Đơn Sơ Chân Thật – Nhạc Bất Quần

Br. Huynhquảng
Thưa quí bạn, chúng ta đã lần lượt suy ngẫm về ba đề tài: Tha Thứ, Hiệp Nhất,
và Sống Hiện Tại. Thực ra, sống giây phút hiện tại không gì khác hơn chính là
sống thật với con người mình. Sống hiện tại luôn luôn níu kéo chúng ta trở lại
với hiện tại, với bản chất con người thật của mình. Vì lý do đó, mục Sống Đẹp
hân hạnh giới thiệu đến quí bạn đề tài mới: Đơn Sơ – Chân Thật, chỉ với hy vọng
phần nào góp thêm chất liệu màu sắc để bạn và tôi cùng nhau hoàn thiện bức
tranh của chính mình. Kỳ này mục Sống Đẹp xin mượn nhân vật Nhạc Bất Quần trong
tiểu thuyết võ hiệp lừng danh của Kim Dung để giúp ta hiểu thêm hậu quả của sự
gian trá, không chân thật. Nhưng quan trọng hơn, nhân vật này có thể giúp ta
dừng lại để lắng nghe tiếng nói trong con tim: Động cơ gì đã dẫn quân tử kiếm
Nhạc Bất Quần dùng mọi thủ đoạn âm mưu để lừa gạt, để hại người, hại gia đình,
và hại chính mình.
Nhạc Bất Quần
Kim Dung thoạt đầu miêu tả Nhạc Bất Quần như một bậc chính nhân quân tử thuộc chính phái. Ông là chưởng môn phái Hoa Sơn, luyện thành công môn Tử Hà Công; ông ăn nói nhỏ nhẹ, thái độ khoan thai cộng với võ nghệ cao cường nên ông được nhiều người trong chốn giang hồ kính nể, đặc biệt Lệnh Hồ Xung, chàng một lòng kính phục sư phụ mình.
Dầu vậy, do tham vọng hợp nhất năm môn phái thành một, và sau đó sẽ làm minh
chủ Ngũ Nhạc Phái, Nhạc Bất Quần đã lừa gạt mọi người và dùng Lệnh Hô Xung để
che đậy tội lỗi của ông. Ông đã ăn cắp Tịch Tà Kiếm Phổ của nhà họ Lâm; ông
đoạt ngôi minh chủ trên tay Tả Lãnh Thiền, người cũng có tham vọng làm minh chủ
Ngũ Nhạc Kiếm Phái, và tệ hại hơn, ông đã đánh lừa chính vợ con ông và bản thân
ông khi ông tự thiến để luyện Tịch Tà Kiếm Phổ. Cuối cùng, Nhạc Bất Quần đã
thành công và đã đạt được mục đích; ông trở thành minh chủ Ngũ Nhạc Phái; ông
đã luyện thành công Tịch Tà Kiếm Phổ; ông đã có tất cả những gì ông khao khát,
nhưng cuối cùng ông đã đánh mất đi chính bản thân ông. Khi ông được tất cả cũng
chính là lúc ông mất tất cả.
Kim Dung tài tình lột dần mặt nạ của Nhạc Bất Quần, để dù Nhạc Bất Quần đã có
trong tay tất cả những gì ông muốn, nhưng khi mặt nạ đã bị lột bỏ, thì dù là
minh chủ của Ngũ Nhạc Phái, bên ông không còn ai là bạn hữu, không còn ai là đệ
tử, và cuối cùng phải chết dưới tay Ni-Cô Nghi Lâm phái Hằng Sơn. Bộ mặt thật
“ngụy quân tử” của Nhạc Bất Quần lộ ra khi ông có trong tay mọi thứ ông tham vọng và khao khát. Cảnh cuối đời của Nhạc Bất Quần diễn tả đúng với tên gọi của ông, nghĩa là “không chơi với ai.” Vì thực ra dù trước khi bị lột mặt nạ, ông có rất nhiều bạn hữu và được nhiều người kính nể, nhưng thực ra ông đâu có thực lòng giao tình bằng hữu với ai đâu! Với ông, tất cả các mối quan hệ đều ngấm ngầm tính toán hơn thua; ông dùng mọi người kể cả đại đệ tử, vợ ông, và con ông làm bàn đạp cho ông thực hiện âm mưu bá chủ võ lâm. Mối quan hệ của ông từ trong gia đình ra ngoài xã hội đều dựa trên sự gian dối, lừa gạt,
âm mưu… chứ không dựa trên sự thật, đơn sơ, chân chính của người võ sư.
* * *
Thưa bạn, cũng như Nhạc Bất Quần, điều nguy hiểm nhất cho cuộc đời chúng ta là đôi khi chúng ta đã gạt bỏ những gì chúng ta đang có để cố chụp giựt cho được điều mà chúng ta thích, vui. Động cơ này dễ dàng thúc dục chúng ta tìm mọi phương cách để đạt được mục đích kể cả khi phải dùng những kỹ xảo thấp hèn. Gạt bỏ những gì sẵn gần bên ta, trong gia đình ta, trong tâm hồn ta để rong ruổi tham vọng những sự xa ta, ngoài gia đình ta, và ngoài tâm hồn ta… đó là thất bại lớn nhất của một đời người. Chạy theo dục vọng để chiếm hữu, để được làm chủ một điều gì ngoài ta là một cuộc rong ruổi nguy hiểm và dễ dàng đánh mất chính ta; vì thực ra khi ta chỉ lo kiếm tìm những sự “bên ngoài” thìchắc một điều, sự “bên trong” không được quan tâm và chăm sóc cho chu đáo. Được điều gì khi ta thắng trận mà ta không biết ta trở về đâu. Hóa ra, cái sự thật căn bản vẫn là chính ta, trong ta chứ không phải bên ngoài được tô điểm bằng danh thơm hão huyền hư ảo. Từ đó ta học được rằng, dù xã hội có thể ban tặng cho ta tước hiệu hoa mỹ đến đâu đi chăng nữa, nhưng ta không thật với lòng ta, thì ta cũng mất tất cả – và điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời chính là mất đi chính ta. Mong rằng chúng ta cùng giúp nhau mỗi ngày khám phá ra sự thật
về chính mình; cùng giúp nhau cẩn tĩnh về hiểm họa của những tiếng mời gọi ta
đi ra khỏi lòng ta. Thực tế cho thấy, “Đôi khi thế giới [con người] cứ lôi kéo bạn theo một hướng, mà theo con tim, bạn không mong muốn đi theo.”
Thưa bạn, nếu Nhạc Bất Quần biết nhận ra tài năng và thật tâm của Lệnh Hồ Xung,
nhận ra một gia đình hạnh phúc trong giá trị hiện tại của đời ông, chắc một điều ông sẽ đạt được cả “bên trong” lẫn “bên ngoài.” Nhưng đáng buồn thay ông đã không làm như vậy. Còn bạn thì sao?

Giận Dữ

Giận Dữ
Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Trong một dịp hàn huyên, Mục sư Phan Thanh Bình bên San Diego có chia xẻ như sau về sự Giận Dữ.
Giận dữ là bản tính tự nhiên của con người. Giận là một trong những thất
tình: Mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn
.
Giận thì buồn phiền, hờn dỗi cho những người yếu thế. Giận thì quát tháo, chửi
rủa, đập phá, đánh nhau đôi khi giết nhau cho những người ở thế mạnh.
Người xưa đã chia giận làm hai loại: Giận huyết khí và giận nghĩa lý. “Huyết
khí chi nộ bất năng hữu. Nghĩa lý chi nộ, bất năng vô”.
Cái giận nóng tính
không nên có. Cái giận nghĩa lý, chẳng nên không.
Người huyết khí chi nộ” hầu hết là người yếu về trí xét đoán: giận đã, xét sau;
yếu về tinh thần, không kiềm chế nổi sự giận dữ nơi mình; yếu về lòng thương
sót, thông cảm.
Người biết giận “nghĩa lý chi nộ” là người rất mạnh. Mạnh về trí xét đoán, mạnh
về tinh thần dù thể xác có yếu và đầy lòng thương xót.
Với tinh thần “cầu an” chúng ta thường bò “ Nghĩa lý chi nộ”. Nhưng chúng ta thường tỏ ra “anh hùng” với “huyết khí chi nộ”.
Người xưa đã phân định: “Người không biết giận là người dại, người không muốn giận là người khôn”. Người kiềm chế được cơn giận phải là người giàu
nghị lực.
Kinh Thánh dạy: “Người nào cũng phải mau nghe, chậm nói, chậm giận”(Gia-cơ
1:19).
Biết bao lần chúng ta hối tiếc đã để cơn giận bùng lên chỉ vì nghe chưa thấu, xét chưa tường, mà đã hàm hồ phán đoán
Nếu phải nổi giận vì cái “nghĩa lý chi nộ”, cũng phải cẩn thận : “Ví bằng anh em đương cơn giận thì chớ phạm tội, chớ giận cho tới khi mặt trời lặn, và đừng tạo cơ hội cho ma quỷ” (Ê-phê-sô 4:26-27).
Ôn lại quá khứ, bởi giận mà chúng ta làm cho “cái sảy nảy cái ung”, “giận chuột ném vỡ bình quý, “giận con rận, đốt cái áo”. Tất cả đều là giận dại. Là không còn sáng suốt hiểu biết chân lý để nói.
“Giận lên là nổi cơn điên
Người khôn hóa dại, người hiền hóa ngu”
Cảm ơn Mục sư Phan Thanh Bình, người đã viết tới 99 cuốn sách về Chúa Jêsus,
Kinh Thánh, Chứng đạo, Gia đình…
Thưa Mục sư,
Nhà Phật cũng dạy: “Ôm lấy sự giận dữ chẳng khác chi nắm cục than hồng định
liệng vào người khác, nhưng trước khi ném thì tay đã phỏng cháy”.
Hoặc theo lời khuyên của Thomas Jefferson: “Khi giận hãy đếm tới 10 trước
khi nói. Nếu giận tràn hông thì đếm tới 100”.

Mới đếm tới bảy tám mươi đã ngủ khì thì còn giận gì nữa.

Sao mà khéo khuyên!!! Nhẹ nhàng nhưng công hiệu.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Anh chị Thụ Mai gởi

Có thể thật lòng yêu kẻ thù ?

Có thể thật lòng yêu kẻ thù ?

Đăng bởi pleikly lúc 2:17 Sáng 9/10/12

VRNs (09.10.2012) – CatholicHerald – “Thiên Chúa nói với Môsê: Hãy nói với toàn thể cộng đồng về con cái Israel và hãy nói với họ. Hãy nên thánh, vì Tôi là Đức Chúa, là
Thiên Chúa của ông, là Đấng Thánh”.

Sách Lê-vi tóm tắt các giới răn khác theo giới răn này: Như Chúa là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta cần nên thánh. Sự thánh thiện mô tả mọi thứ mà Thiên Chúa đặt lên trên sự sáng tạo sai trái. Sự thánh thiện là điều gì đó hơn cả việc giữ trọn lề luật như nô lệ. Nên thánh là
vào trong ý nghĩ và trái tim của Chúa, phân xử như Chúa phân xử, hiểu như Chúa hiểu.

Khi những câu trong sách Lê-vi mở ra, chúng ta bắt đầu đánh giá hố ngăn cách (gulf) giữa thói quen tội lỗi của con người và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Nhiều người coi sự thù hằn là cách phản ứng tự nhiên nhất đối với sự thiệt hại mà chúng ta chịu. Sự thánh thiện mà
chúng ta được mời gọi đòi hỏi cách phản ứng khác, đó là cách phản ứng có vẻ đi ngược với bản chất. Bạn không được thù ghét anh em, bạn không được trả thù, bạn không được đố kỵ.

Một trong các hậu quả của tội là xu hướng phê phán thù hận. Sách Lê-vi loại trừ điều này bằng giới răn, được Chúa Giêsu lặp lại, rằng chúng ta phải yêu người như chính mình. Giới răn quá quen thuộc đến nỗi chúng ta có thể dễ dàng làm ngơ sự thay đổi cơ bản của con tim mà giới răn ám chỉ. Tội lỗi khiến chúng ta tự nhận là “trung tâm vũ trụ”, vô tình xác nhận rằng mọi thứ phục vụ chính mục đích của chúng ta. Yêu người như chính mình đảo lộn ý nghĩ này. Đây là sự thánh thiện mà Thiên Chúa đặt chúng ta lên trên tội lỗi, đưa chúng ta vào ý nghĩ và trái tim của Thiên Chúa.

Tiếp theo Bài Giảng Trên Núi, Phúc âm nhấn mạnh hố ngăn cách giữa sự thánh thiện và thái độ tội lỗi đã thâm căn cố đế (ingrained attitudes of sin). Luật “mắt đền mắt, răng đền răng” có vẻ rất cân xứng. Điều gì đó trong chúng ta bắt đầu nổi loạn khi chúng ta được khuyên không chống lại kẻ độc ác, đưa má cho người ta vả, không chỉ đưa áo trong mà
đưa luôn cả áo ngoài cho kẻ áp bức mình.

Sự không thoải mái mà chúng ta cảm thấy đã ăn rễ sâu trong chúng ta. Chúng ta bị giằng co: sự công thẳng và ân sủng. Đức Kitô không đến thế gian này để đối xử công thẳng với chúng ta. Ngài đến để mạc khải tình yêu của Chúa Cha, một hồng ân vượt trên mọi thứ mà chúng ta đáng hưởng. Bài Giảng Trên Núi mời gọi chúng ta đạt đến sự thánh thiện để đối xử với tha nhân bằng sự độ lượng mà chúng ta đã lãnh nhận. Chỉ bằng cách này thì chúng ta mới có thể nên thánh như Chúa Cha là Đấng Thánh, và hoàn thiện như Chúa Cha là Đấng hoàn thiện.

Chỉ là tự nhiên để cảm thấy bất xứng trước các yêu cầu của Chúa Giêsu trong Bài Giảng Trên Núi. Chúng ta có thực sự yêu kẻ thù và làm điều tốt cho những người làm hại mình? Thư của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô đặt yêu cầu của Chúa Giêsu ngược với những ân sủng mà chúng ta lãnh nhận.

“Bạn không nhận ra mình là đền thờ của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần sống trong bạn sao?”. Đó là tặng phẩm của Chúa Thánh Thần mà chúng ta có thể nên thánh như Chúa Cha là Đấng Thánh, độ lượng như Ngài. Thánh Phaolô tiếp tục làm tương phản sự khôn ngoan của thế gian với sự điên dại của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của thế gian đòi hỏi sự công bình. Sự điên dại của Thiên Chúa là ân sủng vị tha. Đây là tính thánh thiện mà chúng ta
được mời gọi.

ĐGM David McGough

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ CatholicHerald.co.uk)

 

BẢN CHẤT KINH MÂN CÔI

BẢN CHẤT KINH MÂN CÔI

Rosaire

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Căn cứ vào bản chất, Kinh Mân Côi là một kinh có giá trị tuyệt đỉnh, vượt trên tất cả mọi kinh nguyện khác, xét về ba phương diện sáng tác, diễn xuất và nội dung như sau:

Về phương diện sáng tác: Hai kinh chính họp lại thành Kinh Mân Côi, đó là Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng.  Ngoài Kinh Lạy Cha là kinh chính Chúa Giêsu dạy, Kinh Kính Mừng – kinh nòng cốt và kinh chính yếu của Kinh Mân Côi-, là lời ngợi khen của Chúa Cha nói với Mẹ qua sứ thần Gabriel và của Chúa Thánh Thần nói với Mẹ qua bà thánh Isave (Lc
1,41-42).  Kinh Thánh Maria, phần cuối của Kinh Kính Mừng, là lời tuyên nhận của Chúa Giêsu nói với Mẹ qua Giáo Hội, Nhiệm Thể của Người, qua Công đồng chung Êphêsô năm 431.

Còn lời nào giá trị hơn Lời của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Kinh Mân Côi là tổng hợp Lời của Thiên Chúa Ba Ngôi, do đó, đã có một giá trị  vô cùng.  Trong một lá thơ đề ngày 04/04/1970, chị Lucia đã viết như sau: “Kinh Mân Côi là kinh nguyện đẹp lòng Thiên Chúa nhất, vì nhờ Kinh Mân Côi, chúng ta chúc tụng Ngài cách tuyệt hảo nhất.”

Về phương diện diễn xuất: Lời Kinh Mân Côi nói chung và Kinh Kính Mừng nói riêng, về
nội dung, chẳng những là lời của Thiên Chúa Ba Ngôi, về hình thức, còn là lời  mà cả trời đất tuyên tụng và tuyên nhận Mẹ nữa.

* Sứ Thần Gabriel là đại diện của các thần trời, đã chúc tụng khen Mẹ bằng lời của Chúa Cha, Đấng đã sai ngài đến với Mẹ (Lc 1,26): “Kính mừng Maria đầy ơn phúc!  Đức Chúa Trời ở cùng Bà.  Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ” (Lc 1,28).

* Bà Isave là đại diện của các thánh, đã chúc mừng Mẹ bằng lời của Chúa Thánh Thần, Đấng mà bà “được tràn đầy” (Lc 1,41) khi vừa nghe lời Mẹ chào: “Bà có phúc hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” (Lc 1,42).

* Giáo Hội là đại diện của con cái Thiên Chúa nói riêng và của loài người đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài nói chung, đã tuyên nhận Mẹ bằng lời của Chúa Giêsu là Đầu của mình (Ep 1,22): “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử.”

Trong lời kinh Thánh Maria này, Mẹ chẳng những được Giáo Hội, qua con cái mình, trực tiếp tuyên nhận Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, khi họ đọc: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, gián tiếp, Mẹ còn được con cái mình tuyên nhận Mẹ là Mẹ Nhân Loại nói chung và Giáo Hội nói riêng, khi đọc: “Cầu cho chúng con”, là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, khi đọc: “là kẻ có tội”, và là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, khi đọc: “khi này và trong giờ lâm tử”.

Do đó, còn lời kinh nào giá trị cao cả cho bằng lời kinh mà cả đất trời đồng thanh tuyên xưng và chúc tụng Đấng đã nói tiên tri về chính mình: “Thiên Chúa đã thương đến phận hèn tôi tớ của Ngài; từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48). Khi đọc Kinh Kính Mừng cũng là Kinh Mân Côi, chính là chúng ta hợp với tất cả trời đất cùng lời Thiên Chúa Ba Ngôi tuyên tụng Mẹ của mình vậy.

Về phương diện nội dung: Vì Kinh Mân Côi là lời Thiên Chúa Ba Ngôi chúc khen Mẹ qua các thụ tạo tốt lành của Ngài, bởi thế, Kinh Mân Côi chứa đựng một ý nghĩa vô cùng sâu
xa.  Chính  ý nghĩa vô cùng sâu xa này đã làm Kinh Mân Côi có một giá trị khôn sánh.

(Trích từ Chuỗi Mân Côi trong đời sống hằng ngày của tác giả Paula Hoesl do Trầm Tĩnh Nguyện phóng tác)

nguồn: Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Quyền năng tuyệt diệu của chuỗi Mân Côi

Quyền năng tuyệt diệu của chuỗi Mân Côi

Kim Hà

Sau đây là lời chia sẻ của LM Amorth, một nhà trừ quỷ nổi tiếng trên thế giới và là Nhà Trừ Quỷ chính tại Tòa Thánh Vatican:

Lý do tại sao chúng ta cần cầu nguyện bằng Chuỗi Kinh Mân Côi?

LM Gabriel Amorth, Nhà trừ quỷ chính (Chief Exorcist) của Tòa Thánh Vatican
viết:

-Một ngày kia, người bạn đồng nghiệp của tôi nghe ma quý nói trong một cuộc trừ quỷ như sau:

“Mỗi một Kinh Kính Mừng giống như một cú đánh mạnh vào đầu tôi. Nếu những người KiTô Giáo biết được quyền năng vĩ đại của Kinh Mân Côi thì sẽ là ngày kết thúc của tôi.”

Điều bí mật làm cho chuỗi kinh Mân Côi rất hữu hiệu là khi đọc Chuỗi kinh này người ta vừa cầu nguyện và vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Mẹ Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Và lời suy niệm nhắm đến Chúa KiTô.

Xin hãy đọc và suy gẫm từng chữ của chuỗi Kinh Mân Côi một cách rõ ràng. Đừng vội vàng đọc theo người khác. Đừng cướp lời kinh của người hướng dẫn. Xin hãy nhớ rằng khi đọc kinh này, chúng ta đang thưa chuyện cùng Đức Mẹ Maria, Mẹ chúng ta và thật là vô lễ khi người khác đang nói chuyện mà mình nói leo.

Trong trường hợp lần chuỗi Mân Côi chung thì thường có hai bè xướng kinh tức là nói chuyện. Một bè là người hướng dẫn, một bè khác là những người đối đáp. Khi một bè nói chuyện với Đức Mẹ thì bè kia cần thinh lặng.

Hãy đọc kinh cần thận và đọc với trái tim khi chúng ta suy niệm về các Mầu Nhiệm, rồi áp dụng các Mầu Nhiệm trong đời sống hàng ngày.

Hãy truyền bá phương cách cầu nguyện Chuỗi Kinh Mân Côi vì đó là lời nguyện quyền năng nhất để trừ quỷ. Lời kinh Mân Côi dâng lên Thiên chúa Ba Ngôi, lên Đức Mẹ và đó là một lời kinh Toàn Hảo.

Mỗi khi đọc một Chuỗi Kinh Mân Côi là ta suy niệm Năm Mầu Nhiệm. Đức Mẹ cùng
đọc kinh với chúng ta, nên Kinh này có thêm quyền năng. Mẹ và ta đọc đến 53
Kinh Kính Mừng.

Đức Chúa Cha đã dùng một người thụ khải để nói với chúng tôi khi chúng tôi đọc
kinh Mân Côi chung rằng:

“ Khi các con đọc câu kinh: ‘Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, Cầu cho chúng con
là kẻ có tội. ..’ Thì Đức Mẹ đến ngay bên cạnh các con và cầu nguyện chung với các
con. Và Mẹ không đến một mình mà Mẹ đem theo các thiên thần với Mẹ. Vì Mẹ Là Nữ
Vương Các Thiên Thần nên Mẹ đem rất nhiều thiên Thần đến với Mẹ. Mẹ và Chúa
Giêsu luôn kết hợp với nhau, không bao giờ lìa xa nhau. Và Chúa Giêsu không rời
xa Thiên Chúa Ba Ngôi nên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cùng đến. Và khi Thiên
Chúa Ba Ngôi đến thì tất cả các loài thụ tạo cùng quây quần. Thật là một cảnh
tượng đẹp đẽ và chan hòa ánh sáng mà các con không thể tưởng tượng nổi. Mẹ
Thánh của các con đến với tước hiệu là Đức Mẹ Ban Ơn với đôi tay xòe ra. Những
tia sáng chiếu giãi từ đôi tay Mẹ sẽ xuyên thấu qua thể xác các con, chữa lành
và tuôn đổ trên các con với muôn ơn lành. Đó là ân huệ từ trái tim Chúa Giêsu
đổ xuống từ trên cây thánh giá khi người lính đâm thấu Trái Tim Chúa với ngọn
giáo, chảy qua một máng xối thông ơn tinh tuyền để nhận lãnh ân huệ cao quý ấy,
đó là Đức Mẹ.

Bây giờ nếu các con cầu nguyện Chuỗi Kinh Mân Côi
hay khi các con đọc một kinh Kính Mừng, các con sẽ nhận được một phần của những
ân huệ này. Những ai đến gặp Mẹ Maria và cầu nguyện Chuỗi Kinh Mân Côi thì
Satan không thể đụng đến họ.”

Thật là một điều kỳ diệu cho những ai siêng năng cầu nguyện Chuỗi Kinh Mân Côi
với trọn trái tim vì họ sẽ được chúc phúc và được bảo vệ. Lời nguyện của họ
dành cho người khác rất mạnh thế.

Vậy sau khi đọc bài chia sẻ này, xin quý vị hãy khiêm nhường và tìm mọi cách
tốt lành và hoàn hảo để rao truyền việc đọc kinh Mân Côi. Nhờ đó mà Satan không
còn có thể làm hại bản thân chúng ta và gia đình chúng ta được nữa.

Nguồn: Zenit

Kim Hà

nguồn: Sơn Đỗ gởi

Từ một cầu thủ dã cầu trở thành Linh Mục

Từ một cầu thủ trở thành Linh Mục

Thầy dòng Desme (bên trái)

 

Silverado, California: Sau nhiều năm sống trong một thế giới vội vã, luôn luôn ồn ào tiếng nhạc, cuối cùng anh Grant Desme,

một cầu thủ dã cầu đã tìm được an bình trong Chúa.

Vào mùa giáng sinh hai năm trước, anh Desme cùng 7 thanh niên khác đã đến tu viện St Michael , sẵn sàng cho một cuộc sống mới.

Anh Grant Desme đã xin đổi tên và đã được giám mục Eugene Hayes đổi tên là Mathew Desme. Trong vòng hai năm qua , anh Mathew Desme đang là tập sinh của chức vụ linh mục cũng như là một thầy dòng ở tu viện Norbertine.

Hai năm trước, anh Grant Desme là một  cầu thủ xuất sắc của hiệp hội dã cầu thiếu niên The Arizona Fall và đã từng được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong năm 2009.

Cũng trong năm 2009, anh đã được đội dã cầu Oakland Athelics chọn và ký hợp đồng năm đầu với số lương 430 ngàn Mỹ kim.

Nhưng sau một thời gian suy nghĩ, anh ta đã bỏ tất cả, tiền tài danh vọng, để đi học làm một thầy dòng và một linh mục.

 

THIÊN THẦN BẢN MỆNH

THIÊN THẦN BẢN MỆNH

LỄ NHỚ NGÀY 02/10

Tác giả: Lương Văn Liêm

nguồn: Thanhlinh.net

 

Theo niên lịch phụng vụ, ngày 02 tháng 10, Giáo Hội mời gọi con cái mình kính nhớ đến các Thiên Thần Bản Mệnh. Trước là để ta dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ tri ân vì Ngài đã ban tặng cho ta những người bạn tuyệt vời, luôn ở kề bên để chăm sóc, gìn giữ, nhắc nhở và bảo vệ ta trên bước đường lữ thứ, kế đến là nhắc nhở ta luôn biết cám ơn các Thiên Thần Bản Mệnh, tâm sự với các ngài, xin các ngài cầu thay nguyện giúp và nhất là ta xin các ngài hướng dẫn ta sống sao cho đẹp lòng Chúa, gìn giữ ta khỏi những mưu mô, chước độc của satan.

Các Thiên Thần Bản Mệnh là ai? Các Ngài có ảnh hưởng gì đến đời sống tâm linh cũng như thể chất của ta? Các ngài song hành và ở bên ta dưới hình thức nào…? Quả thật, đây là những câu hỏi mà gần như ít người quan tâm, bận tâm và tìm hiểu! Ngay như vị thánh Bổn Mạng là vị thánh mà cha mẹ ta chọn cho ta khi ta được chịu phép Rửa Tội, ấy thế mà
nhiều khi ta chẳng nhớ, chẳng biết và không mấy quan tâm!

Phải chăng hình ảnh và sự hiện diện của các Thiên Thần Bản Mệnh chỉ là hư cấu, thêu dệt cho thêm phong phú trong quá trình giữ đạo và sống đạo của người Kitô hữu? Phải chăng các Thiên Thần Bản Mệnh được Thiên Chúa sinh dựng để ngày đêm túc trực bên Thánh Nhan Chúa, luôn dâng lời ca tiếng hát chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa, và tô điểm cho ngai tòa Thiên Chúa? Xin thưa, không phải thế, giờ ta cùng tìm hiểu về hình ảnh, nhiệm
vụ của các Thiên Thần Bản Mệnh trước thánh nhan Thiên Chúa và nhất là trong  cuộc sống lữ hành của ta. Để rồi trong từng ngày sống, ta cảm nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho ta lớn lao biết là dường nào qua sự đồng hành của các Thiên Thần Bản Mệnh. Từ đó, ta luôn hướng về các ngài, xin các ngài giúp đỡ, xin các ngài cầu thay nguyện giúp cho ta.

Sách giáo lý Công Giáo dạy ta: “Các thiên thần là những thụ tạo thiêng liêng, không có thân xác, vô hình và bất tử; đó là những hữu thể có ngôi vị, có lý trí và ý chí. Họ không ngừng chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối diện và tôn vinh Thiên Chúa; các ngài phục vụ Thiên Chúa và là những sứ giả của Ngài để thực hiện sứ vụ cứu độ loài người. (x. sách GLCG 350). Thánh Basiliô cả xác tín  rằng “Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần như đấng bảo trợ và mục tử, hướng dẫn họ đến sự sống”. Trong Kinh Thánh rất nhiều chỗ tường thuật lại việc các Thiên Thần Bản Mệnh thực hiện mệnh lệnh của Thiên Chúa để bảo vệ, nâng đỡ , dẫn dắt con người nhân loại.

  • Trình thuật của sách Sáng Thế, sau khi con người đầu  tiên là A-đam và E-va phạm lỗi vì nghe theo lời đường mật của satan. Đức  Chúa đã cắt đặt các thần hộ giá canh giữ đường đến cây trường sinh (x.  St.3, 1-24);
  • Sách Xuất Hành Đức Chúa phán với  ông Mô-sê: “ Này  Ta sai Thiên Sứ đi trước ngươi, để gìn giữ ngươi khi đi đường, và đưa  ngươi vào nơi Ta dọn sẵn. Trước mặt người, ngươi hãy ý tứ và nghe lời  người…” (Xh.23,20-21).
  • Sách các Vua quyển 1 trình thuật việc Thiên Sứ đến an  ủi, tiếp tế lương thực cho ngôn sứ Ê-li-a trên đường ông lên núi  Khô-rếp(x.1V.19,1-8)
  • Sách Tô-bi-a trình thuật việc Chúa Sai thiên sứ  Ra-Pha-en đến để đồng hành, dẫn đường cho Tô-bi-a và việc chữa lành cho  thân phụ của Tô-bi-a là ông Tô-bít (x.Tb.5,1-23;11,1-19).
  • Thánh Vịnh 90 trình thuật lại lời xác tín sự hiện diện  của các Thiên Thần Bản Mệnh thực hiện mệnh lệnh của Thiên Chúa bảo vệ con  cái của Ngài: “ Bạn sẽ không gặp điều ác hại , và tai ương không bén bảng tới  nhà. Bởi chưng Thiên Chúa truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo  đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ, tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (x.Tv.90,1-16).
  • Thánh Phao-lô trong thư gửi cho giáo đoàn Do-thái đã  viết về các Thiên Thần: “Nào tất cả các vị đó không phải là những bậc  thiêng liêng chuyên lo phụng thờ Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ được thừa hưởng ơn cứu độ sao?”(Dt.1,14).
  • Sách Tin Mừng trình thuật rất nhiều về sự hiện diện của  các Thiên Thần (Sứ thần) của Thiên Chúa: Sứ thần truyền tin cho Đức Maria,  ông Dia-ca-ri-a (x.Lc.1,538); Sứ thần truyền tin cho Thánh Cả Giuse  (xMt.1,18-25;2,13-23); Đạo binh các thiên thần hát vang trong đêm Đức Kitô  giáng sinh(x.Lc.2,1-20); Sứ thần loan báo tin vui Phục Sinh (x.Mt.25,1-8);  Sứ Thần giải thích cho các thánh Tông Đồ về sự kiện Đức Giêsu về Trời
    (x.Cv.1,9-11). Đặc biệt là lời dạy dỗ, nhắc nhở của Đức Giêsu về hình ảnh  và vai trò của các Thiên Thần: “ Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai  trong những kẻ bé mọn này, quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên  thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự  trên trời” (Mt.18,10).
  • Giáo Hội xác tín sự hiện diện, nâng đỡ của các Thiên  Thần Bản Mệnh qua lời nguyện nhập lễ kính nhớ các ngài: “ Lạy Chúa! Chúa  sai các Thiên Thần đến gìn giữ chúng con. Xin ban cho chúng con đời này  được các Ngài luôn bênh vực che chở, và đời sau được cùng các Ngài hưởng phúc vinh quang”.

Vâng! Theo ý muốn và tình thương của Thiên Chúa, Ngài đã tác dựng các Thiên Thần, để các ngài trở thành cánh tay nối dài của Thiên Chúa trong việc săn sóc, đồng hành, gìn giữ, nhắc nhở và che chở ta khỏi mưu chước của quyền lực sự dữ, các thiên Thần Bản Mệnh hằng cầu nguyện cho ta trước thánh nhan Chúa, ghi chép tất cả những công việc, tư tưởng, ước
muốn của ta mà dâng lên cho Thiên Chúa.

Mẹ Maria đã mạc khải cho một vị thánh về vai trò của các Thiên Thần bản Mệnh của mỗi người khi họ tham dự thánh lễ. Mẹ phán: “ Khi các con đến tham dự thánh lễ, đến phần vị chủ tế chuẩn bị dâng của lễ. Các con có biết, Thiên Thần Bản Mệnh của các con sẽ thay các con tiến về phía bàn thờ, trên đôi tay của các ngài là những tâm tư, ước nguyện mà các con muốn tiến dâng lên cho Thiên Chúa khi tham dự thánh lễ, cũng có những Thiên Thần tiến lên bàn thánh, nhưng trên tay của các ngài không có chút của lễ nào vì người tham dự thánh lễ không ý thức và đến tham dự thánh lễ một cách máy móc, chia trí, lo ra… Thiên Thần Bản Mệnh của những người tham dự thánh lễ như thế rất buồn và liên lỉ cầu nguyện cho họ” ( trích Mẹ Maria mạc khải thánh lễ).

Có thể nói, rất nhiều người không biết, không hiểu và lãng quên sự hiện diện của các Thiên Thần Bản Mệnh. Các ngài chính là ân sủng, là quà tặng mà Thiên Chúa ban nhưng không cho ta trên bước đường lữ hành. Sự hiện diện của các ngài là dấu chỉ Thiên Chúa luôn ở cùng và ở với ta trong từng ngày sống. Các Thiên Thần luôn hướng dẫn ta trong đời
sống đạo, luôn bênh đỡ ta và gìn giữ ta, nhắc nhở ta mỗi khi ta phạm lỗi bằng tiếng nói của lương tâm. Thế nhưng, nhiều khi ta không nhận ra tiếng nói lương tâm thôi thúc, nhắc nhở ta là tiếng nói của các Thiên Thần Bản Mệnh. Nhiều lần ta thoát khỏi những tai nạn, tai ương trên bước đường, ta không nhận ra chính các Thiên Thần đã bảo vệ, cầu nguyện cho ta, đem lại cho ta sự bình an…!

Nhiệm vụ của Thiên Thần Bản Mệnh là thực hiện mọi công việc mà Thiên Chúa giao phó cho các ngài, dẫu trong đời sống ta thường xuyên vô ơn, lãng quên các ngài, nhưng các ngài không hề bỏ rơi ta hằng ở luôn bên ta, âm thầm bảo vệ, gìn giữ và nhắc nhở ta sống và đi theo đường ngay nẻo chính, giúp ta thực hiện những việc lành phúc đức, hướng dẫn ta
và dắt ta về với Thiên Chúa là Cha luôn yêu thương con cái mình. Ta hãy nghe lời của Thiên Thần nói với ông Tô-bít và Tô-bi-a khi các ông được người dẫn đường nói cho biết sự thật ngài là Ra-pha-en một trong bảy thiên sứ hằng hầu cận và vào chầu trước nhan vinh hiển Chúa, các ông đã hoảng sợ, nhưng sứ thần nói tiếp: “Đừng sợ! Bình an cho các người! Hãy chúc tụng Thiên chúa đến muôn đời! Phần tôi, tôi đã ở với các ngươi không phải do lòng tốt của tôi, mà do do ý muốn của Thiên Chúa….”(x.Tb. 121-22).

Theo dòng lịch sử của Giáo Hội, có rất nhiều câu chuyện kể về những ơn lành và sự đồng hành của các Thiên thần Bản Mệnh. Xin mượn câu chuyện sau để kết thúc đôi dòng suy tư về các Thiên Thần Bản Mệnh

Tại một xứ đạo vùng sâu, vùng xa ở nước Pháp, vào một đêm khi cha sở họ đạo chuẩn bị lên giường nghỉ, bỗng có tiếng gõ cửa và tiếng kêu cứu xin cha sở tới xức dầu cho một bệnh nhân đang trong cơn nguy tử. Trời khuya, muốn tới nhà bệnh nhân, cha sở phải băng qua khu rừng vắng. Với trách nhiệm và bổn phận, cha sở chuẩn bị tư trang để lên đường.
Khi tới đầu khu rừng vắng, với một thân một mình, bỗng trong tâm trí ngài cảm thấy sợ, lúc bấy giờ ngài nhớ tới Thiên Thần Bản Mệnh, ngài cầu nguyện và xin Thiên Thần đi cùng. Ngài đã đến kịp thời ban các phép và cầu nguyện cho bệnh nhân trước khi bệnh nhân trút hơi thở cuối cùng.

Thời gian trôi qua khoảng 10 năm.Vào một buổi chiều người ta đến báo cho ngài có một một người rất muốn gặp Cha, người đó là một tử tù sắp bị hành quyết. Ngài vội lên đường. Khi đến nơi, người tử tù nói:

  • Thưa Cha! Cha có phải là cha sở họ đạo X? Vị mục tử gật đầu và hỏi:
  • Sao anh biết tôi? Người tử tù kể lại
  • Thưa Cha! Cha có nhớ vào một buổi tối cách đây 10 năm,  tại khu rừng vắng, vào thời điểm đó, con đang là một tên cướp của, giết  người đang bị truy nã. Con dự tính sẽ cướp và giết bất cứ ai con gặp. Và  rồi con thấy cha, nhưng thật là xúi quẩy cho con, vì cha không đi một mình, con thấy người đi cùng với cha rất đẹp và rất cao to, con chợt nghĩ
    đây không phải là đối thủ của mình nên đành dậm chân, lui gót xa rời con mồi mà mình đã và đang chờ đợi. Rồi anh kể tiếp:
  • Thưa Cha! Con là người có đạo, nhưng con đã sống bê tha  và trở thành kẻ cướp của giết người, giờ đây con đáng bị người đời trừng  trị, xin cha cho con biết người thanh niên đi cùng cha là ai, vì con thấy  dung mạo của anh ta rất khác thường, hiền lành nhưng uy nghi làm con sợ.  Sững lại ít giây, vị mục tử liền trả lời:
  • Chàng thanh niên đó là Thiên Thần Bản Mệnh. Người tử tù nghe thế liền khóc và xin vị mục tử cho anh xưng tội và chịu các phép sau cùng.

Lạy Chúa! Xin cho con luôn biết kính trọng, yêu mến và cậy trông vào sự che chở của các Thiên Thần Bản Mệnh là những người bạn mà Chúa đã quan phòng ban tặng cho con trên bước đường về quê trời. Xin giúp con luôn biết lắng nghe những lời nhắc nhở của các ngài qua tiếng nói lương tâm, để nhờ ơn Chúa giúp và sự đồng hành của các Thiên Thần Bản Mệnh mà con luôn sống trong bình an và sống đẹp lòng Chúa bây giờ và mãi mãi.Amen

Sài Gòn, ngày 22/09/2012

Antôn Lương Văn Liêm

Bằng chứng Chúa Giêsu hiện hữu

Bằng chứng Chúa Giêsu hiện hữu

Tác giả Tiến sĩ ADRIAN ROGERS (*)

 

 

Chúa Giêsu đã bước đi trên thế gian này. Ngài đã sinh ra và chết đi. Làm sao chúng ta biết được? Có ba bằng chứng cho chúng ta biết.

Các thánh

Cv 10:39-41 nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại”.

Hơn 500 người đã thấy Chúa Giêsu sau khi Ngài sống lại, và đa số những người này đã chết vì đức tin. Người ta có thể sống để nói dối, nhưng rồi họ chết vì cái gì chứ?

Kinh thánh

Cv 10:43 nói: “Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”. Khi tác giả nói “các tiên tri”, tác giả đang nói về các ngôn sứ từ sáng thế tới ngôn sứ Malaki (nhớ rằng hồi đó chưa có Tân ước).

Sách Sáng thế, chương 3, nói về Đấng sẽ đạp dập đầu con rắn. Sách Sáng thế, chương 12, nói về Đấng đó đến từ dòng dõi Áp-ra-ham. Trong Sáng  thế 22, chúng ta đọc về việc hiến tế Isaac trên núi, nơi mà sau đó Chúa Giêsu chịu đóng đinh! Toàn bộ sách Lê-vi đầy những hình ảnh về việc hiến tế đổ máu để cứu khỏi tội lỗi. Trong Thánh vịnh 22 có những lời tiên tri về Chúa Giêsu chịu đóng đinh: “Tưởng mình như tan dần ra nước, toàn thân con xương cốt rã rời, con tim đau đớn bồi hồi, mềm như sáp chảy tơi bời ruột gan. Nghe cổ họng
khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau, chốn tử vong Chúa đặt vào…Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn…”
. Trong Mikha 5:2, nói rõ Chúa Giêsu sẽ sinh ra tại Belem: “Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en cho đến thời một phụ nữ sinh con. Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái Ít-ra-en”.

Tôi có thể tiếp tục, nhưng cuối cùng là: Có kế hoạch cứu độ trong Kinh thánh và qua Máu cứu độ của Thiên-Chúa-Làm-Người, tức là Đức Giêsu Kitô.

Chúa Thánh Thần

Chúa Thánh Thần dùng Lời Chúa và nói: “Amen. Điều đó đã được viết. Đó là sự thật”. Tôi tạ ơn Chúa vì tôi không phải cố gắng thuyết phục bạn tin Chúa Giêsu. Nếu tôi có nói điều gì để thuyết phục bạn thì có thể có ai đó nói bạn ra khỏi đó!

1 Ga 5:9-11 nói: “Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm, thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Thiên Chúa, lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người. Ai tin vào Con Thiên Chúa, người đó có lời chứng ấy nơi mình. Ai không tin Thiên Chúa, thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối, vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người. Lời chứng đó là thế này: Thiên Chúa đã ban cho chúng ta
sự sống đời đời, và sự sống ấy ở trong Con của Người”
.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Jesus.org)

(*) Qua đời ngày 15-11-2005.

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

Những thiên thần hộ mệnh âm thầm

Những thiên thần hộ mệnh âm thầm

 

Trong đời thường, đôi khi chúng ta nhận được sự trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp của
một cộng đồng hay cá nhân nhưng chúng ta không biết hoặc chỉ biết sau một thời
gian. Trong cuộc sống tâm linh cũng thế, có những cá thể vô hình đã giúp đỡ chúng ta trong một số tình huống. Các cá thể này có thể là các tổng lãnh thiên thần, các thiên thần của Thiên Chúa. Sự giúp đở này không chỉ thuộc lãnh vực tâm linh, mà còn thuộc lãnh vực trần thế.

Các thiên thần là ai? Các thiên thần là những thần khí, chuyên lo phục vụ, được sai
đi giúp ích những người sẽ thừa hưởng phần rỗi. Các ngài tồn tại trong một không gian nằm ngoài sự nhận biết của tri giác chúng ta.

Trong Tân Ước, thỉnh thoảng các ngài được đề cập đến, và chúng ta nhận biết các vai
trò của các thiên thần qua các đoạn văn này:

§        Chăm sóc loài người và chiêm ngưỡng nhan Thiên Chúa ( Mt 18, 10).

§        Các thiên thần có đời sống độc lập với nhục thể (Mt 22, 30)

§        Các thiên thần tham gia điều hành trong ngày cánh chung (Mt 13, 39).

§        Chia sẻ niềm vui khi thấy một người tội lỗi quay về ( Lc 15, 10).

§        Mang sứ điệp của Thiên Chúa đến loài người (Lc 1, 19).

§        Dẫn đưa linh hồn người công chính vào chốn thiên cung ( Lc 16, 22)

§        Dâng lên Thiên Chúa lời kinh của các thánh (Kh 5, 8).

 

Rõ ràng, giữa con người và các thiên thần có mối dây liên lạc mật thiết. Các ngài
là công cụ mà Thiên Chúa tạo ra nhằm trợ giúp, cho mỗi chúng ta trên con đường
lữ hành ở trần thế, trước khi về quê Trời. Công việc của các ngài thực hiện, đa phần diễn ra trong âm thầm, lặng lẽ.

Chắc chắn chúng ta đôi lần đã được các ngài, khi thì truyền tải các thông điệp của
Thiên Chúa, lúc thì trợ giúp chúng ta trong những lúc gian nguy. Nhưng do bị
giới hạn của việc nhận biết thông qua các tri giác, nên vô tình chúng ta không
nhận ra những trợ lực vô hình hoặc chỉ  lờ mờ nhận ra. Trải nghiệm vấn đề
này thường mang đậm tính cá nhân. Sự thông tri là đặc ân mà Thiên Chúa dành ban
cho những người khá đặc biệt. Nhiều khi tại một thời điểm, có nhiều người xung
quanh nhưng chỉ một số ít người là được cho thấy, nghe.

Lạy Thiên Chúa, vì vẫn luôn yêu thương loài người, nên Ngài sử dụng các thiên thần  để bênh vực, che chở chúng con, mọi nơi, mọi lúc. Nhân lễ kính các tổng lãnh thiên thần,
chúng con xin cám ơn sự trợ giúp âm thầm của các ngài. Và xin cho chúng con luôn biết sống xứng đáng với những ân phúc mà chúng con đã lãnh nhận
.

 

G. Tuấn Anh.

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

CON CÁI LÀ QUÀ TẶNG VÔ GIÁ THIÊN CHÚA DÀNH CHO CHA MẸ

CON CÁI LÀ QUÀ TẶNG VÔ GIÁ

THIÊN CHÚA DÀNH CHO CHA MẸ

nguồn: Ephata 527
Cha mẹ tôi đến với nhau vào cái tuổi mà mọi người thường bảo là “trễ hẹn”, cha tôi 36, mẹ tôi thì 29. Đám cưới đã qua đi ba mùa xuân đầy ắp yêu thương, nhưng hoa quả của tình yêu vẫn là một sự mong đợi của gia đình nội ngoại hai bên, mặc dù ông bà tôi đã có rầt nhiều cháu.
Bằng đời sống cầu nguyện với lòng cậy trông, cha mẹ tôi đã được Thiên Chúa yêu thương nhậm lời. Thế là một hình hài bé nhỏ bắt đầu dần hình thành trong dạ mẹ. Khi đó mẹ tôi đã bước sang tuổi 32, biết chuyện ai cũng đều e ngại cho đứa con đầu lòng như tôi, và quả thật là thế !
Tháng thứ ba của thai kỳ, bỗng nhiên mẹ tôi bị ra huyết rất nhiều. Bác sĩ bảo rằng mẹ tôi có
thai ngoài tử cung và yêu cầu phẫu thuật bỏ thai. Niềm vui với đứa con vừa hoài thai trong lòng chưa được bao lâu lại bỏ đi ư ? Cả nhà tôi rất lo lắng và xin bác sĩ cố gắng xem lại bệnh tình của mẹ tôi. Nhờ ơn Chúa, mẹ tôi tai qua nạn khỏi và tôi được giữ lại.
Tháng thứ tư qua đi trong êm đềm. Tháng thứ năm, một lần nữa mẹ tôi lại bị ra huyết. Lần này không nghiêm trọng lắm, nhưng bác sĩ khuyên nên cẩn thận vì thai nhẹ, rất yếu.
Tới tháng thứ sáu cũng qua đi trong sự lo lắng của gia đình.
Một chiều Chúa Nhật trong tháng thứ bảy của thai kỳ, tôi đã được khoảng 29 tuần tuổi, một lần nữa mẹ tôi lại ra huyết. Huyết ra lênh láng. Mẹ tôi được đưa vào bệnh viện trong cơn mưa chiều tầm tã nặng hạt. Cùng với mẹ tôi, lúc đó cũng có một ca của một thai phụ tương tự như mẹ tôi. Sau khi bác sĩ khám cho mẹ tôi và thai phụ kia, ông ấy trao cho cả hai bà mẹ cùng một loại thuốc đen mun nhỏ như hạt tiêu và dặn rằng uống rồi, khi nào đau bụng thì kêu ông ấy đến để lấy thai nhi ra. Khi đó mẹ tôi rất hoang mang lo lắng.
Khoảng một giờ sau khi uống thuốc, người thai phụ kia đau bụng dữ dội và bác sĩ đã lấy thai nhi vừa chết ra khỏi cung lòng của mẹ bé. Nhìn thấy cảnh tượng đó mẹ tôi vô cùng sợ hãi. Sau khi hoàn tất công việc cho thai phụ kia, quay sang mẹ tôi, ông ấy hỏi thăm sức khỏe mẹ tôi. Mẹ tôi nói không có cảm giác đau đớn gì cả, Với nụ cười trên môi, vị bác sĩ nói với mẹ tôi: ”Chúc mừng bà vì bà đã giữ lại được cháu”. Một giấc ngủ êm đềm đến với mẹ. Những tuần lễ sau đó là thời gian chuẩn bị cho tôi được chào đời.
Một ngày trong tuần thứ ba mươi tư của thai kỳ, mẹ tôi vỡ ối nhưng mãi đến 12 tiếng đồng
hồ sau, khi nước ốc đã cạn sạch, tôi mới lọt lòng mẹ. Trường hợp này là một ca sinh khó, nhưng tôi và mẹ đã được an toàn và khỏe mạnh, như một phép lạ kỳ diệu. Mẹ tôi bế con cân nặng 2,8kg trên tay, hai hàng lệ lăn dài trên gò má vì sung sướng và hạnh phúc.
Lạy Chúa, con quả thật hạnh phúc được sinh ra trong sự quan phòng kỳ diệu của Chúa, được cha mẹ đón nhận bằng cả tình yêu. Con có được một mái nhà, một mái nhà yên ấm thật sự để đi về mỗi ngày, với mâm cơm nóng hổi thơm ngon tình gia đình. Con hạnh phúc vì có cha mẹ luôn bên cạnh mình vực con dậy và tiếp tục dẫn dắt con sau những lần vấp ngã xót đau khi con bước chập chững vào đời. Cảm tạ Chúa đã cho con trái tim biết yêu, biết rung động trước cái đẹp và biết cảm thông chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh. Cảm tạ Chúa đã thương con, cho con sống trong tình yêu của Chúa, cho con biết ca tụng tình yêu thương của Chúa.
Lạy Chúa, giờ đây lời kinh con dâng lên Chúa là một lòng thờ kính Chúa, là một niềm cậy trông đặt tất cả niềm tin nơi Chúa. Cuộc sống này dù có gian nan vất vả, chúng con vẫn xin nguyện chúc cho cha mẹ luôn có được hạnh phúc và niềm vui. Nguyện xin tình yêu của Chúa đến ở trong gia đình con, cho cha mẹ được muôn phúc lành.
Xin Chúa ban cho con biết ý thức và luôn giữ trọn đạo hiếu với cha mẹ trong mọi hoàn cảnh. Xin cho con nhận ra rằng những gì con có được hôm nay chính là tình yêu của Chúa cho con thông qua hai bậc sinh thành là cha và mẹ con…
Emmanuel LÊ TRẦN CHÍ HIẾU, Nhóm Fiat

ĐÂY LÀ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT XẢY RA VÀO NĂM 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD

ĐÂY LÀ MỘT CÂU CHUYỆN CÓ THẬT XẢY RA VÀO NĂM 1892 TẠI ĐẠI HỌC STANFORD

Có một cậu học sinh 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Cậu ta là một đứa trẻ mồ côi, và cậu ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền. Thế là anh chàng này bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu ta cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J Paderewski . Người quản lý của
Paderewski yêu cầu một khoản phí bảo đảm $2000 để cho ông ấy được biểu diễn.
Sau khi họ thoà thuận xong, hai người sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn được thành công.

Ngày trọng đại ấy cuối cùng đã đến. Paderewski cuối cùng cũng đã buổi diễn tại tanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $1600. Quá thất vọng, họ đến chỗ của của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của mình. Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng với 1 check nợ $400, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm nhất có thể.

“KHÔNG”, Paderewski nói. “Cái này không thể nào chấp nhận được.” Ông ta xé tờ check, trả lại $1,600 cho hai chàng thanh niên và nói : “Đây là 1600 đô, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi”. Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ, xúc động cảm ơn Paderewski..

Đây chỉ là một làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của
Paderewski.

Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề quen biết. Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ : “Nếu chúng ta giúp họ, chúng ta sẽ được gì ?”. Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ khác: “Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp khó khăn ấy?”. Họ không mong đợi sự đền đáp, Họ làm chỉ vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.

Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào sau này trở thành Thủ Tướng
của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng. Thế nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bây giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa. Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông ta bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ sự trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng
tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy.

Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới
cảm thấy nhẹ nhõm. Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm ơn ông Hoover
vì cử chí cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan trong những lúc khó khăn. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói : “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu, thưa ngài Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy ”

THẾ GIỚI NÀY ĐÚNG THẬT LÀ TUYỆT VỜI, KHI BẠN CHO ĐI THỨ GÌ, BẠN SẼ NHẬN LẠI ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG TỰ.