Chữa lành một tâm hồn đau khổ

Gieo Mầm Ơn Gọi

  • 1. Chấp nhận những giới hạn của mình

Nhiều người không thể chịu được việc mình có khuyết điểm. Điều này khiến người ta đau khổ cùng cực. Nhưng thật ra, có khuyết điểm là hoàn toàn bình thường. Thiên Chúa không bao giờ chê ai đó, vì Ngài yêu thương bản thân họ như chính họ là. Chúa yêu thương trước để mời gọi chúng ta trở nên tốt hơn. Nếu cứ mãi dằn vặt bản thân thì con người sẽ không bao giờ bình an. Chấp nhận chính mình là bước khởi đầu của quá trình chữa lành những vết thương.

  • 2. Yêu thương bản thân

Sau khi chấp nhận bản thân, con người được mời gọi nhìn nhận những điểm tốt nơi mình. Có người chẳng thấy mình tốt gì cả. Điều này cũng không ổn. Thiên Chúa yêu thương con người, nên con người được mời gọi yêu thương và tôn trọng chính mình. Khám phá thấy bản thân có những điểm tốt đẹp, dù là rất nhỏ chính là bước tiếp theo của quá trình đó.

  • 3. Kiên nhẫn và cầu nguyện

Việc chờ một vết thương lành đòi hỏi thời gian. Chúa rất kiên nhẫn với con người – nên con người cũng hãy kiên nhẫn với chính mình. Và điều quan trọng là: hãy dựa vào Chúa. Chỉ có Chúa và tình yêu của Ngài mới là liều thuốc chữa lành tâm trí chúng ta.

*** Nếu không thể tin bản thân – hãy tin Chúa, Chúa làm được hết.

Nguyên Nhật

ĐẤT NƯỚC CHƯA BAO GIỜ CÓ CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY…

Chau Trieu

Thoạt nhìn cứ tưởng họ đem cặp vợ chồng rao bán con ra xét xử là để bảo vệ đứa trẻ bị rao bán, rốt cuộc lại làm khốn khổ cả 4 đứa trẻ khi mà cả cha lẫn mẹ bị tuyên phạt tổng cộng hơn 20 năm tù, bỏ lại 4 đứa con thơ không ai nuôi dưỡng. Đúng là…phạt dân là bổn phận của các quan, còn hậu quả khốn khó thế nào thì dân ráng mà chịu.

Ngẫm nghĩ…cái “tiền đồ” của chị Dậu thời phong kiến vẫn “sáng lạng” hơn chị Dậu thời xã nghĩa vì ít ra thời phong kiến chị Dậu đã không bị bỏ tù vì tội túng quẫn đem bán con. Mà cái trớ trêu là thời kiến thì do có “thực dân đô hộ”, còn thời nay tràn ngập khẩu hiệu “độc lập tự do” mà vẫn xuất hiện đầy rẫy những Lão Hạc, chị Dậu, Vợ Nhặt…

Thương cho thảm cảnh của những người cùng khổ. Vì đâu nên nỗi…hỡi những chị Dậu thời 4.0…

Amy Truc Tran


 

VẾT THƯƠNG LÒNG – Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ai chưa từng trải qua cơn đau, người ấy thật sự chìm sâu trong cõi đời này.  Người nào chưa hề có một vết trầy xướt trên cơ thể thì chưa hoàn toàn đi vào cõi hiện sinh nhân thế.  Vết thương ngoài da đã đau đớn, vết thương lòng còn nhức nhối biết chừng nào.  Vết thương bên ngoài có thể được nhìn thấy, có thể dễ dàng tìm thuốc chữa trị, chứ vết thương lòng thì ai biết phải xoay sở ra sao.  Chẳng ai biết nó nông sâu thế nào, chẳng ai đo lường được mức tác hại của nó, cũng chẳng ai có thể biết một phương dược chính xác chữa lành, lại càng chẳng biết đến bao giờ thì sẽ không còn vết thương ấy nữa.

Tôi mang trong mình một vết thương, một kiểu đau nhức chẳng diễn tả được thành lời, một nỗi buồn không tên, một nỗi uất ức chôn kín.  Đó là khi tôi đã từng yêu da diết, đã từng trao gửi tất cả nỗi niềm và trọn vẹn con tim cho một người với một niềm hy vọng vô cùng lớn lao.  Để rồi, cái mà tôi nhận được là một sự hụt hẫng vô ngần vô hạn.  Tôi trách người nhưng trách luôn cả mình.  Trách người sao quá vô tâm và tàn nhẫn; trách mình sao quá vội vã, quá cả tin.  Tôi đau một nỗi đau hơn dao cứa, cơn nhức nhối cứ làm cả con người muốn nổ tung.  Tôi muốn chôn vùi nó, dùng sự quên lãng để lấp nó, nhưng đâu đó, những sục sôi trong tâm cảm vẫn cứ trở về.  Máu vẫn cứ rỉ ra từng giọt.  Tôi khóc cho vơi nhẹ tâm can.  Tôi tìm về cô đơn để trốn tránh thực tại.  Tôi cố tưởng tượng là mọi chuyện đã qua đi.  Nhưng tôi không đủ quyền năng để quay ngược thời gian, để biến mọi chuyện như chưa từng xảy đến.

Vết thương ấy làm tôi đau đã đành, nó còn làm cho tôi mất đi niềm tin vào tất cả.  Tôi chẳng còn dám mở con tim mình ra với ai.  Tôi sợ rằng vết thương kia sẽ bị xé toạc một lần nữa, và lần này, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì chắc tôi sẽ chết mất thôi.  Người ta nói thời gian sẽ chữa lành tất cả.  Tôi cũng tin vậy, nhưng chẳng biết là sẽ đến bao giờ.  Tôi bỗng nhận ra là thế gian này chẳng có gì đáng mong đợi, chẳng có ai là đáng để cậy nhờ.  Tôi sống một cuộc đời bất chấp.  Ai muốn yêu thì cứ yêu; còn tôi, cứ khép mình là an toàn nhất, để khỏi bị phản bội, khỏi phải thất vọng, khỏi phải dùng nước mắt để xoa dịu vết thương.

Tôi cũng dùng lý trí để tự trấn an mình.  Rằng vết thương ấy làm tôi lớn lên, giúp tôi nhận biết rõ ràng hơn sự phũ phàng của cuộc sống.  Rằng lỗi một phần cũng do bản thân ta, chứ trách ai bây giờ.  Rằng tôi đã sai, tôi hối tiếc lắm.  Rằng tôi phải thật mạnh mẽ để cho người khác biết rằng chẳng có gì có thể quật ngã được tôi…  Nhưng khi đối diện với lòng, tôi chẳng thể che giấu được một con người yếu đuối, mềm mỏng.  Tôi không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.  Cái giả vờ mà tôi đang cố gắng thể hiện càng chứng tỏ cho tôi thấy mình đang đau biết chừng nào.  Tôi vẫn phải tự nhủ với bản thân “vết thương ơi, cứ tạm thời chợp mắt đi nhé!”

Vết thương lòng là một kiểu vết thương rất kỳ lạ.  Nó làm người ta đau nhức vô cùng, nhưng người ta, trong một phút tủi thân, lại cứ thích nghĩ về nó.  Và cứ mỗi lần nghĩ về, vết thương lại bị khoét thêm một chút nữa.  Ta muốn giải bày ra tất cả những nỗi niềm, nhưng chẳng biết nói cùng ai.  Liệu rằng trên thế gian này, có ai đó trân trọng tình cảm của ta, sẽ lắng nghe, sẽ cảm thông và không bỡn cợt niềm tin của ta như người trước không?  Có ai đó sẵn sàng giang rộng vòng tay đón tiếp ta, ôm lấy ta, ôm lấy cả vết thương trong lòng ta, cùng ta khóc, cùng ta cười, cùng đau chung với ta không?  Nhiều câu hỏi đặt ra như thế, âu cũng chỉ là muốn nói lên khát vọng yêu và được yêu của một hữu thể nhỏ bé giữa dòng đời vạn biến vô thường này.

Một ngày nào đó, tôi lôi vết thương trong lòng ra, nhìn vào nó cách trực diện.  Tôi không trốn tránh nó, không giả vờ quên nó, không cất giấu nó âm ỉ trong lòng.  Tôi không nhìn về nó như một kiểu khơi lại những ký ức nuối tiếc.  Tôi không khoét sâu nó bằng những cảm xúc ủy mị với hai chữ “giá như.”  Tôi không tiếp tục nuôi dưỡng nó bằng một kiểu suy nghĩ trách móc.  Tôi biết rằng thời gian đã trôi qua và dù thế nào chăng nữa, mọi cái cũng chẳng thể quay trở về như trước.  Có biết bao nhiêu khả thể trong cuộc sống này mà tôi không dự đoán được, nhưng cái hiện thể mà tôi biết chính là vết thương mà tôi đang mang đây.  Nó là một phần của tôi, là cái làm nên cuộc đời tôi, là nơi tôi gặp được chính mình, thấy rõ mình, biết mình đang ở đâu, tìm gì, đi đường đúng hay sai.

Lâu lâu gợi nhớ về vết thương ấy, tôi thấy mình chơi vơi đắm chìm giữa dòng chảy thời gian, thấy nhân tình thế thái đổi dời như cơn lốc và tôi chỉ là một phần nhỏ giữa những quay cuồng này.  Tôi ôm vết thương lòng như một hành trang, một chút kỷ niệm, một cái gì nhỏ bé để gợi nhớ cho thời cuồng điên thiếu tự chủ.  Dầu vết thương có lành, nó cũng để lại sẹo.  Cái sẹo ấy trở thành dấu chứng cuộc đời, là cái giúp tôi nhớ rằng mình không phải thần thánh.  Nhìn về cái sẹo ấy, tôi mỉm cười về một thời đã qua, dù đớn đau nhưng cũng ngọt lịm vô cùng.  Tôi đã không sai khi chọn yêu.  Ít là tôi cũng đã được cảm nếm một chút niềm hạnh phúc không trọn vẹn.  Vết thương lòng không còn làm tôi đau nữa, vì tôi đã sẵn sàng chấp nhận cái giá của tình yêu tôi chọn lựa.  Tôi yêu và tôi không hối tiếc, vết thương lòng chẳng qua chỉ là bằng chứng của tình yêu thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

From: Langthangchieutim


 

 Văn Hóa Đốt Sách – Học giả Nguyễn Hiến Lê

 Học giả Nguyễn Hiến Lê sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984.

Trước 75 trong Nam không học sinh nào không đọc sách Nguyễn Hiến Lê. Ưu điểm của cụ Lê là cụ giản lược những đề tài rộng lớn, phác thảo những đại cương trong khuôn khổ một cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, nhờ vào lối văn giản dị không cầu kỳ như bản thân đời sống của cụ. Sách Nguyễn Hiến Lê hầu hết viết cho ban Tú tài nhưng không phải vì vậy đã không có những công trình lớn: Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Kinh Dịch, Bách Gia Tranh Minh… là những tập sách dày công nghiên cứu, đã đem đến vô vàn kiến thức cho thanh niên miền Nam buổi ấy. Chính vì sau hai thập niên Việt hóa học đường, không còn một học sinh nào, từ Nam ra Bắc đọc thông một quyển sách chữ Hán cũng như chữ Pháp. Thế hệ Nguyễn Hiến Lê là chiếc cầu nối tuổi trẻ Việt Nam với kho tàng thế giới. Trên 120 đầu sách, Nguyễn Hiến Lê cống hiến sở học của mình.

Sau 75 cụ Lê còn là nhân chứng của công cuộc giải phóng thô bạo trên nửa phần đất nước. Vào ngày giỗ muộn màng thứ 39, hãy cùng đọc lại ghi chép của Nguyễn Hiến Lê về nạn đốt sách của phía chiến thắng. Là những trang chữ bị kiểm duyệt.

[Trần Vũ]

*******

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp 5,6 bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn. Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Observateur (của khối thân Cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có propriétés cho biết cách dùng, trị bệnh gì… mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất 2 tháng, có khi 4 tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến … mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại 3,4 giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy 3 trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê- Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL

From: TU-PHUNG


 

NGỌC TRINH VÀ NGỌC ANH…

 8 SÀI GÒN

Ngọc Trinh, cũng được gọi là mỹ nhân của nước nhà trong cái thời buổi nhiễu nhương hương sắc tình tiền, với thành tích chẳng có gì đặc biệt ngoài việc khoe tiền khoe hàng khoe cặp đại gia, cùng nhiều hành động và phát ngôn ngông cuồng.

Ngọc Anh (Chu), cũng được gọi là quan chức lớn (từng ngoi lên đến ghế Chủ tịch Hà Nội, rồi Bộ trưởng), với thành tích cũng chẳng có gì đặc biệt, nếu không muốn nói là dưới cả mức trung bình kém cùng nhiều phát ngôn, hành động chẳng giống ai.

Giới tính, địa vị và nhiều thứ khác nhau nhưng chung quy họ đều “nổi tiếng” trong cái xã hội này và chung một đích đến những ngày này.

Và họ cùng trở nên khác biệt trong xã hội, với một điều rất dễ hiểu: như trò cười của thiên hạ, cuối cùng thì thành “nghệ sĩ” và diễn với cuộc đời bằng những trò cười ấy, bất chấp luật pháp và nhân phẩm.

Khác là, trò cười của Ngọc Trinh có phần ngông nghênh nhưng không thể không nói là có sự ngây ngô. Còn trò cười của Chu Ngọc Anh là giả điên, giả ngây để vác tiền mà chạy.

Khi bị bắt, Ngọc Trinh tỏ vẻ ăn năn hối lỗi, vẫn có chút hồn nhiên nên dù có giận cô, nhiều người cũng tỏ ra xót thương thật sự.

Còn Ngọc Anh (Chu), khi bị bắt, tiếp tục giả ngây giả ngô, bảo không biết tiền là tiền hối lộ, cứ nghĩ là quà, và giờ…không biết nó ở đâu. Cuối cùng, mức án cho sự ngây ngô, cũng nhè nhẹ.

Giờ thì không biết cô Ngọc Trinh là showbiz hay ông Chu Ngọc Anh là showbiz. Ngọc Trinh không còn diễn nữa, còn ông Chu Ngọc Anh thì diễn đến siêu phàm, với vai diễn quá kinh điển, chắc chắn muôn đời sau vẫn nhớ.

Ngọc Trinh hút tiền của đại gia, suy cho cùng cũng là đánh đổi hương sắc; nhưng những kẻ như ông Chu Ngọc Anh, hút máu của nhân dân mà vẫn cười hề hề, vài trăm nghìn đô cứ nghĩ là “quà”, rồi “không biết để đâu”, nhẹ nhàng rỏn rẻn đến vậy, thì không có gì đánh đổi cả, mà đó là ăn cướp, là trấn lột, nhơn nhơn vô l.iêm sỉ.

Tôi chẳng muốn so sánh Ngọc Trinh và ông Chu Ngọc Anh làm gì vì suy cho cùng, chỗ bẩn nhất của Trinh có khi còn sạch hơn vạn lần chỗ sạch nhất của những kẻ như ông Chu Ngọc Anh. Nhưng nhắc ra để thấy, xã hội này đang trở thành một vở tuồng từ những kẻ như thế này, ở các cấp độ nào.

Và dù khác nhau đến thế nào, thì Ngọc Trinh và Ngọc Anh cũng chỉ là “kịch sĩ” của cái vở diễn này, mà thôi…

HOÀNG NGUYÊN VŨ


 

NHỮNG SUY NGẪM CUỐI ĐỜI

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

– Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

– Có những kiếp nhân sinh, khi đánh mất thân người đã không còn cơ hội trở mình, rơi vào trong khổ đau, đọa xứ .

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng. Cuộc đời người ta nguyên là một phép trừ, gặp nhau một lần cũng chính là trừ bớt đi một lần…”

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy chẳng quay được về.

From: dominhtam9238 & NguyenNThu


 

Tổng Biên Tập Báo Thanh Niên chuyên tố tham nhưng nay cũng vào lò, đấu đá nội bộ hay trả thù nhau?

Báo Thanh Niên từng có những bài điều tra tham những khá liều như vụ “Quây Vịnh Hạ Long làm nhà kinh doanh”

Đấu tranh chống tham nhũng được bao lâu thì phải vào “Lò”. Số phận của Phó ban Dân Nguyện QH, Lưu Bình Nhưỡng và Ông Biên Tập Công Khế đã biết trước.

Công Khế có thể đáng bị bắt giống như dân biểu phó ban Dân Nguyện Lưu Bình Nhướng, ông đã từng nói như sau:

  • Nguyên nhân của việc báo chí không dám động chạm vào những lĩnh vực nhạy cảm, đặc biệt là chống tham nhũng: do cơ chế, do các tổng biên tập sợ bị khiển trách, mất chức và cả do lãnh đạo mở quá rộng vùng gọi là nhạy cảm và vùng cấm.[1]
  • Trong cuộc phỏng vấn với Mặc Lâm, đài RFA vào ngày 19 tháng 11 năm 2014 về tự do báo chí ở VN:
    “ “con đường, chính sách minh bạch thông tin và tự do báo chí trước sau gì nó cũng đến và dứt khoát mình phải làm thôi. Không có cách nào khác, không có lựa chọn nào khác.”
  • Nói với BBC vào ngày 20 tháng 11, 2014: Việc cởi trói cho báo chí được tự do bày tỏ quan điểm của mình “chỉ có lợi” cho chính quyền chứ “không làm mất chế độ”.[3]

Tổng hợp Báo Lề Phải

Một đời ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng nay đã phải vào tù,

Tối 16-1, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP HCM cho biết đang điều tra vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”.

Đồng thời, Công an TP HCM đã ra lệnh bắt để tạm giam ông Nguyễn Công Khế – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần tập đoàn Truyền thông Thanh Niên, nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên và Nguyễn Quang Thông – nguyên Tổng Biên tập Báo Thanh Niên.

Vì sao Công an TP HCM bắt 2 ông Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông? - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Công Khế (áo trắng)

Vì sao Công an TP HCM bắt 2 ông Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông? - Ảnh 2.

Công an đọc lệnh bắt ông Nguyễn Quang Thông

Năm 2008, Báo Thanh Niên có chủ trương mua Khu đất của Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn (địa chỉ số 151-155 Bến Vân Đồn, phường 6, quận 4) để xây dựng trụ sở tòa soạn.

Ông Nguyễn Công Khế lúc này là Tổng Biên tập Báo Thanh Niên đã ký Hợp đồng hợp tác với Công ty Cổ phần Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên (Báo Thanh Niên chiếm 51% vốn điều lệ) và một doanh nghiệp thành lập Công ty Cổ phần Bất động sản Thanh Niên.

Mục đích nhằm triển khai thực hiện Dự án cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại và căn hộ cao cấp tại khu đất nói trên.

Báo Thanh Niên góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng Khu đất 151 – 155 Bến Vân Đồn. Quá trình thực hiện, Nguyễn Công Khế và Nguyễn Quang Thông đã ký các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần tại Công ty Cổ phần Bất động sản Thanh Niên không qua đấu giá theo quy định.

Sau đó đã ký Biên bản thoả thuận chấm dứt hiệu lực Hợp đồng hợp tác đã ký vào ngày 10-1-2008; dẫn đến toàn bộ khu đất 151 – 155 Bến Vân Đồn đã chuyển nhượng cho tư nhân, gây thất thoát tài sản Nhà nước.

Hiện vụ án đang được Cơ quan An ninh điều tra Công an TP HCM tập trung khẩn trương mở rộng điều tra để làm rõ sai phạm, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khác có liên quan, thu hồi tài sản cho Nhà nước.

 

Nguyễn Công Khế sinh năm 1954 tại Quảng Nam, là nhà báo, đồng sáng lập báo Thanh Niên và Tổng Biên tập Báo Thanh Niên từ năm 1988 đến năm 2008. 

Năm 1986 ông cùng Huỳnh Tấn Mẫm được Đảng phân công, họ sáng lập báo Thanh Niên – diễn đàn của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ông giữ vai trò phó Tổng biên tập. Từ 1988 đến nay ông làm Tổng biên tập báo này, được coi là tổng biên tập thâm niên nhất trong làng báo Việt Nam.

Ông đã đưa Thanh niên từ một báo nhỏ xuất bản một kỳ/tuần trở thành một trong những báo lớn nhất và có nhiều độc giả nhất tại Việt Nam hiện nay.

 

Trước 1975 ông hoạt động trong phong trào sinh viên, học sinh tại Đà Nẵng và Sài Gòn chống chính quyền miền Nam (cũ). Sau 1975 ông công tác tại Thành đoàn TP Hồ Chí Minh, sau đó chuyển sang công tác tại báo Phụ nữ Việt Nam.

Ngoài công tác báo chí, ông hiện là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và tham gia nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Ông là Trưởng ban Giám khảo nhiều cuộc thi như: Siêu mẫu Việt Nam, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2008. Đồng thời, ông từng là thành viên Ban Giám khảo các cuộc thi Hoa hậu Trái Đất 2007Hoa hậu Hoàn vũ 2008 và Hoa hậu Trái Đất 2011.

Công Khế đã biết trước hậu quả của đấu đá tham nhũng và mua nhà cho con ở California.

Người “chiến sĩ cách mạng” năm xưa từng biểu tình chống chế độ VNCH và phục vụ đảng CSVN cả cuộc đời, giờ sắm cả loạt nhà bên Mỹ cho con cái ở. 
• 3565 Seven Hills Rd, Castro Valley, CA 94546-2045
• 3657 Seven Hills Rd, Castro Valley, CA 94546-2047
• 4648 Mia Cir, San Jose, CA 95136-2325
• 3427 Salisbury St, Oakland, CA 94601-3133
• 4 Captain Dr Apt E203, Emeryville, CA 94608-1715
– (Bùi Thanh Hiếu FB)
Tiền ở đâu ra mà nhiều vậy? Khế kinh doanh đất của dân?

SỰ KHÁC BIỆT CỦA NGƯỜI ĐỌC SÁCH VÀ KHÔNG ĐỌC SÁCH

Gieo Mầm Ơn Gọi

Người thường xuyên đọc sách toát lên vẻ đẹp “tri thức”

Nói chuyện với những người đọc nhiều sách bạn sẽ thấy kiến thức của họ rất rộng, lập luận rất chặt chẽ. Khí chất, cách nói năng, quan điểm, hành động hay cách xử lý của những người đọc sách có sự khác biệt hơn nhiều so với những người chẳng bao giờ đọc một cuốn sách nào.

Tầm nhìn của người đọc sách sẽ được tích lũy tăng dần theo số sách mà họ đã đọc.

  1. Người thường xuyên đọc sách có sự ham học hỏi

Bên cạnh mục đích đọc để nâng cao chuyên môn thì phần lớn những người thường xuyên đọc sách đều rất thích đọc, thích tìm hiểu và khám phá một thế giới khác trong sách.

  1. Người thường xuyên đọc sách rất khách quan

Bản chất con người luôn là chủ quan, ích kỷ, coi trọng lợi ích bản thân. Nhưng người đọc sách nhiều sẽ thấu tình đạt lý hơn, có góc nhìn khách hơn và dễ đồng cảm hơn. Ngược lại, người không đọc sách nhiều có xu hướng bảo thủ, cố chấp trước quan điểm của người khác.

  1. Người thường xuyên đọc sách sẽ nhìn thấu được sự việc

Đọc nhiều giúp ta hiểu được những nguyên lý xuất hiện phía sau một hiện tượng nào đó. Bởi có một số chuyện nhìn có vẻ bình thường nhưng ẩn sau đó là những nguyên lý kinh tế học, tâm lý học… Nếu bạn đọc nhiều sách tâm lý học, bạn sẽ nhận ra những “cái bẫy” tâm lý và các phương thức thao túng đang được áp dụng trong cuộc sống.

Đọc một cuốn sách tốt chẳng khác nào trò chuyện với một người thông minh. Vì vậy, hãy biết cách chọn lọc thể loại sách phù hợp với nhu cầu và nhận thức của bạn.

Không đọc sách thì cũng chẳng phải là chuyện gì xấu xa cả và việc đọc nhiều cũng không đảm bảo khiến bạn thành công. Nhưng chắc chắn rằng đọc sách giúp bạn mở mang tri thức, rèn luyện khả năng đọc nhanh, tư duy ngôn từ và cải thiện trí nhớ rất hiệu quả.

Đọc sách một thời gian ngắn sẽ không có nhiều sự khác biệt. Nhưng đọc sách một năm, 2 năm, 3 năm và thêm nhiều năm nữa, khác biệt ắt rõ ràng.

S.T.


 

Sau ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy…-Trương Nhân Tuấn

 Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

15-1-2024

“Sinh, lão, bịnh, tử” là chuyện gắn liền với mỗi cá nhân con người, tức là chuyện “bình thường”. Ai rồi cũng phải trải qua một trong bốn giai đoạn đó trong cuộc đời mình. Ông Trọng cũng vậy. Ông không phải là thần thánh.

Tuy nhiên, ông Trọng là lãnh đạo tối cao của Việt Nam hiện nay. Bất cứ chuyện gì xảy ra đối với ông Trọng, trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên quan đến Việt Nam. Sự vắng mặt của ông những ngày qua làm dấy lên những đồn đoán, ngay cả ở báo chí nước ngoài. Người ta đặt vấn đề về “hậu sự” của ông Trọng.

Cá nhân tôi từ hơn hai thập niên qua luôn giữ quan điểm rằng, yếu tố cần thiết để Việt Nam có thể phát triển lành mạnh và bền vững là vấn đề “pháp trị hóa nhà nước”. Các quốc gia Nam Hàn, Đài Loan, Singapore… từ ba thập niên 1970, 1980 và 1990 của thế kỷ trước đều là các quốc gia “độc tài”. Khác với Việt Nam, các quốc gia trên đều là các “Quốc gia pháp trị – Etat de Droit” và kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa.

Nhớ lại những năm cuối nhiệm kỳ 1 của ông Trọng, ước muốn của ông được báo chí ghi lại: “Xây dựng một bộ máy nghiêm minh đồng thời hoàn thiện thể chế, chính sách, luật pháp tới mức không còn những ‘khoảng trống’, ‘kẽ hở’ cho tham nhũng, để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không còn muốn tham nhũng“.

Đến nay đã giữa nhiệm kỳ 3. Khách quan nhận xét thì rõ ràng những ước muốn của ông Trọng vẫn còn xa xôi lắm.

Cốt lõi của vấn đề là ở thể thức phân bổ quyền lực. Quyền lực tập trung vào đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện, về mọi mặt, nhà nước và xã hội.

Thử nhìn vào nơi nào trong xã hội này mà không thúi nát? Ngay cả ở các nơi chốn tôn nghiêm. Câu thơ (của Bùi Minh Quốc): “Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa“, chưa bao giờ đúng như lúc này.

Ông Trọng đã thất bại toàn tập trong vấn đề “nhốt quyền lực vào cái lồng lập pháp”. Những biện pháp như “bỏ phiếu tín nhiệm” chỉ là trò cười đối với cán bộ tham nhũng, hủ bại. Những con sâu chúa trong hệ thống quyền lực này vẫn an toàn vô sự, bất chấp cái “lò” của ông Trọng nóng hơn bao giờ hết.

Người ta chỉ có thể diệt trừ tham nhũng ở một số người nhưng không bao giờ diệt tham nhũng ở cả một tập đoàn. Qua các vụ Việt Á, “các chuyến bay giải cứu”, người ta đã thấy đảng CSVN thúi nát từ trên tới dưới, từ trong ra ngoài.

Đảng viên CSVN đối xử với dân chúng như những con thú. Chỉ hiện hữu trong xã hội loài thú, khi một con thú bị thương, con thú này trở thành con mồi cho những con thú khác.

Đảng CSVN xây dựng cái gì mà một người Việt gặp hoạn nạn là cơ hội tốt cho đảng viên cộng sản lạm dụng. Có khác gì xã hội của loài thú đâu?

Theo tôi thấy, với cái đà này “sau” ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy. Không “pháp trị hóa nhà nước” thì không có bất cứ cái gì ngăn cản được sự hủ bại của quyền lực.

Tôi nghĩ rằng thời gian còn lại của ông Trọng không nhiều. Tôi rất bi quan về tiền đồ của đất nước. Mô hình phát triển của Trung Quốc mà ông Trọng lấy về áp dụng cho Việt Nam chỉ là một cái áo quá khổ so với Việt Nam.


 

TĨNH LẶNG…

Gieo Mầm Ơn Gọi

“Khi đến một độ tuổi nhất định, bạn sẽ thích yên tĩnh.

Khi rảnh rỗi bạn có thể trồng hoa, uống trà, đọc sách và chơi nhạc, bạn có thể tận hưởng khoảng thời gian thảnh thơi tản bộ mà lại an toàn.

Tôi đã quen với việc im lặng nên có nhiều thời gian cho bản thân hơn, có thể suy nghĩ, có thể nuôi dưỡng trái tim mình, yên lặng là tốt nhất.

Thế giới này, không có gì quyến rũ hơn hương thơm của tâm hồn, đấy chính là vẻ đẹp thực sự, là phong cảnh của núi sông trong lòng, là vẻ đẹp thực sự. Là sự yên tĩnh, an nhàn trong linh hồn, chăm sóc cuộc sống của bạn và sống một cách thanh thản.

Những lúc yên tĩnh, còn gì tuyệt hơn khi đọc một cuốn sách và uống một tách trà, quá khứ trong một trang sách, mỗi trang đều tuyệt vời, và cả ngàn hương vị trong một tách trà, tất cả đều là thực tế.

Một cuộc sống yên tĩnh, thích hợp và thoải mái, sống mỗi ngày ấm áp, ngồi trước cửa sổ, nhìn mây trôi, lặng lẽ nghe mưa dưới mái hiên và nuôi dưỡng trái tim mình, đi qua ngàn sông núi, tất cả là bạn tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn, cuộc sống yên tĩnh và trải nghiệm sự hạnh phúc bình thường.

Có một câu nói, đừng đi quá nhanh, hãy chậm lại chờ đợi tâm hồn mình, sự yên tĩnh trong tâm hồn giống như sự tươi mát của suối nước xanh chảy trên tảng đá, như những bông hoa cúc nhạt màu cách ly khỏi cuộc sống xô bồ. Sự an tĩnh trong linh hồn mới là đẹp nhất.

Sự tĩnh lặng có thể làm cho cuộc sống tẻ nhạt trở nên thơ mộng, không sợ hãi không lo lắng, nhàn nhàn thích, lẳng lặng yêu, một thuyền lá lênh đênh, một buổi hoàng hôn, đều là tô điểm cho những năm tháng đằng đẵng, an an tĩnh tĩnh mà sinh sống. Bên trong nội tâm lại nở rộ nhưng đoá hoa.

Trải qua những ngày tháng đơn giản, nội tâm trầm lặng phong phú, cuộc đời thăng trầm, sẽ luôn có những rắc rối kiểu này hay kiểu kia. Luôn muốn chạm đến bỉ ngạn mà không thể chạm tới, nghĩ mãi vẫn không ra. Trước hãy thử buông bỏ một chút, đừng vì vật chất mà vui vẻ, cũng đừng vì bản thân mà bi thương. Bạn không tổn thương, như vậy thì những ngày tháng sau này sẽ không co’ vấn đề gì cả, cứ như vậy mà an ổn.”

ST


 

HIỂN NHIÊN VÀ BIẾT ƠN

Một ngày nọ, có một người hỏi một vị lão tiên sinh:
– Mặt trời và mặt trăng, cái nào quan trọng hơn?
Vị lão tiên sinh kia suy nghĩ nửa ngày mới trả lời:
– Là mặt trăng quan trọng hơn.
– Tại sao?
– Bởi vì mặt trăng chiếu sáng vào ban đêm, đó là thời điểm chúng ta cần ánh sáng nhất, còn mặt trời lại chiếu sáng vào ban ngày mà ban ngày chúng ta đã có đủ ánh sáng rồi.

Bạn có lẽ sẽ cười vị lão tiên sinh này là hồ đồ, nhưng mà bạn biết không, rất nhiều người trong số chúng ta đã suy nghĩ và ứng xử như thế.

Người mà hàng ngày chăm sóc bạn, bạn coi là hiển nhiên, nên không cảm nhận được điều gì. Nhưng nếu là một người xa lạ ngẫu nhiên giúp đỡ bạn, bạn sẽ cảm nhận được ngay đó là một người tốt.

Một cô gái đã có một cuộc tranh cãi với mẹ của mình, tức giận đến mức tông cửa chạy ra ngoài và quyết định không bao giờ trở về ngôi nhà chán ghét này nữa. Cô đã đi lang thang cả ngày ở bên ngoài, đến lúc bụng đói cồn cào, nhưng lại không có một đồng nào, mà lại không muốn trở về nhà để ăn cơm. Mãi đến lúc trời tối, cô mới đi vào một quán mì, ngửi thấy mùi mì thơm tỏa ra. Cô thực sự rất muốn được ăn một bát, nhưng trên người không có tiền, chỉ có thể liên tục nuốt nước miếng.

Bỗng nhiên, ông chủ quán mì ân cần hỏi han:
– Cháu gái, cháu có muốn ăn mì không?
Cô gái ngượng ngùng trả lời:
– Nhưng mà, cháu không mang tiền.
Ông chủ nghe xong cười nói:
– Không sao cả, hôm nay cứ coi như bác mời cháu.

Cô gái quả thực không thể tin vào tai mình, cô ngồi xuống, ngay lúc đó, một bát mì được mang ra, cô ăn say sưa, và nói:
– Bác chủ quán, bác thật là một người tốt!
Ông chủ quán nói:
– Ồ, sao cháu lại nói vậy?
Cô gái trả lời:
– Chúng ta vốn không quen biết nhau, bác lại đối xử tốt với cháu như vậy, không giống như mẹ của cháu, hoàn toàn không hiểu được những nhu cầu và ý nghĩ của cháu, thật là bực mình!

Ông chủ quán cười nói:
– Cháu gái, bác chẳng qua mới chỉ cho cháu một bát mì thôi, mà cháu đã cảm kích bác như thế, mẹ của cháu đã nấu cho cháu cả ngàn vạn bát mì, cháu chẳng phải là càng nên cảm kích mẹ của cháu hay sao?

Nghe ông chủ quán nói xong, cô gái như tỉnh giấc mơ, lập tức nước mắt trào ra, cô bỏ mặc nửa bát mì còn lại mà vội vàng chạy về nhà.

Mới đến ngõ trước cổng nhà, cô đã nhìn thấy bóng mẹ xa xa, đang lo lắng nhìn quanh bốn phía cổng ra vào, trái tim cô như thắt lại, cô cảm thấy muốn nói một ngàn lần một vạn lần lời xin lỗi với mẹ của mình. Nhưng cô còn chưa kịp mở miệng thì mẹ của cô đã oà khóc và nói:
– Trời ơi, con đã về đây rồi. Mau mau, đi vào nhà rửa chân tay, ăn cơm đi.

Tối hôm đó, cô gái mới cảm nhận được sâu sắc tình yêu của mẹ đối với mình.
Khi sự hiện diện của mặt trời trở thành điều hiển nhiên, mọi người sẽ quên mất là nó đem lại cho mọi người ánh sáng, lòng biết ơn biến mất.

Khi sự chăm sóc của người thân trở thành hiển nhiên, lòng biết ơn biến mất.
Khi việc công ty trả lương và trao cơ hội cho mình trở thành hiển nhiên, lòng biết ơn biến mất.

Để có lòng biết ơn, ta cần dụng tâm quan sát, dụng tâm cảm ngộ.

 From: giang pham & KimBang Nguyen