Những thánh gia Na-da-rét thời đại mới  

Những thánh gia Na-da-rét thời đại mới

(Suy niệm Lễ Thánh gia)

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Hằng năm vào dịp lễ Thánh gia là ngày bổn mạng của giáo xứ, sau khi lễ xong, các gia đình trong giáo xứ tập trung đông đảo chung quanh hang đá cầu nguyện với thánh gia thất và mỗi gia đình cử ra một vị đại diện tuần tự tiến lên hàng đôi đến trước bộ tượng ba đấng, dâng lên Chúa Giê-su, Đức Mẹ và thánh Giu-se những bông hoa thắm tươi để tỏ lòng tôn kính mến yêu.

Thế mà hôm qua, chỉ còn ba ngày nữa là đến lễ Thánh gia, lợi dụng bóng tối, có kẻ bất lương đến đập vỡ ba bức tượng thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa hài đồng có tầm cao như người thật, đặt trong hang đá lớn nằm bên hông nhà thờ, khiến mọi người trong xứ đạo rất đau lòng và bối rối.

Biết tính sao đây, khi lễ Thánh gia đã gần kề? Tìm đâu ra bộ tượng ba đấng mới thế vào bộ tượng bị phá tan? Nghi lễ dâng hoa cho ba đấng vào mỗi dịp lễ Thánh gia là một nghi lễ truyền thống đã được thực hiện xuyên suốt từ hơn trăm năm qua, lẽ nào năm nay không tổ chức được? Ngoài ra, ngày lễ Thánh gia đã cận kề nên cũng không thể đặt một bộ tượng khác thay thế.

Trước tình thế đó, Cha xứ có một sáng kiến táo bạo: Ngài cho mời đôi vợ chồng mới sinh đứa con trai đầu lòng được chừng tháng tuổi và mới được rửa tội mấy ngày trước, mặc y phục truyền thống thật chỉnh tề, đóng vai Đức Mẹ, thánh Giu-se và Chúa Giê-su thay cho bộ tượng hang đá bằng thạch cao đã hư hại. Ngài sắp xếp cho cặp vợ chồng quỳ bên trong hang đá, chầu hai bên đứa con thơ và kêu mời đại diện các gia đình trong giáo xứ dâng hoa cho ba vị nầy trong tư cách là hình ảnh của thánh gia Na-da-rét.

Sáng kiến nầy đã làm cho một số người trong họ đạo cảm thấy bị sốc. Họ cho rằng làm như vậy là quá đề cao gia đình người tín hữu và xúc phạm đến ba đấng thánh.

Cha Sở diễn giảng cho họ như sau:

Khi đề nghị gia đình anh chị Năm đóng vai Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su thế chỗ cho bộ tượng ba đấng bằng thạch cao bị hư, chúng ta không hề xúc phạm đến ba đấng thánh, nhưng xem gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh rất trung thực và cao quý của thánh gia Na-da-rét.

Tại sao tôi nói như vậy?

Thứ nhất, bộ tượng ba đấng mà ta kính viếng xưa nay là hình ảnh của Thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su do tay người phàm tạo nên bằng thạch cao, không có sự sống; trong khi gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh của ba Ngôi Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tạo dựng nên, có linh hồn, có lương tri, có sự sống.

Thứ hai, nhờ lãnh nhận bí tích Thánh tẩy, anh chị Năm cũng như mỗi người chúng ta được trở thành chi thể của Chúa Giê-su (GLHTCG số 1267). Thánh Phao-lô cũng xác nhận điều nầy: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?” (I Cor 6,15).

Thứ ba, nhờ rước lấy Mình thánh Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, anh chị Năm được trở nên cùng chung máu thịt với Ngài, được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa (2 Pr 1, 4).

Ngoài ra, Chúa Giê-su và Hội thánh thường dạy chúng ta rằng “Thiên Chúa đồng hóa với con người”, con người là hiện thân của Thiên Chúa.

Thứ tư, Hội Thánh công giáo xưa nay vẫn nhìn nhận gia đình của ki-tô hữu là gia đình thánh nên Giáo hội quen gọi đó là những hội thánh tại gia, tức là thánh gia.

Như vậy, không có một bức tượng nào do tay người phàm làm ra dù bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng đá hay bằng kim loại quý… xứng đáng được chọn làm hình ảnh của Chúa Giê-su, của Mẹ Maria, của thánh Giu-se cho bằng chính mỗi Ki-tô hữu chúng ta.

Sau khi hiểu được những điều cha xứ giải thích, mọi người vui vẻ dâng những đoá hoa thật đẹp thật tươi cho anh chị Năm được cử đóng vai thánh gia Na-da-rét.

Rồi qua những năm sau, nhiều người trong giáo xứ đều thấy thật là thích hợp và đầy ý nghĩa khi chọn một gia đình công giáo trong họ đạo đóng vai thánh gia Na-da-rét thay vì dùng bộ tượng thạch cao, nên cộng đồng giáo xứ thoả thuận với nhau rằng: đôi vợ chồng nào mới sinh con trai và được rửa tội sớm nhất trong tháng 12 dương lịch thì sẽ được chọn đóng vai thánh Giu-se, Đức Mẹ và Chúa Giê-su để cho giáo dân thăm viếng. Và cũng từ lúc đó, thay vì dâng hoa cho ba Đấng như trước đây, người ta dâng cho em bé trong vai Giê-su những hộp sữa; dâng cho người mẹ trong vai Maria những cuộn chỉ, những chiếc kim, chiếc kéo; dâng cho người cha trong vai Giu-se những dụng cụ làm việc nho nhỏ như những chiếc kìm, chiếc búa, cái đục, cái bào…

Từ sự kiện nầy, các gia đình tín hữu trong xứ đạo đều ý thức mình là những thánh gia Na-da-rét thời mới. Các đôi vợ chồng trong các gia đình luôn trân trọng và yêu quý nhau như Mẹ Maria và thánh Giu-se; Cha mẹ biết chăm lo giáo dục con cái như Mẹ Maria và thánh Giu-se đã làm cho Chúa Giê-su; Con cái luôn vâng phục và thảo hiếu với mẹ cha như Chúa Giê-su đối với thánh Giu-se và Đức Mẹ.

Từ đó, niềm vui, hạnh phúc và đời sống thánh thiện chan hoà trong các gia đình.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

@ Muốn đọc thêm bài suy niệm cũ hơn, kính mời vào website: https://nguonvui.net

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

Bằng giả, không phải chỉ Đông Đô

 

Bằng giả, không phải chỉ Đông Đô

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

26-12-2021

Vụ đại học Đông Đô cấp thần tốc hơn 400 bằng giả đang làm xã hội kinh động. Nhưng đó là do… không biết. Nếu bây giờ rà lại tất cả trường đại học ngoại ngữ hay các khoa ngoại ngữ đang cấp các loại chứng chỉ ngữ ngoại “danh giá” như B, C, văn bằng 2 v.v., thì chúng ta sẽ không ngạc nhiên nữa.

Từ cách đây hơn 10 năm, lúc tôi thi để lấy chứng chỉ B1 làm điều kiện tốt nghiệp thạc sĩ, đã thấy sự nhếch nhác, bi hài của nó. Đó là một cuộc “làm giàu không khó” của các trường đại học, của giáo viên có ô dù. “Lo trước” đã là bước đi tất yếu của đa số các “yếu nhân”. Nhớ lại, hãy còn rùng mình: phòng thi như cái chợ, người ta đã “gửi” trước, chưa thi đã đỗ. Tôi suýt trượt trong kỳ thi ấy, vì vào bằng tiếng Trung mà ra tiếng Anh. Có những chuyện xấu hổ không dám kể lúc này. Đi thi, nhìn khung cảnh thật hoang tàn, bát nháo…

Sau hơn 10 năm, tình hình đã tệ hơn rất nhiều. Nhiều người bạn và người quen của tôi cũng vừa thi để lấy B1, B2, C sau cả chục năm đi làm, vì yêu cầu “chuẩn hóa” và “nâng chuẩn”. “Tiền chống trượt” là gì? Đó thực chất là tiền mua bằng. Nó diễn ra trên khắp cả nước.

Những cái chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đang khiến cả triệu giáo viên lao đao, là gì? Hãy xem người ta đang dạy thế nào, học thế nào, thi thế nào, đóng tiền ra sao, thì rõ. Nói trắng ra, đó là bằng giả. Học vài buổi chiếu lệ, nộp mấy triệu, thi và cấp chứng chỉ. Không có chứng chỉ thì lụi bại, dù không muốn cũng phải cố mà lết đi, khi lương giáo viên không bằng người bán xôi sáng. Vấn đề là nó đang công nhiên diễn ra, ai cũng thấy và phải tham gia, nó không những được cấp phép, mà còn trở thành tiêu chuẩn. Thì chống cái gì!

Bằng giả (thực ra là bằng thật nhưng chất lượng giả) đang hoành hành khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Và phá nát nền học vấn, phá nát lương tri con người, kéo đất nước trở lại thời kỳ tăm tối.

Vấn đề quan trọng nhất ở đây không phải chỉ là chuyện bằng giả hay bằng thật, mà là một xã hội vận hành trên bằng cấp. Chúng ta không có tiêu chí chọn người, không có công cụ đánh giá năng lực người lao động, thế là chỉ còn cách dựa vào những mảnh giấy gọi là Bằng. Mọi tệ lậu bắt đầu sinh ra khi mà sự quản lý chất lượng của chúng đã vượt ngoài khả năng. Giáo dục trở thành chợ đen.

Chống làm sao được khi mà ngay chính những người chống mà báo chí gọi là “người có uy tín” lại cũng xài bằng giả!

Trong cuộc chạy đua bằng cấp này, khó ai có thể giữ được nhân cách, dù họ không muốn đánh mất nó. Chấn hưng nền giáo dục, bằng cách nào? Học thật, thi thật? Không, huyệt đạo nằm ở “tuyển dụng thật”. Còn nạn con ông cháu cha, còn “nhất hậu duệ nhì quan hệ ba tiền tệ bốn trí tuệ”; còn bán ghế, bán chỗ v.v… thì dù có học thật, thi thật, nhân tài thật thì tất cả cũng chỉ là nỗi bẽ bàng sau rốt…

Nỗi Buồn Cuối Năm, Nỗi Buồn Cuối Đời – Huy Phương

Van Pham is feeling sad.

GÓC SUY TƯ

Giáng sinh hay cuối năm là dịp đoàn tụ gia đình cũng là dịp để san sẻ tình cảm cho nhau… Chúng ta dể dàng cảm thông và mủi lòng trước những hoàn cảnh thương tâm ở chung quanh. Nhưng đôi khi chúng ta lại hững hờ với chính người thân của mình, nhất là cha mẹ già….

***

Nỗi Buồn Cuối Năm, Nỗi Buồn Cuối Đời

Tạp Ghi Huy Phương

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách đến thăm viếng.

Những ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế. Được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão.

Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già!

Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ. Phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến.

Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó.

Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”

Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai.

Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ thổi qua.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người Mỹ – Úc…. không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão.

Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Kiếp Người Là Chuyến Hành Trình, Gặp Gỡ Nhau Nên Cảm Kích…

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Kiếp Người Là Chuyến Hành Trình, Gặp Gỡ Nhau Nên Cảm Kích…

Khi tàu về đích, trăm người đi trăm hướng, cuộc gặp gỡ bất chợt, thoáng qua âu cũng là duyên phận. Không ai là vô duyên, vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do, đều đáng được cảm kích.

Ta không thể sống một mình. Cuộc sống là sự tương duyên nương tựa giữa ta và người. Mấy mươi năm sống trong đời, không biết bao nhiêu người đã đi ngang đời ta. Có lẽ ta sẽ không nhớ hết những người từng gặp từ khi mở mắt chào đời đến bây giờ.

Nhưng gặp gỡ trong một khoảnh khắc nào đó hay một thời gian dài thì cũng không ngoài chữ duyên. Dù duyên ấy là thiện duyên hay ác duyên, nhưng có gặp nhau thì đã có duyên rồi.

Người với người gặp gỡ là dựa vào một chút duyên phận, sống được với nhau, là dựa vào một chút thành ý…

Sự hấp dẫn của đàn ông không ở chỗ có bao nhiêu tiền, lớn lên đẹp trai đến đâu, mà là khi gặp chuyện có thể gánh vác trách nhiệm.

Sự quyến rũ của phụ nữ không phải ở chỗ xinh đẹp bao nhiêu, mà là ở tính cách ôn nhu, thiện lương và một nội tâm khoan dung độ lượng.

Trong cuộc sống, bất kể tình thân, tình bạn hay là tình yêu, có thể tự nhiên mà gắn bó mới thực sự là tình cảm tốt đẹp nhất.

Tai thính thật sự có thể nghe được tiếng lòng; mắt sáng thực sự có thể nhìn thấu nội tâm.

Chứng kiến không có nghĩa là đã nhìn thấy,

Nhìn thấy không có nghĩa là biết rõ,

Thấy rõ không có nghĩa là đã xem hiểu,

Xem hiểu không có nghĩa là đã nhìn thấu,

Nhìn thấu không có nghĩa là đã thông suốt,

Thông suốt không có nghĩa là không phiền não.

Chuyện trên đời có những lúc biến hóa khôn lường, nhưng có thể duy trì một nội tâm bao dung, thấu hiểu và trân quý thì có thể khiến các mối quan hệ được bền chặt lâu dài. Bởi vì dù sao, những người có thể gặp được trong kiếp này đều là duyên phận hy hữu.

Mọi người thường nói, duyên do trời định, phận do nhân định.

Đúng là như thế, gặp nhau là ý trời, bên nhau là ý người. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết?

Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán được.

Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận.

Nhân duyên cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà phải nắm thật chắc, giữ thật chặt, hết lòng quý trọng. Đó là món quà trời ban, chỉ trong một giây, một khắc, một đoạn.

Kiếp này có thể tương ngộ chính là điều hạnh phúc nhất. Bất kể là gặp thoáng qua, là bạn bè, đồng sự, hay hẹn ước trăm năm đều vô cùng trân quý.

Sinh mệnh vốn là một hành trình phiêu bạt, gặp được ai cũng đều không hề ngẫu nhiên, vậy nên ta cần trân trọng tất cả những người gọi ta là bằng hữu.

Cảm ơn những người mà kiếp này ta tương ngộ.

“NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI”- TGM Giuse Vũ Văn Thiên

“NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI”

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Có lần, khi dẫn các vị khách không cùng tôn giáo đi thăm hang đá Giáng Sinh, có vị đã hỏi ý nghĩa của dòng chữ ghi trên hang đá “Ngôi Lời đã làm người”, tôi thấy thật khó để giải thích một điều cốt lõi của Đức tin Kitô giáo.  Quả vậy, mầu nhiệm Nhập thể không thể diễn đạt trong vài câu từ.  Ngay cả đối với các Kitô hữu, tín điều này là một huyền nhiệm mà lý trí hữu hạn của con người phải im lặng cung kính tôn thờ trước quyền năng cao cả và tình thương vô bờ của Thiên Chúa Tối cao.

“Ngôi Lời đã làm người”, Tác giả Tin Mừng thứ bốn khẳng định với chúng ta như thế.  Ông đã khởi đầu tác phẩm của mình bằng cách đi tìm nguồn gốc của Ngôi Lời thiên linh.  Ngôi Lời ấy đã hiện hữu từ muôn thuở.  Ngôi Lời vừa giống Chúa Cha, lại vừa khác với Ngài.  Ngôi Lời giống Chúa Cha vì Ngôi Lời là Thiên Chúa, Ngôi Lời khác với Chúa Cha vì “Người vẫn hướng về Thiên Chúa.”  Sự tương tự và khác biệt chỉ có thể hiện hữu do quyền năng của Thiên Chúa.  Thánh Gioan muốn chứng minh: Đức Giêsu Kitô thành Nagiarét là Thiên Chúa thật, và cũng là người thật.  Như trên đã nói, lý trí con người hữu hạn, suy bao nhiêu cũng không thể hiểu được mầu nhiệm Nhập Thể, tức là sự kiện Thiên Chúa và con người nên một nơi Đức Giêsu.  Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: Đức Giêsu đồng bản thể với Đức Chúa Cha.  Lời tuyên xưng ấy nói lên sự tương tự huyền nhiệm này.

“Ngôi Lời đã làm người”, để làm gì?  Thưa, để chiếu sáng thế gian.  Đức Giêsu là ánh sáng trần gian.  Chính Người đã khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian.  Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12).  Sứ mạng của Đức Giêsu là soi sáng trần gian, giúp con người nhận ra Chân lý, và nhờ đó họ được sống đời đời.  Ánh sáng của Chúa Giêsu là cuộc đời và giáo huấn của Người.  Ai đến với Người, thì không còn phải đau khổ, vì họ được an ủi và tìm thấy bình an.  Lịch sử Kitô giáo hai ngàn năm qua đã chứng minh điều đó.  Bất cứ ai đến với Đức Giêsu, đều được Người đón nhận.  Sự kiện lễ Giáng sinh được cử hành vào nửa đêm theo truyền thống từ xa xưa, cũng nhằm khẳng định Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên trong đêm tối cuộc đời.

“Ngôi Lời đã làm người” trong hoàn cảnh nào?  Tác giả Tin Mừng thứ bốn viết: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).  Thánh Gioan muốn nói đến những người khước từ Chúa Giêsu.  Sự khước từ ấy thể hiện qua việc Thánh Giuse và Đức Trinh nữ Maria gõ cửa nhiều quán trọ, mà không tìm được một chốn trú ngụ qua đêm.  Những chủ quán thời đó có thể khước từ vì thấy hai ông bà nghèo nàn, mà bà thì lại sắp sinh con.  Chính vì sự khước từ này mà Ngôi Lời đã phải khởi đầu hành trình trần thế trong khung cảnh nghèo nàn tột bậc.  Đó là hang đá, nơi dùng cho chiên bò trú ngụ qua đêm để tránh sương lạnh mùa đông buốt giá.  Trải dài suốt lịch sử, có rất nhiều người đón nhận Chúa Giêsu và thực thi giáo huấn của Người.  Tuy vậy, cũng có nhiều người khước từ Chúa.  Những người đón tiếp Chúa vì đã nhận ra nơi Người con đường Chân lý và ý nghĩa cuộc đời.  Những người khước từ Người vì thấy nơi Người những ràng buộc kìm hãm mọi đam mê của họ.  Theo Đức Giêsu phải chấp nhận bỏ mình.  Bởi lẽ, Đức Giêsu đã đi trên con đường thập giá và đã chết trên thập giá.  Kitô hữu là người nên giống Chúa Kitô trong cuộc sống, thì cũng phải nên giống Người trong mầu nhiệm thập giá.  Cũng tác giả Tin Mừng thứ bốn đã khẳng định: “Những ai đón nhận, tức là tin vào Danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (c 12).

“Ngôi Lời đã làm người” dạy ta điều gì?  Thiên Chúa cao cả đã hạ mình trở nên Hài Nhi bé nhỏ, sinh ra bởi một người phụ nữ.  Đó là sự khiêm nhường của Thiên Chúa.  Mầu nhiệm nhập thể dạy chúng ta, muốn nên thánh, trước hết phải là con người theo đúng nghĩa, tức là con người với đầy đủ những đức tính nhân bản.  Có những người chưa làm người đã đòi làm thánh, vì vậy họ sống trong ảo tưởng, lang thang vô định mà chẳng thấy bình an.  Noi gương Đức Giêsu, chúng ta sống khiêm nhường trước mặt Chúa và đối với anh chị em mình, vì “ai hạ mình xuống sẽ được Chúa nâng lên.”

Ngôi Lời đã làm người”, và hôm nay Người đang ở giữa chúng ta.  Hang đá máng cỏ chỉ là phác họa sự kiện lịch sử cách đây hơn hai ngàn năm.  Khi mừng lễ Giáng sinh, mỗi tín hữu hãy nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương ấy.  Và, cũng như Gioan Tiền hô, mỗi chúng ta cũng hãy trở nên nhân chứng của Ánh Sáng ngàn đời, đem Chúa đến với anh chị em chúng ta, những người đang khát khao Chân lý và đang tìm ý nghĩa cuộc đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 Hồi ức của một trí thức cũ trong xã hội mới sau 1975 (Phần 2)

 Hồi ức của một trí thức cũ trong xã hội mới sau 1975 (Phần 2)

Bởi  AdminTD

Lê Nguyễn

23-12-2021

Tiếp theo Phần 1

Do sau tháng 4.1975, nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả tại Sài Gòn vẫn còn cơ sở sản xuất hoạt động tốt nên các chủ doanh nghiệp này được tập hợp trong một tổ chức có tên là Ban Liên lạc Công thương, tiền thân của Sở Thương nghiệp và Sở Công nghiệp sau này. Người đứng đầu ban này vào năm 1982 có bí danh là Ba Nam (Trần Minh Triết), vị thứ như một Giám đốc Sở.

Có thể kể một số nhà “tư sản dân tộc” được tập hợp trong Ban liên lạc công thương lúc bấy giờ như ông Trần Văn Bảy, Giám đốc Xí nghiệp đông lạnh Việt Long, ông Phùng Văn Quý, Giám đốc nhà máy sứ Thiên Thanh, ông Phạm Văn Thạnh, chủ hãng đắp vỏ xe Phạm Hiệp. Cũng từ sự hiện diện của những doanh nghiệp như trên mà chính quyền thành phố thiết lập mô hình các công ty, xí nghiệp công tư hợp doanh, với cơ sở sản xuất và một phần vốn của tư nhân, phần khác của nhà nước, và đặt dưới sự thống nhất quản lý của nhà nước.

Để thực hiện kế hoạch thử nghiệm làm ăn với hai thị trường tư bản trên, Ban Ban Liên lạc Công Thương được phép thành lập “Công ty XNK trực dụng Ficonimex” trụ sở nằm gần cuối đường Nam kỳ khởi nghĩa, quận I, TP.HCM, với thành phần Ban Giám đốc khá thoáng: Giám đốc là ông Đinh Xáng, trước 1975 từng giảng dạy tại trường Đại học Chính trị-Kinh doanh Đà Lạt, đồng thời là một chuyên gia lâu năm về ngành dệt. Trong 3 Phó Giám đốc của công ty thì ngoài ông Đỗ Như Công là Phó Giám đốc Tổ chức, ông Phùng Văn Quý làm Phó Giám đốc Kế hoạch, ông Trần Văn Bảy làm Phó Giám đốc Sản xuất-Kinh doanh.

Song song với Ban LLCT, tổ chức Liên hiệp xã thành phố mà người đứng đầu có bí danh Ba Tiết, cũng không chịu là người đi chậm. Họ thành lập “Công ty XNK trực dụng Direximco” với chức năng và hoạt động giống như Ficonimex, trụ sở đặt tại đường Hai Bà Trưng.Trước 1975, và kể cả thập niên 1980, quận 5 TP.HCM là nơi tập trung các nhà tư sản người Hoa có nhiều vốn liếng và kinh nghiệm làm ăn. Tuy cuộc truy đánh tư sản mại bản vào nửa sau thập niên 1970 có làm cho giới thương nhân ở đây bị thiệt hại nặng nề, song vẫn còn một số nhà tư sản từng có mối quan hệ mật thiết với Mặt trận DTGPMNVN trước năm 1975. Nhờ vậy mà UBND Quận 5 được lãnh đạo thành phố cho phép thành lập Công ty XNK Cholimex hoạt động song hành với hai công ty Ficonimex và Direximco.

Xét về tầm vóc và hiệu quả hoạt động thì Direximco được xem là thành công hơn cả. Danh tính ông Giám đốc công ty là Lâm Tư Quang, song mọi người vẫn gọi ông bằng cái bí danh quen thuộc là Ba Toàn. Phụ tá ông Ba Toàn là ông Lưu Vinh, một người Hoa có tài kinh doanh và không ít người cho rằng phần lớn sự thành công ban đầu của công ty đến từ hai bàn tay của ông Lưu Vinh.

Ưu thế của hai vị lãnh đạo người Hoa ở công ty Direximco thể hiện ở mối quan hệ giữa họ với các doanh nghiệp Hong Kong – Singapore mà phần lớn cũng nằm trong tay các người Hoa. Hoạt động của họ làm thay đổi hẳn bộ mặt thành phố, từ sự lầm lì, xơ cứng, trở thành sôi nổi và nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Ấn tượng nhất là những lúc tàu chở hàng nhập khẩu cập bến. Chỉ riêng các cối sợi là nguyên liệu cho ngành dệt, công ty Direximco phải huy động toàn bộ xe cơ giới, mượn thêm của các cơ quan khác, chạy nườm nượp từ cảng Sài Gòn về kho từ sáng cho đến nửa đêm mới hết hàng.

Sau 1975, những công ty dệt lừng lẫy một thời tại miền Nam như Vinatexco, Vimytex… chỉ hoạt động cầm chừng. Song từ năm 1982, nguồn nguyên liệu sợi do mô hình XNK mới mang về đã vực dậy ngành công nghiệp dệt bị bế tắc từ lâu, hình thành nên Liên hiệp xí nghiệp dệt Hồng Gấm với hơn 40 xí nghiệp thành viên và khu dệt Bảy Hiền với hàng trăm xưởng dệt tư nhân của đồng bào từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi vào Sài Gòn sinh sống từ thập niên 1960.Ngành nhựa hoạt động cũng rất mạnh, nguồn nguyên liệu PE, PP, PVC… được dùng sản xuất túi nhựa, sản phẩm gia dụng.

Riêng hàng tiêu dung nhập khẩu phổ biến có bột ngọt, xi măng, sắt thép…, ngoài việc bán trực tiếp cho người tiêu thụ, còn được sử dụng để làm hàng đối lưu với các địa phương cung cấp nguyên liệu thủy hải sản cho thành phố.Ngoài ba công ty XNK trực dụng trên, TP.HCM lúc bấy giờ còn có ít nhất hai công ty XNK nữa là công ty Rameico (Công ty XNK nguyên liệu) và công ty Agrimexco (Công ty XNK Nông nghiệp), còn nhớ (không chắc lắm) Giám đốc là ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn tướng VNCH hoạt động cho bên thắng cuộc từ trước 1975 và Phó Giám đốc là ông Nguyễn Xuân Phong, từng là Trưởng đoàn đại biểu VNCH tại hội nghị hòa đàm Paris (1968-1973), từng là trại viên trại cài tạo Long Thành (và một số nơi khác). Song chỉ một thời gian ngắn sau 1982, ông Phong được xuất cảnh sang định cư tại Pháp.

Điều đáng tiếc là các nhà lãnh đạo ở trung ương và địa phương vào những năm đầu tiên của thập niên 1980 đã không có chung những quan điểm nhất quán trong việc xây dựng một xã hội mới, thống nhất và hòa bình. Điều này cũng dễ hiểu, vì chiến tranh chỉ mới qua đi, mỗi vùng miền còn có những khác biệt để có thể phù hợp hoàn toàn với một chính sách chung. Tại một số địa phương, các nhà lãnh đạo đã áp dụng những hình thức quản lý “thoáng” như trường hợp của Sài Gòn – TP.HCM đã nêu trên.

Song vào tháng 7.1982, ông Tố Hữu, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tường), đã ký quyết định 113 giải thể các đơn vị XNK công tư hợp doanh, giao quyền thực hiện lãnh vực này cho các đơn vị quốc doanh. Mục tiêu chính của quyết định 113 nhằm tập trung việc quản lý XNK cho một tổ chức duy nhất là Tổng công ty Xuất nhập khẩu IMEXCO, tránh tình trạng từng công ty đơn lẻ hoạt động dưới sự tổ chức và giám sát của các đơn vị khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ do sự hình thành Imexco chậm hơn dự kiến nên mãi đúng một năm sau, khoảng tháng 7.1983, quyết định 113 mới được triển khai.

Về mặt nhân sự, tại các công ty XNK công tư hợp doanh như Direximco, Ficonimex, Cholimex…, nhân viên biên chế nhà nước được chuyển về Tổng công ty Imexco, các thành phần khác, hầu hết là nhân viên hợp đồng, được trợ cấp một khoản tiền bằng khoảng một tháng lương và… nghỉ việc. Trong số các nhân viên thuộc thành phần nghỉ việc tại công ty Ficonimex, có người viết bài này, chi tiết về những tháng ngày làm việc ở đây sẽ được kể về sau.

Tháng 7.1982, sau khi quyết định 113 được ban hành, các giới chức lãnh đạo công ty Ficonimex vẫn bình chân như vại, họ chờ số phận của công ty được định đoạt. Điều này cũng dễ hiểu, vì Giám đốc và hầu hết Phó Giám đốc của công ty không phải là cán bộ nhà nước, khó có khả năng cứu vãn tình thế. Trong khi đó, tình hình ở công ty Direximco lại khác hẳn. Ông Giám đốc Ba Toàn (Lâm Tư Quang) đã sớm ứng phó với tình thế bằng việc tìm một khu vực ít dân cư song không xa thành phố, mua đất tư nhân, xây dựng một cơ ngơi mới có tên là Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre, mọi người thường gọi tắt là Xí nghiệp Cầu Tre.

Vì thế, một năm sau (7.1983), khi quyết định 113 được triển khai thì gần như toàn bộ công nhân viên của Công ty XNK công tư hợp doanh Direximco đã trở thành công nhân viên Xí nghiệp Cầu Tre, là một trong hai xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu lớn nhất thành phố lúc bấy giờ (xí nghiệp kia là Xí nghiệp Đông lạnh 1, giám đốc là ông Mười Hưng). Cả hai xí nghiệp này đều trực thuốc Tổng công ty XNK Imexco. Trong cuộc sống đầy thăng trầm của mình, bản thân người viết bài này cũng đã có hai năm gắn bó với xí nghiệp Cầu Tre, chi tiết sẽ xin được kể sau.

Riêng về công ty Cholimex, sự giải thế hình thức công tư hợp doanh đã được UBND quận 5 giải quyết bằng cách biến nó thành Công ty cung ứng hàng xuất khẩu quận 5, không còn chức năng xuất khẩu trực tiếp, mà chỉ cung ứng hàng xuất khẩu cho Tổng công ty Imexco. Mô hình này nhanh chóng phát triển tại các quận huyện khác, ít lâu sau, hầu như quận huyện nào cũng có công ty cung ứng hàng xuất khẩu cho địa phương mình, ví dụ quận Tân Bình có Công ty Tanimex, quận 3 có công ty Trilimex…

7 Quy Luật Ý Nghĩa Của Cuộc Đời

Cảm ơn Van Pham gởi bài này.

Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy,

Cho con còn ngày nữa để yêu thương.

Phùng Văn Phụng

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Năm hết Tết đến ACE chúng ta cùng suy niệm để áp dụng cho năm mới Nhâm Dần 2022

***

7 Quy Luật Ý Nghĩa Của Cuộc Đời

Vạn vật trong tự nhiên đều vận hành theo quy luật. Con người cũng vậy, dù chúng ta là ai, nam hay nữ, già hay trẻ, giàu hay nghèo, chúng ta vẫn sống theo các quy luật của cuộc đời.

Bạn sẽ nghiệm ra được điều ý nghĩa gì với cuộc sống của mình từ 7 quy luật dưới đây:

Luật Hấp Dẫn: Những tính cách giống nhau sẽ thu hút và tìm đến với nhau để đoàn kết nâng đỡ nhau cùng làm đẹp cuộc đời.

Luật Thử Thách: Hãy tin những khó khăn, nghịch cảnh là những thử thách giúp mình trở nên mạnh mẽ, khôn ngoan hơn.

Luật Tương Đối: Không có gì là hoàn mỹ. Hãy chấp nhận sự khiếm khuyết như là một phần của cuộc đời. Hãy cảm thông, đừng đòi hỏi quá sức ở mình và người khác.

Luật Bù Trừ: Hễ được cái này thì sẽ mất cái khác. Không nên chỉ nhìn mặt ngoài mà cho rằng người khác may mắn hơn ta.

Luật Tha Thứ: Nếu mình rộng lượng, bao dung với người khác, mình sẽ được thông cảm, tha thứ khi chính mình làm lỗi.

Luật Sống Vui: Nếu muốn sống vui, hãy tích cực và làm những gì mình cần ngày hôm nay. Hãy hưởng thụ cuộc sống ngay phút giây này. Đừng đợi khi có cái này, xong cái kia… mới cho phép mình hạnh phúc.

Luật Tuần Hoàn: Đời người là một chuỗi tuần hoàn gồm những giai đoạn vui buồn kế tiếp nhau. Sẽ không ai hạnh phúc mãi mà cũng không có ai phải đau khổ mãi.

Các quy luật không dành riêng cho ai. Khi chúng ta thấu hiểu quy luật cuộc đời, ta sẽ không thấy mình là nạn nhân nữa. Chúng ta sẽ không còn thất vọng nhiều nữa.

Chỉ cần ta hiểu nó, và xử sự thuận theo nó, cuộc sống sẽ dễ dàng tự tại hơn rất nhiều.

Vậy nên, dù mọi điều tốt xấu đến với ta như thế nào, hãy an nhiên trải nghiệm nó để biết mình sẽ vững vàng hơn bạn nhé!

HÔM NAY 22 THÁNG 12 LÀ NGÀY MẤT CỦA CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

 Tôi không có học với ông Nguyễn Hiến Lê nhưng đọc rất nhiều sách của ông, cho nên, tôi xem Nguyễn Hiến Lê là thầy về cách sống, làm việc. Thời còn sinh viên, một lần tôi đến thăm ông với người bạn, vì ngưỡng mộ ông. Trong khi nói chuyện ông nói rằng chỉ tiếp chúng tôi trong khoảng 10 phút, vừa nói chuyện với chúng tôi vừa chuốt viết chì. Khi nào viết chì nhọn rồi bỏ vào cái ly riêng. Nghĩa là ông đã sử dụng hết thì giờ cần thiết. Đọc sách ông được biết giờ giấc làm việc của ông đúng thời khoá biểu mà ông đặt ra. Giảm bớt đi dự tiệc tùng để có thì giờ làm việc.

Phùng Văn Phụng

Le Tu Ngoc

HÔM NAY 22 THÁNG 12 LÀ NGÀY MẤT CỦA CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như Giáo dục, Văn học, Ngữ học, Triết học, Lịch sử, Du ký, Gương danh nhân, Chính trị, Kinh tế …

Năm 1934, 22 tuổi, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội rồi vào làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu quãng đời nửa thế kỷ gắn bó với Nam bộ, gắn bó với Hòn ngọc Viễn Đông.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên.

Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở Nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Những năm trước 1975 và cả trong thời gian sau này, Nguyễn Hiến Lê luôn là một cây bút có tiếng, viết miệt mài và là một nhân cách lớn.

Trong đời cầm bút của mình, đến trước khi mất, ông đã xuất bản được hơn một trăm (100) bộ sách, về nhiều lĩnh vực: Văn học, Ngôn ngữ học, Triết học, Tiểu luận phê bình, Giáo dục, Chính trị, Kinh tế, Gương danh nhân, Du kí, Dịch tiểu thuyết, Học làm người…

Một vài “tự bạch” về nhân sinh quan của ông:

  1. Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.
  2. Chỉ nên hưởng cái phần xứng đáng với tài đức của mình thôi. Nếu tài đức tầm thường mà được phú quý hoặc được nhiều người ngưỡng mộ thì sẽ mang họa vào thân.
  3. Hôn nhân bao giờ cũng là một sự may rủi. Dù sáng suốt và chịu tốn công thì cũng không chắc gì kiếm được người hợp ý mình; phải chung sống năm ba năm mới rõ được tính tình của nhau.
  4. Có những hoa hữu sắc vô hương mà ai cũng quý như hoa hải đường, hoa đào; nhưng đàn bà nếu chỉ có sắc đẹp thôi, mà không được một nét gì thì là hạng rất tầm thường. Chơi hoa tôi thích nhất loại cây cao; có bóng mát, dễ trồng và có hương quanh năm như ngọc lan, hoàng lan. Ở đâu tôi cũng trồng hai loại đó.
  5. Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như Kinh Dịch nói, lúc thì âm (xấu) thắng, lúc thì dương (tốt) thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.
  6. Hồi trẻ, quan niệm của tôi về hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một công việc hữu ích mà mình thích, gia đình êm ấm, con cái học được, phong lưu một chút chứ đừng giàu quá. Nhưng hồi năm mươi tuổi tôi thấy bấy nhiêu chưa đủ, cần thêm điều kiện này nữa: sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng.

Nguồn: FB Nguyễn Quang Minh

NHẬP THỂ SÂU ĐẬM – MỘT Ý NGHĨA KHÁC CỦA LỄ GIÁNG SINH

NHẬP THỂ SÂU ĐẬM – MỘT Ý NGHĨA KHÁC CỦA LỄ GIÁNG SINH

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Cách đây vài năm, trong một buổi hội thảo tôn giáo, một người tiến đến gần máy vi âm, sau khi xin lỗi vì ông nghĩ đây là câu hỏi không phù hợp, ông hỏi: “Tôi mê con chó của tôi.  Khi nó chết, nó có lên thiên đàng không?  Động vật có đời sống vĩnh cửu không?”

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng qua cái nhìn của đức tin Kitô giáo, thì có, con chó có thể lên thiên đàng.  Đó là một trong các ý nghĩa của lễ Giáng Sinh.  Chúa xuống trần để cứu thế giới, không phải chỉ con người sống trên quả đất.  Nhập thể có một ý nghĩa cho nhân loại, nhưng cũng có ý nghĩa cho toàn vũ trụ.  Chính xác điều đó có nghĩa là gì, trí tưởng tượng của chúng ta không ở tầm mức hình dung ra được, nhưng, nhờ nhập thể, con chó cũng có thể lên thiên đàng.  Có hoang tưỏng đây không?  Không, đó là giảng dạy của Kinh Thánh.

Lễ Giáng Sinh là lễ mừng Chúa ra đời, chúng ta thấy trong sự ra đời của Ngài là khởi đầu mầu nhiệm nhập thể diễn ra trong lịch sử, mầu nhiệm Chúa mặc xác phàm để cứu nhân loại.  Và với điều này, chúng ta có khuynh hướng đấu tranh, làm sao để hiểu Chúa cứu thế giới có nghĩa là gì.  Hầu hết chúng ta xem điều này có nghĩa là Chúa Kitô xuống trần để cứu con người, những người trong chúng ta có ý thức về mình và những tâm hồn vĩnh cửu.

Điều đó đúng, nhưng đức tin cũng đòi hỏi chúng ta tin rằng hành động cứu rỗi của Chúa trong Chúa Kitô trải rộng ra ngoài cả loài người, ngoài cả động vật và các sinh vật sống khác.  Hành động của Chúa trong Chúa Kitô đạt đến mức sâu đậm đến mức có thể cứu được chính sự tạo dựng – đại dương, núi đồi, đất đai trồng trọt, cát trong sa mạc và chính quả đất.  Chúa Kitô xuống trần cứu tất cả mọi sự, chứ không phải chỉ một mình loài người chúng ta.

Chúng ta có thể hỏi ở đâu Sách Thánh đã dạy những điều này?  Điều này được dạy ở hầu hết mọi chỗ một cách ngầm mặc, nhưng nó được dạy một cách khá rõ ràng ở một số nơi khác nhau.  Chẳng hạn trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma (8, 19-22), ngài viết: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.  Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người.  Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.  Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở.”

Điều này có thể làm chúng ta ngạc nhiên, vì cho đến gần đây, việc giảng dạy và giáo lý của chúng ta thường không làm điều này trở nên rõ ràng.  Tuy nhiên ở đây Thánh Phaolô đã nói, chính sự tạo dựng thể lý, toàn vũ trụ, vào ngày tận thế, sẽ được biến đổi một cách vinh quang nào đó và được lên thiên đàng, tất cả cũng như loài người.  Ngài cũng nói rằng, như chúng ta, cũng cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn hiện nay của mình.

Chúng ta cũng phải tự đặt cho mình câu hỏi này không?  Chúng ta nghĩ gì sẽ xảy ra với tạo dựng thể lý vào cuối thời gian?  Nó sẽ bi hủy hoại, đốt cháy, tiêu diệt?  Hoặc đơn giản nó sẽ bị bỏ rơi, bỏ trống, bỏ hoang như cảnh sân khấu sau khi vở diễn kết thúc, trong khi chúng ta tiếp tục cuộc sống ở nơi khác?  Sách Thánh chỉ dẫn cho chúng ta một cách khác, Sách Thánh nói với chúng ta chính tạo dựng thể lý, quả đất chúng ta sẽ được biến đổi (“không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát”) và sẽ lên thiên đàng với chúng ta.  Làm thế nào điều này sẽ xảy ra?  Chúng ta không thể hình dung được điều này, cũng như chúng ta không hình dung được trạng thái biến đổi của chính mình.  Nhưng Sách Thánh bảo đảm với chúng ta điều này sẽ xảy ra, vì cũng như chúng ta, thế giới chúng ta, tạo dựng thể lý cũng được định sẵn để chết, và cũng như chúng ta, cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn của mình và trở thành bất tử.

Khoa học đồng ý.  Nó cho chúng ta biết, tạo dựng thể lý là chết, mặt trời thiêu cháy, năng lượng từ từ giảm dần và quả đất như chúng ta biết sẽ có ngày chết.  Trái đất cũng sinh tử như chúng ta, vì thế để có tương lai, trái đất phải được cứu bởi một cái gì đó hay bởi một ai đó bên ngoài.  Cái Gì Đó và Ai Đó được mạc khải qua mầu nhiệm nhập thể, qua đó Chúa mặc xác phàm trong Chúa Kitô để cứu thế giới – và những gì Ngài cứu không phải chỉ có một mình chúng ta, những người sống trên quả đất nhưng đúng ra là “thế giới”, chính hành tinh và tất cả mọi thứ trên đó.

Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta không có gì cuối cùng là hư mất.  Không một sợi tóc của một ai rơi, không một con chim sẻ nào rơi và biến mất mãi mãi, như thể nó chưa tồn tại.  Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương, chăm sóc và cuối cùng làm sống lại từng mảnh tạo dựng cho muôn đời kể cả con chó yêu quý.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Thế Gian Có 4+1 Kiểu Người (Vỏ Lon Bia)

Thế Gian Có 4+1 Kiểu Người (Vỏ Lon Bia)

Ngày nghỉ cuối tuần, trong lúc vợ đi chợ, anh ta ở nhà, pha bình trà nhâm nhi. Ngồi buồn, anh lấy lon bia ra nhấm nháp. Bỗng anh nảy ra một “sáng kiến”, gật gù khoái chí.

Uống xong, anh ném luôn vỏ lon ra đường, rồi nhìn chằm chằm vào chiếc vỏ lon nằm chỏng chơ ở đó.

Thế gian có 4+1 kiểu người

Chẳng lâu sau đó, một người đàn ông đi tới, vô ý giẫm phải chiếc lon, trượt chân suýt ngã. Hậm hực nhìn quanh bằng đôi mắt đỏ ngầu tức giận, ông ta buông vài câu chửi tục, rồi bỏ đi.

Một lúc sau, có cô gái bước tới, suýt giẫm phải chiếc vỏ lon, nhưng may thay, cô đã kịp thấy và thản nhiên đi tiếp.

Chừng mười phút nữa, một em bé nhìn thấy, vội vàng chạy tới nhặt vỏ lon, đem bỏ vào thùng rác công cộng.

Vợ vẫn chưa về, anh lại chăm chú nhìn xuống lòng đường. Chiếc xe rác leng keng đi tới. Những người công nhân lại nhặt chiếc vỏ lon ấy, bỏ vào chiếc túi riêng, treo bên cạnh chiếc xe.

Vợ đi chợ về, anh hớn hở khoe: “Ngày hôm nay anh chiêm nghiệm được một điều rất kỳ thú nhé”, rồi thuật lại cho vợ chuyện vừa xảy ra.

Anh phấn khích rút ra triết lý sống ở đời: “Vậy là trong xã hội có 4 loại người. Loại thứ nhất trước việc sai trái chỉ biết chửi cho sướng miệng mình, thật đáng phê phán. Loại thứ hai bình chân như vại, việc sai mặc ai, thật đáng chê. Kiểu thứ ba là thấy việc sai trái không thuận mắt, sửa ngay. Còn kiểu người thứ tư, thật đáng khâm phục. Họ biết tìm niềm vui trong lao động, cải tạo những thứ vô ích để trở thành thứ có ích”.

Anh cười lớn với sự “chiêm nghiệm sâu sắc” của mình, nhưng nhìn sang vợ, anh lại thấy cô có nét buồn. Anh bèn hỏi vợ: “Anh nói sai hay sao mà trông em nhăn nhó thế?”.

– Em rất buồn vì không ngờ…

– Không ngờ gì?

– Không ngờ anh quên đi một loại người đáng phải nói. Loại người là thủ phạm của việc sai trái, nhưng không chịu nhìn để thấy, mà lại chỉ thích phán xét và tìm lỗi ở người khác. Những con người ấy, theo anh thì phải kết luận thế nào đây?

Nghe vợ nói, anh ta ngồi đơ ra như một pho tượng.

Biết cái sai của mình là Trí, không tính đến cái sai của người là Nhân

Kỳ thực, thấy cái sai của người khác và buông lời phán xét là việc rất dễ dàng. Thế nhưng, để hướng nội – tự nhìn vào bản thân để thấy thiếu sót của mình, đồng thời không phán xét, nhìn thấu nguyên nhân đằng sau cái sai của người khác, để hiểu và cảm thông, thì không phải ai cũng có thể làm được.

Bởi lẽ, con người ta sinh ra, ai cũng có “cái tôi”, với khuynh hướng tự bảo vệ cho lý lẽ, quan điểm cá nhân, khi xảy ra sự việc thì nhìn vào người khác chứ không xét lại lỗi mình, không muốn thừa nhận rằng mình sai. Sai lầm khiến người ta xấu hổ và cảm thấy mình kém cỏi chăng? Nhưng làm người, có ai chưa từng phạm phải lỗi lầm chứ? Chúng ta chẳng phải đều trưởng thành từ những lần thử và sai đó ư, kể cả việc nhìn thấy cái sai của người khác để dặn lòng không bao giờ mắc phải những lỗi như vậy!

Vậy nên, hãy nghiêm túc soi xét lại mình và sửa sai, và hãy bao dung cho sai lầm của người khác. Chúng ta không muốn sống trong một môi trường, nơi mà những sai lầm nhỏ trở thành cái cớ để bị dè bỉu, phán xét, quy chụp. Vậy, xin đừng góp gió thành bão mà tạo nên cái văn hóa ấy.

Đừng chỉ nhìn bằng cặp mắt dò xét, cũng đừng ngạo nghễ, cho mình là cao minh hơn người như anh chàng trong câu chuyện. Người khiêm tốn, luôn biết tự tu sửa bản thân, ắt sẽ có trí huệ, được mọi người yêu kính. Người có thể thấu hiểu nỗi khổ và cái khó của người khác, thiện ý lý giải lỗi lầm của người khác là người có tấm lòng nhân từ độ lượng, khiến mọi người mến phục.

Lịch sử có ghi lại, Bảo Thúc thời Xuân Thu (Trung Quốc) chính là một người như vậy.

Câu chuyện Quản Trọng và Bảo Thúc

Thời Xuân Thu, ở nước Tề, có hai nhà chính trị tài giỏi là Quản Trọng và Bảo Thúc, vốn là đôi tri kỷ.

Bảo Thúc chết, Quản Trọng thương tiếc, khóc như mưa, ướt đầm cả vạt áo.

Có người hỏi: “Ông với Bảo Thúc không phải là họ hàng thân thích gì, mà sao ông thương khóc quá như vậy?”.

Quản Trọng nói:

“Ngươi không rõ, để ta nói cho mà nghe.

Ta lúc nhỏ khốn khổ, thường buôn chung với Bảo Thúc, lúc chia lãi, bao giờ ta cũng lấy phần hơn, mà Bảo Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẩn bách bất đắc dĩ phải làm thế.

Ta ở chỗ chợ búa thường bị lắm kẻ bắt nạt, Bảo Thúc không cho ta là nhát, biết ta có lượng bao dung.

Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng, Bảo Thúc không cho ta là ngu, biết có lúc may, lúc không may, cho nên công việc thành hay bại.

Ta ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bảo Thúc không cho ta là bất tiếu (người không ra gì), biết ta chưa gặp thời, chưa tìm được vua giỏi.

Ta ra trận ba lần, đánh thua cả ba, Bảo Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn có mẹ già phải phụng dưỡng.

Ta nhẫn nhục thờ vua Hoàn Công, Bảo Thúc không cho ta là vô sỉ, biết ta không giữ tiểu tiết, có chí làm ích lợi cho cả thiên hạ.

Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bảo Thúc. Mà đối với người biết mình, mình đem cả tính mạng ra hiến còn chưa cho là quá, huống chi thương khóc thế này đã thấm vào đâu”.

Hãy thử tưởng tượng, nếu một xã hội mà ai cũng có thể cư xử như Bảo Thúc đối với Quản Trọng, chẳng phải sẽ tốt đẹp lắm ư? 

Thanh Tâm

From: Phong Dương

ĐÁNH MẤT CƠ HỘI NGÀN VÀNG

ĐÁNH MẤT CƠ HỘI NGÀN VÀNG

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm lễ Giáng sinh)

Có một thái tử vào rừng săn bắn, tình cờ gặp một cô gái quê đang kiếm củi một mình. Không hiểu Trời xui đất khiến làm sao mà hai con người có địa vị cách biệt quá xa lại tỏ ra tâm đầu ý hợp và hai bên lại yêu nhau tha thiết ngay từ phút gặp mặt đầu tiên.

Sau đó, hoàng tử quay về triều như kẻ mất hồn, ngày đêm tương tư cô gái nghèo mà anh đã đem lòng thương mến. Thế rồi, do lòng yêu thương thúc đẩy, anh khẩn khoản nài xin vua cha cưới nàng cho bằng được.

Để tìm hiểu xem cô gái có thực sự yêu thương con trai mình bằng tình yêu chân thực, hay chỉ yêu vì gia tài, địa vị, quyền thế của chàng, vua cha truyền dạy hoàng tử cải trang làm nông dân để thử lòng cô gái.

Thế là vị hoàng tử quyền quý, hoá trang thật khéo, y hệt người nông dân quê mùa chất phác, đến dựng lều gần nhà cô gái, ngày ngày vác cuốc ra đồng làm lụng, làn da cháy nắng, đôi tay chai sần. Anh lân la làm quen với cô gái trong hình hài nông dân.

Mặc dù cô gái vẫn thầm yêu và khát mong được kết hôn với vị hoàng tử mà cô đã gặp trong rừng, nhưng trớ trêu thay, cô ta không nhận ra vị hoàng tử nầy trong hình hài người nông dân nghèo khổ nên đã đối xử với anh rất lạnh nhạt và cuối cùng đã xua đuổi anh đi, trong khi lòng cô vẫn thổn thức nhớ thương chàng hoàng tử hào hoa mà cô đã gặp trong rừng!

Tiếc thay, cô đã đánh mất cơ hội vô cùng quý báu: mất một người yêu lý tưởng, mất luôn cả vinh dự trở thành công nương, thành hoàng hậu tương lại.

Như vị hoàng tử rời khỏi hoàng cung, hoá thân thành nông dân đến dựng lều bên cạnh nhà cô gái, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ bỏ ngai trời, hoá thân thành người phàm và đến ở giữa chúng ta. Ngài là Em-ma-nu-en, là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài tự đồng hoá mình với những người láng giềng đang sống quanh ta.

Chúa Giê-su khẳng định rằng mỗi người đang sống chung quanh ta cũng chính là Ngài. Những ai cho người đói khát cơm ăn, áo mặc thì Ngài nói là họ đang cho Ngài ăn, mặc. Những ai chăm sóc người đau bệnh là đang chăm sóc Chúa. Tóm lại, bất cứ điều gì chúng ta làm cho người chung quanh là làm cho chính Chúa… Vì những người đó là phần thân thể của Chúa Giê-su (Mt 25, 34 – 40).

Thật trớ trêu, đang khi chúng ta vẫn yêu mến, suy tôn chúc tụng Thiên Chúa ngự trên cõi trời cao hoặc cung kính bái lạy tượng ảnh Ngài trên bàn thờ, thì chúng ta lại tỏ ra thờ ơ hờ hững và thậm chí còn đối xử tồi tệ với tha nhân là những chi thể sống động của Ngài, là hiện thân của Ngài đang hiện diện chung quanh.

Hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người nông dân, người cùng khổ, người láng giềng, người bạn đồng nghiệp và cả những người nhà, để sống với chúng ta. Thế nhưng chúng ta không nhận ra Chúa nơi những người đó, nên chúng ta thường đối xử tệ bạc với họ. Thế là bi kịch cô gái nghèo hết lòng yêu thương chàng hoàng tử hào hoa nhưng lại phụ bạc anh ta dưới lốt nông dân nghèo khổ vẫn còn đang tiếp diễn từng ngày. Thế là “Ngài đã đến nhà của Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận Ngài” (Gioan 1, 11).

Thật vô cùng đáng tiếc cho cô gái trong câu chuyện trên đây vì đã đánh mất cơ hội ngàn vàng: Cơ hội trở thành công nương chốn cung đình, cơ hội được hạnh phúc trăm năm bên hoàng tử giàu sang phú quý!

Và cũng vô cùng đáng tiếc cho chúng ta khi chúng ta tiếp tục lặp lại bi kịch ấy trong cuộc đời mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Thánh Phanxicô Assisi nhận ra người phong cùi là một phần chi thể đang bị ung nhọt của Chúa nên ngài đã ôm hôn người phong ấy với tình yêu thắm thiết.

Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta cũng đã nhận ra những người bệnh tật, hấp hối là những phần chi thể bị tổn thương của Chúa Giê-su nên mẹ đã dành phần lớn đời mình yêu thương chăm sóc họ.

Xin soi sáng cho chúng con biết rằng Chúa và những con người mà chúng con gặp gỡ hằng ngày chỉ là một, để rồi chúng con biết tôn trọng, yêu thương và phục vụ Chúa nơi những anh chị em đó.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà