TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Thường, sau giờ cơm, anh em chúng tôi có chút thời gian thư giãn, tếu táo với nhau một lát rồi đi nghỉ.

Trưa hôm nay, cảm hứng dậy lên trong lòng và người anh em kia ngêu ngao : “Hồng ân Chúa như mưa như mưa, rơi xuống đời con miên man miên man nâng đỡ tình con trong tay trong tay vòng tay thương mến …”. Nghe hát như thế, một người trêu lại : “… rơi xuống đời con te tua te tua …”.

Chắc có lẽ, dưới góc nhìn của người anh em về những kẻ thân phận phiêu bạt, trôi dạt vào một góc nào đó của cuộc đời nên trêu nhau tí cho đỡ buồn. Anh nói như thế như chia sẻ, cảm thông về phận của những kẻ bị gạt ra bên lề.

Hiểu lòng chạnh thương của anh và tôi nói với anh rằng biết là anh đùa nhưng mình không nên nghĩ như thế bởi lẽ trong cuộc sống, tất cả đều là hồng ân. Không phải sống trong cảnh khó khăn, bị bỏ rơi, bị gạt là hồng ân nhưng trong cảnh sống đó, ta có cơ may nắt gặp lòng “chạnh thương” thật sự của Thiên Chúa qua một số anh em.

Tôi nói, anh có nhớ hôm thứ Ba vừa rồi, trong bài chia sẻ của mình, cha giảng mời gọi anh em nhìn lại lòng chạnh thương của Chúa Giêsu khi Ngài thương cảnh mẹ góa phải chôn con côi. Cha nói rằng không phải lòng chạnh thương đó mình đặt ở đâu đó cách đây vài ba ngàn cây số hay ở đâu đâu. Lòng chạnh thương đó cần lắm ở những anh em đang nằm bệnh hay những anh em ở trên cao kia kìa, những anh em đang đang gặp khó khăn thử thách kìa …

Hóa ra rằng trong những giây phút khó khăn của cuộc đời, cũng có người chạnh thương đến anh em đang gặp khó khăn. Phải chăng đó là hồng ân mà Thiên Chúa đang trao gửi.

Và, tôi cũng nhắc với người anh em là mới hôm qua thôi. chẳng hiểu duyên cơ nào đến, cha giảng lại gợi lại hình ảnh của Phêrô và Giuđa. Cha giảng chia sẻ rằng có thể hôm nay con thấy mình thánh thiện nhưng biết đâu được đến một lúc nào đó con phản bội Chúa như Phêrô và Giuđa. Thế nhưng, chuyện quan trọng là trong lúc tăm tối của cuộc đời, ta có chạm đến ánh mắt chạnh thương của Chúa Giêsu hay không ? Ánh mắt của Chúa Giêsu đang bị trói ở góc sân Dinh Thượng Tế chứ không phải là ánh mắt khi làm phép lạ, khi hóa bánh ra nhiều, khi làm cho sóng gió yên lặng … Và, trong cuộc sống, ánh mắt của ta có chạm, có chạnh thương đến với những con người nghèo khổ đang ở ngay bên cạnh ta không ? …

Thế đó ! Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh như Thánh Phaolô mời gọi. Trong hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc đời khi bị loại trừ, khi bị lên án, khi bị sỉ nhục đi chăng nữa thì ta vẫn còn một nơi để ta bám víu đó là chính ánh mắt, đó chính là lòng chạnh thương của Chúa Giêsu.

Trong cái thân phận bi đát tủi nhục của cuộc đời, ông Giob vẫn tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Cuối đời, Thiên Chúa đã phục hồi cho ông những gì ông bị mất mát, đau khổ.

Trong cái nhìn khinh khi của cuộc đời, Đavit đã cúi đầu nhận tội với Thiên Chúa và ông được Thiên Chúa tha thứ. Trong cảm thức đau khổ, Đavít luôn xin Chúa chạnh thương con người yếu hèn của mình. Hồng ân thương xót tha thứ của Thiên Chúa đã đổ tràn trên đời của vua Thánh Đavít.

Với cảm nhận thực tại của cuộc sống ta sẽ cảm nhận đời ta quả là hồng ân Chúa cứ miên man miên man. Không phải chỉ nhắm đến cái ăn cái mặc cho cái thân xác tạm bợ bảy tám chục ký này nhưng khi nhìn vào thực tại cuộc sống, ta hạnh phúc hơn rất nhiều người.

Nghĩ xa hơn một tí, ta có thể bị thế này thế kia trong cuộc đời nhưng ta chưa phải lâm vào cảnh thiếu trước hụt sau hay phải chạy ăn từng bữa.

Những ngày này, thời tiết không như ta nghĩ và cũng không như ta mong muốn bởi ảnh hưởng của giông bão. Có thể sáng nắng đó nhưng chiều đến thì những cơn mưa giông thật lớn trào xuống. Và, cũng có thể trước khi ta đi ngủ, bỗng dưng cơn mưa nặng hạt như trút nước xuống. Và, dù mưa to gió lớn như thế nào đi chăng nữa, ta vẫn ấm êm trong căn nhà kiên cố để rồi gió và bão cũng chẳng làm gì được ta.

Và, ta đang vẫn còn hạnh phúc vơi thân thể chưa phải lâm vào cảnh trọng bệnh. Khi nào ta rơi vào cảnh đó ta mới cảm được thấu nỗi đau của phận người. Phận người vẫn mong manh và thật nhỏ bé trong bàn tay của Đấng Tạo Thành.

Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, hãy chúc tụng Danh Chúa bởi vì muôn ơn lành Chúa vẫn ngày đêm tuôn đổ xuống trên đời ta và nhất là ánh mắt chạnh thương của một Giêsu giàu lòng thương xót luôn dõi nhìn ta dù cho ta có lỗi tội, dù ta phản bội Ngài.

Hãy xin cho có ơn như Phêrô và Giuđa để luôn dõi mắt nhìn ánh mắt chạnh thương của Chúa để được ơn cứu độ sau cõi tạm này.

Anmai, CSsR

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 1

KHI VỢ KHÁC NIỀM TIN TÔN GIÁO – Phần 1

Trích EPHATA 580

Người anh em mến,

Không khí tiết trời đang chuyển sang se se lạnh với gió nhẹ hiu hiu mỗi sớm mai thức dậy khiến nhiều người chúng ta đang trải nghiệm một cảm giác gì đó vừa thân quen lại vừa lạ lạ, bởi đất trời đổi thay và thời tiết thì cũng không nằm ngoài quy luật bất biến ấy. Cá nhân anh, cảm thấy lòng nhẹ nhàng và thanh thản đến lạ kỳ, khi mỗi sáng được ngồi bên khung cửa sổ của một quán cafe để chiêm ngắm cuộc sống.

Và ngay lúc này khi đang nghe đĩa nhạc thời danh Cantate Domino – một album nhạc cổ điển cho mùa Giáng Sinh đang về với chúng ta, đĩa nhạc được thực hiện bởi dàn nhạc Oscar’s Motet Choir dưới sự chỉ huy của Torsten Nilsson, với rất nhiều nhạc khúc tuyệt vời khác nhau của các nhà soạn nhạc tài ba qua mọi thời đại, anh chợt nhớ đến câu hỏi mà em đặt ra cho anh khi chúng ta trò chuyện cách đây ít lâu về chủ đề niềm tin tôn giáo trong cuộc sống lứa đôi.

Em cho anh biết, em đang quen bạn gái và người này lại khác niềm tin tôn giáo với em ( Một bên là Kitô Hữu Công Giáo và một bên là Phật Tử Phật Giáo ), em trăn trở vì không phải hai bạn khác nhau về niềm tin, nhưng là suy nghĩ đến thế hệ tiếp theo là những đứa con của hai em trong mối tương quan với tất cả những người xung quanh. Liệu con của các em nó có phát triển cách đúng đắn theo Đức Tin Công Giáo mà em đã được thụ hưởng không, hay nó sẽ bị rơi vào tình trạng rối loạn niềm tin như nhiều người khác mà em có dịp quen và làm việc chung với họ khi những người này là con của những gia đình khác niềm tin tôn giáo.

Trước vấn đề em suy nghĩ và trăn trở, anh xin được gửi đến em một vài chia sẻ khi đặt chính bản thân anh vào hoàn cảnh và tình huống của em. Những suy nghĩ này không có mối liên hệ gì đến Giáo Luật ( Vì Giáo Luật hoàn toàn cho phép hai bạn kết hôn khác niềm tin tôn giáo ), cũng không liên quan gì đến Pháp Luật ( Vì pháp luật không ngăn cấm ), và cũng không liên quan gì đến Đạo ( vì đạo nào thì cũng tốt theo nghĩa hướng người ta đến chỗ sống tốt ). Ở đây, anh chỉ đề cập đến yếu tố tập chú vào cháu bé khi còn nhỏ cho đến khi lớn lên trong mối tương quan cháu bé được hai em cho dự phần vào Đức Tin Công Giáo.

Vùng đất nhiễm phèn và ngập mặn

Ai cũng biết ở vùng đất thế này thì chẳng có cây gì có thể trồng trọt, canh tác, hay phát triển bình thường được. Đây là một sự thật từ thiên nhiên mời gọi chúng ta suy nghĩ về mối tương quan giữa hai bạn và các con của hai bạn sau hôn nhân trong mối liên hệ đến sự pha trộn quá nhiều cái mà chúng ta không gọi là sự khác biệt cho bằng sự bất đồng về quan điểm giáo dục và niềm tin. Nếu vùng đất nước ngập mặn và nhiễm phèn đã khó và gần như không thể canh tác và trồng trọt, thì hẳn một môi trường gia đình pha trộn sự bất đồng của nhiều yếu tố cũng khó có thể mang lại cho xã hội một nhân tố tốt lành và hữu ích. Cây đó nếu trồng được thì hẳn sẽ không bình thường nếu không muốn nói là èo uột, còn giả như bình thường thì hẳn trái của nó sẽ không ngon ngọt như những cây được trồng ở đúng vùng đất tốt và hoàn hảo.

Trước hết, chúng ta nói với nhau về sự bất đồng về quan điểm giáo dục. Ở đây, ai cũng nhân danh cái gọi là “muốn con mình là người tài đức và hữu ích cho gia đình và xã hội” trên môi miệng để tạo nên thế đối kháng khi giáo dục con cái về nhân cách. Có quá nhiều gia đình mà các bậc cha mẹ không thống nhất với nhau về quan điểm nuôi dạy con cái, đã tạo nên cho những người con mình một sự phát triển không đúng đắn về tâm lý và nhân cách sau này.

Vì sự không thống nhất này mà hễ cháu ngồi với cha thì cha nói một đằng, cháu nghe và áp dụng; khi ngồi bên mẹ, mẹ lại thủ thỉ một đằng khác trên cùng một vấn đề, và cháu thắc mắc vì sao có sự khác khác này giữa cha và mẹ thì cả hai đều thay vì giải thích để cháu thêm phong phú ( nếu có ) lại quay ra chê bai quan điểm của nhau, vì ai cũng muốn con mình tung hô và khen là tài giỏi ( Lớn rồi mà vẫn cứ như con nít ).

Thế nên, bối rối giữa cha và mẹ mà lại không được giải thích cặn kẽ, nên để khỏi mất lòng cha mẹ, cháu tự nghĩ ra một quan điểm mới mang tên là “Quan Điểm Của Tôi”. Từ nay, ông nói kệ ông, bà nói kệ bà, tôi sống theo cách của tôi. Về mặt này, người anh em cần suy nghĩ cho thật đúng đắn trước khi kết hôn, cần có những trao đổi thẳng thắn trong thời kì tìm hiểu chứ đừng vì sợ mất cảm hứng, hay mất vui, hay mất lòng mà ngần ngại không dám đề cập và trao đổi với nhau. Đây cũng là lầm lạc rất lớn của nhiều đôi bạn khi hoặc vì nhát đảm hoặc vì thiếu hiểu biết sâu sắc thật sự mà không dám đề cập khi đang “yêu nhau”, để rồi khi lấy nhau về họ cũng chưa dám nói ra, và khi có con thì mâu thuẫn từ đây nảy sinh. Và thế là thay vì khiêm tốn nhận ra thiếu sót và chân thành cùng bàn bạc ra một đường lối và quyết sách chung, họ lại áp dụng phương thức mạnh ai nấy dạy con cho nó thành quái nhân.

Thứ đến, chúng ta cùng nói về sự bất đồng trong quan điểm giáo dục niềm tin ( nói theo cách chung nhất, vì theo quan điểm Công Giáo thì gọi là Giáo Dục Đức Tin ). Người anh em vốn đã được giáo dục Đức Tin Công Giáo tinh tuyền từ tấm bé, thế nên theo Giáo Luật thì cha mẹ phải có trách nhiệm sinh sản và giáo dục theo Đức Tin Công Giáo. Đó là luật buộc, không thể tranh luận gì thêm.

Tuy nhiên, khi người vợ anh em hoặc giữ đạo mình theo Phép Chuẩn Công Giáo (chồng giữ đạo chồng, vợ giữ đạo vợ) hoặc gia nhập Giáo Hội ( Tức là có cùng một Đức Tin vì mới theo đạo ) nên hệ quan điểm có phần nào hoặc bất đồng hoặc vì chưa chắc chắn vì bản thân cô ấy còn quá mới so với mấy chục năm sống. Vì đứa bé sẽ được giáo dục theo bố, tức là học tất cả mọi điều theo truyền thống giáo dục Đức Tin của Giáo Hội, nên bố lúc này sẽ giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, bản thân bố vì nhiều lý do mà đôi khi bản thân đã không thông tường hết mọi điều về Tín Lý và Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy đã thấy mình tự thân rối, nhưng vẫn ráng sức dạy dỗ cho con những điều căn bản.

Rồi người con ấy lại chạy đến hỏi mẹ, và mẹ vì không muốn con mình chê là thiếu hiểu biết nên đành giải thích theo cách mẹ nó hiểu ( Hiểu kiểu nào thì cũng sẽ gặp vấn đề, vì đức tin không thuộc phạm trù giải thích theo lý luận của triết học ), và từ đây đứa bé do thấy mâu thuẫn và thiếu thoả đáng, nó sẽ tự ý tạo ra một cách hiểu và thực hành Đức Tin mới có tên là “Kiểu Sống Đạo Của Tôi”. Từ nay, ông nói gì kệ ông, ông giải thích gì kệ ông, bà dạy gì thì tuỳ, tôi sống theo cách của tôi miễn sao lương tâm không cắn rứt và không hổ thẹn là được.

Về điểm này, anh em cần thẳng thắn hỏi lại bản thân mình cách nghiêm túc trước khi mời gọi người yêu của mình theo đạo hoặc đạo ai nấy giữ khi còn đang yêu nhau. Câu hỏi anh em cần đặt ra cho bản thân mình là “Tôi đã thực sự dùng thời gian để tìm hiểu kỹ càng Tín Lý và Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy chưa ?”, “Tôi đã thực hành Đức Tin của mình thế nào để có thể trở thành mẫu gương cho người bạn đời này qua đó mà nhận ra Đấng mà tôi tuyên tín ?”

Nếu hai câu hỏi này mà anh em can đảm quả quyết “CHƯA !” thì anh em hãy khoan lập gia đình, không phải vì hèn nhát, nhưng vì phần ích và phần rỗi của cả vợ và con người anh em tương lai, nếu không muốn nói đến cả một cộng đồng to lớn phía trước đang chờ đón anh em phía trước.

Nếu phần anh em đã có chữ “RỒI” cách quả quyết thì cần hỏi về phía người anh em sẽ kết hôn. Câu hỏi là “Liệu nàng có thật sự tin theo một Đức Tin tinh tuyền mà Thiên Chúa đã đặt sẵn nơi trái tim không, hay theo như một thủ tục để có chồng cho xong ?”, “Liệu nàng có thiện chí để sống hoà hợp trong cùng một Đức Tin với mình để tạo nên thế đồng nhất trong việc giáo dục con cái không ?” “Liệu nàng có hoàn toàn tôn trọng Đức Tin và truyền thống giáo dục Đức Tin của Giáo Hội và để tôi giáo dục con cái, cũng như để con cái được tự do theo Đức Tin ấy trong trường hợp nàng giữ đạo nàng không ?” Nếu sau khi trao đổi, tìm hiểu, và phán đoán, anh em thấy “KHÔNG” nhiều quá, thì tốt nhất can đảm ngừng lại mối quan hệ này còn hơn là cứ ráng nhân danh tình yêu để rồi phải chuốc khổ và tội vào thân.

Người anh em thân mến, anh xin dừng lại câu hỏi của em tại đây và sẽ chia sẻ tiếp với em vào các lá thư khác cùng chủ đề. Trong thư này, anh mời gọi em suy nghĩ về hai khía cạnh anh vừa nêu ra trước khi tiến đến hôn nhân thực sự. Vì như anh em biết đấy, hai đặc tính quan trọng của Hôn Nhân Công Giáo là Đơn Hôn và Bất Khả Phân Ly. Theo đó, đơn hôn nghĩa là chỉ một vợ một chồng và chung thuỷ với nhau cả trong tư tưởng lẫn trong các mối quan hệ; bất khả phân ly nghĩa là mối dây hôn phối ấy khi được xem là hợp Pháp và hợp Giáo Luật thì tồn tại cho đến khi chết ( hoặc vợ hoặc chồng ) còn ngoài ra thì không còn sự gì có thể chia rẽ đôi bạn, điều này loại trừ luôn sự ly dị ( Nghĩa là không có sự ly dị ).

Chính vì lẽ này, mà chúng ta không có quyền chọn lựa theo kiểu sống thử hay lấy thử, hợp thì tiếp tục không hợp thì chia tay theo như nhiều anh em ngoài Công Giáo vẫn sống được. Anh em hãy kết hôn cách có ý thức và trách nhiệm tròn đầy không phải chỉ trước mặt người mình yêu hay con cái, mà là trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội.

Xin được hẹn anh em trong lá thư tới chúng ta sẽ trao đổi các vấn đề khác trong cùng một chủ đề. Có điều gì anh em chưa rõ thì đừng ngần ngại thư cho anh nhé. Mến chúc anh em tìm cho mình câu trả lời xác thực nhất để sống vui và hạnh phúc nhé.

JOSEPH C. PHAM

LÀM TÔI AI ?

LÀM TÔI AI ?

Trích EPHATA 580

Được biết vào tháng 9 năm 2013 ( từ ngày 9 đến 16 tháng 9 ) tại Hà Nội có hội diễn 10 vở kịch của Lưu Quang Vũ, để tưởng niệm 25 năm ngày mất của nhà thơ, nhà biên kịch tài danh.

25 năm trước, xã hội Việt nam sôi động vì những kịch bản của Lưu Quang Vũ xuất hiện ồ ạt trên sân khấu nghệ thuật, nội dung kịch bản chạm vào những vấn đề nhức nhối của xã hội, mà khi ấy không mấy ai dám nói, dám bình phẩm. Lưu Quang Vũ đã đem lên sân khấu để nghiềm ngẫm, lý giải, tiên đoán và gợi hướng thoát.

Là một khán giả ở phương Nam, say mê với cải lương Lá sầu riêng trổ bông, Dưới hai màu áo, tha thiết với kịch của Túy Hồng nhạc minh họa Lam Phương, bình tĩnh với kịch Vũ Đức Duy, lãng mạn với nhạc phim Nhật Trường – Thanh Lan, … tôi chưa quen lắm với lối diễn xuất kịch nghệ thuật từ phương Bắc, nhưng tôi đã hoàn toàn bị say đắm bởi kịch bản của ông khi đến rạp xem “Tôi và chúng ta”, “Hồn Trương Ba da hàng thịt”…

Đột nhiên một ngày nghe tin ông mất, chuyến xe định mệnh từ Hải Phòng về Hà Nội, ông ra đi cùng với đứa con yêu, Lưu Quỳnh Thơ, và người vợ tài hoa, thi sĩ Xuân Quỳnh. Thương tiếc và chán nản, vì cái chết xem ra khó hiểu và quá đột ngột. 25 năm sau, tôi không có dịp ra Hà Nội để xem hội diễn, nhưng báo chí bảo rằng: người ta chen nhau vào xem, có khi chỉ để ngồi sau lưng người khác nghe lời thoại.

Tôi tìm vào mạng xem vở kịch “Ông không phải là bố tôi”. Câu chuyện xoay quanh một gia đình ba thế hệ, từ “cuộc kháng chiến” người trai trẻ bỏ lại vợ con lên đường, hết chiến tranh anh ta không về lại quê nhà, khi vợ con tìm đến, anh sợ mất điểm với chế độ, vì bố vợ anh di cư vào Nam năm 1954, anh đã từ chối vợ con.

Kịch bản bắt đầu từ câu “Tôi không phải là bố anh” để rồi xuyên suốt vở kịch, câu “Ông không phải là bố tôi” được lập đi lập lại, từ miệng đứa con trai của anh bộ đội năm xưa, cho đến thế hệ kế tiếp nữa là đứa con trai của anh ta. Sân khấu bày ra sự bế tắc về xã hội mà nền tảng là gia đình bị phá vỡ, chỉ vì danh vọng, chỉ vì bám víu lấy sự tồn tại trên cõi đời, chỉ vì ham mê thế gian, con người lọc lừa gian dối nhau, từ chối nhau, hành xử bất nhân bất nghĩa với nhau…

Giữa những cái lùng nhùng bế tắc đó, anh con trai, thế hệ thứ ba, cháu nội của người cán bộ năm xưa từ chối con mình, đã thiết kế dàn dựng một bài học làm sáng mắt cha mẹ và ông nội mình, mang lại cho người xem chút hy vọng vào thế hệ trẻ, thế hệ ý thức và đảm nhận trách nhiệm đứng lên xây dựng lại nhân phẩm và con người.

Báo chí trong tuần qua tường thuật lại những phát biểu tại phiên họp Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam, Từ ông chủ tịch Quốc Hội, đến bà phó chủ tịch Nước, cùng các đại biểu đều đưa ra những nhận định chua xót về xã hội, một xã hội phá sản đến tận cùng, một xã hội rơi xuống đáy của tôn ti trật tự, của lòng tự trọng và của nhân bản.

Lưu Quang Vũ có lời tiên tri trong các kịch bản của ông, lời tiên tri về sự xuống dốc, 25 năm đủ minh chứng lời ấy, và hình như lời tiên tri đó cũng đúng cho cả phần cuối. Một lớp trẻ đang ý thức và sẵn sàng đứng lên dựng lại cơ đồ.

Bài Tin Mừng Chúa nhật 25 Thường Niên C đưa ra một quả quyết “không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” ( Lc 16, 13 ), phải có một chọn lựa dứt khoát, thế gian ( hiểu theo nghĩa xấu ) và Thiên Chúa là hai thái cực, hoặc chọn bên này mà bỏ bên kia, hoặc chọn bên kia mà bỏ bên này, đi tìm một thỏa hiệp là tự giết chết mình và phản bội sứ mạng.

Hãy làm chứng rằng Tin Mừng thật sự là tin mang đến nỗi vui mừng cho mọi người, người ta chen lấn đến dù chỉ để nghe lời thoại một vở kịch của một tác giả đã chết, vậy Lời thật của một Đấng hằng sống phải được công bố để làm thỏa cơn đói khát người nghe.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Chúa Nhật 22.9.2013

Độc tài: Mạnh hay yếu?

Độc tài: Mạnh hay yếu?
Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân
Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân
18.09.2013
Người ta thường dễ có ấn tượng là các chế độ độc tài đều mạnh: Chúng có quân đội, có công an, có mật vụ, có chỉ điểm viên (và gần đây, ở một số nước, có “dư luận viên”) trùng trùng điệp điệp. Song song với các lực lượng ấy, chúng có súng đạn, tòa án, nhà tù và các bãi bắn hoặc phòng chích thuốc độc. Nếu các yếu tố trên chưa đủ để khiến mọi người khiếp sợ, các chế độ độc tài còn có thêm một yếu tố này nữa để “thuyết phục” mọi người nên tiếp tục khiếp sợ: Chúng thường có một lịch sử rất dài hoặc khá dài.

Trước hết, nên lưu ý: trong lịch sử nhân loại, độc tài có “tuổi thọ” cao hơn hẳn dân chủ. Dân chủ chỉ là một hiện tượng mới. Thực sự là dân chủ lại càng mới. Mới và lạ: Không phải ở đâu người ta cũng thấy được mặt mũi của dân chủ. Chính vì sống quá lâu với độc tài, từ độc tài phong kiến đến độc tài thực dân và độc tài Cộng sản như vậy, nhiều người cảm thấy quen thuộc, ngỡ nó là số mệnh, như một cái gì đương nhiên. Không thể thoát được. Sự chấp nhận dễ dàng ấy càng làm cho độc tài có vẻ mạnh mẽ hơn.

Độc tài càng có vẻ mạnh hơn nữa khi người ta so sánh nó với dân chủ. Dân chủ, ngay cả khi được xem là hình thức tổ chức hoàn hảo nhất trong tiến trình phát triển của nhân loại, như một điểm “tận cùng của lịch sử” không bao giờ gợi lên ấn tượng về sự mạnh mẽ. Một xã hội càng dân chủ bao nhiêu càng làm cho người ta quên cảm giác về quyền lực bấy nhiêu. Không bị ám ảnh về quyền lực, người ta cũng không có ý niệm về sức mạnh của nó.

Thật ra, tất cả các ấn tượng trên đều giả. Từ góc độ thực tế, các nước dân chủ bao giờ cũng giàu, mạnh và ổn định hơn hẳn các nước độc tài. Từ góc độ lịch sử, xu hướng phát triển chung của nhân loại là chiến thắng của dân chủ trên độc tài chứ không phải ngược lại. Từ góc độ lý thuyết, chính phủ dân chủ bao giờ cũng là chính phủ của đa số, hơn nữa, vì được xây dựng trên nền tảng hiến pháp và luật pháp vững chắc và công minh, luôn luôn bị áp lực của các lực lượng đối lập và của xã hội dân sự mạnh mẽ, chính phủ dân chủ nào cũng cố gắng trở thành chính phủ của toàn dân, của mọi người chứ không phải chỉ giới hạn trong những người đã ủng hộ và bỏ phiếu cho mình.

Chính phủ độc tài, ngược lại, bao giờ cũng là chính phủ của thiểu số. Không bao giờ có thiểu số tuyệt đối: Ngay ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, mọi quyền lực hầu như tập trung hết vào tay nhà vua, kẻ được xem là con Trời. Nhưng vua bao giờ cũng tìm cách liên minh với tầng lớp quý tộc và quan lại để tạo thế lực. Do đó, chính nhà vua cũng phải tự động san sẻ quyền lực với những người khác. Thời hiện đại, các nhà độc tài cũng tìm cách san sẻ quyền lực và quyền lợi với người khác, chủ yếu qua hệ thống đảng mà họ lãnh đạo. Nhưng dù mở rộng đến mấy thì đó cũng vẫn là thiểu số. Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân. Ở Việt Nam hiện nay, trên tổng số gần 90 triệu dân, số đảng viên Cộng sản chỉ có khoảng bốn triệu. Vẫn là thiểu số.

Chỉ cần làm một bài tính nhẩm cũng có thể thấy ngay thế yếu của các chế độ độc tài: Đó là sự đối đầu của thiểu số đối với đa số, của một nhóm người ít ỏi với một đám quần chúng đông đảo. Các nhà độc tài thừa hiểu điều đó nên bao giờ cũng tìm cách củng cố sức mạnh của họ bằng ít nhất ba biện pháp chính: Thứ nhất, trong khi củng cố tổ chức của họ thật chặt chẽ, họ tìm cách phân hoá cái khối đa số quần chúng đông đảo kia, không cho phép quần chúng tập hợp lại và thống nhất với nhau. Thứ hai, dùng biện pháp tuyên truyền để, một mặt, khuếch đại sức mạnh của mình, mặt khác, để tạo ảo tưởng là họ đang đại diện cho đa số, thậm chí, đại đa số, hơn nữa, của mọi người. Và thứ ba, sử dụng bạo lực để đàn áp và khủng bố mọi người.

Có thể nói, sức mạnh của các chế độ độc tài chủ yếu được xây dựng trên ba nền tảng chính: Một, phân hoá dân chúng, hai, lừa dối, và ba, khủng bố. Biện pháp đầu làm cho người ta nghi ngờ nhau; hai biện pháp sau làm cho người ta sợ hãi. Cũng có thể nói, sức mạnh các chế độ độc tài không nằm ở bản thân nó mà chủ yếu nằm ở sự chia rẽ và  khiếp nhược của mọi người. Khi, vì lý do nào đó, mọi người đoàn kết và can đảm đòi hỏi quyền lợi và quyền lực cho mình thì các nhà độc tài chỉ có thể làm giống như Muammar Gaddafi ở Libya năm 2012: chui xuống ống cống.

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô

Hà Huy Sơn

“Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Nhà nước pháp quyền là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Một nhà nước không phải là nhà nước pháp quyền thì đó là nhà nước độc quyền của một số ít người. Để tham nhũng, tham ô phải có quyền hành; để chống tham nhũng, tham ô cũng phải có quyền hành. Ở nhà nước độc quyền quyền lực, nhà nước không được phân chia mà thống nhất bởi một chủ thể. Kẻ có quyền hành không chống tham nhũng, tham ô thì xã hội không có phương tiện nào để chống tham nhũng, tham ô. Ở nhà nước độc quyền, những kẻ có quyền hành tham nhũng, tham ô mà không sợ bị trừng phạt vì ở đó không có một bộ phận quyền lực nhà nước nào là độc lập để có thể ngăn chặn hiệu quả. Trong xã hội do nhà nước độc quyền quản lý thì kẻ tham nhũng, tham ô và người chống tham nhũng, tham ô là một. Tệ nạn tham nhũng, tham ô cũng chính là một tiêu chí để phân biệt đâu là nhà nước độc quyền và đâu là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”.

Tham nhũng, tham ô vừa là mục đích vừa là mâu thuẫn của nhà nước độc quyền. Một mặt nó gắn kết giữa những kẻ có quyền hành với nhau trong một nhà nước độc quyền; nhưng mặt khác nó cũng làm tan rã và dẫn đến hủy hoại chính cái nhà nước ấy. Bởi vậy, trong xã hội do nhà nước độc quyền quản lý cũng có việc chống tham nhũng, tham ô nhưng đây chỉ là cuộc chơi của những kẻ có quyền hành và nằm trong giới hạn và phục vụ cho mục đích của nhà nước đó chứ không vì lợi ích của người dân. Nếu ví xã hội là cỗ xe ngựa thì nhà nước độc quyền là những kẻ ngồi trên cỗ xe đó. Tham nhũng, tham ô cũng giống như những kẻ ngồi trên cỗ xe luôn ăn bớt vào khẩu phần của những con ngựa kéo xe, nếu ăn bớt quá mức sẽ làm cho những con ngựa kiệt quệ, quá sức chịu đựng mà đổ quỵ thì khi đó những kẻ ngồi trên cỗ xe đó cũng tan xác. Việc chống tham nhũng, tham ô của nhà nước độc quyền chỉ là nửa vời, không triệt để. Vì không còn tham nhũng, tham ô thì nhà nước độc quyền không còn động cơ để tồn tại và sẽ dẫn tới sụp đổ. Nếu chống tham nhũng, tham ô triệt để là đồng nghĩa với việc xóa bỏ nhà nước độc quyền.

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô; bản chất của việc chống tham nhũng, tham ô của một nhà nước độc quyền không phải “do dân, của dân, vì dân” là như vậy. Tất cả những tai họa của đất nước trong quá khứ, hiện tại và hiểm họa trong tương lai đều có nguyên nhân là do dối trá. Che giấu sự thật, ngăn cấm sự bày tỏ ý chí của nhân dân, chà đạp nhu cầu cấp thiết của xã hội là tội lỗi và ắt sẽ bị quy luật đào thải.

Hà Nội, 21/09/2013

H. H. S.

Năm Ngàn & Năm Cắc

Năm Ngàn & Năm Cắc

Tưởng Năng Tiến


Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền [Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Vài bữa sau, sau ngày đổi tiền ở miền Nam,  tờ Sài Gòn Giải phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã gửi đến những người dân ở vùng đất này đôi lời an ủi:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”


Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức lại có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên thắng cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” ở nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm!

Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai.

VNCH 1

Hình 1: Đồng tiền 50 xu, năm cắc, in hình ông Ngô Đình Diệm, phát hành năm 1960

VNCH 2

Hình 2: Tờ một đồng, phát hành năm 1955


Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi mới vừa biết xài tiền?

Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá bào nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi cho đến khi xi rô bạc hết cả mầu mới ngừng tay, lễ phép xin thêm:

–  Cho con thêm chút xi rô nữa được không?

–  Được chớ sao không. Bữa nào tụi bay cũng vậy mà còn làm bộ hỏi!

Năm cắc đủ cho một chén bò viên, dù chỉ được một viên thôi nhưng khi nắp thùng nước lèo mở ra là không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh đó – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy –   hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể  khiến cho đứa bé xuýt xoa mãi cho đến… lúc cuối đời.

Năm cắc cũng đủ làm cho chú Chệt vội vã thắng xe, mở ngay bình móp, lấy  miếng kem – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – rồi trịnh trọng trao hàng với nụ cười tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt lạnh thấm dần qua lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng hay một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (Trời ơi!) đó là cả một trời, và một thời, hạnh phúc muôn mầu!

Một đồng mua được hai quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng bay (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố mới lên đèn và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương, dù tóc đã điểm sương.

Còn hai đồng là nguyên một tô cháo huyết có thêm đĩa dà trá quẩy ròn rụm đi kèm. Hai đồng là một tô mì xắt xíu với cái bánh tôm vàng ươm bên trên, và nửa cọng rau xà lách tươi xanh bên dưới. Tờ giấy bạc với mệnh giá quá lớn lao và rất hiếm hoi này, không ít lúc, đã khiến cho tuổi thơ của tôi vô cùng phân vân và bối rối!

VNCH 3

Hình 3: Tờ bạc hai đồng, phát hành năm 1955


Và trong cái lúc mà tôi còn đang suy tính, lưỡng lự, cân nhắc giữa bốn cái kem đậu xanh năm cắc, bốn cuốn bò bía, bốn ly nước mía, hay một tô hủ tíu xắt xíu thịt bằm béo ngậy (cùng) giá hai đồng thì ở bên kia chiến tuyến người ta đã quyết định cho ra đời Mặt trận Giải phóng Miền Nam – vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.

Hệ quả thấy được, vào mười lăm năm sau – vẫn theo báo Sài Gòn Giải phóng, số thượng dẫn:

Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hãnh diện chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang.”

Niềm hãnh diện được nâng niu từng tờ bạc mới (nếu có) cũng nhỏ dần sau từng đợt đổi tiền. Rồi với thời gian những tờ bạc này đã từ từ biến thành… giấy lộn – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, đọc được trên Vietnamnet hôm 21 tháng 5 năm 2012:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá !’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Và đó là chuyện xẩy ra năm trước. Năm nay – sau khi dự phiên họp ngày 14 tháng 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính về ngân sách những tháng đầu năm 2013 –  Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan bỗng (chợt) nhận ra rằng: “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!”

Ủa, “gay go” thiệt sao?

Mà “gay go” tới cỡ nào lận?

Ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người đã từng lạc quan tuyên bố “năm 2015 sẽ có một Vinashin mới” nay đã bắt đầu đổi giọng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%.” Và đã đến nước này thì ông phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương,Nguyễn Xuân Cường, cũng đành phải (xuôi xị) nói theo thôi: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại.

Điều lo ngại nhất là bó rau muống sẽ không ngừng ở giá năm ngàn đồng bạc. Dù với số tiền này – vào năm 1960 – đủ để mua hai ngàn tô phở gánh, hay hai ngàn năm trăm tô mì xe, hoặc mười ngàn chiếc bong bóng đủ mầu.

5000

Bù lại, vẫn theo lời của bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan, là mọi người được sống với “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”

Cái giá của “dân chủ” (cũng như Độc lập – Tự do – Hạnh phúc) của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, hơi mắc. Dân Việt, tội thay, không những đã hớ mà còn mua nhầm đồ giả và đồ đểu nữa mới chết (mẹ) chớ !

Tưởng Năng Tiến

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH

Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Nguyên sang đất Tiết đòi nợ. Trước khi đi, Phùng Nguyên hỏi: “Ngài có muốn mua gì không?”. Mạnh Thường Quân trả lời: “Ngươi xem thứ gì nhà chưa có thì mua”. Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi dân tới bảo rằng: “Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả”. Rồi chẳng tính vốn lời, đem văn tự ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Nguyên nói với Mạnh Thường Quân: “Nhà ngài không thiếu gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm mua ở đất Tiết cho ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý ngài”. Về sau Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đấy nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Nguyên: “Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước”.

Nghe chuyện này, có lẽ mọi người đều đồng ý với Mạnh Thường Quân rằng Phùng Nguyên thực là người quản lý trung thành và khôn ngoan. Trung thành vì ông đã biết cách làm lợi cho chủ. Khôn ngoan vì ông biết nhìn xa trông rộng, đầu tư vào những chương trình có ích lợi lâu dài. Nhờ sự khôn ngoan của Phùng Nguyên, Mạnh Thường Quân đã vượt qua được những khó khăn gian khổ.

Người quản lý trong bài Phúc Âm hôm nay khôn ngoan nhưng không trung thành. Khôn ngoan nhanh nhẹn, trong một thời gian ngắn đã tìm ra phương thế chuẩn bị cho tương lai. Nhưng ông ta đã không trung thành vì ông đã phung phí, làm hại tài sản của chủ.

Khi khen người quản lý này khôn khéo, Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ông. Người chỉ khen ngợi sự thông minh nhạy bén của ông. Người ước mong con cái sự sáng cũng biết thông minh nhạy bén trong việc tìm kiếm Nước Trời. Quả thực chúng ta là những người quản lý của Chúa. Tất cả những gì ta có đều là của Chúa. Sự sống, sức khỏe, tài năng, tiền bạc… đều không phải của ta. Ta chỉ quản lý chúng.

Hai đức tính quý ở người quản lý là trung thành và khôn ngoan.

Người quản lý trung thành gìn giữ nguyên vẹn tài sản của chủ. Không phung phí, không làm mất mát hao hụt. Người quản lý khôn ngoan sẽ tìm cách sinh lợi cho chủ, làm cho tài sản ngày càng gia tăng. Tiền bạc có thể sinh lợi ở ba góc độ khác nhau.

·        Mức độ bình thường nhất là: tiền đẻ ra tiền. Dùng tiền gởi ngân hàng để lấy tiền lời. Dùng tiền đầu tư vào công việc thương mại, kinh doanh để kiếm được nhiều tiền hơn nữa.

·        Mức độ thứ hai cao hơn là: dùng tiền đầu tư vào chất xám, vào giáo dục, vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước đầu tư rất nhiều vào giáo dục. Vì thế họ đã đào tạo được một đội ngũ trí thức đông đảo có kiến thức, có khoa học kỹ thuật. Nhờ thế, không những họ làm cho đất nước giàu mạnh mau chóng, mà còn nâng cuộc sống nhân dân lên cao hơn, giàu có sung túc về của cải vật chất và nhất là cao đẹp vì có văn hóa, đạo đức.

· Mức độ thứ ba, cũng là mức độ cao nhất là: dùng tiền mua hạnh phúc vĩnh cửu. Biến tiền của hay hư nát ở đời này thành gia sản vĩnh viễn ở trên trời. Để làm được việc này, ta phải vượt qua sự khôn ngoan, nhạy bén đầy tính toán của người đời để đạt tới sự khôn ngoan nhạy bén đầy quảng đại theo tinh thần Phúc Âm.

Tạo lập gia sản trên trời khác với tạo lập gia sản nơi trần gian.

–      Gia sản nơi trần gian được tạo lập bằng tích lũy.

–      Gia sản trên trời được tạo lập bằng cho đi.

Để tích lũy tài sản nơi trần gian, ta phải tiện tặt, chắt bóp, nghĩ đến lợi nhuận của bản thân hơn đến người khác. Để tích lũy gia sản trên trời, ta phải rộng rãi, hào phóng nghĩ đến người khác hơn bản thân mình. Càng cho đi ở đời này, ta càng giàu có ở trên trời. Người nghèo là Chúa Giêsu hóa trang. Khi ta giúp đỡ người nghèo là ta chuyển tiền về thiên quốc. Qua trung gian người nghèo, đồng tiền trần gian hay hư nát sẽ biến thành tài sản vĩnh cửu trên trời.

Chúng ta là con cái sự sáng. Hãy biết sống theo con đường sự sáng của Phúc Âm. Hãy xin Chúa ban cho ta sự khôn ngoan của Phúc Âm. Hãy rèn luyện cho ta có sự nhạy bén đối với những thực tại vĩnh cửu trên trời. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1.    Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Bạn nghĩ gì về câu này?

2.    Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. Bạn đã coi thường chủ nào và đã yêu mến chủ nào hơn?

3.    Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Bạn hiểu câu này thế nào? Bạn đã thực hành chưa?

4.    Làm sao để trở thành người quản lý trung thành và khôn ngoan của Chúa?

Tác giả: ĐGM Ngô Quang Kiệt

LÀM TÔI CHO CHÚA

LÀM TÔI CHO CHÚA

AM Trần Bình An

Mạnh Thường Quân nuôi hơn 3000 thực khách nên chi phí rất nhiều, bổng lộc không đủ chi dụng, phải dựa vào tiền thuê đất đai ở Bích Thành do vua phong, nhưng có một năm không thu được tiền về, mới cử Phùng Hoan đi đòi.  Trước khi đi Phùng Hoan hỏi rằng: “Khi tôi trở về, ông có muốn tôi đem quà gì về không?”  Mạnh Thường Quân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Thì ông cứ xem ở đây thiếu thứ gì thì đem về,” Phùng Hoan đến Bích Thành mới biết năm đó bị thiên tai mất mùa, nông dân thiếu lương thực ăn khổ cực hết chỗ nói.  Phùng Hoan bèn tập họp họ lại, rồi đốt hết mọi giấy tờ vay nợ, khiến mọi người vô cùng cảm động.  Phùng Hoan trở về nói lại đúng sự thực.  Mạnh Thường Quân nổi giận: “Trước khi đi ông nói sẽ đem quà về, nay ở đâu?”  Phùng Hoan đáp: “Ông đã nói ở đây thiếu gì thì mua về, nhưng tôi thấy ở đây chẳng thiếu gì cả, chỉ thiếu có tình nghĩa mà thôi, nay tôi đã đem tình nghĩa về đây.”  Mạnh Thường Quân nghe vậy khóc cười không được, liền phất tay áo đi ra.

Hai năm sau, Tề Dẫn Vương tin nghe lời bịa đặt của hai nước Tần, Sở, rất lo lắng Mạnh Thường Quân công cao lấn chúa, gây uy hiếp tới vương vị của mình, bèn thu ấn tể tướng của Mạnh Thường Quân. Các môn khách thấy vậy, đều theo nhau bỏ đi, duy chỉ có Phùng Hoan là còn ở lại.  Mạnh Thường Quân đành trở về cố cư ở Bích Thành.  Dân trong thành nghe tin ông trở về, liền dắt già cõng trẻ ra ngoài 100 dặm để đón.  Mạnh Thường Quân nhìn thấy cảnh tượng này, rơm rớm nước mắt nói với Phùng Hoan: “Tình nghĩa mà ông đã đem cho tôi, nay tôi đã thực sự cảm nhận được rồi”.

************************************

Trong Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn người quản gia bất lương khôn khéo, biết dùng tiền của gian lận để mưu cầu chốn nương thân.  Sau cùng Người cảnh báo, không ai có thể làm tôi hai chủ được, vừa làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của.

Làm tôi cho bản ngã

Trong cuộc mưu sinh, nhiều khi tiền của bỗng dưng trở thành ông chủ cai quản cuộc đời.  Cho nên thi sĩ Horace từ xa xưa đã cảnh báo không thừa: “Tiền bạc là đầy tớ tốt và là ông chủ xấu.” Nếu lệ thuộc vào nó, coi nó là ông chủ, là cứu cánh cuộc đời, kể như đánh mất nhân tính tốt lành, mà trở nên biển lận và tham lam.

Tuy nhiên, xã hội bao đời vẫn không hề phủ nhận sức mạnh, lẫn tầm ảnh hưởng vô song của nó. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.” Hay là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy.” Nếu không có sẵn quyền cao chức trọng, mà lắm tiền nhiều của, thì người ta cũng vẫn được nể nang, trọng vọng, cũng có thể ngoi dần lên vị thế cao, lên hàng khanh tướng. “Có tiền mua tiên cũng được” kia mà!

Thực ra, người ta mê tiền bạc, vì nó không chỉ giúp nuôi sống bản thân và gia đình, mà còn có thể củng cố, biến đổi cơ cực, gian lao, vất vả, thành nhàn hạ, sung túc, biến đổi thân phận tầm thường thành người danh giá, biến sự rủi ro, yếu đuối thành may mắn và quyền lực.

Chung quy, người ta làm nô lệ cho tiền của, vật chất, vì chúng phục vụ lại cho chính bản thân.  Có nghĩa là con người làm tôi mọi cho chính bản ngã, cho ngay chính mình.  Con người tự tôn thờ mình, chứ chẳng cần đoái hoài, tôn thờ thần thánh nào khác.

Vì thế, Đức Giêsu muốn giải thoát con người khỏi ách nô lệ tiền của, thoát ra khỏi cái tôi vị kỷ, khi khuyên nhủ đem nó phục vụ tha nhân: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí.” (Lc 12, 33) Chính là của để dành cho đời sau.

Làm tôi cho Chúa

Người quản lý bất lương khôn khéo dùng tiền của bất chính mua cho mình sự bảo hiểm an cư sau này. Còn Phùng Hoan đổi tiền bạc, của cải lấy tình nghĩa cho Mạnh Thường Quân.  Cả hai người đều có thể giúp cho người Kitô hữu, cảnh tỉnh và nhận thức hơn về sự chọn lựa giữa cái bấp bênh, hư nát với cái ổn định, bền bỉ, giữa phù vân và vững chãi, giữa nhất thời và vĩnh cửu.

Thông thường, ai cũng đều mong muốn, ưa chuộng tự do, đều muốn tự mình quyết định mọi việc, mọi tình huống, mọi nơi, mọi lúc.  Nhưng lại cũng rất dễ mù quáng trở nên nô lệ vào vật chất, thói quen, đam mê, nô lệ vào tiện nghi, nô lệ vào quan niệm và dư luận xã hội, nô lệ vào khuynh hướng hưởng lạc, duy vật, hay rõ ràng là nô lệ vào nền văn minh sự chết.

Thoát ra khỏi vòng kiểm tỏa, nô lệ tiền tài, của cải vật chất, cũng là thoát ra khỏi cái vỏ ốc ích kỷ, vô cảm, bất khoan nhượng, bất nhân, bất nghĩa, để có thể yêu thương, tha thứ và phục vụ tha nhân, thì mới có thể làm tôi cho Chúa, theo Chúa và thờ phượng Ngài.

Do vậy, điều kiện tiên quyết theo Chúa, chọn Chúa làm sản nghiệp, là phải từ bỏ mọi sự, vật chất danh lợi, thậm chí bỏ cả chính mình, chấp nhận đau thương, khổ ải, vác thánh giá bổn phận, trách nhiệm, lý tưởng để theo Đức Giêsu.

Làm tôi cho Chúa có nghĩa thoát khỏi xiềng xích nô lệ vật chất, thế gian, từ bỏ con đường bằng phẳng, dễ dãi, trơn tru, từ bỏ những gì thân xác ham muốn, thích thú, hay thỏa mãn, mà đi theo con đường chông gai, thử thách, nhọc nhằn, đau đớn, bầm dập, tả tơi cả thân xác lẫn tinh thần.

Làm tôi cho Chúa cũng còn có nghĩa xả kỷ vị tha, quên mình giúp người, sống cho người, sống vì người, tìm thấy Chúa hiện diện trong người khốn cùng, nghèo nàn, bênh hoạn, bơ vơ bị bỏ rơi.

Làm tôi cho Chúa nhất thiết cần trở nên chứng nhân đích thực của Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh, trở nên đồng dạng, đồng hình và cùng đồng hành với Người trong sứ vụ Đi Gieo Tin Mừng.

“Con đừng lấy làm lạ, lúc theo Chúa, con nghe tiếng gọi của khoái lạc, của danh vọng, của cả bản thân, cha mẹ, quyến rũ con bỏ đường theo Chúa.  Cứ tiến lên, Chúa đã nói trước: “Ai cầm cầy còn ngoảnh mặt lui, không đáng làm môn đệ Ta!” (Đường Hy Vọng, số 71)

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con thoát khỏi xiềng xích của cải, tiền bạc, danh lợi, chức quyền, từ bỏ tất cả để theo Chúa.  Xin giải thoát khỏi những đòi hỏi, cám dỗ, đam mê của thân xác, khỏi những quan niệm, thành kiến thế gian.  Xin giải phóng con khỏi cái tôi ích kỷ, vị kỷ, để con biết nhìn đến tha nhân, yêu thương và phục vụ những nhu cầu cấp bách của anh chị em.

Lạy Mẹ Maria, xin cải hóa tâm hồn chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa chước cám dỗ, khỏi say mê những thứ phù phiếm, giúp chúng con biết khước từ tất cả những chướng ngại vật, để có thể hiến dâng theo Chúa.  Xin cho chúng con được hiệp thông cùng Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, hầu xứng đáng làm tôi tớ Chúa luôn mãi.  Amen!

AM Trần Bình An

From: langthangchieutim &

Anh chị Thụ & Mai gởi

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên Nhân Dân

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên Nhân Dân

Người Buôn Gió

clip_image002

Dường như cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng của các tờ báo này đã vào chỗ bế tắc, khủng hoảng bởi thực tiễn không minh họa được cho lời lẽ của họ.

Tờ báo QĐND đưa ra bài viết có nhan đề Ba lần Bác cười trước lúc đi xa (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/242/242/242/101538/Default.aspx). Bài viết miêu tả chi tiết và sống động Chủ tịch HCM kính yêu trước lúc từ trần theo lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh có đoạn:

“Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.”

Nếu đây là sự thật, thì sự thật này khiến nhiều người dân Việt phải ngỡ ngàng, hoang mang. Có lẽ nào nhạc sĩ Trần Hoàn là một tên nói phét, hoặc là một kẻ lợi dụng mong muốn nghe hát của Bác để xuyên tạc sai lệch, nhằm kích động chiến tranh. Bài hát của nhạc sĩ Trần Hoàn có tên Lời bác dặn trước lúc đi xa (http://tainhaccho.vn/loi-bai-hat/tran-hoan/bnl/loi-bac-dan-truoc-luc-di-xa.htm).

Bài hát như một câu chuyện kể rất cảm động, rằng trước lúc đi HCM muốn nghe câu hò Huế, bởi vì nước non chia cắt, Huế ở miền Nam. Rồi bác nhớ làng Sen quê mình, rồi bác nghe quan họ ”người ở người ở đừng về ”… rồi bác nghe câu hát dặm.

Bài hát của Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí của bao người Việt về một hình ảnh lãnh tụ HCM thân thương tha thiết với dân tộc, đất nước. Đến lúc cuối đời còn chỉ còn muốn nghe những làn điệu đầy bản sắc quê hương như hò, ví dặm, quan họ.

Thế nhưng báo QĐND dựa vào lời kể của một y tá Trung Quốc đã đưa lên thành một bài viết đi ngược 180 độ với những gì mà Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí nhân dân Việt Nam về hình ảnh của Người.

Bài viết của báo QĐND đã nói rằng, bác chỉ muốn nghe câu hát Trung Quốc thôi. Không hề có một dòng nào của bài báo nói về những giây phút cuối đời HCM nhắc nhở gì đến nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam cả. Chỉ có những hành động tình cảm với phía Trung Quốc như khi nghe giới thiệu y tá TQ, Chủ tịch HCM nhìn y tá TQ với đôi mắt hiền từ, rồi nhắm lại tuôn lệ (như là đang bồi hồi cảm xúc nghĩ lại điều gì rất tha thiết?).

Những lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh liệu có tin cậy được không.? Tại sao bây giờ mới kể khi các nhân chứng có mặt lúc đó đều đã chết như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn và người còn sống duy nhất lại đang ở trạng thái sinh học không còn nói gì được nữa là đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một chi tiết nữa rất khó hiểu là theo lời kể của Vương Tinh Minh thì sức khỏe HCM đã hôn mê, tình lại chỉ lắc đầu yếu ớt ra hiệu. Nhưng sau khi nghe hát đã nắm tay Vương Tinh Minh và tặng hoa rồi trút hơi thở. Tại sao người duyệt bài báo này không nghĩ rằng trong tình trạng nằm hấp hối chỉ còn giây phút nữa lìa đời, chỉ ra hiệu bắng mắt và lắc đầu thì HCM lấy đâu ra sức để tặng Vương Tinh Minh hoa. Cho dù hoa có để bàn ngay đầu giường thì HCM cũng phải nhỏm dậy rút hoa từ trong lọ ra thì mới có hoa tặng được Vương Tinh Minh. Nếu HCM mà ngồi dậy, ngoái đầu, với tay rút hoa tặng thì hành động đó không hề phù hợp với người chỉ còn vài giây phút nữa lia đời, mới vài giây trước còn ra hiệu bằng ánh mắt hay cái lắc đầu.

Có lẽ từ khi VN hợp tác toàn diện với TQ, báo QĐND Việt Nam đã có những thay đổi khó lường, để học được bài học đấu tranh chống ” diễn biến hòa bình ” của Trung Quốc. Những nhà làm tuyên truyền của báo QĐND đã tiếp thu hổ lốn tất cả những gì Trung Quốc nói, TQ viết. Báo QĐND hăng hái đi đầu như lính xung kích trên mặt trận tư tưởng để phê phán những tư tưởng chủ quan, ấu trĩ, lệch lạc của bọn phần tử phản động núp trong nhân dân. Báo QĐND lên án những thế lực phản động đang âm mưu hạ bệ thần tượng HCM trong lòng nhân dân ta.

Thế nhưng báo QĐND vì quá u mê hay cuồng tín vào ông thầy dạy môn ”đấu tranh chống diễn biến hòa bình” mà đã đưa ra một bài viết cực kỳ tai hại, tác động xấu đến niềm tin nhân dân bấy lâu . Bài viết theo lời kể của y tá Trung Quốc là non kém về nghiệp vụ, không có cơ sở thẩm tra thế nhưng vẫn được tùy tiện đưa lên. Nhất là bài viết lại liên quan đến hình ảnh lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Phải chăng chính báo QĐND đang làm những việc mà họ thường lên án người khác?

Báo Nhân dân

Tờ báo Nhân dân hôm nay 20/9/2013 có bài viết nhan đề Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc (http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/21251502.html). Bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc lên án những hãng truyền thông quốc tế đưa tin sai lệch về các vụ việc tôn giáo ở Việt Nam.

clip_image004

Không biết Trần Chung Ngọc uy tín cỡ nào mà khẳng định rằng những hãng truyền thông lớn quốc tế đưa tin sai, chỉ có ông ta là nói thật?

Nhưng dẫu thế nào thì một điều nhận thấy được rõ, là các hãng truyền thông đưa tin về tôn giáo Việt Nam không bao giờ có bài xúc phạm, mạt sát tôn giáo hay nhân vật tôn giáo nào. Không hề có sự so sánh giữa hai tôn giáo khác nhau để dè bỉu, gây chia rẽ, kích động thì hằn nhau.

Trong bài báo của Trần Chung Ngọc thì trái lại những giọng điệu hằn học, bạo lực được lộ rõ không hề che đậy. Trình độ kém hay bản chất của tư tưởng Trần Chung Ngọc là vậy?

Bài báo có đoạn:

“Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương “thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”.

Đoạn viết này chắc hẳn những người theo đạo Công Giáo, những linh mục, giám mục và hồng y Thiên Chúa Giáo hiểu ý đồ tác giả nói về “bọn… vô tổ quốc, phi dân tộc” là không chỉ nói riêng về con người, mà cao hơn tác giả Trần Chung Ngọc còn muốn đả phá về học thuyết, ý thức hệ, tư tưởng của đạo Thiên Chúa. Một sự xúc phạm thật nặng nề đến tôn giáo. Sở dĩ gọi là nặng nề vì không phải nó động đến hành động nhất thời của một tổ chức tôn giáo. Mà nó động hẳn đến chủ thuyết, tư tưởng thần học của tôn giáo ấy.

Phát ngôn táo bạo hay phát ngôn bá đạo

Một tờ báo lấy tên Nhân dân, lại cho đăng bài của một kẻ xưng là Việt Kiều Mỹ, xúc phạm niềm tin của gần chục triệu nhân dân (tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam xấp xỉ 10 triệu người). Cuộc kháng chiến chống Pháp đã xa xôi như vậy rồi, mà sự thù nghịch đến nay vẫn còn hiện rõ. Vẫn được báo Nhân dân lên án… vậy thì mấy triệu người miền Nam di tản hồi 1975 khi đọc được bài viết của Trần Chung Ngọc trên báo Nhân dân hôm nay liệu có tin được vào đoàn kết, tha thứ, hòa giải, yêu thương mà nhà nước Việt Nam đang kêu gọi không?

Trần Chung Ngọc lộ rõ ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo khi so sánh hình ảnh người Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Sau khi vạch tội Thiên Chúa Giáo là Việt gian, phi dân tộc, tổ quốc, chịu mất nước chẳng thà mất Chúa… đến lượt kể công lao của tu sĩ Phật Giáo. Thậm chí quá đà ca ngợi tinh thần chiến đấu của các tu sĩ Phật Giáo, bài báo có đoạn: “Thậm chí còn vui lòng dấn thân vào cuộc, kể cả xông pha trận mạc chém giết quân thù, giữ gìn cuộc sống thanh bình cho dân tộc’”.

Học thuyết của Phật Giáo có cho chém giết quân thù để bảo vệ mình không? Dường như chưa ai dám khẳng định rằng học thuyết nhà Phật cho phép chủ động xông pha trận mạc chém giết quân thù. Nhưng cứ tạm gác điều đó lại, cứ cho rằng học thuyết nhà Phật cho phép hay ngầm cho phép chém giết quân thù như ý của Việt kiều Trần Trung Ngọc đi chăng nữa thì chả lẽ một tờ báo lớn toàn tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó giáo sư lý luận không biết được cách sửa từ ”chém giết” bằng từ nào khác trong kho tiếng Việt phong phú của Việt Nam? Ví dụ như sửa thành ”xông pha trận mạc chiến đấu với quân thù”, nghe có phải hay hơn từ ”chém giết” rất bá đạo đối với người tu hành.

Một bài viết lủng củng, ý tứ đối nghịch nhau, loạn ngôn, giọng điệu hằn học chia rẽ tôn giáo, kích động hận thù của Trần Trung Ngọc lại được báo Nhân dân đưa lên. Chả lẽ không còn ai viết được hơn nữa sao?

Hay báo Nhân dân cũng như báo Quân đội Nhân dân cũng đang tự làm những điều mà họ hay phê phán các thế lực thù địch là chia rẽ dân tộc, kích động hằn thù, gây mất đoàn kết khối đại dân tộc.

Đến lúc phải dùng loại y tá Trung Quốc để nói về lãnh tụ nước mình, dùng Việt kiều (gian) để nói về nội tình tôn giáo trong nước, có lẽ các tờ báo có tên Nhân dân đã chẳng còn nhân dân nào trong đó nữa rồi.

N. B. G.

Nguồn: FB Người Buôn Gió

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN TRONG VIỆC SỬ DỤNG TIỀN CỦA ?

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN TRONG VIỆC SỬ DỤNG TIỀN CỦA ?

BÀI SUY NIỆM PHÚC  ÂM CHÚA NHẬT 25 MÙA THƯỜNG NIÊN


Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Tin mừng Chúa Nhật thứ 25 mùa thường niên hôm nay mời gọi  tín hữu chúng ta suy nghĩ thêm một lần nữa về  cách sử  dụng  tiền bạc và của cải vật chất ở đời này trong ánh sáng  của  Phúc Âm,  để  một mặt  thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của  con người  trong cuộc  sống trên trần gian này,  và mặt khác  tích lũy  vào kho tàng  giầu sang, phú quý trên Nước Trời.  là nơi trộm cắp không bén bảng và mối một cũng không thể đục phá như Chúa Giêsu đã khuyên dạy các môn đệ xưa.( Lc 12: 33)

Thật vậy, qua dụ ngôn người quản lý bất trung đã khôn khéo dùng của cải của chủ dể phòng thân  sau khi không còn được làm quản lý nữa,  Chúa muốn dạy chúng  ta  là con cái của  ánh sáng ,  phải  học cái khôn ngoan của anh quản lý kia để mưu cầu hạnh phúc  vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau bằng cách dùng tiền của  sao cho phù hợp vơi sự  khôn ngoan của  Tin Mừng  cứu độ .

Nhưng trước khi suy niệm  thêm về lời Chúa qua dụ ngôn trên , thiết tưởng cần nói qua về sự cần thiết và quan trọng của tiền bạc trong đời sống của con người nói chung và cách riêng của người tín hữu chúng ta.

Quả vậy,   là con người sống trên trần thế này thì ai  ai cũng cần được thỏa mãn những nhu cầu tối cần thiết cho thân xác  như  cơm  ăn , áo mặc, thuốc men,  nhà ở và phương tiện di chuyển như xe cộ.  Vì nếu sống ở Mỹ, thì bó buộc phải có xe hơi để đi làm việc , đi nhà thờ ,  đi thăm  thân nhân, bạn bè, hay  đi mua thức ăn và đồ dùng cần thiết  vào cuối tuần.

Do đó, phải có tiền để chi phí cho những nhu cần tối cần thiết  nói trên .Cho  mục đích này, không ai có thể ngây thơ  và thiếu thực tế nói là mình không cần tiền. Ngược lại, phải  nói là rất cần  có tiền để  để  sống xưng đáng với phẩm giá là con người.  Trong giới hạn  này, chắc chắc Chúa không cấm chúng ta đi tìm tiền của cách công bằng , hợp lý để thỏa mãn  những nhu cầu chính đáng của  bản thân , của  gia đình và thương  giúp người khác thiếu thốn hơn mình. .

Không những chúng ta cần tiền bạc mà Giáo Hội cũng phải cần đến phương tiện tài chính dồi dào để thi hành sứ mệnh  truyền bá Phúc Âm , đào tạo linh mục và tu sĩ, đặc biết là trợ  giúp cho việc truyền giáo ở các xứ nghèo bên Á Châu và Phi Châu. Và còn biết bao chương trình  hữu ích khác của Giáo Hội đòi hỏi  phải có tiền  thì mới  thực hiện được ..

Ở cấp giáo hội địa phương, các địa phận và các giáo xứ cũng  rất cần sự đóng góp tài chính của giáo dân để tồn tại và thi hành trách nhiệm  mục vụ, giáo dục và phúc âm hóa môi trường. Nếu không có tiền thì không một giáo xứ nào có thể tồn tại và hoạt động được. Như thế  cho mục đích tốt đẹp  này,  thì cần  phải có phương tiện tốt là tiền bạc để chi phí cho những nhu cầu chính đáng  của giáo xứ, giáo phận.

Nhưng không phải vì tầm quan trọng  và chính đáng đó mà chúng ta được phép làm  mọi cách để có được tiền bạc, bất kể  những tiêu chuẩn ràng buộc về luân lý đạo đức và giáo lý của GH. Cụ thể  là  không thể  mở sòng  cờ bạc, tiếp tay với bọn   buôn bán  trẻ em và phụ nữ cho kỹ nghệ mãi dâm  rất khốn nạn,  hoặc buôn bán cần sa ma túy hay các sản phẩm đồi truy, sách báo phim ảnh  dâm ô …để lấy tiền giúp xây nhà thờ , nhà Dòng, nhà thương , trường học, nhà hưu dưỡng .. .Mục đích tốt ở đây không thể biện mình cho phượng tiện xấu là kiếm tiền cách bất chính , tội lỗi bằng những phương tiện kể trên.

Cũng  vậy,  người tín  hữu  Chúa Kitô  cũng  không được phép tìm tiền của bằng  hành nghề phá thai, cờ bạc,  cá độ, lường gạt, bóc lột sức lao động của người khác, khi  trả lương thấp cho công nhân, hay người giúp việc   dưới mức lương căn bản theo luật lao động, hoặc  tiếp tay sản suất và phổ biến  những sản phẩm  dâm  ô  đồi trụy có hại cho tinh thần người tiêu thụ

Hơn thế nữa  là không được say mê  đi tìm tiền của để  làm giầu đến nỗi  không còn tâm trí và  thì  giờ  để lo cho đời sống  thiêng liêng như  đi tham dự thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc trong năm,  để giờ cầu nguyện, đi  xưng tội., hoặc đi tĩnh tâm .v.v

Say mê tiền của  như vậy  sẽ đưa đến làm nô lệ cho tiền bạc  đến mức coi nhẹ  hay bỏ qua mục đích  chính của người tín hữu  là tìm kiếm Thiên Chúa và Vường quốc giầu sang của Người. trên hết mọi sự  ở đời này,  căn cứ  vào lời   Chúa Giêsu đã  dạy  các môn đệ xưa là  :

Trước hết  hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” ( Mt 6 :33)

Tìm kiêm Nước Thiên Chúa  có nghĩa là  trên hết mọi sự, người tín hữu chúng ta phải tha thiết  đi  tìm  và yêu mến Chúa là cội  nguồn của mọi phú quí giầu sang bất diệt, mà tiền của trần gian này không thể mua được. Tiền của trần gian chỉ giúp thỏa mãn những nhu cầu vật chất  cần thiết như cơm ăn áo mặc nhà cửa , thuôc men khi ốm đau, có tiền cho con cái đi học , có  phương tiện di chuyển v.v  , nên chỉ được phép tìm tiền bạc cách chính đáng cho những nhu cầu  này mà thôi.

Nếu may mắn có được  nhiều  của cải tiền bạc  thì  hãy  nghe lời Chúa khuyên dạy như sau :

“ Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao mòn ở trên trời nơi trộm cắp không bến bảng , mối một cũng không đục phá ( Lc  12:  33-34)

Nói khác đi, nếu ta không biết dùng tiền của để mưu  ích  thiết thực cho thể xác và đặc biết  cho  linh hồn  thì sẽ rơi vào nguy  cơ  tôn thờ  tiền của thay vì  tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi  lợi  lãi ở đời này.

Đó cũng là lý do tại sao Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay là “ anh  em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được,” ( Lc 16 : 13)

Làm tôi tiền của thì sẽ trở nên ích kỷ ,  tham lam, bất công  và lãnh cảm trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác. Riêng  người Tông Đồ mà mê tiền của thì không thể  sống và làm chứng cho tinh thần nghèo khó của Chúa Kitô “ Đấng vốn giầu sang  phú quí, nhưng đã tự ý trở nên  nghèo khó vì anh  em,  để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có. ( 2 Cor  8: 9).

Dụ ngôn ông nhà  giầu và anh nghèo khó Lazarô   trong Tin Mừng Thánh Luca  đủ mình chứng  nguy cơ  của sự  nô lệ, làm tôi tiền của ở đời này. Ông nhà giầu kia khi còn sống, đã ăn sung mặc sướng  và không hề bó thí cho anh nghèo La-za-rô, nên sau khi chết,  đã bị phải phạt xuống hỏa ngục. Bị phạt không phải vì tội giầu có, ăn uống thỏa thê  mà vì không có lòng bác ái, bố thí  chút gì  cho anh nghèo La-za-rô  hàng ngày  ngồi ăn xin trước của nhà mình .( Lc  16: 19- 26)

Lại nữa, câu truyện người thánh niên giầu có  trong Tin Mừng Thánh Matthêu cũng cho thấy rõ là  nếu ham  mê  và làm nô lệ cho tiền của,  thì khó có thể được vào Nước Trời,  như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ, sau khi anh thanh niên giầu có kia buồn rầu  bỏ  ra đi,  vì không thể thực hành được lời Chúa khuyên anh ta là hãy về bán hết tài sản, lấy tiền bố thí cho người nghèo  rồi đi theo Chúa. Anh ta không  muốn  đi theo Chúa,   vì anh có quá nhiều tiền của và không thể hy sinh cho người nghèo  được. ( Mt 19  : 16- 23).

Sau hết, qua dụ ngôn người quản lý bất trung  trong bài  tin Mừng Chúa nhật hôm nay , Chúa cũng dạy mọi người chúng ta phải khôn ngoan như  tên quản lý bất trung kia. Nhưng không phải khôn ngoan  bằng cách lấy  của cải của người khác  để phòng thân  sau khi bị mất việc. Ngược lại,  sự khôn ngoan mà Chúa muốn dạy chúng ta là hãy dùng tiền của chóng qua  ở đời này để mua lấy sự giầu sang  hạnh phúc  là được vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Nước Trời, sau khi kết thúc hành trình  đức tin trên trần thế này . Nghĩa là  chỉ dùng tiền của như phương tiện hữu ích để đạt mục đích tối hậu là được sống hạnh phúc và giầu sang trên Thiên Quốc mai sau. Cho mục đích đó,  ta phải giới hạn lòng tham, không mượn cớ  nhu cầu, để tìm mọi cách  cho có tiền bạc. Người Tông Đồ của Chúa càng phải giới hạn  nhu cầu bất tận của mình để  ngưng  chạy đôn đáo đi tìm  tiền ở  bên ngoài nữa, mà hậu quả là có  những  người đã sống mâu thuẫn với Tin Mừng mình rao giảng,  chỉ vì  quá hăng  say đi tìm dollars, Euro hơn là thực  tâm muốn sống  tinh thần khó nghèo  theo gương Chúa Kitô, Người nghèo  khó  đến nỗi không có chỗ tựa đầu, trong khi chim trời có tổ, con chồn có hang. ( Mt  8: 20).

Tóm lại, chỉ không làm tôi cho tiền của thì mới dễ  mở lòng   bác ái, thương giúp, chia sẻ với  anh  chị em nghèo khó những gì mình may mắn có dư thừa. Đó là cách làm giầu trước mặt Chúa là Đấng sẽ trả công bội hậu cho những ai  biết dùng tiền của   để mưu ích cho phần rỗi của mình  bằng cách  thương giúp những người nghèo khó  vì  chính Chúa Giêsu  đang hiện diện nơi những người đói khổ, vô gia cư,  bệnh tật, tù đầy  ở  khắp nơi,  và thách đố chúng ta nói chung, và những người giầu có nói riêng tỏ lòng thương giúp họ. Thương giúp họ cách thiết thực vì  lòng bác ái  là  bố thí cho chính Chúa  Giêsu,  như Người đã nói qua dụ ngôn ngày phán xét chung trong Tin Mừng Thánh Matthêu.,chương  25.

Xin Chúa giúp chúng ta biết dùng tiền của chóng qua ở đời này để mưu tìm hạnh phúc, giầu sang vĩnh cửu trên  Nước Trời. Amen

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

MỘT NGƯỜI CÔNG GIÁO TỐT LÀ NGƯỜI BIẾT THAM GIA VÀO CHÍNH TRỊ

MỘT NGƯỜI CÔNG GIÁO TỐT LÀ NGƯỜI BIẾT THAM GIA VÀO CHÍNH TRỊ

ĐTC Phanxicô nói: ”Người Công Giáo tốt là người biết tham gia vào chính trị”.

Tiền Hô  (Vietcatholic.net 9/17/2013)

Vatican, 16 Tháng Chín 2013 – “Một người Công Giáo tốt là người biết tham gia vào chính trị”, tham gia và đóng góp nhiều điều tốt nhất có thể như: “ý tưởng, kiến nghị, nhưng trên hết là lời cầu nguyện” cho những viên chức chính quyền, để họ biết yêu thương người dân, khiêm nhường, lắng nghe những ý kiến khác nhau của người dân để chọn ra phương cách tốt nhất.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã lấy cảm hứng từ thư của Thánh Phaolô gửi Timôthê để nói về trách nhiệm của nhà cầm quyền lãnh đạo và lời mời gọi tín hữu cầu nguyện cho họ.

Đài phát thanh Vatican dẫn lời Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: Những nhà cầm quyền “phải yêu thương người dân của họ” bởi vì “một lãnh đạo mà không yêu thương dân thì chẳng thể nào cầm quyền được. Họ có thể cầm trong tay kỷ luật, họ có thể chi phối an ninh trật tự, nhưng họ không thể quản trị.”

Ví dụ như vua David, “ông rất yêu thương dân của mình”, mặc dù ông lỗi phạm rất nhiều nhưng ông vẫn cầu xin Chúa đừng trừng phạt người dân mà hãy trừng phạt ông. Vì thế, hai nhân đức của một nhà lãnh đạo là biết yêu thương người dân và có sự khiêm nhường.

“Bạn không thể cầm quyền mà không yêu thương người dân và không có sự khiêm nhường. Mỗi người lãnh đạo phải tự hỏi chính mình hai câu hỏi: “Tôi có yêu thương người dân để tôi phục vụ họ tốt hơn không? Tôi có khiêm nhường và lắng nghe tất cả ý những kiến khác nhau của mọi người để chọn ra phương cách tốt nhất không? Nếu bạn không đặt ra được những câu hỏi như vậy, việc lãnh đạo của bạn sẽ không được tốt đẹp hơn là những ai biết yêu thương người dân của họ”.

Từ một góc độ khác, Thánh Phaolô cũng khuyên người dân cần có những lời cầu nguyện dành cho nhà lãnh đạo, để họ có thể có một cuộc sống yên tĩnh và thanh bình. Người dân không thể không quan tâm đến chính trị. Không ai trong chúng ta có thể nói rằng “Tôi không có gì để làm trong lĩnh vực này, họ đã quản lý hết rồi…” Trái lại, “tôi phải có trách nhiệm trong việc quản trị của họ, và tôi phải làm những điều tốt nhất để họ quản trị cho thật tốt nhất. Tôi phải làm hết sức mình bằng cách tham gia vào chính trị bằng khả năng của tôi.” Theo Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công Giáo thì chính trị là một trong những hình thức cao nhất của bác ái, vì nó phục vụ lợi ích chung. “Tôi làm sao có thể vô trách nhiệm phải không nào? Tất cả chúng ta phải chung tay đóng góp một cái gì đó!”

Thật sai lầm khi nghĩ rằng: “Người Công Giáo tốt là người không can thiệp vào chính trị”. Đó không phải là một hướng đi tốt. Một người Công Giáo tốt là người biết tham gia vào chính trị, đóng góp những điều tốt nhất của mình cho việc quản trị của nhà lãnh đạo. Nhưng chúng ta cần cầu nguyện thế nào cho nhà lãnh đạo? Hãy làm theo những gì Thánh Phaolô nói: “Hãy cầu nguyện cho tất cả mọi người, và cho vương quyền và cho tất cả những ai cầm quyền”.

“Nhưng thưa cha, những người đó là kẻ xấu xa, đáng phải xuống hỏa ngục…” – “Vậy hãy cầu nguyện cho họ để họ có thể cầm quyền tốt, họ có thể yêu thương người dân, họ có thể phục vụ người dân và họ có thể khiêm tốn hơn. Một Kitô hữu không cầu nguyện cho nhà lãnh đạo thì không phải là một Kitô hữu tốt!”

“Nhưng thưa cha, làm sao con cầu nguyện cho những người đó, những người không tốt được…” – “Hãy cầu nguyện để những người đó có thể hối cải!”

Đức Thánh Cha kết luận, “chúng ta đóng góp ý tưởng, kiến nghị là điều rất tốt, nhưng trên tất cả là lời cầu nguyện. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo của chúng ta để họ có thể quản trị tốt, để họ có thể dẫn đưa quê hương của chúng ta, đất nước của chúng ta và thậm chí là cả thế giới của chúng ta tiến về phía trước, vì lợi ích của hòa bình và công ích”. (Theo AsiaNews)

Tiền Hô

Tác giả: Tiền Hô (Vietcatholic.net 9/17/2013)

Sự tham gia chính trị của dân chúng

Sự tham gia chính trị của dân chúng

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-09-20

RFA

000_Hkg8838402-305.jpg

Một phụ nữ buôn bán hải sản tại một chợ ở Hà Nội đang sử dụng iPad hôm 26/7/2013

AFP photo

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho dân chúng Việt nam tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia. Sự tham gia như thế là cần thiết cho một xã hội văn minh mà đảng cộng sản tuyên bố hướng tới.

Việc tranh luận về điều khoản số 258, bộ luật hình sự Việt Nam cho thấy một sự quan tâm đến chính trị của công chúng Việt Nam đã gia tăng đáng kể. Sự quan tâm này được phát triển nhanh chóng nhờ vào công nghệ thông tin với các bloggers, và mạnh mẽ hơn nữa trong vài năm gần đây với mạng xã hội. Nếu không có các điều kiện này thì ắt hẳn những bình luận, những thông tin, những quan tâm tới chính trị quốc gia không nở rộ như trong thời gian qua, vì các định chế chính trị ở Việt Nam không cho phép điều đó.

Một tác giả người Mỹ là ông Harold Lasswell trong một tác phẩm của mình về chính trị viết cách đây rất lâu, năm 1936, đề cập đến chính trị như là một cuộc tranh giành giữa những người thuộc tầng lớp tinh hoa.

Thập niên 30 này cũng chứng kiến trận thanh lọc khổng lồ do Stalin thực hiện, trong một mô hình chính trị Soviet, hoài thai từ các ý tưởng của Marx và Lenin, rằng nền chính trị phải được hai giai cấp đông đảo nhất của xã hội là công nhân và nông dân thực hiện một cách chuyên chính (chuyên chế.)

Sau thế chiến thứ hai, Harold bổ sung những ý tưởng mới trong cách nhìn về chính trị, trong đó ông nghiên cứu rộng hơn đến những tác nhân như văn hóa và con người tác động lên nền chính trị. Cùng thời gian đó, mô hình Soviet được mở rộng sang Đông Âu, Trung quốc,…với sự khẳng định mạnh mẽ nền chuyên chính, mà sau đó đôi khi được gọi tên là nền dân chủ tập trung. Và điều đáng nói là trong mô hình này cuối cùng cũng hình thành một tầng lớp tinh hoa mà Milovan Djilas, nhân vật ly khai từng đứng hàng thứ hai của đảng cộng sản Nam Tư,  gọi là giai cấp mới thống trị bộ phận còn lại của xã hội..

Sự tác động của văn hóa và con người trong các mô hình chính trị phương tây càng phát triển hơn nữa với khái niệm xã hội dân sự mà Joseph Nye cho rằng, làm cho quyền lực tản ra khỏi chính quyền trung ương. Trong khi đó, mô hình thực nghiệm cộng sản đã sụp đổ, vết tích của nó tuy vậy vẫn tồn tại ở vài quốc gia mà Việt Nam là một trong số đó.

Mặc dầu đã chấp nhận kinh tế thị trường, nền chính trị Việt Nam vẫn được đảng cộng sản cầm quyền tuyên bố là một nền dân chủ tập trung, không chấp nhận các nhóm xã hội tự do, và do vậy sự tham gia vào chính trị của công dân vô cùng hạn chế. Hai tổ chức mang màu sắc xã hội là Quốc Hội, và Mặt Trận Tổ quốc thật sự vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng công nghệ thông tin đang làm thay đổi nhiều khía cạnh của nền dân chủ tập trung ấy.

Cây ngay không sợ gió

000_Hkg4992973-250.jpg

Kêu gọi tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa qua internet hôm 10/6/2011. AFP photo

Hệ thống blogs và mạng xã hội đã tạo nên hai tiền đề cho sự tham gia chính trị của dân chúng. Thứ nhất là sự tiếp cận thông tin. Thứ hai là sự mất kiểm soát của bộ máy cai trị trên một không gian điện tử mênh mông không biên giới.

Vài năm trước, trang mạng Bauxite Việt Nam với mục đích phản biện dự án Bauxite ở Tây Nguyên của nhiều nhân sĩ trí thức được thành lập. Trang mạng này tồn tại tới ngày nay và là nơi xuất phát của nhiều hành động chính trị của công dân Việt Nam. Chính nơi đây là nơi khởi phát kiến nghị 72 yêu cầu xóa bỏ điều 4 qui định sự độc tôn chính trị của đảng cộng sản trong nền chính trị Việt Nam.

Trang nhật ký điện tử của giáo sự toán học Ngô Bảo Châu thì dấy lên những ý kiến chính trị của công dân trong mục Cùng viết Hiến pháp.

Sự tham gia chính trị của những công dân tiếp cận với công nghệ thông tin càng dấy lên mạnh mẽ hơn khi xuất hiện liên tục các kiến nghị đòi cải tổ chính trị, và gần đây nhất là kiến nghị 258 cùng sự phản đối kiến nghị này như đã đề cập ở phần đầu.

Ý thức tham gia chính trị đã rõ ràng nơi các công dân.

Công dân trẻ tuổi Nguyễn Nữ Phương Dung nói về kiến nghị 258, “Chuyện chúng tôi làm là bình thường để góp phần làm thay đổi xã hội Việt Nam.”

Ý thức về sự tham gia chính trị, làm nhiều công dân vượt qua nỗi sợ hãi trước kia áp đặt bởi nền chuyên chính. Một công dân trẻ tuổi khác là Thảo Chi, sau chuyến đi Bangkok trao kiến nghị 258 cho Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc đã nói về hoạt động của mình sau chuyến đi, “Chúng tôi làm tất cả đều công khai, chúng tôi không có gì lo ngại, chúng tôi không làm trái pháp luật, có thể là sẽ bị phiền nhiễu đôi chút.”

Chúng tôi làm tất cả đều công khai, chúng tôi không có gì lo ngại, chúng tôi không làm trái pháp luật, có thể là sẽ bị phiền nhiễu đôi chút.
– Blogger Thảo Chi

Nếu sự tham gia chính trị đó là rất rõ ràng nơi các công dân tiếp xúc với công nghệ thông tin, thì nó vẫn còn e ngại, không rõ ràng nơi tầng lớp đông đảo của xã hội Việt Nam là những người nông dân.

Dưới chính sách đất đai sở hữu toàn dân, hàng ngàn nông dân bị mất đất đã và đang biểu tình khắp nơi để đòi lại của cải của mình. Đây chính là những hành động chính trị, dù người nông dân không ý thức rõ ràng về chuyện ấy. Có lẽ một trong những nguyên nhân của sự không ý thức rõ ràng ấy chính là sự không tiếp cận với công nghệ thông tin của tuyệt đại đa số nông dân Việt Nam, cùng với hệ thống kiểm soát của đảng cộng sản ở thôn quê vẫn hữu hiệu hơn, nơi cuộc sống kém năng động hơn, tĩnh tại hơn, dễ kiềm chế hơn. Một nông dân nói với chúng tôi về sự e ngại những vấn đề chính trị:

“Khi đưa những thông mình của mình lên thì nên giấu tên đi nhé vì nó mang tính chính trị. Mình muốn tham gia câu chuyện một cách dân dã thôi vì mình không hiểu chính trị, mình không được học luật. Nhưng mà đôi khi bức xúc lên (cười) thì cũng chiến luôn,  máu lắm (cười).”

Và thực sự là những người nông dân đã …chiến luôn… trong những xung đột xã hội vừa qua. Tiếng súng hoa cải Đoàn văn Vươn, tiếng súng lục Đặng Ngọc Viết, đều xảy ra ở môi trường nông thôn.

Để tạo nên một xã hội văn minh như đảng cộng sản vẫn hằng công bố, có phải chăng là nên dành chổ để đối thoại nhiều hơn ở nghị trường, hơn là những tiếng súng ở chiến trường như Tiên Lãng và Thái Bình? Phải chăng là cần sự tham gia chính trị nhiều hơn nữa của dân chúng?