Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (2)

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (2) Ảnh: Danlambao
Ảnh: Danlambao
12.02.2013
Về thể loại của Bên Thắng Cuộc, có hai khía cạnh cần chú ý: phương pháp nghiên cứu và cách trình bày.
Về phương pháp, Huy Đức thu thập tài liệu chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn, “hàng
ngàn cuộc phỏng vấn”, một phương pháp gắn liền với ngành khẩu sử (oral
history), một lối viết thịnh hành ở Tây phương từ khoảng cuối thập niên 1960,
và trở thành một ngành học ở các đại học Tây phương từ cuối thế kỷ 20. Khẩu sử
khác lịch sử. Khác, trước hết, ở nguồn tài liệu: với lịch sử, chủ yếu là các
văn bản viết; với khẩu sử, chủ yếu là các lời kể của những người trong cuộc
hoặc chứng nhân được thu thập qua các cuộc phỏng vấn. Khác nữa, ở đối tượng:
với lịch sử, đó là các tài liệu lịch sử, nói cách khác, lịch sử là lịch sử trên
lịch sử; với khẩu sử, đó là ký ức, hoặc ký ức cá nhân hoặc ký ức tập thể. Khác,
cuối cùng, còn ở tính chất, như là hệ quả của hai cái khác ở trên: trong khi
văn bản viết là những gì đã được công bố, nghĩa là, thứ nhất, thuộc về công
chúng; thứ hai, với những mức độ khác nhau, được xác minh, do đó, được xem là
ít nhiều đáng tin cậy; các lời kể trong các cuộc phỏng vấn, ngược lại, gắn liền
với từng cá nhân, xuất phát từ kinh nghiệm riêng, chúng có thể bị khúc xạ, bị
biến dạng, thậm chí, được “viết lại” theo những thay đổi trong tâm lý của người
kể. Nói cách khác, trong khi lịch sử là những gì đã được chọn lọc khá kỹ, khẩu
sử thường là những vật liệu thô; trong khi những người viết sử như những người
làm việc trong các tiệm kim hoàn, những người viết khẩu sử như những người làm
việc với vỉa quặng trong các hầm mỏ.
Tuy nhiên, về bản chất, lịch sử và khẩu sử giống nhau ở khá nhiều điểm. Thứ
nhất, chúng đều là những hình thức diễn ngôn về quá khứ (discourse about the
past) chứ không phải bản thân quá khứ. Quá khứ là những gì đã qua và đã biến
mất. Diễn ngôn về quá khứ là những tự sự được xây dựng để tái tạo lại quá khứ
ấy nhằm đáp ứng một nhu cầu trong hiện tại. Thứ hai, là diễn ngôn, cả lịch sử
lẫn khẩu sử đều có tính chất chủ quan, hoặc của một người hoặc của một nhóm
người. Thứ ba, do tính chất chủ quan ấy, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều luôn luôn
được viết lại. Mỗi thời đại hoặc mỗi thế hệ đều cảm thấy có nhu cầu tái cấu
trúc ký ức và diễn dịch lại quá khứ, do đó, bao giờ cũng tìm cách viết lại
những gì các thế hệ đi trước đã viết.
Về cách trình bày, Bên Thắng Cuộc có tính chất báo chí hơn là lịch sử.
Có hai điểm khác nhau căn bản giữa báo chí và lịch sử: Thứ nhất, trong khi lịch
sử nặng về phân tích, báo chỉ nặng về miêu tả; thứ hai, trong việc sử dụng tài
liệu, kể cả tư liệu lấy được từ các cuộc phỏng vấn, yêu cầu cao nhất đối với
lịch sử là mức độ khả tín, nghĩa là cần được đối chiếu và xác minh cẩn thận;
với báo chí, là tính chất tươi ròng của tài liệu; và vì tính chất tươi ròng ấy,
nhiều lúc chưa chắc chúng đã chính xác, hoặc nếu chính xác, chưa chắc đã có ý
nghĩa tiêu biểu đủ để phản ánh thực chất của vấn đề.
Nhìn Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm báo chí dựa trên phương pháp khẩu
sử, chúng ta dễ dàng chấp nhận một số khuyết điểm vốn rất dễ thấy trong cuốn
sách.
Thứ nhất, về phương diện cấu trúc, đặc biệt ở tập 2, “Quyền bính”; ở đó, thứ
nhất, quan hệ giữa các chương không theo một trật tự logic nào cả; thứ hai,
giữa các chương cũng không có sự cân đối cần thiết: có một số chương được viết
kỹ và nhiều chi tiết (ví dụ về Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) hơn hẳn các
chương khác (ví dụ về Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh). Lý do khá dễ hiểu: Huy
Đức không hoàn toàn làm chủ nguồn tư liệu của mình. Với những người anh tiếp
cận được dễ, anh viết sâu; với những người ở xa, anh viết cạn. Vậy thôi.
Thứ hai, về vấn đề tư liệu. Huy Đức phỏng vấn rất nhiều người, nhưng không phải
TẤT CẢ mọi người ở mọi phía; hơn nữa, anh chưa tiếp cận được những nguồn tài
liệu mật của Bộ Chính trị nên nhiều vấn đề vẫn khiến người đọc hoang mang.
Trong số đó, có hai vấn đề lớn nhất: Một, việc cuối năm 1967, Hồ Chí Minh
thường xuyên sang Trung Quốc dưỡng bệnh và Võ Nguyên Giáp thì được cử đi
Hungary. Nhiều người cho đó là một cách nghi binh nhằm che giấu ý đồ tổng tấn
công vào Tết Mậu Thân. Huy Đức, theo lời kể của một số người, cho hai người bị
đưa đi “an trí” để Lê Đức Thọ ra tay thâu tóm quyền lực. Cách giải thích như
vậy lại làm nảy sinh nhiều vấn đề khác: chẳng hạn, tại sao Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ lại tung ra cuộc đấu đá nội bộ ở vào một thời điểm quan trọng, lúc họ cần
đoàn kết và tập trung nhất cho một trận chiến quyết liệt như vậy? Hai, Huy Đức
cho giới lãnh đạo Việt Nam, trong những năm 1976 và 1977, không đánh giá đúng
mức sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam và từ đó, tầm vóc của cuộc chiến
tranh chống Việt Nam do Pol Pot phát động, và đầu năm 1979, hoàn toàn bất ngờ
trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (GP, tr.
76); tuy nhiên, trước đó, anh lại kể, từ cuối năm 1977, trong chuyến thăm Cần
Giờ, Lê Duẩn đã trả lời thắc mắc của một số đảng viên trong huyện ủy: “Các đồng
chí hỏi đúng vào một tình hình cả nước đang quan tâm. Chúng tôi đau đầu lắm,
ngủ không được. Không phải là vấn đề Khmer Đỏ mà là vấn đề ai ở đằng sau Khmer
Đỏ, đằng sau Pol Pot. Ta đã đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi,
nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi.” (GP, tr. 72-3) Biết thế mà vẫn “bất
ngờ” là sao?
Thứ ba, quan trọng nhất, nhiều chương chỉ có tính chất tự sự nhưng lại thiếu
hẳn tính chất phân tích, do đó, tuy hấp dẫn, chúng không giải thích được gì cả.
Ví dụ, trong tập “Giải phóng”, Huy Đức viết về Lê Duẩn khá dài, nhưng phần lớn
đều tập trung vào cuộc sống và tính cách của ông: Ông có hai vợ, một ở miền Bắc
và một ở miền Nam; lúc ở miền Nam, ông nổi tiếng về nhiệt tình và năng lực làm
việc không biết mệt mỏi, lúc ra miền Bắc, ông lại nổi tiếng là thích nói chuyện
lý thuyết, và khi nói chuyện, có thói quen hay ngắt lời người khác. Nhưng có
những điểm quan trọng nhất lại không được phân tích: Một, tại sao Hồ Chí Minh
lại tin cậy Lê Duẩn đến độ giao ngay cho ông chức Tổng Bí thư ngay sau khi ông
mới ra Hà Nội như vậy? Lúc ấy, chung quanh Hồ Chí Minh, ngoài Trường Chinh vốn
đã bị mang tiếng sau vụ cải cách ruộng đất, có rất nhiều tay chân thân thiết,
kể cả hai người được ông và nhiều người khác yêu mến: Võ Nguyên Giáp và Phạm
Văn Đồng? Hai, tại sao, từ miền Nam mới ra Bắc, hầu như hoàn toàn đơn độc, chỉ
trong vòng mấy năm, Lê Duẩn đã có thể thao túng toàn bộ guồng máy đảng Cộng
sản, lấn át quyền hành của tất cả mọi người, kể cả Hồ Chí Minh, như vậy? Ông sử
dụng các biện pháp gì để xây dựng vây cánh và quyền lực một cách nhanh chóng và
hiệu quả như vậy? Ba, tại sao một người nổi tiếng quyền biến và, đến lúc chết,
vẫn có uy tín rất lớn, không những ở miền Bắc mà còn trên cả thế giới, như Hồ
Chí Minh, lại đành nhẫn nhục chịu đựng cảnh bị Lê Duẩn tước đoạt quyền hành mà
không hề tìm cách kháng cự như vậy? Đó là những vấn đề giới nghiên cứu lịch sử
Việt Nam hiện đại không thể không đặt ra.
Những khuyết điểm trên có thể được chấp nhận hoặc bỏ qua nếu chúng ta đọc Bên
Thắng Cuộc
như một tác phẩm tường thuật về tình hình chính trị của một thời
đại. Mang tính báo chí, Bên Thắng Cuộc gần với khẩu sử hơn lịch sử. Tự
bản chất, khẩu sử là ký ức. Với ký ức, quan trọng nhất là câu chuyện chứ không
phải phân tích. Mà các câu chuyện trong Bên Thắng Cuộc thì không những
hấp dẫn mà còn đa dạng vô cùng. Tính chất đa dạng ấy làm cho bức tranh Huy Đức
mô tả trở thành đa diện. Nhìn từ góc độ ấy, chúng ta sẽ thấy có khi ngay cả
những chi tiết nhí nhắt nhất cũng có thể hữu ích. Ví dụ, lời tâm sự của bà
Nguyễn Thụy Nga (trong sách có lúc viết tên lót là Thụy, lúc lại viết là Thị),
người “vợ miền Nam” của Lê Duẩn, về chồng bà: “Trong tình yêu anh cũng như con
nít” (GP, tr. 117). Câu ấy, tự nó, không tiết lộ được điều gì cả. Thì có người
đàn ông nào, trong tình yêu, lại không giống con nít? Nhưng nó vẫn giúp người
đọc, khi nhìn lại Lê Duẩn, thấy ở ông, ngoài hình ảnh một nhà lãnh đạo cuồng
tín, thủ đoạn và độc đoán, còn có một khía cạnh khác: một con người. Những cách
nói năng kiểu “thằng này, thằng nọ” của Nguyễn Văn Linh, cũng vậy, đều tiết lộ
một cá tính. Đối với người bình thường, cá tính thường bị loại trừ từ góc độ
nghề nghiệp. Nhưng với các chính khách, đặc biệt khi chính khách ấy nắm giữ vai
trò lãnh đạo, cá tính lại được chú ý vì nó ảnh hưởng đến chính sách, từ đó, đến
đường lối chung, và cũng từ đó nữa, đến cả vận mệnh của đất nước.
Bên Thắng Cuộc hay, rất hay, nhưng cũng giống như mọi cuốn tường thuật
hay khẩu sử, nó là một cái gì dở dang. Nó là một khối quặng chưa được tinh chế.
Nó cung cấp cho người đọc cả hàng ngàn câu chuyện từ cả mấy trăm người kể khác
nhau để người đọc, hoặc các sử gia sau này, so sánh, diễn dịch, phân tích
và/hoặc tổng hợp lại để thành một bức tranh hoàn chỉnh hơn.
Ở trên (bài số 1), tôi có viết điều tôi thích nhất ở Bên Thắng Cuộc
tư liệu. Vậy điều kế tiếp? Đó là quan điểm. Một số người ở hải ngoại, chỉ nhìn
vào mấy dòng lý lịch trích ngang của Huy Đức, thấy anh đã từng là bộ đội, lại
là sĩ quan, đã lên tiếng phê phán và tố cáo anh, dù có khi chưa hề đọc trang
nào trong cuốn sách. Đó chỉ là một nhận định vội vã và đầy thành kiến. Trong
lời nói đầu tập “Giải phóng”, Huy Đức cho biết cuốn sách của anh là “công trình
của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật”. Dĩ nhiên, chúng ta biết, “sự thật” là
một khái niệm rất mơ hồ. Và tương đối. Nhưng cách hiểu về cái gọi là “sự thật”
ấy của Huy Đức, theo tôi, rất đơn giản nhưng chính xác: Chúng là những gì khác
hẳn với “những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền” ở
Việt Nam. Theo đuổi mục tiêu ấy, không thể nói lúc nào Huy Đức cũng thành công.
Đó là điều dễ hiểu. Ai cũng vậy thôi. Có điều tôi cho là đáng khen ngợi nhất ở
anh là anh có thiện chí và cố gắng.
Thiện chí và cố gắng ấy thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách: Bên Thắng Cuộc.
Tại sao không phải là “thắng trận” hay “chiến thắng” như hai cách nói khác
thông dụng hơn? Tôi nghĩ đó là một lựa chọn. “Thắng trận” chỉ thuần về quân sự.
Nhưng đề tài Huy Đức muốn trình bày không phải chỉ là quân sự. Còn “chiến
thắng”? Trong chữ “chiến thắng”, ngoài ý nghĩa “thắng”, còn có hai nét nghĩa
phụ khác, đi kèm, đến từ chữ “chiến”: chính nghĩa và vinh quang. Không ai dùng
chữ “chiến thắng” để nói về kẻ đi đánh lén người khác, chẳng hạn. Chữ “thắng
cuộc” hoàn toàn không có những hàm ý như thế. Đánh bài: thắng cuộc. Cá cược:
thắng cuộc. Dùng chữ “bên thắng cuộc”, Huy Đức, một mặt, tước bỏ các huyền
thoại chung quanh từ “chiến thắng” vốn thường được sử dụng, mặt khác, xem chiến
tranh, tự bản chất, như một ván bài về quyền lực. Vậy thôi. Trong ván bài, việc
thắng thua tuỳ thuộc may rủi chứ không dính dáng gì đến chuyện chính nghĩa hay
không chính nghĩa.
Trong tập “Quyền bính”, ở chương “XVII: Tam quyền không phân lập”, khi nói về
những sự thay đổi Hiến pháp ở Việt Nam, Huy Đức viết: “Hiến pháp 1992, vì thế,
đã không tiếp cận được những mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho
Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền.” (QB. 90) Xin lưu ý: chữ “tiến bộ” đằng
sau chữ “nhà nước” và đằng trước cụm từ “nhà nước pháp quyền” ở câu trên hoàn
toàn trái ngược với cách hiểu về chữ “tiến bộ” mà giới truyền thông Việt Nam
thường sử dụng.
Trong giới lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng Huy Đức tỏ ra ưu ái đặc biệt với hai
người: Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt. Nhưng ngay cả như vậy, ở cả hai, Huy Đức
đều nhận thấy những khuyết điểm căn bản của họ: trung thành một cách dại dột.
Phê bình như thế, Huy Đức thấy được một vấn đề thuộc về bản chất của chế độ.
Bản chất được anh viết trong lời nói đầu tập “Quyền bính”: “Hệ thống chính trị,
trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả năng khắc phục sai lầm.”
Nhưng nếu nó không có khả năng tự khắc phục sai lầm thì sao? Ai sẽ đảm nhận
trách nhiệm ấy? Câu trả lời nằm trong những điều Huy Đức chưa nói hết: Có thể
là bất cứ ai, nhưng chắc chắn là không phải từ “hệ thống”.
Đó chính là lý do chính khiến báo chí trong nước xúm vào đánh cuốn Bên Thắng
Cuộc
.
Dĩ nhiên, Bên Thắng Cuộc không tránh khỏi khuyết điểm. Chả có cuốn sách
nào không có khuyết điểm cả. Vấn đề chỉ là nhiều hay ít. Ở cuốn Bên Thắng
Cuộc
, theo tôi: Ít. Điều thú vị là, hầu hết các sai lầm của anh đều liên
quan đến văn học. Trong chương “XI: Campuchia” của tập “Giải phóng”, anh nhận
định: “Cảnh giác với người Trung Hoa là điều đã có từ trong máu người Việt Nam.
Nhưng, trong lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với ‘thiên triều’, chưa có
triều đại nào lại công khai xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù truyền kiếp và lâu
dài’ trong các văn kiện chính thức như thời Tổng bí thư Lê Duẩn.” (GP, tr. 160).
Sai. Huy Đức quên trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi có câu
này: “Kẻ thế thù đâu thể đội trời chung”  (Niệm thế thù khởi khả cộng đái
/ 念 世讎 豈 可 共 戴).
Thế thù: Kẻ thù truyền kiếp. Trong “chương XII: Cởi trói” của cuốn “Quyền
bính”, nhân nhắc đến các dấu mốc lớn trong  lịch sử báo chí Việt Nam, anh
viết : “Thơ Mới, cuối thập niên 1930” (QB, tr. 11).  Sai. Thời điểm ra đời
của Thơ Mới là đầu chứ không phải cuối thập niên 1930. Trong vòng chưa tới 10
năm, Thơ Mới đã đi hết một chặng đường. Cũng trong chương ấy, anh trích bài
“Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật như sau: “Khói bom lên trời thành những vòng
đen / Và dưới mặt đất sinh ra bao vòng trắng / Tôi với bạn đi trong im lặng /
Khăn tang trên đầu như một số không” (QB, tr. 18). Sai nhiều chỗ. Nguyên văn
bài thơ ấy là:
Khói bom lên trời thành một cái vòng đen

Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.
Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Ngay cả mấy câu thơ của Nguyễn Duy được trích làm đề từ cho cuốn sách cũng sai:
Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh
Bên nào thắng thì nhân dân đều bại.
Nguyên văn của Nguyễn Duy như sau:
Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát

đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi

xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!

Nghĩ cho cùng

Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(In trong tập Quà tặng, nxb Văn Học, 1990, tr. 78)
“Nghĩ” khác với “suy”, “mọi” khác với “mỗi”, và “phe” khác với “bên”.
Cũng như “bên thắng cuộc” khác với “bên chiến thắng”.
Một điều cuối cùng: Không ít người cho chọn cách tiếp cận từ phía những người
thắng cuộc như Huy Đức là một chọn lựa đầy thiên vị, từ đó, bức tranh anh muốn
phác họa sẽ bị lệch lạc theo. Theo tôi, không đúng. Thứ nhất, trong mọi lịch
sử, những người “thắng cuộc” – xưa là vua chúa, sau này, giới cầm quyền – bao
giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, cần được nghiên cứu nhất, bởi chính họ, một
cách tích cực hay tiêu cực, quyết định diện mạo của một thời đại và số phận của
một dân tộc. Thứ hai, vấn đề không phải lệch lạc hay không. Vấn đề chỉ là ở mức
độ. Không có một cuốn sách nào, kể cả lịch sử, chính xác hoàn toàn. Thậm chí,
các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa còn hoài nghi cái gọi là lịch sử nói chung: Họ
xem lịch sử như một biểu hiện của đại tự sự (grand narrative), một tham vọng
đạt đến cái nhìn bao quát toàn bộ sự thật và thực tại: Với họ, đó là điều bất
khả. Hơn nữa, họ xem lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một quan điểm và một góc
nhìn nhất định: lịch sử (history) là chuyện của ông-ấy, của một gã nào đó
(his-story). Chứ không có một lịch sử chung nhất cho mọi người.
Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác,
không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những
tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản
đối.
***
Kỳ tới: Chân dung “bên thắng cuộc”
Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition”
của  Bên Thắng Cuộc.

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (1)

Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (1)

Nguyễn Hưng Quốc

11.02.2013

nguồn: VOA

Tôi có cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Đức đã khá lâu nhưng mấy ngày vừa rồi mới có thì giờ để đọc. Ấn tượng chung: Thích.

Thích nhất là về tư liệu. Đã có nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết
về Việt Nam sau năm 1975 nhưng có lẽ chưa có cuốn sách nào bao quát nhiều khía
cạnh và dồi dào tư liệu đến như vậy. Các cuốn sách khác, cho đến nay, dưới hình
thức hồi ký hay biên khảo, thường chỉ tập trung vào một lãnh vực và từ một góc
độ cụ thể nào đó. Bên Thắng Cuộc, ngược lại, hầu như đề cập đến mọi góc
cạnh lớn, từ quân sự đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, từ tổ chức
chính quyền tại Sài Gòn sau năm 1975 đến các chiến dịch đánh tư sản, các trại
cải tạo, phong trào vượt biên, các nỗ lực “xé rào” về kinh tế, chính sách đổi
mới, chiến tranh với Campuchia cũng như với Trung Quốc và các cuộc tranh giành
quyền lực trong nội bộ đảng Cộng sản. Ở từng vấn đề, Huy Đức đều nêu lên thật
nhiều chi tiết. Các chi tiết ấy thuộc hai loại chính: Một, lời kể của các chứng
nhân được thu lượm qua các cuộc phỏng vấn hoặc qua các hồi ký – đã hoặc chưa
xuất bản – của họ; và hai, các tài liệu đã được công bố đây đó, bằng tiếng Việt
cũng như bằng tiếng Anh. Nguồn tài liệu thứ nhất được Huy Đức thực hiện với tư
cách một nhà báo; nguồn thứ hai, với tư cách một nhà nghiên cứu. Tôi cho sự kết
hợp giữa hai tư cách này là mặt mạnh nhất của Huy Đức đồng thời cũng là ưu điểm
chính của cuốn Bên Thắng Cuộc: Thường, các nhà báo Việt Nam chỉ “tác
nghiệp” theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, dựa trên những gì mình nghe kể hoặc
quan sát được; còn các nhà nghiên cứu thì lại thiếu thực tế, do đó, hoặc chỉ
xào nấu từ các cuốn sách khác hoặc phải sa vào tư biện, tệ hại hơn nữa là tư
biện kiểu Việt Nam: cứ lải nhải những luận điệu rặt mùi tuyên truyền, tức những
luận điệu ai cũng biết, hơn nữa, biết là sai.

Trong Bên Thắng Cuộc, nguồn tài liệu từ sách vở chỉ có tính chất bổ
sung, chủ yếu để cung cấp số liệu và mở rộng kích thước lịch sử, từ đó, tăng
tính thuyết phục cho những vấn đề được đề cập. Ví dụ, nói về cuộc họp mặt với
khoảng 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội của Nguyễn Văn Linh vào ngày 6 và 7
tháng 10 năm 1987, Huy Đức quay trở lại với thời Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc xa
hơn nữa, thời Trường Chinh viết “Đề cương văn hóa” năm 1943, thậm chí, một
chút, về lịch sử báo chí Việt Nam trước đó. Nói về kinh tế thị trường (lần đầu
tiên được đưa vào các văn kiện Đảng là năm 1991), anh quay trở lại vấn đề “lược
sử kinh tế tư nhân” ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đặc biệt, đầu thế kỷ 20, dưới
thời Pháp thuộc. Nói về các chính sách đối với người Hoa vào những năm 1978-79,
anh quay lại quan hệ giữa Việt Nam (chủ yếu là miền Bắc) với Trung Quốc trong
Hiệp định Geneve năm 1954 cũng như trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc thời
1954-75, bao gồm cả chuyện Hoàng Sa năm 1974, v.v.. Những tài liệu này, thật
ra, không mới, nhưng chúng được trình bày một cách gọn ghẽ, sáng sủa và mạch
lạc, làm cho vấn đề có thêm bề dày của lịch sử.

Nhưng mặt mạnh nhất của Huy Đức là ở tư cách nhà báo. Không những chỉ là người
làm báo lâu năm, anh còn có ba đặc điểm mà không phải nhà báo kỳ cựu nào cũng
có: Một, quan hệ rộng; hai, có tầm nhìn dài; và, ba, có cách làm việc khoa học.

Tôi gặp Huy Đức một lần ở Hà Nội, hình như là vào cuối năm 2002 hay đầu năm
2005 gì đó. Buổi sáng, tôi đang ngồi uống cà phê với nhà thơ Phan Huyền Thư và
nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên thì anh và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đến nhập bọn. Phạm Xuân Nguyên giới thiệu Huy Đức với tôi: “nhà báo, đang làm ở tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn”. Lúc ấy, Huy Đức chưa có Osin blog, chưa có các bài bình
luận chính trị được phổ biến rộng rãi trên internet, cho nên, thú thật, tôi
không hề biết anh, kể cả cái tên. Mà Huy Đức cũng rất ít nói. Hôm ấy, anh chỉ
ngồi nghe bọn tôi nói hươu nói vượn về chuyện văn chương và cười. Đến lúc Phạm
Xuân Nguyên đọc một số bài ca dao mới chế giễu giới lãnh đạo Việt Nam, trong
đó, có cả Hồ Chí Minh, cả bọn cười ngất, riêng Huy Đức thì lôi trong túi ra một
cuốn sổ tay nhỏ và đề nghị Nguyên đọc lại, chầm chậm, cho anh chép. Sau đó,
trong suốt buổi nói chuyện, cứ hễ bắt gặp một câu gì hay hay, một chi tiết gì
thú vị, anh lại lôi sổ tay ra chép. Cung cách làm việc của anh khiến tôi để ý.
Và nhớ mãi.

Nhiều người trong giới nhà báo có ưu điểm là biết rộng nhưng phần lớn lại mắc
phải khuyết điểm là sa đà trong các sự kiện có tính chất giai thoại vụn vặt,
cuối cùng, chỉ viết được những bài báo ngăn ngắn, đầy tính thời sự, để được đọc
ngày hôm trước và bị quên lãng ngay vào ngày hôm sau. Huy Đức, khi theo dõi và
ghi chép các tin tức hằng ngày, đã có tham vọng sử dụng cho một bức tranh toàn
cảnh về sinh hoạt chính trị Việt Nam thời anh đang sống. Cuốn Bên Thắng Cuộc,
gồm hai tập, “Giải phóng” và “Quyền bính”, như anh tiết lộ trong lời nói đầu,
được hình thành trong 20 năm, chính là kết quả của tham vọng ấy.

Không phải nhà báo nào cũng có quen biết nhiều, đặc biệt trong giới lãnh đạo,
như Huy Đức. Ở Việt Nam, để có được những quan hệ rộng rãi như thế, không những
cần có tính cách thích hợp (quảng giao) mà còn có cả yếu tố “nhân thân” nữa:
Sinh trưởng ở miền Bắc, vốn là sĩ quan, từng làm việc ở Campuchia với tư cách
chuyên gia quân sự trong hơn ba năm trước khi về làm báo, anh có đủ điều kiện
để được tin cậy. Chính vì thế, anh được báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm tường
thuật các kỳ họp Quốc Hội, ở đó, anh có thể, ở “những thời điểm nóng bỏng
nhất”, “vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan
Văn Khải” hoặc “đến nhà riêng, văn phòng làm việc của Tổng bí thư Đỗ Mười, Tổng
bí thư Lê Khả Phiêu… phỏng vấn”.  Trong “Mấy lời của tác giả”, anh cho
biết anh đã tiến hành “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”; và theo “Lời cám ơn”, chúng
ta được biết, trong số những người được anh phỏng vấn, ngoài các tên tuổi nêu
trên, còn có Chủ tịch Nước Lê Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh,
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội
Lê Quang Đạo, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, v.v.. Cả trăm người. Toàn những người lãnh đạo ở bậc cao nhất trong nước. Ngoài ra, anh còn phỏng vấn vợ họ, con họ và các
thư ký riêng của họ nữa.

Chắc chắn không có một nhà báo hay nhà biên khảo nào ở hải ngoại, kể cả người
ngoại quốc – vốn vừa ít bị nghi ngờ vừa được các trung tâm nghiên cứu lớn tài
trợ để có thể bỏ ra năm bảy năm thu thập tài liệu cho một cuốn sách – có thể
tiếp cận được đến chừng ấy người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Ở trong nước,
làm được điều ấy, cũng không phải dễ. Nhìn từ góc độ xuất bản, có lẽ Huy Đức là
người đầu tiên. Điều này trở thành một thế mạnh đầu tiên của cuốn sách: Đó là
chuyện kể từ những người trong cuộc của “bên thắng cuộc”. Tính chất “trong
cuộc” ấy đã tạo nên những đặc trưng về thể loại và thẩm mỹ của cuốn sách.

Trong cái gọi là đặc trưng thẩm mỹ ấy, tôi chỉ xin tập trung vào một điểm: sự
hấp dẫn.

Phải nói ngay: hiếm có cuốn sách về chính trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng
Cuộc
. Điều đó có thể thấy qua những tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa
qua. Lâu lắm rồi, giới cầm bút Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc
gây ồn. Hầu hết sách báo được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc
biệt ở hải ngoại, đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay hay dở. Mà
chủ yếu ở tâm lý quần chúng: dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc, ngược lại,
ngay từ lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ bênh người chống,
bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn đàn, từ trên giấy đến
trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người chưa đọc cuốn sách, hoặc có
khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng quan tâm, thậm chí, như ở California,
xuống đường biểu tình đòi… đốt sách!

Bên Thắng Cuộc hấp dẫn thật. Đọc, chúng ta biết được rất nhiều
chuyện, từ những chuyện lớn liên quan đến chính sách đến những chuyện nhỏ, có
khi nhí nhách nữa, liên quan đến đời sống hàng ngày của một số người. Lớn, ví
dụ, những toan tính đằng sau các chính sách hay chiến dịch có ảnh hưởng đến
sinh mệnh cả hàng chục triệu người; những thay đổi trong tính cách của Lê Duẩn:
từ một cán bộ hay hy sinh cho người khác đến một lãnh tụ chuyên quyền và độc
đoán; trong thái độ của Trường Chinh: từ một người giáo điều và bảo thủ đến một
người đi đầu trong phong trào đổi mới; trong chủ trương của Nguyễn Văn Linh: từ
một người đổi mới đến một người phản-đối-mới. Cũng có thể xem là lớn mối quan
hệ giữa các lãnh tụ với nhau, như giữa Lê Duẩn với Hồ Chí Minh, Trường Chinh,
Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ; giữa Nguyễn Văn Linh với Võ Văn Kiệt, những chi
tiết liên quan đến cái chết của Đại tướng Lê Trọng Tấn vào tháng 12 năm 1986
vốn, theo lời Huy Đức, bị “lịch sử phi chính thống […] xếp vào hàng nghi án”
(“Giải phóng”- GP, tr. 151)… Còn nhỏ thì nhiều hơn, có khi lôi cuốn người đọc
hơn, chẳng hạn, chuyện vào ngày 30/4/1975, trong Dinh Độc Lập không hề có chiếc
máy ghi âm nào để thu lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh (GP, tr. 23);
chuyện các sĩ quan Bắc Việt đầu tiên vào chiếm Dinh không dám bước vào thang
máy vì thấy nó giống cái… hòm và họ sợ bị nhốt luôn trong đó (GP, tr. 22);
chuyện khuya ngày 5/7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bị mệt, được đưa vào

bệnh viện Quân y 108 để cấp cứu, nhưng vừa đến nơi thì ông “phát ra một tiếng
kêu ‘ặc’ rồi mặt và toàn thân tím ngắt”; mấy tiếng đồng hô sau, ông mất…
(“Quyền bính” – QB, tr. 64) Có một số chuyện không biết là lớn hay nhỏ, như
chuyện khi Hiệp định Geneva được ký kết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn
Bắc Việt, không hề biết sông Bến Hải nằm ở đâu (vì tất cả đều đã được Trung
Quốc quyết định giùm!) (GP, tr. 52); chuyện Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước, vốn
là thợ cơ khí, nhiều lúc rảnh và buồn quá, lật “chiếc xe đạp của ông ra sửa để
giết thời gian” (GP, tr. 120); chuyện Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng,
biết trước vụ tổng tấn công hồi Tết Mậu thân chỉ có một ngày (QB, tr. 67);
chuyện khi đón tiếp Tổng thổng Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam năm
2000, “Bộ Chính trị đã thống nhất là không được cười” (QB, tr. 137), v.v..

Nhiều chuyện có thể đã được người này người nọ kể đâu đó rồi. Nhưng theo chỗ
tôi biết, chưa có nơi nào các chuyện thuộc loại ấy được tập trung với mật độ
dày đặc như trong cuốn Bên Thắng Cuộc. Trang nào cũng đầy ắp chi tiết.
Có những chi tiết không dễ gì tìm được ở những nơi khác, ví dụ: Ở Sài Gòn,
trước tháng 4/1975, có bao nhiêu đảng viên Cộng sản nằm vùng? – 735 người! (GP,
tr. 27) Cũng ở Sài Gòn, sau tháng 4/1975, có bao nhiêu người ra trình diện để
“được đi học tập cải tạo”? – Có 443.360 người, trong đó, có 28 tướng, 362 đại
tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát,
1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền,
và 9.306 người trong các đảng phái bị xem là “phản động’ (GP, tr. 29),
v.v..(Còn tiếp)

***

Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition” của
Bên Thắng Cuộc.

 

Ý Nghĩa Ngày Lễ Tình Yêu

Ý Nghĩa Ngày Lễ Tình Yêu
Bút Xuân Trần Đình Ngọc
Photobucket
Ngày lễ Tình Yêu (Valentine’s Day) mỗi năm 14-2 rồi cũng trôi qua như mọi ngày khác nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng trong trí não của nhiều người.
Trước hết, Ngày Tình Yêu theo nghĩa  rộng không hoàn toàn chỉ dành cho tình yêu trai gái, nam nữ, chồng vợ, tình nhân mà Ngày Tình Yêu là chung cho mọi sinh vật đang sống trên địa cầu, người cũng như thú vật, chim muông. Chính vì ý nghĩa đó nên có nhiều đài truyền hình trên khắp thế giới, người ta đưa lên màn ảnh trong ngày này những hình ảnh của các thú vật và chim muông. Người ta gọi là:”the glamour of the animals”, sức quyến rũ của thú vật hay tình yêu của thú vật.
Từ trên đi xuống, nếu bạn không phải là người vô thần thì trước hết, trong Ngày Tình Yêu, bạn hãy đặt thêm một chút tình yêu vào tay Thượng Đế, đấng cai quản muôn loài, toàn vũ trụ.
Sau đó, nói chung, bạn hãy “Phiếm ái chúng”, yêu tất cả mọi người, hoặc ít hơn, tử tế với mọi người.
Ngày Tình Yêu cũng nhắc bạn yêu Dân  tộc, giống nòi của bạn. Chắc chắn nếu không có vua Lạc long Quân và Hoàng hậu Âu Cơ thì không có bạn, không có tôi. Lại nữa, những vị đó và hàng vạn, hàng triệu vị khác, trong đó có tổ tiên, cụ kị, ông bà, cha mẹ bạn và tôi đã dày công vun đắp nên cái mảnh giang sơn gấm vóc, cái miếng đất nhỏ bé tươi đẹp làm tổ ấm cho bạn, cho tôi, cho tất cả chúng ta khi mới chào đời. Sau đó lại nuôi sống, chăm sóc để chúng ta trưởng thành và có ngày nay.
Rồi cha mẹ, chú bác, cô dì cậu mợ, anh chị em bạn và tôi, tất cả đều đã góp phần vào việc đào tạo con người tôi, con người bạn, ngay các thầy cô dạy học, các bạn bè cùng lớp, họ cũng đã góp phần, nhiều hoặc ít, hoặc ảnh hưởng đến con người của tôi và của bạn.
Lấy một thí dụ nhỏ: bạn giở ra đọc  một tạp chí, một tờ báo giấy hay báo điện tử, (loại báo lành mạnh và bổ ích) bạn đọc nhiều bài của nhiều tác giả viết trên đó. Có thể bạn chẳng để ý đến cái sức làm việc của những tác giả này và Tòa Soạn. Rất nhiều, nếu không phải là tất cả, các tác giả đã thức khuya dậy sớm, hi sinh giờ nghỉ ngơi để đọc, sưu tầm tư liệu, chiêm nghiệm rồi viết ra thành bài cống hiến cho bạn.
Có tác giả nhờ người đánh máy giúp nhưng đa phần các tác giả thời nay tự gõ lấy keyboard, viết xong, đọc lại, sửa chữa, lại đọc lại cho đến khi ưng ý rồi mới gửi bài đi cho Tòa Soạn. Với báo Việt Nam, rất ít có nhuận bút. Nhân viên tòa soạn nhận được, phải phân loại, sắp xếp, ấn định ngày đăng, có khi lại phải viết lời giới thiệu, có nhiều tác giả viết sai chính tả lại phải dò lại, sửa chữa giùm. Biết bao công việc, biết
bao người làm để có một trang báo. Ấy là chưa kể tiền bạc phải bỏ ra cho trang
mạng, dụng cụ hao mòn phải mua, giấy mực phải dùng, rồi máy móc hư hỏng phải
sửa chữa, phải chi tiền bạc. Trang báo đang hiện ra dưới mắt bạn là thành quả
của biết bao lao tâm khổ tứ, biết bao nhẫn nhục, chịu đựng chỉ vì những người
làm ra nó yêu Nghệ thuật và yêu bạn mà gửi tới cho bạn. Họ sẽ chẳng mong bạn
đền đáp nhưng họ nghĩ, một khi bạn đọc được tâm tư của họ (tác giả) bạn sẽ rút
ra được điều gì đó có ích lợi cho chính bạn hoặc cho cả những người xung quanh,
mạnh mẽ hơn, cho nhân quần xã hội.
Vậy Ngày Tình Yêu không chỉ dành cho vợ chồng, bồ bịch, người yêu mà cho hết mọi người, mọi vật từ con chó, con mèo trong nhà cho đến ông bà, cha mẹ, các bậc trưởng thượng…
Ngày Tình Yêu như thế không bị chúng ta giới hạn vào những quan hệ chật hẹp tầm thường mà chúng ta hướng lòng chúng ta tới những gì là cao đẹp, là Hiếu, Trung, Chân, Thiện, Mỹ.
Chúng ta cũng không nên quên tình yêu đối với thiên nhiên, cỏ cây, rừng xanh, núi đỏ, biển rộng sông dài, thứ tình yêu này bất diệt vì luôn luôn nó mang lại cho chúng ta những ích lợi vô  giá về thần trí cũng như thể lực, một niềm yên ủi vô tận và quảng đại hơn bất cứ tình yêu nào. Tình yêu đối với thiên nhiên, môi trường giúp ta trân trọng trái đất này làm nơi sống cho hàng triệu, tỉ người trong đó có ta và gia đình
ta. Bạn có buồn không khi nơi bạn ở bị xếp chót hay gần chót bảng các quốc gia
bị ô nhiễm không khí và nước, đường xá đầy rác rưởi, phế liệu, xác thú vật chết
và cả thai nhi, băng bông gạc từ bệnh viện, nước thải từ các nhà máy ầm ĩ chạy
suốt ngày đêm không có một phút cho bạn ngơi nghỉ? Bạn có buồn không khi giao
thông mỗi ngày làm chết hàng trăm nạn nhân, què cụt hàng trăm khác cũng như các
bệnh dịch thay nhau xuất hiện trong các thực phẩm, thứ tối cần thiết để nuôi
sống con người? Cuộc sống không phải là người này đầu độc người kia để hưởng
lợi, dù là đầu độc bằng tinh thần hay vật chất. Bạn nói những điều sai trái với
những đứa trẻ lớp Mẫu giáo, thí dụ, chính là bạn đã đầu độc chúng đấy và cái
hại thì ghê gớm lắm bạn ạ!
Tôi thường nghĩ chúng ta hết thảy đều mang một món nợ đối với xã hội (xã hội đây bao gồm cả những người thân của ta). Người, ta nợ ít; kẻ, ta nợ nhiều.
Thí dụ: Tôi đã nợ cụ Nguyễn Du những bài thơ hay những đoạn thơ hay trong Truyện Thúy Kiều để ngâm nga những lúc vui, buồn, giải khuây.
Tôi đã nợ Tự lực Văn đoàn một ít bút pháp viết truyện để viết hầu bạn đọc những câu chuyện dí dỏm, dễ thương, bổ ích.
Những định đề Toán học, tôi đã dùng để giải những bài toán Hình học, tôi mắc nợ Toán học gia Euclid (và có thể nhiều Toán học gia khác). Ông Euclid người Hi Lạp, sinh 300 năm trước công nguyên. Những phương trình Đại số, Lượng giác, ngay cả những cái nhỏ nhoi, giản dị như phân số và cách áp dụng những phương trình hoặc giả thiết này để tìm ra đáp số những bài toán dễ hoặc khó…tất cả, tất tất cả tôi đều đã được vay mượn, có nghĩa tôi đã mang nợ.
Món nợ ấy, các bạn trẻ ạ, không bao giờ chúng ta có thể trả xong! Chỉ còn một cách, hãy làm đúng thiên chức của ta và hết lòng dạy dỗ lại các thế hệ đàn em, về đức trí thể dục, những điều đúng, chân chính, mới có thể trả bớt phần nào món nợ chồng chất.
Hồi còn nhỏ, sáu, bảy tuổi, mới khoảng lớp Hai gì đó, tôi nhớ ông thầy cho học một bài trong Luân Lý Giáo Khoa Thư lớp Dự bị (cours Préparatoire), có câu:
“Nếu không có người cày bừa, làm ruộng, anh không có gạo mà ăn. Nếu không có ông thợ mộc, anh không có nhà mà ở. Nếu không có người dệt vải và may vá, anh không có áo mà mặc. Nếu không có thầy dạy dỗ, trí óc anh hoàn toàn không được khai phá.”
Vậy chúng ta phải biết ơn tất cả mọi người làm mọi nghề trong xã hội. Hồi đó kĩ thuật và nếp sống của con người trong xã hội còn thô sơ, số người ta phải nhớ ơn còn ít. (thí dụ, chưa có ai phát minh ra thuốc trụ sinh Penicilline). Như bây giờ, với nếp sống văn minh đầy đủ tiện nghi, lại càng có nhiều người ta phải nhớ ơn vì chính họ đã mang
lại cho chúng ta rất nhiều an toàn, bổ ích, thoải mái và nhẹ nhàng của cuộc sống.
Ngày Tình Yêu chính là ngày tung lưới tình yêu của ta trải ra muôn phương, đến với muôn người, muôn vật, hàm một ý nghĩa sâu sắc nhớ ơn những gì ta đã và đang được hưởng vậy.
Mời quý bạn đọc bài thơ ngẫu hứng, người viết làm vội sau đây:
Nhớ Ơn
4a4338ca_3cf203f8_cda8dbd97a5c4daedfaeffbwo8

Tôi nhớ ơn tổ tiên tôi gầy dựng
Quên sao được những thầy giáo của tôi
Ơn mẹ cha từ thuở mới nằm nôi
Bà nội, ngoại chăm bẵm tôi từng chút
Tôi nhớ ơn em thầy tôi, cô Út
Đón đưa tôi ngày hai buổi đến trường
Bác nông phu phải giãi gió dầm sương
Tôi có gạo no cơm ngày hai bữa
Nhớ áo quần tôi mặc và sửa chữa
Bác thợ già vẫn chăm chỉ ngồi may
Ông thợ mộc nhà cửa vẫn ra tay
Nhờ ngư phủ tôi có nhiều tôm cá
Tôi ơn hết mọi người trong làng xã
Anh thợ gặt, cô thợ cấy, nhà buôn
Nhờ thầy lang tôi mạnh giỏi luôn luôn
Tôi ghi nhớ không bao giờ quên được!
Đến phiên tôi phải trả ơn người trước
Cho học trò những kỹ thuật tinh vi
Tôi học được từ lý thuyết tân kỳ
Đem áp dụng làm đẹp đời sống mới!
Làm đẹp đời và biết ơn mọi giới!
Mới là người của xã hội văn minh
Đối xử với nhau bằng những thâm tình
Hết sức ta, mọi ngày, trong đời sống!
Biết ơn là những gì ta bảo trọng!!
Ngày Valentine hàng năm
Bút Xuân Trần Đình Ngọc

ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ VỀ VIỆC ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI TỪ CHỨC

ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ VỀ VIỆC ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC XVI TỪ  CHỨC

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

nguồn:conggiaovietnam.net

Tin Đức Thánh Cha Benedict 16 đột nhiên tuyên bố từ chức sáng thứ hai 11-2 vừa qua đã làm chấn động thế giới và kinh hoàng mọi người trong toàn Giáo Hội Công Giáo.

Thật vậy, đây quả là biến cố trọng đại nhất trong Giáo Hội từ 600 năm qua sau ngày  cố Đức Giáo Hoàng Gregorio 12 tự ý thoái vị năm 1415 để giúp  chấm dứt tình trạng Đại ly giáo phương Tây ( Great Western Schism) xảy ra trong Giáo Hội từ năm 1378 và dọn đường cho Đức Giáo Hoàng Martin V lên cai trị Giáo Hội

Trong lịch sử Giáo Hội thì đã có 3  lần các Đức Giáo Hoàng tự ý thoái vị hay từ chức như sau:.

1-    Đầu tiên là Thánh Giáo Hoàng Pontian lên ngôi ngày 21-7-230 ( 230-235 ) Ngài   từ chức trong đợt Hoàng đế Maximinus Thrax bách hại các Kitô hữu và  các thủ
lãnh Giáo hội năm 235. Ngài bị  lưu đầy qua Sardinia cùng với Hippolitus
và ở đây,  Ngài tuyên bố thoái vị ngày 26-9-235 và được phúc tử Đạo cùng
với Hippolitus. Sau đó Ngài được phong hiển thánh với ngày lễ kinh là 19 tháng
11 hàng năm.

2-    Kế đến là Đức Thánh Cha Celestine V, một tu sĩ Biển Đức,  lên ngôi Giáo Hoàng ngày  tháng 7 năm 1294 ở tuổi 84. .Nhưng đến ngày 13  tháng 12 năm đó,
ngài xin từ chức vì không am hiểu nhiệm vụ được trao phó, và không muốn bị chi
phối bởi  Vua Charles V của lãnh địa Naples muốn khuynh đảo Giáo Hội. Ngài
mất năm 1296 và được phong thánh năm 1313 tại Avignon ( Pháp Quốc) nơi Tòa
Thánh còn đóng đô ở đây.

3-    Tiếp theo là Đức Giáo Hoàng Gregory XII lên kế vị Giáo Hoàng Innocent VII ngày 30-11-1406  với hy vọng chấm dứt cuộc Đại ly giáo  Tây phương  đã kéo dài từ năm 1378 mà  hậu quả là có hai Giáo Hoàng  nữa là Alexander V và Gioan XXIII cũng tranh Tòa Phêrô với ngài.

Để chấp dứt tình trạng này và cũng để chữa vết thương ly giáo,  ĐứcGiáo Hoàng  Gregory XII. đã xin thoái vị ngày 4-7-1414, dọn đường cho  Công Đồng Constance đang họp để truất phế ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII ( ngụy Giáo Hoàng  Alexander V đã chết cách  bí ẩn ngày 3-5-1410 sau 10 tháng tại chức) và  bầu Đức  Martin V lên làm Giáo Hoàng  thống nhất của Giáo Hội. Đức Gregory XII  qua đời ngày 18-19-1417.Vì Joan XXIII không được công nhận là Giáo Hoàng , nên năm 1958 khi Hồng Y Angelo Giuseppe Roncalli đắc cử Giáo Hoàng, ngài đã chọn lại tước hiệu Gioan XXIII.

Như vậy, trước Đức Thánh Cha Biển Đức XVI , đã có ba Giáo Hoàng từ nhiệm vì những hoàn cảnh và lý do khác nhau. Tuy nhiên, vì đã sáu thế kỷ qua chưa có thêm Giáo Hoàng nào từ nhiệm,  nên quyết định rời bỏ ngai tòa Phêrô  của Đức đương kim Giáo Hoàng đã là một tiếng sét vang động  khắp Giáo Hội và thế giới ngày thứ hai 11-2
vừa qua.

Lý do mà ngài tự ý xin từ nhiệm là vì “tuổi tác và sức khỏe” không còn đủ để cho phép Ngài tiếp tục Sứ Vụ cai quản Giáo Hội nữa. Thật là một biến cố ngoài sức tưởng tượng của toàn thể Giáo Hội khiến mọi người đều đang còn bàng hoàng về tin quá bất ngờ này. Tuy nhiên ai cũng phải nhìn nhận rằng đây là một quyết định rất can đảm và đầy khiêm nhu của Đức Thánh Cha Biển Đức  XVI, người Cha chung rất đáng kính
yêu của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, đã khôn ngoan, sáng suốt chèo lái Con
Thuyền Phêrô trong suốt gần 8 năm  qua.

Ngài được bầu lên ngôi Giáo Hoàng rất nhanh chóng ngày 19-4-2005, để kế tục sứ mạng chăn dắt Giáo Hội do Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II để lại. Trong gần 8 năm qua, ngài đã chứng tỏ là một Thầy dạy Đức tin rất vững vàng, một  thần học gia  uyên thâm, một mục tử tha thiết với đoàn chiên và một sứ giả của hòa bình và  đại kết ( ecumenism).

Theo gương mục vụ của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, Ngài đã thăm viếng mục vụ các Giáo Hội địa phương ở nhiều quốc gia trên thế giới. trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, Đức. ÚC Châu, Ba Lan, Tây ban Nha., Ba Tây,  Do Thái, Palestine …

Chắc chắn sự từ nhiệm của ngài đang gây luyến tiếc cho mọi người trong Giáo Hội hiện nay.

Tuy nhiên ,sự sừ nhiệm này đã diễn ra đúng với  điều Giáo Luật số 332, triệt 2 đã dự liệu như sau:

“ Nếu xảy ra trường hợp Đức Thánh Cha từ chức,  thì để được hữu hiệu, sự từ chức phải được tự do và được bày tỏ cách hợp thức nhưng không cần được ai chấp nhận.”

Trong tuyên bố từ chức sáng thứ hai vừa qua, Đức Thánh Cha đã nói rõ lý do như sau:

“ ..để lèo lái Con Thuyền Phêrô và để công bố Tin Mừng, sức mạnh thể xác và tinh thần đều cần thiết. Nhưng trong vài tháng qua sức mạnh đó trong tôi  đã suy giảm đến mức tôi phải nhìn nhận là tôi không còn đủ  năng lực  để chu toàn sứ vụ đã được trao phó cho tôi. Vì thế, ý thức rõ về tầm mức quan trọng của quyết định này và  với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám  mục Rôma, Người kế vị Thánh Phêrô mà các vị Hồng Y đã trao cho tôi ngày 19-4-2005.”

Như thế, lý do vững chắc mà Đức Thánh Cha nêu ra đã phù hợp với tinh thần giáo luật nêu trên, và sự từ nhiệm của ngài là hợp thức, có hiệu lực  vì không cần ai chấp nhận.

Ngài sẽ chính thức rời bỏ nhiệm vụ Giáo Hoàng vào lúc 20 giờ địa phương ngày 28 tháng 2 này và các Hông Y dưới 80 tuổi sẽ họp Mật Nghi ( Conclave ) để chọn Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội.

Là đoàn chiên trong Giáo Hội, chúng ta tha  thiết cầu xin cho ĐứcThánh Cha  Biển Đức XVI để ngài được an vui, mạnh khỏe sau khi rời Tòa Phêrô,  cũng như cầu xin cho Giáo Hội sớm có Chủ Chiên mới để chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô trong giai đoạn mới này.

Sau hết, một điều phải  tránh là hãy bỏ ngoài tai những lời đồn đoán và “tiên tri giả” đang loan truyền những điều huyền hoặc vô căn cứ về Giáo Hoàng mới sắp được bầu lên. Chúng ta hãy tin tưởng  và phó thác Giáo Hội cho Chúa Thánh Thần để Người soi sáng các Hồng Y trong việc chọn Tân Giáo Hoàng trong những ngày sắp tới. Chắc chắn Chúa sẽ hướng dẫn Giáo Hội trong mọi quyết định quan trọng và chúng ta sẽ có Chủ Chăn mới đúng  theo ý muốn của Người.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 

Người lớn ơi, xin một lần lắng nghe trẻ em nói…

Người lớn ơi, xin một lần lắng nghe trẻ em nói…

Tác giả: KHƯƠNG DUY
nguồn: tuanvietnam.net

Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp.

Suốt bao nhiêu năm nay, việc chăm lo cho trẻ em luôn được coi là ưu tiên hàng đầu bởi ai cũng thuộc lòng khẩu hiệu “Trẻ em là tương lai của đất nước”. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta đều nghe thấy lời khẳng định: xã hội phải dành những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng thực sự, sau những ngôn từ hoa mĩ ấy, chúng ta đã dành cho trẻ em những gì?

Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi năm nay, cùng những bài diễn văn ca ngợi thành tích chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang vang khắp các hội trường, xin được góp vài lời để phần nào giải đáp câu hỏi này.

Đầu tiên, xin thưa rằng người lớn chúng ta ảo tưởng nhiều lắm về sự sung sướng của
trẻ em. Khi những đứa trẻ đòi hỏi điều này hay điều kia, người lớn chúng ta thường mắng chúng vòi vĩnh và đem sự nghèo khổ của ông bà, bố mẹ xưa kia ra so sánh. Xét về nhiều mặt, trẻ em hôm nay sung sướng hơn thế hệ đi trước rất nhiều với hàng trăm hàng ngàn loại trò chơi, đồ ăn thức uống mà chúng ta ngày trước có mơ cũng không bao giờ dám nghĩ tới.

Nhưng trẻ em có sung sướng không khi bị đe dọa từng miếng ăn, giấc ngủ vì từ rau, đậu, thịt, cá đến món đồ chơi ưa thích, thứ gì cũng có nguy cơ nhiễm độc? Trẻ em hạnh phúc không khi ra đường, muốn bỏ khẩu trang ra để thở cũng không được vì khói bụi, muốn tung tăng bay nhảy trên phố cũng phải lấm lét canh chừng những “anh hùng xa lộ” sẵn sàng cán người rồi bỏ chạy?

Khi còn nhỏ, ai trong số những người lớn chúng ta phải sống trong những nỗi sợ hãi giống như trẻ em hôm nay?

Người lớn luôn tự khen mình đã dành tất cả những gì tốt nhất cho trẻ em. Nhưng có một thứ trẻ em còn rất thiếu: người lớn không cho các em quyền được tin.
Chúng ta muốn trẻ em tin những điều tốt đẹp, nhưng chúng ta chỉ cho chúng thấy những điều nham nhở, xấu xí.


Trẻ em Hà Giang, Ảnh: Đoàn Bảo Châu

Làm sao trẻ em có thể tin rằng xã hội đang chung tay bảo vệ môi trường khi có những quan chức vào tù vì rút tiền ngân sách dành cho môi trường để tư lợi?
Làm sao trẻ em có thể tin vào lời khuyên “cây ngay không sợ chết đứng” khi những người dám nói thẳng, nói thật như thầy Đỗ Việt Khoa trở thành “cây ngay” cô độc giữa rừng cây xiêu vẹo, cực chẳng đã đành phải bỏ nghề?

Làm sao trẻ em có có thể tin mình được xã hội nâng niu khi chứng kiến những đứa trẻ cùng trang lứa như bé Hào Anh bị người lớn đánh đập dã man trước sự thờ
ơ của chính quyền sở tại? Những đứa trẻ lớn lên thiếu hành trang niềm tin vào cuộc sống, vào lẽ phải hoàn toàn do lỗi của người lớn chúng ta.

Người lớn luôn muốn trẻ em có tâm hồn rộng mở, luôn muốn ngắm nhìn nét hồn nhiên trên gương mặt ngây thơ. Nhưng người lớn đang đánh cắp tuổi thơ của trẻ em
theo cách chúng ta tưởng rằng tốt đẹp. Trẻ em còn lúc nào để bay bổng và ước mơ khi lịch học chính, học phụ dày đặc đã chiếm hết thời gian từ lúc các em bước vào lớp một?

Trẻ em sao có thể mở rộng tâm hồn với thế giới bên ngoài khi bị người lớn khóa kín trong những căn nhà kín cổng cao tường hoặc phải sống chen chúc trong những
ngõ sâu chật hẹp, “chỉ chính ngọ mới thấy mặt trời”.

Vài chục năm nữa, liệu trẻ em có còn được chiêm ngưỡng cảnh làng quê yên bình với cánh đồng xanh mướt, đàn cò bay thẳng cánh, đàn trâu nhẩn nha gặm cỏ – những cảnh trí đã dung dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt Nam – khi  những dự án sân golf, biệt thự, bãi đào vàng đang được người lớn bật đèn xanh không ngơi tay?

Người lớn chẳng những không cho trẻ em cuộc sống an toàn, không cho chúng niềm tin, không cho trẻ em một tuổi thơ theo đúng nghĩa mà còn “ăn vèn” cả vào tương lai của trẻ em. Khi những đứa trẻ lớn lên, chúng ta sẽ trả lời các em ra sao về hàng triệu, hàng tỷ tấn khoáng sản đã bị thế hệ trước khai thác, sử dụng hoang phí và bán với giá rẻ mạt cho nước ngoài để thỏa mãn những nhu cầu không đáy?

Cuốn sách địa lý của thế hệ tương lai sẽ viết về nguồn tài nguyên của đất nước ra sao
khi những mỏ vàng, bạc, dầu thô, than đá chẳng còn gì ngoài những hố sâu thăm thẳm và môi trường sinh thái bị tàn phá nặng nề?

Hãy tự hỏi chúng ta chia cho trẻ thơ được bao nhiêu từ món tiền thu được từ việc bán tống bán tháo tài nguyên, khoáng sản hôm nay. Phần chúng ta dành cho các em
có phải là những ngôi trường dột nát ở vùng cao? Hay đó là những sợi cáp mắc qua sông như ở Đắk Nông để các em trượt từ bờ bên này qua bờ bên kia tới trường ngay trên đầu sóng dữ?

Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em… Ảnh Đoàn Bảo Châu

Và chao ôi, những gì chúng ta dành cho chúng liệu có xứng đáng với những món nợ hàng trăm tỷ đô-la chúng ta đang vay nợ nước ngoài để đầu tư cho những dự
án trên trời dưới biển. Chúng ta hỉ hả khi năm sau vay được nhiều hơn  năm trước, chúng ta giận lẫy vài hôm khi có vị quan chức nọ xà xẻo vốn ODA nhưng rồi cũng tặc lưỡi bỏ qua. Chúng ta an ủi nhau rằng trẻ em ngày sau sẽ tài giỏi hơn thế hệ hôm nay và sẽ trả hết những gì chúng ta đang vay mượn để vung tay quá trán và thả sức cho rơi rớt dọc đường.

Vâng, tôi tin lắm vào tài năng, trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Chúng ta có những thần đồng toán học, âm nhạc, thể thao ngang tầm quốc tế; chúng ta có những đôi
bàn tay tài hoa ngay ở tuổi thiếu thời. Nhưng có tủi cho trẻ em không khi cha ông chúng trông vào những bàn tay khối óc ấy để trả những món nợ xuyên thế kỷ?

Chúng ta kỳ vọng trẻ em sẽ biến đất nước thành rồng, thành hổ nhưng đã vô tình đeo đá vào đôi cánh mỏng manh của các em bằng một thứ tội tổ tông truyền.

Vậy đấy, hành trang cho trẻ em vào tương lai tưởng như rất đầy mà thực ra lại rất vơi.
Chúng ta chẳng cho trẻ em được bao nhiêu so với những gì chúng ta lấy đi của trẻ em. Những người lớn ích kỷ chỉ biết nhắm mắt và tưởng tượng ra những điều vĩ đại đã làm cho con trẻ, nhưng nếu mở mắt ra chúng ta sẽ bàng hoàng khi trẻ em đang trở thành nạn nhân của thói tham lam, mù quáng và ích kỷ của chúng ta.

Xin được mượn câu hát của Trịnh Công Sơn để gọi tên nỗi niềm tôi dành cho những đứa trẻ trong ngày trọng đại này:

Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi

Tin buồn từ ngày mẹ
cho mang nặng kiếp người.

Anh chị Thụ & Mai gởi

 

THÔNG ĐIỆP CỦA NGÀY LỄ TRO

THÔNG ĐIỆP CỦA NGÀY LỄ TRO

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Đừng chỉ chăm sóc thân xác mà lãng quên linh hồn.

Nhà kia có hai đứa con. Một đứa thì được cha mẹ chăm só…c tối đa: cho ăn cho mặc, cho tiêu xài, cung cấp cho đủ thứ, không từ chối nó bất cứ điều gì nó muốn, thậm chí nó đòi hỏi những điều trái luân thường đạo lý thì cũng cho luôn.

Còn đứa con thứ hai thì không được cha mẹ đoái hoài: không cho ăn, không cho mặc, không cho thuốc men, không cho bất cứ gì nó cần.

Làm cha mẹ như thế có công bằng không? Có xứng đáng làm cha mẹ nữa không? Làm cha mẹ như thế có đáng bị lên án không?

Hai đứa con nói trên tượng trưng cho hai thành phần của tôi : linh hồn và thân xác. Con người tôi có xác nhưng cũng có linh hồn. Vậy mà tôi chỉ biết chăm lo cho thân xác mà quên mất linh hồn. Châm ngôn sống của tôi là: Tất cả cho thân xác, tất cả cho cuộc sống đời nầy.

24 giờ của một ngày, tôi đều dành trọn cho thân xác.

168 giờ của một tuần, tôi cũng đều dành trọn cho thân xác.

720 giờ của một tháng cũng đều dành trọn cho thân xác.

Và cứ thế, từ ngày nầy trải qua ngày khác, hết tháng nầy đến tháng kia, tôi chỉ biết chăm lo cho thân xác mà thôi.

Còn linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài. Suốt 24 giờ của mỗi ngày, 168 giờ của mỗi tuần, 720 giờ của một tháng… tôi chẳng dành cho linh hồn một phút nào.

Thế rồi mai đây thân xác tôi sẽ ra sao ?

Lời Chúa vang lên trong nghi thức xức tro nhắc nhở tôi nhớ đến số phận mình:

“Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro, mai sau người sẽ trở về với bụi tro.

Những hạt bụi tro li ti rắc trên đầu trong ngày lễ tro hôm nay nhắc nhở chúng ta nhớ rằng mai đây, sớm muộn gì thân xác ta cũng sẽ hóa thành bụi tro như thế. Bụi tro là chung cuộc của thân xác con người. Sống thêm một năm là nhích lại gần nấm mồ hơn một chút. Tăng thêm một tuổi là rút ngắn thêm một chặng nữa tiến trình hóa thành tro bụi của thân xác mình.

Thế là cuối cùng, thân xác tôi chỉ còn là một nắm tro bụi li ti.

Không lẽ hôm nay tôi đầu tư hết tất cả thời gian, công sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực, tiền bạc của mình cho thân xác nầy để rồi cuối cùng chỉ thu hoạch được một nắm tro!

Như thế có khác chi những con dã tràng cố công xây những lâu đài trên cát để rồi chốc lát sau sóng biển ập đến và xóa sạch không để lại vết tích gì.

Nói như thế không phải để bi quan chán sống, nhưng để tìm cách sống sao cho kiếp người có một kết cục tươi sáng vẻ vang hơn.

Biết như thế để từ nay, ta không mê muội đầu tư tất cả cho thân xác, không để cho những đam mê xác thịt nhận chìm hồn thiêng của ta trong địa ngục muôn đời, nhưng biết chăm lo xây dựng đời sống thiêng liêng, quyết tâm vun đắp đời sống tâm linh để cho hồn thiêng của mình mãi mãi trường tồn trong vinh quang thiên quốc.

Biết thế thì ta phải công bằng với linh hồn ta. Thân xác nầy nay còn mai mất thì ta chăm sóc vừa đủ, còn linh hồn ta sống mãi muôn đời thì phải được chăm lo chu đáo hơn.

 

 

SỐNG ẨN KÍN THEO GƯƠNG CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA

SỐNG ẨN KÍN THEO GƯƠNG CHÚA GIÊSU VÀ MẸ MARIA

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thánh nữ Bernadette Soubirous (1844-1879) được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ MARIA hiện ra 18 lần trong vòng 5 tháng tại Lộ Đức, từ
ngày 11 tháng 2 đến ngày 16 tháng 7 năm 1858.

9 năm sau những ngày hồng phúc ấy, Chị Bernadette tuyên khấn lần đầu trong dòng
các Nữ Tu Bác Ái thành Nevers (Trung Pháp). Hôm đó là ngày 30-10-1867. Chị
Bernadette – tên dòng là Marie Bernarde – tròn 23 tuổi.

Theo tục lệ trong dòng, vào buổi chiều ngày tuyên khấn, các nữ tu khấn tạm tập
họp lại để nhận bài-sai từ Mẹ Bề Trên và Đức Giám Mục bản quyền. Chiều hôm ấy,
Chị Bernadette cũng có mặt cùng với 44 khấn sinh khác. Đến lượt mình, Chị đến
quỳ trước mặt Đức Cha Laurence Fourcade và đợi bài-sai.

Đức Giám Mục quay sang hỏi Mẹ Bề Trên:

– Bà chỉ định cho Chị này làm công việc gì?

Thoáng điểm nụ cười trên môi Mẹ Bề Trên Joséphine Imbert trả lời:

– Thưa Đức Cha, con trẻ này không biết làm một cái gì hết! Chị đi đến đâu sẽ
trở thành gánh nặng cho nơi đó!

Mọi người im lặng như tờ. Đức Cha chăm chú nhìn Chị nữ tu trẻ tuổi, đang khiêm
tốn quỳ dưới chân ngài. Rồi như được ơn trên soi sáng, Đức Giám Mục ứng khẩu
ban bài-sai:

– Cha chỉ định cho con nhiệm vụ cầu nguyện!

Cùng lúc đó, Đức Cha sực nhớ Chị Bernadette đang ở trong Dòng hoạt động chứ
không phải Dòng chiêm niệm. Vì thế Đức Giám Mục hỏi lại:

– Con quả thật không biết làm một cái gì hết sao?

Chị Bernadette khiêm tốn đáp:

– Thưa Đức Cha, Mẹ Bề Trên thật không sai lầm! Quả đúng như vậy!

Đức Giám Mục tiếp lời:

– Vậy thì, thật tội nghiệp cho con! Phải làm gì với con bây giờ? Mà tại sao con
lại vào Dòng?

Chị Bernadette đơn sơ thưa:

– Hồi còn ở Lộ Đức, con đã trình bày điều đó với Đức Cha và Đức Cha bảo không
sao hết!

Vị Giám Mục hơi lúng túng, không biết giải quyết ra sao. Sau cùng, Đức Cha hỏi:

– Nhưng ít ra là con cũng biết mang thức ăn, lặt rau chứ?

Chị Bernadette đáp:

– Con sẽ cố gắng!

Quay sang Mẹ Bề Trên, Đức Cha nói:

– Chúng ta sẽ giữ Chị này ở lại đây ít lâu. Sau đó, nếu thấy là Chị hữu dụng
trong một số công việc nhỏ nhặt nào đó, thì sẽ gửi Chị đi giúp xứ!

Hẳn Chị Bernadette phải thật khiêm tốn để chấp nhận lời nhận xét của Mẹ Bề Trên
và của Đức Giám Mục! Nhưng đó là chuyện không thành vấn đề đối với Chị! Người
ta đọc trong sổ tay tĩnh tâm của Chị hàng chữ:

– Ơn chính phải xin: sống thật ẩn kín theo gương Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ
MARIA.

Chị Bernadette đã xin và đã sống ơn ẩn kín này. Trong Thánh Lễ an táng Chị,
trước linh cữu Chị, Đức Cha Lelong lớn tiếng tung hô nhân đức khiêm nhường của
Chị Bernadette:

– Hỡi các nữ tu, các Chị là những người biết rõ rằng không phải người ta tìm
cách dấu kín Chị, nhưng chính Chị tự ẩn mình đi, và Chị càng ẩn mình bao nhiêu
thì càng tốt bấy nhiêu.. Chị không thích gợi lại quá khứ, nhưng tìm cách quên
đi, hay ít là, làm cho người khác quên đi!

Một nữ tu cùng dòng, 40 năm sau, đã nói về nhân đức khiêm nhường của Chị
Bernadette:

– Người ta dạy con khiêm nhường là quên mình đi. Vậy thì nơi Chị, khiêm nhường
quả là như thế đó. Chị không bao giờ nói về mình, lo lắng chăm sóc cho mình.
Khiêm nhường là nhân đức thật cao cả nơi Chị. Con nghĩ, chính Đức Mẹ MARIA đã
thông truyền nhân đức này cho Chị khi Đức Mẹ hiện ra với Chị.

Một ngày, một nữ tu hỏi Chị Bernadette xem Chị có cảm thấy bị hạ thấp trong
cuộc sống ẩn kín nơi tu viện, sau khi được mọi người biết đến vì những cuộc
hiện ra của Đức Mẹ MARIA tại Lộ Đức không, Chị trả lời:

– Sao Chị hỏi thế, Chị nghĩ gì về em? Chị không biết là em hiểu rõ rằng nếu Đức
Mẹ chọn em, chính vì em là người dốt nát nhất. Nếu Đức Mẹ tìm được người nào
khác dốt nát hơn, hẳn là Đức Mẹ sẽ chọn người ấy!

Một ngày, hai thanh nữ từ Lộ Đức đến nhập dòng. Hai cô đưa cho Chị Bernadette
xem tấm hình chụp hang đá Lộ Đức, với ước mơ thầm kín sẽ nghe Chị nói về các
cuộc hiện ra. Chăm chú nhìn tấm hình chụp hang đá Lộ Đức thân yêu, Chị buông
câu nói bâng quơ:

– Chà, mấy cây bạch-dương bữa nay cao ghê!

Một lần khác, một nữ tu cũng đưa cho Chị xem tấm hình chụp hang đá Lộ Đức với
dụng ý dò xem phản ứng của Chị. Đang chăm chú nhìn tấm hình, Chị Bernadette
bỗng ngước mắt hỏi Chị kia:

– Chổi dùng để làm gì?

– Để quét dọn!

– Rồi sau đó?

– Sau đó thì người ta dựng nó vào xó cửa!

Chị Bernadette điềm nhiên nói:

– Đó cũng là câu chuyện cuộc đời em. Đức Mẹ MARIA đã dùng em. Giờ đây xong công
việc, người ta đặt em lại chỗ cũ của em. Em thật sung sướng và cứ ở nguyên
trong tình trạng ẩn kín này!

… Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Chúa GIÊSU hớn hở vui mừng và nói: “Lạy CHA là Chúa Tể trời đất, Con ngợi khen CHA, vì CHA đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Nhưng lạy CHA, vì đó là điều đẹp ý CHA .. CHA Thầy đã giao phó mọi sự cho Thầy. Và không ai biết Người Con là Ai, trừ CHÚA CHA, cũng như không ai biết CHÚA CHA là Ai, trừ Người Con, và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho” (Luca 10,21-22).

(Mgr.Francis Trochu, ”SAINTE BERNADETTE, LA VOYANTE DE LOURDES”, Emmanuel Vitte, 1954, trang 420 + 471-477)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

CÁT BỤI

CÁT BỤI
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai vươn hình hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi.
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi.
Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày.
Mặt trời nào soi sáng tim tôi
Để tình yêu xay mòn thành đá cuội
Xin úp mặt bùi ngùi
Từng ngày qua mỏi ngóng tin vui.
Cụm rừng nào lá xác xơ cây
Từ vực sâu nghe lời mời đã dậy
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay…

Trịnh Công Sơn
*********************************
Hàng năm Giáo Hội dành ra ngày thứ tư Lễ Tro để nhắc nhở con cái về thân phận con người.  Một ít tro được rắc lên đầu bôi lên trán, hai ngày giữ chay, bốn mươi ngày sống tinh thần Mùa Chay.  Lời mời gọi xám hối hãy xé lòng, đừng xé áo.  Lời nhắc nhở bố thí, cầu nguyện, cảnh giác những cơn cám dỗ trong cuộc sống….. một vài điều gọi là nhắc nhở phận người chóng nhớ mau quên.  Có là ai, có là gì… cũng phải tuân theo định luật tự nhiên!  Có bao nhiêu, có thế nào… rồi cũng xuôi tay chẳng mang được chi!
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng ưu tư khắc khoải về thân phận con người:  Là ai? Từ đâu đến?  Đi về đâu?  “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi?” ông nhận ra phận người đến từ bụi đất, mang kiếp sống mong manh vắn vỏi.  Hạt bụi nhỏ bé trong vũ trụ bao la, bất lực trước định luật tự nhiên của tạo hoá, bị lôi cuốn theo con tạo xoay vần cuộc sống.  Sau“một mai vươn hình hài lớn dậy” để sống kiếp cát bụi phù du tạm bợ, dù muốn hay không, chấp nhận hay chống đối, hạt bụi lại rũ áo ra đi về với thân phận bụi đất của mình.  “Để một mai tôi về làm cát bụi”, thế là hết, là xong một kiếp người.
Vẫn biết bụi đất một mai sẽ trở về với cát bụi.  Vẫn biết nơi đến, chốn về như nhau: tất cả chỉ là phù du, vô nghĩa.  Nhưng trong lòng ông, “từ vực sâu nghe lời mời đã dậy” đang mong chờ một điều gì đó thâm sâu hơn, cao qúy hơn những gì tầm thường, đang cuốn hút hạt bụi xoay vòng trong cơn lốc đảo điên.  Hình như đôi tai tâm hồn ông đã nghe được lời mời gọi thiêng liêng nào đó.  À, thì ra cát bụi mệt nhoài sau những chuỗi ngày “mặt trời soi một kiếp rong chơi”, sau những tháng năm hòa mình vào những “tiếng động gõ nhịp không nguôi” của cuộc đời, sau “bao nhiêu năm làm kiếp con người”, bỗng chợt nhận ra thiếu vắng một cái gì đó trong cuộc sống.  Hạt bụi nhỏ bé như pha lê được mặt trời soi sáng để rồi trái tim khát khao tin yêu thổn thức “xin úp mặt bùi ngùi, từng ngày qua mỏi ngóng tin vui.”
Là tin vui gì?  Ai có thể mang cho đến cho đất trời tin vui bất diệt?  Mỗi hạt bụi trong vũ trụ bao la đang chờ đợi một tin vui khác nhau.
Có hạt mong được chiếu sáng lấp lánh dù là hư ảo chớp nhoáng.  Hạt mong được tích lũy thêm những lớp đất cát phù du, dù bụi sẽ chẳng mang được chi khi “một mai về làm cát bụi”.  Hạt khác thích cả đời rong chơi dưới ánh mặt trời.  Hạt lại thích hưởng thụ cho bõ kiếp phù sinh vắn vỏi.  Có hạt mong được nâng đỡ những hạt bụi khác mảnh mai yếu kém hơn.  Hạt lại mong cho đi chính mình để làm mem, làm muối ướp mặn cho đời.  Tin vui mà nhạc sĩ họ Trịnh, bạn và tôi đang mong chờ là tin vui gì?
Con Một Thiên Chúa đã từ bỏ vương quyền trên chốn trời cao, nhập thể làm người chỉ với một khát vọng duy nhất, là mang Tin Vui đến cho con người, cho những hạt bụi bé nhỏ dấu yêu.  Trong Ngài, bụi đất trở thành vô giá.  Với Ngài, đất bụi trở thành bất tử.  Nhờ Ngài, bụi đất nếm mùi thiên thu vĩnh cửu.  Nhưng, phũ phàng thay không phải tất cả hạt bụi đều chấp nhận Ngài!
Tin Vui dù muộn nhưng không bao giờ trễ.  Chẳng phải ai cũng được phúc đón
nhận Tin Vui từ thưở bình minh.  Dòng đời ngược xuôi tuy vất vả nhưng hào nhoáng, tuy tạm bợ nhưng đầy hấp dẫn, tuy nhiều đau khổ nhưng không thiếu niềm vui giả tạo.  Không dễ gì mà cát bụi chấp nhận phận mình từ thưở mới “vươn hình hài lớn
dậy”
.  Nhạc sĩ tài ba họ Trịnh đã đi sâu vào cuộc sống, khi ông kinh nghiệm bản thân từ từ đi qua ba giai đoạn của đời người:   Với thời trai trẻ hăng say yêu đời, dù biết phận mình là cát bụi, nhưng đó là tiếng hò reo mừng vui: “Ôi cát bụi tuyệt vời!”. Cuộc sống dần trôi, với bao đắng cay chất đầy lên đôi vai gầy, mà ý nghĩa cuộc đời vẫn biệt tăm, ông buông một tiếng thở dài chán chường “Ôi cát bụi mệt nhoài!”. Tiếp tục cuộc hành trình vô định của con người, sắp đến đích mà không biết nơi đến là đâu, kết thúc bài nhạc là một lời chua chát xuôi tay tuyệt vọng: “Ôi cát bụi phận này!”

Con người, chỉ khi “chợt một chiều tóc trắng như vôi” mới giật mình nhìn lại mình, vội vàng đi tìm ý nghĩa cuộc sống.  Khi nhìn “lá úa trên cao rụng đầy” với “cụm rừng nào lá xác xơ cây” lòng người mới chùng xuống, băn khoăn lòng hỏi lòng, chiếc lá vàng kia đi về đâu?  Phận người có gì hơn một chiếc lá vàng, một hạt bụi không?  “Trăm năm vào chết một ngày”, đời người ky cóp, một ngày xuôi tay!
Mùa Chay gợi lại hình ảnh người Cha nhân lành trong ngụ ngôn đứa con hoang đàng, lúc nào cũng thấp thỏm trước ngõ, chờ mong đứa con đi xa trở về!  Muộn nhưng không bao giờ trễ!  Đừng để đến khi “vết mực nào xóa bỏ không hay…..” thì  buồn thay cho một kiếp người!  Sống vô duyên, chết phận bạc!
Lạy Chúa, trong Mùa Chay thánh này xin cho con cất bước trở về với Chúa khi còn có thời gian chuẩn bị.  Bốn mươi ngày Mùa Chay nhắc con nhớ đến những từ ngữ xa lạ:  ăn chay, bố thí, cầu nguyện.  Xin cho con biết cho đi một phần những gì con đang có, để giúp những hạt bụi khác cảm nếm hương vị tình yêu trong cuộc sống.  Xin giúp con một lần ăn chay với cả tâm hồn yêu thương, để nhìn ra được tình yêu của Thiên Chúa với thân phận bụi đất nghèo hèn.  Xin cho con biết tỉnh thức cầu nguyện để đừng bám vào những hạt bụi bọt bèo khác  mà chỉ bám vào Đấng đã tạo thành con người từ cát bụi, Đấng đã truyền hơi thở mình vào bụi đất vô tri, để trở thành con người mang hình ảnh Ngài.  Hạt bụi bám vào Ngài chắc chắn sẽ không bị “vết mực nào xóa bỏ không hay…..” vào chốn hư không đời đời.
Lạy Đấng Vĩnh Cửu, cuộc sống lúc bấy giờ sẽ không còn là phù du vô nghĩa, không còn là những tiếng kêu tuyệt vọng từ đáy vực sâu, mà là những tiếng kêu ngạc nhiên hoan lạc, những bản tình ca bất tận ca ngợi tình yêu Thiên Chúa bao la.  Ôi cát bụi tuyệt vời!  Ôi con người tuyệt vời!
Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến,

phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm? (Tv 8:5)

Lang Thang Chiều Tím  &
Anh chị Thụ & Mai gởi

Từ anh hùng đến bạo chúa

Từ anh hùng đến bạo chúa
07.02.2013
Ở Việt Nam, đảng Cộng sản thường hay nói: Họ là những người
có công trong việc giành độc lập cho đất nước từ tay thực dân Pháp vào năm
1945, bởi vậy, chỉ có họ mới xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo đất nước, hơn nữa,
độc quyền lãnh đạo đất nước. Mỗi lần nghe những câu nói như vậy, tôi lại nhớ
đến các nhà độc tài ở châu Phi và châu Á: Hầu hết đều bắt đầu “sự nghiệp” tàn
phá đất nước của họ như những anh hùng!
Thì Pol Pot (1925-1998) cũng là một “anh hùng” của Campuchia đấy chứ? Ông đã
lãnh đạo đảng Cộng sản Campuchia lật đổ Norodom Sihanouk, “giải phóng” đất nước
của ông và có “công” biến Campuchia thành một nước “xã hội chủ nghĩa thực sự”.
Kết quả, ai cũng biết: thứ nhất, ông đã giết khoảng từ một triệu đến ba triệu
người, tức khoảng 25% dân số Campuchia; thứ hai, biến Campuchia suýt trở lại
thời kỳ đồ đá trong vòng ba năm; và cuối cùng, biến Campuchia thành thuộc địa
của Việt Nam, ít nhất trong vòng hơn 10 năm, từ 1978 đến 1989.
Muammar Muhammad Abu Minyar al-Gaddafi (1942-2011) cũng là một “anh hùng” của Libya, hơn nữa, có lúc, còn được xem là “anh hùng” của cả châu Phi đấy chứ? Ông
đã lật đổ được vua Idris, giải thể chế độ quân chủ, thành lập Cộng hòa Ả Rập
Libya với “định hướng” xã hội chủ nghĩa, tiến hành các cuộc “cách mạng bình
dân” và hỗ trợ các phong trào đấu tranh độc lập ở một số nước châu Phi. Kết
quả? Với Libya, kinh tế thì kiệt quệ, đối ngoại thì bị cô lập, đời sống dân
chúng thì vô cùng điêu đứng. Với bản thân ông thì bị thế giới nhìn như một con
chó điên, và cuối cùng, con chó điên ấy bị kéo lên từ ống cống để đền tội.
Dù sao Pol Pot lẫn Gaddafi cũng đều đã chết. Ở châu Phi hiện nay vẫn còn một số
“anh hùng” khác chưa bị đền tội. Trong số đó, “nổi tiếng” hơn cả là Robert
Mugabe ở Zimbabwe.
Sinh năm 1924, lúc Zimbabwe còn là một thuộc địa của Anh, Mugabe, cũng giống
như nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam, tham gia cách mạng từ nhỏ và cũng chịu đựng
cảnh bắt bớ và tù tội liên miên. Nhưng khác với giới lãnh đạo Việt Nam, ông rất
chịu khó học tập. Sau khi tốt nghiệp ngành Sư phạm, trở thành thầy giáo, ông
còn học, chủ yếu bằng cách hàm thụ, ở một số đại học ở Nam Phi và Anh, để lấy
thêm sáu cái bằng nữa, gồm: bằng Cử nhân về Quản trị và Cử nhân Giáo dục (từ
Đại học Nam Phi), Cử nhân Khoa học, Cử nhân Luật, Thạc sĩ Khoa học và Thạc sĩ
Luật (tất cả đều từ trường Đại học Mở rộng London). Trong số các bằng ấy, hai
bằng về luật được ông học trong thời gian ông còn ngồi trong nhà tù, từ 1964
đến 1974.
Từ thập niên 1960, Mugabe nổi lên như một anh hùng trong phong trào du kích
chống chính quyền da trắng của Ian Smith để giành độc lập cho nước ông. Những
án tù đày càng làm tăng uy tín của ông trong dân chúng. Ra khỏi nhà tù năm
1974, ông được bầu làm lãnh tụ Liên hiệp Quốc gia Phi châu Zimbabwe (ZANU),
cuối cùng, năm 1980, ông trở thành thủ tướng đầu tiên của Zimbabwe độc lập. Sau
đó, năm 1987, ông trở thành tổng thống. Từ đó đến nay, ông liên tục tái đắc cử
tổng thống: 1990, 1996, 2002 và 2008.
Nhưng dưới sự lãnh đạo của ông, đất nước Zimbabwe ra sao?
Sau 30 năm chịu sự lãnh đạo “thiên tài” của Mugabe, Zimbabwe, từ một quốc gia
được xem là giàu có ở châu Phi đã biến thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới.  Tổng sản phẩm nội địa của Zimbabwe vào năm 2012 là khoảng 500 đô la trên đầu người; tỉ lệ thất nghiệp vào năm 2009 là 95%; trị giá một Mỹ kim vào năm 2008 là 430.000 (gần nửa triệu) đồng bạc Zimbabwe. Không có nước nào trên thế giới có đồng tiền bị mất giá nhanh như đồng bạc Zimbabwe. Ngay trước khi độc lập, một đồng Rhodesia (tên cũ của Zimbabwe) trị giá một nửa bảng Anh. Năm 1987, Zimbabwe in tiền riêng, thoạt đầu, một đồng Zimbabwe cao hơn một đô la Mỹ. Sau đó, đồng tiền cứ mất giá liên tục; mỗi lần quá mất giá, chính phủ lại in tiền mới; khi
tiền mới lại mất giá, họ lại in loại tiền khác. Cứ thế, liên tục.
Lạm phát ở Zimbabwe không được gọi là lạm phát. Mà là siêu lạm phát
(superinflation). Ở những nơi khác, lạm phát vài trăm, hay thậm chí, chỉ vài
chục phần trăm là đã thấy khủng khiếp. Ở Zimbabwe, ví dụ vào năm 2008, lạm phát lên đến hàng tỉ tỉ phần trăm! (Con số lạm phát chính xác vào tháng 11 năm 2008 là 79.600.000.000% (bảy mươi chín ngàn sáu trăm tỉ!) Có lúc cả tỉ đồng Zimbabwe không đủ để mua một ổ bánh mì. Để cứu vãn tình hình kinh tế, vì không ai còn tin tưởng vào đồng tiền Zimbabwe nữa, từ năm 2009, chính phủ chấp nhận đồng Mỹ kim là đồng tiền chính thức để mua bán khắp nơi. Đến lúc ấy lại nảy sinh một vấn đề khác: Vì vật giá ở Zimbabwe quá rẻ, mua cái gì cũng chỉ có mấy xu, do đó, nếu bạn cầm một tờ 5 đô la, chẳng hạn, người bán hàng sẽ không có tiền để thối lại. Đưa tờ một đồng, người ta cũng không có tiền cắc để thối lại.
Để thấy “công lao” của Mugabe, chúng ta có thể nhìn vào bản đồ biểu tổng sản phẩm  nội địa  của Zimbabwe từ năm 1980 đến năm 2005 dưới đây:

​​
Về phương diện y tế, tuy Zimbabwe có giảm tử suất của trẻ sơ sinh nhưng tuổi
thọ trung bình của người dân thì càng ngày càng giảm, từ 59.1 tuổi vào năm 1980
xuống còn 45.1 tuổi vào năm 2008.
Năm nay, Mugabe đã gần 90 tuổi. Báo chí tường thuật trong nhiều cuộc họp hay
hội nghị kể cả với các chính khách thế giới, ông ngồi ngủ gục ngon lành! Gần
đây, ông bị bệnh, phải sang Singapore chữa trị. Thế nhưng ông vẫn không có ý
định từ chức. Ông vẫn cho chỉ có ông mới xứng đáng để lãnh đạo đất nước. Rất
nhiều người đối lập bị ông giết chết; vô số người khác bị ông bỏ tù. Với bàn
tay sắt, ông chà đạp lên cả dân chủ lẫn nhân quyền, bất chấp sự phê phán và lên
án của quốc tế.
Tin mới nhất liên quan đến Zimbabwe: Đầu năm 2013, Bộ trưởng Tài chính Zimbabwe tuyên bố, sau khi trả tiền lương cho các công chức, trong quỹ của họ chỉ còn lại có hai trăm mười bảy đô la (217 dollars). Họ định sẽ tổ chức bầu cử trong
năm nay. Chi phí cho cuộc bầu cử dự định là khoảng 104 triệu. Bây giờ với cái ngân khố trống rỗng như vậy, họ lo là sẽ không thể tổ chức bầu cử được!
A! Ít ra Zimbabwe cũng còn nghĩ đến chuyện bầu cử!

Ngày đầu Xuân đọc Đường hy vọng

Ngày đầu Xuân đọc Đường hy vọng

Đăng bởi lúc 6:01 Sáng 10/02/13

nguồn: chuacuuthe.com

VRNs (10.02.2013) – Sài Gòn – Đức cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
(Fx.Thuận) viết cho các đồ đệ của mình: “Ân sủng và bình an Chúa ở với con trên
đường hy vọng”, ngay cuối lời nói đầu của tác phẩm Đường Hy Vọng (ĐHV). Một tác
phẩm được viết trên các tờ giấy lịch, ngắn gọn, trọn niềm tin, trọn tình người,
trong nơi lao tù ở Việt Nam.

Tuy ngắn gọn, nhưng cũng có tới 1001 câu. Mỗi câu diễn lại một kinh nghiệm cụ thể của quá khứ oai hùng, và hiện tại lao tù; của một con người có nhiều ước vọng và khả năng, cùng với một con người không được quyền đi đâu, không được quyền làm bất cứ gì mình muốn; của con người muốn phụng sự Thiên Chúa và tha nhân, cùng con người bừng sang khi nhận ra chỉ có Chúa làm gì đó được cho mình chứ mình không thể làm gì cho Chúa.

Khi 16 hay 17 tuổi gì
đó, một anh bạn trao cho tôi quyền ĐHV của Fx. Thuận rồi bảo đọc đi. Đọc đến
câu 56b, tôi ném quyển sách vào góc nhà rồi nghĩ về dư luận. Mọi người xem Fx.
Thuận là vĩ đại, vì ngài sinh ngày 17 tháng 4 năm 1928 tại Phủ Cam, Huế, và đến
ngày 13 tháng 4 năm 1967, đã được bổ nhiệm làm giám mục chính tòa Giáo phận Nha
Trang, khi chưa tròn 39 tuổi đời. Và nhiều thành tích khác. Còn tôi, lúc ấy,
xem ngài chẳng biết gì về tâm lý khi viết: “Mỗi ngày [con] hãy bớt tự tin mà
thêm tin Chúa” (c. 56b). Một người sống hạnh phúc có thể không tự tin sao? Một
người thành công lại có thể kém tự tin à? Một người lãnh đạo không tự tin thì
dẫn những người thuộc về mình đi đâu về đâu?… ?

Những khi tuổi đời của
tôi đã lớn hơn tuổi của Fx. Thuận, lúc ngài làm giám mục, đã có kinh nhgiệm
chút ít về thành công và thất bại từ thể xác đến tâm linh, tối mới bắt đầu hiểu
và thấm thía điều ngài đã viết ra: “Mỗi ngày [con] hãy bớt tự tin mà thêm tin
Chúa” (c. 56b).

Ngày 15 tháng 8 năm
1975, chính quyền cách mạng bắt Fx. Thuận và giam giữ ngài tại nhiều nơi khác
nhau: nhà tù Nha Trang (từ ngày 19 tháng 3 năm 1976), biệt giam ở Miền Bắc,
quản chế tại Giang Xá (Sơn Tây), Phùng Khoang (Hà Đông) mà không qua một phiên
tòa xét xử về tội danh nào. Đến ngày 23 tháng 11 năm 1988 thì được thả tự do và
bị quản chế tại tòa giám mục Hà Nội. Tổng cộng Fx. Thuận bị ngục tù 13 năm, 3
tháng, 8 ngày.

Với bốn bức tường, tài
hùng biện của ngài dùng vào việc gì? Khả năng nói được nhiều ngôn ngữ có ích gì
cho ngài khi chung quanh chỉ là bốn vách tường? Những dự án, những ý định và
tâm huyết phát triển Giáo hội, gầy dựng thanh niên Việt Nam ai cho áp dụng mà
áp dụng? Chung quanh ngài chỉ là vách đá. Khi ấy mọi tài năng, khả năng thủ đắc
được của con người trở nên rác cả. Nhiều người tài giỏi trong hoàn cảnh đó đã
trở nên tâm thần.

Trong bối cảnh như thể
mọi cái “có” trở nên “không” một cách bất đắc dĩ, chứ không phải là kết quả của
thiền định hay tình trạng đón nhận để đi vào mầu nhiệm tự hủy (x. Pl 2, 6-11).
Nó như thể bị tước đoạt tất cả, bị cướp trắng mọi sự.

Lúc ấy có vẻ tài năng và
bất tài không hơn gì nhau, ngu dốt hay thông minh cũng vậy cả. Tất cả chỉ còn
là ân huệ của Thiên Chúa, mà cái này chỉ có thể đón nhận bằng niềm tin. Lời
khuyên “Mỗi ngày [con] hãy bớt tự tin mà thêm tin Chúa” (c. 56b) của Fx. Thuận
rất thật và rất chính xác.

Con rắn lừa lọc, gian
xảo và gian ác luôn sẵn sàng đưa con người vào bẫy để bị hủy diệt (x. St 3).
Ngày đầu năm, đối diện với con rắn, và sẽ sống trong suốt năm nay với nó, tôi
lo lo. Vô tình đọc lại chương 3 của ĐHV: “Bền Chí”, tôi an tâm.

“Bạo dạn không phải là
phiêu lưu, bất khôn. Muốn đi đến cùng đường hy vọng con phải bạo dạn. Có mấy
người đứng bên Chúa dưới thánh giá?” (c. 39). Theo Chúa để được ăn ngon và no
nê thì có tới năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ (x. Mt 14,
21), tức rất đông những người có địa vị có thế giá, không kể những người ăn
theo, nhưng khi Chúa bị đóng đinh trên thánh giá, chỉ có Gioan, một tông đồ có
vẻ yếu đuối nhất (x. Ga 19).

Trong cuộc họp của linh
mục đoàn cuối năm vừa rồi ở Sài Gòn, một vị có trách nhiệm quan trọng của Tổng
giáo phận đã nói rằng, đất nước Việt Nam phải đa đảng, không thể độc đảng mãi.
Ngài cho biết, đã có tham gia kiến nghị gởi đến nhà cầm quyền về vấn đề nay.
Niềm hy vọng bị giấu kín bắt đầu được hé mở làm cho con đường hy vọng đầy nhọc
nhằn khiến nhiều người sợ hãi và khiếp nhược đã trở nên đông vui hơn, vì có
Giáo hội cùng bước. Đến hôm nay chỉ mới hơn 50 giáo sĩ ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992,
có bàn đến việc đa đảng, nhưng sau công bố của ngày họp cuối năm vừa qua, chắc
chắn sẽ có nhiều vị khác chính thức lên tiếng, để đất nước Việt Nam sớm vươn
lên đỉnh hy vọng. Mặc dù có thể sau đó họ sẽ phải đối diện với việc “đứng dưới
chân thánh giá Chúa”, nhưng không chỉ có mình Gioan, mà còn có cả các tông đồ
khác và đoàn dân đông đúc.

An Thanh, CSsR

Quà Tết

Quà Tết

Hãy lao công đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời, mà Con Người sẽ ban cho các con(Ga 6, 27)


Trong nh
ng ngày này, ai ny đu bn rn lo thu xếp công vic đ đón mng năm mi. Nào là mua sm, dn dp nhà ca, mua hoa trang trí trong nhà, ln ngoài
sân, may qu
n áo mi đ sa son bước vào năm mi.

Ly Chúa Giêsu, chc Chúa cũng thy lòng nhn nhp phn nào khi thy con cái Chúa vui vy. Nhìn người ta hăm h, con nghĩ đến Tết nơi quê nhà, nht là được lì xì. Cha m trao cho con cái nhng bao lì xì, người ln lì xì người nh. Con bng nghĩ đến quà thưởng hay là quà Tết, mà Cha Trên Tri s ban cho chúng con.

Không ph
i ch nhm vào ngày Tết, mà là mi gi, mi ngày, mi tháng, mi năm, Chúa luôn ban cho chúng con, đó là ân sng Chúa. Còn lương thc mà Chúa ban cho, chúng con chng cn phi lao công mi có được, đó là chính Mình Máu Chúa trong mi Thánh L dâng lên Chúa Cha trên bàn th.  Món quà “Tết Vĩnh Cu’’ này được ban cho nhưng không, bt c khi nào chúng con mun nhn lãnh.
Con còn nh mi ln gn Tết, thì ba má con ha s lì xì cho con nhiu, nếu trong năm con ngoan ngoãn nghe li cha m, hc gii, hiếu đ, d bo… Đó cũng là mt li khuyến khích và cũng có th nói là mt điu kin đ được quà. Còn Chúa, vì yêu thương nhân loi mà Chúa đã ban cho món quà vô giá, Chúa li chng đòi hi gì t chúng con. Chúa ch mong sao chúng con chp nhn Món Quà ca Chúa, đó là chính Mình Chúa.  Vy mà phn đông Chúa li b chi t!

Quà này s
không hư nát như tt c nhng gì chúng con có được thế gian này, đó là Bánh Hng Sng t tri xung, là chính Chúa.

M
i ngày con được rước Chúa vào lòng con, và nhng gì ca Chúa đu là ca con. Ước gì con biết sng hip nht vi Chúa đ Chúa biến đi con thành chính con người ca Chúa. Thánh Phaolô  nói rng: “Không phi tôi sng, mà chính Chúa
Giêsu s
ng trong tôi”.

Được Chúa sng trong con là con được lãnh phn thưởng không bao gi hư nát, đó là cuc sng vĩnh cu trên Thiên đàng.

Nh
ưng tht bun thay Chúa ơi, trn gian này vi nhng quyến rũ ca nó, đã làm cho con không coi trng món quà quý giá này, mà Chúa sn sàng ban cho con. Ngày Tết,  hình như con ch lo cho thân xác này được đp hơn, nhà ca khang trang hơn, đ đón tiếp người nhà và bn bè tp np.
Con đã quên lo cho linh hn con, và cũng chng nh mi người khách quan trng nht, đó là Chúa Giêsu tt lành, hôm nay, ngày mai và mãi mãi.

Phi, hôm nay, ngày mai và mãi mãi, Chúa vn luôn tt lành nhưng cũng vn là người b chi t, b lãng quên. My ai nh đến Chúa trong nhng ngày đi l này h Chúa?  Có chăng là theo l, đu năm thì dâng l, đi nhà th, đ xin ơn Chúa ban cho năm ti.  Còn tình yêu và tm lòng tri ân đi vi Chúa, thì hình như con đã quên, vì mt năm qua đi, con vn sng trong bình an và sung túc, tưởng chng như đó là chuyn t nhiên mà thôi.

Ly Chúa Giêsu, ngày đu năm, con s ôn li nhng gì đã xy ra cho con trong năm
qua, nh
ng gì con lãnh nhn được t Chúa, và c nhng gì con đã t chi Chúa.

T
chi ban phát yêu thương, t chi sng bác ái vi tha nhân, t chi tha th, t chi sng đi cu nguyn, đ kết hip vi Chúa và M Maria, t chi thường xuyên rước Chúa vào linh hn con qua Bí Tích Thánh Th.

Ôi, l
y Chúa Giêsu, xin Chúa đng đếm nhng gì con chi t Chúa, s làm Chúa đau bun lm!  Xin Chúa mãi luôn rng lượng th tha cho con nhé Chúa, và ban ơn cho con trong năm ti này, mt ơn rt trng, đó là ơn “không t chi Chúa điu gì, và cũng có nghĩa là luôn vâng theo Thánh ý nhim mu ca Chúa.

Cm t Chúa vì bao ơn lành Chúa đã thương ban cho con và nhng người thân yêu, cùng nhng người con cu nguyn cho.

Cm t M Maria đã ban cho chúng con, người Anh C tt lành này bng hai tiếng Xin Vâng ca M ngày nào, nơi ngôi làng nh bé Nazareth. Xin M tiếp tc phù trì, dn dt nhân loi đi theo con đường mà Anh C Giêsu đã vch sn cho chúng con. Amen.
MenYeuGiêsu!
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

HỌ ĐÃ SỐNG NHƯ THẾ

HỌ ĐÃ SỐNG NHƯ THẾ

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.
nguon:Conggiaovietnam.net

Sau nhiều năm vì hoàn cảnh, hôm nay tôi được diễm phúc trở lại vùng đất Tây Nguyên – vùng đất tập trung khá nhiều anh em đang dõi bước cha anh phục vụ công cuộc truyền giáo cho anh chị em dân tộc thiểu số.

Đến Gia Lai, màn đêm buông xuống, hình ảnh thành phố thân thương ngày nào đang hiện dần trước mắt. Thay đổi khá nhiều bởi lẽ cuộc sống ngày càng đổi thay. Người anh tôi thăm viếng không ở gần thành phố cho lắm, chạy từ thành phố vào non đủ 50 cây số. Sau hơn một giờ, xe đưa hai anh em tôi vào đến buôn làng nơi anh đang phục vụ. Cảnh cũng quen quen nhưng phần nào đã đổi bởi lẽ sau nhiều năm người anh tiền nhiệm đã gầy dựng từ con số không trên mảnh đất thân thương làng Khop này. Khá mệt, tôi chìm vào giấc ngủ đêm với khí trời se lạnh.

Tờ mờ sáng, tiếng các em dân tộc được
người anh cưu mang ríu rít với nhau cạnh bên chiếc nhà sàn cổ nhất. Cổ nhất
không phải là xa xưa lắm nhưng cổ ở đây chính vì đây là căn nhà sàn đầu tiên mà
người khởi xướng gầy dựng ở nơi đây. Sau khi hoàn thành việc khởi xướng, người
anh này rời bỏ nơi đây để phục vụ một nơi khác cũng trên mảnh đất Tây Nguyên. Giờ
đây anh lại bỏ nơi xưa đi xa hơn nữa để giúp làm trung tâm hành hương Đức Mẹ
tận Kontum.

Khởi đầu ngày mới là vài gói mì tôm.
Hỏi cô bé Boai là người phục vụ mới biết đây là món chính của cha con người dân
tộc ở cái nhà thờ làng Khop này. Cha chưa nuôi đủ bản thân mình lại cưu mang
thêm gần chục đứa nhỏ nên chuyện mì gói muôn năm cũng chẳng có gì là lạ. Những
gói mì tuy đạm bạc nhưng đã bắn bó tình nghĩa cha con nơi vùng đất giáp ranh
biên giới nghèo này.



Mì gói xong, tôi cùng anh và bà con dân
tộc cùng nhau lên chiếc xe có một không hai của vùng này, không dám quá lời, nó
cũng là chiếc xe có một không hai của nước Việt. Nó đặc biệt bởi lẽ đây là
chiếc xe 25 chỗ ngồi hiệu Asia được mua lại từ nguồn hàng phế liệu, nhờ người
giáo dân người Kinh tốt bụng ở Thị Trấn Đức Cơ chỉnh sửa để chở các em học sinh
đi học. Hay nhất là trên xe không còn hàng ghế nguyên thủy mà thay vào đó là
một chồng ghế nhựa cho tiện dụng. Chiếc xe vẫn vui vẻ đưa học sinh đi học mỗi
ngày hôm nay được tận dụng đi đám tang trong làng xa. Cầm lái chiếc xe cổ này
vẫn là người anh linh mục có lòng yêu thương dân tộc khá đặc biệt.

Phải dừng lại một tí để nói về chiếc xe
đặc biệt này. Nó chỉ “được phép” chạy vòng vòng ở trong cái huyện Đức
Cơ chứ đừng hòng béng mảng ra khỏi Thị. Chỉ “được phép” ở Đức Cơ bởi
lẽ nó không còn hạn kiểm định nữa và cũng chẳng còn cơ may đi kiểm định. Nhìn
chiếc xe chỉ còn cái xác bên ngoài chứ bên trong không còn là chiếc xe nữa.
Nghèo nên phải tận dụng những gì người ta phế thải để phục vụ những người
nghèo. Cha anh kể lại rằng có hôm anh bận việc, nhờ người dân tộc lái, công an
gọi lại nhắc nhở và hôm sau anh lái. Anh chủ động dừng lại gặp công an và công
an vui vẻ cho xe chạy cùng lời an ủi “phục vụ cộng đồng tốt lắm!”.

Qua chặng đường dài bụi bay mù mịt
chúng tôi đến với đám tang người dân tộc mới qua đời.

Cụ ông Giuse qua đời ở cái tuổi 87.

Mọi sự để chuẩn bị cho Thánh Lễ
đã sẵn sàng.

Đây là lần đầu tiên tôi được tham dự
nghi thức nhập quan cũng như Thánh Lễ an táng cho người dân tộc Jrai.

Hết chuyện lạ này sang chuyện lạ khác bởi nét văn hóa của người Jrai. Trong những chuyện lạ đó, nét văn hóa hay nói đúng hơn nền văn minh tình thương của người Jrai được thể hiện nhiều hơn cả. Mỗi người cầm theo phần của mình đi dự đám tang. Họ cùng chia sẻ của ăn, thức uống với nhau trong những ngày tang lễ. Nghèo nhưng họ yêu thương nhau quá !

Lễ xong, rời đám tang, chúng tôi lại cùng nhau lên xe chia sẻ chút quà tết cho làng sâu bên trong hơn nữa.

Lúc này, chúng tôi được ngồi trên chiếc xe cũng có một không hai của vùng này. Xe này nguyên thủy của Tòa Giám Mục Kontum. Cũng qua nhiều đời chủ nay nó không còn được sử dụng bởi ai cũng chê nó cũ kỹ. Thấy vậy, người anh thân thương thuê xe khác kéo xe này về và lại nhờ người giáo dân kia sửa lại để chở đồ cho người dân tộc ở trong vùng sâu. Sau khi thay cái máy khác, chiếc xe này đã trở thành “hàng chính chủ” của người anh linh mục phục vụ tại làng Khop này.

Đi vào tận trong sâu để gặp gỡ trực
tiếp những người có thân phận kém may mắn.

Tình thương người nghèo và đặc biệt
người dân tộc thiểu số đã làm cho cái đói, cái mệt đi vào quên lãng. Ở cái vùng
đất nghèo này thì chẳng có thời gian và cũng chẳng có không gian. Không biết có
quá lời không khi các làng dân tộc nghèo ở rải rác khắp nơi trong một diện tích
rộng và nếu tính thời gian thì không thể nào phục vụ cho những người nghèo ở
đây được.

Chiều về, dẫu mệt nhưng nhớ đến những
người nghèo ở trong các làng để rồi cái mệt chạy đi đâu mất.

Cơm nước đạm bạc xong, nghỉ ngơi một
chút thì bà con lại quy tụ với nhau trong ngôi nguyện đường thật khiêm tốn.
Ngôi nguyện được ngày được người anh tiên khởi đến đây thiết kế để phục vụ cho
người dân tộc J’rai ở đây khá phù hợp với cái vẻ đơn sơ và mộc mạc.

Tiếng kinh râm rang được cất lên thật nhịp nhàng.

19 g 20 phút, Thánh Lễ được cử hành.
Tham dự Thánh Lễ ở cái làng Khop này làm cho tôi liên tưởng rằng mình đang ở
đâu đó ở nước ngoài bởi lẽ tiếng J’rai làm sao tôi hiểu được. Cùng hiệp nguyện
với cộng đoàn phụng vụ trong lời kinh tiếng hát. Hiểu chút chút với phần nghi
thức sám hối, đặc biệt là “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi
đàng” bằng tiếng J’rai.

Lễ xong cộng đoàn ra về.

Chúng tôi được một đêm yên hàn sau một ngày mệt nhọc.

Tờ mờ sáng hôm sau, tiếng trống báo hiệu một ngày mới bắt đầu.

Thánh Lễ tạ ơn và cầu bình an cho ngày mới được cử hành trong bầu khí trang nghiêm và sốt sắng. Điều khá ngạc nhiên ở đây là Thánh Lễ tối qua cũng như sáng nay được khá nhiều người tham dự. Cũng là điều đáng mừng cho ngôi nhà nguyện khiêm tốn ở đây chứ không thì buồn lắm vì lẽ nhà nguyện sẵn có mà lại chẳng có ai. Ngôi nhà nguyện ở đây phù hợp với cái làng nghèo này. Nhiều nơi buồn lắm bởi lẽ nhà nguyện hay nhà thờ thì cao chót vót và thật hoành tráng nhưng số người dự lễ thật thưa thớt. Vẫn là điều nghịch lý bấy lâu nay cho những công trình xây dựng để đời ngay tại nhưng nơi mà bà con giáo dân còn phải chạy ăn từng bữa hay là bữa đói bữa no.

Lễ xong, cộng đoàn các sơ và các em được cha cưu mang cùng cha ở lại đọc kinh Phụng Vụ. Giữa cái vùng đất nghèo này vang lên lời kinh của Hội Thánh thật dễ thương.

Kinh xong, một ngày mới lại bắt đầu với những công việc không tên.

Được biết một cha kia ngày xưa đã từng
đến phục vụ ở vùng nghèo này khi còn làm thầy nay trở lại chia sẻ chút quà cho
bà con ở làng xa. Chiếc xe mới ngày hôm qua chở tôi đi vào làng nay lại nằm một
chỗ. Chẳng lạ gì vì nó là đồ phế thải mang về chạy tạm. Tội nghiệp cho người
thợ giáo dân thương mến cha đặc trách vào tận bên trong làng để sửa mang về.
Mãi đến chiều tối chiếc xe mới chịu nổ máy để đưa các em dân tộc tháp tùng về
lại nhà thờ.

Lấm lem bụi cộng với dầu nhớt làm cho hình ảnh nắng sương của các em làm cho các em thêm phần bụi bặm hơn. Tranh thủ rửa tay và vào dùng bữa bởi lẽ cả ngày chẳng có gì trong bụng với chiếc xe nằm đường.

Cha đặc trách lại phải ngược xuôi với
những công việc của ngày cuối năm. Chốc chốc lại chạy ra công trường để xem
nhân công đang làm bờ rào cho khuôn viên nhà thờ. Cũng chẳng nghĩ đến chuyện
rào chắn nhưng kẻ trộm đã không khước từ ngay cả nơi nhà Chúa nên Cha bấm bụng
làm cho xong chuyện. Ngại lắm mới có cái chuyện làm hàng rào hàng cửa chứ chẳng
ai nghĩ đến chuyện rào chắn nơi cái vùng đất nghèo này. Nhưng có lẽ đến lúc
cũng phải làm để chặn ngăn những kẻ không còn chút lương tri là vào tận nhà xứ
để rinh đồ.

Chiều tối, sau khi ăn vội chút cơm
chiều, cha anh lại đưa tôi ra ngoài phố để chuẩn bị cho cuộc trở về Sài Thành
trong những ngày giáp Tết.

Lại tạm xa cái làng Khop thân thương để trở về với những công việc thường nhật.

Ngồi trên xe trên hành trình về lại nhưng hình ảnh của những người dân tộc nghèo và hình ảnh của người anh linh mục đang phục vụ nơi đây vẫn còn trong tâm thức.

Họ nghèo, anh đến với họ và anh sống nghèo, sống lam lũ với họ trong ơn gọi tận hiến của Hội Dòng. Anh tôi đã đến đây và sống nghèo cùng họ.

Thật lòng ngưỡng mộ anh cũng như biết bao nhiêu cha anh khác đang âm thầm phục vụ cho người nghèo ở cái vùng hẻo lánh như vùng hẻo lánh nơi đây.

Vẫn còn bạt ngàn cho cánh đồng truyền giáo và vẫn cần những người thợ gặt tận tâm tận tình với những con người nhỏ bé ở nơi đây.

Giữa một thế giới văn minh, giữa một đất nước chuyển mình nhưng lại vẫn còn những người nghèo ở cái mảnh đất ven biên giới này. Họ nghèo cả tinh thần lẫn vật chất. Bao nhiêu năm nay họ vẫn chìm trong cảnh thiếu trước hụt sau, bữa đói bữa no.

Biết đâu được đây là bước dò đường cho cuộc đời tận hiến còn lại.

Có chăng cả cuộc đời còn lại sẽ được ở nơi những con người nghèo này.

Mệt nhoài cho thân xác bởi lẽ phải lo toan đủ thứ đủ điều nhưng đêm về ngon giấc không còn phải nghĩ suy.

Có thể Chúa lại rẽ hướng cho tôi đến với những con người nghèo nơi đây chẳng nên.

Tất cả là hồng ân ! Tất là là Thánh ý của Chúa trong cuộc đời.

Tạ ơn Chúa với biết bao nhiêu ơn lành Chúa đã tuôn đổ trên tôi trong suốt cả cuộc đời và gần nhất là trong năm cũ gần qua. Những ngày ngắn ngủi trên mảnh đất này đã để lại những hình ảnh của những người nghèo, của người anh linh mục đang dấn thân nơi đây.

Vẫn mong đâu đó có những tấm lòng sẻ chia phần nào đó về tinh thần và vật chất cho những người nghèo ở nơi đây.

Những ngày giáp Tết Quý Tỵ

Anmai, CSsR