ tả gì đó rồi dùng mồ hôi nước mắt và xương máu của cả dân tộc – từ thế hệ này qua thế hệ khác – để làm phương tiện (mà chưa biết đến đời kiếp nào mới thực hiện xong) thì lại là chuyện khác, gian manh thấy rõ:

Gần nửa thế kỷ trước, hồi năm 1973, Nguyễn Chí Thiện đã khẳng định rồi:

Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp!

Nguyễn Chí Thiện đã tri hô lên như thế từ lâu. Cái giá mà bọn cướp bắt ông phải vì đã chỉ mặt và đặt tên cho chúng, tất nhiên, không rẻ. Tuy thế, từ đó đến nay – thỉnh thoảng – vẫn có nhiều người Việt tiếp tục công việc hiểm nguy này.

Nhân vật mới nhất, nhà báo Nguyễn Thông lại vừa lên tiếng nhắc nhở về cái sự thực trần trụi và phũ phàng này, vào hôm 21 tháng 11 năm 2021 (từ Việt Nam)

Thứ chủ nghĩa xã hội bánh vẽ vĩ đại mà các ông bà ấy theo đuổi tới nay đã hai phần ba thế kỷ rốt cục chỉ đem lại nghèo đói, lạc hậu, nội chiến, chiến tranh, xâu xé đất đai, tan rã rường mối xã hội, dân chúng bất hạnh, kìm hãm đất nước chậm tiến hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm so với cả rất nhiều quốc gia khác… Nếu nó (chủ nghĩa xã hội) có đem lại chút gì “tích cực” thì chính ở chỗ đã tạo được cuộc sống đế vương cho tầng lớp lãnh đạo, mà trường hợp xơi thịt bò dát vàng là ví dụ rõ nhất.

Liệu dân Việt sẽ vẫn cứ tiếp tục nhẫn nhịn sống với “đám đế vương” này thêm bao lâu nữa?

Tưởng Năng Tiến
12/2021