T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

02/01/2022

Thứ nữ của nhà văn Vũ Khắc Khoan, chị Vũ Thị Gấm, có lẽ hiện đang sống đâu đó trong Silicon Valley (nơi còn được người Việt “mệnh danh” là Thung Lũng Hoa Vàng) của tiểu bang California.

Bốn mươi năm qua, tôi cũng vẫn quanh quẩn ở địa phương này nhưng chưa gặp lại chị Gấm lần nào. Thế mới biết là quả đất tuy tròn nhưng quá lớn nên cơ hội gặp lại cố nhân (để có dịp thưa thốt một lời thâm tạ) cũng chả dễ dàng chi.

Tôi tới Hoa Kỳ vào cuối năm 1980. Qua năm 82, sau khi tiêu hết đến đồng bạc trợ cấp cuối cùng, tôi xin đi bán xăng và ghi danh vào một trường đại học cộng đồng, West Valley College, nơi mà chị Vũ Thị Gấm đang làm cố vấn (academic counselor) cho những sinh viên vừa nhập khóa.

Chị hỏi:

– Em muốn học ngành gì?

 – Anthropology.

 – What?”

– Nhân Chủng Học!

Chị Gấm tròn xoe mắt như chợt nhìn thấy một sinh vật lạ, vừa đến từ hành tinh nào khác. Ở vào thời điểm ấy, gần như cả nước đều đói vàng cả mắt, đám thuyền nhân vừa rời Việt Nam đều mang theo một gánh nặng và nỗi ám ảnh chung là sự trông đợi (thuốc men, quà cáp, tiền bạc… của thân nhân hay bạn bè còn ở lại.

Do vậy, lớp người tị nạn đầu tiên đều hối hả học lấy một cái nghề tào lao gì đó (miễn là có thể kiếm việc được ngay) nên sự lựa chọn của tôi quả là có hơi xa vời và … xa xỉ!

Ở Mỹ, môn khoa học nhân văn thường chỉ dành cho người giầu có. Họ học để thoả mãn nhu cầu hiếu tri, hay để “trang trí” cho cuộc sống của mình thêm phần phong phú thôi em ạ.

Ngó bộ tôi chưa “thủng” nên bà chị nhẹ nhàng nói thêm đôi câu (nghe) hơi nặng:

– Với cái bằng Tiến Sỹ Nhân Chủng Học thì chỉ có hai cách để kiếm tiền thôi: đi dậy hoặc đi chạy taxi. Chị không tin là em có thể chạy taxi ở San Franciso hay New York, và cũng không nghĩ rằng người ta sẽ mướn một người thiểu số với cái giọng nói tiếng Anh (khó nghe) như em làm thầy giáo.

Ngưng chút xíu, chờ cho tôi thấm thía sự đời, rồi chị ấy lại thong thả tiếp:

– Nên học một cái gì nào thực dụng thì hơn, em ạ. Hiện tại ngành điện tử ở vùng này rất “hot.” Lương hướng cũng khá cao mà chỉ cần vài tháng là lấy được một cái chứng chỉ (certificate) và có thể đi làm kiếm tiền liền.

Từ thuở ấu thơ, tôi được mọi người trong gia đình “âu yếm” gọi tên là Út Khùng. Bạn học và bạn bè trong xóm cũng thế: Tiến Khùng. Tôi quả là “có hơi bị làm sao” thật nên vợ con không có, mèo chó cũng không, dù tam thập nhi lập tới nơi.

Không ai dám kỳ vọng hay trông chờ một đồng xu (hay cắc bạc) nào từ một thằng khùng cả nên tôi vô cùng nhẹ gánh. Tuy thế, tôi lại tự gán cho mình một sứ mệnh khá nặng nề và vô cùng cao cả (khác). Nó cao đến độ hơi khó có thể giãi bầy với một người mới gặp lần đầu:

Em muốn… em muốn… tìm hiểu một ngành học lạ, chưa hề có ở VN, để khi về nước sẽ lập một phân khoa về Nhân Chủng Học chị ạ…

Tôi nói chưa hết ý nhưng chị Gấm xem chừng đã bị lùng bùng (luôn cả hai tai) và không còn kiên nhẫn nữa:

– Còn nhiều người đang chờ nên em cứ về suy nghĩ kỹ đi. Mai mốt mình sẽ bàn luận thêm cũng được.

Đúng hẹn tôi trở lại. Vẫn nhất định giữ nguyên cái ước mơ xa vời (và xa xỉ) của mình. Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Cuối cùng, bà chị đành chép miệng:

– Thôi thế này vậy. Thay vì Nhân Chủng Học, em theo ngành Xã Hội đi. Đường có thể ngắn hơn vì không nhất thiết phải học đến tiến sỹ, và cơ hội kiếm được việc làm cũng dễ dàng hơn. 

Thấy tôi hơi nhăn mặt nên chị Gấm tiếp liền:

– Sau khi xong cử nhân thì em ghi danh học tiếp về Công Tác Xã Hội (Social Work) nhá. Chương trình tương đối nhẹ vì vừa học vừa được gửi đi thực tập, và thời gian thực tập vẫn có thể được trả lương hoặc được nhận stipend

– Stipend là cái gì hả chị?

– Cũng tựa như một loại học bổng cho sinh viên nghèo vậy mà.

– Social Work có nhiều nhánh lắm: child welfare, aging, mental health … Nếu lựa chuyên về sức khoẻ tâm thần thì sau khi ra trường, và sau hai năm làm việc toàn thời gian, em sẽ hội đủ điều kiện để thi lấy bằng hành nghề tâm lý trị liệu. Psychotherapy hoàn toàn còn mới lạ ở Việt Nam nên sau này, khi có cơ hội trở về, tha hồ mà … múa gậy vườn hoang. Chịu chưa?

Mãi đến giờ tôi vẫn nhớ nụ cười chế giễu của chị Gấm, sau câu nói cuối cùng. Tôi theo đúng từng bước như lời của bà chị cố vấn nhưng đợi gần nửa thế kỷ rồi mà đường về thì vẫn không có lối. Tôi chả có cơ hội nào lập một phân khoa Tâm Lý Trị Liệu ở nơi quê hương, xứ sở của mình, dù tóc đã điểm sương!

Bằng cấp, rốt cuộc, rồi cũng chỉ là thứ cần câu cơm, không hơn không kém. Dù sao thì tôi vẫn phải nhớ ơn chị Gấm vì nhờ lời khuyên bảo chí tình của chị mà tôi kiếm được một cái cần câu khá tốt, để làm kế sinh nhai, thay vì chạy taxi, cho hết phần đời còn lại.

Giấc mơ Nhân Chủng Học tuy đã chết từ lâu nhưng tôi vẫn chưa chôn. Thỉnh thoảng (khi lang thang trên mạng) nếu thấy có ai viết chi đó về khai quật, mồ mả, xương cốt, đồ đá, đồ sắt, đồ đồng… thì thế nào tôi cũng ghé mắt xem qua chút xíu.

Tuần rồi, tôi tình cờ đọc được hai bài viết ngắn (đề cập đến quan niệm của nhà nhân chủng học Margaret Mead) về điểm xuất phát của nền văn minh nhân loại:

Helping someone else through difficulty is where civilization starts”

A 15,000 year old bone and the Fall 2013 issue of Reflections

Xin tóm lược:

Khi được hỏi rằng điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của văn minh? Mead trả lời rằng trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì cầm chắc như là chết. Bởi nó sẽ không còn khả năng kiếm sống và sẽ bị bị đồng loại ăn thịt tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi bị gẫy và được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây chính là di chỉ của sự văn minh: chứng tích về sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, để sinh tồn của loài người. Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh.

Quan niệm dung dị của nhà nhân chủng học Margaret Mead khiến tôi không khỏi chạnh lòng khi chợt nhớ đến một mẩu tin ngắn, đọc được trên báo Công An, vào hôm 22/08/2020: Truy tìm kẻ cướp giật vé số của người khuyết tật ở Bình Dương.

Mà nào có riêng chi ở Bình Dương. Loại tin tức tương tự vẫn xuất hiện nhan nhản hằng ngày trên mặt báo:

–       Khởi tố “nữ quái” giật vé số của cụ bà U70.

–       Cụ bà 75 tuổi bị giật 150 tờ vé số.

–       Cướp giật vé số của người già đi bán vé số dạo, nam thanh niên bị bắt.

–       Bắt hai gã trai tráng chuyên đi cướp vé số của người nghèo.

–       Cướp giật vé số của người tàn tật.

Những công dân lão hạng và khuyết tật ở Việt Nam – rõ ràng – không được xã hội cưu mang nên vẫn phải tìm mọi cách để mưu sinh, và vẫn bị đồng loại “làm thịt” đều đều. Ở xứ sở này khái niệm về sự tương trợ hay giúp đỡ lẫn nhau, dường như, mỗi lúc một thêm xa lạ.

Giữa những ngày bão lụt, thiên hạ không khỏi ngỡ ngàng khi đọc một mẩu tin đang lan tràn trên báo chí: “Tìm được trâu bị lũ cuốn trôi chủ nhân bị đòi 10 triệu tiền chuộc.” FB Phạm Văn Thành đặt câu hỏi: “Con người đã thành hùm beo tự khi nào?”

Vấn đề cũng không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân. Ở bình diện thể chế cũng thế, chính sách và chủ trương của nhà nước hiện hành tại Việt Nam cũng không dung tha những người thất thế. Đất đai là sở hữu của toàn dân – xin đan cử một thí dụ – chỉ là một thứ điều luật để hợp pháp hóa những vụ cướp bóc và sát nhân ở đất nước này.  

Ngày 9 tháng 1 năm 2020, một nông dân Việt Nam ở huyện Mỹ Đức, Lê Đình Kình đã bị giết hại khi vết thương đùi (bị một đồng chí của ông đá gẫy) vẫn chưa lành lặn. Mai hậu, nếu những nhà nhân chủng học tương lai khai quật được hài cốt của nhân vật này (hoặc tìm ra mấy đôi nạng sắt cùng những cái chân giả – nằm vương vãi giữa đống xà bần đổ nát, ở vườn rau Lộc Hưng – sau vụ cưỡng chế đất đai hồi năm 2019) họ “dám” sẽ kết luận rằng đó là dấu chỉ của nơi mà văn minh bắt đầu suy tàn, vào hồi thế kỷ XXI AD.

 – Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

08/01/2022

Nhiếp ảnh gia Trần Công Nhung (24/08/1935 – 01/01/2022) đã may mắn được có dịp đi viếng thăm khắp nước, trước khi tạ thế. Ông vừa đi, vừa bấm máy, vừa huyên thuyên trò chuyện:

Tiếp tục con đường tỉnh lộ chúng tôi chạy về hướng chiến khu Yên Thế. Đường từ Tiên Lục qua Bố Hạ có đoạn còn rải sỏi đỏ. Bố Hạ là quê hương của giống cam nổi tiếng xưa nay. Nhưng anh bạn đi cùng cho biết đã tuyệt chủng, vì sự cải tiến sai lầm của mấy ông cán bộ nông nghiệp. 

Hồi đó các ông học cách ghép cây bên Liên Sô, thấy bưởi quả to nên mượn cam ghép bưởi vào, để có những quả cam Bố Hạ lớn như bưởi, bao nhiêu gốc cam cưa sạch. Từ đó Cam Bố Hạ sinh ra một thứ bưởi không phải bưởi, cam không phải cam, thua xa Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Quảng Trạch… Bưởi Năm Roi, một thứ“sáng kiến quái thai”. Hiện nay may ra còn sót một vài cây trong vườn nhà dân, người ta dự trù gây lại giống cam này.

Cái “sáng kiến quái thai” này khiến tôi nhớ đến một bài viết cũ (“Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”) của tác giả Dương Quốc Chính. Ông cũng đề cập tới chuyện giao phối khác giống, giữa lừa với ngựa, và ví von rằng thành quả là Nền Kinh Tế Con La hiện nay của nước CHXHCNVN.

Thưa thật là tôi chưa được tận mắt nhìn thấy con la, bằng xương bằng thịt, lần nào cả. Tôi cũng chả hiểu sao lại có sự ví von ngộ nghĩnh như thế. Gu gồ “con la” thì tìm ra được những dòng chữ như sau:

Mules and hinnyies have 63 chromosomes, a mixture of the horse’s 64 and the donkey’s 62. The different structure and number usually prevents the chromosomes from pairing up properly and creating successful embryos, rendering most mules infertile. (La là con vật lai giữa ngựa cái và lừa đực. Về hình dạng con la giống lừa hơn là ngựa. Trong khi ngựa có 64 nhiễm sắc thể, và lừa có 62, con la có 63 nhiễm sắc thể. Con số lẻ này không cho phép các nhiễm sắc thể phân chia thành cặp, do đó, la hầu như không có khả năng sinh con, hay còn gọi là vô sinh.)

Thảo nào!

Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa quả là… vô sinh thật. Chả những nó không sản xuất được gì ráo trọi mà còn gây ra tình trạng “thua lỗ” (hay “âm vốn”) đều đều nữa chớ. Hổng tin, thử ngó qua tin tức liên quan đến tình trạng sản xuất của đám xí nghiệp quốc doanh mà xem:

— Báo Lao Động: Hàng loạt doanh nghiệp rơi vào cảnh thua lỗ, âm vốn 
— Báo Tiền Phong: Một Trăm Lẻ Bẩy doanh nghiệp thua lỗ
— Báo Thanh Niên: Năm doanh nghiệp nhà nước lỗ gần 17.000 tỉ

— Báo Tuổi Trẻ: Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước lỗ nặng
— Báo Vietnamnet:  Mười hai đại dự án thua lỗ nợ 63 nghìn tỷ

Đọc mà tối tăm mặt mũi, dù những mẩu tin trên chả mới mẻ gì và đã xuất hiện thường xuyên trên báo chí nước nhà từ mấy thập niên qua. Đến hôm 24 tháng 9 năm 2020 thì Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, khẳng định: “Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ nét.” Là người “tế nhị” nên ông Bình không nói rõ là “nét” gì cả nhưng mọi người đều  “ngầm hiểu” là … nét lỗ! FB Văn Toàn “chốt” lại: 

— Đào than lên bán = lỗ

— Hút dầu lên bán = lỗ

— Đào quặng lên bán = lỗ

— Tăng giá điện bán độc quyền = lỗ

—  Có cái QQ gì nhà nước CS nhúng tay là lời không?

Có chớ! 

Kỹ nghệ “xuất cảng người” thì VN  lời “khẳm” và lời triền miên luôn. Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng nhiều phương cách, Đảng và Nhà Nước đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Tính rẻ (và gọn) thì chỉ cỡ một phần ba là thành mồi cho cá mập thôi. Còn đám vùi thây ở những trại tị nạn Á Châu thì tuy cũng có nhưng không đáng kể!

Số còn lại phiêu bạt tứ tán, tha phương cầu thực, khắp bốn phương trời. Ngoài tập thể thuyền nhân đi chui (hay bán chính thức) này, còn có nhiều người ra đi hoàn toàn hợp pháp bằng máy bay, cùng với không ít số người xuất khẩu lao động nữa. 

Tất cả đều chăm chỉ làm lụng, dành dụm tích cóp từng đồng, và chỉ đợi đến cuối năm là xin phép để được trở lại chốn xưa vài tuần hay vài bữa. Ai cũng mặc áo gấm về làng, và chả ai quên mang theo cái ví hay cái bóp đầm. Đó là chưa kể số tiền gửi về lai rai hàng tháng.

Hôm đầu năm, Tuổi Trẻ Online (số phát hành hôm 22/01/2021) hớn hở loan tin: “COVID-19 không ‘làm hại’ kiều hối. Ước tính có 15,7 tỉ USD kiều hối đã chuyển về VN, bên cạnh kiều hối Việt kiều còn có người VN lao động ở nước ngoài gửi về bổ sung nguồn vốn sản xuất kinh doanh, tăng tiêu dùng và thúc đẩy đầu tư”.

Đến cuối năm, vào ngày 19 tháng 12 năm 2021, bỉnh bút Phạm Lê Đoan (VNTB) cho biết thêm: 

“Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) dự báo lượng kiều hối về Việt Nam năm 2021 tăng 5% so với năm ngoái, lên đến 18,06 tỷ đô-la Mỹ, nghĩa là chiếm tới 4,9% GDP quốc gia, cao nhất từ trước đến nay và thuộc top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới. Cụ thể luôn, với mức này, lượng kiều hối của Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, và xếp thứ 8 thế giới.”

Chủ Tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ nói không sai (một cắc) là “tiền trong dân còn khá nhiều.” Riêng với đám dân làm việc hay sinh sống ở nước ngoài thì tiền còn nhiều lắm, chứ không chỉ là “khá nhiều” đâu.

Bởi vậy, Hàng Không Việt Nam đã nẩy sinh ra một sáng kiến thần tốc là tổ chức những “chuyến bay giải cứu đồng bào,” hay “còn được gọi là chuyến bay nhân đạo từ Mỹ về Việt Nam.” Tuy mang danh tình nghĩa đậm đà như vậy nhưng giá vé lại quá cao khiến thiên hạ nhao nhao phản đối:

Những ‘chuyến bay giải cứu’ bóp cổ đồng bào
Chấm dứt ngay chuyến bay hồi hương trục lợi
VN nói ‘giải cứu công dân’ nhưng ‘chặt chém’ ai muốn bay về quê hương

Tham thì thâm!

Thiên hạ vẫn “bay về quê hương” nhưng họ tìm đường đi khác. Một công dân Việt Nam, ông Gia Bảo, chia sẻ với BBC ít nhiều cay đắng: 

Tôi muốn tự tìm hiểu để cho một số người Việt Nam ở nước ngoài cũng muốn về bằng đường Campuchia biết được thế nào. Trước ngày khởi hành tôi cũng rất lo sợ nhưng vẫn vui vẻ chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị kẹt lại Campuchia. Thà chấp nhận rủi ro nhưng mình không chấp nhận bỏ khoản tiền lớn cho bất kỳ công ty lữ hành nào, tôi kiên quyết không ủng hộ bất kì chuyến bay cứu trợ hay hồi hương mà có giá 70-80 triệu VND…

Thử nghĩ một chuyến charter khoảng 300 chỗ, mỗi người trả 70-80 triệu mà đồ ăn bị cắt xén và cách ly ở khách sạn dù 4 sao nhưng là 2 người một phòng nên tôi thấy quá vô lý. Tôi không muốn bỏ tiền trả một thứ gì đó không đúng giá trị thật. Và tôi quyết định về bằng đường Campuchia cũng là để chia sẻ với mọi người rằng về bằng cách này không có gì khó khăn.

Đúng như BBC tiên đoán: “Vietnam Airlines sau mùa ‘giải cứu trục lợi’ sẽ còn thua lỗ nữa.”  Chắc chưa ai quên là cái hãng hàng không quốc doanh này vừa  được Ngân Hàng Nhà Nước cho vay bốn ngàn tỷ cách đây chưa lâu, dù đang “đối mặt với rủi ro kiện tụng pháp lý với số nợ quá hạn quá cao” – theo tin báo Dân Việt, đọc được vào hôm 21 tháng 6 năm 2021.

Sao đụng đâu lỗ đó mà vẫn cứ nằng nặc ĐHXHCN hoài vậy, mấy cha?

Đó là một câu hỏi rất ngu của riêng tôi. Chỉ cần bớt ngu hơn chút xíu thì ai cũng tìm được ngay ra câu trả lời: Chứ không cố bám vào “cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa” thì lấy lý do gì để vẫn tiếp tục cầm quyền, và mất ghế lãnh đạo thì làm sao tiếp tục sống ký sinh được nữa?

Thêm một câu hỏi nữa, cũng ngu (và hèn không kém) của kẻ đang viết những dòng chữ này: Chả hiểu dân Việt Nam sẽ vẫn cứ tiếp tục để cho cái loài ký sinh này sống bám vào đất nước của họ thêm bao lâu nữa?

Tưởng Năng Tiến

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI?

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Chuyện kể về một triết gia người Đức rất nổi tiếng, Schleiermacher, người định hình sự tiến bộ của tư tưởng hiện đại.  Một chiều kia, khi đèn đã lên, ông ngồi một mình trong công viên.  Một cảnh sát đi tới, với ý định bắt ông vì nghĩ rằng, ông là một gã say, lang thang.  Cảnh sát hỏi, “Ông là ai?”  Schleiermacher buồn bã trả lời, “Ước gì tôi biết!”

Kính thưa Anh Chị em,

Thật ngạc nhiên, Schleiermacher quên mình là ai!  Cũng thế, đôi khi trong cuộc sống, chúng ta không nhớ mình “là ai và phải trở thành ai?”  Trong Tin Mừng hôm nay, Gioan Tẩy Giả sẽ chỉ cho chúng ta bí quyết để mỗi người nhớ rõ căn tính mình; đó là, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Trước hết, việc Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc sống của mỗi người chúng ta phải là mục tiêu hàng đầu.  Ngài phải chiếm hữu tâm trí và ý chí chúng ta ngày càng hơn; Ngài phải sở hữu chúng ta, và chúng ta sở hữu Ngài.  Nó có nghĩa là mọi nghi ngờ và sợ hãi phải được gạt sang một bên và tình yêu dành cho Ngài phải trở nên lý do của cuộc sống.  Sẽ thật tự do khi chúng ta cho phép Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc đời mình.  Cuộc sống ấy sẽ được giải phóng theo nghĩa, “tôi không còn tìm cách tự quản nó;” vì Ngài, Đấng sống trong tôi, sẽ đảm nhiệm công việc đó.  Trong Ngài, tôi biết mình “là ai và phải trở thành ai;” tôi là của Ngài và mỗi ngày, tôi phải trở thành một Giêsu khác!

Thứ hai, khi nói “Còn tôi nhỏ lại”, Gioan muốn nói, ý chí, ước muốn, tham vọng, hy vọng… của Gioan phải tan biến khi Chúa Giêsu làm chủ hoàn toàn con người Gioan.  Từ bỏ mọi ích kỷ và sống vị tha phải là nguyên tắc căn bản trong cuộc sống chúng ta!  “Nhỏ lại” trước mặt Thiên Chúa có nghĩa là trở nên khiêm tốn; từ bỏ mọi thứ không phải của Chúa và chỉ cho phép Ngài soi rọi.  Chúng ta chỉ có thể từ bỏ một tình yêu nhỏ hơn vì một tình yêu lớn hơn!  Mỗi ngày, Gioan đặt khát vọng và tình yêu của mình vào Đấng Messia; hành động và ý hướng của Gioan tập trung vào Đấng sắp đến; Gioan biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Sự cô độc của Gioan trong sa mạc cho phép tình yêu này phát triển mà không bị phân tâm; Gioan chia sẻ, tất cả những gì chúng ta nhận được là từ trời, từ sự sống siêu nhiên được ban cho bởi cầu nguyện, chiêm ngưỡng và đón nhận.  Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Gioan tông đồ cũng nói, “Con Thiên Chúa đã đến, ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Ngài.”

Vậy mà rất nhiều lần, chúng ta làm điều ngược lại, “Cần tôi lớn lên, còn Chúa nhỏ lại,” chúng ta không biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Cám dỗ tìm kiếm chính mình trong ơn gọi, trong việc tông đồ, trong việc phục vụ Giáo Hội là một cám dỗ triền miên mọi thời, ở bất cứ ai, thuộc bất cứ đấng bậc nào!  Một số người chỉ cống hiến khi công việc phải mang lại cho họ danh dự hoặc nâng cao tầm quan trọng của bản thân.  Chúng ta tuyên bố phục vụ Chúa Kitô, nhưng nếu địa vị bị tổn hại vì những chỉ trích, hoặc thấy ai đó kém khả năng hơn đứng trên chúng ta về thứ hạng, trái tim chúng ta vỡ vụn; cam kết của chúng ta suy tàn.  Vào những thời điểm đó, chớ gì chúng ta có thể vượt qua thử thách mà Gioan đã vượt qua, vì “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Anh Chị em,

“Là ai và phải trở thành ai?”  Một câu hỏi xem ra có vẻ như một lối chơi chữ, nhưng là một câu hỏi đáng để suy nghĩ.  Bởi lẽ, không ai khác mà là “bạn và tôi,” chúng ta biết, cùng đích cuối cùng của cuộc hành trình làm người là chúng ta phải trở thành một Giêsu khác.  Nói đúng hơn, chúng ta phải ngày càng làm rỗng chính mình để Chúa Giêsu có thể lấp đầy mỗi người bằng chính Ngài.  Theo cách nói của Phaolô, “nên đồng hình đồng dạng với Ngài,” khi “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi!”  Vậy chúng ta phải làm gì để đạt được mục đích này?  Phải như Gioan, chúng ta phải xác tín, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”  Tình yêu của chúng ta dành cho Chúa Giêsu không phải là nỗ lực một sớm một chiều, nhưng như Gioan, nó là thành quả của nhiều năm cầu nguyện, chinh phục bản thân và trung thành với một cuộc sống hoán cải vốn phải được sống trước khi được rao giảng.  Như vậy chúng ta mới biết mình “là ai và phải trở thành ai.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết quên đi bản thân như Gioan, để hoa trái công cuộc cứu rỗi thế giới của Chúa và của Hội Thánh được gặt hái, vì “Chúa phải lớn lên, còn con nhỏ lại,” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

Richard

 From: TU-PHUNG

Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

  Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

Bức ảnh thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ đã trở thành khoảnh khắc huyền thoại trong lịch sử.

Năm 1999, khi đang mang bầu cậu con trai đầu lòng, cặp đôi Julie và Alex Armas đã phải đưa ra quyết định khó khăn giữa việc đình chỉ thai kỳ hay giữ lại con. Theo đó, khi siêu âm, các bác sĩ đã chẩn đoán thai nhi trong bụng Julie bị nứt đốt sống do không phát triển đầy đủ dây thần kinh. Nếu cố chấp sinh ra, đứa trẻ cũng không có nhiều cơ hội sống sót.

Chưa một giây dám nghĩ đến việc sẽ bỏ đi đứa con máu mủ của mình, cặp vợ chồng chấp nhận đánh cược với số phận và quyết giữ lại em bé. Cuối cùng, ngày 19/8/1999, khi đứa trẻ vừa tròn 21 tuần tuổi trong bụng mẹ, hội đồng y khoa tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt ở thành phố Nashville, bang Tennessee (Mỹ) đã quyết định phẫu thuật chữa trị cho em bé ngay bên trong tử cung mẹ.

Trong ca mổ khó khăn đó, Michael Clancy, một nhiếp ảnh gia tự do cũng có mặt. Anh đã may mắn ghi lại được khoảnh khắc quý giá khi đứa trẻ thiếu tháng yếu ớt cố gắng thò bàn tay tí xíu của mình ra bên ngoài bụng mẹ và nắm chặt lấy ngón tay bác sĩ Joseph Bruner, người đang chuẩn bị phẫu thuật cho em.

Bức ảnh có tên Bàn Tay Hy Vọng nổi tiếng thế giới

Bức ảnh ý nghĩa ngay khi được chia sẻ đã khiến nhiều người phải rơi nước mắt, không ai có thể giấu nổi sự xúc động khi chiêm ngưỡng khoảnh khắc đầy phi thường của một em bé đang đứng trước cửa tử nhưng vẫn khát khao mong cầu sự sống.

Bức ảnh được đặt tên là Bàn Tay Hy Vọng và sau đó trở thành một trong những tác phẩm huyền thoại trong lịch sử. Ở đó, một em bé 21 tuần tuổi đã đem đến niềm tin, động lực và khiến hàng triệu người nhận ra giá trị của cuộc sống mà mình đang có.

Sau khi ca phẫu thuật chữa bệnh từ trong tử cung mẹ diễn ra suôn sẻ, 4 tháng sau đó, vào ngày 2/12/1999, đứa trẻ trong bức ảnh huyền thoại cũng đã được chào đời trong sự đón mừng hạnh phúc của gia đình và cả thế giới. Em được bố mẹ đặt tên là Samuel Alexander Armas.

Nói về bức ảnh “để đời”, mẹ của em bé chia sẻ: “Đó là khoảnh khắc kỳ diệu, không chỉ với chúng tôi mà còn với Samuel. Chúng tôi muốn mọi người nhìn vào Samuel và hiểu được rằng món quà quý giá nhất mà mỗi chúng ta được ban tặng chính là cuộc đời này. Và dù con chúng tôi có lành lặn hay không, chúng tôi vẫn sẽ làm mọi thứ để con được sống và đến với thế giới”.

Đã hơn 20 năm trôi qua sau khoảnh khắc ấn tượng ấy, bây giờ đây, Samuel của tuổi đôi mươi đã là chàng trai trưởng thành với vẻ khôi ngô, tuấn tú. Nhìn vào ánh mắt tinh anh của cậu, ai nấy đều phải ngưỡng mộ và gọi cậu là “điều kỳ diệu”.

Mặc dù mắc phải bạo bệnh từ trong bụng mẹ và chào đời với những dị tật vĩnh viễn, nhưng bằng nỗ lực phi thường cùng quyết tâm vượt lên số phận, Samuel vẫn đạt được những thành tích đáng nể trên con đường học vấn của mình.

Anh là học sinh tốt nghiệp hạng ưu tại trường Trung học Alexander ở Douglasville. Samuel theo học ngành khoa học thể dục tại Đại học Auburn sau đó, và với thành tích xuất sắc, cậu thanh niên còn được trao tặng Học bổng Toán học Movelle Murdock với giá trị không hề nhỏ.

Trên hết, “anh hùng nhí” năm xưa giờ đây còn là thành viên trong đội bóng rổ xe lăn Tigers. Nói về cơ hội tiếp cận bộ môn bóng rổ, Samuel nói: “Huấn luyện viên Taylor và tôi đã trao đổi thông tin liên lạc và câu lạc bộ trường Auburn bắt đầu chiêu mộ tôi. Sau khi thăm khuôn viên trường và suy nghĩ về việc tham gia đội bóng, huấn luyện viên Taylor cũng ngỏ lời hỗ trợ học phí cho tôi”.

Hiện tại, để di chuyển được lâu hơn và quãng đường dài hơn, Samuel vẫn cần tới sự hỗ trợ của chiếc xe lăn. Mặc dù vậy, cậu bé trong bức ảnh nổi tiếng ngày nào đang có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và có ích cho xã hội. Không để bất kỳ chướng ngại vật nào có thể cản trở mình, Samuel đang từng bước chứng minh rằng bản thân có thể làm tất cả những gì mà bản thân mình mong muốn, miễn còn được sống.

VietBF @ Sưu tầm

From: thanhlamle.le & NguyenNThu  

 

  Giá trị của sự quan tâm

 Giá trị của sự quan tâm

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Một buổi tối sau giờ làm việc, một người đàn ông trở về nhà và ngồi nói chuyện với cậu con trai 14 tuổi của mình: “Hôm nay bố gặp một chuyện rất lạ. Khi bố đang ở văn phòng, một nhân viên bước vào và nói rằng anh ấy ngưỡng mộ bố, và đã tặng bố chiếc nơ xanh này để tôn vinh tài năng sáng tạo của bố, trên chiếc nơ có ghi “Tôi đã làm nên sự khác biệt”. Anh ấy cũng đưa bố một chiếc nơ nữa và nói bố có thể trao tặng nó cho một người đặc biệt khác. Trên đường về nhà, bố nghĩ xem mình có thể tặng ai, và bố đã nghĩ đến con. Bố muốn trao tặng chiếc nơ này cho con.

Bố thật sự rất bận nên mỗi khi về nhà, bố đã không quan tâm nhiều đến con. Đôi khi bố la mắng vì con không đạt điểm cao hoặc vì con không dọn dẹp để phòng ngủ bề bộn. Nhưng tối nay, không hiểu sao bố lại muốn ngồi đây với con và… chỉ muốn nói cho con biết rằng đối với bố, ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng nhất. Con là một đứa con tuyệt vời và bố rất thương yêu con”.

Cậu bé giật mình sửng sốt, và bắt đầu thổn thức. Toàn thân cậu rung lên. Cậu ngước nhìn bố qua làn nước mắt và nói: “Vậy mà con định sẽ từ giã cuộc đời vào ngày mai vì con nghĩ bố không yêu con. Giờ đây, con không cần phải làm như thế nữa.”

Helice Bridges

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Karl Menninger

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Vĩnh Biệt Sơn Nam- Tưởng Năng Tiến

Vĩnh Biệt Sơn Nam

Tưởng Năng Tiến

Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

GÓC SUY GẪM…

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

Một người đàn bà nghèo khổ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai:”

Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính”.

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: “ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính !”.

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại.

Trong cuộc đời chúng ta cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:

“ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH”.

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền bạc, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: đó là chăm chút đời sống tâm linh, lo cho gia đình, cho những người thân yêu là cha mẹ con cái chồng vợ… là giá trị của đạo đức làm người.

Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn…!!!

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Trích đoạn diễn văn của Tổng thống Joe Biden ngày 6/1/2022:

“Đây không phải là một nhóm khách du lịch. Đây là một cuộc nổi dậy có vũ trang.

Họ không tìm cách duy trì ý chí của nhân dân. Họ đang tìm cách phủ nhận ý chí của người dân…

… Họ không tìm cách cứu chính nghĩa của nước Mỹ. Họ đang tìm cách lật đổ Hiến pháp.

Đây không phải là việc sa lầy trong quá khứ. Đây là việc đảm bảo quá khứ không bị chôn vùi…

…Ông ta đã làm được điều mà chưa một tổng thống nào trong lịch sử Hoa Kỳ – lịch sử của đất nước này – từng làm: Ông ta từ chối chấp nhận kết quả của một cuộc bầu cử và ý chí của người dân Mỹ…”

BBC.COM

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden phát biểu đánh dấu một năm biến cố đám đông tấn công nhà Quốc hội Mỹ, và dùng diễn văn để công kích cựu tổng thống Donald Trump.

Xem thêm: Đài VOA & Đài RFI

*TT Biden: ‘Mạng lưới dối trá’ của ông Trump không ngừng đe dọa nền dân chủ Mỹ (VOA)

*Dân Mỹ vẫn lo âu cho nền dân chủ, một năm sau vụ tấn công Quốc Hội (RFI)

Về già, chúng ta dựa vào ai? (RFA)

Van Pham

Về già, chúng ta dựa vào ai?

Huỳnh Mai/RFA

Hình minh hoạ: Một người lớn tuổi ngồi trước cái bơm xe đợi khách trên đường phố Hà Nội năm 2008

 AFP

Khoảng chục năm nay chúng tôi bắt đầu nghĩ về cuộc sống khi về già. Ở cùng con là lựa chọn truyền thống và phổ biến nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhưng ở thế hệ chúng tôi, lựa chọn này đã không còn dễ dàng như với các thế hệ trước.

Chúng tôi đi học xa nhà từ 18 tuổi rồi tự lập luôn ở thành phố lớn, hầu như không có bà con họ hàng, quê hương… bên cạnh. Rồi con cái cũng vậy, chúng hầu hết đều đi học ở nước ngoài và không muốn về Việt Nam. Thế hệ chúng tôi lại ít con, mỗi nhà hai đứa là nhiều nhất, và cũng không ít người không lập gia đình hay không có con. Cho nên khi bọn nhỏ muốn định cư ở nước ngoài thì cha mẹ hầu như đều được khuyên rằng về già thì theo con sang đó sống.

Định cư theo con rồi ngồi trong bốn bức tường

Nhưng, thế hệ chúng tôi hiểu rõ sự quý báu của cuộc sống có tự do cá nhân. Cha mẹ chúng tôi thường sống với những người con khác ở quê hương-những đứa con không đi xa và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ. Khoảng cách thế hệ vốn đã lớn thì còn lớn hơn với những đứa con trưởng thành và sống xa cha mẹ, do không sống chung nên cũng khó hiểu nhau và thiếu thốn những ký ức chung.

Thế thì con cái chúng tôi-những đứa trẻ trưởng thành ở Anh, Mỹ, Úc… thực chất hầu như đều đã trở thành những quả chuối (da vàng nhưng bên trong thì “trắng”) làm sao chúng có thể chăm sóc cha mẹ già Việt Nam trăm phần trăm? Mà lại là Việt Nam đã bị bứng ra khỏi hoàn cảnh và môi trường sống quen thuộc từ tấm bé, với bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp cũ…, để sang sống ở một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, thậm chí ngôn ngữ cũng không thông thạo? Nhiều đứa sẽ lấy vợ, lấy chồng Tây, khoảng cách thế hệ, văn hóa và dân tộc tính ngày càng lớn nhưng thời gian dành cho gia đình ngày càng ít, liệu cha mẹ già có thể sống vui với chúng những ngày cuối đời? Những người chúng tôi quen biết thân quý thì chúng không biết, và ngược lại. Những gì đã tạo nên ký ức của chúng tôi không có giá trị tương tự với chúng, và ngược lại

Có thể nói, khi sang nước ngoài sống cùng với con thì chúng tôi là cái cây bị bứt hết gốc rễ. chỉ còn phụ thuộc vào mỗi một mình con cái. Nếu chúng “trở mặt”, không dành đủ thời gian hay không chăm sóc được như ý, cha mẹ sẽ tủi thân vô cùng vì không có ai khác để chia sẻ. Cô đơn trong bốn bức tường thôi.

Rất nhiều đứa bé được cho đi học xa nhà từ tuổi thiếu niên hầu như đều cảm thấy Việt Nam không còn là nhà của nó nữa. Mọi thứ đều xa lạ, trừ cha mẹ. Bạn bè, thầy cô, khí hậu, thời tiết, thức ăn, văn hóa, lối sống… những gì nó quen thuộc và thích nhất đều ở bên kia đại dương cả rồi.

Cha mẹ nài nỉ: Con đi đâu thì cứ đi nhưng mai mốt ba mẹ già rồi thì về Việt Nam ở với ba mẹ. Ba mẹ có một mình con!

Nó trả lời: Con xin lỗi nhưng con cũng không lựa chọn làm con một của cha mẹ (tức là việc cha mẹ do chỉ có một đứa con nên suy luận rằng nó phải có nghĩa vụ tuân theo cha mẹ là không hợp lý).

Sợ cha mẹ buồn, nó nói rõ: sẽ chăm lo cha mẹ khi về già, nhưng nó không ở Việt Nam như ý cha mẹ muốn.

Không đi theo con thì về già sống ra sao? Rất nhiều người trong chúng tôi tính sẽ vào nhà dưỡng lão.

Ngay cả những gia đình con cái đều ở Việt Nam thì hầu hết cũng nghĩ sẽ vào nhà dưỡng lão khi già yếu, cũng với những lý do đó.

Nhà dưỡng lão ở Việt Nam

Mô hình nhà dưỡng lão đã được đặt ra từ hai, ba mươi năm nay, nhất là khi dân số già ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng vì nhiều lý do nên nó vẫn chưa phổ biến.

Tôi cho rằng tài chính là lý do lớn nhất.

Phần đông người Việt Nam vẫn sống dưới mức trung lưu. Người bình dân thường thường sẽ sống như tập quán là sống cùng con cháu khi về già. Những người giàu có, chủ doanh nghiệp hay có nhiều tài sản cũng vậy, con cháu họ sẽ chăm sóc.

Số đông là tầng lớp công chức và trí thức trung lưu mong muốn cuộc sống độc lập, tự do không phụ thuộc con cháu thì lương hưu quá thấp. Nếu chỉ dựa vào lương hưu thì không đủ trả chi phí cho nhà dưỡng lão (lương hưu thấp nhất khoảng 4 triệu đồng, cao là khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, trong khi phí trả cho nhà dưỡng lão thấp nhất khoảng 7 triệu đồng/tháng (nhu cầu cơ bản, thường phải cộng thêm các phí khác, tổng khoảng 10 triệu cho gói thấp nhất), trung bình khoảng 12-15 triệu/tháng). Hoặc phải bán nhà cửa đi (thường tầng lớp này cũng chỉ có một tài sản lớn nhất nhà cửa), nhưng thế thì con cháu sinh sống chỗ nào? Văn hóa làm cha mẹ của người Việt là phải để lại tài sản cho con, thế cho nên dù chật chội, thiếu thốn thì nhiều người già vẫn không bán tài sản để hưởng thụ cá nhân mà chọn cách ở với con cháu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Thứ hai, chưa có niềm tin vào nhà dưỡng lão.

Tôi có người bạn đã gửi ba của nó vào một nhà dưỡng lão tư nhân ở Củ Chi, ven Sài Gòn. Chi phí thấp nhất (phòng năm giường) là 10 triệu đồng/tháng. Cao nhất (phòng riêng) là 18 triệu đồng/tháng, chưa kể phụ phí đồng phục, chăm sóc khi bị bệnh và trong các ngày lễ tết.

Bạn tôi là con gái một. Mẹ bị tâm thần đã vài chục năm, không hung dữ phá phách nhưng suốt ngày đi lang thang rồi ghé tiệm của con xin tiền.

Khi bạn tôi có bầu đồng thời ba nó bị đột quỵ, không còn cách nào khác, nó phải gởi ba vào nhà dưỡng lão.

Hai ngày đi cùng nó lên thăm cha, tôi đã đủ ngậm ngùi.

Nhà dưỡng lão chia làm bốn loại khách hàng: Thứ nhất là các cụ ông/cụ bà còn tương đối khỏe mạnh và minh mẫn. Thứ hai là các cụ yếu hơn nhưng vẫn đi đứng được, có người lúc tỉnh lúc lẫn. Thứ ba, các cụ phải chăm sóc gần như toàn bộ, ăn phải có người đút, hầu hết không tự di chuyển được hoặc khá yếu nên phải ngồi xe lăn. Thứ tư là các cụ gần như chỉ còn sống thực vật, cho ăn qua ống.

Các ông bà cụ trong nhà dưỡng lão này không được mặc áo quần riêng, cũng không được dùng đồ cá nhân. Vào đây, họ đều được phát mấy bộ đồ đồng phục bằng thun dày màu cam, cổ tròn, cả ống tay áo và ống quần đều được may ngắn hơn bình thường để đỡ vướng. Tóc thì húi cua sạch cả cụ ông lẫn cụ bà, nên nhìn vào gần như chẳng phân biệt được bà hay ông. Bát chén riêng không được dùng mà ăn bằng cái tô inox của Nhà dưỡng lão.

Mỗi tuần, con cháu được lên thăm các cụ vào thứ bảy và chủ nhật. Đó là những ngày rộn ràng, vui tươi nhất của các cụ. Khi người thân đến nơi, bảo vệ sẽ báo vào bên trong (người thân không được vào khu lưu trú). Bảo mẫu sẽ săn sóc, chải tóc, thay quần áo cho các cụ nếu cần, rồi đẩy xe lăn ra sảnh tiếp đón. Khu này rộng, có mái che, nhiều bàn ghế, lại gần một hồ sen, có cây cảnh, tượng Phật nên thoáng mát và có thiên nhiên để ngắm nhìn. Thường các gia đình mang rất nhiều thức ăn đủ loại lên để “thăm nuôi” ông bà cha mẹ. Vô số thức ăn bày trên bàn, người này mở, người kia giục, người nọ xúc… ông bà vừa ăn chưa hết miếng này thì con cháu đã mở hộp thức ăn khác, xúc miếng khác..

Đến xế chiều, con cháu lần lượt ra về. Các cụ trở vào khu lưu trú. Khi hai cánh cửa mắt cáo ngăn cách hai khu khép lại cũng là lúc các cụ thầm đếm xem còn bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối thì đến ngày được gặp con cháu lần nữa.

Tôi may mắn được chứng kiến bữa cơm của họ.

Bữa cơm gồm hai món: canh rau và một món mặn. Tất cả đều được nhân viên nấu nóng trong bếp, nhưng tất cả đều mang một cái màu: màu … cháo lòng, và một cái mùi: mùi thức ăn ít gia vị, nhạt nhẽo và được nấu lâu trên bếp.

Cơm trong nhà dưỡng lão đều từ nhão đến rất nhão, để các cụ già dễ nuốt. Canh cũng quanh đi quẩn lại bí đỏ, bí xanh, bắp cải… tất cả đều lõng bõng và chín nhừ. Thức ăn mặn thường là cá, trứng chiên hoặc ít thịt nạc kho nhạt. Các cụ khỏe còn tự xúc ăn được. Các cụ còn lại thì nhân viên sẽ đổ hết tất cả thức ăn, cả canh lẫn thịt vào một cái tô và xúc cho họ. Nhiều ông bà cụ nhai móm mém chưa xong miếng trước đã phải há miệng ra để nhận tiếp miếng sau.

Nhà dưỡng lão cho biết do lo ngại bụng dạ các cụ yếu nên thức ăn nấu rất nhạt và hầu như không có gia vị. Thành ra nhìn các cụ sau khi vào trại thì đều hồng hào, tăng cân (có lẽ một phần do ít vận động chăng), nhưng không cụ nào tỏ vẻ thích bữa ăn của trại. Họ đều mong chờ những ngày con cháu đến thăm, mang thức ăn hợp khẩu vị. Có cụ có tiền thì có thể mua thêm ít thức ăn vặt, nhưng rất hãn hữu.

Vài cụ ông còn khỏe mạnh thì nghe radio (tự mang vào), hoặc đọc báo. Nhưng báo cũng có rất ít loại. Sách không thấy cuốn nào. Không có thư viện mặc dù số người còn đọc được cũng khá đông.

Nhà dưỡng lão có các hoạt động văn nghệ nhưng tôi không gặp.

Phòng ngủ thường có 4 giường sắt cỡ 80 cm, đệm bọc simili thường gặp ở bệnh viện. Toilet chung nằm ở bên ngoài. Tuần hai hoặc ba lần, các cụ được tắm. Nhà tắm là một phòng chung rất đơn giản chia làm hai phần, bên trong là khu vực tắm với mấy vòi nước, thông thống không có gì che chắn. Nhân viên sẽ đẩy ba cụ vào một lần, xối nước tắm rồi đẩy ra ngoài, lau khô, mặc áo quần. Không còn gì là riêng tư nữa. Tôi cho rằng điều đó gây tổn thương nhân phẩm của các cụ và nó làm tôi đau lòng.

Với 18 triệu đồng, các cụ sẽ được một phòng riêng, rất nhỏ nhưng có máy lạnh và toilet trong phòng.

Ở một nhà dưỡng lão khác quảng cáo là do Nhật đầu tư, tình hình vui vẻ hơn rất nhiều. Các cụ được mặc dùng tư trang cá nhân như áo quần riêng, bát chén, chăn gối…, tất cả. Chất lượng bữa ăn phong phú và ngon hơn, được đổi bữa thường xuyên, lượng trái cây và sữa cũng nhiều hơn. Các cụ ở trong phòng riêng một hoặc hai người, đầy đủ tiện nghi. Giờ ăn, họ ngồi quanh một bàn ăn ấm cúng giống như ở nhà. Nhân viên vẫn tắm cho các cụ nhưng tắm riêng từng người một, trong phòng tắm kín. Sự riêng tư được tôn trọng. Chất lượng cuộc sống và phục vụ ở đây tốt hơn hẳn so với nhà dưỡng lão Việt Nam, nhưng tất nhiên giá tiền cũng cao hơn. Và do họ không có cơ sở rộng nên nhà dưỡng lão chỉ nhận rất ít người.

Tất cả là nhà dưỡng lão tư nhân. Ở TP HCM có một nhà dưỡng lão Nhà nước, gọi là Nhà dưỡng lão Thị Nghè. Vào đây, ngoài tiền còn phải đáp ứng một số yêu cầu như là cán bộ có quá trình cống hiến cho nhà nước.

Người già dựa ai?

Có những nhóm bạn thấy rõ thực tế của cuộc sống xa con sau này, đồng thời cũng sợ hãi sự cô độc và thiếu thốn ở nhà dưỡng lão nên bàn nhau xây dựng các nhóm dưỡng lão gia đình. Chung tiền thuê một ngôi nhà có vườn gần biển hoặc gần núi tùy thích, sống chung với nhau và thuê người chăm sóc. Chi phí tất nhiên là cao, nhưng lúc ấy bán hết tài sản đi để lấy tiền sống những ngày cuối đời thì chẳng cần phải băn khoăn.

Đó có lẽ là mô hình tốt nhất.

Hoặc cũng có thể thuê người giúp việc sống với mình, nhưng như vậy sẽ rất buồn bã và cô đơn vì không có bạn bè; các nhu cầu tối quan trọng như dinh dưỡng, y tế cũng không đảm bảo.

Ở Việt Nam không có chế độ phúc lợi thuê người giúp việc chăm sóc người già yếu neo đơn, cho nên chỗ dựa cho người già hầu như chỉ có một cái gậy duy nhất: tiền.

Nếu con cháu có hiếu và có đủ điều kiện (thời gian, tiền bạc, tâm trí) để người già sống quây quần cùng con cháu đến cuối đời thì đó là cuộc sống hạnh phúc nhất. Tứ đại đồng đường, cha mẹ con cháu đều được nương tựa vào nhau cả về tinh thần và vật chất.

Có lần trong bệnh viện tôi gặp một đôi vợ chồng già không có con. Ông bệnh, bà vào chăm sóc nhưng chủ yếu động viên tinh thần. Hai cụ già đều trên 80 tuổi không thể chạy đi mua thức ăn hay các việc lặt vặt khác được. Có một anh con trai là cháu của ông bà hàng ngày mua thức ăn vào, nhưng anh cũng không sốt sắng gì lắm, chỉ làm theo trách nhiệm rồi về.

Bà cười nhạt nói với tôi: “Già dựa ai? Dựa tiền. Ai nuôi? Tiền nuôi. Mình có tiền còn sai nó làm được, chớ không thì nó cũng bỏ thôi con à”.

Chúng ta rồi ai cũng già đi, không chừa một ai, rồi ai cũng sẽ đến ngày mắt mờ, tai điếc, chân run và tè dầm ra tã. Bạn đời, bạn bè, đồng nghiệp, người hâm mộ đều đã mất đi hoặc đều run rẩy như ta cả.

Nhưng có ai nghĩ đến điều đó? Khi chúng ta còn trẻ như lũ con cháu bây giờ, chúng ta cũng y như chúng, không có lấy một giây nghĩ rằng sẽ có ngày bản thân già đi.

Hình minh hoạ. Hai mẹ con… AFP

Bà lão bán hàng ở Hà Nội. AFP

SỰ CHẾT – LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

SỰ CHẾT

 LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai. Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy. Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì? Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm? Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”.

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải”.

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta:  Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó:  Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả. Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa. Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn. Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an. Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa. Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.
Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá. Con không biết con can đảm đến đâu. Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi. Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết. Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

 Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ –
Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ – ĐỖ NGÀ.

CHUYỆN PHIẾM – BI HÀI XHCN VN – ĐỖ NGÀ.

***

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ

Mới năm xưa, được toà cho phép ly dị, chia đôi tài sản và con cái, Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, còn bà Âu Cơ thì dẫn 50 người con lên núi.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, năm nay hai người lại gặp nhau tại khu nhà trọ gần lò thiêu Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, TP/ HCM. Cả hai đều già, khá tiều tụy, gương mặt không còn giữ được mấy những nét thần thoại của thuở hồng hoang.

Bà Âu Cơ dè dặt nắm lấy bàn tay gầy rộc của Lạc Long Quân, giọng cảm động:

– Ông và các con thế nào ? Cuộc sống chắc cũng cơ cực lắm?

– Thì đã hẳn. Nghề biển bây giờ khó sống lắm. Trước ra khơi xa thì còn kiếm ăn được, nhưng sau này giặc Tàu hung hãn quá, ngư dân cứ ló mặt ra là nó giết. Con mình bị chúng nó ủi chìm tàu, chết hết 10 đứa, chỉ còn 40 đứa, tôi sợ quá bèn cho chúng nó đi lao động xuất khẩu một mớ, số còn lại chỉ đánh bắt loanh quanh gần bờ, nhặt nhạnh con tôm, con cá sống qua ngày…

Bà Âu Cơ cắt ngang:

– Con ông còn được ở ngoài đời bương chải là may rồi. Con tôi đi tù gần hết. Từ ngày dẫn con lên núi làm cái nghề phá sơn lâm, tôi thấy không khá được ông ạ. Tiền bạc và gỗ quý thì chạy vào nhà các quan với lại tụi kiểm lâm, lâu lâu có bắt đi tù thì toàn là thợ rừng như đám con mình. Thấy thế tôi mới dắt mấy đứa còn lại xuống đồng bằng, cho chúng nó học lấy cái chữ những mong đổi đời. Ai dè tốt nghiệp đại học ra, không đứa nào có việc làm, toàn chạy shipper.

Lạc Long Quân nhìn sâu vào mắt vợ, ông thấy dù sao trong đôi mắt buồn của bà vẫn còn phảng phất đôi nét quý phái triều đình, và hỏi

– Sao bà không lo cho đứa nào vào đảng để dễ kiếm ăn?

– Vào đảng thế nào được ? Tại ông cả đấy. Thấy tên cha là Lạc Long Quân là chúng nó gạch bỏ ngay thôi, bảo xuất thân phong kiến.

– Lạ nhỉ. Lạc Long Quân gằn giọng, đôi lông mày bạc phếch chau lại, hàm râu bạc rung rung. Đúng ra họ phải ưu tiên cho con của bậc tiền nhân.

– Không dám đâu. Bà Âu Cơ nói giọng uất ức: Cái chế độ này nó thế rồi. Chỉ ôm lấy cái vỏ bọc chuyên chính vô sản nhằm giữ ghế và phục vụ cho lợi ích của thằng bạn vàng 4 tốt thôi. Nói thật chứ, nếu bây giờ Hai bà Trưng có sống dậy đánh đuổi giặc Tàu thì chúng nó cũng sẽ cho cả voi lẫn hai bà lên thớt.

Nghe nói tới chuyện chính trị, Lạc Long Quân rét run lên, bèn hỏi lảng qua chuyện khác:

– Dưng mà bà ở khu trọ này bao lâu rồi, mà hôm nay ta mới gặp nhau?

– Tôi chỉ mới tới thuê ở tạm hai ngày nay thôi, trong lúc chờ lấy tro cốt của thằng Út, ông nhớ thằng này không, cái thằng mà vừa sinh ra đã kêu “khổ, khổ” đó. Nó bị F0, người ta nhốt nó vô khu cách ly, được 7 ngày thì chết vì đói và vì bịnh nền. Bà Âu Cơ sụt sùi, đưa cái khăn tay thêu rồng phượng, mà ngày xưa ông tặng bà, lên lau nước mũi. Còn ông sao lại ở đây ?

– Tôi trọ ở đây lâu rồi, tôi ở với mấy thằng con lớn nhất của mình. Tụi nó làm đạo tỳ với lại làm công cho lò thiêu Bình Hưng Hòa này chứ đâu.

– Ồ, vậy là con mình lại thiêu con mình à?

– Chắc vậy đó. Lạc Long Quân khóc nấc lên: “Củi đậu đun hạt đậu, cùng sinh ra một gốc, nỡ đun nhau thế ư”. Khóc chán xong, lại nín, rồi rụt rè đề nghị: Thôi, hoàn cảnh nó thế rồi, hay là bà ở lại đây luôn, tụi mình góp gạo thổi cơm chung. Tôi thề sẽ không ly dị bà nữa.

Bà Âu Cơ ngồi lại ngay ngắn, nói giọng nghiêm trang:

– Em cũng muốn lắm, thưa Lang quân. Nhưng truyền thuyết đã bắt đôi ta phải chia lìa. Cả nước đều biết chuyện này. Chả nhẽ bây giờ ta lại bắt học sinh phải học lại là:

Lạc Long Quân và bà Âu Cơ cuối đời về sống chung với nhau, đẻ thêm 100 cái trứng…

Lạc Long Quân xem chừng hiểu ra, ông sửa lại mũ áo và nói với giọng cũng nghiêm trang không kém:

– Ái khanh nói chí phải. Mệnh trời đã đặt thế rồi, khiên cưỡng mà chi. Thôi để hôm nào hết giãn cách, ta sẽ đưa nàng đi cơm tiệm một bữa, rồi mình lại chia tay vĩnh viễn…

Ngoài kia, trời đang nắng, bổng giông bão từ đâu vần vũ kéo tới và trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ chốc nữa thôi, cái thành phố HCM khốn khổ này lại sẽ thành Hồ ngập đến… lưng quần.