VỪA TIN CHÚA VỪA MẾN PHẬT, ĐƯỢC KHÔNG ?

VỪA TIN CHÚA VỪA MẾN PHẬT, ĐƯỢC KHÔNG ?

PHÙNG VĂN HÓA

Trích EPHATA 611

Truyền giáo gắn liền với hội nhập và việc hội nhập ấy diễn ra không đâu cụ thể và khó khăn cho bằng nơi các cặp hôn nhân khác đạo. Do sự sắp xếp của một người bạn, vị Tu Sĩ đã được mời đến dự bữa ăn tại nhà hàng cùng với hai vợ chồng, vợ theo Công Giáo, còn chồng theo Phật Giáo ( có phép chuẩn ). Cả hai đều nhất quyết bảo vệ… đạo của mình. Thế nhưng cuộc sống chung đạo ai người ấy giữ, có thể đi đến chỗ đổ vỡ vì một mối lo chung, “lo là vì sau này không biết giáo dục các cháu theo tôn giáo nào ! Dựa vào giáo lý Đức Phật hay Chúa Giêsu để định hướng cho chúng nó, nên mỗi khi đụng đến vấn đề này là vợ chồng cãi nhau” ( Nguồn: Lamhong.org 15.11.2013, Nguyễn ngọc Phú Đa, Truyền giáo ngày nay: Làm sao tin Chúa mà vẫn không mất lòng mến Đức Phật ? ).

Sự xung đột diễn ra giữa các niềm tin tôn giáo là điều không thể tránh, lý do là vì ai cũng muốn bảo vệ niềm tin của mình bất chấp nó đúng hay không đúng. Người vợ rất muốn chồng phải theo Công Giáo. Ngược lại, chồng lại muốn vợ phải theo Phật Giáo. Vị Tu Sĩ hỏi lý do thì cả hai đều có câu trả lời như nhau, là vì gia đình đã theo Chúa hoặc theo Phật từ nhiều đời, nay không có cách chi bỏ được.

Sau khi biết lý do, vị Tu Sĩ bèn thuyết giảng cho người chồng theo Đạo Phật về… Đức Phật thế này: “Trước tiên tôi thấy Đức Phật là một đấng rất đáng kính. Ngài đã dám chấp nhận từ bỏ con đường giàu sang nhung lụa chốn triều đình và đã nhất quyết bỏ lại tất cả khi đã giác ngộ ra chân lý “đời là bể khổ” và ngài đã tìm ra con đường để giải thoát. Con đường ấy được thể hiện trong triết lý Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và Bát Chính đạo. Qua đó ngài cũng mời mọi người đi theo con đường mà Ngài đã tìm ra để đạt được hạnh phúc. Đức Phật thật tốt. Tuy nhiên khi được học trò hỏi: Thưa thầy chân lý ở đâu ? Ngài đã không tự nhận mình là chân lý nhưng âm thầm chỉ tay lên trời, chân lý ở trên đó ! Ngài đóng vai trò là người dẫn đưa người ta đến gần Ông Trời, gặp được Ông Trời, và được ở với Ông Trời là chân lý tuyệt đối. Vì thế người Công Giáo chúng tôi rất mến Đức Phật, bởi vì ngài cũng như chúng tôi là tin Ông Trời, gặp được Ông Trời, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa. Tuy có nhiều cách gọi khác nhau nhưng những tước hiệu đó bên chúng tôi gọi ngài qua một tên chung là Thiên Chúa” ( Nguồn: Nguyễn Ngọc Phú Đa, đã dẫn ).

Sau khi nghe… thuyết một hồi như thế thì anh chồng có vẻ đắc trí ( nguyên văn ) tỏ ý muốn theo… Chúa, nhưng còn gặn hỏi: “Bây giờ làm thế nào để con theo Chúa mà không bỏ Đức Phật. Bởi vì con thương và thấy tội Đức Phật quá. Con cũng thấy có một số người khi đã tin theo tôn giáo khác thì ngay lập tức họ quay lưng lại với Đức Phật ! Thậm chí họ coi Đức Phật rất tầm thường, nếu không muốn nói là báng bổ ngài. Nếu mà thầy bắt con cũng như họ là con nhất quyết không theo Đạo Chúa đâu. Tôi bảo anh định theo Chúa là đúng rồi, bởi vì Chúa là Đấng dựng nên trời đất muôn vật muôn loài trong đó có loài người và cũng có cả Đức Phật luôn” ( Nguồn: Nguyễn Ngọc Phú Đa, đã dẫn ).

Chẳng biết chuyện kể này… thật hư thế nào, nhưng qua đây cũng có thể thấy được quan điểm của không ít người Công Giáo về Đạo Phật cũng như về Đức Phật. Theo họ thì Phật Thích Ca cũng chỉ là người như bao người khác đã được tạo dựng bởi Đấng Thần Linh Tạo Hóa và vì thế chỉ có thể đáng mến chứ không thể tôn thờ. Dẫu vậy cái sự… đáng mến ấy sở dĩ có là vì Đức Phật cũng… tin có Ông Trời !?!

Thương như thế thì cũng chẳng bằng mười phụ nhau, có nghĩa đã… mạ lỵ Đức Phật một cách trắng trợn đấy chứ chẳng phải không ! Niềm tin có Ông Trời hay còn gọi là Thượng Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế v.v… sinh ra và cai quản muôn loài, đó chỉ mang tính chất dân gian chứ không phải tôn giáo. Lấy tính chất dân gian gán cho tôn giáo, điều ấy không khỏi khiến con đường tâm linh trở nên bế tắc. Làm sao không bế tắc, bởi lẽ đường tâm linh là đường tìm kiếm: “Các ngươi hãy tìm Ta và gặp được khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng” ( Gr 29, 13 ).

Đường tâm linh là đường tìm kiếm, nhưng nên nhớ việc tìm kiếm ấy không phải là tìm cái chi đó ở bên ngoài, nhưng là quay trở về với Đấng ở nơi mình: “Hãy trở lại cùng Ta thì Ta sẽ trở lại cùng ngươi” ( Ml 3, 7 ). Quay trở về với chính mình, đây là mệnh lệnh của tâm linh tôn giáo nhưng cũng là của minh triết: “Hãy tìm cho biết về chính mình ngươi” ( Connais toi – Toi même ), người ta thấy lời này được khắc ghi trên cổng lối vào Đền Delphe của Hy Lạp cổ, như nhắc nhở con người rằng chân lý chỉ có thể tìm thấy khi biết quay trở về với chính mình.

Mặc dầu vậy, đối với triết học thì nhắc nhở chỉ là nhắc nhở, bởi lẽ trước sau nó vẫn cứ là duy lý, không thể khác. F. Nietzche ( 1844 – 1900 ), ông tổ của triết học hiện sinh vô thần, đã nặng lời phê phán Socrates, cho rằng ông này “…như người dẫn trẻ đến vườn mà không chỉ cho lối vào: Bảo hãy biết chính ngươi, mà không có phương pháp, nên môn sinh người thì tìm vào sinh vật học như Aristotes, người thì như Platon thì bám vào thế giới lý niệm. Tất cả mong mỏi tìm biết nhưng rút cục như Faust đi đến chỗ bán linh hồn để mua tri thức mà không đạt được” ( Kim Định – Nhân Bản, NXB. Ra Khơi 1965 ).

Tất cả mong mỏi tìm biết đến nỗi bán cả linh hồn cũng không được, lý do là bởi tri thức ấy muôn đời chỉ là cái biết của sự phân biệt. Bao lâu còn phân biệt là còn thấy có người, có vật ở ngoài mình, thậm chí ngay cả Thiên Chúa khi ấy cũng chỉ là một thứ sự vật, một thứ khái niệm chết khô. Lấy tri thức để hòng tìm biết Thiên Chúa chỉ vô ích, bởi lẽ Thiên Chúa là thực tại vượt thoát khỏi mọi ý niệm ngôn ngữ.

Tất cả nguyên nhân đưa đến khủng hoảng của Giáo Hội từ trước đến nay là do đã lầm tri thức với thực tại. Chính vì sự lầm lẫn ấy nên thay vì tìm kiếm Thiên Chúa Đấng chưa ai từng thấy biết ( Ga 1, 18 ), Thần Học lại theo đuổi một thứ tri thức tìm biết về cái căn nguyên sinh thành vũ trụ: “Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng” ( La Philosophie est la science des choses par leurs causes suprêmes, Trần Thái Đỉnh – Triết Học Hiện Sinh ).

Trong cuộc sống thường nhật, người ta thấy không có gì lại không có nguyên nhân. Cái nhà không thể tự mình có mà phải có người làm ra cái nhà. Cơm không thể tự chín mà phải có người nấu mới thành cơm v.v… và v.v… Từ đó suy ra thì cả vũ trụ này với muôn vàn tinh tú vận hành trong trật tự vĩnh hằng thì lý đương nhiên ắt cũng phải có đấng sinh ra nó ? Sự suy ra ấy đã được thần học trong đó có cả Thánh Thomas Aquino, lập luận thế này: mọi sự đều có nguyên nhân nhưng do không thể có một chuỗi vô tận các nguyên nhân ngẫu nhiên nên chuỗi này nhất thiết phải dừng lại ở một nguyên nhân đầu tiên, hay còn gọi là nguyên nhân tối cao, và đó chính là Thượng Đế, là Tạo Hóa.

Thật sự thì trong thiên nhiên vạn vật không có bất cứ cái gì do ngẫu nhiên, nhưng nếu bảo rằng cần có Đấng Tạo Hóa để điều hòa trật tự trong vũ trụ, thì đấng ấy nếu có, xét ra cũng chỉ tương đương như một kiến trúc sư hay một nhà quản trị thôi sao ? Mặt khác, Tạo Hóa chẳng lẽ chỉ điều hòa trật tự trong vũ trụ thiên nhiên, còn con người thì sao ? Đang khi đó chính con người và cuộc sống, tức hạnh phúc hay khổ đau của nó, mới là đối tượng tôn giáo cần nhắm tới. Tôn giáo có mặt không phải là để nêu lên những vấn nạn siêu hình, nhưng là để giải quyết nó cho đến tận căn.

Đức Phật trả lời cho vị Tỳ Kheo: “Này Malunkyaputta, Như Lai không hề nêu lên vấn đề thế gian  có vĩnh cửu hay không, thế gian có giới hạn hay vô tận. Tại sao ? Bởi vì những điều ấy không tạo ích lợi, không thể làm nền tảng cho đời sống phạm hạnh, không chấm dứt sân hận phiền não, không dẫn đến sự dập tắt, sự vắng lặng, trí tuệ, sự giác ngộ hay là Niết Bàn. Vì vậy Như Lai không đề cập đến những vấn đề ấy” ( Thiền sư Nãrada Thera – Đức Phật và Phật Pháp ).

Đức Phật không trả lời những vấn nạn siêu hình bởi nó chẳng ích lợi gì cho việc chấm dứt khổ đau. Để chấm dứt khổ đau thì chỉ có một con đường, đó là nhận biết sự thật. Ngay sau khi thành đạo, Đức Phật thuyết giảng về bốn sự thật ( Tứ Diệu Đế ) đó là:

1. Khổ Đế: Cõi đời là đau khổ, dù cho có danh vọng giàu có tài trí đến đâu cũng không ai có thể thoát khỏi sinh lão bệnh tử, xa lìa người thân, gần gũi kẻ thù.

2. Tập Đế: Tất cả những khổ đau ấy không phải do ngẫu nhiên nhưng đã được kết tập từ nhiều đời nhiều kiếp. Nói cách khác, khổ đau chỉ là cái quả của cái nhân do chính mình gây ra.

3. Diệt Đế: Nếu khổ chỉ là cái quả của nhân do mình gây ra, thì cũng chỉ có mình mới có thể chấm dứt nó.

4. Đạo Đế: Có tám con đường ( Bát Chánh Đạo ), tức phương pháp tu hành cần noi theo để đi đến chỗ an lạc tuyệt đối là Niết Bàn.

Đức Phật đã từ bỏ ngôi báu thái tử để dấn thân trên con đường tu tập, trải qua muôn vàn hiểm nguy gian khổ mới có thể đem đến cho nhân loại con đường giải thoát sinh tử ấy. Đối với những người theo Phật ( Phật Tử ) thì việc biết ơn là lẽ đương nhiên và sự biết ơn ấy còn đi đôi với lòng yêu mến, bởi vì Ngài đã đem đến cho mình con đường thoát khổ một cách chắc chắn. Người ta vẫn nói có biết thì mới mộ mến, còn ngược lại thì không ( Vô tri bất mộ ). Có thể nói người Công Giáo chúng ta sở dĩ không có lòng mến mộ Đức Phật là vì đã thiếu sự hiểu biết cần thiết về Ngài cũng như về con đường của Ngài. Chính bởi vậy vấn đề đặt ra cho việc truyền giáo hội nhập hôm nay là phải làm sao có được sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về Đạo Phật.

Rất có thể có những e ngại rằng nếu hiểu Đạo Phật, biết đó là con đường chân chính thoát khổ thì người ta sẽ bỏ Công Giáo để theo Phật Giáo hay chăng ? Thực tế điều ấy cũng đã xảy ra, có ký giả người Ý, ông Vittorio Messori đã thưa với Đức Gioan Phaolô 2: “ Như Đức Thánh Cha đã biết, hình như giáo lý giải thoát của Phật Giáo đang lôi cuốn một số lớn người Tây Phương như để thay thế cho Kitô Giáo, hay như một thứ bổ túc, ít ra là về những gì liên quan tới kỹ thuật tu đức và thần bí” ( Bước Vào Hy Vọng – Câu hỏi số 14 ).

Có một số lớn trí thức Tây Phương bị giáo lý Phật Giáo lôi cuốn, đó là thực tế không thể phủ nhận. Tuy nhiên cần nhận ra lý do của nó, phải chăng là vì giáo lý Công Giáo của chúng ta thực sự có vấn đề, nghĩa là vẫn còn xiển dương một Đấng Thần Linh Tạo Hóa. Một khi còn xiển dương Đấng được gọi là Tạo Hóa ấy thì sẽ không bao giờ có thể nhận ra vai trò Thiên Sai của Đấng Cứu Độ: “Vừa rạng ngày, Ngài ra đi đến nơi vắng vẻ. Có quần chúng kéo đi tìm Ngài theo kịp, muốn giữ Ngài lại không cho Ngài đi khỏi họ. Nhưng ngài nói cùng họ rằng: “Ta cũng cần phải rao giảng Tin Mừng Nước Đức Chúa Trời cho các thành thị khác, vì cốt tại việc đó mà Ta được sai đến” ( Lc 4, 42 – 43 ).

Rao giảng Tin Mừng Nước Trời, đó cũng là rao giảng Sự Thật, bởi vì Nước Trời ấy là nước nội tại trong tâm mỗi người ( Lc 17, 20 – 21 ). Con người do bởi vô minh che lấp thế nên không thể nhận biết và sống với Bản Tinh Chân Thật của mình. Bản tính ấy với Đạo Phật là Phật Tánh, còn với Đạo Chúa là phẩm vị Con Thiên Chúa. Bao lâu còn bị trói buộc trong vòng vô minh mà Kinh Thánh gọi là Tội Nguyên Tổ ấy thì con người không sao có thể thoát khỏi khổ não. Phật Thích Ca cũng như Chúa Giêsu Kitô xuất hiện ở nơi cõi thế cũng không ngoài mục đích rao giảng sự thật để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi sự trói buộc của vô minh đó thôi.

Dẫu vậy, chúng ta cần nhận ra sự khác biệt giữa Phật Thích Ca và Chúa Giêsu Kitô trong công cuộc cứu khổ cứu nạn này.

Phật Thích ca rao giảng Bốn Sự Thật ( Tứ Diệu Đế ) như là nguyên lý tối thượng phải theo hầu thoát khổ. Còn Chúa Kitô thì lấy chính mạng sống mình làm giá cứu chuộc: “Ấy vậy Cha thương yêu Ta vì Ta bỏ mạng sống ta để lấy lại. Chẳng ai có thể lấy mạng sống Ta được nhưng Ta tự bỏ. Ta có quyền bỏ đi cũng có quyền lấy lại. Mạng lịnh ấy Ta đã nhận lãnh ở nơi Cha Ta” ( Ga 10, 17 – 18 ).

Bởi Chúa Kitô đã chịu chết để vâng phục Thánh Ý, chính vì vậy nên Ngài cùng với Chúa Cha đã trở nên một: “Ai tin Ta chẳng phải tin Ta nhưng là tin Đấng đã sai Ta. Còn ai thấy ta tức là thấy Đấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đến thế gian hầu hễ ai tin ta thì chẳng cứ ở trong tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không vâng giữ thì Ta chẳng xét đoán kẻ đó, vì Ta đến chẳng để xét đoán nhưng để cứu rỗi thế gian” ( Ga 12, 44 ).

Tin và theo Chúa, đó là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi đời đời của mỗi người, ấy là vì lòng tin ấy sẽ dẫn đưa ta đến với Chúa Cha: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). Tin theo Chúa để được cứu rỗi, thế nhưng tin Chúa thế nào được nếu không ở trong Giáo Hội do Người thiết lập ? Lý do cần phải “Ở” trong Giáo Hội bởi mỗi Kitô Hữu chúng ta, dầu là Giáo Sĩ hay Giáo Dân cũng đều là chi thể trong Thân Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Là chi thể thì phải gắn kết với thân mới có thể sinh hoa kết quả, trái lại thì không. Những con người gọi là trí thức Tây Phương đó đã rời bỏ Giáo Hội để ngả theo Phật Giáo, họ có được gì đâu ngoài ra một mớ kiến thức vô bổ về triết học này nọ. Phương pháp dù có hay đến đâu nhưng nếu không áp dụng thực hành đến nơi đến chốn thì chẳng những chẳng ích lợi gì mà còn mang họa.

Người Công Giáo nếu có mến Phật thì cũng chỉ nên coi đó như một phương pháp tu tập giúp ta đi sâu vào bản tâm mà thôi… Còn như nói rằng mến Phật chỉ vì ngài cũng tin có Ông Trời như mình thì quả là… lố bịch ! Trong bất cứ thời nào, bản chất của Giáo Hội vẫn là theo đuổi việc truyền giáo, thế nhưng việc truyền giáo ấy sẽ không thể kết quả nếu không rao giảng Tin Mừng Nước Trời của Đức Kitô, bởi vì chỉ với Nước Trời ấy mà con người mới “Hòa” được với Thiên Chúa và với nhau : “Mọi sự đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người và trao cho chúng tôi chức vụ giải hòa” ( 2Cr 5, 18 ).

PHÙNG VĂN HÓA

Đối đầu TQ-VN ở Biển Ðông thử thách chính sách xoay trục Á Châu của Mỹ

Đối đầu TQ-VN ở Biển Ðông thử thách chính sách xoay trục Á Châu của Mỹ

Tàu Tuần duyên Trung Quốc số hiệu 3411 (trái) và tàu Tuần duyên Việt Nam số hiệu 4032 trong khu vực Biển Đông mà cả hai đều tuyên bố thuộc lãnh hải của mình.

Tàu Tuần duyên Trung Quốc số hiệu 3411 (trái) và tàu Tuần duyên Việt Nam số hiệu 4032 trong khu vực Biển Đông mà cả hai đều tuyên bố thuộc lãnh hải của mình.

Scott Stearns

23.05.2014

BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ — Vụ giằng co về một giàn khoan dầu ở vùng biển có tranh chấp ngoài khơi Việt Nam đang trắc nghiệm cái gọi là chính sách “Xoay trục” của chính quyền Obama về các nguồn lực quân sự và ngoại giao qua châu Á.

Việt Nam nói một giàn khoan dầu của Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp đe dọa đến quyền tự do hàng hải. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố:

“Việc hạ đặt giàn khoan bất hợp pháp đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định an ninh hàng hải và tự do hàng hải ở Biển Ðông.”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói chính Việt Nam đang làm tăng thêm căng thẳng qua việc nêu thắc mắc về chủ quyền của Trung Quốc.

Ông Hồng nói: “Họ đang bóp méo các sự kiện, làm cho sai đúng lẫn lộn trên sân khấu thế giới, bôi nhọ Trung Quốc và đưa ra những lời cáo buộc vô lý.”

Vụ giằng co nằm trong khuôn khổ nỗ lực của Trung Quốc nhằm đẩy lui sự hiện diện nhiều hơn của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, theo nhận xét của giáo sư Hillary Mann Leverett của trường American University:

“Cuộc giằng co thực sự đưa Việt Nam ra tiền trường của một cuộc chiến, cơ bản là giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, về việc ai sẽ có khả năng tạo ảnh hưởng ngày nay và dài hạn trong khu vực hết sức quan trọng của thế giới.”

Ðó là một thông điệp nhắm vào tất cả những đối thủ tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh, theo giáo sư Carl Thayer của trường Ðại học New South Wales:

“Các quốc gia chủ chốt trong ASEAN, không riêng gì Philippines và Việt Nam, sẽ hết sức quan ngại, bởi vì không phải chỉ là vấn đề một giàn khoan, mà là sức mạnh quân sự kèm theo, và mỗi quốc gia sẽ cảm thấy yếu thế trước Trung Quốc.”

Chủ tịch Tập Cận Bình nói Trung Quốc luôn luôn cố gắng giải quyết một cách êm thắm các vấn đề chủ quyền hàng hải và nêu thắc mắc về các quốc gia Á châu mưu tìm liên minh chống lại các nước láng giềng. Ông Tập nói:

“Các nước củng cố liên minh quân sự chống lại một nước thứ ba không có lợi ích cho an ninh khu vực.”

Bắc Kinh đang tìm cách phá hoại cái gọi là chính sách xoay trục của Hoa Kỳ dựa vào điều mà giáo sư Leverett nói là một giả thuyết cho rằng Washington sẽ không tranh chấp. Giáo sư Leverett cho biết:

“Khái niệm đối với Trung Quốc thực sự là dành cho Hoa Kỳ sự lựa chọn mà Hoa Kỳ không thể thắng được. Hoặc họ phải chiến đấu với Trung Quốc về những hòn đảo mà họ không quan tâm hoặc họ sẽ không hậu thuẫn cho các đồng minh của mình. Điều này gửi đi một tín hiệu mạnh cho các đồng minh đó là không thể dựa vào Hoa Kỳ, chính sách xoay trục không có thực chất, và láng giềng duy nhất mà họ phải đối phó ngày nay và mãi mãi là Trung Quốc.”

Washington nói sẽ ủng hộ hành động pháp lý của Hà Nội chống lại giàn khoan trong khuôn khổ gọi là “lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ trong việc duy trì hòa bình và ổn định” ở Biển Ðông.

Những sự mất mát từ Biển Ðông

Những sự mất mát từ Biển Ðông

  • VOA

Nguyễn Hưng Quốc

22.05.2014

Cuộc tranh chấp ở Biển Đông, xoay quanh việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 đến khu vực thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, chưa biết sẽ dẫn đến đâu. Tuy nhiên, hiện nay, người ta đã thấy rõ một số khá lớn những sự mất mát.

Mất mát đầu tiên, thuộc về chính quyền Việt Nam, là uy tín về khả năng đối phó với hiểm họa xâm lấn biển và đảo của Trung Quốc. Từ cả chục năm nay, một số khá đông giới trí thức Việt Nam đã nhận ra sai lầm của nhà cầm quyền Việt Nam trong các chính sách liên quan đến Trung Quốc, chủ yếu tập trung vào khẩu hiệu Bốn Tốt và phương châm 16 Chữ Vàng. Nhưng chính quyền vẫn bất chấp những lời phê phán và cảnh báo ấy. Nhiều người vẫn cứ tin chính phủ. Tin một cách mù quáng, nhưng vẫn tin. Bây giờ, khi tranh chấp nổ lớn, giới quan sát quốc tế, trên các tờ báo lớn, đều nhận thấy rõ là chính quyển Việt Nam hoàn toàn lúng túng, không biết đối phó ra sao cả. Sự lúng túng ấy cho thấy, lâu nay, mặc dù được nhiều người cảnh giác, họ vẫn ngây thơ hoặc lì lợm không tin và do đó, không chuẩn bị trước một chiến lược nào cho nhất quán và hiệu quả. Sự lúng túng ấy, như tôi đã từng phân tích trong bài “Trung Quốc đã thắng trên Biển Đông”, là một sự thua cuộc. Thua ngay từ ván đầu.

Mất mát thứ hai, thuộc lãnh vực kinh tế, qua các cuộc xuống đường bạo động của các công nhân Bình Dương và Hà Tĩnh khiến nhiều nhà máy và công ty bị đập phá, hôi của, hoặc phải đóng cửa. Trước mắt, các cuộc bạo loạn này sẽ dẫn đến ba cái hại: Một, số công nhân thất nghiệp sẽ gia tăng; hai, số nhà máy và công ty cần một thời gian mới phục hồi lại nhịp điệu sản xuất như trước; và ba, nhiều công ty và nhà máy của Trung Quốc sẽ ngần ngại trong việc đầu tư vào Việt Nam. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới. Khi sự phát triển chậm lại, gánh nặng sẽ oằn lên, trước hết, trên đôi vai của giới thợ thuyền.

Nhưng mất mát thứ ba này, theo tôi, là quan trọng nhất: dân chủ và nhân quyền có nguy cơ bị đe dọa nặng nề.

Khi cuộc tranh chấp mới bùng nổ, chính quyền tự đứng ra tổ chức và cho phép một số nhóm xã hội dân sự tổ chức xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại ba thành phố lớn: Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng. Ngỡ như từ đó, chính quyền sẽ dần dần hợp pháp hóa các cuộc biểu tình chống ngoại xâm của dân chúng. Nhưng có vẻ như không phải. Sau các cuộc bạo loạn của các công nhân ở Bình Dương và Hà Tĩnh, nhân danh việc tái lập trật tự và an toàn xã hội, chính quyền ra tay bắt bớ những người họ cho là đứng sau lưng xúi giục quần chúng. Và, quan trọng hơn, tăng cường sự theo dõi đối với những người vốn thường xuyên mang tư tưởng chống Trung Quốc. Trên facebook, mấy ngày vừa qua, khá nhiều người cho biết chung quanh nhà của họ lúc nào cũng đầy nhóc công an và an ninh khu vực canh giữ cả ngày lẫn đêm. Họ đi đâu cũng có người bám theo sau. Mức độ theo dõi, như vậy, nghiêm trọng hơn hẳn trước đây. Chúng ta không thể loại trừ khả năng, sắp tới, có thể sẽ có một số người bị bắt với lý do xúi giục dân chúng bạo loạn.

Hầu như đã thành quy luật trong sinh hoạt chính trị trên thế giới từ trước đến nay: Khi đất nước đối diện với đe dọa từ bên ngoài, cái bị bóp chết đầu tiên chính là dân chủ và nhân quyền. Điều đó xuất phát từ hai nguyên nhân chính: Một, trong văn hóa chiến tranh, quần chúng thường có khuynh hướng tạm gác lại các bất đồng và tinh thần phản kháng để tập hợp chung quanh chính quyền. Tinh thần phê phán thường bị thay thế bởi tinh thần phục tùng. Kẻ thù càng lớn, nguy hiểm càng nhiều, người dân càng dễ quay về với chính phủ để chờ đợi mệnh lệnh. Hai, các chính phủ cũng thường lợi dụng văn hóa chiến tranh ấy để củng cố quyền lực của mình và loại trừ dần những kẻ đối lập hoặc bất đồng chính kiến trong xã hội.

Một trong những luận điểm nhà cầm quyền thường đưa ra nhiều nhất là: Để bảo vệ độc lập và chủ quyền, cần, trước hết, đánh thắng kẻ thù; muốn đánh thắng kẻ thù, cần sự đoàn kết; để đoàn kết, mọi người phải ủng hộ chính quyền; và để ủng hộ chính quyền, mọi người phải tự hy sinh những sự khác biệt về quan điểm, hay rộng hơn, tư tưởng; nói cách khác, hy sinh tự do. Và khi mỗi người tự hy sinh tự do của mình, cả nước sẽ hy sinh dân chủ.

Các luận điểm, nghe, có vẻ có lý, nhưng vì tính chất “có vẻ có lý” ấy, chúng trở thành nguy hiểm. Lý do: mọi người phải ngoan ngoãn đứng sau lưng chính phủ, nhưng nếu chính phủ sai thì sao? Hoặc, ngay cả khi chính phủ không hoàn toàn sai nhưng họ lại lợi dụng điều ấy cho các mưu đồ độc tài và trục lợi cho riêng họ thì sao? Một ví dụ rất rõ: Từ khi vụ tranh chấp chung quanh giàn khoan HD-981 bùng nổ, người được hưởng lợi đầu tiên có lẽ là bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế. Trước, bà bị phê phán gay gắt vì cả sự bất lực lẫn sự vô cảm trước sự xuống cấp của ngành y tế, và nhất là, trước sự lan tràn của bệnh sởi. Bây giờ, hầu như không ai quan tâm đến những vấn đề ấy nữa. Ngay cả khi có thêm vài chục hay vài trăm trẻ em bị chết vì dịch bệnh ấy, người ta cũng không quan tâm: Mọi cặp mắt đều đổ dồn về phía Biển Đông.

Đó là lý do tại sao, trên khắp thế giới, từ trước đến nay, tất cả các chế độ độc tài đều muốn chiến tranh: Họ dùng chiến tranh bên ngoài để trấn áp người dân trong nước. Chắc chắn chính quyền Việt Nam đã học và ứng dụng bài học ấy, không phải bây giờ, mà từ cả sáu, bảy chục năm qua.

Với những kẻ nhẹ dạ, luận điệu ấy dường như có sức thuyết phục lớn. Sau năm 1975, có lúc có người đổ trách nhiệm làm mất miền Nam cho những người hay lên tiếng chống lại chính quyền. Hiện nay, không ít người cũng hăm he như thế với kiểu nghĩ: trong cuộc đấu tranh chống lại Trung Quốc, không những mọi sự phê phán nhắm vào chính quyền có hại mà bất cứ ý kiến đượm vẻ hoài nghi nào cũng đều có tác dụng tiêu cực: Chúng làm nản lòng mọi người để người ta chấp nhận thua cuộc ngay cả trước khi thực sự chiến đấu.

Chưa biết có đánh nhau hay không và chưa biết ai thua ai thắng nhưng hai nạn nhân đầu tiên đã xuất hiện: dân chủ và nhân quyền.

 

Tôi theo đạo Công giáo

Tôi theo đạo Công giáo

Chuacuuthe.com

download

VRNs ( 22.05.2014) – Sài Gòn-  Đức Tin không là chiếc gối êm để tôi ngả lưng tựa vào, mà là năng lực hoạt động của tôi” (Helen Keller).

Tôi viết với ý thức đầy đủ rằng con đường của mỗi người vào Công

giáo đều kỳ diệu, con đường mà người đó phải theo, nhưng ý thức (và biết ơn), người đó có thể ao ước và làm bạn với những người hướng dẫn mình.

Tôi sinh trưởng trong một gia đình Tin Lành, “đi nhà thờ” với cha mẹ ở một ngôi làng nhỏ ở New England.

Ở Hoa Kỳ và tại ĐH Oxford, tôi đọc thơ của thi sĩ Gerard Manley Hopkins và các bài tâm linh của ĐHY John Henry Newman, tôi bắt đầu nhận thấy điều gì đó mà tôi phải gọi là “đói khát tâm linh”. Tôi cũng bị thu hút bởi Giáo hội sơ khai (đặc biệt là Thánh Phaolô), các Giáo phụ, sự hy sinh của các Kitô hữu đầu tiên, và sự chia sẻ của Kitô giáo đã củng cố đức tin của họ, giúp họ nhận biết vinh quang của Đức Kitô.

Đây phải là Giáo hội Công giáo thánh thiện. Các tín điều là giáo lý bất biến, không thể cãi lại. Tôi ấp ủ các điều đó với ý thức rằng tôi được mời gọi để làm vậy. Và tôi phải làm.

Cuộc trở lại của tôi mất nhiều năm, và mãi tới năm 2010 tôi không mới được gia nhập Giáo hội Công giáo, khi tôi đã 70 tuổi. Tôi tĩnh tâm một thời gian dài tại cơ sở của Hội Opus Dei; một linh mục hướng dẫn tôi và trả lời các câu hỏi của tôi, có một câu hỏi liên quan Giáo hội có vẻ “căng” vào lúc đó. Linh mục cố gắng giải thích… Tôi còn nhớ thời gian kéo dài khoảng 60 phút, và tôi nói: “Thưa linh mục, tôi sẵn sàng rồi”. Linh mục nói: “Tôi biết mà. Tôi luôn cầu nguyện cho ông”. Tôi cảm thấy cõi lòng thanh thản.

Tôi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy tại Washington, Lm C. John McCloskey hỏi tôi nhận thánh bổn mạng nào.

Tôi nói: “Thánh Thomas More”. Một giờ sau, một lễ sinh tới hỏi tôi có muốn tham quan trường của nhà thờ không. Tôi đồng ý. Tôi đi theo cậu bé. Thật lạ lùng, trước mặt tôi là một bức tượng đồng: Thánh Thomas More.

Thánh Thomas More là người Anh, sinh ngày 7-2-1478 và mất ngày 6-7-1535, là luật sư, triết gia, tác giả, chính khách, và nhà văn hóa thời Phục Hưng.

Cảm giác rất lạ, tôi không thể diễn tả. Tôi biết Công giáo đúng là Giáo hội thật của tôi.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

JOSIAH BUNTING (*) Tướng về hưu Josiah Bunting là chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Hoa kỳ (American Studies Center), thuộc Viện Nghiên cứu (Intercollegiate Studies Institute) và là chủ tịch Hội Harry Frank Guggenheim ở TP New York. Ông đã từng là sĩ quan phục vụ trong quân đội tại Việt Nam và là người quản lý Học viện Quân đội tại Virginia trong 8 năm.

 

MỐI TÌNH CHÂU LONG

MỐI TÌNH CHÂU LONG

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

Chuyện cổ tích Việt Nam kể rằng: Có đôi bạn chí thân là Lưu Bình và Dương Lễ.  Lưu Bình cùng họ với Lưu Linh.  Ham chơi hơn ham học.  Dòng dõi giầu sang phú quý nhưng lêu lổng ăn chơi trác táng.  Dương Lễ nhà nghèo nhưng ham học. Lấy đèn sách làm thú vui.  Nhờ chí thú học hành mà Dương Lễ đã đỗ trạng nguyên làm quan lớn triều đình.  Ngược lại, Lưu Bình vì ham chơi nên công không thành và danh thì bại.  Thân xác tiều tuỵ và đói khổ bần hàn.  Dương Lễ nhìn cảnh bạn sa cơ thất thế nên động lòng trắc ẩn, dầu vậy, bên ngoài ông vẫn làm như không nhìn nhận tình bạn.  Ông đã ngầm cho vợ là Châu Long giả dạng là người con gái đến giúp Lưu Bình làm lại cuộc đời.  Châu Long đã theo lời chồng đến ở với Lưu Bình để động viên, giúp đỡ Lưu Bình.  Nhờ đó mà Lưu Bình đã cố gắng ăn học và sau này cũng thành tài.  Về phần Châu Long tuy sống với Lưu Bình nhưng lại không thuộc về Lưu Bình. Nàng vẫn thuộc về Dương Lễ.  Nàng vẫn phải trung thành tuyệt đối với Dương Lễ.  Cho dù Lưu Bình đã nhiều lần đề nghị nàng kết mối duyên tình, nhưng nàng đã khéo léo từ chối.  Nàng khuyên nhủ Lưu Bình hãy chuyên chăm học hành để công thành danh toại mới tính đến chuyện trăm năm.  Cho đến khi Lưu Bình thi đỗ mới vỡ lẽ ra: Châu Long chính là vợ của bạn được gởi đến để giúp đỡ mình.

Cuộc đời Kitô hữu chúng ta cũng giống như nàng Châu Long.  Sống giữa thế gian để canh tân đổi mới thế gian nhưng không thuộc về thế gian.  Sống giữa thế gian nhưng phải trung thành với thầy Chí Thánh Giêsu.  Không để lòng mình buông theo những cám dỗ tội lỗi, những thói đời điêu ngoa, những đam mê thấp hèn.  Trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta: Hãy xin cùng Chúa Cha gìn giữ chúng ta khỏi sa chước cám dỗ và gìn giữ chúng ta khỏi mọi sự dữ.  Chúa không bảo chúng ta xin cùng Chúa Cha cất nhắc chúng ta ra khỏi thế gian, nhưng vẫn ở giữa thế gian, đồng thời vẫn phải trung tín với Chúa.  Như Châu Long sống với Lưu Bình để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Dương Lễ đã trao.

Có thể nói, Châu Long phải có một tình yêu thật cao cả, thật thủy chung lắm mới có thể sống với Lưu Bình mà vẫn giữ trọn giao ước với Dương Lễ.  Người Kitô hữu cũng phải có một tình yêu thật thâm sâu với Thiên Chúa mới có thể tuân giữ giới răn Chúa khi sống giữa thế gian đầy mời mọc hấp dẫn luôn lôi kéo con người bất trung, phản bội với Chúa.  Vâng, chúng ta đang ở giữa một thế gian đầy gian tà, một thế gian sa đọa, tội lỗi, người Kitô hữu phải có một tình yêu sắt son trung kiên mới có thể giữ lòng thanh khiết như đóa sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy.”  Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa.  Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian.  Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa.  Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta.”  Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta.  Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự.  Người Kitô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.

Nhìn vào thế gian hôm nay với bao nhiêu cám dỗ mời mọc, bao nhiêu cạm bẫy rình chờ, khiến đức tin của chúng ta đã nhiều lần chao đảo, muốn buông xuôi theo cám dỗ của cải, tiền tài, danh vọng và thú vui thể xác.  Giữa một thế giới có quá nhiều cám dỗ hưởng thụ, làm sao chúng ta có thể trung thành với Chúa?  Có lẽ vì nguyên nhân đó, mà Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta, đồng thời, ngài còn ban Thần Khí đến cho chúng ta.  Ngài sẽ an ủi khi chúng ta gặp u buồn.  Ngài sẽ soi sáng khi lòng trí chúng ta gặp hoang mang, lo lắng.  Ngài sẽ nâng đỡ khi bước đường chúng ta gặp gian nan.  Ngài sẽ ban sức mạnh khi chúng ta cần sức mạnh để vượt qua cám dỗ tội lỗi và làm lại cuộc đời.  Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để chúng ta hoàn thành sứ mạng cuộc đời như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan, vì Chúa đã hứa hằng: “Ơn Ta đủ cho người và quyền năng Ta hiển trị nơi sự yếu hèn của con”.

Nguyện xin Chúa Kitô Phục sinh luôn đồng hành với chúng ta và chúc lành cho cuộc đời chúng ta luôn bình an để chúng ta mãi trung thành với Chúa.  Amen!

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

From: suyniemhangngay & Anh chị Thụ Mai gởi

 

Dưới Lớp Tro Tàn

Dưới Lớp Tro Tàn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

“Cùng với các tổ chức Xã Hội Dân Sự khác, Lao Động Việt cần phải được công khai hoạt động tại VN để hướng dẫn cho công nhân, từng bước thành lập các nghiệp đoàn của mình.”

Trần Ngọc Thành (Chủ Tịch Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do)

Báo Người Việt, số phát hành vào ngày 14 tháng 5 năm 2014, có phóng sự (“Đến Bình Dương Sau Ngày Công Nhân Biểu Tình Bạo Động”) của ký giả Phùng Thức – gửi từ Việt Nam – với bức ảnh đính kèm, cùng với ghi chú: Những biểu ngữ đơn sơ và đống tro tàn bạo động đêm 13 tháng 5 của công nhân Bình Dương.

Hai hôm sau (xem chừng “đống tro tàn” đã nguội) nên cũng trên diễn đàn này, lại có bản tin ngắn, với sự “khẳng định” (nghe) chắc như bắp của một quan chức cao cấp của Việt Nam:

Ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư đã ký một văn bản gửi các sứ quán, các hiệp hội doanh nghiệp ngoại quốc, khẳng định: Bạo động trong thời gian vừa qua là tự phát và có yếu tố kích động. Nhà cầm quyền Hà Nội “rất lấy làm tiếc” và đã triển khai các biện pháp để ngăn chặn ngay lập tức các hành động bạo động, bảo đảm điều đó sẽ không tái diễn.

Dân Việt vốn can đảm, và tôi cũng đã có hân hạnh quen biết rất nhiều người rất gan dạ nhưng chưa thấy ai “liều lĩnh” cỡ như nhân vật Bùi Quang Vinh này:

“Nhà cầm quyền Hà Nội ‘rất lấy làm tiếc’ và đã triển khai các biện pháp để ngăn chặn ngay lập tức các hành động bạo động, bảo đảm điều đó sẽ không tái diễn.

Ông Bộ Trưởng – rõ ràng – đánh giá hơi quá cao về khả năng đàn áp của “nhà cầm quyền Hà Nội,” và dường như không biết gì ráo trọi về đời sống của giới công nhân Việt Nam hiện nay. Để rộng đương dư luận, xin xem qua đôi lời tâm sự của một độc giả (có bút danh là Rùa Vàng) đăng trên blog Hiệu Minh – vào hôm 13 tháng 5 vừa qua:

“Rùa làm việc tại công ty D.A gia công đồ gỗ xuất khẩu cho Plantation Grown Timbers của Úc, ông chủ lâu lâu xuống xưởng một lần, lần nào ông xuống lại nổi cơn lôi đình, quát mắng, chửi bới lung tung vì những lý do hết sức lãng xẹt. Một hôm ông ta chửi một công nhân có kinh nghiệm 10 năm làm gỗ, sau 30 phút lăng mạ ông ta đuổi việc người công nhân đó luôn. Gần như ko có ai trong số khoảng 150 người từ quản đốc đến công nhân không bị chửi.

Buổi sáng khi mặt trời còn đang bận tiễn chân chú Cua rời WB, thì ở Bình Dương công nhân đã lò mò thức dậy đi làm, tối mặt trời lặn lâu lắm rồi họ mới về nhà. Trên đường về ghé qua chợ đêm mua đại cái gì đó rồi nấu cơm, ăn uống tắm giặt nữa là đến 21h. Trong nhà ko ti vi, báo chí và chẳng có đồ đạc gì có giá trị, ngoài mấy chiếc xe đạp, một nồi cơm điện, một bếp ga mini, một bình nước lọc. Đời sống công nhân đơn điệu và buồn tẻ một cách kinh ngạc. Chỉ lâu lắm mới có một đoàn pê đê đến biểu diễn ở ven KCN họ mới có dịp kéo nhau đi chơi.

Về lương, em mới vào làm lương 870.000đ một tháng, ngày nào cũng tăng ca đến 20h tối mới về và làm 4 chủ nhật, tiền công tháng đầu tiên em kiếm đc 1.200.000đ. Tháng thứ 2 lương cơ bản sẽ lên 960.000 ngàn, những tưởng tháng này kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng tháng đó giám đốc kêu công ty lỗ nay giảm lương, ai muốn làm thì làm không làm thì thôi, vậy là tháng thứ hai em cũng chỉ kiếm đc 1.200.000 ngàn.”

Số tiền lương quá khiêm tốn, như trên, đã khiến nhiều người phải trải qua những cảnh đời vô cùng nghiệt ngã:

“Tôi lấy vợ được 4 năm rồi. Cô ấy là người ở vùng núi Vĩnh Cửu (Đồng Nai), làm chung công ty với nhau. Vẫn biết đời sống khó khăn nên hai người chỉ biết nương nhau mà sống. Từ hồi bé Trà My ra đời, cuộc sống của hai vợ chồng càng cơ cực hơn nữa vì nhiều chi phí phải dành cho con như tiền sữa, tiền bột, tiền quần áo, đồ dùng cho trẻ… mà vợ thì phải nghỉ làm ở nhà trông con. Khi bé được đúng 1 tuổi, vợ chồng đành phải gửi con ở nhà trẻ tự phát gần khu trọ để đi làm chứ một mình tôi lo không xuể. Mấy ngày đầu, bé xa cha mẹ nên khóc suốt, lại không ăn uống gì nên người cứ lả đi, rồi ốm.

Thế là lại xin nghỉ, cả hai đưa con đi Bệnh viện Nhi đồng 1 dưới quận 10 mà cả nhà chỉ còn hơn 600 ngàn đồng. Vừa đợi khám bệnh cho con, vừa lo lắng không biết có đủ tiền hay không nữa. Thấy vậy, cả hai chỉ biết quay đi, nhìn con mà rơi nước mắt. Như hiểu được nỗi lòng của vợ chồng tôi, có một bác bán cà phê cóc ở cổng bệnh viện bảo, nếu thiếu tiền khám bệnh cho con thì cứ sang bên Bệnh viện Chợ Rẫy mà bán máu kiếm tiền, dễ lắm. Hỏi kỹ ra mới biết, mỗi lần đi bán máu như vậy thu được gần 500 ngàn đồng mà cũng không ảnh hưởng gì tới sức khỏe của người bán. (Khánh Hoà, “Nghiệt Ngã Phận Đời Làm Công Nhân,” báo Dân Việt 16 tháng 02 năm 2014).

Bán máu, tuy thế, vẫn chưa phải là bước đường cùng. Đôi lúc, không ít nữ công nhân còn phải bán dâm để sinh tồn – theo tường thuật của ký giả Nguyễn Bay, báo Tuổi Trẻ Online:

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…”

“Gần một năm nay, các ‘chiếu’ giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’…. Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công .. làm thợ.”

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nào nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp TP.HCM:

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Khu nhà trọ nam công nhân rách nát gần cổng Khu công nghiệp Tân Tạo –

“điểm hẹn” của những “chiếu giác hơi” công nhân – Ảnh và chú thich: N.B.

Từ nhiều năm trước Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đưa ra một nhận định rất buồn:

“Việt Nam đã bỏ cuộc trong cuộc chạy đua tri thức và kỹ thuật, hoạt động kinh tế chỉ còn tập trung trong các ngành đòi hỏi những kỹ năng thấp (đồ gỗ, may mặc, giầy dép, thực phẩm …). Những sản phẩm này đang bị cạnh tranh rất gay gắt từ những quốc gia chậm tiến sẵn sàng chấp nhận đồng lương rẻ mạt.”

Tôi còn không tin rằng giới lãnh đạo Việt Nam đã từng có lúc cố gắng (trước khi bỏ cuộc) “chạy đua tri thức và kỹ thuật” với những quốc gia lân cận. Bằng chứng là hiện nay chúng ta vẫn chưa tự làm nổi cái đinh vít cho ra cái đinh vít – theo như tường thuật của ký giả Quang Đông, báo Tiền Phong!

Mọi chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước đều thiển cận (theo kiểu mì ăn liền) nên chỉ chuyên chú vào việc khai thác ngay mọi tài nguyên thô sẵn có, cũng như nhân nguồn lực rẻ mạt của công nhân – kể cả lao động nước ngoài – để “vét” cho thật nhiều và thật nhanh thôi.

Người bị vơ vét – lúc cần mua một cái toa thuốc cho con khi đau ốm, hay một món tiền nhỏ gửi cho bố mẹ già ở quê nhà – phải đi bán máu, hoặc bán dâm. Kẻ có quyền vơ vét thì mua được mọi thứ.

Họ mua  “rau sạch ở Thiên Đường Xanh; đồ Tây lấy ở cửa sau khách sạn Sofitel ; bánhngọt ở L’Indochine ; bánh bao hiệu Tâm Tâm, bánh mì ở Hilton cạnh Nhà hát lớn ; đường, dấm, muối, xì dầu và gạo Thái Lan ở Westside, ốc lại lên tận Tây Hồ, còn đồ khô đến chợ Hàng Bè…” – theo như lời của nhà văn Phạm Thị Hoài.

Họ cũng có thể thưởng thức những tách cà phê hay những tô phở trị giá (cỡ) … nửa triệu đồng, tương đương với tiền lương hàng tuần của một công nhân!

Tôi không tin rằng hiện trạng chênh lệch bất công này sẽ kéo dài được mãi. Tôi cũng không nghĩ rằng những đống tro tàn sau những đám cháy vì bạo loạn ở Bình Dương đã hoàn toàn nguội lạnh, và nhà đương cuộc Hà Nội vẫn cứ có khả năng “triển khai các biện pháp để ngăn chặn ngay lập tức các hành động bạo động, bảo đảm điều đó sẽ không tái diễn ” – như lời hứa hẹn của ông Bộ Trưởng Kế hoạch / Đầu Tư, vào hôm 16 tháng 5 vừa qua.

Bên dưới lớp tro tàn hiện nay (e) vẫn còn những hòn than vẫn đang âm ỉ cháy. Trong tương lai gần không cần đến cái một giàn khoan dầu, một cái “tầu lạ” xuất hiện ở lãnh hải Việt Nam (hay sự kích động của bất cứ “kẻ xấu” nào) mà chỉ cần một cơn gió thoảng cũng vẫn có thể bùng lên những ngọn lửa bạo loạn ở rất nhiều nơi.

Hơn mười năm trước tướng Trần Độ đã có lời cảnh báo:”Đổi mới hay là chết.” Dường như, giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay đã nhất định tìm … cái chết!

Mồi lửa và Đống củi

Mồi lửa và Đống củi

Huy Đức

Blogger, nhà báo

Thứ hai, 19 tháng 5, 2014

Sự kiện Bình Dương – Vũng Áng cho thấy, khi gậy gộc đã ở trong tay đám đông, mọi giá trị đều trở nên vô nghĩa.

Tuy nhiên, còn “vô nghĩa” hơn nếu sự kiện “Bình Dương – Vũng Áng” được sử dụng như những con ngoáo ộp để dọa dân chúng nhằm củng cố độc tài, toàn trị.

Trong số 315 nhà đầu tư chịu thiệt hại trong vụ Bình Dương, có 12 công ty bị cháy lớn (nhiều nhà xưởng bị cháy rụi), 3 công ty bị cháy nhỏ, 33 công ty bị trộm cướp tài sản, 196 nhà xưởng bị đập phá, 241 văn phòng bị hư hại, có nhiều văn phòng bị đốt sạch, phá sạch.

Con số thiệt hại chưa được quy thành tiền nhưng cho dù nó lớn tới mức nào, đó cũng chỉ là những tổn thất có khả năng đo, đếm được.

Chưa biết bao giờ các nhà máy trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương mới có thể trở lại hoạt động bình thường. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp ngay tới hơn hai trăm ngàn lao động Việt Nam. Thiệt hại vì sự sút giảm uy tín của môi trường đầu tư còn khó định lượng hơn.

Trong mấy năm gần đây, Trung Quốc là thị trường có mức độ phát triển tốt nhất của ngành hàng không Việt Nam. Trước 13-5-2014, trung bình mỗi ngày có gần 20 chuyến bay Việt – Trung. Nay con số đó đang có nguy cơ bằng không. Thiệt hại cho Hàng không Việt Nam có thể lên đến hàng nghìn tỷ.

“Chúng ta cần một chính phủ ứng xử với Trung Quốc bằng tư thế của một quốc gia có chủ quyền chứ không phải một chính phủ, lúc thì quá lệ thuộc, lúc lại đẩy dân ra chỗ hòn tên mũi đạn”

Chủ một khu nghỉ dưỡng thường xuyên có 30% khách đến từ Trung Quốc ở Hội An cho biết, tất cả khách đặt phòng người Trung Quốc đều đã bị xóa.

Hàng nghìn biệt thự trên bãi biển Đà Nẵng vốn lâu nay sống nhờ khách Trung Quốc nay đang lần lượt bị trả lại.

Những phản ứng vừa qua cho thấy, người Việt Nam chỉ mới nhạy cảm trước một Trung Quốc bành trướng, trong khi, Trung Quốc còn là một nền kinh tế lớn.

Yếu tố bên trong

Người Việt có vẻ như đã xích lại gần nhau trong những ngày vừa qua. Dân chúng dễ dàng bỏ qua những chính sách đã đưa đất nước lún sâu. Một vài nhà lãnh đạo bỗng dưng sáng lên. Nhưng, chúng ta sẽ làm gì nếu giàn khoan Hải Dương 981 vẫn nằm lì ngoài biển đông.

Chúng ta sẽ làm gì nếu tất cả những nguyên nhân làm cho đất nước thất thế, tụt hậu vẫn tiếp tục phát huy; những kẻ bảo thủ, trì trệ vẫn bình chân và bọn tham nhũng vẫn tiếp tục ngự trị.

Một quốcgia không thể giữ yên bờ cõi nếu không đoàn kết. Nhưng nếu một quốc gia chỉ thực sự đứng bên nhau khi “tổ quốc bị xâm lăng” thì bi kịch còn lớn hơn.

Nếu không sớm tìm ra một yếu tố bên trong để đoàn kết quốc gia, chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ luôn dễ dàng bị các bên lợi dụng (cả Chính phủ và những người được coi là “dân chủ”).

Cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả cho cuộc chiến kéo dài mười năm, 1979-1989, là không chỉ bằng sự kiệt quệ nội lực, sự cô lập trên trường quốc tế mà còn bằng xương, máu của hàng triệu thanh niên. Chúng ta cần một chính phủ ứng xử với Trung Quốc bằng tư thế của một quốc gia có chủ quyền chứ không phải một chính phủ, lúc thì quá lệ thuộc, lúc lại đẩy dân ra chỗ hòn tên mũi đạn.

Sáng 1-1-2014, khi nói chuyện với chúng tôi, ông Trần Việt Phương, người giúp việc của nhiều nhà lãnh đạo Hà Nội – từng sống và làm việc bên cạnh Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh từ 1949 – 1969 – nói: Trong lịch sử nghìn năm giữ nước, chưa có thời nào Việt Nam mất cảnh giác và chịu lệ thuộc vào Trung Quốc như ‘triều đại’ ngày nay.

Sở dĩ có điều đó là vì chúng ta đã nhiều lúc ứng xử với tư thế một ông em ngoan, ngây thơ tin các ông anh cũng vì tinh thần quốc tế vô sản. Theo ông Trần Việt Phương, thời còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã từng ở trong một nền thực dân kém văn minh hơn nền thực dân trước kia.

Những công nhân vô tội bị kéo vào một âm mưu nguy hiểm

Trong những ngày giàn khoan HD 981 đang ở trong vùng biển Hoàng Sa nhiều người Việt bàn đến chuyện “thoát Trung”. Nhưng theo tôi trước khi “thoát Trung”, người Việt phải thoát ra khỏi chính vấn đề đang ở trong tay người Việt.

Năm 1974, nếu người Việt chúng ta ở chung một chiến hào, chắc chắn Hoàng Sa không thể rơi vào tay Trung Quốc. Chắc chắn không có sự kiện HD 981. Chắc chắn Trung Quốc không thể khoan vào những nơi người Việt Nam rất dễ bị tổn thương.

Theo tôi, điều cấp bách nhất mà chúng ta, bao gồm cả những người cầm quyền, phải làm là phải thoát hoàn toàn ra khỏi ý thức hệ, điều khiến cho Chính quyền có những lúc “ngây thơ” tin vào “mười sáu chữ vàng”; điều đã khiến cho lãnh thổ quốc gia bị hơn hai mươi năm chia cắt; điều khiến cho người Việt Nam, gần 40 năm sau chiến tranh, vẫn không thể nào ngồi bàn với nhau hòa giải.

Giai cấp trai làng

Nói chuyện với hàng chục chủ doanh nghiệp và công nhân ở Bình Dương, chúng tôi nhận thấy cách lôi kéo công nhân biểu tình hôm 13-5-2014 gần giống như cách mà các cuộc đình công vẫn diễn ra ở đây. Liên đoàn Lao động không bao giờ có vai trò nào ngoài việc buộc các doanh nghiệp phải trả công đoàn phí hàng tháng một khoản tiền bằng 2% quỹ lương. Đứng sau các cuộc đình công thường là một bọn người giấu mặt.

Bọn người tương tự đã xuất hiện vào ngày 13-5-2014, xông vào các nhà máy, yêu cầu giới chủ phải cho công nhân nghỉ để đi “biểu tình chống Trung Quốc”. Đề nghị này ngay lập tức được công nhân hoan nghênh. Một số bỏ về nhà nghỉ ngơi, vui vì được “hưởng nguyên lương”. Một số khác đi theo những người cầm đầu cuộc “biểu tình”.

Những công nhân vô tội này không ngờ rằng, họ đang bị kéo vào một âm mưu nguy hiểm.

Người lao động ở Bình Dương mà những người Marxists thích gọi là “giai cấp công nhân”, thực chất vẫn là những nông dân. Trong số 235.800 lao động làm việc trong 29 khu công nghiệp ở Bình Dương chỉ có 9,8% là người địa phương. Họ phải rời bỏ quê hương vì chính sách đất đai và chính sách công nghiệp hóa sai lầm.

Chính sách đất đai không cho phép tích tụ những mảnh ruộng manh mún để hình thành các trang trại lớn, nơi có thể hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, nơi các trai làng có thể ở tại chỗ mà ly nông thay vì phải ly hương.

Họ bị dồn vào một nơi cách xa lũy tre, vẫn chất phác nông dân nhưng bị lẫn trong bộ đồng phục, không danh tính, không làng xóm. Họ ngây thơ đi theo đoàn “biểu tình chống Trung Quốc”, bị cuốn trong một cơn kích động, nghĩ là mọi hành động đập phá, lấy cắp của họ sẽ bị lẫn vào đám đông.

‘Ý thức hệ’

Hôm 29-4-2014, Cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đã được hoan nghênh khi ông phát biểu công khai ở Diễn đàn kinh tế mùa xuân Hạ Long: “Đã đến lúc phải thừa nhận xã hội dân sự”.

Nhưng, cũng ông Trương Đình Tuyển vào ngày 17-4-2014, khi nói chuyện nội bộ về TPP với các đại biểu quốc hội ở Văn phòng Quốc hội phía Nam lại cho rằng, phá bỏ thế độc quyền của Liên đoàn lao động Việt Nam (cho công nhân lập các công đoàn độc lập), là điều không thể thương nghị.

Hy vọng ông Trương Đình Tuyển, người đang cố vấn cho Chính phủ về đàm phán TPP, tìm hiểu vai trò Liên đoàn lao động trong các vụ đình công, bạo động, ở Bình Dương, để thấy, chỉ vì ngăn cản công nhân hình thành các tổ chức đại diện cho mình (điều kiện mà TPP đòi), khi lâm sự, chủ doanh nghiệp cũng như Đảng, Nhà nước đã không có ai để mà “thương nghị”. Công nhân nhanh chóng bị cuốn vào những đám đông không còn khả năng kiểm soát.

Cũng hôm 17-4-2014, ông Trương Đình Tuyển giải thích, Liên đoàn lao động là tổ chức của Đảng, giữ vị trí độc quyền của nó là giữ một đặc trưng của chế độ. Tiền thuế của dân đang được chi để nuôi các đoàn thể quốc doanh. Điều này rất dễ ru ngủ Chế độ khi trong ấm, ngoài êm. Nhưng, khi lâm trận thì mới thấy những tổ chức rình rang tốn kém đó nhanh chóng trở nên vô dụng.

Cựu Phó thủ tướng Trần Phương, một nhà lý luận gần gũi với Tổng bí thư Lê Duẩn thừa nhận:

“Cho đến trước khi Liên Xô sụp đổ, “.

Thật khó để biết một cách chắc chắn, thế hệ lãnh đạo hiện nay đã để cho đầu óc của mình ra khỏi “nhà tù ý thức hệ” như thế hệ Trần Phương hay chưa. Một người được coi là cởi mở như ông Tuyển, mà vẫn tư duy như vậy thì liệu có ai thực sự đã thoát khỏi “chiếc còng tư tưởng”.

‘Mồi lửa dưới đống củi’

‘Đầu óc chúng tôi vẫn bị cầm tù trong sự giáo điều của chủ nghĩa Marx – Lenin’

Nếu có một xã hội dân sự trưởng thành, công nhân có các tổ chức đại diện cho mình, chắc chắn sẽ không dễ bị kéo vào một đám đông như thế. Nếu có một nhà nước pháp quyền (và có luật biểu tình), cảnh sát tự tin vào tính chính danh của quyền lực công, chắc chắn đã có hành động thích hợp trước khi đám đông phạm tội.

Không chỉ gây ra thiệt hại, phải coi sự kiện “Vũng Áng – Bình Dương” là những cảnh báo sớm. Một chế độ toàn trị rõ ràng đã không có khả năng gìn giữ “ổn định chính trị” như nhiều người vẫn tưởng lầm. Mồi lửa đã ở dưới đống củi.

Đi đến tự do chính trị mà không có lộ trình thích hợp thì rất dễ gây rối loạn. Nhưng khước từ dân chủ hóa thì sự sụp đổ là chắc chắn xảy ra. Khi đó, bạo loạn sẽ không còn ở mức độ “Vũng Áng – Bình Dương” như chúng ta vừa chứng kiến.

Việt Nam đã rất cô độc trong xung đột Biển Đông không chỉ vì không có ai thực sự là đồng minh, mà còn, thay vì hòa vào xu thế của thời đại văn minh, Hà Nội lại tự xích mình trong nhóm những quốc gia bị “loài người (thực sự) tiến bộ” đặt sang bên lề thương hại.

Cho dù không thể có ai là “bạn vĩnh viễn”, nhưng nếu Việt Nam có một chế độ chính trị tiến bộ, bên trong tôn trọng dân chúng, bên ngoài chỉ “trao đổi vàng” với những nhà nước dân chủ văn minh, chúng ta chắc chắn sẽ có rất nhiều bạn đồng hành.

“Mỗi chúng ta phải bắt đầu làm gì đó trong nỗ lực của mình, để Đảng cầm quyền ngồi lại với nhân dân, cùng đối thoại để tìm ra lối thoát”

Trong những ngày này, tôi tin là có hàng triệu người Việt Nam tuy không xuống đường biểu tình nhưng vẫn đang nung nấu trong mình lòng yêu nước. Nhưng tôi tin, không ai, không riêng một đảng phái nào, đứng riêng lẻ mà có thể tìm được cho Việt Nam một con đường đi đến dân chủ, văn minh mà tránh được những tháng năm tao loạn.

Mỗi chúng ta phải bắt đầu làm gì đó trong nỗ lực của mình, để Đảng cầm quyền ngồi lại với nhân dân, cùng đối thoại để tìm ra lối thoát. Để đất nước rơi vào nông nỗi này, chúng ta có thể đổ lỗi cho những người cộng sản. Nhưng, nếu cứ để đất nước tiếp tục tình trạng này, mỗi chúng ta đều phải cộng đồng trách nhiệm.

Không ai thách thức quyền lực của những người cộng sản nếu như quyền lực đó không đặt chế độ lên trên sự phát triển bền vững của quốc gia. Không ai có thể ngồi mãi trên đỉnh cao quyền lực, Nếu anh thiết lập trên đầu dân chúng một phương thức cai trị thực dân, sẽ có ngày anh trở thành nô lệ trong nền thực dân do chính anh tạo lập.

Đừng cố gắng giữ nền độc tài cho tới ngày con cháu có thể thừa kế ngai vàng. Hãy thiết lập một thể chế mà nếu con cái quý vị xứng đáng, nhân dân sẽ trao “ngai vàng” cho chúng.

Chúa Giêsu về trời

Chúa Giêsu về trời

Tác giả: Trầm Thiên Thu

Khi còn trên thế gian, trước khi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã động viên: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14:1). Và rồi Ngài căn dặn: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó” (Ga 14:2-3). Thật hạnh phúc cho chúng ta vì được Chúa Giêsu hứa cho chúng ta cùng ở với Ngài. Niềm hạnh phúc này quá lớn lao, không thể nào so sánh với bất kỳ thứ gì được!

Trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chết vì tội lỗi của nhân loại, nhưng rồi Ngài sống lại từ cõi chết. Sau khi phục sinh, Ngài hiện ra với các tông đồ nhiều lần.

Bốn mươi ngày sau khi phục sinh, Chúa Giêsu quy tụ 11 môn đệ trên Núi Ô-liu, bên ngoài thành Giêrusalem. Vẫn chưa đủ hiểu sứ vụ của Đức Kitô là tâm linh chứ không là chính trị, nên các tông đồ mới hỏi Thầy Giêsu rằng có phải đến lúc Ngài khôi phục đất nước Israel hay không. Họ thất vọng vì sự đàn áp của người Rôma và có thể mong thấy ngày chính phủ Rôma bị lật đổ.

Nhưng Chúa Giêsu bảo họ: “Anh em không cần biết thời giờ kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8).

 

Nói xong, Ngài được cất lên cao, và có đám mây bao phủ Ngài khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Họ ngớ người ra, nhìn hút theo và… nuối tiếc điều gì đó! Khi đó, hai thiên thần mặc áo trắng đứng bên họ, vừa hỏi vừa giải thích: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11). Theo các thiên thần, Chúa Giêsu sẽ đến thế gian lần thứ hai cung bất ngờkỳ lạ y như lúc Ngài lên trời vậy.

Sau đó, các môn đệ quay về Giêrusalem vào phòng kín và cùng cầu nguyện. Có vài điểm cần lưu ý về cuộc lên trời của Chúa Giêsu:

• Theo Kinh Thánh, đám mây thường diễn tả sức mạnh và vinh quang của Thiên Chúa, như trong sách Xuất Hành, khi cột mây dẫn đường cho dân Do Thái trong sa mạc.

• Trước đó, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ về việc Ngài về trời với Chúa Cha, và rồi Chúa Thánh Thần sẽ đến ban sức mạnh cho họ. Ngày lễ Ngũ Tuần, họ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần như hình lưỡi lửa. Ngày nay, mỗi người lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy đều được Chúa Thánh Thần ngự vào lòng, Ngài ban ơn khôn ngoan và sức mạnh để sống đời sống Kitô hữu.

• Mệnh lệnh Chúa Giêsu trao cho những người theo Ngài là làm nhân chứng tại Giêrusalem, Giuđê, Samari, và đến tận cùng trái đất. Mới đầu, Phúc Âm được loan báo cho người Do Thái, người Samari, rồi dân ngoại. Các Kitô hữu có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô cho những người chưa nghe biết.

• Sứ vụ của Chúa Giêsu trên thế gian đã hoàn tất. Ngài trở về trời là nơi Ngài đã đến. Ngài trở mặc xác phàm nhưng vẫn là Thiên Chúa, Thiên-Chúa-làm-người và nay là Con người vinh quang.

• Các thiên thần nói rằng một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang, giống như khi Ngài lên trời. Nhưng thay vì thụ động mong đợi ngày Chúa Giêsu đến lần thứ hai, chúng ta phải bận rộn làm công việc mà Ngài đã phân công cho mỗi chúng ta tùy mỗi hoàn cảnh khác nhau.

• Cuộc về trời của Chúa Giêsu là một trong các tín điều của Công giáo. Kinh Tin Kính của các Tông đồ, Kinh Tin Kính của Công đồng Ni-xê và Kinh Tin Kính của Thánh Athanasia cũng đều tuyên xưng rằng Đức Kitô lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha.

SUY TƯ:

Cần phải nhận biết rằng chính Thiên Chúa, trong hình dạng Chúa Thánh Thần, sống động trong mỗi tín hữu. Tôi có tận dụng tặng phẩm quý giá này để tìm hiểu về Chúa Giêsu và sống vui lòng Thiên Chúa hay không?

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ Christianity.about.com)

“Rằng thiếu tình yêu thì vô nghiã”

“Rằng thiếu tình yêu thì vô nghiã”

“cuộc đời sẽ chỉ là một nhánh sông khô.”

(Dẫn từ thơ của Cát Biển)

Ga 17: 1-11

Nhánh sông khô, đâu còn gọi là sông nữa. Mà, chỉ làm đám đất khô cằn, chẳng người tới lui. Đời nhà Đạo rày cũng thế, thiếu tình yêu tức đời vô nghĩa, chỉ là xác thể rất không hồn.

Trình-thuật thánh Gioan hôm nay cũng ghi về một ý-tưởng giống như thế. Phúc âm hôm nay làm nổi bật hai ý tưởng chủ chốt: Tình yêu và giới lệnh. Bằng vài lời ngắn gọn, Đức Kitô diễn đạt tương quan sẵn có giữa hai ý tưởng mang tính nghịch thường, tức: lý và tình. Thoạt nghe, người thính tai lắm cũng thấy có điều gì như không ổn khiến mọi người băn khoăn không ngớt. Băn khoăn, vì đã là người thì từ nhỏ đến lớn, ai mà chẳng có lúc nghĩ rằng: lề luật bao giờ cũng là kẻ thù không đội trời chung, với tình yêu. Nhiều người cứ tưởng: chỉ tự do và vui thú xác thịt mới là hoa quả đầu mùa của tình yêu vốn đâm hoa kết trái, suốt mọi mùa.

Tuy nhiên, trong một thoáng rất nhanh, liên tưởng đến người thân thương hoặc các dự án hấp dẫn mà ta bỏ công sức cũng như thời gian để cống hiến, mới thấy rằng: con người chẳng cần đến luật lệ mới có được cử chỉ hy sinh rộng lượng với người/việc mình yêu thích. Có đáp lại yêu cầu của lề luật bằng những tư thế “vượt không gian và thời gian” như nhiều người từng làm, chẳng vì luật lệ buộc ta phải làm thế, nhưng đúng hơn, vì đó là do tình yêu thúc đẩy.

Hôm nay, Đức Giêsu khuyên ta: hãy biết chấp hành giới lệnh của Ngài. Có như thế, ta mới chứng tỏ được mình đang có tương quan mật thiết với Ngài. Chấp hành, là cụm từ tiếng Việt dùng để diễn nghĩa động từ “oboedire” tiếng La tinh nhằm mô tả trạng thái “lắng nghe cho kỹ” để rồi chấp nhận và hành động như lời Ngài dạy. Đây, là cung cách nhẹ nhàng/hòa nhã nhất vốn dĩ giúp ta hiểu được lời mời gọi thiết tha của Đức Chúa. Càng nhẹ nhàng/hoà nhã chấp hành giới lệnh của Đức Chúa, ta càng ở vào tư thế sẵn sàng “lắng nghe cho kỹ” lời mời của Thánh Thần Chúa, ở đời thường.

Có điều là, giới lệnh nào là lệnh ta cần “lắng nghe” hơn cả? Quả thật, Chúa vẫn nói: “Toàn bộ giới lệnh và các ngôn sứ Thầy ban, có thể tóm tắt vào điều này: Hãy yêu thương Đức Chúa và người đồng loại như thương yêu chính mình”… Nếu người người thấy giới lệnh này mang tính cách “chung chung” chẳng diễn tả được bao nhiêu ý nghĩa của lời mời gọi, thì lời diễn giải của thánh Phaolô sẽ làm rõ nghĩa hơn. Giống như Đức Kitô, thánh Phaolô cũng từng diễn giải: giới lệnh của tình yêu, trước tiên, sẽ không thể hiện ở điều ta nói hay có cảm xúc này nọ, mà:bằng vào hành động ta làm. Với tín hữu Đức Kitô, tình yêu nhất định phải là chuyện có thực. Mỗi khi ta hiền hoà/nhẫn nại, đối xử tử tế và nhẹ nhàng hòa nhã với người khác, hoặc với nhau, là ta đã chấp hành giới lệnh của tình yêu rồi. Cũng vậy, khi ta biết thứ tha và tôn trọng sự thật, thì dù ở vào tình huống nào đi nữa, ta vẫn một lòng chung thủy với người khác, và với nhau. Và, chính đó là lúc ta chú ý “lắng nghe cho kỹ” giới lệnh của Đức Chúa, rồi.

Thánh Phaolô còn quả quyết: hoa trái đầu mùa, thành quả của tình yêu đích thực nơi tín hữu Đức Kitô, còn là: biết tự kềm chế chính mình. Hy sinh tự kềm chế, là giới lệnh của tình yêu đi vào hiện thực. Thế giới hôm nay, tiếp tục rao truyền huyền thoại rất không-tưởng, nhất là khi nhiều người lại bảo: cách duy nhất để đạt hạnh phúc dài lâu, là biết tỏ bày và phô trương cái hay/cái đẹp của con người. Phần đông chúng ta đều cho rằng: lập trường này không mấy thích hợp. Bởi, nếu mọi người đều bộc lộ cảm xúc hoặc phô trương xác thịt, kèm theo lòng dục hoặc những ham muốn được tâng bốc đến mức tối đa, thì thế giới này sẽ không còn đất sống cho loài người dung thân.

Thực tế ở đời, lắm lúc khiến ta nghĩ: điều hay/điều tốt không là thực hiện được những chuyện như thế. Thử lấy ví dụ: nếu tỏ ra bất mãn/nóng giận với bạn bè, chòm xóm hoặc nếu ta cứ dùng lời lẽ xấu xa để khích bác hoặc dùng vũ lực để khống chế người khác, thì rồi ra kết cuộc chẳng đi đến đâu. Chẳng giúp ích được ai. Cụ thể hơn, nếu người người cứ hành xử sai trái như lôi cuốn, dẫn dụ vợ/chồng người khác hòng để lợi dụng dục vọng, thì rồi ra cũng sẽ đi đến kết cuộc đau thương, sầu hận. Chém giết.

Tích cực hơn, ta nên đề cao cảnh giác/cảm thông với tình trạng nghèo/hèn trên thế giới, mà nhiều người đang buộc lòng phải hứng chịu. Nếu biết rằng, người nghèo đói bệnh tật đã hy sinh rất nhiều mới sống lây lất đôi ngày, đó chẳng phải vì họ không tài cán như ta, hoặc đã tước đoạt điều gì từ nơi ta, cả.

Tự kềm chế, là bạn đồng hành với tình yêu. Nó giúp ta có thời gian thích hợp để hành động cho hợp lý, hợp tình. Đường cong ngõ hẹp, thường dẫn đến hạnh phúc đích thật. Hạnh phúc thật chỉ có được, nếu con người biết tự kềm chế. Nhưng vấn đề, là: ta không dễ gì làm được việc này nếu không khổ công luyện tập. Luyện và tập có bài bản và thường xuyên, có thế mới mong đạt diễm phúc lướt thắng mọi đấu tranh nội tại. Có lướt thắng chính mình, mới khuất phục được người khác. Biết luyện tập kềm chế, chắc chắn rồi ra chính ta sẽ đảm trách cuộc sống, thay vì để cuộc sống đảm trách và kềm chế mình.

Cầu mong Tiệc thánh hôm nay, dấy lên một đổi thay, nơi ta. Cầu và mong, ta biết hy sinh nhiều. Biết tự lướt thắng chế ngự mọi ham muốn lớn/nhỏ. Có thế, ta mới thông đạt cánh cửa mở rộng đang trông chờ ta thực hiện giới lệnh của tình yêu mà Đức Kitô Phục sinh mời gọi.

Trong nguyện-cầu được như thế, cũng nên liên-tưởng đến lời thơ trên vẫn ngâm rằng:

“Ngày đó người nói với riêng tôi,

Rằng thiếu tình-yêu thì vô-nghĩa,

Cuộc đời sẽ chỉ là một nhánh sông khô.

Những bước chân lữ-hành tuyệt-vọng.

Và, đời khao-khát nụ hoa tình đẹp nhất.

(Cát Biển – Ngày Đó Người Trao Tôi)

Trao tôi hay trao người, những lời nói thầm riêng, ra như thế. Cũng là lời rất thật tình như trình-thuật thánh-sử vẫn còn ghi. Lời để ghi vào tâm-khảm của con người, sống ở đời, luôn cần đến tình-yêu để không còn trở thành nhánh sông khô, cạn nước, rất vô-dụng.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

“Vi vu đồi thông reo xao xác lá chiều nay thu về,

“Vi vu đồi thông reo xao xác lá chiều nay thu về,

Em ơi, cánh buồm xưa còn vương bao lời thề…”

(Nhạc ngoại quốc: La Paloma của Tenco

Lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa của Từ Vũ)

(Rm 14: 1-3)

Phối hợp chủ đề để phiếm có cả chuyện đời với Lời Chúa, như thế có hợp lý lắm không?

Trả lời câu hỏi này, bần đạo vẫn thường tự đặt ra cho mình những câu hỏi như thế mỗi khi viết. Mục tiêu thông-thường lôi kéo bần đạo gõ máy là để viết những chủ-đề nào ăn khớp với chuyện của người người, ở đời. Và, chuyện của người đời cũng tựa như chuyện đời người, lại vẫn có những câu hát ví-von đượm ý/lời, tựa hồ như câu tiếp:

“Xa xa đàn chim mừng dang cánh biếc, trời mây tung hoành,

Sương lan lắng trong hoàng hôn chim, khi tâm tư ta gầy.

Thuyền ai đang lênh đênh vượt sóng biếc, cho tan vơi cơn sầu.

Ai đang đắm đuối trên lưng muôn con sóng, xanh bạc đầu.”

(La Paloma – bđd)

“Chim mừng dang cánh biếc” được phối-hợp với “cánh buồm xưa” lại vương-vấn “bao lời thề” như thế vẫn là và sẽ là lập-trường của nhiều người có ý/có lời rất đáng nể, như đấng thánh-hiền daọ nọ từng khẳng-định với thánh-hội ở Rôma, như sau:

“Anh em hãy đón nhận người yếu đức tin

và đừng tranh luận với họ.

Có người tin mình ăn được mọi thứ,

có người vì yếu chỉ ăn rau.

Người ăn đừng khinh rẻ kẻ không ăn,

còn kẻ không ăn cũng đừng xét đoán người có ăn,

vì Thiên Chúa đã đón nhận người ấy.”

(Rm 14: 1-3)

Người đời xưa, hễ có vấn-đề gì loanh quanh những chuyện đại-để, như: “đón nhận người yếu đức tin” “đừng tranh-luận với họ”, không chỉ nội chuyện “ăn uống” mà thôi, nhưng cũng “đừng xét đoán người có ăn”, hoặc: “Thiên Chúa đã đón-nhận họ”, lại là những chuyện căn-bản hệ-trọng, trong cuộc đời.

Cũng tựa như thế, đời người vẫn có những kẻ và những người rất “yếu đức tin” đang cần được “đón nhận” chứ không cần gì “tranh-luận”, về nhiều thứ. Cả những thứ và những sự, không thuộc thẩm-quyền của một ai, để “khinh rẻ”, “xét đoán” dù mình hay họ “yếu đức tin”.

Cuộc đời thường, lại không thiếu những người và những sự mà ý/lời của nhạc bản ở bên trên, vẫn diễn tả qua câu hát tiếp theo sau. Rằng:

“Biệt ly sao chua cay làm mắt ướt, tóc xanh nay phai màu.

Nhớ mãi, nhớ mãi môi em cười khi bến xa con tàu.

Yêu em qua chuỗi ngày thơ.

Mà giờ lòng còn vương thương nhớ.

Nhớ người xưa chiều nay mình ta bao ước mơ.

Niềm riêng se sắt bên lòng!”

(La Paloma – bđd)

Quả thật cũng đúng! Sống ở đời, mà chỉ nghĩ đến những gì đáng “khinh rẻ” để rồi lại sẽ “xét đoán” hoặc chỉ để “tranh-luận” mà thôi, cũng sẽ không thuyết-phục đủ để ta sống cho ra người, như mọi người. Chí ít, là chú-tâm đến chuyện dạy dỗ/giáo-dục đám trẻ nhỏ những điều mà nhà giáo đồng thời là nhà báo từng hỏi những người đọc tin tức, rằng: Phải chăng, bạn chỉ thích có mỗi tin vui hoặc bạn cũng không ngại nghe/đọc các tin buồn rười rượi chứ, và thứ nào bạn thích hơn cả?

Hỏi thế, cũng không dễ để mọi người cứ đưa ra câu trả-lời nào cho thoả đáng, dễ dàng. Hỏi thế, cũng chỉ để hỏi mà thôi để rồi sau đó, tác-giả lại đưa ra một loạt những tin-tức/ý-tưởng, khá ý-nhị, như sau:

“Bạn ưa-thích tin vui ư? Thì, hôm nay đây, bạn sẽ được đọc chỉ mỗi tin như thế này: con số các thiếu-niên ở tuổi “teen” lâu nay vẫn ham bia/rượu, nay không còn ra như thế nữa. Thực tế cho thấy: con số những người này, nay thay-đổi. Các nhà khảo-sát/nghiên-cứu vừa cho biết: con số tiêu-biểu/tỷ-lệ về các thiếu-niên đang ở lứa tuổi từ 14 đến 17 cho thấy: năm vừa qua, các em thuộc lứa tuổi “teen” đã thôi, không còn tha thiết chỉ nếm náp bia/rượu hoặc rượu/chè hay gì gì nữa. Và, tỷ-lệ những người này, đang từ mức độ 32.9% vào năm 2001, nay vọt lên đến 50.2% cho năm 2010, mà thôi.”

Thế còn, tin buồn thì sao? Tin buồn ư?

Tin buồn, thì: đây chung qui là lý-do khiến giới tuổi “teen”, nay không còn ưa-thích rượu/bia nữa, là bởi vì các em nay đã khá bận với chuyện “internet”, điện-thư “email” hoặc đã biết “chit chat” nhiều hơn trước.

Báo Daily Telegraph vừa đăng-tải một bài viết, trong đó tác-giả nghĩ rằng: đây là khuynh-hướng cũng khá tốt. Tuy nhiên, đọc bài này, chắc có độc-giả sẽ hành-xử giống như tôi, tức: cũng không mấy vui vẻ về chuyện này, nên cứ thắc-mắc hoài nhiều thứ bèn cứ hỏi và hỏi mãi, hỏi rằng: nghiện-ngập thứ nào, thì hay nhất? Hoặc, tối tối ngồi nhâm-nhi dăm ba ly rượu, hoặc thùng bia mà chẳng cần biết trời trăng mây nước gì hết, hoặc suốt ngày cứ chúi mũi vào màn hình vi-tính hay di-động hoặc ipad với ipod, thì thế nào?” (xem Tamara Rajakariar, Teens prefer internet to drinking, MercatorNet 16/4/2014)

Hỏi, mà lại hỏi như nhà mô-phạm hoặc thày/cô là chỉ hỏi để mà hỏi hoặc để rồi sẽ viết lách in thành sách/báo, thì lại khác. Khác hẳn, câu  trả lời của bày tôi, cốt để trả một lời cho vấn-nạn đặt ra ở đây, hầu thấy rằng: sự đời không chỉ thế. Nhưng, còn hơn thế, rất như sau:

“Là bậc mẹ cha, ai cũng muốn ban-truyền cái hay/cái đẹp tuyệt-vời ở đời, cho con mình. Làm thế, vô tình ta đặt con cái của mình vào tình-huống nguy-hiểm cứ gia-tăng niềm lo-lắng, những là xáo-trộn về thần-trí, chỉ cốt vừa lòng bậc mẹ cha, qua ép-buộc con mình  lợi-dụng các cơ-hội ngàn năm đưa đẩy, hầu đạt kết-quả rất tối-đa, mà thôi. Đây, cũng là giòng-chảy tư-tưởng của nhà giáo người Úc nọ có tên là Margie Ulbrick từng đặt vấn-đề như sau:

Hôm ấy, một buổi sáng Chúa nhật khá đẹp trời. Mới 7 giờ sáng tinh mơ, tôi đã dẫn chú “pékinois” nhỏ thó của mình ra quán cà-phê nằm trong khu hẻm mình ở, hy vọng sẽ được thưởng-thức tách cà-phê nóng, rồi còn được đảo mắt liếc nhanh tờ nhật-trình miễn phí, có chú Bambino cứ chờ lệnh nằm dài im-ắng, nhẫn-nại. Chung quanh tôi, vẫn xẩy đến những chuyện thường-nhật, như: chiếc du-lịch nọ chẳng giữ luật, cứ đâụ sánh đôi  bên hông một chiếc xe khác. Và rồi, là: cảnh thằng bé con từ trong xe lon ton chạy đi chạy về, mở cửa xe, lên xuống chiếc xe có nệm cao gần bằng đầu cháu và có ông bố đang đậu ở đó, rồi nói: con quên hỏi là: Bố thích uống cà-phê đen hay cà-phê sữa, để còn mua?” Tôi không nghe kịp câu trả đáp của ông bố vốn đang lo ngại bị chụp hình, nhưng cũng đã hài-lòng vì cậu con bé bỏng là thế mà cũng biết giao hẹn, với trả giá rằng: “Bố đừng có mà quên mở chương-trình chơi “games” ra cho con, trên ipad nhé!

Cũng có thể, trong chuyện này, ai cũng đoán rằng: hai bố con hôm ấy có được ngày nghỉ xả hơi, bèn lái xe về quê, thưởng-ngoạn cảnh đẹp miền quê, rất dân-dã, thanh-thoát. Nhưng, dù hai bố con nhà đó có đi đâu chăng nữa, vẫn có một điều mà bọn trẻ ngày nay rất ưa thích nên cứ đòi bố mẹ chiều lòng, đó là: chơi “games” trên vi-tính gọn là “ipad”.

Con của tôi nay cũng khôn và lớn cả rồi, nên những tháng ngày miệt mài với trò chơi “games” trên vi-tính đối với chúng, không còn là chuyện hấp-dẫn nữa. Tuy rằng, phần đông ta đều bỏ giờ ra mà chơi đủ trò chơi trên màn hình nhỏ; nhưng, tôi thì vẫn mong cho con mình làm thứ gì khác, ngoài chuyện chơi “games”, vô bổ ấy. Nói thì nói thế, chứ thật ra tôi cũng chẳng có nhiều thì-giờ mà chơi mấy trò như bọn nhỏ ngày nay. Nhưng, vấn-đề tôi đặt ra vẫn là thế này: phần tôi đây, tối ngày cứ bận rộn với bốn đứa con sàn sàn đồng lứa tuổi, thì nội chuyện đó thôi cũng khá bận rồi còn giờ đâu ra mà ghiền chơi “ghêm” với “ghiếc” gì nữa, cho cam. Chí ít, là vào thời của tôi, ai cũng muốn né-tránh không làm gì nhiều vào những giờ mình đã xong ở trường lớp, để về nhà. Nên, vẫn thường chơi các món quần vợt, hoặc học nhạc này/khác, chứ đâu có như bây giờ, tối ngày cứ “ghêm” là “ghêm” từ lớn đến nhỏ, không sao cho vừa!”

Đến đây, để thay đổi bầu không khí, lại cũng xin mạn phép cắt ngang câu chuyện giáo-dục đàn trẻ nhỏ, để mời bạn và mời tôi, ta nghe thêm câu nhạc ướt-át, có lời than, như:

“Thu ơi gieo mấy lần tang,

Mà lòng người tàn theo năm tháng.

Ý thu vương trách sao lòng người mau lãng quên.

Chiều nay thu vẫn mơ màng.”

(Nhạc ngoại-quốc La Paloma – bđd)

Khi xưa, nghệ-sĩ hoặc giới nghe nhạc thường hay chạy về với “Thu ơi!”, “Đông hỡi!”, chứ nào mấy ai đặt vẫn-đề cho ngọn-ngành, vanh vách, như nhà giáo ở trên lại kể tiếp:

“Mới đây, tôi có được đọc một tờ báo khá ăn khách cốt để tìm-hiểu xem ảnh-hưởng về tâm-lý nơi đám trẻ, nay ra sao, đã thấy có những ý-tưởng hỏi rằng: “Con cái quý vị có là những đứa trẻ có năng-khiếu này khác không? Quý vị sẽ làm gì để thăng-hoa tài-năng của chúng?

Hỏi như thế, thật ra không phải là tôi không muốn đánh giá cao hoặc lưu-ý về con trẻ hoặc về kỹ-năng của chúng để còn thăng-tiến việc các cháu phát-triển như thế nào. Thế nhưng, cụm-từ “năng-khiếu” và đường-lối thăng-tiến các tài-năng đáng đề-cao của chúng cũng là “qui-cách” mới mẻ khiến tôi cứ phải ưu-tư, lo lắng rất nhiều.

Tôi cũng nuôi dạy con cái trong đia-hạt âm-nhạc đến độ cứ thúc-ép chơi cho thật nhiều bài của nhạc sĩ Mozart ngay khi các em còn trong bụng mẹ và đọc cho chúng nghe truyện cổ-tích cả vào lúc trước khi các cháu chào đời nữa. Cho nên, nếu sau này các cháu có chơi được một nhạc-cụ nào đó, thì chúng tôi nắm chắc rằng các cháu sẽ giỏi toán-học. Và, nếu ngay từ nhỏ các cháu biểu-diễn thể-dục thẩm-mỹ thì bộ não của các cháu cũng sớm có khả-năng cảm-nhận và thông-chuyển được mọi thông-điệp. Đồ chơi mang tính giáo-dục là chuyện cần có và các loại lắp hình hoặc trò chơi này khác sẽ không chỉ là “trò chơi” không hơn không kém, nhưng còn mang nhiều ý-nghĩa giáo-dục hơn. Vậy nên, thông-điệp ở đây là thế này: chơi giỡn với các đồ chơi như thế và các trò chơi mang tính giáo-dục đều có thể gia-tăng lối diễn-bày nói chung của con trẻ trong cuộc sống.

Chơi giỡn này khác sẽ không phải chỉ để chơi mà là có thể tạo kết-quả như lòng mình mong ước. Nói cách khác, thì: khi cha mẹ nhận được thông-điệp cho thấy các vị cố-gắng kiến-tạo sao cho bọn trẻ được thành-công trên đường đời. Quả thật, bổn-phận làm cha mẹ, là như thế. Dù có thể hỏi ngược lại là: kết-quả cho ai? Và của ai? …

Nói cho cùng, bọn trẻ ngày nay lệ-thuộc vào một thời-khoá-biểu quá ư là chặt chẽ đến độ chúng có quá ít thời-gian để sống như con trẻ, là trẻ con. Ngày nay, ta đang đi vào một thế-giới trong đó có quá nhiều giới trẻ tìm kết-liễu cuộc sống của chính chúng nó, vì nhiều lý-do. Và, một sự-kiện rõ hơn nữa, là: thời ấu-thơ của trẻ con hôm nay lại thấy quá nhiều ưu-tư lo-lắng cứ thế gia-tăng. Từ những ý-tưởng đó, tôi đã bắt đầu suy-tư về những thứ như: thật rất dễ để trở thành cha mẹ, thế mà ta cứ như đám không-tặc, chuyên bắt cóc hoặc bắt buộc con cái mình phải tuân theo chỉ-thị của mình để sống theo, sống giống và sống bằng người lớn chứ không là: sống như con trẻ, theo tuổi trẻ của chúng.

Nói cho cùng, phải nói rằng: giá-trị đích-thực của chúng ta không nằm ở việc ta có cân đo đong đếm theo mẫu mực quyết thành-toại và đạt kết quả cho bằng được như lòng mình là người lớn những mong muốn. Mà thật ra, điều cần là: ta có thể giúp đưa con trẻ tiến bước với ý-nghĩa của cuộc sống. Điều đó, có khi còn quan-trọng hơn cả việc thành-đạt/toại-nguyện theo mẫu mã của chính mình, là xã hội của người lớn, chứ không phải xã hội của trẻ con, như trẻ con. Thật ra thì, không phải chỉ có năng-khiếu hoặc thứ gì tựa hồ như thế mới là cần-thiết, cho bằng cảm-kích được quà-tặng của sự sống dành cho cả con trẻ lẫn mẹ cha của chúng, cũng đều thế. Vấn đề còn lại, là: hãy cứ vui-hưởng và trân-trọng quà-tặng đã ban cho ta và cho trẻ, tự bao giờ, nhờ qua Chúa” (xem Margie Ulbrick, Children Under Pressure, The Mejellan Family, số tháng Sáu 2014, tr. 9-14).

Nói thế, là nói theo bài bản của nhà tâm-lý, rất mô-phạm có nhiều kinh-nghiệm sống qua dạy dỗ con em ở trường-lớp cũng như ở nhà. Nói về trường-hợp của nhiều người như bần-đạo, được Chúa thương ban cho có con có cháu rất dễ-thương, vui vẻ như nhiều con trẻ khác. Tức: các cháu cũng vui chơi, hiền-lành, lễ-phép và luôn làm theo lệnh của người lớn, dù các vị không là mẹ cha của chúng.

Tuy nhiên, bàn về thú tiêu-khiển của con trẻ, để ngang qua những giây phút buồn chán, rất trống-trải, thì con trẻ vẫn có riêng thế-giới của chúng. Nghĩa là: chúng cũng chơi các trò chơi trên “iphone”, “ipad” hoặc gì đó chứ đâu lầm-lừ, tư-lự như người lớn tuổi giống bầy tôi đây.

Nói tóm lại, mỗi thế-hệ đều có không-gian và thời-gian riêng-rẽ, khác biệt dành cho mình. Và tự do, là thứ gì đó dành để cho mỗi người ngõ hầu giúp mỗi người và mọi người trở-thành “týp” người sống đúng thời/đúng buổi ở đời mình, có giới-hạn.

Thời hôm nay, nếu ta cứ khuyên cứ bảo lũ trẻ: đừng chơi “games” gì hết, thay vào đó, hãy có thì giờ rảnh-rỗi mà đọc kinh, lần chuỗi hoặc đi lễ để thế vào thời gian trống trải/rảnh rỗi, thì tương lai tự khắc các cháu sẽ trở-thành “Giáo-hoàng tự-phát” mất. Tức: trở-thành đấng bậc vị-vọng lập ra nhiều luật-lệ mới mẻ để người khác sống sao giống như mình sống. Và, sống theo kiểu cách cũng như hiệu-lệnh của mình, mà thôi.

Có mỗi điều quan-trọng trong đời người đi Đạo, là: sống sao cho giống với lời khuyên dạy của Đức Chúa ở Tin Mừng, chứ không chỉ lo thực hành 10 điều giáo-lệnh, 6 điều răn rất thánh-hội do đấng bậc ở trên cao, lụ khụ như các cụ, từng bảo-ban, sai khiến thôi.

Nói như thế, không để chạy tội hay “chạy làng” gì sốt; mà chỉ muốn phân-trần với bà con cô bác đôi lời khẳng-định của đấng bậc ở hệ-cấp giáo-quyền rất Vaticăng, từng bảo rằng:

“Ngày nay, rất nhiều người/nhiều vị đang có khuynh-hướng muốn có vài đổi-thay, biến-cải như Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng từng muốn…” (xem phóng-viên báo Commonweal phỏng-vấn Đức Hồng-y Walter Kaspar, qua bài Merciful God, Merciful Church, Commonweal 7/5/2014)

Ở đây, bần đạo bầy tôi đây không cố ý lấy ý-tưởng của đấng bậc ở trên cao làm hàng rào chống đỡ cho tư-tưởng của mình về “đổi thay” hay “thức thời” với cách-mạng vi-tính này/khác. Nhưng, nói thế chỉ có ý tạt ngang, xẹt lùi về phía trước với tư-tưởng vẫn từng có từ đấng bậc, thôi.

Thôi thì, để “chuyện phiếm” hôm nay được nhẹ nhõm có chút “dí-dỏm”, cũng xin kể ra đây đôi câu đối-thoại về văn-hoá thời-thượng ở đâu đó, có giòng chảy cũng hay hay như sau:

“Có ông bố nọ đang ngồi khoe con mình học giỏi với khách bạn đến chơi nhà, thì thằng con từ đâu chạy sồng sộc về, thấy thế ông bố hỏi ngay đứa con để còn khoe:

-Con à, hôm nay học toán con được mấy điểm?

-Được có 2 trên 10 thôi bố hỏi làm gì cho thêm bực!

-Tại sao lại chỉ có 2 điểm, mọi khi con được nhiều lắm cơ mà?

-Vì cô hỏi 2 + 2 bằng mấy? Con trả lời ngay là bằng 4; thế là cô hỏi tiếp: 2 x 2 bằng mấy?

-Thế con trả lời bằng mấy?

-Con trả lời: có khác cái đếch gì đâu mà cô cứ hỏi, nên cô chỉ cho có 2 điểm thôi.

-Thế môn thể-dục thể-thao con được mấy điểm, chắc phải khá hơn toán chứ?

-Được 2 điểm, mà thôi sao bố hỏi gì mà hỏi lắm thế?

-Sao lại cũng chỉ 2 điểm thôi? Cô này chắc kỳ-thị gì đây, chứ không sai.

-Bố coi, học đi một hai mà cô dạy là: Giơ chân phải lên đồng thời giơ chân trái lên trước.

-Thế thì đứng bằng cái đếch gì được chứ?

-Con cũng nói hệt như bố, thế là cô cho con có 2 điểm thôi.

-Thế còn môn văn, con được mấy điểm?

Cũng chỉ được 2 điểm thôi.

-Sao lại cứ 2 điểm, 2 điểm mãi thế vậy?

-Cô giáo bắt tụi con đặt một câu văn có chữ “Cô giáo” ở trong đó.

-Thế con đặt câu gì, nói cho tao nghe coi!

-Con đặt một câu rất ngắn nhưng trọn nghĩa: “Cô giáo của tôi là cô gái rất quậy!”

-Trời đất! Nghe thế thì cô bảo sao?

-Cô cũng cho con có 2 điểm, còn bắt con lên gặp thày Hiệu-trưởng.

-Thế, thày Hiệu-trưởng nói với con làm sao?

-Thày Hiệu-trưởng cho con 20 nghìn đồng và hỏi nhà cô giáo ở đâu?

-Thôi, tao cũng chịu cái văn-hoá của trường mày rồi, con ạ. Thật hết biết!”

Vâng. Hết biết ở đây, không chỉ là thấy buồn và lo cho nền giáo-dục của ta thời nay, mà phải nói là “hãi sợ” về cung-cách trả lời rất “thiếu lễ phép” của con trẻ ngày nay. Hy vọng đây chỉ là “cường điệu”, mà thôi. Hết biết về lề-lối phản-ứng của con trẻ trước lối giáo-dục từ người lớn bày đầu mà ra. “Hết biết” ở đây, còn là hết hiểu và hết biết về lề lối có đổi thay quá nhanh và quá chóng, đến độ con trẻ theo không kịp nền văn-hoá của sự chết. Mà vì, bọn con trẻ nay bén nhạy nhiều về lề lối văn-hoá rất “dẫy chết”, đang dần-dà hiện ra, ở nhiều chốn. Chửa biết chừng cả ở chốn thiêng nhà Đạo, rất mai ngày.

Nói thế không để chỉ-trích hoặc châm-biếm cuộc cách-mạng thời-đại trong tin-tưởng, mà chỉ “trần-tình” hoặc để trần một tâm-tình lộ-liễu rất đáng sợ. Sợ về phẩm chất, lẫn nét tinh-tế của nhiều thứ. Chí ít, là văn-hoá, văn-minh và văn-học của thời đại, ở nhiều nơi rất đạo-mạo, cả trong Đạo.

Nói, thì nói thế, chứ tưởng cũng nên bình-tĩnh và hy-vọng. Hy-vọng rằng: Chúa thánh Thần vẫn có mặt “trên từng cây số”, với muôn dân, ở trong đời. Rất nhà Đạo.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ nguyện cầu cho người

Và cho mình

Sẽ khá hơn.

Giặc đã vào nhà …

Giặc đã vào nhà …

2014-05-19

RFA

000_Hkg9826196-600.jpg

Công an yêu cầu người dân rời các con đường gần đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội ngày 18 tháng 5 năm 2014

AFP photo

Việc phương Bắc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ngay trong vùng đặc quyền kinh tế VN là hành động thêm nữa, qua nỗ lực thực hiện tham vọng bành trường bá quyền, ngày càng ra sức thôn tính một nước VN CS đàn em và coi thường luật pháp quốc tế. Nhưng điều mà mọi người có thể tiên đóan được, đó là Bắc Kinh tiếp tục vào sâu trong “Ngôi Nhà VN” giữa lúc đã “án binh bất động” rồi trong khắp quê hương VN dưới hình thức này hay hình thức khác, khiến tổ quốc VN lâm cảnh “sơn hà nguy biến” mà người dân Việt yêu nước cáo giác là do giới cầm quyền trong nước từ lâu “ hèn với giặc ác với dân” – và cả sự thờ ơ của một số thành phần dân Việt “nhảy đầm”, “cưa đá”.

Qua bài “Giặc đã vào nhà, bây giờ ai ra đánh?”, blogger Thục Quyên lưu ý rằng:

Chúng ta bây giờ mới lồng lộn lên vì Trung Quốc cắm giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng chúng ta đã yên lặng khi “thực dân Vàng” nắm trọn đời sống kinh tế đất nước. Yên lặng trong khi nhiều vùng đất trên lãnh thổ Việt đã lọt vào tay người Hoa… Có bao giờ những người Hoa này trả lại những vùng đất của ta mà họ đang giữ ?

Rồi tác giả nêu lên một loạt câu hỏi rằng “Tại sao ta yên lặng đằng đẵng bấy nhiêu năm?”, “ Tại sao một quốc gia có chính phủ, có gần 90 triệu dân, có cơ quan truyền thông, truyền hình… mà để Trung Hoa xâm nhập dễ dàng như vào nhà vô chủ cho tới ngày nay?”, “Đất, rừng, mỏ, đảo. Một phần giang sơn đắp xây bằng xương máu ông cha từ bao ngàn năm bây giờ đã được đánh đổi lấy chút cơm thừa canh cặn. Cho ai?”, “Tại sao phải chờ đến giờ phút này (mới có phản ứng phần nào thiết thực) sau khi đã ngăn cản mọi sửa soạn từ tinh thần đến sức lực của người dân để chống trả mộng bành trướng của họ?”. Và bloger Thục Quyên không khỏi thốt lên rằng “ Giặc đã vào nhà và đang tăng tốc độ xâm chiếm… Chủ nhà tỉnh giấc, giặc đã đứng đầu giường”.

Chính sách thân TQ, bất chấp các xâm lăng từng phần lãnh hải VN của TQ, bất chấp các xâm lăng từng địa danh trên biên giới phía bắc VN của TQ, của lãnh đạo CS VN đã hoàn toàn thất bại…
– Nhà báo Nguyễn Nghĩa

Blogger Nguyễn Nghĩa nhận xét rằng “ Sự kiện TQ kéo giàn khoan 981 vào lãnh hải VN với hơn 80 tầu bảo vệ đã chấm dứt mọi lý lẽ có thể biện minh cho chính sách thân TQ của ĐCS VN”. Qua bài tựa đề “ Một cơ hội lớn để thoát Trung”, nhà báo Nguyễn Nghĩa phân tích rằng:

Sự ngạo mạn của TQ không phải không có lý do. Chính chính sách thần phục TQ một cách vô điều kiện, chính sách đứng trên tầm cao quan hệ, dâng cả Biển Đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các cánh rừng biên giới phía bắc… của VN cho TQ, để đổi lấy tình hữu nghị giữa hai đảng anh em Trung-Việt của ĐCS VN đã khuyến khích TQ dám gây nên cuộc xâm lăng dưới hình thức mới này…

Chính sách thân TQ, bất chấp các xâm lăng từng phần lãnh hải VN của TQ, bất chấp các xâm lăng từng địa danh trên biên giới phía bắc VN của TQ, của lãnh đạo CS VN đã hoàn toàn thất bại…VN hôm nay, để trường tồn, nhất định phải thoát Trung. Kể từ khi ĐCS VN tình nguyện nhận viện trợ của TQ 1949 đến nay, ảnh hưởng của TQ đã gây bao tai họa cho dân tộc này.

Do nhu nhược mà ra

000_Hkg9816573-250.jpg

Tàu hải giám Trung Quốc neo đậu gần giàn khoan HD 981. AFP photo

Giữa lúc quê hương đang trong cảnh “sơn hà nguy biến” như vậy thì từ Hà Nội, TS Phạm Chí Dũng không khỏi thốt lên rằng “ Nỗi lăng nhục dân tộc đối với Việt Nam lần này là quá lớn so với gần hai chục đợt gây hấn và hành hạ ngư dân Việt của chế độ độc đảng Trung Quốc từ năm 2011 đến nay”. Theo TS Phạm Chí Dũng thì  “Nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi, đớn hèn là căn nguyên của mất nước”.

TS Phạm Chí Dũng nhắc lại:

Trong suốt ba năm qua, những gì mà chế độ một đảng ở Việt Nam dụng tâm thỏa hiệp với người bạn “Bốn Tốt” đã đổi lại được gì? 10 thỏa thuận của nguyên thủ quốc gia Trương Tấn Sang dưới bóng cờ sắc máu Tập Cận Bình vào mùa hè năm 2013 có làm cho tình thế bớt chút nào nóng bỏng và tủi nhục? Tại sao người được xem là một nguyên thủ quốc gia khác – Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – lại khiến cho con dân nước Việt tuyệt vọng đến thế khi ông không dám đả động một lời về đợt xâm lăng Hải Dương 981 trong bài diễn văn mở đầu Hội nghị trung ương 9 ? Tất cả những im lặng còn kém xa tinh thần nhu nhược ấy quả là hoàn toàn bất xứng so với một quốc gia cũng được xem là nhỏ bé như Philippines.

Blogger Nguyễn Hưng Quốc lưu ý tới tình trạng “chưa bao giờ VN cô đơn như hiện nay”. Qua bài tựa đề “Không ai cứu được VN cả!”, GS Nguyễn Hưng Quốc khẳng định về “điều ai cũng thấy nhưng Việt Nam không hề làm, hoặc nếu làm, chỉ là giả bộ làm” liên quan nỗ lực tìm kiếm đồng minh thực sự đủ sức giúp Việt Nam trong cuộc đối đầu với phương Bắc. GS Nguyễn Hưng Quốc lưu ý:

Nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi, đớn hèn là căn nguyên của mất nước.
– TS Phạm Chí Dũng

Nhưng dại dột nhất là Việt Nam đã không có đủ thiện chí để xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ, nước duy nhất có khả năng giúp Việt Nam đương đầu với Trung Quốc. Chơi với Mỹ, họ chỉ tính toán những trò lặt vặt, kiểu bắt dân làm con tin, khi nào Mỹ yêu sách thì thả vài người rồi lại bắt vài người khác. Trên các phương tiện truyền thông, thậm chí, trên các diễn đàn chính thức của đảng, thỉnh thoảng vẫn chửi Mỹ, xem Mỹ như kẻ thù, người đứng đằng sau xúi giục cho âm mưu “diễn tiến hòa bình”.

GS Nguyễn Hưng Quốc lưu ý rằng suốt bao nhiêu năm qua, giới cầm quyền VN đã từng “thẳng tay trấn áp một cách phũ phàng và tàn bạo tất cả những người yêu nước nào dám lên tiếng cảnh báo nguy cơ xâm lược của Trung Quốc”. Do đó, theo ông thì không phải ngẫu nhiên mà dư luận trong nước lâu nay vẫn xem chính quyền là nhu nhược hoặc thậm chí “ mãi quốc cầu vinh”. Khi vì sợ hay do muốn bênh vực Bắc Kinh, họ đã từng “giang chân đạp thẳng vào mặt” người yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và hoàn toàn tự cô lập với nhân dân.

Nhắc đến chuyện “xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ” như GS Nguyễn Hưng Quốc từ Úc vừa nói, thì tại Hà Nội, TS Phạm chí Dũng nêu lên một loạt câu hỏi rằng “tại sao sau gần hai chục năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, giới lãnh đạo đầy bảo thủ ở Việt Nam vẫn không tiến nổi đến một hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ – như kết quả mà người bạn Philippines vừa đạt được – để tạo nên một ‘lá chắn biển Đông’ vì sự an nguy của chính mình? Tại sao Chính phủ Việt Nam lại không đủ bản lĩnh khởi kiện hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc tại tòa án quốc tế như người bạn Philippines đã và đang làm? Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại không dám thể hiện lòng can đảm ngoại giao tối thiểu như triệu hồi đại sứ tại Trung Quốc, hay mạnh mẽ hơn là cắt đứt quan hệ ngoại giao với kẻ đã nuốt gọn thác Bản Giốc ở mạn đầu Tổ quốc?”,… “ Tại sao họa xâm lăng đang cận kề mà một bộ phận quan chức no đủ ở các cấp vẫn ung dung thù tạc, với những cuộc mittinh lạc điệu cùng những cuộc ‘phản biểu tình’ thô thiển mà chỉ nói lên một ý nghĩa duy nhất: Hèn với giặc, Ác với dân?”…

Qua bài “Không liên minh với Hoa Kỳ để chống TQ nhưng cần phải liên minh với Hoa Kỳ để giữ Biển Đông”, GS Nguyễn Thanh Giang dẫn chứng rằng liên minh Mỹ-Nhật giúp “ chặn dường” TQ  đến Senkaku,

liên minh Phillipine -Hoa Kỳ giúp “chặn đường đến Scarborough” khiến Bắc Kinh “đành chọc khe” Việt Nam. TS Nguyễn Thanh Giang khẳng định rằng “Trung Quốc chỉ có thể thẳng tay ức hiếp, bắt nạt Việt Nam khi thấy Việt Nam bị cô lập”, mà tình trạng cô lập này là do chính Hà Nội tự gây ra. GS Nguyễn Thanh Giang nhận xét:

Cái trò láu cá vặt chỉ thả vài người: Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi, Nguyễn Tién Trung … hòng đổi lấy TPP trong khi không những không chịu thả Trần Huỳnh Duy Thức, Điếu Cày, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Văn Lý, Lê Quốc Quân … mà còn bắt thêm Trương Minh Đức, Nguyễn Hữu Vinh … làm cho thế giới tiên tiến vẫn thấy chính quyền Việt Nam là “cái mặt không chơi được”. Chẳng những thế, Hiến pháp sửa đổi vẫn không chịu thừa nhận tự do lập hội, không chịu thừa nhận tự do ngôn luận, không chịu thừa nhận quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, không chịu thừa nhận đa sở hữu đất đai …

Phải làm gì bây giờ

000_Hkg9816540-250.jpg

Một sĩ quan bảo vệ bờ biển Việt Nam trên Biển Đông hôm 14/5/2014. AFP photo

Như vậy, câu hỏi cần được nêu lên là VN ngay bây giờ phải làm gì để ứng phó với phương Bắc ? GS Nguyễn Thanh Giang đề nghị VN:

Thứ nhất: Đệ đơn kiện ngay Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Luật Biển Quốc tế. Không nên chần chừ, không việc gì phải e ngại đối với khả năng Trung Quốc trả đũa về kinh tế. Hãy noi gương Phillipine. Hơn một năm qua, từ ngày bị kiện (1-2013), Trung Quốc chưa đưa ra được một đòn kinh tế nào đáng kể đối với Phillipines. Chẳng những thế, uy tín của tổng thống Philippines đã lên cao, toàn dân càng xiết chặt khối đại đoàn kết để cùng đương đầu…Nhẽ ra, ta đã phải đưa vấn đề Hoàng Sa ra Liên Hiệp Quốc từ lâu, và nếu vậy thì hôm nay đã không có việc họ dám đưa giàn khoan  Hải Dương 981 vào vùng biển Hoàng Sa này.

Thứ 2: Nhanh chóng thiết lập liên minh quân sự với Hoa Kỳ…Thực tế lịch sử và phân tích logic cho biết Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng hoặc đô hộ Việt Nam như âm mưu của bè lũ Đại Hán, cho nên liên minh quân sự với Hoa Kỳ thông qua những ràng buộc bởi những cam kết chặt chẽ sẽ không thể uy hiếp nền độc lập của ta.

Theo LS Nguyễn Văn Đài thì muốn bảo vệ được chủ quyền lãnh hải quốc gia, đồng thời phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và trở thành một quốc gia hùng mạnh về kinh tế, quân sự, thì Việt Nam phải xây dựng được các mối quan hệ đồng minh chiến lược, chủ yếu với cường quốc, mà trong bối cảnh hiện giờ, chỉ có Nga và Mỹ.

Nhưng dại dột nhất là Việt Nam đã không có đủ thiện chí để xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ, nước duy nhất có khả năng giúp Việt Nam đương đầu với Trung Quốc.
– GS Nguyễn Hưng Quốc

Nhưng, LS Nguyễn Văn Đài “Chắc chắn, Nga sẽ không bao giờ đồng ý xây dựng mối quan hệ đồng minh với VN” vì Nga “ đang bị sa lầy ở Ukraine, mâu thuẫn với Hoa Kỳ nói riêng và phương Tây nói chung và rất cần sự hợp tác với TQ nên không thể làm phật lòng Bắc Kinh, thậm chí “mong TQ và VN có mâu thuẫn, chiến tranh với nhau để Nga bán vũ khí và làm TQ suy yếu một phần”. Như vậy chỉ còn có Mỹ, là cường quốc mà LS Nguyễn Văn Đài nhận thấy “ luôn luôn muốn VN đứng về phía Mỹ” trong khi chính Hoa Kỳ “ đủ khả năng không chỉ giúp VN phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, mà còn bán vũ khí, viện trợ vũ khí, cung cấp thông tin tình báo, hỗ trợ hậu cần, huấn luyện,…

Giúp VN có đủ năng lực đối phó với TQ trên biển Đông”; và qua liên minh Mỹ-Việt, VN sẽ dễ dàng xây dựng “quan hệ đồng minh với Nhật, Hàn Quốc, Úc, Canada, các nước phương Tây và NATO. Từ đó VN sẽ nhanh chóng phát triển về kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng đủ sức bảo vệ chủ quyền quốc gia”. Nhưng LS Nguyễn Văn Đài lưu ý, “trở ngại lớn nhất và duy nhất là vấn đề nhân quyền và dân chủ” tại VN hiện nay. Do đó, LS Nguyễn Văn Đài nhấn mạnh, “Giải pháp duy nhất mà VN có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia đó là đảng CSVN phải cải thiện và tôn trọng nhân quyền, dân chủ hóa xã hội. Xây dựng các mối quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây”.

Trong khi bày tỏ nỗi “thất vọng về những người lãnh đạo VN”, GS Nguyễn Thanh Giang khi nhìn lại chính mình đã gần bát tuần, trong cái cảnh “ thù trả chưa xong đầu đã bạc”. Nhưng ông “hoàn toàn tin vào tuổi trẻ Việt Nam, hoàn toàn tin vào dân tộc VN”.

 

Đầu Tư & Kinh Doanh Tình Cảm

Đầu Tư & Kinh Doanh Tình Cảm

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Đi nghe Hương Lan và Tuấn Vũ hát thử một đêm, giữa lòng Hà Nội, cũng tựa như được đi ăn  một bữa phở chui vào thời bao cấp. Dù “nhạc sến” không “chất lượng” gì cho lắm chăng nữa, nó vẫn có thể khiến cho thiên hạ bùi ngùi, xuýt xoa hay hít hà chỉ vì họ đã (lỡ) phải ăn quá nhiều những tô phở quốc doanh – không người lái – thế thôi!

Giữa những đêm khuya nơi xứ lạ – đôi lúc – tôi vẫn nghe có tiếng kêu thất thanh, hay hốt hoảng vọng đến từ đất nước của mình. Lần này, may quá, chỉ là tiếng la làng (hơi) đùa cợt của một nhà văn, ông Nguyễn Quang Lập:

Không ổn rồi anh Tư ơi!

… mình quá ngạc nhiên khi Chép sử Việt “bật mí”: Thông báo số 319-TB/TW ngày 1/4/2010 Kết luận của Ban Bí thư do đồng chí Trương Tấn Sang ký về việc tổ chức “Ngày âm nhạc Việt Nam”. Trong Thông báo có đoạn:

…Đồng ý lấy ngày 03 tháng 9 hàng năm, ngày Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc, hợp xướng và quần chúng nhân dân hát bài ca “Kết đoàn” tại công viên Bách Thảo, Hà Nội (1960) là Ngày âm nhạc Việt Nam …

Thế này không ổn đâu anh Tư ơi!

Tại sao lấy ngày Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc, hợp xướng và quần chúng nhân dân hát bài hát của Tàu làm “Ngày âm nhạc Việt Nam”? Chúng ta có thể mượn nhạc Tàu làm bài hát của ta.  Có thể lấy ngày Bác chỉ huy dân chúng hát bài Kết đoàn làm ngày Toàn quốc đoàn kết  chứ không thể lấy ngày phổ biến nhạc Tàu làm “Ngày âm nhạc Việt Nam”, nó vừa sai vừa lố anh Tư à.

Anh Tư ơi nghĩ lại đi!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang – Ảnh: PL TPHCM Online

Nhìn vần trán ngắn của bác Sang, dù không phải là thầy tướng, tôi cũng đoán được ông không phải là người (vốn) hay suy nghĩ. Nghĩ đi đã không mấy khi, còn mong chi đến chuyện “anh Tư nghĩ lại.” Thôi thì cứ lấy đại cái ngày mà Đảng và Nhà Nước ra nghị định, nghị quyết hay sắc lệnh (gì đó) cho giăng loa khắp miền Bắc – hồi giữa thế kỷ trước – làm ngày “Âm Nhạc Việt Nam” cho nó xong đi.

Nhạc của ta (chủ yếu) phát từ loa ra, chớ còn chỗ nào khác nữa? Nghe lại thử xem: Kết đoàn chúng ta là sức mạnh. Kết đoàn chúng ta là sắt gang. Đoàn kết ta bền vững. Mà sắt với gan còn kém bền vững. Chúng ta thề phá tan quân thù, thực dân, đế quốc, sài lang với phe phản động. Ta đập tan hoang... Coi: sắt thép, hung hăng, hùng hục, hùng hổ…  tới cỡ đó thì có cái gì thích hợp hơn – ngoài hệ thống loa phường?

Ở một mức độ khác, dù nghe ít sắt máu và nhẹ nhàng hơn (chút xíu) âm nhạc cách mạng cũng chỉ chuyên chở một thứ tình cảm rất không bình thường và có lẽ cũng chỉ thích hợp với hệ thống loa phường thôi – theo như ghi nhận của nhạc sĩ Lê Dinh:

Chỉ một mình nhạc sĩ Thuận Yến thôi mà cũng có đến 26 bài ca ngợi bác Hồ. Ngoài ra còn có những Đỗ Nhuận, Phạm Tuyên, Vân An, Trần Hoàn, Lưu Cầu,Trọng Loan, Phong Nhã, Huy Thục, Lê Lôi, Chu Minh v.v… Nội cái áo của bác và đôi dép của bác thôi mà cũng có đến 5 bài hát nói về áo và dép này.

Đó là chưa kể đến râu tóc, vớ giầy, chăn chiếu, hay thắt lưng …  của Bác. Những vật dụng cá nhân này mà xồng xộc mang vào phòng riêng của dân chúng coi sao cho tiện, mấy cha? Thôi cứ để ngoài phường đi, cho nó đỡ kỳ.

Những chiếc loa bị hỏng và dây điện bị người dân “liều mình” cắt đứt.

Ảnh và chú thich của báoAn Ninh Thủ Đô.

Sức chịu đựng của con người, cũng như của hệ thống loa phường – tất nhiên – đều có hạn. Bởi vậy, gần đây có hiện tượng dân Hà Nội “liều mình”cắt dây điện nối loa và (cùng lúc) họ đâm ra say mê nhạc … sến – theo như lời phàn nàn của giáo sư âm nhạc Đặng Hữu Phúc:

“Hồi cuối tháng 8 vừa qua, show diễn hát theo yêu cầu của họ ở Nhà Hát Lớn giá 1 triệu rưỡi đến 1 triệu 7 cho 1 vé. Biểu diễn hàng nửa tháng trời mà vẫn kín chỗ, không có vé mà mua. Mà hình như họ ăn khách Thủ đô đến ngỡ ngàng, vượt cả sự tưởng tượng của chính họ, nên họ lại đã quảng cáo biểu diễn tiếp tại Nhà hát lớn sau Đại lễ 1000 năm. Như vậy, ‘sự kiện âm nhạc’ nổi bật trong thời gian trước thềm Đại lễ lại là những đêm nhạc ‘Sến’ của Hương Lan, Tuấn Vũ (!!!) …Vậy văn hóa Hà nội đang xuống cấp so với chính ta?” (“Khi Đặng Thái Sơn không thể ‘địch’ lại Hương Lan, Tuấn Vũ” – Tuần Việt Nam 04/10/2010).

Tôi không hiểu sao ông Đặng Hữu Phúc lại lôi Đặng Thái Sơn vào một trận chiến “giả” với Hương Lan và Tuấn Vũ như vậy. Ba nhân vật này không có chuyện gì để phải đối “địch” với nhau hết trơn hết trọi. Họ cũng chả liên quan chi đến việc dân Hà Nội ùn ùn kéo nhau đi nghe nhạc sến. Đây, chả qua, chỉ là tình cảm tự nhiên (hay nói theo ngôn ngữ “đương đại” là “tự phát”) của con người thôi.

Không lẽ suốt ngày cứ bâng khuâng “nhớ đôi dép đơn sơ đôi dép bác Hồ,” suốt đêm cứ chợp mắt lại mơ thấy “râu Bác dài, tóc Bác bạc phơ,” và suốt đời lúc nào cũng chỉ có mỗi một ước mong duy nhất là được dịp “dâng lên cho Đảng cả niềm tin chiếu sáng ngời” sao?

Hát hò kiểu đó hoài, ớn chết mẹ luôn, ai mà chịu nổi? Lâu lâu cũng phải cho con người ta có vài Giọt Lệ Đài Trang, mấy cánhHoa Sứ Nhà Nàng, hay một cái Lâu Đài Tình Ái … cho nó đỡ ớn (chè đậu) chớ – đúng không?

Đi nghe Hương Lan và Tuấn Vũ hát thử một đêm, giữa lòng Hà Nội, cũng tựa như được đi ăn  một bữa phở chui vào thời bao cấp. Dù “nhạc sến” không “chất lượng” gì cho lắm chăng nữa, nó vẫn có thể khiến cho thiên hạ bùi ngùi, xuýt xoa hay hít hà chỉ vì họ đã (lỡ) phải ăn quá nhiều những tô phở quốc doanh – không người lái – thế thôi!

Đó là cảm nhận chung của một số người dân Việt. Đối với số khác (không nhỏ) thì nhạc sến hay nhạc vàng còn là những chuẩn điểm thời gian của những tháng ngày xa xưa cũ. Lúc mà họ còn trẻ trung, còn một cuộc sống (tương đối) an lành, và đời còn có những chiều Thu Vàng khi hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn hương, những Đêm Thu vườn khuya trăng chiếu hoa đứng yên như mắt buồn, hay những trưa Hạ Trắng chân em bước nhẹ trời buồn gió cao…

Và có lẽ vì thế nên Khánh Ly vẫn có thể “ru hồn” thính giả Việt Nam – theo như tin loan của báo Dân Trí, số ra vào ngày hôm 10 tháng 5 năm 2014:”Sau 60 năm chờ đợi, cuối cùng ngày về của Khánh Ly đã tới. Trong không gian âm nhạc sâu lắng và những ca khúc nhạc Trịnh, Khánh Ly đã có cơ hội dãi bày tiếng lòng của mình.”

Nhìn lại mới thấy cả Khánh Ly lẫn Trịnh Công Sơn không chỉ có tài mà còn có… thời nữa kìa. Họ không những đã hay mà còn… hên (dữ) lắm! Cuối thập niên sáu mươi, đúng lúc họ vừa xuất hiện thì mấy cái máy Akai cồng kềnh cũng theo chân nguời Mỹ tràn vào nước Việt. Chính cuộn băng to đùng này đã mang họ đến với thính giả khắp mọi nơi, ở miền Nam.

Qua cuối thập niên bẩy mươi, khi dân chúng và cán bộ miền Bắc ào ạt vào Nam thì những cái cassette xinh sắn lại lặng lẽ mang sáng tác của Trịnh Công Sơn và tiếng hát Khánh Ly đi theo chiều ngược – từ Nam ra Bắc. Không bao lâu, họ đã chinh phục được luôn không ít thính giả của nửa phần quê hương còn lại.

Từ đây, trai gái bên kia vỹ tuyến bắt đầu chào hỏi hay trò chuyện với nhau theo cách khác: Nơi em về trời xanh không em? Thay vì: Đang công tác ở đâu thế? Đã phấn đấu vào Đoàn chưa?

Bởi vậy,vẫn theo báo Dân Trí:

“Sân khấu chứa hơn 4000 người của Trung tâm hội nghị Quốc gia (Hà Nội) tối qua chật kín người. Không chỉ người hâm mộ ở Hà Nội mà ở rất nhiều tỉnh thành của cả nước, họ đã vượt hàng trăm km đến đây để được gặp lại thần tượng và được phiêu bồng cùng những tình khúc của Trịnh. Với nhiều người, Khánh Ly không chỉ một nghệ sỹ mà còn gắn với họ như một phần kí ức của đời mình.”

Phạm Duy cũng thế. Những sáng tác của ông cũng là “một phần ký ức” của biết bao người. Và đó cũng là lý do tại sao nhạc của ông đã được hân hoan đón nhận tại quê nhà, nơi ông đã cương quyết bỏ đi và (rồi) nhất định phải quay về, bất chấp bao nhiêu điều tiếng.

Ca sĩ Khánh Ly. Ảnh: Dân Trí

Những “điều tiếng” quanh ngày về của Phạm duy, cũng như của Khánh Ly, khiến tôi chợt nhớ đến nhà văn Gabriel Marquez – người được tặng giải văn chương Nobel năm 1982 – vừa mới qua đời vào ngày 17 tháng 4 năm 2014 vừa qua.

Cuộc đời của nhân vật này, theo ký giả Hồng Nguyên Hoàng:

…nếu tóm gọn, có lẽ nổi bật hai thứ: tác phẩm Trăm Năm Cô Đơn và người bạn… Fidel Castro. Tác phẩm ấy đã đem đến cho ông sự kính trọng của mọi người trên thế giới về văn tài. Ngược lại, tình bạn ấy đã khiến nhiều người trên thế giới… khinh bỉ ông. Thậm chí, một người từng là bạn của ông, cũng từng được giải thưởng Nobel về văn chương, là Mario Vargas Llosa người Peru, đã gọi ông là một “con điếm cao cấp” của Fidel Castro. Nhà độc tài Cuba thì gọi ông là “bạn tri kỷ” và nói rằng luôn được đọc bản thảo trước khi những tác phẩm của ông xuất bản…

Cả Phạm Duy lẫn Trịnh Công Sơn đều không được “cao cấp” như Gabriel Marquez (và họ cũng không được cấp lãnh đạo nào của nhà nước Việt Nam coi là “tri kỷ” cả) nói gì đến cỡ Khánh Ly.