TÂM TÌNH BIẾT ƠN

 

TÂM TÌNH BIẾT ƠN

Cám ơn Người luôn nhớ đến con

Cho con biến đổi từ thân xác

Cho con niềm trung trinh tín thác

Dù biết tình con đã nhạt nhòa.

Cám ơn Người vẫn chưa quên

Một gã phong cùi mất tuổi tên

Mất luôn tất cả tình xưa cũ

Đời con phiêu bạt sống bên đường.

* * * * *

ten-lepersBạn thân mến! Hơn hai ngàn năm trước đây, tôi đã sinh ra và lớn lên trong vùng Samari bên miền đất Do Thái ngày nay.  Từ ngày khôn lớn, vì cuộc sống lam lũ nghèo đói, tôi đã phải bôn ba vất vả hàng ngày để kiếm sống, và cũng từ ngày đó, tôi đã mang trong người căn bệnh hiểm nghèo: bịnh phong cùi.  Ngày tháng trôi qua, căn bệnh không có thuốc chữa này đã lấy đi những ngón tay ngón chân của tôi, nó cũng làm cho khuôn mặt của tôi biến đổi thành dị hợm khó coi.

Vào thời đó, luật lệ và quan niệm của con người cho rằng người mắc bệnh phong là
người tội lỗi, là hiện thân của hình phạt mà Thiên Chúa đã giáng xuống. Người mắc bệnh phong cũng bị thân nhân và người đời ruồng bỏ, bị gạt ra khỏi cộng đoàn xã hội.  Hàng rào ngăn cách bởi luật lệ ngăn cấm tôi không được tiếp
xúc với những người không mắc bệnh.  Chính vì điều này mà những người mắc
bệnh phong như tôi đã phải liên kết với nhau để nâng đỡ nhau, sống quây quần
bên nhau làm thành một xã hội của những người phong cùi.

Một ngày kia, tôi nhìn thấy Giêsu trên đường đi. Tôi đã nghe người ta nói nhiều về Giêsu, về quyền năng mà Giêsu đã chữa lành cho các bệnh nhân, về tình yêu thương an ủi nâng đỡ mà Giêsu đã trao ban cho nhiều người, đặc biệt là những người nghèo khó và cùng khốn như tôi. Khi nhìn thấy Giêsu trên đường đi, nỗi vui mừng đã tràn ngập lòng tôi, với niềm
tin tưởng dâng cao, tôi tự nhủ:

– Phen này chắn hẳn tôi sẽ được cứu, sẽ được chữa lành !!!

Nhưng luật lệ đã ngăn cấm không cho phép tôi đến gần Giêsu.  Biết làm sao đây?  Tôi cùng
với những người bạn cùi, chúng tôi phải đứng xa xa và mạnh dạn cất tiếng kêu xin lòng thương xót của Giêsu:

– Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng tôi (Lc.17:13)

Giêsu đã vượt qua luật lệ, Ngài đã phá tan bức tường ngăn cách kỳ thị, Giêsu đã đến đứng bên cạnh tôi.  Trước mặt tôi là một Giêsu với gương mặt phúc hậu, với đôi mắt rưng
rưng ngấn lệ …Giêsu giơ tay đụng đến thân xác tàn tạ bệnh hoạn của mỗi người
chúng tôi.  Cuối cùng Ngài lên tiếng nói :

– “Hãy đi trìnhdiện với các Tư Tế” (Lc.17:14)

Tôi giơ bàn tay lên cao để nhìn.  Bàn tay vẫn như cũ, ngón tay vẫn còn bị mất, vết thương lở lói với máu mủ vẫn còn nguyên vẹn.  Căn bệnh vẫn còn đó trên thân xác này, thế
mà Giêsu lại bảo tôi đi trình diện với các tư tế để được khám xét, để được chứng thực là đã sạch bệnh.  Lạ quá nhỉ?  Tôi hoang mang phân vân không biết phải làm gì. Chẳng lẽ tôi không được Giêsu chữa lành hay sao?  Ngài không nghe tiếng tôi van xin; không dủ lòng thương xót cho con người cùng khốn của tôi hay sao?  Nhưng với niềm tin tưởng phó thác nhỏ bé trong tôi, tôi bước đi và làm theo lời Ngài chỉ dạy.  Nhưng lạ thay, trên đường đi
đến trình diện các tư tế, tất cả mười người chúng tôi đều được khỏi bệnh.  Niềm vui mừng hân hoan trào dâng trong lòng tôi. Giêsu đã nghe tiếng tôi nài xin.  Ngài đã dủ lòng thương tôi, đã chữa lành cho tôi. Giờ đây tôi mới hiểu ra là Ngài muốn có sự cộng tác của tôi để việc cứu chữa mà Ngài thực hiện nơi tôi trở nên trọn vẹn hơn, hoàn hảo hơn và nhiều ý nghĩa hơn… Giêsu ơi! Tình thương của Ngài sao quá bao la!!!

Trước khi gặp Giêsu, tôi là một gã phong cùi bị xã hội và con người coi là phường tội lỗi, bị thân nhân và người đời xa lánh ruồng bỏ, phải sống lang thang vất vưởng đầu đường xó chợ.
Sau khi gặp Giêsu, tôi được chữa lành và được biến đổi thành một con người mới, được hòa nhập vào cộng đoàn xã hội, không còn bị khinh chê, bị thân nhân và người đời ruồng bỏ nữa. Giêsu đã cải hóa con người tôi, Ngài đã làm tất cả những điều này vì yêu thương tôi.  Lòng biết ơn đã thôi thúc tôi quay về với Đấng đã cứu chữa tôi.  Tôi phải trở về gặp Ngài, xấp mình dưới chân Ngài để nói lời tạ ơn, để thấy mình được bao bọc bởi tình yêu thương, và cũng để làm mọi sự để đáp lại tình yêu đó.

Gặp lại Giêsu, Ngài trao cho tôi ánh mắt yêu thương trìu mến.  Ngài ân cần nhỏ nhẹ lên tiếng nói với tôi:

-“Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc.17:17-18)

Chín người kia đâu?  Họ đi đâu rồi?  Họ là những người Do Thái mà!  Họ là người “trong
đạo” và là người dân được Thiên Chúa tuyển chọn.  Ấy vậy mà họ không nhìn ra quyền năng Thiên Chúa đã làm trên cuộc sống và thân xác của họ hay sao?

Chín người kia đâu?  Họ đã cùng tôi đi chung một đoạn đường dài trong những năm tháng
đắng cay cuộc đời, họ đã cùng tôi chia sẻ tấm áo miếng cơm trong cuộc sống đầu đường xó chợ, và mới vài giờ trước đây, họ đã đi chung một con đường với tôi để đến trình diện các tư tế.   Nay được khỏi bệnh, có lẽ họ không còn tiếp tục sống chung với tôi, chia sẻ vui buồn sướng khổ với tôi như trước nữa.  Họ tách riêng ra và không thể cùng tôi đi chung một con đường.  Họ đã bị ngăn cản bởi hàng rào ngăn cách của kỳ thị “trong đạo-ngoại đạo” gây
ra. Họ được giải thoát khỏi bệnh tật nhưng họ lại bị nô lệ vào luật lệ và quan niệm khắt khe của người đời.

Chín người kia đâu?  Tôi không biết giờ này họ ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn một điều
là họ đã được khỏi bệnh như tôi, và họ đã quên người đã làm cho họ khỏi bệnh.  Chắc hẳn họ đã có lòng tin nên được khỏi bệnh, nhưng họ lại thiếu lòng biết ơn cần thiết của một con người.  Họ đã khỏi bệnh phần xác nhưng căn bệnh hiểm nghèo trong tâm hồn của họ vẫn còn cần được cứu chữa.

Trong sự kính trọng và vâng phục, tôi xấp mình dưới chân Giêsu để nói lên tâm tình tạ ơn.  Ngay lúc đó, Giêsu đã cúi xuống và nâng tôi lên. Ngài nói nhỏ vào tai tôi:

– “Ðứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. (Lc.17:19)

Tôi đứng dậy bước đi nhưng lòng còn mang nặng ơn nghĩa với Giêsu. Chân tôi bước đi nhưng lòng trí và ánh mắt của tôi cứ hướng về Giêsu. Tiếng Ngài cứ vang vọng trong tâm trí của tôi “ về đi…về đi ”. Ngài muốn tôi về với cuộc sống bình thường ngày xưa, về với gia đình làng xóm, về với cộng đoàn xã hội… “ về đi ” để làm chứng cho Ngài, để nói về Ngài cho những người xung quanh tôi, để rao truyền Tin Mừng và ân sủng mà Ngài đã trao ban cho tôi hôm nay. Tôi vừa bước đi vừa nói với Ngài trong thinh lặng: ”Vâng lời Ngài, con đi về…Nhưng Giêsu ơi! xin ở cùng con luôn mãi…”

* * * * *

Lạy Chúa! Xin cho con luôn ý thức để nhận ra những hồng ân mà Chúa đã ban cho con từng giây từng phút, để con cũng biết dâng lời cảm tạ từng phút từng giây.  Xin cho con  biết cảm nhận tình thương, sự hy sinh và cử chỉ yêu thương của những người chung quanh, để con biết đáp trả bằng chính tình yêu chân thành và sự hy sinh của con.  Xin cho con luôn sống tâm tình biết ơn; biết ơn Chúa và biết ơn người, để cuộc đời con luôn là một bài trường ca tri ân cảm mến.  Amen.

( Linh Xuân Thôn)

Anh chị Thụ & Mai  và langthangchieutim gởi

Kinh tin kính của Thánh Athanasia (*)

Kinh tin kính của Thánh Athanasia (*)
TRẦM THIÊN THU

Những ai được cứu độ, trước hết phải giữ đức tin Công giáo. Đức tin ấy nếu không giữ trọn vẹn và tinh tuyền; chắc chắn người đó sẽ chết đời đời. Đức tin Công giáo là: Tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi, và Ba Ngôi đồng nhất; không được xáo trộn Ba Ngôi hoặc phân
chia bản thể. Có một Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần. Nhưng Chúa Cha,
Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một; đồng vinh quang, đồng uy linh vĩnh hằng.
Chúa Cha cũng vậy, Chúa Con cũng vậy, và Chúa Thánh Thần cũng vậy. Chúa Cha
không được tạo dựng; Chúa Con không được tạo dựng; và Chúa Thánh Thần không
được tạo dựng. Chúa Cha vô cùng, Chúa Con vô cùng, và Chúa Thánh Thần vô cùng.
The Chúa Cha vĩnh hằng, Chúa Con vĩnh hằng, và Chúa Thánh Thần vĩnh hằng. Ba
Ngôi không là ba Thượng đế mà chỉ là một Thượng đế. Cũng không có ba Đấng không
được tạo thành, không có ba Đấng vô cùng, mà chỉ có một Đấng không được tạo
thành, và một Đấng vô cùng. Cho nên Chúa Cha cũng toàn năng, Chúa Con cũng toàn
năng, và Chúa Thánh Thần cũng toàn năng. Ba Ngôi không là ba Đấng toàn năng mà
chỉ là một Đấng toàn năng. Cho nên Chúa Cha là Thiên Chúa, Chúa Con là Thiên
Chúa, và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Ba Ngôi không là ba Thiên Chúa mà chỉ
là một Thiên Chúa. Cho nên Chúa Cha cũng là Chúa, Chúa Con cũng là Chúa, và
Chúa Thánh Thần cũng là Chúa. Ba Ngôi không là ba Chúa mà chỉ là một Chúa.

Chúng ta được thúc đẩy bởi chân lý Kitô giáo để nhận biết mỗi Ngôi bởi chính Ngôi đó là Thiên Chúa. Cho nên chúng ta bị Công giáo cấm hiểu có ba Thiên Chúa hoặc ba Chúa. Chúa Cha không được tạo dựng, nhưng được sinh ra. Chúa Con từ Chúa Cha, không được tạo
dựng, nhưng được sinh ra. Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha và Chúa Con, không được
tạo dựng, không được sinh ra, nhưng phát sinh. Cho nên có một Chúa Cha chứ
không có ba Chúa Cha, có một Chúa Con chứ không có ba Chúa Con, và có một Chúa
Thánh Thần chứ không có ba Chúa Thánh Thần. Trong Ba Ngôi không có Ngôi vị nào
trước hoặc Ngôi vị nào sau, không có Ngôi vị nào cao hơn hoặc thấp hơn Ngôi vị
nào. Nhưng cả Ba Ngôi đồng vĩnh hằng và đồng đẳng. Để trong mọi sự, như đã nói
ở trên, đồng nhất trong Ba Ngôi, và Ba Ngôi đồng nhất, cùng được tôn thờ. Do đó
người được cứu độ, hãy để người đó suy nghĩ về Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi).

Hơn nữa, để được ơn cứu độ đời đời, người đó cũng cần tin vào sự Nhập thể của Đức Giêsu Kitô. Đối với đức tin đúng mà chúng ta tin và tuyên xưng, rằng Đức Giêsu Kitô là Con
Thiên Chúa, là Thiên Chúa và là người; Thiên Chúa thuộc bản thể Chúa Cha, có
trước thế gian; và Con Người thuộc bản thể của Mẹ Ngài, sinh ra nơi thế gian.
Thiên Chúa hoàn hảo, và Con Người hoàn hảo, có linh hồn hợp lý và nhục thể tồn
tại. Đồng đẳng với Chúa Cha, khi là Thiên Chúa; và thua kém Chúa Cha khi là
nhân loại. Mặc dù là Thiên Chúa và Con Người, nhưng Ngài không là hai người mà
chỉ là một Đức Kitô. Là Một, không bởi sự biến đổi Thiên Chúa thành nhục thể,
mà bởi sự chấp nhận Con Người thành Thiên Chúa. Cùng là Một, không bởi sự lẫn
lộn bản thể mà bởi sự đồng nhất của Ngôi vị. Vì hồn và xác là một, cho nên
Thiên Chúa và Con Người là một Đức Kitô, Đấng chịu đau khổ để cứu độ chúng ta,
xuống ngục tổ tông, sống lại vào ngày thứ ba. Ngài lên trời, ngự bên hữu Chúa
Cha toàn năng, từ đó Ngài sẽ đến phán xét người sống và người chết. Khi Ngài
đến, mọi người sẽ sống lại, sẽ tường trình mọi việc mình đã làm. Những người làm
điều tốt sẽ hưởng sự sống đời đời, còn những người làm điều ác sẽ vào lửa đời
đời. Đó là đức tin Công giáo, nếu ai không tin thật và tin chắc thì không thể
được cứu độ.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ)

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

Ngày tận thế

Ngày tận thế (Mc 13,24-32)

Chúa nhật 33 thường niên, năm B

Khi Ađam bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, ông phải khổ cực vất vả tìm kiếm miếng cơm manh áo.

Một lần kia, trên đường lao dịch, Ađam vấp phải cái xác bất động của Abel. Ông nâng con dậy, vác trên vai, đem về đặt trong lòng Eva. Ông bà lay gọi, nhưng Abel không đáp lại.
Trước đây, Abel đâu có trầm lặng như vậy! Eva nâng tay đứa con yêu quý lên, bàn tay lại rơi xuống vô hồn. Trước đây không hề thấy như thế bao giờ! Ông bà nhìn vào đôi mắt trắng đã vô tư một cách bí mật. Trước đây đôi mắt của Abel có vô tình như thế đâu? Ông bà rất đỗi kinh ngạc. Nỗi kinh ngạc càng tăng dần cho đến lúc ông bà chợt nhớ lại lời Ðức Chúa Trời: “Ngày nào ngươi ăn trái cây này, ngươi sẽ chết”. Ðó là cái chết đầu tiên trên thế giới.

***

Cái chết của Abel là cái chết đầu tiên trên trái đất. Còn cái chết cuối cùng của nhân loại sẽ là ai? Ở đâu? Vào lúc nào? Ðiều đó không ai được biết, và cũng không cần biết. Sách Tông đồ Công Vụ có viết: “Anh em không cần phải biết thời gian và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv.1,7). Tin mừng hôm nay, Ðức Giêsu cũng quả quyết: “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các Thiên sứ trên trời hay người Con cũng không hề biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi”

(Mc.13,32). Khi được hỏi bao giờ đến ngày tận thế? Thánh Augustinô đã trả lời dứt khoát: “Việc này hoàn toàn nằm trong quyền năng của Chúa Cha”. Nói khác, ngài còn nói:
“Ðức Giêsu không cho biết ngày cuối cùng của ta, để ta luôn cảnh giác chờ đợi Người”.

Ðứng trước các tin đồn về ngày tận thế, thái độ sống thích hợp nhất của chúng ta là: Vì thân phận con người mỏng dòn và yếu đuối, chúng ta hãy sống trong “tỉnh thức và cầu nguyện”, trong niềm mong chờ “ngày Chúa đến sẽ xảy ra bất cứ lúc nào”.

Chúng ta không biết ngày tận cùng của thế giới nhưng chúng ta biết chắc ngày ấy phải đến. Ðó không phải là tai nạn trong chương trình của Thiên Chúa, nhưng đó là một ngày mà
Thiên Chúa dọn sẵn chỗ ở mới, một thế giới mới cho nhân loại. Nơi đó, công bằng
sẽ ngự trị, hạnh phúc sẽ ngập tràn, và niềm vui sẽ trọn vẹn cho những ai “bền đỗ đến cùng”. Với cái nhìn đầy tin tưởng, Seneca đã nói “Ngày mà bạn cho là cùng tận của mọi sự, lại là ngày khởi đầu của vĩnh cửu”.

Chúng ta không biết ngày nào Chúa sẽ đến trong vinh quang, nhưng chúng ta biết chắc: để được vào vương quốc ấy, con người phải nhìn lại chính mình, sắp xếp lại cuộc sống, và
tích cực xây dựng một gia đình nhân loại đầy yêu thương, công lý và hòa bình. Cha Mark Link viết: “Khi Chúa đến, Người không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Người sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao”.

Vì tình yêu là ngôn ngữ của Thiên đàng, nên chỉ những ai biết yêu thương mới được bước vào. Chính lòng nhân ái là tấm thẻ căn cước không thể thiếu của những công dân Nước Trời.

***

Lạy Chúa,

Xin hãy đến, cho những người được tuyển chọn tập họp chung quanh Người.

Xin hãy đến, để trong mọi biến cố kinh hoàng, chúng con vẫn một niềm cậy tin: Chúa là Ðấng cứu độ chúng con.

Trong giây phút định mệnh của mỗi người, xin cho chúng con nghe được tiếng Chúa: “Con sắp trở về cùng Cha”. Amen.

(Thiên Phúc, “Như Thầy đã yêu”)

“Be who God meant you to be, and you will set the world on fire.”

St. Catherine of Sienna.

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

Cuộc đời đẹp tươi

Cuộc đời đẹp tươi

Toc ngan k1

WGPSG — “Ngày xưa có một người tên là Vinh Khải Kỳ tỏ ra là một  bậc tiên ông đạo cốt, mình mặc áo lông cừu, lưng thắt dây, ngày ngày giao du ở sơn thủy, vui thú cầm ca chậm rãi rảo bước, tay đánh đàn miệng ca hát không ngừng. Một hôm, Đức Khổng Tử đi dạo gặp Vinh Khải Kỳ, ngài mới hỏi ông: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ ca hát như thế?”

Khải Kỳ thưa: “Trời sanh muôn vật, loài người cao quý nhất. Ta đã được làm người, đó là điều đáng vui. Người ta sinh ra có người đui què, có người non yếu… mà ta thì khỏe mạnh sống lâu, thế là hai điều đáng vui. Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là hết sự đời. Ta nay biết vui với cảnh đời để đợi cái chết thì còn gì lo buồn nữa?”

Quan niệm sống lạc quan của nhân vật trong câu chuyện tương tự như những đức tính cơ bản của các Kitô hữu. Được làm con Chúa và được sống theo đúng phẩm giá của mình là một hồng ân.

Hôm nay, Hội Thánh nhớ đến Thánh Magarita Tô Cách Lan là một mẫu gương sống đời tín hữu tuyệt hảo. Chúng ta có thể thấy được điều này qua trích đoạn tiểu sử của thánh nữ:

“Magarita là một ơn huệ Chúa ban cho người dân Tô Cách Lan. Trước khi bà đến đây, có rất nhiều người dốt nát và nhiều hủ tục trong nước. Bà tìm cách cải tiến quê hương chồng bằng cách cổ võ việc giáo dục và nghệ thuật. Về cải cách tôn giáo, bà khích lệ tổ chức các thượng hội đồng và đích thân tham  dự các buổi thảo luận nhằm chấn chỉnh những tệ đoan tôn giáo rất phổ thông thời ấy của tu sĩ cũng như giáo dân, tỉ như vấn đề buôn thần bán thánh, cho vay lời cắt cổ và loạn luân. Cùng với đức lang quân, bà xây dựng nhiều nhà thờ trong
nước và chính tay bà thêu áo lễ cho các linh mục.

Magarita không chỉ là một hoàng hậu mà còn là một người mẹ gương mẫu. Thiên Chúa đã ban cho ông bà sáu con trai và hai con gái. Ðích thân bà trông coi việc giáo dục cũng như dạy giáo lý cho con. Người con út của bà sau này là Thánh David.

Mặc dù rất bận rộn với công việc nhà cũng như việc nước, bà cố giữ mình khỏi bị ảnh hưởng của thế gian. Ðời sống riêng tư của bà rất khắc khổ. Bà dành thời giờ để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Bà ăn uống thanh cảnh và ngủ rất ít để có thời giờ suy niệm. Hàng năm, hai ông bà tuân giữ hai mùa Chay, một  lần trước Phục sinh và một lần trước Giáng Sinh. Trong thời gian này bà thường thức giấc vào nửa đêm để đi dự Thánh lễ…”.

Thánh Magarita suốt cuộc đời chỉ biết quên mình để phục vụ gia đình và tha nhân. Ngài đã thực hành như lời Tin Mừng theo thánh Luca: Ai tìm cách giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống(Lc 17,33).

Lạy Chúa Giêsu mến yêu, biết bao lần chúng con đã sống theo thói thế gian, chỉ biết chạy theo những phù vân của thế tục. Xin Chúa ban ơn giúp sức để chúng con biết tỉnh ngộ kịp lúc và biết sống cuộc đời đẹp tươi theo Thánh ý Chúa trọn đời chúng con. Amen

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

VIẾT TIẾP TRANG SỬ

Tác giả: Lm Nguyễn Nguyên

Mạng sống là điều quý giá nhất trên đời. Vì thế, mà theo bản năng tự nhiên, ai cũng tham sống, sợ chết; ai cũng tìm đủ mọi cách để bảo tồn sự sống: gặp một nguy hiểm, đe dọa,
người ta trốn tránh, lùi bước, gặp một cơn bệnh người ta lo chạy chữa thuốc thang, dầu phải tốn kém, dầu phải đi hết nơi này đến nơi khác. Đó là điều thường tình, là phản ứng chung của con người. Tuy nhiên, có một điều không thường, một điều đáng khâm phục, đó là có những con người vì Nước Trời, vì yêu mến Thiên Chúa, đã thắng vượt sợ hãi, không sợ đau khổ, không sợ chết, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ cho một lý tưởng cao cả, đó là các vị Tử Đạo Việt Nam mà hôm nay chúng ta long trọng mừng kính vinh quang của các ngài.

Các Thánh Tử Đạo Việt nam là ai? Thưa, các ngài là những giáo dân, là những phụ nữ chân yếu tay mềm, là cụ già 80 tuổi như thánh Lê Bảo Tịnh; là một bà cụ 62 tuổi như nữ thánh Anê Đê; như một cậu trai 14 tuổi, thánh Phaolô Bột; là một thiếu nữ 12 tuổi như cô Lucia Liễu; như Phaolô Đạm 10 tuổi; như em bé Phaolô Túc 9 tuổi. Là các Giám mục, các Linh mục, các Nữ tu. Là chủng sinh, là Ban Hành Giáo, là quan trong triều đình, là quân lính, là công chức, là y sĩ, là thương gia. Các ngài thuộc đủ mọi thành phần dù vô danh tiểu tốt hay có chức có quyền trong Hội Thánh, có địa vị trong xã hội. Các ngài cũng đã sống như biết bao nhiêu những con người khác đã sống. Thế nhưng, hôm nay tại sao chúng ta lại nhớ đến các ngài?. Thưa tại bởi, các Ngài đã sống hơn hẳn rất nhiều người ở chỗ: các Ngài vì theo Chúa, nên đã bị bắt, bị kết án và không chịu chối đạo, không chịu bước qua Thánh Giá,
các ngài đã bị xử tử hình bằng nhiều cách hung bạo dã man. Các ngài đã biết sống anh hùng, không để cho mình bị mua chuộc, bị khuất phục, không nhường bước, không thỏa hiệp để được sống thảnh thơi. Tiền bạc không làm cho các Ngài mù tối. Khổ đau không làm cho các ngài chùn bước, nhục hình không làm cho các ngài ngã qụy, thậm chí ngay cả cái chết cũng không uốn cong được lòng trung tín của các Ngài. Và chính dòng máu của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đã làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam như hôm nay.

Thế cho nên, họp nhau mừng kính các Thánh Tử Đạo Tổ Tiên anh hùng, không chỉ để chúng ta trầm trồ khen ngợi tán dương các Ngài. Nhưng là để chúng ta học noi gương nhân đức của các Ngài. Dẫu biết rằng, ngày nay, không còn những bạo chúa bách đạo bằng gươm
đao súng đạn, không ai dùng bạo lực, dùng những cực hình man rợ bắt chúng ta bỏ
đạo hay chối Chúa như tổ tiên ta ngày xưa. Nhưng chúng ta lại phải đương đầu với những thách thức mới. Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc có thể là những bạo chúa, những sức mạnh gây ra những cuộc bách hại thầm lặng nhưng không kém phần khủng khiếp và tai họa. Bị bắt, bị đâm, bị chém, bị chặt đầu vì Chúa, đó là chứng tá cao quý, đó là tử đạo. Không bị bắt, không bị giết, nhưng âm thầm sống cuộc sống Chúa ban, biết chế ngự những đam mê và ước muốn xấu, biết khước từ những tham lam của cải vì lẽ công bằng, biết vui tươi trong những hiểu lầm vu oan, biết hy sinh tha thứ và phục vụ mọi người trong tình yêu thương, đó cũng
là tử đạo, đó cũng là chứng tá cao quý. Bởi vì, chết thể xác tuy đau đớn nhưng chỉ trong chốc lát, còn sống được một cuộc sống bình thản tươi vui trong những nỗi chết từ bỏ mỗi ngày, trong những ray rứt tiêu hao đau khổ, những quyến rũ kéo dài, đó là cả một cố gắng và là một sự trung thành lớn lao.

Vậy, ước gì trong khí thế hân hoan mừng kính các Thánh tử đạo Việt Nam, những bậc tiền bối đã lấy cái chết và máu đào làm chứng cho Đức Kitô và viết nên trang sử oai hùng cho Giáo Hội Việt Nam, chúng ta cũng hãy noi gương các ngài viết tiếp trang sử mà các
ngài còn đang viết dở dang: “Hãy để cho mình bị bách hại, nhưng đừng bách hại
ai. Hãy để cho mình bị đóng đinh, nhưng đừng đóng đinh ai . Hãy để cho mình bị
vu khống, nhưng đừng vu khống ai”. Có như thế chúng ta mới xứng đáng là bậc hậu
sinh khả uý; có như thế chúng ta mới xứng đáng thừa hưởng gia nghiệp đức tin
các ngài để lại; và có như thế mai sau chúng ta mới xứng đáng được lãnh vòng
hoa chiến thắng và chung hưởng vinh quang với các ngài trên thiên quốc. Amen.

 

Mục Sư Tin Lành trở thành người Công Giáo

From: Bob Rice: (Là Cựu Mục Sư Tin Lành trở thành

người Công Giáo)

Well, about 48% of the country is unhappy right now. Consider me one of them.

Like many, I’ve been invested in this election. Read numerous stories and blogs on the Internet. Followed the debates. Talked about it a lot. Prayed. Voted. And yet the same
guy who was elected President four years ago is the same guy who got voted in
today. Once again he’s talking about “hope” in front of a cheering Chicago
audience. After the speech they played Bruce Springsteen’s “We Take Care Of Our
Own.”

I would have rather had an election result that ended with Taylor Swift’s “We Are Never Ever Getting Back Together.”

I’m not the only one who prayed and fasted for this day. At Church every Sunday (and daily) we’ve been praying or our country and for the election. Though the prayers never
specifically said, “We pray Mitt Romney wins,” that seemed like an easy connection to make. We prayed for a president that respects the dignity of the unborn. We prayed for a president that respects religious freedom.

And yet we now have a president who seems to not care about either of those two important issues. He is more concerned with the rights of same sex couples to be married than the rights of unborn children to live. He is more concerned with the “rights” to
free contraceptives than the rights of religious freedom.

So… were our prayers unanswered? Our novenas wasted? On the surface, it seems to be that way.

But God isn’t done yet.
He just rarely answers prayers the way we think He will.

God isn’t into democracy. Jesus said, “Follow me,” not, “vote for me.” Though we might feel that our prayers for the election weren’t heard, God is bigger than an election. He’s about saving souls and changing hearts.

Abortions in this country are down. Why? Because abortion centers are closing due to movements such as “40 Days for Life.” This is the most pro-life generation the country
has ever seen. Hearts are changing. That’s the work of God, not man. Man can create a law to make something “legal” or “illegal.” But only God makes things  “right” or “wrong.” The law is external, the Spirit is internal. God is more concerned about the heart.

Same-sex marriage? Yes, it’s disappointing that same sex marriage won a popular vote in Maine and Maryland. Proponents say this is the beginning of a national trend (as if the
30 previous states who voted against same sex marriage don’t matter.) That may
be true. But I think we need to do better in talking about what marriage really is. We’ve been hoping for a vote to “protect marriage,” but perhaps we’ve been too focused in “out-voting” the issue than explaining it. Now we have to be more articulate. I can’t see that as a bad thing.

Religious freedom? That battle is far from over. More lawsuits have been leveled toward the Federal Government on this matter than any other in American history, and most of lower court results have been respecting religious rights. Obama’s reelection doesn’t
make the HHS mandate a slam dunk, though that would have been nice—just as it
would have been a non-issue if Obamacare was flipped by the Supreme Court. But
it seems we’re just not going to get any short cuts on this: the issue of religious freedom will need to be directly addressed by the Supreme Court. And that could be a great thing.

One “positive” thing you can say about Obama is that he’s done more to unite the Catholic Church in America than anyone in the past 50 years. He got every Catholic bishop to stand against him. He also did a lot to unite the Christian Church—remember Mike Huckabee saying, “Today, I’m Catholic!” Heck, he even got evangelical Christians to back a Mormon for president.

If we had woken up this morning with the headline, “Romney is the President,” we might have gone back to sleep feeling secure in one nation under God. We could be thankful that this HHS nonsense is over and we can go back to our lives. We could be hopeful that
abortions would be reduced thanks to government intervention. That’s how I hoped to start the day.

But God does not want us asleep. He wants us awake. He wants us to do the same thing we’ve been doing: pray, work, and fast for our country.

If we thought we could wake up and feel safe about these issues because Romney got elected then we’d be as foolish as those on the other side of these issues who think Obama is the “savior.” We can’t depend on the government for our spiritual “welfare.” We’ve
got to go out and proclaim God’s truth with our lips and share His love from our hearts.

I’m bummed that Obama won. I know a lot of people who worked really hard during this election and I can’t imagine how devastated they feel: any time you spend work on a “failed” effort it’s always heart-breaking.

But I still have hope, and not the “hope” that Obama talked about to a cheering crowd this morning. His “hope” was optimism based on the human spirit; our hope is rooted in Jesus
Christ and in His saving power. The hope Obama offered four years ago hasn’t materialized, but our hope in Christ is “an anchor for the soul, firm and secure” (Heb 6:19.)

The re-election of Barack Obama means that Christians in the United States have to stay united and actively proclaim the truth of the Gospel if we are to protect the values we
believe were given to us from God. It means we have to pray more, work harder,
and be more active in sharing our faith. If we do that, it would be a more important “result” than any political office we could ever vote for.

I’ll end with what we prayed in Mass this morning: ”The Lord is my light and my salvation, whom shall I fear? The Lord is my life’s refuge; of whom should I be afraid?” (Psalm
27:1)

nguồn: anh chị Thụ & Mai gởi

 

 

 

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,”

“Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mc 13: 24-32

Giòng xanh ấy, hôm nay đang tàn phá chốn dân gian, vẫn ngủ vùi.

Đó, là lời thánh Máccô nay nhắn nhủ ở trình thuật về cảnh tình trời đất rất nhũng loạn. Bởi, vẫn cứ tranh giành tiền bạc cùng quyền lực, nên thiên hạ hành hạ nhau, tàn phá/chém
giết nhau rồi cùng nhau đi đến chỗ tự diệt. Dân con ở đời, người người đang ở vào tình huống có cuộc sống vỡ đổ về văn hoá cả Đạo lẫn đời muốn cất bỏ mọi hỗn loạn khỏi đời mình. Là con dân Chúa, ta có thể và có bổn phận nói lên tiếng nói của mình để sửa sai thoát cơn tệ hại ngày thế tận. Nhưng, không kiểm soát được hỗn loạn ở chốn phồn hoa bát nháo, do hệ thống văn hoá, xã hội và chính trị mạnh hơn mình.

Tin Mừng chương 13, thánh Máccô không tạo cảnh hỗn loạn sánh tày vào ngày tận thế. Thánh sử chỉ trích dẫn những gì người xưa tưởng tuợng hoặc nắm chắc, thôi. Thánh nhân còn muốn nhắn nhủ dân con người đọc hãy để tâm vào lời dạy của Chúa, rồi nghe tiếp
câu nói ở đoạn sau: Chớ ưu tư/muộn phiền nhưng đề cao/cảnh giác quyết sống thực
lời Chúa, vì người người chẳng rõ tương lai mai ngày, mình ra sao. Hãy sống hiện tại, thế cũng đủ.

Thánh Máccô không là nhà thần học cánh chung, mà chỉ là đấng thánh khôn ngoan, biết sống thực tế ở đất phàm, mà thôi. Thế nên, thay vì lập đi lập lại cảnh thế tận, có lẽ ta nên để
tâm nhiều đến môi trường địa cầu, để thấy rằng: càng ngày ta càng thấy rối rắm, trục trặc xảy đến nhiều hơn mình suy đoán. Vì vậy, hãy nhất quyết làm điều gì đó, cho cánh chung. Chứ không chỉ sống đời hiện sinh thực tiễn. Đây, là lập trường nhằm cập-nhật-hoá chuyện cánh chung lẫn tư tưởng được thánh sử nói từ trước.

Cập-nhật-hoá tư tưởng, có 9 sự việc cần bảo nhau, là: tính đa dạng sinh thái, hay thay đổi khí hậu, ngập tràn chất nitrôgen, cách sử dụng đất, cạn nguồn nước uống, độc chất uế
tạp, dùng bình phun xịt không hạn chế, axít đổ vào biển vô trách nhiệm, tầng ô-zôn bị khuyết/thủng, vv…

Tính đa dạng của sinh thái, vẫn thấy dẫy đầy nơi đất trời. Một số loài, nay trên đường tuyệt chủng. So với tình hình vào độ 40 năm trước, thì nay có đến một phần ba loài thú đã
biến mất. Một phần tư động-vật có vú và một phần ba động-vật lưỡng-cư cũng như một phần tư tôm cá nước ngọt cùng 15% chim muông trên trời đang bị hoạ tuyệt chủng, cũng rất chóng. 65 triệu năm nay, đây là thời điểm nguy hiểm nhất trong đó nhiều loài đang bị đe doạ biến mất dạng, rất khủng khiếp. Thời đại trước cách mạng kỹ nghệ, mỗi năm chỉ thấy có một phần triệu thú loài bị hoạ tuyệt chủng. Nay, thì con số ấy gia tăng gấp bội lên đến trăm lần. Và, theo sự tính toán của các chuyên gia, có đến cả nghìn thú loài như thế đang biến mất, mỗi một năm. Sinh thái địa cầu nay lại bị đe doạ rất trầm trọng.

Khí hậu đổi thay nay thấy rõ. Không chỉ loài người mà tất cả mọi loài lâu nay chung sống đề huề/an vui trong bầu khí quyển có khí trong lành cùng thở, nhưng nay: sức khoẻ của mọi
loài cũng như chất lượng của sự sống, nay được cân đo đong đếm tính bằng số lượng thành phần trên cả triệu các-bon điôxýt bốc lên trời. Vào khi bắt đầu cuộc cách mạng kỹ nghệ, tỷ số thán khí ở bầu khí quyển là 280 phần trên một triệu các-bon điốxýt, nay đếm thấy nó lên 390 thành phần trong một triệu chất các-bpn điôxít. Hậu quả tiếp theo sau, là lớp băng tảng ở Bắc Cực đã nhanh chóng vữa chảy khiến nước biển cứ thế dâng cao. Khắp địa cầu, nay lại thấy nhiệt độ hâm nóng quả đất rất gia tăng. Lượng tuyết rơi ngày một ít, trong khi đó mực độ mưa dầm lại đã ở mức trầm kha, rất báo động.

Tệ hại hơn nữa, lại là tình trạng đất trồng trọt nay nứt nẻ/khô đanh, sông ngòi đà cạn nước, rừng xanh nay khô héo, nạn cháy rừng lại cứ bốc đồng tự phát. Các dấu hiệu của tình trạng
hiểm nghèo rày tăng nhanh vượt mọi ước đoán, so sánh. Nếu đà này tiếp tục, e rằng chẳng mấy chốc các tảng băng Bắc Cực cũng sẽ tan vữa; và mưa nguồn nhiệt đới cũng bị vạ lây.

Trong khi đó, chất nitrôgen từ phân-bón hoá-học lại đã xâm nhập sông ngòi, ao hồ và biển cả, đã khoanh vùng chết chóc dành để cho sinh vật chịu đựng đến tận tuyệt.

Sử dụng đất miền đặc trưng đáng lẽ không được phép tùy tiện cho mục đích nào khác ngoài ý hướng phù hợp với thiên nhiên, đất trời. Chốn miền tạm dung cũng như mưa mùa nhiệt đới tạo thực phẩm nuôi sống mọi loài, nay bị con người khai thác gỗ để kinh doanh khiến cây xanh đành chịu cảnh nhà giàu bức tử, chẳng cần nghĩ đến ai.

Nguồn nước trong xanh ờ sông ngòi, ao hồ, miền đất ướt vốn từng là nguồn sống cho phần tư động vật có xương sống hiện diện khắp thế giới, cũng bị cạn. Xưa nay, lằn ranh giới hạn sử dụng nước được chú trọng rất cẩn thận, nay thì hầu như con người chẳng còn biết
quan tâm đến cảnh báo là mình sắp sửa vượt lằn ranh khẩn trương ấy.

Chất độc phế thải tựa như thuốc DDT, bao ny lông, nhựa dẻo, vv. nay tràn lan đây đó khiến tôm cá cùng chim muông nuốt vào rồi đi dần đến cõi chết, hết thấy thiên đường. Cả đến thú
đàn ở dưới đất cùng loài chim trên trời cũng bị đủ mọi loại hoá chất giết chết dần mòn, hết chữa chạy.

Bình xịt phun đựng khí CFC cùng khói đen thải từ các lò kỹ nghệ dơ bẩn ở nước nghèo thuộc thế giới thứ ba kéo về xâm nhập đá băng Bắc Cực khiến tuyết trắng khi xưa nay trở thành xam xám đen bẩn chẳng còn kỹ năng phản ánh nắng ấm về nơi tăm tối, cần tia ánh hạnh phúc.

Nay thì, 85% biển sâu hầu như bị axít-hoá nhiễm đầy chất thải từ các nhà máy, vẫn cứ dồn về biển xanh, nay hết xanh. Kết cuộc, biển cả mênh mông chuyên hấp thụ dưỡng khí nay đã
nghẹn thở ngày một trầm trọng, khiến biển không còn khả năng nuôi dưỡng mọi sinh vật ở vùng biển, nữa. Thay vào đó, là chế độ axít-hoá đậm đặc ngày một gia tăng đến 30% so với dạo trước. Điều đó, cứ đe doạ mãi vùng biển san hô và mọi loài cá, tôm, điệp, mực từng là nguồn thực phẩm nuôi dưỡng mọi loài chim chóc cùng loài người này cạn biến. Cuối cùng, bầu khí quyển chứa đựng ôxy cho mọi loài hít thở lại cũng dần dà đặc sậm những là thán khí.

Lớp khí CFC đã và đang chọc thủng tầng ô-dôn cần thiết cho con người lại để cho tia cực tím tự tiện xâm nhập vùng hít thở của mọi loài khiến tình trạng sống của sinh vật trở nên
tồi tệ đến mức báo động. Thế đó, là cảnh báo không khác lời thánh sử nhắc ở Tin Mừng. Thế đó, còn có vấn đề: chúng dân nay có để tai nghe lời thánh hiền đề cao cảnh giác, nữa hay không? Và như thế, sự tàn tạ ngày cánh chung, một lần nữa, lại cũng sắp đến?

Cuối cùng, sử gia nhà Đạo mình có nên viết lại chương 13 Tin Mừng thay cho thánh sử Máccô thời đại chăng? Và, người người có nên tự chế việc sử dụng hoá chất độc hại mà thực hiện cuộc sống khắc kỷ/khổ hạnh thêm lần nữa? Có nên mở cuộc tranh luận so sánh nhu
cầu của môi trường và kinh tế không? Phải chăng, kinh tế thế giới rồi ra sẽ thắng cuộc? Và, người người có cần giáp mặt/đụng trận với các dấu chỉ thời đại để làm chậm bớt tiến trình hủ hoá vũ trụ, rất đáng sợ?

Hỏi thế rồi, lại cũng nên trở về với thực tại thi ca hầu ngâm lên câu thơ thực tế, vẫn còn đó:

“Nhìn nhau đi em, để thấy những giòng xanh,

Hạnh phúc trần gian đang lăn từ khoé mắt…

Tình đã đến trong những ngày độc dược,

trong những ngày rữa nát mọi tinh hoa,

trong những ngày sự sống diễn ra,

bằng điên dại dẫm bừa lên sự sống!

Nhìn nhau đi em, để thấy tình nhu thuận,

Bản năng sinh tồn sát ranh giới tử, sinh..”

(Nguyễn Tất Nhiên– Nước Trở Về Lành Lặn)

Ranh giới tử sinh, nay gần kề. Chỉ chờ anh và chờ em, ta quyết định trở về với Nước. Nước lành lặn, cũng là Nước của mọi người cần sống có Chúa, có mọi người cùng tồn tại, rất
vinh quang.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá luợc dịch

Maria Thanh Mai gởi

ĐẠI THỤ VÀ CÂY SẬY

ĐẠI THỤ VÀ CÂY SẬY

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Tại một khu rừng nọ, có một cây đại thụ và một cây sậy mọc gần nhau đã từ nhiều chục năm. Đôi bên vẫn thường tâm sự qua lại mặc dù một bên thì lừng lững cao ngất trời xanh, một bên thì mảnh mai không quá đầu người.

Một hôm đôi bên luận bàn về sức mạnh của nhau.

Sậy khiêm nhường nói:” Tôi biết thân phận bé nhỏ của tôi không bằng anh nhưng tôi nghĩ là tôi an toàn hơn anh.”

Đại thụ nhìn xuống cây sậy cười ngạo nghễ: “Sao chú mày chủ quan tự tin thế. Anh to lớn thế này mà lại kém an toàn hơn chú à. Chú cho ta biết cái gì có thể quật ngã thân hình to lớn với gốc rễ nằm sâu trong đất của ta. Ngoài ra, với chiều cao, ta có thể nhìn xa trông rộng ngắm phong cảnh khắp nơi, hường gió mát trăng thanh mà chú mày chả bao giờ được hưởng”. Rồi cười ha hả khoái chí.

Sậy ta biết thân, âm thầm số phận.

Tối hôm đó, một cơn giông tố thổi về với sấm sét ầm ầm rung chuyển đất trời. Muông thú sợ hãi tìm nơi trú ẩn. Cây cối nghiêng ngả, cành lá tả tơi gẫy rụng vương vãi khắp nơi.

Với chiều cao quá cao, đại thụ chịu không nổi sức mạnh của phong ba bão táp, bật gốc nằm trơ trên mặt đất. Nhìn sang cạnh, nó thấy sậy vẫn đứng trên rễ, chỉ rụng bớt ít chục cánh lá. Ấy là nhờ sậy mọc thấp, uốn mình theo gió lại được các cây lớn hứng hết phũ phàng mưa gió, cho nên sau bão táp, nó vươn mình thẳng lên được. Đại thụ thở dài, ân hận về tính tự cao tự đại của mình, chào vĩnh biệt sậy, chờ thợ rừng tới cưa sẻ về dùng. Thông cảm, sậy nhìn sang ái ngại…chia tay.

Ở đời thiếu gì hoàn cảnh tương tự. Phúc đấy, họa đấy. Khi danh vọng lên cao thì dương dương tự đắc, coi trời bằng vung mà khi xuống thấp thì lủi thủi như chó cắt tai. Giá mà có một chút khiêm cung, nhìn trước nhìn sau, nhận ra thiếu sót của mình để chấn chỉnh tu bổ thì chẳng cũng hay lắm sao.

Khương Tử Nha xưa kia nhận xét: “Chớ thấy mình sang mà khinh người hèn; chớ thấy mình cao mà khinh người thấp; chớ cậy mình khôn mà gạt người dại; chớ cậy mình mạnh mà khinh kẻ yếu”.

Trong khi đó, Montesquier của nước Pháp lại ca tụng:”Hỡi những người khiêm tốn, xin chào đón quý vị. Quý vị đã tạo ra vẻ dịu dàng và thú vị cho cuộc đời. Quý vị tưởng là mình chẳng có gì nhưng tôi nhận thấy quý vị có tất cả”.

Nghe ra, thấy cũng có lý vậy.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

NGƯỜI ĐÃ ĐẾN GẦN, Ở NGAY NGOÀI CỬA RỒI!

NGƯỜI ĐÃ ĐẾN GẦN, Ở NGAY NGOÀI CỬA RỒI!

(CHÚA NHẬT XXXIII/B)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

nguồn: Đài Vatican

LỜI CHÚA: Máccô 13,24-32


Khi ấy, Đức Chúa GIÊSU phán cùng dân chúng rằng: ”Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng,
các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang, ngự trong đám mây mà đến. Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời.. Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà tìm hiểu. Khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi. Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra. Trời đất sẽ qua đi, nhưng những Lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu. Còn về ngày giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không, chỉ có CHÚA CHA biết mà thôi”.

SUY NIỆM

”Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang, ngự trong
đám mây mà đến .. Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”.

Nơi chương 19 và 20, sách Khải Huyền nói đến hai “cuộc chiến cánh chung”: cuộc
chiến cánh chung thứ nhất và cuộc chiến cánh chung thứ hai.

Nơi thị kiến cuộc chiến cánh chung thứ nhất, thánh Gioan tông đồ, tác giả sách Khải Huyền, mô tả Đức Chúa GIÊSU KITÔ xuất hiện để hoàn thành ”Ngày của THIÊN CHÚA” tiêu diệt mọi thù địch của Hội Thánh. Tác giả mô tả chân dung Đức Chúa GIÊSU KITÔ theo 4 cách: hoặc như ”Con Người” trong thị kiến mở đầu (1,9-16); hoặc như ”Chiên Con” khi mở ấn (6,2); hoặc như ”Người Con” của người Phụ Nữ (12,5); hoặc như “Con Người” gặt mùa cánh chung (14,6-20).. Nơi chương thứ nhất, Con Người được mô tả: ”Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết; mắt Người như ngọn lửa hồng; chân Người giống như đồng đỏ được tôi luyện trong lò; và tiếng Người như tiếng nước lũ. Tay hữu Người cầm bảy ngôi sao và từ miệng Người phóng ra một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Mặt Người tỏa sáng như mặt trời chói lọi” (14-16).. Danh hiệu Đức KITÔ
chứng thực Người là THIÊN CHÚA, Ngôi Lời của THIÊN CHÚA. Chỉ có Người là Chúa Tể
mà mọi thọ sinh phải tôn thờ, Vua các vua, Chúa các chúa. Hai Con Thú giao chiến
chống lại Đức Chúa KITÔ. Chúng thất bại, vì đã đến giờ Người cai trị muôn dân.

Cuộc chiến cánh chung thứ nhất kết thúc với việc Đức Chúa GIÊSU KITÔ tập trung
tất cả quyền hành trên vũ trụ và cai trị muôn dân, bởi vì Người là Vua các vua,
Chúa các chúa.

Trong khi đó, sách Khải Huyền mô tả cuộc chiến cánh chung thứ hai: ”Bấy giờ tôi thấy một ngai lớn màu trắng và thấy Đấng ngự trên đó. Đất và trời biến mất
trước mặt Người, không để lại dấu vết. Rồi tôi thấy những người chết, lớn cũng
như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng mở ra: đó
là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử tùy theo việc họ đã làm, chiếu
theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách”
(20,11-12).

Như thế, cuộc chiến cánh chung thứ hai kết thúc với việc Đức Chúa GIÊSU KITÔ
xét xử muôn dân. Đây là ngày thế mạt, ngày tận thế. Trong trình thuật Tin Mừng
theo thánh Máccô vừa nghe đọc, có lẽ, Đức Chúa GIÊSU KITÔ cũng muốn nói đến
ngày thế mạt, như được mô tả trong sách Khải Huyền. Tuy nhiên, về ngày giờ của
thời thế mạt, không ai có thể biết được như chính Chúa GIÊSU quả quyết: ”Còn
về ngày giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con
Người cũng không, chỉ có THIÊN CHÚA CHA biết mà thôi”.

Đúng thế. Không ai có thể biết được, ngoại trừ duy nhất THIÊN CHÚA CHA biết mà
thôi. Điều quan trọng đối với các tín hữu, không phải là việc tò mò tìm kiếm hoặc
tiên đoán ngày thế mạt, nhưng là sống tinh thần đơn sơ phó thác và trong tư thế
luôn luôn sẵn sàng. Không ai biết được giờ sau cùng của cuộc đời mình, và càng
không biết được ngày sau cùng của thế giới. Nhưng điều mà mọi người có thể làm
được, đó là sống mối giây liên hệ thân tình với THIÊN CHÚA là CHA. Nếu chưa có
mối giây liên hệ này thì hãy sớm ăn năn thống hối và trở về nhận biết THIÊN
CHÚA là CHA. Như thế, khi Đức Chúa GIÊSU KITÔ xuất hiện, chúng ta sẽ được hồng
phúc cao trọng là thuộc về số ”những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương
về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”..
Ước gì được như vậy!

Chúa Nhật 18-11-2012 cũng là ngày toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt
Nam long trọng mừng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các vị là những người được
sách Khải Huyền mô tả: ”Một đoàn người mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành
lá thiên tuế.. Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn
lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong Máu Chiên Con. Họ sẽ không còn
phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành
hạ nữa. Vì Chiên Con đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn
nước trường sinh. Và THIÊN CHÚA sẽ lau sạch nước mắt họ”
(7,9-17).

Là con cháu của các vị anh hùng tử vì đạo, tín hữu Công Giáo Việt Nam quyết chí
noi gương các ngài, sống anh dũng, sống trung thành với Đức Tin trong cuộc sống
thường ngày, để sẽ cùng với các ngài, chung hưởng vinh phúc muôn đời trên thiên
quốc. Ước gì được như vậy!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện !!!

Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện !!!
Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện. Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác.
Hình £nh ã ng

Một nụ cười – vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ. Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.

Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ
cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người
đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết
cười.

Hình £nh ã ng

Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế
chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm “Nụ cười”.. Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật.
Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử
bắn như nhiều người khác. Ông viết: “Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù. Tôi gọi: “Xin lỗi, anh có lửa không?”… Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi
rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại.

Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người. Anh ta hỏi tôi: “Anh có con chứ?”. Tôi đáp: “Có” và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng.
Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được
người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được
cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười. ”

Từ khi đọc được câu chuyện này tôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc
chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật quý giá mà tôi gọi là tâm hồn.
Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng ta chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau. Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể
dành cho nhau.
Hình £nh ã ng

Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: “Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người
dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau . .
. ”

http://farm4.static.flickr.com/3502/4021496023_c9a833f1f9.jpg
nguồn: Anh chị Thụ & Mai gởi

NHỮNG TÁCH CÀ PHÊ

NHỮNG TÁCH CÀ PHÊ

TRÍCH TẬP SAN PHTQ (TỪ BI & TRÍ TUỆ SỐ 15)

Một nhóm sinh viên cũ gặp lại và hẹn nhau cùng trở về trường đại học cũ để thăm một vị giáo sư ngày xưa.

Họ là những người rất thành công và đang có những chức vụ, địa vị cao trong xã hội.

Trong khi ngồi hàn huyên tâm sự với nhau, mọi người bắt đầu than phiền về những sự căng thẳng trong việc làm cũng như trong đời sống của mình.

Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình uống cà phê.

Ông đi vào nhà trong và mang ra một bình cà phê lớn, cùng với những ly tách đủ loại: bằng sứ, bằng plastic, bằng thủy tinh, có những tách nhìn rất tầm thường và có những tách nhìn rất đắt tiền và sang trọng.

Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình tự rót lấy cà phê uống.

Khi mỗi người đã có một ly cà phê trong tay, vị giáo sư nói:

– Nếu các anh chị để ý, những tách cà phê đẹp và đắt tiền được chọn lấy trước hết, chỉ còn lại những ly tách rẽ tiền và tầm thường. Đối với các anh chị việc ấy cũng bình thường
thôi!

Chúng ta ai mà lại chẳng muốn chọn cho mình những gì hay và đẹp nhất, nhưng đó cũng là nguyên nhân của sự căng thẳng và những khó khăn của các anh chị trong cuộc sống.

– Những gì anh chị muốn, thực sự là cà phê, chứ đâu phải là chiếc tách,

Nhưng các anh chị lại cố ý đi lựa cho mình những chiếc tách đẹp nhất và thỉnh thoảng cũng nhìn sang người bên cạnh, xem họ có những chiếc tách nào.

– Cũng vậy, nếu cuộc sống là cà phê, thì những công việc, tiền bạc, địa vị trong xã hội là
những chiếc tách.

Chúng chỉ là những phương tiện để chứa đựng sự sống của mình, chứ phẩm chất của sự sống không hề khác biệt.

– Và nhiều khi chúng ta vì quá chú ý và tập trung vào những chiếc tách mà lại quên thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon trong ấy.

– Vì vậy cho nên các anh chị nhớ, đừng để những chiếc ly tách sai xử mình.

Hãy thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon của cuộc sống.

Hạnh phúc không có nghĩa là mọi vấn đề chung quanh chúng ta phải được hoàn toàn.

Hạnh phúc có nghĩa là chúng ta biết nhìn xa hơn, vượt ra ngoài những sự bất toàn ấy !

SUY NGẪM:

Con người nên  thay đổi sự suy nghĩ, sao cho thích hợp với hoàn cảnh và với những người
chung quanh, khi vô phương thay đổi hoàn cảnh hay thay đổi những người chung quanh.

Trong câu chuyệntrên, cà phê là thứ sẽ thuộc về mình, ly tách là thứ phải để lại, thuộc về người.

Cho nên, bằng lòng thưởng thức, thích những gì mình có, hạnh phúc hơn là:  thích những gì mình không có, hay không thể có.

nguồn: Anh chị Thụ & Mai gởi

HÌNH KHỔ LUYỆN NGỤC THẾ NÀO?

HÌNH KHỔ LUYỆN NGỤC THẾ NÀO?

Lm. Mark,CMC

Trong Luyện ngục, các linh hồn phải chịu 3 thứ khổ: – Khổ vì lửa  khao khát Chúa (pain of loss), – khổ vì lửa thiêu đốt, và – khổ vì các hình khổ khác (pain of sense).

1. Khổ vì khao khát được thấy Chúa, được kết hợp cùng Chúa trên Thiên đàng, đó là
nỗi khổ lớn lao nhất, ví như lửa thiêu đốt linh hồn. Lý do vì khi ra trước tòa  Chúa phán xét, linh hồn đã thấy Chúa đẹp đẽ, tốt lành, nhân từ đáng mến vô cùng, bây giờ phải xa cách, nên nóng lòng mong ước được thấy lại Chúa đáng mến vô cùng, sự mong mỏi quá sức, làm linh hồn héo hon chờ đợi.

* Thánh nữ Catarina thành Genova quả quyết: “Lòng ước  muốn về gặp Chúa của linh hồn, chính là ngọn lửa cực nóng nảy làm héo hắt và gây đau thương cho các ngài hơn bất cứ thứ lửa thật nào khác”.

* Thánh nữ Têrêsa Mẹ viết trong sách Lâu đài Tâm hồn rằng: “Hình khổ mong thấy Chúa vượt quá mọi hình khổ có thể tưởng tượng, vì linh hồn khao khát thấy Chúa mà còn bị phép Công bằng Chúa giữ lại. Giống như một thủy thủ sau bao chiến đấu với sóng dữ để được vào bờ nhưng lại bị bàn tay vô hình đẩy ra xa bờ bến. Các linh hồn Luyện ngục còn đau khổ gấp ngàn lần người thủy thủ trên” (Purgatory p. 38).

* Năm 1880, một linh hồn kể lại với bà Thánh Mechtilđê rằng, “Tôi không cảm thấy khổ, nhưng tôi không được thấy Chúa, Đấng mà tôi nhiệt liệt khát khao , mọi sự mong ước của loài người trên trái đất hợp lại cũng không sánh được với sự khát khao của tôi.”

2. Khổ vì bị lửa thiêu đốt, để thanh tẩy linh hồn nên thanh sạch, để đền bù các hình phạt tạm chưa đền đầy đủ khi còn sống.

* Thánh Tôma Aquinô viết rằng: “Lửa thiêu đốt các linh hồn trong Hỏa ngục cũng
là lửa thiêu các linh hồn trong Luyện ngục. Sự đau đớn nhỏ nhất trong Luyện ngục, cũng là sự đau đớn lớn nhất ở trần gian”
(Purgatory p. 34).

* Thánh nữ Catarina thành Genoa viết rằng:“Linh hồn Luyện ngục phải
chịu cực hình quá sức không lời diễn tả, không ý niệm nào giúp cho hiểu dễ dàng
một chút, nếu Chúa không giúp cho cách riêng. Không miệng lưỡi nào có thể nói
lên, không tâm trí nào có thể tạo nên một ý tưởng đúng về Luyện ngục. Về các
đau khổ ở đó, đúng là như trong Hỏa ngục”
(Purgatory p. 37).

* Người ta hỏi cha thánh Pio năm dấu:

– Cha có thể nói về lửa ở Luyện ngục được không?

– Cha Pio đáp:“Nếu Chúa cho phép một linh hồn đi từ lửa Luyện ngục để đến chỗ lửa nóng nhất trên trần gian, thì giống như đi từ nước nóng đến nước lạnh vậy.”

(Bàn tay linh hồn hiện về in vào tường trước khi trở lại Luyện ngục. Hình này hiện còn giữ tại Nhà thờ Luyện ngục tại Rôma)

3. Khổ vì những hình khổ khác:

* Thánh nữ Brigitta thấy có những linh hồn chịu lạnh lẽo giá buốt.

* Thánh nữ Hedvigê thấy kẻ kiêu ngạo bị ném vào vũng bùn và nơi nhơ nhớp, kẻ không chịu vâng lời phải cúi gò lưng xuống như đang mang đồ nặng, kẻ khác bị thuốc độc như bất tỉnh, kẻ tham ăn bị cơn đói khát cồn cào ruột gan, kẻ phạm tội lỗi trong sạch bị lửa thiêu đốt cháy khét.

* Thánh nữ Mađalena de Pazzi có người anh sống rất đạo hạnh. Sau khi anh chết, bà thánh được thấy anh ở trong Luyện ngục để đền một số tội nhẹ. Bà thấy rất nhiều linh hồn
trong Luyện ngục đang chịu các hình khổ, nhưng các ngài vui vẻ chịu đựng. Xúc động bởi đã thấy cảnh tượng rợn rùng, bà vội chạy đến cùng Mẹ Bề trên, qùi gối xuống chân bà, kêu lên: “Lạy Mẹ, cảnh Luyện ngục kinh sợ chừng nào, con không thể tin được, nếu Chúa đã không tỏ cho con…tuy nhiên con không thể gọi là nơi tàn bạo, bởi từ nơi đó các linh hồn được đưa tới Thiên đàng (Purgatory p. 59).

* Thánh nữ Christina sinh tại nước Bỉ vào thế kỷ 12, xác ngài hiện còn giữ tại nhà thờ thành Tronđô do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cai quản. Thánh nữ qua đời lúc 32 tuổi, xác được đặt trong nhà thờ, quan tài mở nắp theo phong tục thời ấy, khi sắp đưa đi chôn, thánh nữ đột ngột chỗi dậy trước mặt mọi người hiện diện, kể lại rằng:

“Khi linh hồn tôi vừa ra khỏi xác, thiên thần dẫn tôi tới một nơi u ám đầy dãy các linh hồn. Họ phải chịu các cực hình khốn khổ quá sức, tôi không thể dùng lời nào diễn tả các hình khổ ấy được. Tôi thấy trong số đó có nhiều người tôi đã quen. Tôi rất cảm xúc trước tình trạng buồn khổ của họ. Tôi hỏi thiên thần đây là nơi nào, bởi tôi nghĩ rằng đây là Hỏa ngục, nhưng thiên thần bảo: đây chính là Luyện ngục, nơi các tội nhân bị phạt, bởi trước khi chết họ đã thống hối tội lỗi, nhưng chưa đền tội đủ trước mặt Chúa.

Từ nơi đó tôi được dẫn tới Hỏa ngục, ở đó tôi cũng nhận ra một số người tôi đã quen biết.

Thiên thần lại dẫn tôi vào Thiên đàng, trước tòa Thiên Chúa. Chúa nhìn tôi với mặt nhân từ, tôi rất vui mừng bởi nghĩ rằng mình sẽ được ở lại với Chúa đời đời. Nhưng Cha trên trời thấu suốt lòng tôi, Ngài phán: “Hỡi con cưng của Cha, con sẽ được ở với Cha, nhưng Cha cho con chọn: hoặc ở lại với Cha, hoặc trở về thế gian tiếp tục sứ mạng cứu độ của con qua những hành động bác ái và đau khổ. Để cứu các linh hồn Luyện ngục đang đau khổ, con sẽ phải chịu nhiều cực hình, con sẽ đền tội cho họ, và con còn nêu gương lôi kéo nhiều
tội nhân sám hối. Khi mãn đời, con sẽ lên đây hưởng phúc đời đời”
. Sau khi nghe những lời đó, tôi đáp lời ngay không do dự, tôi muốn trở về thế gian, và tôi đã chỗi dậy.

Thánh nữ Christina lập tức bắt đầu chương trình đền tội khắc nghiệt: Từ bỏ tất cả những tiện nghi của cuộc sống, bà sống không nhà, không lửa nấu, như chim trời không tổ. Chưa hài lòng, bà còn tìm ra mọi thứ gây đau khổ. Bà lao mình vào đám lửa cháy, ở trong đó nhiều giờ chịu thiêu đốt, nhưng khi ra khỏi đó không ai thấy dấu vết bị thương. Vào mùa đông, tại sông Meuse băng giá, bà lao mình xuống sông không những hàng giờ, hàng ngày mà còn cả nhiều tuần lễ để cầu xin ơn thương xót của Chúa. Bà thánh còn để cho bánh xe đè, cho chó cắn, cho gai đâm đến chảy máu…Sau 42 năm hành xác, Chúa đã đưa
thánh nữ về hưởng phúc đời đời.
Truyện này đã được Tổng Giám mục Cambray,
ông Bellarmine, Hồng y Giacôbê de Vitry xác nhận (Purgatory p. 45-49).

* Thánh Bêđa thuật truyện sau cũng khá rùng rợn. Truyện xảy ra bên Nước Anh (miền Northumberland): Một người tên là Drythelm, ông và gia đình sống đời đạo hạnh theo tinh thần Công giáo. Ông mắc bệnh và bệnh tình ngày càng gia tăng. Kiệt lực, ông đã chết. Vợ con khóc lóc thương tiếc vô vàn. Con cái ngồi bên xác ông khóc lóc cả đêm. Nhưng hôm sau, trước khi đóng nắp quan tài, ông đột nhiên chỗi dậy. Thấy chuyện lạ, mọi người hoảng hốt trốn chạy. Chỉ còn lại vợ ông, run run sợ hãi ngồi lì đấy. Ông trấn an: “Đừng sợ, chính Chúa cho phép tôi sống lại từ cõi chết. Tôi sẽ sống một đời sống mới”. Nói rồi
ông đứng thẳng lên, đi tới nhà thờ, ở lại đó ông cầu nguyện lâu giờ. Ông trở về nhà gặp bà con bạn hữu, nói lên cuộc sống của ông từ nay sẽ chỉ là để dọn mình chết lại. Ông còn khuyên mọi người noi gương ông. Rồi ông chia tài sản thành ba phần: cho con cái, cho vợ và cho người nghèo khó. Xong xuôi, ông đến gõ cửa Tu viện, nài xin cha Bề trên cho ông ở đó như một tu sĩ đền tội, làm tôi tớ mọi người. Cha Bề trên cho ông một phòng nhỏ. Ông chia thời giờ làm ba khoảng: cầu nguyện, làm việc cực nhọc và hãm mình khác thường. Ăn chay nhiệm nhặt nhất, ông cho là không có gì đáng kể. Mùa đông, ông lao mình xuống hồ nước băng giá, ở đó nhiều giờ cầu nguyện, đọc đủ 150 Thánh vịnh vua Đavit.

Đời sống hãm mình của ông, thái độ luôn cúi mặt xuống đất, và cử chỉ của ông tỏ cho thấy nỗi sợ Thiên Chúa phán xét chừng nào. Ông giữ im lặng tuyệt đối, nhưng để cho người khác hiểu những gì đã xẩy ra cho ông sau khi chết, ông diễn tả:

“Khi linh hồn tôi lìa khỏi thân xác, có một thanh niên tốt lành bảo tôi đi theo. Mặt anh sáng láng, mình cũng có ánh sáng bao bọc. Anh dẫn tôi tới một thung lũng rộng bát ngát, tôi rất kinh sợ, run rẩy hãi hùng. Nơi này chia thành hai phía: môt bên tràn ngập lửa thiêu, gió nóng hừng hực, bên kia tràn đầy băng tuyết, gió thổi tái tê. Trong thung lũng lạ lùng này có rất  nhiều linh hồn, tôi không thể đếm được, họ đang bị nhào lộn từ vực nóng qua vực lạnh và từ vực lạnh qua vực nóng, cứ liên hồi như vậy mà không được nghỉ. Tôi
tưởng như tôi đang thấy Hỏa ngục bởi ở đây ghê gớm kinh hoàng quá, nhưng người
thanh niên bảo tôi rằng, đó chỉ là Luyện ngục. Các linh hồn bị phạt như vậy bởi
đã không chịu ăn năn sám hối khi còn khỏe mạnh, mà chỉ kịp ăn năn trong phút
chót trên giường bệnh nhờ lòng thương xót Chúa. Nhiều linh hồn phải chịu phạt ở
đây đến ngày Phán xét chung, một số sẽ được ra khỏi đó trước, nhờ lời cầu nguyện của các giáo dân, sự làm phúc bố thí, ăn chay đền tội, và nhất là công phúc Thánh lễ Misa dâng lên cầu cho họ” (Purgatory p. 41-43).

Khi được hỏi, tại sao ông lại hãm mình quá như vậy, tại sao lại lao mình xuống hồ nước lạnh, ông mạnh mẽ trả lời: Sự khổ hạnh tôi chịu bây giờ chưa thấm vào đâu với hình khổ Luyện ngục tôi đã được thấy. Về sau ông qua đời như một vị thánh. Gương lành của ông đã lôi kéo một số tội nhân ăn ăn sám hối trở về đường lành.

* Thánh nữ Frances, sáng lập dòng Oblates, qua đời tại Rôma năm
1440, được Chúa soi sáng cho biết tình trạng các linh hồn Luyện ngục rất rõ
ràng. Bà thấy Hỏa ngục và những hình khổ cực dữ trong đó. Bà cũng được thấy
Luyện ngục nữa. Vâng lời các Bề trên, bà đã ghi lại những gì bà đã thấy theo
lệnh cha linh hồn là cha đáng kính Canon Matteotti. Bà thánh viết:

“Sau khi thấy những hãi hùng trong Hỏa ngục, tôi được thoát ra khỏi nơi đó và thiên thần dẫn tôi vào Luyện ngục. Luyện ngục không có cảnh hãi hùng và vô trật tự, cũng không có thất vọng và tối tăm đời đời, Luyện ngục có sự hy vọng thần linh ngời sáng, nơi thanh tẩy này coi như cuộc hành trình hy vọng. Các linh hồn Luyện ngục chịu đau đớn dữ dằn, nhưng các thiên thần thăm viếng, an ủi họ. Luyện ngục được chia làm ba phần, như ba địa hạt rộng lớn trong vương quốc đau khổ. Nơi nọ ở trên nơi kia với những loại linh hồn khác
nhau. Những linh hồn ở tầng sâu hơn bởi có nhiều điều phải thanh tẩy hơn và phải ở đó lâu hơn. Tầng sâu nhất đầy lửa nóng hãi hùng nhưng không đen kịt như Hỏa ngục, đó là một biển lửa mênh mông, với những ngọn lửa bừng bừng. Vô số linh hồn phải lao mình vào đó. Họ là những linh hồn mắc tội trọng, đã thành thực xưng thú, nhưng chưa đền tội đủ khi còn sống. Với tất cả những tội trọng đã được tha, họ phải chịu đau đớn trong bảy năm. Thời gian này không thể đo lường cách rõ ràng, bởi tội trọng có ác tính khác nhau, đó chỉ là hình phạt trung bình. Và dù các linh hồn bị lửa vây quanh, hình khổ của họ cũng không giống nhau, nó khác nhau tùy theo số lượng và bản chất mọi tội.

Trong tầng sâu Luyện ngục này, có những giáo dân và tu sĩ. Giáo dân tuy đã phạm tội, nhưng sống hạnh phúc sau khi ăn năn chân thành. Tu sĩ đã hiến mình cho Thiên Chúa không sống thánh thiện theo bậc mình. Bà thánh cũng thấy linh hồn một linh mục bà đã quen biết, nhưng bà không nói tên, vị này che mặt bằng một tấm vải, tuy linh mục này có đời sống tốt lành, nhưng không luôn giữ điều độ mà còn quá tìm thỏa thích nơi bàn ăn.

Bà thánh lại được dẫn vào tầng giữa Luyện ngục, nơi dành cho những linh hồn không phải chịu hình khổ dữ dằn. Nơi này được chia thành 3 ngăn: Ngăn nhất giống như một khu ngục băng giá, buốt giá không thể tả, ngăn hai lại là một vạc dầu sôi vĩ đại, ngăn thứ ba giống như cái hồ chứa vàng bạc lỏng” (Purgatory p. 15-17).

* Theo thánh nữ Mađalena de Pazzi, nữ tu dòng Kín Florence, do cha linh hồn ghi lại trong truyện đời thánh nữ thì: Vào năm 1607, ít lâu trước khi thánh nữ qua đời, một chiều kia, khi thánh nữ đang ngồi với mấy chị em đồng tu trong khu vườn tu viện, thánh nữ được ơn xuất thần, được thấy Luyện ngục và được mời đi thăm viếng. Thánh nữ cho biết: ngài đã đi trong khu vườn rộng lớn 2 giờ đồng hồ, đôi khi ngừng lại. Chị em thấy mặt ngài tái nhợt và đôi lúc la lên: Lạy Chúa hay thương, xin xuống, giải thoát, lạy Máu Thánh Chúa. Ôi các
linh hồn khốn khó, họ chịu đau khổ dữ dằn nhưng bằng lòng và vui vẻ”.

Thánh nữ còn được dẫn xuống tầng sâu hơn nữa, ngài do dự, nhưng rồi cũng xuống, đột nhiên ngài dừng lại, rồi thở dài, kêu lên: Lạy Chúa tôi, những linh hồn tu trì phải hành hình khổ sở chừng nào! Bà thánh không tả nỗi khổ, nhưng coi thái độ kinh hoàng của bà, người ta đoán được hình khổ hãi hùng. Bà còn được dẫn vào ngục tù của những linh hồn đơn thành, các trẻ em và những người phạm lỗi bởi thiếu hiểu biết, hình khổ của họ dễ chịu hơn. Nơi đó có giá lạnh và lửa nóng. Có các thiên thần Bản mạnh ở bên các linh hồn này, giúp họ can đảm chịu khổ. Bà cũng thấy quỉ dữ mặc những hình thù ghê gớm gia tăng nỗi
khổ cho các linh hồn này.

Đi xa hơn, bà thánh thấy các linh hồn bất hạnh, bà kêu lên: Ôi nơi này khốn nạn chừng nào! Đầy những quỉ xấu xa ghê gớm và những hình khổ không thể tả, họ bị đâm chém và xẻ ra từng mảnh”. Bà thánh cho biết, họ là những kẻ giả đạo đức.

Xa hơn chút nữa, bà thánh thấy rất đông những linh hồn bị thương tích, bị đè dưới máy ép, bà thánh hiểu họ là những kẻ nghiện ngập, bất nhẫn, bất vâng phục khi còn sống. Một lúc sau, bà thánh lại kêu lên ghê sợ: Những kẻ dối trá bị giam phạt gần Hỏa ngục, hình khổ của họ là bị đổ chì lỏng vào miệng và đồng thời bị run rẩy bởi băng giá.

Bà cũng được dẫn đến ngục những linh hồn phạm tội bởi yếu đuối, nhưng họ cũng phải bị thiêu bằng thứ lửa gay gắt.

Bà lại được đi nữa, tới nơi phạt những linh hồn quá gắn bó với những của cải đời này, họ phạm tội hà tiện, keo kiết. Bà thánh kêu lên: Ôi, mù tối chừng nào! mong muốn tìm những của mau qua, họ đã được giầu có mà vẫn không thỏa lòng, bây giờ ở đây chịu khổ hình lên tới cổ họng, họ bị tan chảy như nến sáp trong lò lửa.

Bà lại tới chỗ những linh hồn phạm tội thiếu trong sạch. Bà thấy họ bị giam ở nơi dơ bẩn và dịch tả làm nôn mửa. Bà vội quay mặt khỏi nơi ghê tởm đó. Bà thấy những kẻ tham lam và kiêu căng, bà nói: Đây là những kẻ muốn sáng chói trước mặt người đời, bây giờ họ bị án sống nơi tối tăm ghê rợn. Bà còn được thấy những kẻ sống vô ơn Thiên Chúa, họ bị những hình khổ không thể tả, bị ngâm trong hồ chì lỏng để đền bù những tội vô ơn.

Cuối cùng, bà được dẫn tới nơi phạt những tội nhân không có nết xấu nào đáng kể, nhưng bởi thiếu lòng nhiệt thành, họ phạm đủ thứ tội lặt vặt, đôi khi họ phạm tội này tội nọ chứ không phạm theo thói quen.

Sau khi được chứng kiến Luyện ngục hãi hùng, thánh nữ nài xin Chúa đừng bao giờ để ngài phải chứng kiến lần nữa, những hãi hùng ngài nghĩ là không đủ sức chịu đựng. Ngài thưa cùng Chúa Giêsu: Lạy Chúa, Chúa có ý gì khi tỏ cho con những hình khổ ghê sợ trong Luyện ngục như vậy, dù con chưa thấy hết và chưa hiểu tỏ, ôi lạy Chúa, Chúa muốn con hiểu là Chúa thánh thiện vô cùng, và muốn con chê ghét tội lỗi dù là tội rất nhẹ, nó cũng rất đáng ghê tởm trước mặt Chúa (Purgatory p. 17-21).

* Thánh nữ Lidwina thành Schiedam qua đời ngày 11 tháng Tư năm  1433. Trong tiểu sử bà do một linh mục đồng thời có thế giá viết lại rằng: Bà thánh này thật là một quãng gương kiên nhìn và là một miếng mồi ngon cho mọi bệnh tật đau đớn tàn phá trong suốt 38 năm dài. Nỗi đau da diết làm cho bà không thể ngủ được. Bà đã qua đi những đêm dài thức trắng trong nguyện cầu. Bà được thiên thần Bản mạnh dẫn vào Luyện ngục, nơi đó bà thấy những ngục tù, những tội nhân, những hình khổ, và gặp cả những người bà đã quen biết.

Bà thánh nhớ rõ ràng những nơi được dẫn đi qua. Bà tả lại rằng: Bà gặp một tội nhân mắc đủ thứ tội xấu xa ở đời, nhưng sau cùng ông ta đã sám hối, đã xưng thú thành thực và được lãnh ơn xá giải, nhưng ông ta không có đủ giờ sống để đền tội, ông ta chết một thời gian sau bởi bệnh dịch. Bà thánh đã dâng lời cầu và các đau khổ chỉ cho linh hồn ông. Bà thánh muốn biết linh hồn ông còn ở Luyện ngục hay không, và tình trạng hiện nay thế nào? Thiên thần dẫn bà tới nơi và chỉ cho bà: Ông ta đang ở đó và rất đau đớn, Thiên thần hỏi bà có muốn chịu thêm đau khổ để cứu ông ta không? Bà thánh thưa : Có. Bà kinh hãi khi nhìn thấy những hình khổ và bà kêu lên: Đây là Hỏa ngục sao? Thiên thần trả lời
rằng: Không, đây là Luyện ngục nhưng ở phía trên Hỏa ngục. Nhìn quanh, bà thấy
như một nhà tù rộng rãi, bao bọc bằng những bức tường rất cao, rất đen, xây bằng những viên đá khổng lồ. Bà nghe thấy những tiếng kêu la, gào thét hỗn độn, tiếng xích sắt va chạm, tiếng đập đánh, tát vả. Tiếng kêu la này còn lớn hơn
những tiếng ồn ào trên thế giới, hơn tiếng reo hò xông vào trận địa, không gì có thể so sánh được. Bà thánh xin thiên thần đừng cho mình thấy cảnh tượng này: “Xin đừng để tôi thấy cảnh kinh hãi quá
sức này, tôi không thể chịu được”.

Đi tiếp, bà thấy một thiên thần ngồi buồn bã bên bờ giếng. Hỏi ra, bà được biết đó là thiên thần Bản mạnh của tội nhân trên. Linh hồn tội nhân đang ở dưới giếng, đó là một Luyện ngục biệt giam. Bà thánh muốn coi, và thiên thần đã mở nắp giếng lên, tức thì một đám lửa phực cháy và tiếng la kinh hãi vang lên rùng rợn. Thiên thần hỏi: Bà có nhận ra tiếng ai không? Bà có muốn thấy ông ta không? Thiên thần gọi tên ông, và kìa trong linh thiêng, ông ta ở trong khối lửa giống như kim loại đỏ rực trong lò. Ông ta kêu rên: Ôi bà
Lidwina, tôi tớ Thiên Chúa, ai sẽ cho tôi được chiêm ngắm Nhan thánh Chúa tối cao? Tiếng thở dài của linh hồn này làm bà thánh không sao quên được, bà kinh hãi đến nỗi giây thắt lưng bung ra và bà chợt tỉnh giấc ngất trí. Bà hứa sẽ cầu nguyện và dâng đau khổ cho linh hồn này. Ít ngày sau, thiên thần cho bà biết, người bà cầu nguyện đã được chuyển qua Luyện ngục thông thường. Như thế cũng chưa đủ. Bà thánh tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn đáng thương ấy cho tới khi  thấy linh hồn ông bay về Thiên đàng (Purgatory p. 21-25).

*Thánh nữ Brigitta kể lại trong cuốn thứ sáu về những mạc khải như sau: Tôi được đưa xuống Luyện ngục, và tôi thấy một thiếu nữ ở giữa những linh hồn khác. Thiếu nữ này trước kia là con nhà giầu, và thường ăn diện rất xa hoa theo thói đời. Thiếu nữ này đã kể lại tình trạng đời sống của mình cho thánh nữ Brigita nghe, và thêm rằng: “Phúc cho tôi, bởi trước khi chết, tôi đã được xưng tội dọn mình chết, tôi không phải rơi vào Hỏa ngục, nhưng tôi phải chịu cực hình trong Luyện ngục bởi cuộc sống trần tục mà Mẹ tôi đã không
chỉ cho tôi tránh, không chỉ dẫn cho tôi sống đạo hạnh”
(Purgatory p.
117-118).

* Thánh Lui Bertrand dòng thánh Đaminh kể rằng: Khi ngài ở tại Tu viện Valencia, có một tu sĩ trẻ trong tu viện này miệt mài với những khoa học trần thế. Tưởng mình thông thái, một hôm, không rõ bởi chuyện gì, tu sĩ này nói nặng cha Bertrand: “Thưa cha, ai cũng thấy rằng cha rất kém học thức”. Cha Bertrand trả lời cách khiêm tốn nhưng quả quyết: “Luciphe rất thông thái, nhưng hắn đã bị phạt”. Lời nói thiếu khiêm tốn và bác ái
kính trọng của tu sĩ trẻ người non dạ đã phải đền bù. Dù là tu sĩ rất đạo đức, thầy không nghĩ tới việc sám hối lời nói đó. Một thời gian sau, thầy bị bệnh rất nặng, thầy được lãnh các Bí tích cuối cùng, và qua đời bình an.

Ít lâu sau, cha Bertrand được bầu làm Bề trên tu viện. Một hôm, khi ngài đang đọc kinh Sáng với cộng đoàn, tu sĩ trẻ hiện về mình đầy lửa quấn quanh, sấp mình trước mặt cha Bề trên Bertrand: “Lạy cha, xin tha thứ cho lời con đã nói thiếu lịch sự với cha ngày trước, Chúa không cho phép con được thấy mặt Chúa trước khi được cha tha thứ và dâng lễ cầu cho con”. Cha Bề  trên vui lòng tha thứ, và sáng hôm sau đã dâng lễ cầu cho thầy. Đêm kế tiếp, khi đang cầu nguyện, ngài được thấy linh hồn thầy dòng trẻ tuổi rực sáng lên hưởng phúc Thiên đàng (Purgatory
p. 153-154).

Giáo hội luôn khuyến khích con cái mình khi còn sống, cứu giúp các linh hồn Luyện ngục, bởi khi đã phải vào nơi đó, các ngài không thể tự cứu mình được nữa, thời gian lập công đã chấm dứt.

Lm. Mark,CMC

nguồn: Anh chị Thụ & Mai gởi