Bộ Qui Tắc Ứng Xử” cho người Hà Nội

Bộ Qui Tắc Ứng Xử” cho người Hà Nội

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-01-22

01222015-dsnvkn-tt.mp3

000_Hkg5652579.jpg

Người dân Hà Nội trong một lễ hội bia

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Chấp hành nội qui, tôn trọng, thân thiện, đoàn kết, chia sẻ … là những điểm chính trong bộ khung qui tắc ứng xử  đã được Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội thông qua, hiện đang được gấp rút hoàn thiện để đưa vào thí điểm năm 2015 này.

Đó là bản tin trên VNExpress phát hành trong nước  hôm 7 tháng Giêng với tựa đề  Bộ Qui Tắc Ứng Xử Cho Người Hà Nội, áp dụng cho 6 nhóm đối tượng gồm cơ quan hành chính sự nghiệp, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp, khu dân cư và nơi công cộng.

Mỗi nhóm sẽ có những qui tắc riêng, thí dụ nhóm người dân nơi công cộng thì cần phải chấp hành nội qui hay qui định, phải tôn trọng, thân thiện, văn minh , lịch sự, đoàn kết, chia sẻ, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan, môi trường.

Với nhóm doanh nghiệp thì cần tôn trọng đạo đức kinh doanh, coi trọng chữ tín, công bằng, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm xã hội.

Bản tin của VNEpress cũng nói lãnh đạo ngành văn hóa thủ đô cho rằng Bộ Qui Tắc Ứng Xử không phải văn bản qui phạm nên nói bắt buộc thực   hiện thì không chính xác. Tuy nhiên, các giai đoạn tiếp theo của đề án sẽ đưa ra những chế tài với các hành vi ứng xử không đúng qui tắc, ví dụ vứt rác ra đường, nói tục vân vân…

Nó hơi buồn cười! Chẳng lẽ Hà Nội có qui tắc ứng xử của người Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thì có qui tắc ứng xử của thành phố Hồ Chí Minh, rời  Hải Phòng là qui tắc ứng xử của người Hải Phòng, Nghệ An thì có qui tắc ứng xử của người Nghệ An?

Tôi nghĩ người Việt Nam có truyền thống như thế nào tốt thì chúng ta có cách giáo dục để phát huy truyền thống ấy, cái gì không hay thì chúng ta có cách giáo dục để thay đổi. Mỗi  cơ quqn, doanh nghiệp , trường học hay một đại học vân vân…hay là quân đội có qui tắc của quân đội, công an có qui tắc của công an. Đề ra qui tắc riêng cho người Hà Nội rồi các thành  phố khác thì sao?

Đó là ý kiến của giáo sư Văn Như Cương, nguyên hiệu trưởng  trường Lương Thế Vinh:

Đề ra qui tắc ứng xử có vẻ như người Hà Nội hiện nay ứng xử là bát nháo hẳn lên,  không có gì vào khuôn mẫu cả?  Chẳng có việc gì làm thì bịa  ra  chuyện vừa mất thì giờ vừa chẳng ra làm sao, cho nên tôi nói rằng chuyện trời ơi đấy hỡi này rồi chẳng đi đến đâu. Ở Việt Nam chỗ nào càng cấm thì càng nhiều, nơi công cộng thì một lời khuyên là không nên hút thuốc lá thì hút lại càng nhiếu,  dưới biển Cấm Đổ Rác  là đầy một  đống rác, Cấm Họp Chợ đề cái biển to tướng thì ở dưới là họp chợ.  Đấy những chuyện như thế thường không có tác dụng gì mấy.

Dịch giả, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, ông  Đinh Gia Hưng, hiện là giảng viên Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng, tán đồng quan điểm của giáo sư Văn Như Cương. Điều cần thiết, ông nói, là tìm về cái di sản cũng như văn hóa là vốn liếng đã có sẵn:

Không nhất thiết phải làm bộ qui tắc mà phải chăm lo từ cái gốc của giáo dục. Cái di sản của cha ông của văn hiến mình để lại tôi nghĩ nó căn cơ chứ nó không giải quyết trên những Bộ Qui Tắc Ứng Xử có tính cách thời cuộc như vậy, nó không phải là nền tảng của xã hội Việt Nam.

Trong giáo dục học đường, nhà văn Đinh Gia Hưng nói tiếp, đã có những giáo trình về mặt  giáo dục công dân, có những hoạt động ngoại khóa , thể hiện rõ trong sự xuất phát của nhà trường:

Cụ thể là ban giảng huấn,  cán bộ nhà trường, các em học sinh và môi trường hoạt động chung thì nó đã định hình nên cái phẩm chất như vậy rồi. Có nghĩa là mình đã thừa hưởng thành quả giáo dục công dân từ xưa tới nay, vấn đề là  phải thực sự hiểu và thực hành, đó mới là mấu chốt., không phải cần bộ qui tắc nào mới đâu.

Đạo đức xã hội xuống cấp

Đối với giáo sư Phạm Phụ, giảng viên cao cấp những lớp bồi dưỡng và đào tạo hiệu trưởng hiệu phó cho các đại học trong nước, Bộ Qui Tắc Ứng Xử phản ảnh sự lo âu trước vấn đề xuống cấp đạo đức của xã hội. Nêu những thí dụ cụ thể, ông phân tích:

000_APH2003030936048-400.jpg

Một người nghiện đang đi lang thang ở Hà Nội. AFP photo

Đó là vấn để của cả nước chứ không phải chỉ Hà Nội đâu, nhưng ông Hà Nội làm như vậy để hy  vọng là cải thiện chút nào hay chút ấy. Dù sao Hà Nội cũng là thủ đô, có cái truyền thống gọi là người  Tràng An nhưng thật ra bây  giờ xuống cấp lắm rồi. Bây  giờ nhà càng cao lên thì đạo đức càng thấp  xuống. Cách đây bốn năm năm người ta đã nói  như vậy rồi.

Gần  đây, thông qua báo  chí thông qua TV có điều tra là học sinh tiểu học nói dối bao nhiêu phần trăm, lên trung học bao nhiêu phần trăm. Học sinh Cấp Một lên Cấp Hai nói dối nhiều hơn, lên Cấp Ba nói dối nhiều hơn nữa, mà càng lên thì tỷ lệ nói đối nhiều càng lớn. Người lớn nói dối nhiều quá thì các em cũng nói dối nhiều, quá buồn đi chứ. Còn tình trạng là đánh nhau thì mấy em xung quanh đứng nhìn và cổ vũ chứ không can ngăn nữa.

Cách đây hai năm cũng  có một trường tư lớn ở thành phố Hồ Chí Minh ra  qui chế không được bận  áo hở cổ, không được mang dép thế này thế khác … viết thành bảng  dựng trước cổng như cái trò hài hước thôi. Ra qui tắc không ăn thua gì đâu, đó là hình thức đối phó mà tôi nghĩ chẳng cần thiết. Gia đình phải kết hợp với nhà trường thế nào để mà giáo dục con em chứ còn ra bộ qui tắc với người lớn thì còn có ý nghĩa chứ với các em chỉ là cách đối phó thôi. Không xả rác không nói tục là chuyện phải giáo dục thường xuyên trong trường chứ bây giờ còn thêm qui tắc nữa để làm gì?

Anh Nguyễn Trọng Thắng, một doanh nhân trẻ ở Hà Nội, bây giờ mới nghĩ tới Bộ Qui Tắc Ừng Xử cho người Hà Nội thì cũng hơi muộn nhưng mặt khác thì có còn hơn không:

Tại thực ra bây giờ phong thái nó suy đồi quá, trong thời điểm này thì người ta muốn vực dậy cái phong thái của người Hà Nội mà nó mai một nhiều qua rồi.  Bây giờ hình ảnh những người đi ngoài đường, hình ảnh những cơ quan công quyền có thể thấy được thì nó rất là xấu.

Ở Hà Nội bây giờ dân nội thành và dân nguyên gốc Hà Nội  ít, mà không phải ai gốc Hà Nội cũng là người có văn hóa cả. Chẳng hạn đi ngoài đường thì hiện tượng bóp còi xe này, ăn nói xách mé không giúp đỡ người khác này,  nơi công cộng thì hút thuốc lá và khạc nhổ này. Nơi  công quyền thì người làm hành chính hống hách này, tại các cửa khẩu thì những người có chức năng cho mình cái cảm giác họ đang ban phát ơn huệ . Tất cả những hiện tượng như người làm công trình, làm giao thông đều cố gắng gây sự phiền toái cho những người khác. Tất  cả những cái đấy đều ảnh hưởng không tốt đến bộ mặt của thủ đô.

Anh Nguyễn Trọng Thắng còn cho rằng lãnh đạo Hà Nội muốn biến thủ đô làm nơi đầu tầu xứng đáng của nếp sống văn minh họ thường tuyên truyền  năm này qua năm khác:

000_Hkg9235493-400.jpg

Người dân uống cà phê vỉa hè Hà Nội. AFP photo

Chẳng qua muốn vực đậy muốn làm phong trào thì phải bắt nguồn từ nơi nào đây, Chẳng hạn phong trào ngày trước là 141bắt cái đám đua xe đầu xanh đầu đỏ chạy lung tung bát nháo, đánh nhau ngoài đường mà từ khi có phong trào 141 thì chuyện phức tạp Hà Nội tự nhiên giảm hẳn đi. Phải bắt nguồn từ nơi mà người ta cảm thấy có thể chấp nhận được. Nếu  cả nước thì phong trào quá rộng, phạm vi làm và khả năng thì hơi khó. Nếu trong phạm vi nhỏ, nơi kích thích lòng tự hào của người ta thì có thể đạt hiệu quả cao. Hà Nội là nơi có thể đạt kết quả tốt nhất. Đáng ra họ phải tập trung xây dựng hình ảnh của chính những người trong bộ máy công quyền nhà nước trước hết, sau đấy mới  đến người dân.

Anh Nguyễn Văn Thái, bạn trẻ Hà Nội thích du lịch qua nhiều quốc gia trên thế giới bất cứ lúc nào có thể, hiện là nhân viên tiếp thị cho một công ty  lữ hành và quốc tế ở thủ đô, nhìn nhận vấn đề qua hai cách;

Thứ nhất về Bộ Qui Tắc Ứng Xử thì em nghĩ cái này thuộc về nền tảng dân trí, nền tảng văn hóa giáo dục. Kể cả trường hợp ban hành ra mà trong xã hội Việt Nam nói chung là ý thức người dân chấp hành cũng không phải là cao cho lắm. Cho nên  em không nghĩ rằng khi ban hành thì người dân, đặc biệt người Hà Nội, sẽ chấp hành một cách nghiêm ngặt, em không nghĩ rằng ngày một ngày hai sự ứng xử văn minh của người Hà Nội sẽ được cải thiện. Em nghĩ thay đổi văn hóa nó cần một thế hệ chứ không thể ngày một ngày hai. Đó là nhận xét thứ nhất.

Nhận xét thứ hai của bạn Nguyễn Văn Thái là là vấn đề về người Hà Nội. Theo bạn từ xưa đến nay nếu mà gọi người Hà Nội lịch lãm thì cũng chỉ một bộ phận của các tầng lớp Hà Nội thôi chứ thật ra hình ảnh người Hà Nội cũng vô vàn:

Hiện tại dân số Hà Nội vào tầm 5 triệu thì người gốc Hà Nội chỉ khoảng  một phần tư, còn ba phần tư đều là người tứ xứ, cho nên nói rằng ứng xử văn minh của người Hà Nội thì em nghĩ nó hơi bó hẹp quá. Khi mà kinh tế và xã hội của Việt Nam phát triển nhanh , kể cả môi trường ngoại nhập nữa, thì nó phát sinh những tư tưởng những suy nghĩ mới và phát sinh ra những cách ứng xử mới. Ví dụ  cách đây 20 năm rõ ràng toàn xe đạp thì thời điểm đó giao thông không nhiều như bây giờ. Chính vì giao thông nhiều mà dẫn đến ách tắc và người dân không chấp hành ý thức giao thông. Em nghĩ không chỉ ở Hà Nội mà ngay cả những thành phố lớn là cái phong cách ứng xử chưa được văn mình cho lắm nếu so với những nước tư bản trên thế giới. Đấy là lý do vì sao chính phủ Việt Nam ban hành Bộ Qui Tắc Ứng Xử. Tất nhiên đúng là có sự xuống cấp  trong quá trình phát triển cho nên có nhu cầu gọi là “quốc tế hóa” những qui chuẩn về văn minh cả cho những cái đã xuống cấp và cả những cái theo giòng phát triển xã hội nó đã phát sinh ra.

Giáo sư tiến sĩ Hồ Sĩ Quí, viện trưởng Viện Thông Tin, Khoa Học và Xã Hội ở Hà Nội, cho biết tin Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội thông qua Bộ Qui Tắc Ứng Xử cho người Hà Nội và sắp đưa ra thí điểm năm nay khiến ông ngạc nhiên không ít:

Có thể dùng chữ buồn cười trong trường hợp này cũng được. Không biết là họ có làm thật  hay có mấy cái anh nào đấy anh thiếu việc rồi mát trời anh ra anh làm thì tôi không rõ. Mỗi một lĩnh vực sinh hoạt thì có qui định, qui tắc, qui ước của nó cả rồi. Trên thực tế xã hội vận hành bình thường thì có những qui ước thành văn và những qui ước không thành văn. Chứ còn tự nhiên nhân danh hành chính mà ra những qui tắc ứng xử cho cả dân thành phố thì tính khả thi của nó như thế nào, nếu người ta không chấp hành thì nó ra làm sao?

Thực ra thì  đạo  đức xã hội xuống cấp một cách đáng ngại , chuyện ấy báo chí nói hàng ngày và cũng đáng buồn, đáng phê phán, đáng phẫn nộ. Chỗ nào  cũng có vấn đề nhức nhối cả, nhưng mà phải điều chỉnh bằng cách khác. Xã hội có cơ chế bình thường của nó, không nên nghĩ thêm ra cái gì nữa. Việc dạy đạo đức thì  cứ ở nhà trường hoặc  ở những lĩnh vực hợp lý, còn một cơ quan chính quyền đưa ra  những qui tắc ấy thì không cần thiết mà dẫm chân lên các tổ chức khác.

Không vất rác , không nhổ bậy thuộc  về qui ước nội bộ, còn không nói tục  thuộc về văn hóa và có cái điều chỉnh của nó. Có thể ghi nhận là họ đã thấy thực tế bức xúc và họ muốn có ý kiến thì cũng hoan nghênh tinh thần ấy, nhưng không có nghĩa là nhân danh công quyền mà ra những qui định như thế thì  tác dụng của nó không đi đến đâu. Cách làm như vậy không đúng chức năng, không đúng phạm vi cũng không đúng khả năng  có thể thực hiện được. Làm như thế đúng là người ta nhận thức vị thế của người at nó cũng hơi buồn cười. Chỉ có thể nói đến như thế thôi.

Đó là ý kiến của một số người gồm nhà giáo, chuyên gia xã hội và người dân thường về Bộ Qui Tắc Ứng Xử cho người Hà Nội mà Ủy Ban Nhân Dân thành phố đang chờ duyệt lần cuối trước khi đưa ra thí điểm trong năm nay.

Cũng trên báo VNEpress hôm 15 tháng Giêng  có bản tin  chính phủ ra nghị uyết ngăn chận sự xuống cấp đạo đức xã hội. Đây là đề tài sẽ được những quan tâm trong nước đào sâu trong mục Đời Sống Nguời  Việt Khắp Nơi kỳ sau.

Phiếu tín nhiệm, sự thật và lòng tin

Phiếu tín nhiệm, sự thật và lòng tin

Nguyễn Đăng Quang

Ngày 10/01/2015 tại Hội nghị Trung ương 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Trước đấy, qua phương tiện thông tin đại chúng, người dân đã được hứa là Đảng sẽ công khai kết quả phiếu tín nhiệm trong Đảng cho nhân dân biết để nhân dân giám sát. Đến hôm nay, Hội nghị Trung ương 10 đã bế mạc được 10 ngày, nhưng không thấy Đảng thực hiện cam kết như đã hứa. Người dân thắc mắc hỏi lẫn nhau là điều gì đã xảy ra mà Đảng phải giấu giếm, không công bố cho nhân dân biết? Chẳng người dân nào có thể biết được sự thật nó diễn ra như thế nào và hiện nó đang nằm ở đâu? (Ngoại trừ số gần 200 vị ủy viên Trung ương Đảng -gồm 173 ủy viên trung ương chính thức và 24 ủy viên dự khuyết – tham dự Hội nghị này biết mà thôi!) Nhưng rất bất ngờ, sáng ngày 16/01/2015, một trang mạng lạ có tên là “Chân dung Quyền lực” công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với BCT và BBT tại Hội nghị lần thứ 10 BCHTW Đảng khóa XI. Điều này gây ngạc nhiên và tò mò cho không ít người! Đọc bản “Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Hội nghị Trung ương 10” đăng trên Blog “Chân dung Quyền lực” sáng ngày 16/01/2015, đa số người đọc rơi vào tâm trạng phân tâm, họ rất băn khoăn, chưa biết là nên tin hay là không nên tin, một số người thể hiện sự thận trọng, chỉ dám “tạm thời ghi nhận như vậy”, số đông còn lại rơi vào ở trạng thái “bán tín, bán nghi” để chờ Trung ương công bố chính thức, dù có chậm nhưng đáng tin hơn cái anh “Chân dung Quyền lực “ này! Cho đến hôm nay, 10 ngày đã trôi qua kể từ sau khi Hội nghị Trung ương 10 kết thúc, nhiều bạn đọc – trong đó có người viết bài này – vốn rất hy vọng và trông chờ “sự thật” do các cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng và Nhà nước công bố, trở nên thất vọng! Đơn giản bởi lâu nay hàng ngày họ chỉ trông chờ ở “sự thật” chính thống mà không được!

Còn trang mạng “Chân dung Quyền lực” đâu có thể dễ tin vào, vì đây là một trang mạng phi chính thống, không thuộc lề phải, nó “rất bí hiểm và đáng ngờ” mà các nhà tuyên giáo của Đảng thường bỏ tuốt vào một rọ, được đặt tên chung là “các thế lực thù địch, chống đối Đảng và Nhà nước và thực hiện diễn biến hòa bình”! Theo họ, bọn này sinh ra là để xuyên tạc, bịa đặt, vu khống,… nhằm gây chia rẽ, làm phân hóa nội bộ, gieo hoang mang trong dư luận quần chúng, làm suy giảm lòng tin (vốn đã cạn kiệt) của nhân dân đối với Đảng và chế độ, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc, v.v… nên toàn dân phải hết sức cảnh giác, phải kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực xấu xa này! Khi tung lên mạng “Kết quả phiếu tín nhiệm” nói trên, trang mạng “Chân dung Quyền lực” khẳng định đây là “ nguồn tin đáng tin cậy được tập hợp từ các UVTƯ Đảng vừa tham dự Hội nghi Trung ương 10”, và Ban Biên tập trang mạng này còn trưng ra số liệu rất đầy đủ và chi tiết, kèm theo bản phân tích khá khoa học và lời bình có vẻ rất khách quan! Một tuần lễ đã trôi qua, các cơ quan thông tin chính thống lề phải của ta vẫn lặng im, không khẳng định và cũng chẳng phủ nhận, cứ để trang “Chân dung Quyền lực” một mình độc chiếm sân chơi. Không chỉ đưa thông tin về kết quả lấy phiếu tín nhiệm, trang “Chân dung Quyền lực” còn đưa thêm nhiều thông tin “có sức lôi cuốn” khác, kể cả việc đưa ra những bằng chứng cụ thể tố cáo đích danh 3 Ủy viên BCT đang tại chức về hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, v.v… Nhưng thôi, ta chẳng nên mất thời gian đi sâu tìm hiểu xem ba chuyện đó là hư hay thực, hãy trở lại bàn thêm về bản kết quả “Phiếu tín nhiệm” được công bố trên blog “Chân dung Quyền lực”.

Theo thiển nghĩ của người viết bài này, có thể vụ việc sẽ dẫn đến 2 kịch bản như sau: Kịch bản 1 như nó đang xảy ra là Đảng vẫn tiếp tục im lặng, không công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm BCT và BBT tại Hội nghị Trung ương 10 vừa rồi và cũng không phủ nhận hoặc xác nhận bản kết quả “Phiếu tín nhiệm” của trang “Chân dung Quyền lực” công bố, vì Đảng cho rằng đây là “vấn đề nhạy cảm”, nên phải thận trọng, cảnh giác để khỏi mắc mưu “ các thế lực thù địch”! Nếu kịch bản này vẫn như vậy, không thay đổi lại, nghĩa là vẫn kiên quyết “giữ kín” kết quả lấy phiếu tín nhiệm vừa qua trong Đảng, không cho nhân dân biết, thì hệ quả đương nhiên là người dân sẽ mất lòng tin, sẽ rất thất vọng vì họ cảm thấy là bị gạt ra bên lề! Người dân sẽ thấy mình ở một phía, còn Đảng thì ở phía ngược lại! Xưa nay Đảng vẫn tự coi Đảng là của dân, phụng sự mọi lợi ích của dân nhưng Đảng lại không thực hiện lời hứa với dân, Đảng vẫn còn giấu dân thì khác nào Đảng đang ngày đẩy dân ra xa khỏi Đảng. Nhân dân là chủ nhân ông của đất nước, họ phải biết và có quyền được biết các vấn đề liên quan đến những người “đang nắm vận mệnh nhân dân, vận mệnh đất nước” tức những người đang lãnh đạo họ, về các mặt như năng lực, uy tín, phẩm chất, đạo đức, nhân cách, v.v… và ngay cả tài sản, sức khỏe hoặc bệnh tật nữa! Việc này là hết sức bình thường ở các quốc gia dân chủ. Khi người dân bị từ chối, không được đáp ứng, thì hệ quả tất nhiên là người dân từ chỗ do dự hoặc nghi ngờ chưa tin vào những gì họ biết qua không gian mạng, họ sẽ dễ dàng tin vào “những thực đơn” hàng ngày mà thế giới mạng trong đó có trang “Chân dung Quyền lực” và các trang mạng lề trái khác thường xuyên cung cấp cho họ! Còn kịch bản thứ hai là trong vài ngày tới, sau khi cân nhắc kỹ các mặt lợi và hại, Đảng sẽ dũng cảm công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm ở HNTƯ 10 vừa qua như TBT Nguyễn Phú Trọng đã hứa.

Nếu kết quả do Đảng công bố trùng với kết quả mà trang mạng “Chân dung Quyền lực” đưa công khai hôm 16/01/2015 thì rõ ràng là trong trường hợp này, Đảng đã thua – nói theo ngôn từ của bóng đá – là “thua ngay trên sân nhà”, vì Đảng đã tự nhường trận địa truyền thông cho “các thế lực thù địch” chiếm lĩnh! Và mọi sự lên án, kết tội trang “Chân dung Quyền lực” và “các trang mạng lề trái khác” là xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, nói xấu Đảng và Nhà nước, v.v… sẽ tự nó mất hiệu nghiệm và phản tác dụng. Đây là điều hết sức tối kỵ trong công tác truyền thông của mọi thể chế! Cùng kết quả như nhau, nhưng việc người dân biết do Đảng chủ động thông tin cho họ biết với việc họ biết bởi một nguồn tin phi chính thống cung cấp cho họ biết trong khi Đảng cố tình giấu diếm, thì điều này hoàn toàn khác nhau xa và có ý nghĩa trái ngược nhau rất nhiều! Còn nếu kết quả mà Đảng công bố lại khác với kết quả mà trang “Chân dung Quyền lực” công bố cho người đọc biết thì vấn đề hẳn sẽ còn đi xa hơn nữa. Người viết bài này cũng không dám tưởng tượng được là kết cục sẽ đi đến đâu và sẽ như thế nào, lúc đó vấn đề “Sự thật nằm ở đâu” hẳn sẽ không chỉ giới hạn trong “cuộc chiến truyền thông” mà chắc chắn nó sẽ mở rộng sang các cuộc chiến khác nữa! Vì giả thiết thứ hai này chưa xảy ra nên mọi luận bàn đều là vội vàng và võ đoán. Xin bạn đọc cứ yên tâm chờ đợi, mọi sự hạ hồi sẽ phân giải!

N.Đ.Q.

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI ĐÃ CHỊU PHÉP RỬA TỘI

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI ĐÃ CHỊU PHÉP RỬA TỘI

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

1) Hình ảnh về một Đấng Cứu Thế khiêm nhường tự hạ

Trong khi dân Do Thái mong chờ một Đấng Cứu Thế oai phong lẫm liệt, thì Đức Giêsu xuất hiện công khai lần đầu tiên trong sự khiêm nhường thống hối.  Lúc ấy, Gioan rao giảng sự ăn năn sám hối.  Đoàn lũ dân chúng đông đảo kéo đến với ông để xin chịu phép rửa thống hối.  Hòa mình vào đoàn lũ những con người tự nhận mình tội lỗi ấy, Đức Giêsu âm thầm khiêm tốn xếp hàng chờ được rửa tội.  Thật là lạ lùng.  Chính Đấng đã thánh hóa Gioan khi ông còn trong bụng mẹ giờ đây lại đến xin ông làm phép rửa cho.  Chính Đấng đến để chuộc tội loài người giờ đây lại xin người khác rửa tội cho mình.  Thật là khiêm nhường thẳm sâu.  Trong khi loài người tội lỗi luôn kiêu ngạo tìm cách nâng mình lên thì Thiên Chúa thánh thiện lại tìm hạ mình xuống.  Trong khi loài người tội lỗi luôn che dấu, không nhận tội thì Thiên Chúa vô tội lại công khai nhận mình tội lỗi.  Trong khi loài người tội lỗi tìm tránh hình phạt do tội lỗi họ gây nên thì Thiên Chúa lại ghé vai gánh lấy hết tội lỗi và mọi hình phạt mà loài người đáng phải chịu.  Sự khiêm nhường ấy phát xuất từ lòng Thiên Chúa yêu thương con người, muốn chia sẻ kiếp người, muốn cứu chuộc tội đời, muốn thăng tiến nhân loại.

2) Hình ảnh về cuộc giao hòa đất trời

Chính lúc Đức Giêsu tự nguyện gánh lấy tội lỗi nhân loại, tầng trời bị xé ra.  Khi loài người phạm tội, cửa trời đóng lại, đất trời phân ly, ân phúc thôi tuôn đổ.  Khi phạm tội, loài người tự giam mình trong bóng tối.  Bóng tối tội lỗi giam kín con người trong thân phận bụi đất, không còn hy vọng vươn lên.  Hôm nay, tầng trời xé ra có nghĩa là từ nay con người đã có lối thoát.  Thân phận con người thay đổi, địa vị con người được nâng lên, vì có ơn Thiên Chúa đổ xuống, có Thiên Chúa đến gieo mầm trường sinh vào kiếp người phàm hèn.  Trời đất giao hòa.  Thiên giới cúi xuống hạ giới.  Thiên Chúa đến ở với con người.  Ân phúc tuôn đổ xuống cõi đời nhơ uế.

3) Hình ảnh về sự kết hiệp mật thiết giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.

Trong giây phút cảm động ấy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện.  Chúa Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống.  Chúa Thánh Thần là tình yêu.  Chúa Thánh Thần ngự xuống trên ai là dấu chỉ Thiên Chúa ưu ái người ấy.  Đức Chúa Cha công khai xác nhận sự ưu ái ấy với Đức Giêsu khi lên tiếng: “Đây là Con Ta yêu dấu.”  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.  Đây không phải là một danh xưng, một tước vị, nhưng là một liên hệ sâu xa mật thiết: Ba Ngôi liên kết trong một tình yêu hiệp thông. Đức Giêsu hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành thánh ý Chúa Cha.  Có thể nói cả Ba Ngôi đều hoạt động trong Đức Giêsu Kitô.  Cả Ba Ngôi đều tham gia vào công trình cứu chuộc con người.

4) Hình ảnh về sứ mệnh người được sai đi.

Từ xưa trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần ngự xuống là để trao ban một sứ mệnh.  Hôm nay, Đức Giêsu cũng đã nhận lãnh một sứ mệnh, đó là cứu nhân độ thế.  Là “mở mắt cho người mù”, là “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ”, là “dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong bóng tối tăm.”  Người không đến trong thái độ phô trương quyền lực, nhưng đến trong sự hiền lành khiêm nhường.  Người đến không phải để lên án nhưng để tha thứ.  Người đến không phải để giết chết nhưng để cứu sống như lời tiên tri Isaia: “Cây lau bị dập, Người không bẻ gẫy.  Tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi”.

Phép rửa của Đức Giêsu mời gọi ta nhớ lại ơn phép rửa tội của mình.  Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, màn đêm tội lỗi vây phủ ta bị xé ra, Ba Ngôi Thiên Chúa đã đến với ta, ban cho ta cuộc sống thần linh, cho ta được vinh dự làm con Thiên Chúa, cho ta được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.  Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, Chúa Thánh Thần cũng đã trao cho ta một sứ mệnh, đó là sống xứng đáng một người con hiếu thảo của Chúa, là tiếp tục công việc của Đức Giêsu trong công cuộc cứu nhân độ thế.  Đức Giêsu là gương mẫu một người con hiếu thảo, vì Người luôn sống thân mật với Chúa Cha, luôn kết hiệp với Chúa Cha trong kinh nguyện hằng ngày, và nhất là Người luôn tìm thi hành thánh ý Chúa Cha, Người đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá.  Ta hãy noi gương Đức Giêsu, luôn kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn tìm thi hành thánh ý Thiên Chúa, luôn sống một cuộc sống tốt đẹp, luôn tích cực góp phần xây dựng xã hội, tạo hạnh phúc cho những anh em sống chung quanh ta.

Lạy Đức Giêsu Kitô, xin dạy con biết sống ơn bí tích Rửa Tội như Chúa, để con xứng đáng được làm con yêu dấu của Đức Chúa Cha.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

HÀNH TRÌNH ƠN GỌI

HÀNH TRÌNH ƠN GỌI

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Các bài sách thánh hôm nay đều nói về ơn gọi.  Ơn gọi của Samuel thật lạ lùng.  Còn ơn gọi của Anrê và Gioan diễn ra nhẹ nhàng hơn.  Tuy nhiên, dù mạnh mẽ lạ lùng hay nhẹ nhàng bình thường, hành trình ơn gọi nào cũng trải qua bốn giai đoạn.

1- Giai đoạn thứ nhất: Chúa kêu gọi.

Việc Chúa kêu gọi không xảy ra tức khắc trong một lần, nhưng diễn tiến tuần tự, chậm rãi với mức độ tăng dần, tùy sự đón nhận của người nghe.

Thoạt tiên là một lời kêu gọi nhẹ nhàng qua một thiên hướng, một ước nguyện của người thân, một gương mẫu, một thần tượng.  Ở Samuel, đó là ước nguyện của bà mẹ muốn tạ ơn Chúa.  Ở Anrê và Gioan, đó là thiên hướng đi tìm lý tưởng.

Sau đó, Chúa có thể dùng các trung gian dẫn ta đến với Chúa.  Trong trường hợp Samuel, người trung gian là thày cả Hêli.  Còn trong trường hợp Anrê và Gioan, thánh Gioan Baotixita đã làm trung gian đưa hai môn đệ đến với Đức Giêsu.

2- Giai đoạn hai: Ta đáp trả.

Nếu ta trung thành đáp trả mỗi khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, Chúa sẽ tiếp tục gọi ta đi vào những đoạn đường mới, mỗi lúc một khó khăn hơn.  Tiếng Chúa mời gọi mỗi lúc một mãnh liệt hơn, đòi hỏi ta phải trả lời mỗi lúc một dứt khoát hơn.  Cho đến một thời điểm quyết định, Chúa sẽ đưa ra lời mời gọi cuối cùng đòi ta trọn vẹn dấn thân lên đường theo Chúa.  Với Samuel, việc Chúa ba lần cất tiếng gọi chứng tỏ Chúa tha thiết muốn tuyển chọn ông.  Với Anrê và Gioan, việc Đức Giêsu mời hai ông đến chỗ Ngài ở đã khiến hai ông phải dứt khoát với quá khứ để bắt đầu một giai đoạn mới.

3- Giai đoạn ba: Sống thân mật với Chúa.

Tuyệt đỉnh của ơn gọi không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống thân mật với Chúa.  Chúa không kêu gọi ta theo một chủ thuyết nhưng kêu gọi ta theo Chúa.  Ta đến với Chúa không phải để học những bài học lý thuyết nhưng để tham dự vào sự sống của Chúa.  Sự sống của Chúa là sự sống thần linh nâng ta lên hưởng nếm sự ngọt ngào của tình Cha – Con thắm thiết.  Sự sống của Chúa là tình yêu đưa ta vào hạnh phúc của người biết mình được yêu thương.

Trong tình yêu Thiên Chúa, tâm hồn ta được gột rửa sạch mọi tội lỗi.

Trong tình yêu Thiên Chúa, trái tim ta trở nên dịu dàng, hiền hoà rộng mở để tha thứ và đón nhận mọi người.

Hạnh phúc sống trong tình yêu Thiên Chúa lớn lao đến độ biến đổi toàn bộ cuộc đời ta.  Ai đã một lần nếm cảm sẽ không còn mơ ước điều gì khác nữa.

Sau khi được tiếp xúc thân mật với Chúa, trọn cuộc đời Samuel hoàn toàn dâng hiến cho Chúa.  Sau một buổi chiều thân mật sống với Đức Giêsu, hai tông đồ Anrê và Gioan gắn bó với Người, cho đến chết vì Người.

4- Giai đoạn bốn: Làm chứng cho tình yêu Chúa.

Cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa rồi, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là ra đi làm chứng về tình yêu đó.  Giống như dòng suối sung mãn tràn xuống thành thác, tâm hồn tràn đầy tình yêu sẽ cất lên thành lời ca tụng, giới thiệu tình yêu Thiên Chúa cho mọi người.

Sau khi gặp Đức Giêsu, Anrê vội vã đi tìm em là Phêrô để dẫn đến giới thiệu với Người.  Từ đó, Anrê theo Đức Giêsu cho đến cuối đời.  Ông đã đem chính mạng sống làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa.  Ông đã đổ máu ra để chứng thực tình yêu ấy.  Ông dám khước từ cuộc sống trần gian vì ông đã biết đến hạnh phúc đích thực trong tình yêu Thiên Chúa.  Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi đến sống thân mật với Người trong tình Cha-Con thắm thiết.

Lời Chúa vang lên khi ta chịu phép Rửa tội.

Lời Chúa tiếp tục mời gọi ta khi ta lãnh nhận các bí tích, khi ta nghe sách thánh, khi ta học giáo lý, khi ta tĩnh tâm, nghe giảng.

Lời Chúa lúc thì nhẹ nhàng thoang thoảng, khi thì mãnh liệt thiết tha.  Nhiều lúc ta tưởng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật là đã đáp lại tiếng Chúa mời gọi, nhưng không phải.  Chúa không mời gọi ta chỉ đi lễ như trả nợ . Chúa muốn ta thực sự gặp gỡ Người, tiếp xúc thân mật với Người, sống thân thiết với Người trong tình con thảo.

Hành trình đức tin của người Kitô hữu là một hành trình đi về với Chúa.  Sau bao nhiêu năm giữ đạo, tôi đã đi đến đâu?  Tôi đã thực sự gặp được Chúa chưa?  Tôi đã tiến đến gần Chúa chưa?  Hay là tôi mới ở khởi điểm?  Hãy đến, Chúa đang mời gọi ta.  Chúa đang chờ đợi ta.  Chúa đang mở rộng vòng tay, mở rộng trái tim để đón ta đến sống trong tình yêu của Người.  Tình yêu ấy là hạnh phúc muôn đời của ta.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

BỤI TRẦN

BỤI TRẦN

“Nếu chúng ta có thể hiểu và cảm nhận được những điều cao trọng chứa đựng trong Bí Tích Thánh Thể thì không có gì có thể làm cho con tim của chúng ta được thoả mãn hơn.  Con người nhỏ mọn của chúng ta sẽ không chạy theo của cải, hoặc tham vọng danh tiếng, nhưng sẽ rũ bỏ những bụi đất của thế gian, trả lại cho nó những gì là của nó, và bay bổng về Thiên Đàng.” – Thánh John Vianney

Chuyện kể rằng:

Một ngày nọ, một thầy giáo bước vào lớp và thấy ngay lớp đầy những giấy vụn và lớp thì rất dơ bẩn.  Thay vì tức giận các em học sinh, người thầy tự đi dọn lớp cho sạch sẽ và sắp xếp mọi thứ ngăn nắp.  Sau đó ông bắt đầu dạy cho các học sinh về tầm quan trọng để giữ gìn cho lớp được sạch sẽ và ngăn nắp.  Sạch sẽ là bước đầu tiên của con người dịu dàng.  Sạch sẽ là điều mà mọi người ưa thích, và chúng ta tìm được niềm vui và thoải mái trong môi trường sạch sẽ.  Con người được tôn trọng nếu chúng ta biết giữ sạch sẽ và biết giữ kỷ luật trong cuộc sống của mình.  Sạch sẽ bảo vệ sức khoẻ vì vậy tất cả chúng ta nên ý thức về tầm quan trọng của nó và thực hành là điều cần thiết cho mỗi ngày chúng ta sống.

Vị thầy dạy cho các học sinh về quy luật trong lớp và các em đã biết ý thức hơn và cố gắng giữ cho lớp học của mình được sạch sẽ.

Câu chuyện trên có lẽ rất quen thuộc với chúng ta vì ai cũng muốn sống trong một môi trường vệ sinh, và ngay từ nhỏ chúng ta đã được nhắc nhở về việc giữ gìn vệ sinh để bảo toàn sức khoẻ cho bản thân và những người xung quanh.  Nhất là ở những nước văn minh, sự sạch sẽ là điều rất là cần thiết và con người họ hầu như bị chiếm hữu bởi sự sạch sẽ.

Trong câu chuyện Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng được thuật lại trong Phúc Âm Luca chương mười, chúng ta cũng nhận ra được Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ của Ngài về sự sạch sẽ.

Sự sạch sẽ ở đây không phải là bên ngoài nhưng là trong tâm hồn.  Trước khi đi Ngài dặn dò các ông, khi đến làng nào mà họ đón tiếp các ông thì ở lại đó với họ, nhưng khi ai đó từ chối các ông thì hãy rời nơi đó và phủi trả những gì là của họ kể cả bụi đất.  Thoạt đầu nghe câu chuyện này, có lẽ chúng ta cảm thấy hình như lời dặn dò này không mấy tế nhị, nhưng khi nhìn sâu hơn chúng ta sẽ nhận ra sự khôn ngoan của Thầy Giêsu và những giáo huấn Ngài muốn truyền đến các môn đệ của Ngài.

Nếu chúng ta nhìn lại bối cảnh của câu chuyện, chúng ta sẽ nhận ra ngay các môn đệ đến với mọi người với hai bàn tay trắng vì khi ra đi các ông không mang theo một cái gì, không tiền, không bị, và ngay cả đôi dép cũng không có.  Vậy thì ai là người sẽ đón tiếp các ông?  Đó là những ai có tâm hồn trong sạch, họ biết nhìn và đón nhận các ông với con mắt của con tim trong sạch chứ không phải với con mắt còn vướng bận danh vọng, của cải, và những quyến rũ của thế gian.  Với những tâm hồn đó, Thầy Giêsu đã dặn các môn đệ ở lại và sự bình an của nước Thiên Chúa sẽ ở cùng họ.  Ngược lại với những tâm hồn còn mang nhiều cát bụi của đam mê và lòng họ đang hướng về những gì họ cho là trên hết thì họ sẽ chẳng bao giờ thấy và đón nhận các môn đệ vì các ngài không có những gì con tim của họ đang tìm kiếm.  Và với những con người như vậy, Thầy Giêsu đã dặn các ông đừng để lối sống và cách cư xử của họ làm cho lòng các ông bị giao động, nhưng hãy rời bỏ tất cả, đừng quay lại, đừng trách móc, và cũng đừng nuối tiếc.

Tương tự, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng vậy, chúng ta cần giữ vệ sinh để bảo toàn sức khoẻ cho cơ thể mình và những người xung quanh, nhưng chúng ta cũng cần giữ cho tâm hồn mình được trong sạch khỏi mọi vết nhơ của cuộc sống.  Làm sao chúng ta có thể giữ cho tâm hồn mình được sạch và ai sẽ là người rửa sạch tâm hồn chúng ta?  Để có một tâm hồn sạch, chúng ta phải dành thời gian cho việc cầu nguyện giống như là chúng ta dành thời gian để làm vệ sinh cho cá nhân cũng như môi trường mình đang ở.  Hãy xin ơn để nhìn ra được những dơ bẩn trong tâm hồn và đón nhận một sự thật mà lắm lúc chúng ta không muốn đối diện: chúng ta là một cục đất, và cục đất ấy đang muốn được thánh hoá và gội rửa trong ân sủng của Ngôi Lời Nhập Thể.

Chúng ta dành bao nhiêu thời gian trong ngày để làm vệ sinh, thì cũng hãy dành bấy nhiêu thời gian hoặc nhiều hơn để cầu nguyện và xin ơn để được thánh hoá.  Thời gian riêng mỗi ngày để cầu nguyện và nhìn lại chính mình là điều cần thiết, nhưng khi dọn dẹp hay làm vệ sinh, thay vì chỉ làm những việc ấy thôi, chúng ta có thể vừa làm và vừa thầm thì với Chúa xin Ngài làm cho tâm hồn mình được sạch sẽ.  Chẳng hạn như khi đi tắm, thay vì hát nghêu ngao thì chúng ta có thể lắng đọng và xin ơn để được Chúa tắm cho tâm hồn mình luôn.  Tự chúng ta không thể tắm cho tâm hồn mình nhưng chính Chúa sẽ gội rửa tâm hồn chúng ta.  Cũng như tóc không tự nó có thể làm sạch nhưng chúng ta là người chủ sẽ gội cho tóc sạch như ý chúng ta muốn.  Chúng ta sẽ là người quyết định gội tóc giờ nào, cách nào, và dùng dầu gội gì.  Nếu chúng ta là người biết giữ gìn tóc, chúng ta sẽ biết tóc của mình cần dùng gì và lúc nào cần cắt tỉa.  Còn phần tóc, có lẽ nó chẳng bao giờ kêu ca những gì chúng ta làm cho nó nhưng chỉ biết đón nhận với lòng tri ân vì nó biết chúng ta là người chủ tốt lành.

Chúng ta hãy xin ơn để tâm hồn chúng ta được gội sạch hầu chúng ta không nhìn mọi sự với con mắt còn vướng bận những tham vọng, danh tiếng, vật chất, và quyến rũ, nhưng với con mắt của một tâm hồn trong sạch.  Vì chỉ khi đó chúng ta mới nhìn mọi sự như Chúa muốn chúng ta nhìn.  Đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận con người bất toàn của mình và mong mỏi được ơn thánh hoá.  Xin cho chúng ta biết và tin rằng Chúa là người chủ tốt lành và Ngài sẽ gội và cắt tỉa cho chúng ta được sạch bằng cách tốt nhất cho chúng ta vì Ngài là Chúa và là Thầy của chúng

Củ Khoai

Giây phút cảm động nhất cuộc Tông Du: Một bé gái hỏi ĐTC ”Taị sao Chuá lại để xảy ra như vậy?”

Giây phút cảm động nhất cuộc Tông Du: Một bé gái hỏi ĐTC ”Taị sao Chuá lại để xảy ra như vậy?” 


Trần Mạnh Trác

1/18/2015


“Taị sao Chuá lại để xảy ra như vậy?” là câu hỏi trong nước mắt cuả bé gái 12 tuổi Glyzelle Iris Palomar đặt ra cho Đức Giáo Hoàng.

Em cùng với một bé trai 14 tuổi tên là Jun Chura là đại diện cho những trẻ bụi đời đang được viện ‘Tulay ng Kabataan’ nuôi dưỡng, và là một trong nhiều nhân chứng được chọn để trình bày những hiện trạng và thách đố cuả xã hội lên ĐTC, trong buổi gặp gỡ dành riêng cho thanh thiếu niên, tổ chức tại Giáo Hoàng Học Viện Santo Tomas.

Sau khi kể hoàn cảnh cuả mình là một bé gái bị bỏ rơi và bị vất ra ngoài lề cuả xã hội. Trong cuộc sống bụi đời ấy em đã chứng kiến nhiều đồng bạn bị cha mẹ bỏ bê đã xa vào những cạm bẫy cuả sự dữ, như nghiện ngập hoặc nạn mãi dâm, em đã không thể đọc tiếp bài dọn sẵn và nhìn lên ĐTC, em đặt câu hỏi:
“Bakit po pumapayag ang Diyos na may ganitong nangyayari?” (“Taị sao Chuá lại để xảy ra như vậy?”)

“Tại sao Chuá đã cho phép những sự ấy xảy ra, dù đó không phải là lỗi cuả những đứa trẻ vô tội?”

Em không thể đọc tiếp, nhắm nghiền mắt lại và nức nở khóc.

Cố gắng lắm, em kết thúc bằng một câu hỏi thứ hai “At bakit konti lang ang tumutulong sa amin?” (“và tại sao lại ít có người giúp chúng con như thế ?”)

Người ta đã phải giỗ em trước khi đưa em lên bắt tay ĐGH. Ngài đã đứng dậy, bước xuống nửa đường để ôm em vào lòng.

Hình ảnh một vị Giáo Hoàng cũng rưng rưng nước mắt và em Palomar chôn mặt mình vào lòng cuả Ngài đã lập tức được loan tải rộng rãi trên tất cả các hệ thống truyền thông. Nhiều tờ báo đánh giá đây là giây phút cảm động nhất cuả cuộc Tông Du.

Trong bài giảng, để đáp lời em Palomar, ĐTC đã dùng tiếng mẹ đẻ Tây Ban Nha, là một việc Ngài làm khi cần bày tỏ những tâm tình cá nhân, Ngài nói:

“Em ấy là người duy nhất đã hỏi một câu hỏi mà không ai có thể trả lời được. Và em ấy cũng đã không diễn tả hết được bằng lời lẽ nhưng đã bằng những giọt nước mắt.”

“Tại sao con trẻ có nhiều đau khổ như thế? Tại sao một đứa bé phải chịu đau khổ?” Ngài đặt lại câu hỏi.

“Chỉ khi nào mà một con tim không thể tìm được câu trả lời và bắt đầu khóc, lúc đó chúng ta mới có thể hiểu được,” Ngài nói.

Và ĐTC kêu gọi những người trẻ cần phải học cách để mà khóc.

“Cha mời gọi từng người trong chúng con ở đây hãy tự hỏi mình, rằng tôi đã học được cách khóc chưa, khóc như thế nào? Tôi đã học để mà khóc cho một ai đó bị bỏ rơi bên lề đường chưa? Tôi đã khóc cho một ai đó đang bị nghiện ngập chưa? Tôi đã khóc cho một ai đó bị lộng hành chưa?”

“Đây là điều trên hết mà Cha muốn nói với chúng con: Hãy học để khóc…hãy học, học thực sự để mà khóc, khóc cách nào,”

Ngay cả Chuá Giêsu cũng đã khóc.

ĐTC nhấn mạnh đến cách mà Chúa Giêsu đã phục vụ cho người dân của mình. Ngài đã không sử dụng lòng từ bi của thế gian, như là dừng lại một vài giây để ban phát tiền bạc hoặc những cuả cải vật chất. Nhưng, Đức Giáo Hoàng nói, Chúa Kitô đã dành trọn thời gian để lắng nghe và để thông cảm với người dân của mình.

“Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã khóc,” Đức Giáo Hoàng nói. “Ngài đã khóc cho một người bạn vừa mới chết, Ngài đã khóc trong lòng cho một gia đình vừa mới mất đứa con, Ngài đã khóc khi nhìn thấy một bà goá nghèo đem chôn đứa con trai, Ngài đã rơi nước mắt, động lòng trắc ẩn, khi nhìn thấy đám đông không có ai chăn sóc. ”

Chỉ khi nào chúng ta học cách khóc với những ai đang đau khổ là chúng ta mới có thể bắt đầu hiểu họ và yêu thương họ, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích.

“Nếu các con không biết làm thế nào để khóc, các con không thể là người Kitô hữu tốt,” Ngài nhấn mạnh.

“Chúng ta hãy học cách khóc, như Glyzelle đã làm gương cho chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta đừng quên bài học này. “

Tại sao Thiên Chúa để những gian truân xảy ra?

Tại sao Thiên Chúa để những gian truân xảy ra?

Những gian truân bạn gặp phải có thể làm bạn ngã gục hoặc làm bạn thêm trưởng thành tuỳ thuộc cách bạn phản ứng những gian truân đó.  – R. G. Alexander, Pastor (Why God permits problems)

Những gian truân bạn gặp phải có thể làm bạn ngã gục hoặc làm bạn thêm trưởng thành tuỳ thuộc cách bạn phản ứng những gian truân đó. Thật không may, hầu hết mọi người không nhìn thấy cách Thiên Chúa sử dụng những gian truân bạn gặp là để cho cuộc sống của bạn tốt hơn. Có khi chúng ta phản ứng lại một cách phẫn nộ và dại khờ hơn là tạm dừng lại để xem xét những gian truân đó có mang lại lợi ích cho bạn không? Dưới đây là 5 lý do Thiên Chúa đã cho phép các gian truân xảy đến trong cuộc đời của bạn:

1. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để HƯỚNG DẪN (DIRECT) bạn

Đôi khi Thiên Chúa phải châm lửa vào người bạn để bạn phải thoát khỏi sự thụ động, ươn lười. Các gian truân thường xoay chúng ta qua một chiều hướng mới và thúc đẩy chúng ta thay đổi. Có phải Người muốn tình trạng này xảy ra để làm bạn chú ý? “Vết thương nhức nhối tẩy sạch điều gian ác, và roi vọt thấu đến tận tâm can” (Cn 20,30).

2. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để KIỂM TRA (INSPECT) bạn

Người ta cũng giống như túi trà lọc vậy… nếu bạn muốn biết những gì bên trong, chỉ cần thả chúng vào trong nước nóng! Có phải Thiên Chúa thử nghiệm đức tin của bạn bằng cách cho phép một vài gian truân xảy ra trong cuộc sống của bạn? Các gian truân đó sẽ tiết lộ những gì về bạn? “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn” (Gc1,2-3).

3. Thiên Chúa sử dụng những gian truân để SỬA ĐỔI (CORRECT) bạn

Một số bài học chúng ta học được qua sự đau đớn và thất bại. Giống như lúc còn bé, cha mẹ dặn bạn đừng thò tay vào lò bếp nóng, nhưng có lẽ bạn chỉ kinh nghiệm được điều đó khi bạn bị bỏng da. Đôi khi chúng ta chỉ hiểu được giá trị của một cái gì đó như sức khỏe, tiền bạc, một mối quan hệ… khi đã đánh mất chúng. “Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài. Con coi trọng luật Chúa truyền ban, hơn vàng muôn bạc triệu” (Tv 119,71-72).

4. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để BẢO VỆ (PROTECT) bạn

Một gian truân tưởng là hoạ nhưng lại là phúc nếu nó tránh cho bạn khỏi bị tổn hại bởi một cái gì đó nghiêm trọng hơn. Năm ngoái, một người bạn bị sa thải vì từ chối làm điều gì đó vô đạo đức mà ông chủ đã yêu cầu ông làm. Bị thất nghiệp là cả một vấn đề nhưng nó tránh cho ông khỏi bị kết án và bị ở tù vào năm sau đó, khi những hành động của ban quản lý cuối cùng đã được phát hiện. “Các anh định làm điều gian ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt” (St 50,20).

5. Thiên Chúa cho phép những gian truân xảy ra để làm bạn nên HOÀN HẢO (PERFECT)

Những gian truân, khi được đáp ứng cách đúng đắn, sẽ là những chất liệu xây dựng. Thiên Chúa quan tâm nhiều đến đặc điểm của bạn hơn là sự thoải mái của bạn. Mối quan hệ của bạn với Thiên Chúa và đặc điểm của bạn là hai thứ duy nhất mà bạn có thể mang theo vào vĩnh hằng. “Chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chiụ đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy” (Rm 5,3-4).

Đúc kết lại một điểm: Thiên Chúa không ngừng hoạt động trong bạn, ngay cả khi bạn không nhận ra hay không hiểu điều đó.Nhưng khi gặp gian truân, bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn nhiều và sinh lợi cho bạn hơn khi bạn biết cộng tác với Ngài.

Minh Xuân (st)

41 năm trận chiến Hoàng Sa, ai nhớ ai quên?

41 năm trận chiến Hoàng Sa, ai nhớ ai quên?

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Trà Mi-VOA

19.01.2015

Ngày 19/1/1974, 75 chiến sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hòa đã anh dũng hy sinh trong cuộc hải chiến khốc liệt với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa. Chiến hạm HQ10 bị đánh chìm, 3 chiếc còn lại phải rút lui, và từ đó, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo này.

Lần đầu tiên vào năm ngoái, chính phủ Hà Nội bật đèn xanh cho truyền thông trong nước công khai nhắc nhớ tới sự kiện lịch sử này, với hàng loạt bài viết kỷ niệm 40 năm trận chiến Hoàng Sa.

Thế nhưng, cuộc chiến oai hùng vốn không được sử sách nhà nước ghi nhớ cũng không được lưu truyền cho thế hệ trẻ qua sách vở nhà trường dường như lại tiếp tục bị lãng quên trong dịp kỷ niệm năm nay. Chính quyền không tổ chức các hoạt động kỷ niệm, báo chí nhà nước không đề cập nhiều, trong khi các hoạt động tưởng niệm đơn lẻ của một số tổ chức xã hội dân sự lại bị quấy rối.

Anh Nguyễn Lân Thắng, một nhà hoạt động xã hội dân sự được nhiều người biết đến, chia sẻ ghi nhận:

“Theo ghi nhận của tôi, mấy ngày nay trên các phương tiện truyền thông nhà nước cũng có một vài bài báo nhắc đến sự kiện Hoàng Sa cách đây 41 năm. Đấy là những hoạt động duy nhất về phía nhà nước. Về phía nhân dân, có một số tổ chức hội nhóm của người dân tự kỷ niệm với nhau nhưng không lớn, đông, và rộng rãi như năm rồi vì tình hình đàn áp các tổ chức xã hội dân sự đang trong thời kỳ khốc liệt. Cho nên các cá nhân tham gia cũng dè dặt, kín đáo hơn và cũng gặp các trường hợp như phá vòng hoa viếng, bị gây hấn, bị chửi bới tại hiện trường. Ví dụ sáng nay có một nhóm anh chị em ở Hà Nội ra tượng đài Lý Thái Tổ ngay trung tâm để tưởng niệm trận đánh Hoàng Sa lịch sử, có một số ‘dư luận viên’ giật vòng hoa và các băng-rôn. Đấy là điều đáng tiếc.”

Về lý do sự kiện lịch sử này năm nay bị truyền thông nhà nước phớt lờ, anh Thắng cho rằng:

“Từ trước tới nay, việc truyền thông nhà nước kiểm duyệt, hạn chế đưa tin về những việc liên quan đến tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam với Trung Quốc đã là việc phổ biến. Thế nhưng, đặc biệt trong dịp này, khi đang có đại hội của đảng cộng sản Việt Nam, đây là thời điểm người ta hết sức cân nhắc các vấn đề ‘nhạy cảm chính trị’, tránh động chạm tới Trung Quốc.”

Một trong những sĩ quan trực tiếp chiến đấu và chứng kiến trận hải chiến Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, trung úy Phạm Ngọc Roa phụ tá sĩ quan hải hành, người thường xuyên có mặt trên đài chỉ huy phụ trách khối hàng hải, nói ông hơi ngạc nhiên vì năm ngoái báo chí nhà nước đua nhau đăng bài về sự kiện này nhưng năm nay đột nhiên lại có phần im hơi lặng tiếng trở lại.

Khi được hỏi về các hoạt động tri ân của chính quyền địa phương như tổ chức thăm viếng hay quyên góp hỗ trợ những người lính chiến đấu trong trận chiến đẫm máu Hoàng Sa 1974, trung úy Roa cười buồn:

“Cái này thì không bao giờ có đâu.”

Không những thế, trung úy Roa cho biết, ông còn bị chính quyền địa phương gây khó dễ khi có báo chí hay các tổ chức xã hội dân sự tới thăm hỏi:

“Bên nhà nước gọi tôi lên trách rằng ‘Người ta nói chuyện với anh, chưa được phép của nhà nước. Những ai muốn liên lạc với anh, anh phải trình báo với nhà nước để nhà nước tránh trường hợp anh bị mua chuộc, bị những thành phần phản động lôi kéo. Năm ngoái, tôi cũng bị rầy rà khi phóng viên báo Tuổi Trẻ, đài Lâm Đồng, và nhóm NO-U ở Sài Gòn tới nhà. Họ về rồi một hai ngày sau tôi bị chính quyền xã mời lên, gặp công an xã trên đó. Họ bắt tôi làm kiểm điểm với lý do như vậy.”

Một sự kiện lịch sử quan trọng không được nhà nước tưởng niệm, những anh hùng hy sinh xương máu để bảo vệ biển đảo Tổ quốc không được vinh danh xứng đáng, nhưng những nhân chứng lịch sử ấy, những người trực tiếp tham gia chiến đấu như trung úy Roa không buồn tủi trước sự bất công này:

“Tôi cũng chẳng buồn gì cả. Coi như mình chấp nhận số phận nó như vậy thôi.”

Nhưng ông bày tỏ mong ước:

“Ai cũng mong muốn những người đã đổ máu, những người đã chết hay những người hiện giờ còn sống, hồi xưa tuy họ là ở miền Nam, nhưng họ chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam lúc đó và mãi mãi. Bất cứ một chính quyền nào đó có thể thay đổi, nhưng Tổ quốc Việt Nam là một. Một người lính đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ai cũng muốn được nhà nước chiếu cố về vấn đề này hay vấn đề kia chứ, là con người mà.”

Hà Nội lâu nay cẩn trọng không muốn làm phật lòng nước láng giềng cộng sản anh em Trung Quốc và cũng tìm cách không để chủ nghĩa dân tộc làm ảnh hưởng tới mối quan hệ Việt-Trung.

Họ không còn sợ hãi

Họ không còn sợ hãi

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-01-16

maclam01162015.mp3

toi_khong_so_hai-622.jpg

Hình minh họa chụp từ bìa Cuốn tiểu thuyết Tôi không sợ hãi của tác giả Niccolò Ammaniti.

Photo courtesy of NXBPN

Your browser does not support the audio element.

Mặc dù chính quyền đàn áp tiếng nói của người dân bằng mọi cách nhưng người tranh đấu mỗi ngày lại nghĩ ra một phương pháp mới để tiếng nói của họ vượt ra khỏi sự cấm đoán, bưng bít của chế độ. Điều gì đã thúc đẩy họ vượt qua nỗi sợ hãi này.

Bị dồn tới tận cùng của uất ức

Khi người ta bị dồn tới tận cùng của uất ức thì nỗi sợ hãi sẽ bị đẩy ra xa. Điều này đang thể hiện rất rõ trên những người đang theo đuổi mục tiêu lên tiếng cho toàn xã hội biết những sai trái, bóp nghẹt công luận hay vận động cho một phong trào mà tự nó có thể giải thích tất cả bản chất của sự việc.

Các vụ giật băng tang ghi tên, tổ chức người phúng điếu nếu tên hay tổ chức ấy có vấn đề với nhà nước đang gây phẫn nộ trong dư luận khắp nơi. Điều này động chạm tới truyển thống đạo đức văn hóa của dân tộc và người ta không thể im lặng khi thấy cách hành xử vượt mọi chuẩn mực này.

” Những thằng sĩ quan trẻ chúng nó chưa biết cái gì, chúng nó chưa trải nghiệm cuộc đời nên chưa hiểu nỗi đau, nỗi mất mát của người ta. Nó chưa thấm đạo lý của cha ông.
-Blogger Nguyễn Chí Tuyến”

Vụ mới nhất xảy ra trong đám tang thân mẫu anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, kẻ được nhận diện là một đại tá công an đã lớn tuổi và người phản ứng công khai trên công luận là blogger Nguyễn Chí Tuyến, tức Anh Chí với status nhấn mạnh tới sự thiếu nhân cách này. Anh Nguyễn Chí Tuyến cho biết phản ứng của mình trong việc giật băng tang:

“Những thằng sĩ quan trẻ chúng nó chưa biết cái gì, chúng nó chưa trải nghiệm cuộc đời nên chưa hiểu nỗi đau, nỗi mất mát của người ta. Nó chưa thấm đạo lý của cha ông còn ông đại tá này không thể như những thằng khốn nạn còn trẻ nên tôi không chửi mà ở đây tôi tâm sự thật với ông ấy bởi có thể ngày mai ông ấy sẽ chết. Tầm tuổi của ông ấy thì có thể ngày mai ông ấy sẽ gặp ung thư hay gặp một tai nạn và sẽ chết cho nên tôi nói ra quan điểm có thực chứ không sai một tí nào.”

Khi được hỏi việc nói trực tiếp tới một đại tá công an có tên họ chức vụ hẳn hoi như vậy anh có sợ hậu quả hay không, anh Tuyến cho biết:

Các Bạn trẻ hưởng ứng Phong trào: Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam. Citizen photo.

“Đối với cá nhân tôi tôi đâu có gì phải sợ họ? Tôi không sợ họ từ rất lâu rồi chứ không phải đến bây giờ. Tại sao tôi phải sợ họ? Tôi và các anh em khác đang đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn. Bởi vì xã hội này dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng cộng sản Việt Nam mấy chục năm nay nó quá khốn nạn phải có những người quét nhửng rác rưỡi ấy đi. Hành động của chúng tôi là đem ánh sáng ra cho người dân người ta biết. Nhân dân Việt Nam vốn dĩ mù lòa có mắt như mù có tai như điếc có mồm như câm. Chúng tôi đã nhìn thấy và phải nói cho họ biết vượt qua nỗi sợ, còn đối với những người như chúng tôi có gì phải sợ?

Chúng tôi sẵn sàng lấy cái chết của chúng tôi ra để nếu như chế độ cộng sản này nó sụp đổ thì tôi sẵn sàng lấy thân mình cho nhân dân con cháu chúng tôi cũng như con cháu của những người đang thụ hưởng của chế độ này được có cuộc sống mai sau không bị chà đạp, không chém giết nahu để mà sống mà tồn tại như những con sinh vật, những con vật chứ không xứng đáng như con người. Chúng tôi có gì nghĩ cho cá nhân mà phải sợ?”

Miễn nhiễm sợ hãi

Cái sợ tuy dễ lây nhưng cũng có những con người miễn nhiễm nếu va chạm nỗi sợ hãi hàng ngày nhất là sự va chạm ấy nảy sinh từ việc làm hướng thiện. Anh Huỳnh Công Thuận, một blogger đóng góp rất nhiều trong chương trình giúp đỡ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa do nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài gòn tổ chức. Anh kể lại những chặng đường của mình:

“Trước đó khi đưa ra những phong trào này chúng tôi chịu bầm dập rất nhiều rồi nhưng riết rồi nó cũng quen đi. Thứ hai nữa người ta muốn làm gì mình như muốn bắt, muốn nhốt, muốn ghép bất cứ tội gì thì người ta đều gán cho mình được hết vì vậy bây giờ mình có sợ có tránh có né cũng có được đâu? Đó là sự thật tôi nói thẳng với mấy người công an rồi, muốn bắt, muốn nhốt, muốn bắn là quyền của mấy anh tôi không thay đổi cái đầu của anh được tôi làm đúng với lương tâm thôi nhất là đúng với luật pháp của mấy anh thì tôi cứ làm. Mấy ngày đó họ chận cửa chặn nẻo tụi tôi phải tránh né đi chỗ khác chứ không phải dễ đâu anh.”

” Từ trước đến nay khi đi tất cả mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam chỗ nào khi chúng tôi ngồi hàn huyên hiện tình đất nước thì hầu như người ta không chấp nhận chế độc độc tài toàn trị này.
-Anh Trương Văn Dũng”

Một người khác nữa là anh Trương Văn Dũng, anh nổi tiếng bị công an, côn đồ nhiều lần tấn công nhất trong tất cả những người theo đuổi công việc đấu tranh giúp đỡ dân oan. Anh bị đánh, bị bắt, bị mang vào nhà thương nhiều lần với những vết thương trầm trọng vậy mà vẫn liên tục tham gia bất cứ một phong trào nào nhằm chống lại bất công, chống lại cái ác, bạo lực trên đất nước. Nói về phong trào mới nhất mang tên: “Tôi ghét đảng cộng sản” đang rầm rộ khắp nơi hiện nay anh Trương Văn Dũng chia sẻ:

“Từ trước đến nay khi đi tất cả mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam chỗ nào khi chúng tôi ngồi hàn huyên hiện tình đất nước thì hầu như người ta không chấp nhận chế độc độc tài toàn trị này. Người dân ở đâu bất kể từ Nam ra Bắc ngay cả vùng sâu vùng xa họ đều có quan điểm như vậy nên vì thế chúng tôi mới có chương trình gọi là “Tôi không thích đảng cộng sản”. Đây là mình muốn nói cho toàn dân để người ta hưởng ứng chương trình này, dậy lên phong trào cho mọi người ta thấy thực chất chế độ độc tài toàn trị này, nhất là thời gian rơi vào chuẩn bị đại hội đảng.

Chúng tôi làm việc này khởi đầu vì những người bị đàn áp, bị bóc lột. Những người dân oan bị cướp đất họ rất đồng lòng, hưởng ứng. Tôi hy vọng từ việc làm nhỏ bé của chúng tôi sẽ có sự lan tỏa rộng lớn hơn.”

Anh Nguyễn Chí Tuyến chia sẻ quan điểm của anh về phong trào này:

“Cái phong trào “Tôi không thích đảng cộng sản Việt Nam” thì ngay pháp luật ở Việt Nam mà người ta gọi là củ chuối thì nó cũng không có điều khoản nào nó quy định rằng người dân Việt Nam sinh ra là phải yêu cộng sản Việt Nam cả. Tôi có quyền yêu có quyền ghét có quyền thích ai hay không thích. Chúng tôi muốn dùng cái phong trào này để người dân biết và hiểu rằng ngay cả pháp luật này cũng không có quy định người ta sinh ra phải yêu đảng cộng sản cả.”

Cũng có người chưa bao giờ xuất hiện trước đám đông nhưng lại công bố thư ngỏ với chính quyền trên mạng lề trái vạch trần những sai trái của chế độ. Những khuyết tật ấy phơi ra trước công luận như một cách phản ứng sự trì trệ và làm ngơ trước sự đấu tranh của quần chúng.

Ông Nguyễn Tiến Dân, một viên chức giáo dục bình thường đã có bức thư gửi Chủ tịch nước với lời lẽ không chút sợ hãi. Nói với chúng tôi ông cho biết cũng lo lắng cho bản thân lằm nhưng lo lắng cho vận mệnh đất nước mạnh hơn khiến ông không còn sợ hãi nữa:

“Tôi suy nghĩ rất nhiều cái điều ấy và tôi cũng như nhiều người khác là chúng tôi trăn trở với tình hình đất nước hiện nay. Tôi biết hệ quả nó đến có thể rất nặng nề với tôi thế nhưng tôi cũng như những người khác buộc phải lên tiếng, buộc phải nói những sự thực đắng cay này. Những sự thực mà bây giờ ông Bộ trưởng Quốc phòng, ủy viên Bộ chính trị công khai nói là “ý đảng tức là lòng dân” thì như vậy cay đắng vô cùng cho đảng cộng sản và cho cả dân tộc này nữa.”

Từ xưa tới nay, người trẻ tuổi trong nước ít theo đuổi việc đấu tranh chống bất công vì gánh nặng học hành và miếng cơm manh áo. Nếu sinh viên trong nước lo một thì sinh viên du học lại lo mười. Họ không còn thời gian suy nghĩ bất cứ điều gì khác khi sách vở và tiền ăn học đè nặng tâm trí họ. Nhưng đối với Nguyễn Vũ Sơn, một du học sinh đang theo học tại Oklahoma lại khác, anh công khai sáng tác ca khúc chống lại đảng cộng sản và viết thư gửi cho Đảng và người dân Việt Nam tuyên bố mục tiêu của mình. Anh có sợ không và tại sao lại vượt qua được nỗi sợ hãi ấy? anh Nguyễn Vũ Sơn tức Na Sơn, bút danh của một Rapper chia sẻ:

“Sau khi đắn đo thì em nghĩ là nếu bây giờ mình không làm thì không ai làm hết, không có ai làm chuyện này hết thành ra bây giờ mình làm mà có được thì mừng còn nếu mà không được thì coi như mình đã cố gắng rồi còn nếu chưa cố gắng thì làm sao biết được hay không? Thành tra em cứ làm thôi, ba mẹ có nói thì em cũng rất buồn, phải nói là em rất buồn nhưng mà biết sao được? Nhiều người thân của em, bạn gái em, gia đình bạn gái em, bạn bè em những người rất thân từ bảy tám năm cũng quay lưng với mình.

Một khi đã làm thì chấp nhận hậu quả, em nghĩ như vậy. Nếu như những du học sinh khác cứ cái kiểu sợ không về được thì nó sẽ không đi tới đâu hết. Em cảm thấy là mình cũng có chút tiếng nói trong giới trẻ vì nhiều bạn trẻ nghe nhạc của em thì em nghĩ rằng mình nên dựa vào điều đó để làm gì đấy tốt hơn chứ nếu suốt ngày cũng chỉ lo học rồi về đi chơi hay làm nhạc linh tinh thì nó phí hoài tuổi trẻ và chút tên tuổi của mình.”

Mỗi người một gánh nặng sợ hãi ẩn dấu trong tiềm thức tuy nhiên điều đáng quý ở họ và hàng ngàn người khác là gánh nặng đất nước vẫn đáng gánh vác hơn, có lẽ do vậy mà họ không còn sợ hãi nữa.

Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời.

Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời.

Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại!

(The world is a wonderful place. What goes around comes around!)

1/- Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.
Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.
Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”
Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.
Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.
Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.

2/- Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông  là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây
Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.
Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.
Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm  lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.

3/- Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.
Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.
Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.”
Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.
Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.
Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.
Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn.
Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.
Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”

4 /- Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892. Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.
Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…
Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.
Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.”
Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!)
Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)

Bản chất của Vô Minh & Giác Ngộ (Giác Ngộ “Tự Tánh” trong THIỀN Phật Giáo – Phần 2)

Bản chất của Vô Minh & Giác Ngộ (Giác Ngộ “Tự Tánh” trong THIỀN Phật Giáo – Phần 2)

Giác Ngộ “Tự Tánh” Trong Thiền (33)

Vô minh thực chất là cái gì? Cảnh giới và nhãn quan của Giác ngộ là như thế nào

GIÁC NGỘ “TỰ TÁNH”
TRONG THIỀN  PHẬT GIÁO

(Theo Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng)

PHẦN 1: Thiền Huệ Năng : Thiền là ”Thấy Tánh”

PHẦN 2

BẢN CHẤT CỦA VÔ MINH & GIÁC NGỘ

Giác Ngộ “Tự Tánh” Trong Thiền (6)

1.      Vô minh – Vô Niệm

a.      Bản chất Vô minh

Trong Kinh Bảo Đàn, Vô minh hay được gọi là Hư Vọng là điều mà Huệ Năng cho là nguồn mạch của đau khổ, phiền não trong tâm con người nên cần phải giải trừ Vô minh thì mới hy vọng thấy Tánh. Vô minh có nghĩa là sự dấy lên của một ý nghĩ (tâm) trong ý thức gọi là Vọng Niệm. Vô minh cũng có nghĩa là không sáng, là không được ánh sáng của Tự Tánh chiếu rọi nên dễ rơi vào mê lầm ảo tưởng.[1]

Huệ Năng thường ví “Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng; vì chấp cảnh bên ngoài, nên bị vọng niệm mây đen che khuất, Tự tánh chẳng được sáng tỏ.”[2] Tánh vốn là “cái Một tuyệt đối, thuần nhất, bình đẳng như nhau ở kẻ trí cũng như người ngu” [3]. Cái nhiều là cái phân hóa ra từ điên đảo Vô minh trong tâm thức của ta. Việc làm thiết yếu nhất của việc ngộ đạo Phật Giáo là vận dụng tất cả khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô minh, làm sao để kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm[4]”.[5]

Vô minh thực chất là cái gì? Rõ hơn, Vô minh thật ra chẳng là cái gì cả, bản chất của nó chỉ là một ý niệm do lý trí phân biệt nảy sinh ra trong tâm thức của con người. Cũng như Giác ngộ, Vô minh không có giới hạn về thời gian vì nó không thuộc về thời gian mà là thuộc về Ý chí. Nhưng Vô minh thì ngược hẳn Giác Ngộ, trong khi Giác Ngộ là trở về với “Cái Một” tuyệt đối của Ý chí thì Vô minh là cái thể của Ý chí phân làm đôi khi nẩy ra một cái muốn là “muốn tự biết nó”. Từ đây nảy sinh ra một Ý thức gọi là động niệm phân hóa thành “Chủ” và “Khách”. Với tư cách là “Chủ” (Ý Chí nơi Tự Tánh) vốn đã tự đủ nên muốn thoát tất cả những gì ràng buộc trong mọi ước vọng hiểu biết. Trong khi đó với tính cách là “Khách” (Ý thức) vẫn luôn có cái gì đó không thể biết được, do đó luôn ở trong trạng thái cầu hiểu biết. Cuộc xung đột giữa “Chủ” và “Khách” vì thế là không thể tránh khỏi và cách nào đó Vô minh theo liền kiến thức luận lý như “bóng với hình”. Vì thế, Vô minh ở đây không có nghĩa là thiếu kiến thức hay chưa am tường một lý thuyết nhưng có nghĩa là không nắm được những yếu tố cốt yếu của cuộc sống biểu hiện ra từ Ý chí. [6]

Ở đây, chúng ta cần phân biệt bản chất khác nhau về “cái biết của Ý chí nơi Tự Tánh” (Chủ) và “cái biết của Ý thức nơi lý trí thuần túy” (Khách). Ý Thức (Khách) luôn tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách trực tiếp qua các giác năng, cái biết của Ý thức ở đây chủ yếu là cái biết mang tính kiến thức đơn thuần. Cái biết của Ý thức vì thế là cái biết của Vô minh, cái biết bị tách rời giữa người biết và điều được biết, ngoại giới biệt lập với nội tâm do đó luôn có những cặp mâu thuẫn đối lập nhau xuất hiện. Khi ta tưởng mình biết việc gì thì đồng thời cảm thấy vẫn có việc gì khác mà ta không biết, vì cái không biết luôn nằm sau cái biết dẫn đến là không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Do vậy, cần phải soi lại vào Tự tánh để vượt qua những mâu thuẫn về mặt nhận thức như trên. Không qua khỏi ngưỡng cửa ấy thì tâm ta không bao giờ yên, đời sống trở thành một cực hình không chịu nổi. [7] Huệ Năng cũng từng nhắc đến việc loại trừ ý niệm Chủ (Năng) – Khách (Sở) này: “Ngươi hễ tâm như hư không, chẳng chấp vào Không, ứng dụng vô ngại, động tịnh vô tâm (chẳng tác ý), Thánh phàm đều quên, Năng Sở đều diệt, Tánh tướng như như, thì không lúc nào chẳng phải Định vậy”.[8]

Thật ra, Ý thức thì vẫn là cái có đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó. Ý thức có tài giải quyết những vấn đề thực dụng khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài và có sứ mạng cũng thật xác đáng là chiếu sáng Ý chí trong việc tiếp xúc với ngoại cảnh. Nhưng điểm yếu của Ý thức ở chỗ là thay vì chiếu sáng Ý chí thì nó lại đeo dính thế giới bên ngoài. Các hiện tượng, khái niệm, đối tượng khao khát tìm hiểu vẫn chính là chủ thể cho chính Ý thức. Vô minh là ở việc Ý thức quá dính bén với cảnh trần để thỏa mãn cho chính mình, không còn tin tưởng vào cái biết của Ý Chí nơi Tự Tánh. Ý thức do vậy không thể tự mình quét sạch được Vô minh là thể chất cố hữu của Ý thức, cũng như “gươm thì không thể chặt được gươm”. Vì thế, cần nhấn mạnh rằng, để vượt được bức tường Vô minh không phải là hành vi tri thức của cái biết thuần túy nhưng phải là sự tự ngộ lại Tự Tánh là bản chất đích thật của mình, một sự tâm chứng hiện thực, ngoài tất cả khuôn phép của luận lý. [9]

Ngược lại, khi Ý thức không tự giải thoát được chính mình thì Ý chí với tư cách là Chủ chỉ còn cách là vận dụng hết “khí lực bình sinh” để tự chiếu sáng chính mình. Đó là cái biết từ bên trong của Trí Huệ. Trong Ý chí thật ra ngoài “cái biết” còn có “cái thấy”. Ý chí tự do, tự chủ do đó thấy là “tự thấy”, biết là “tự biết”. Cái biết này vì không còn phân chia Chủ-Khách nên cái biết cũng không còn phân biệt đâu là người biết và điều được biết nữa. Đó mới thật là “cái biết” theo nghĩa cốt yếu nhất. Hễ Ý chí còn bị đánh lừa những gì do nó tạo ra thì Vô minh vẫn còn chiếm ưu thế, vẫn còn phân biệt giữa người biết và điều được biết. [10] Do vậy, vấn đề không phải là diệt trừ Ý thức nhưng ở chỗ là làm sao Ý thức và Ý chí hoạt động trong cùng một thể đến nỗi không còn phân biệt đâu là Ý Chí, đâu là Ý thức nữa. Một khi Ý thức cứ thích tách riêng không tin vào “cái biết tự đủ” nơi Ý chí để tìm thỏa mãn “cái biết” của mình nơi sự vật bên ngoài thì sẽ xảy ra sự xung đột mâu thuẫn nội tại không thoát ra được.

Hiện tượng Ý chí phân đôi như trên được nhắc đến rất nhiều trong Triết lý Ấn Giáo cũng như trong Tâm lý theo bình diện là “Cái Tâm, Cái Ngã hay Cái Tôi phân đôi”. Đây là hiện tượng phân tâm “Tâm thượng sanh Tâm” nghĩa là trên cái Tâm này thêm một cái Tâm nữa. Cái Tâm sau là “niệm” hoặc “tư tưởng”, đó là cái “Tâm thừa” hay “Cái Tôi tâm lý” nên sinh ra mê và khổ. Ở triết Ấn, điều này được diễn tả bằng hình ảnh một “con chim không ăn” (Tự tâm) đứng nhìn “con chim ăn” (Tâm thừa). “Con chim không ăn” là cái “Ngã Tự Tánh” đặc quánh, tự đủ do vậy không cần phải thỏa mãn mình nơi bất cứ cái gì khác nữa. Trong khi “con chim ăn” là cái “Ngã giả” tự tìm thỏa mãn cho mình ở thế giới bên ngoài.[11] Phật Giáo sở dĩ chủ tâm Vô Ngã là muốn xóa đi “cái ngã giả” đó, để chỉ còn lại cái ngã Tự Tánh thôi. Khi đó thì Ngã không còn phân biệt đâu là Ngã hay Vô Ngã nữa. Nếu còn phân biệt như thế thì vẫn còn trong Vô minh vậy.

Cũng thế, sở dĩ Phật Giáo chủ trương diệt dục, diệt ham muốn là diệt đi ham muốn được thỏa mãn của “cái ngã giả” chứ không phải hiểu theo nghĩa tiêu cực là diệt cái Tự Ngã. Diệt đi ham muốn cái Ngã giả vì đó chỉ là những thỏa mãn nơi Vô minh không thực, hậu quả dẫn đến chỉ là đau khổ và thất vọng, vì tất cả chỉ là ảo ảnh nên cũng mau qua, chóng tàn. Cái Tự Ngã vốn tinh tuyền và thật nên không gì có thể đụng chạm đến nó. [12] Thật ra, cuộc chiến để loại trừ cái Tâm giả cũng là trên bình diện tâm tưởng của ta mà thôi, Cái Ngã thật hay giả vốn chỉ là một trong tâm tưởng của ta, vì ta cứ thích phân ra cho rạch ròi nên Vô minh tăm tối là chỗ đó.

Nói cho cùng, Vô minh tự nó không có tội, cũng không là nguồn gốc của tội lỗi. Thế nhưng, nếu ta không thông suốt Vô minh là gì và ý nghĩa của nó là gì trong cuộc sống thì mọi tội lỗi sẽ tiếp nối nhau chằng chịt và tham ái là đầu mối tội lỗi. Ta chỉ có thể chế ngự được khi lý Vô minh được quán chiếu đến tận cùng bằng tâm tưởng của ta nơi diệu lý “Vô Niệm”. [13]

b.      Từ Vô Ngã đến Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tướng

Giáo lý Phật Giáo Đại Thừa có vẻ nhấn mạnh đến vấn đề Vô Ngã nhưng nơi Thiền Môn vấn đề Vô Ngã được thu hẹp lại nơi phạm trù Vô Niệm. “Niệm” là một tư tưởng phát xuất từ thâm tâm mà cũng là một thời gian ngắn nhất (satna). Nhiều người thường nghĩ rằng Vô Ngã là phải xóa đi cái Ngã; không chỉ xóa đi cái Ngã giả mà cái Tự Ngã cũng phải diệt luôn thì mới đạt được trạng thái Niết Bàn[14]. Cũng vậy, ở khái niệm Vô Niệm, họ cũng cho rằng là phải làm sao để tâm trí ta không còn một khởi niệm nào nữa, theo nghĩa của họ thì phải để tâm ta vào hư không vô định… Tất cả những điều này, Thiền môn phủ nhận hoàn toàn và còn cho rằng đây là một sai lầm trầm trọng đưa đến sự ảo vọng và bệnh hoạn, hơn là đưa đến lý Giác Ngộ Niết Bàn. Như ở trên đã bàn về vấn đề Vô Ngã, ở đây chỉ chú ý đến hơn ở vấn đề Vô Niệm.

Theo Huệ Năng, sư giảng rất nhiều lần về điều này:

Sao gọi là VÔ NIỆM? Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn[15], đối với lục trần[16] mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI[17], tự tại giải thoát gọi là hạnh VÔ NIỆM.[18]

Đối với Thiền môn, ý hướng hay ý tưởng từ bên trong là vô cùng quan trọng vì nó sẽ quyết định và chịu trách nhiệm cho tất cả các hành vi và cả vận mệnh ta sau đó. Chắc chắn đã là con người có lý trí thì ta luôn có những ý tưởng trong mình trước một sự việc xảy ra. Ý tưởng đó có thể là xấu hay tốt, cho dù ý tưởng không rõ ràng nhưng cái thâm ý đã bao hàm một cách rõ ràng mà chỉ tự mỗi người mới ý thức cái thâm ý của mình bên trong.

Thông thường, chúng ta được dạy là phải có ý hướng tốt, đừng có ý hướng xấu trước một sự việc gì. Tuy vậy, đối với quan niệm của Thiền môn thì bao lâu ta vẫn còn “tác ý” dù tốt hay xấu thì ta vẫn còn sinh ra “Nghiệp” (Karma nghĩa là tác ý hay Ý chí) dù là nghiệp tốt hay xấu [19]. “Có ý muốn làm mới có hành động, bằng thân khẩu hay ý”. Mà đã tác Nghiệp thì chắc chắn phải có “Báo ứng” (sự đáp trả lại). Điều này giống như ta tác động một lực bằng tay vào tường thì luôn có một lực đồng thời phản lại làm cho tay ta đau.

Ở đây thiền nhấn mạnh không chỉ là tác động bằng hành động nhưng khi ta tác động chỉ bằng một Ý lực thì ta biết chắc sẽ có phản hồi lại một ý lực tương tự sau đó. Vì lẽ đó, nếu còn “nghiệp báo” thì ta vẫn còn luẩn quẩn trong sự “vay trả, trả vay” của vòng Luân hồi nghiệp quả, ta vẫn chưa thật sự thanh thoát và chứng quả Giác Ngộ. Cửa Giác Ngộ của Thiền là phải đạt đến Vô Niệm. Nghĩa là không còn tác ý nữa, dù đó là ý tốt. Việc tốt ta làm là làm điều phải làm thôi, do Tự Tánh thúc đẩy từ bên trong chứ chẳng phải có ý tốt để mưu cầu điều gì cả, mà cũng chẳng cho đó là tốt. Ta cứ ung dung tự tại làm việc của ta vì đó là bổn phận phải làm!

Như thế, ta có thể thấy rằng, Vô Niệm không là đi vào cái hư không trống rỗng vô vị nhưng là trở lại với Tự tánh để hòa làm một với “Một niệm” ở nơi Tự Tánh. Kinh Phổ Diệu có nói: “Bỗng chốc trong Một niệm, bằng Trí Bát Nhã, Phật chứng Vô Thượng Bồ Đề”[20]. Mặc dù, nói là “Một niệm” là không đi vào các thế đối đãi nhị nguyên nhưng cho rằng mọi sự là Một mà thôi thì hiểu là “tất cả là một, và một là tất cả”[21]. Nhưng thật ra, cái ý niệm “Một” đó cũng không được nghĩ hay nói ra mà cũng không phải là cái hư không. Huệ Năng luôn nhắc nhở môn đệ của mình ở điểm này:

Chớ nên nghe ta nói “KHÔNG” mà liền chấp “KHÔNG”. Trước nhất chớ chấp “KHÔNG”, nếu để tâm “KHÔNG” tĩnh tọa là lọt vào “VÔ KÝ KHÔNG” [22]. Ở nơi khác sư còn nói mạnh hơn: “để tâm không mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ, tự xưng là đại, với bọn người này không thể nói gì được vì họ bị rơi vào tà kiến”[23].

Vì thế, “Một niệm” hay “Vô Niệm” nghĩa là chỉ có “hiểu” và “thấy” mọi sự như nó là, không nghĩ ngợi gì thêm, không cho tốt-xấu, hay-dở gì cả, tất cả chỉ là “Một Tuyệt Đối”. Sự việc dù có xảy ra như thế nào thì cứ chấp nhận nó như thế ấy không vội phán quyết là tốt-xấu, thiện-ác. Phán quyết của ta dù như thế nào cũng chỉ là phiến diện, một cứ nơi Tự Tánh thì sẽ được tự do tự tại. Chính điều này mà Thiền không chú trọng nhiều đến lý luận nhưng đề cao sự thinh lặng để chiêm ngắm thôi, cũng không đề cao việc ngồi thiền[24] cho bằng việc giữ tâm mình được thanh tịnh ở Vô Niệm. Đây là điều mà Lão-Trang có nhắc đến là “Vô Vi” hay “Khí hạo nhiên” hay phương Tây thường nói là “Let it be” (hãy để như nó là). Không bàn không nói, cứ để tâm thể thanh tịnh rồi tự nơi mỗi người sẽ tự chứng nghiệm lấy sự đơn sơ tự nhiên của diệu lý Vô Niệm đó.

Từ Vô Niệm sẽ dẫn đến Vô Trụ và Vô Tướng. Huệ Năng chỉ rõ rằng:

Thiền lấy “VÔ NIỆM làm tông, VÔ TƯỚNG làm thể, VÔ TRỤ làm gốc. VÔ TƯỚNG là ở nơi tướng mà lìa tướng. VÔ NIỆM là ở nơi niệm mà chẳng niệm. VÔ TRỤ là bản tánh của con người đối với tất cả sự vật, thiện ác, tốt xấu, kẻ thù, người thân trên thế gian, cho đến lúc bị người nói xấu, khi dễ, đều cho là không, chẳng nghĩ trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ ngoại cảnh.[25]… Không ở nơi cảnh mà sinh tà kiến, nhưng ở niệm phải sinh ở Tự tánh. Niệm của Tự tánh là Vô niệm, tức là đều cho là không. Vô niệm thì khác với niệm tuyệt, tức là không nghĩ gì cả chỉ nhìn vào hư không.” [26]

Vô Niệm tức không khởi niệm phân biệt thì sẽ dẫn đến Vô Trụ. Vô Trụ là không bám dính vào bất cứ gì cả ngay cả ở nơi một ý niệm được gọi là “Không”, một chỉ ở nơi Tự Tánh mà hành động một cách tự do tự tại. Chính ở điều này mà Huệ Năng đã đạt “Đại Ngộ” được Tự Tánh khi nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng về Kinh Kim Cương ở câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” [27].

Vô trụ trong Thiền là trạng thái tự do tuyệt đối, tự do ngay cả đối với ý niệm về Thượng Đế (Vô Trụ Xứ). Nhiều người có vẻ ngạc nhiên về điều này, nhưng thật ra Thiền “không mưu toan bại hoại phá Thánh, bài Thần. Thiền cũng không cốt thấy Thượng Đế hay Chúa y như thực”. Thiền cũng nêu cao ý chỉ là “nhìn vào tạo vật không hỏi đến Đấng Hóa Công. Có thể trong khi hành Thiền người ta bắt gặp Chúa đang đắp nắn vũ trụ nhưng việc ai nấy làm. Thiền vẫn tiếp tục theo đường riêng, Thiền không ỷ lại vào chỗ dựa ấy. Vì thật ra, còn ý niệm thần bí về Chúa là còn có một đối tượng để nắm bắt. Hễ có được Chúa là phải loại trừ những gì chẳng là Chúa. Đó là tự mình đặt giới hạn cho mình, Thiền muốn tự do tuyệt đối.” [28]

Như trên đã nói, Huệ Năng nhấn mạnh đến việc nhận ra “Tự Tánh Siêu Việt” (Chúa) nơi chính mình trước nghĩa là phải bắt đầu từ trong thâm tâm mình đã, nếu không như thế thì việc ta tìm Chúa hay Phật bên ngoài: nơi sự vật, nơi việc cầu nguyện chỉ bằng miệng hay nơi các ý niệm dù là “Cao Vời Siêu Việt” của tư tưởng lý trí, thì chưa hẳn là “Chúa” thật. Nếu ta quá ỷ lại nơi ý niệm của ta về “Chúa” thì cũng chỉ là ảo tưởng nơi việc thờ kính của ta mà thôi.

Quả vậy, nếu Đấng Tuyệt Đối là tuyệt đối thì hơn hẳn với những gì ta nghĩ trong tâm tưởng của mình, vì tư tưởng ta không thể bao quát hết Đấng đó. Chúa mà ta cho là có đó bên ngoài là một Chúa nào giới hạn trong ý nghĩ ta mà thôi. Ý tưởng câu nói mà Thiền hay nhắc đến là “gặp Phật giết Phật” hay “Phật tại Tâm” là như thế, nghĩa là bao lâu chưa nhận ra “Phật Tánh” trong ta thì Phật bên ngoài nhiều lúc chỉ là ngẫu tượng. Vấn đề cốt yếu là ta phải chứng ngộ được Tự Tánh, khi đó ta cứ ở nơi Tự Tánh để thể nghiệm được thực tại cuộc sống của ta là gì, chỉ im lặng trong cái thực tại diệu kỳ không cần phải bàn luận, vì càng bàn luận về Thực tại Siêu hình thì càng mắc kẹt trong thế mâu thuẫn của Vô Minh, lòng ta lại càng thêm khắc khoải, ưu tư. Tự do ngay cả đối với ý niệm về “Đấng Tuyệt đối”, đó là sự “can đảm đến cùng” của Thiền vậy!

Vô Tướng cũng thế, nghĩa là không chấp vào sắc tướng bên ngoài mà nảy sinh những phán đoán đối lập nghịch với Tự Tánh. Dù có thấy điều dữ điều lành rành rành trước mắt thì cũng “chẳng lấy chẳng bỏ”, “chẳng chấp chẳng nhiễm”. Tâm sở dĩ loạn là vì quá chấp tướng, chấp cảnh bên ngoài. Cứ ở nơi Tự Tánh thì bên ngoài “ở nơi tướng lìa tướng, trong thì nơi không lìa không”. Vì nếu chấp vào tướng sẽ gây nên tà kiến còn nếu chấp vào tính “không” thì lại trở vào Vô minh. Đây có lẽ là cái thế gọng kìm thật khó thoát ra được nếu không chứng ngộ được bản chất của Tự Tánh, tức phải dùng Ánh Sáng của Tự Tánh để chiếu rọi Vô minh. [29] Nhìn chung, các tiến trình từ phá bỏ Vô minh đến đạt Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Chấp đều có liên hệ mật thiết với nhau và đều phải phát xuất từ việc Thấy Tánh và chứng ngộ Tự Tánh. Chúng ta sẽ hiểu hơn về thực tại Tự Tánh khi đi sâu tìm hiểu thêm về Bản Chất của Giác Ngộ Tự Tánh trong Thiền.

2.      Bản chất của Giác Ngộ Tự Tánh

Giác Ngộ là một điều tối quan trọng và tinh yếu nhất của Thiền. Đã gọi là Thiền là phải có Ngộ. Không Thiền thì không có Ngộ, không Ngộ thì chẳng phải Thiền. Thiền không Ngộ thì cũng như “mặt trời không có ánh sáng và nắng ấm”, như “tiêu không cay” vậy. Ngộ cũng là lý do tồn tại của Phật Giáo. Yếu chỉ Phật Giáo không gì khác hơn là nội dung của Giác ngộ. Để từ đó ta “sống thân thiết với cảnh giới tự chứng của Người mở đạo”, nhờ tự chứng như thế thì “Phật mới là Phật”. Do vậy, Thiền đi liền với việc tìm sự “Giác Ngộ Tối Cao”, chính đây là trụ cột chống đỡ cho sự tồn tại của Phật Giáo. Thiền được Phật Thích Ca “Tâm truyền” cho Ca Diếp qua câu chuyện “Niêm Hoa vi tiếu”: khi Phật đưa lên một cành hoa trước hội trường, một cử chỉ mà riêng chỉ có Ca Diếp[30] mới nhận ra thâm ý và đáp lại Thầy bằng một cái mỉm cười. Đó là khởi điểm của Đạo Thiền. [31]

a.      Cảnh giới của Giác Ngộ

Cảnh giới của Tự Giác thường được diễn tả bằng các từ ngữ sau: Trí, Huệ (Bát Nhã), Chứng, Ngộ, Thành, Giác, Kiến (Thấy). [32]

Giác (Budhi) hay Bồ Đề là trạng thái tuyệt đối của Tâm, dứt bặt hết phân biệt vọng tưởng hoặc Kiến chấp (cái thấy bị bóp méo do chấp trước theo định kiến). Phật (Budha) nghĩa là người Giác. Giác là thể nghiệm trạng thái kiến chiếu muôn vật trong “Một niệm”. Chỉ có trong “Một niệm” mới có Giác. Để có “Một Niệm” là việc làm thiết yếu của Phật Giáo khi dùng hết khí lực bình sinh để giải quyết vấn đề Vô Minh như trên đã bàn. [33] Niết Bàn (Nirvana) chỉ về trạng thái tâm bặt hết phiền não đồng một thể với Giác nhưng Giác mang sắc thái trí thức hơn. [34] Niết Bàn không nên được hiểu tiêu cực là sự tận diệt cả hồn lẫn xác, Phật không bao giờ ngụ ý Niết bàn nên hiểu như vậy. Niết bàn vẫn mãi mãi gắn liền vào tư tưởng Giác Ngộ. [35]

Trí Bát Nhã là một sự hiểu biết đạt đến tầng cao hơn kiến thức bình thường. Đó là một năng khiếu gồm cả trí và tâm, là một sự kiến chiếu trong Một niệm, không phân biệt chủ thể khách thể gồm thâu trong một Tâm, và Giác là kết quả của nó. [36] Ngộ có nghĩa là tự chứng lấy bằng trực giác một điều rất hiển nhiên ngoài giới hạn không gian thời gian.[37] Giác Ngộ gồm thâu cả Ý chí lẫn Trí thức, là một hành vi trực giác phát sinh từ Ý chí. Ý chí muốn biết nó y như thực (đúng bản chất). Phật Thích Ca ban đầu cũng luẩn quẩn nơi vòng sinh tử và Vô minh không sao thoát ra được trong sự vô vọng. Đó là sự vô vọng tuyệt đối của con đường dụng trí. Sau đó, với tất cả đại hùng lực của Ý chí Ngài đi ngay vào việc đập vào Vô Minh thì cửa mở ra, Ngài đã tự chứng tự ngộ.[38]

b.      Nhãn quan Giác Ngộ

Tinh yếu của Giác Ngộ nơi Thiền còn là mở ra một nhãn quang mới phóng vào cuộc sống và vũ trụ. “Nhãn quang này đòi ta phải vứt bỏ đi nếp nghĩ thông thường, ta nhận ra đâu là lối nhận định khác hơn. Ta thử xem lối nhận định thường có đủ đáp ứng trọn vẹn và rốt ráo những đòi hỏi của tâm hồn ta không? Ta cũng thử tìm xem cái gì hay điều gì khiến ta bị vướng mắc, thiếu tự do để từ đó có tự do hơn, có được cảm giác ổn định và thoải mái hơn. Thiền đề nghị ta làm việc ấy. Đoan chắc có được cái nhìn mới ấy thì cuộc đời sẽ diễn ra trong một khuôn mặt tươi mát hơn, thâm trầm hơn và thỏa đáng hơn. Đó thực sự là một đại biến cố của cuộc đời không dễ gì đạt tới vì đó là một cuộc ‘rửa tội trong lửa’, phải dấn qua vô số thử thách.” [39]

Giác Ngộ nghiêng về “trí hơn là tình, đó là một trực giác phóng thẳng vào bản thể muôn vật, khác với hiểu biết bằng phân tích lý luận”. Đó là “một khám phá ra một thế giới mới, muôn vật sẽ hiện ra dưới một quan điểm hoàn toàn mới lạ, chẳng ngờ. Thế giới sau khi ngộ không còn là thế giới cũ ngày nào, thế giới không bao giờ mê trở lại như xưa. Tất cả tâm thức cũ tưởng chừng như sụp đỗ, mọi mâu thuẫn dị biệt đều dung thông trong cái toàn thể thân thiết và nhịp nhàng”. Giác Ngộ giống như “một cuộc cách mạng đánh thẳng vào toàn diện cuộc sống tái thiết lại toàn thể đời người, đặt lại nền móng cho mọi nhận định liên quan đến cuộc sống. Từ đây, có sự thức tỉnh của một giác quan mới nên ta sẽ xét mọi giá trị cũ đều dưới một quan điểm hoàn toàn mới. Đặc biệt Giác Ngộ tác động mạnh đến đời sống đạo đức và tâm linh, làm đẹp ra, phấn khởi lên, trong sạch lại…”[40] Nhìn chung, Giác Ngộ là kinh nghiệm riêng tư, thân thiết của cá nhân không thể “nói hết bằng lời, tả bằng bút”. Những diễn tả của các Thiền Sư chỉ là thử khơi gợi lên, chỉ cho thấy mà thôi.

Nhìn chung, “nội dung của Giác ngộ thật ra giản dị vô cùng ở bản thể Tự tánh nhưng có sức chấn động kinh khủng đến toàn thể con người. Xét về mặt trí Giác ngộ giúp ta vượt qua những mâu thuẫn, đó là thế kẹt thuộc phạm vi ngôn ngữ văn tự và nhận thức thông thường. Về mặt tâm thức ta chú ý hướng đến việc tái thiết lại phẩm cách con người mình, chú ý đến hơn sự tự do của tâm hồn.”[41] Dầu vậy, hiểu nội dung Giác Ngộ thì chưa hẳn là đã đạt được sự Giác Ngộ. Vượt qua bức tường Vô Minh để đạt được Giác Ngộ Tự Tánh không phải là chuyện dễ dàng ngày một ngày hai như mọi người từng nghĩ về pháp giáo Đốn ngộ. Cái khó là vết hằn của Vô Minh nơi những tham sân si của mỗi người đã bén rễ quá sâu dường như không lay chuyển nổi. Làm sao để bứng bỏ vết hằn đó để con người có hy vọng Giác Ngộ Tự Tánh? Đó là công việc của Đạo Thiền nhắm đến.

Lửa Mới

4/2014

Xin xem tiếp phần 3 vào kỳ tới:
Làm sao để Giác ngộ Tự Tánh?

ƠN HOÁN CẢI + ƠN THIÊN TRIỆU

ƠN HOÁN CẢI + ƠN THIÊN TRIỆU

Từ một chàng trai hư hỏng, cờ bạc, ma túy đến một phạm nhân, rồi thành đan sĩ linh mục, giờ đây chính Lm P.X. Trần An lại hoán cải cuộc đời cho nhiều người giúp họ sống lương thiện, có ích.

Phóng viên Báo điện tử Gia đình Việt Nam đã tới Đan Viện Thiên An ở Huế và gặp Đan sĩ, Linh mục Phanxicô Xaviê Trần Văn An. Cuộc đời linh mục là một hành trình đầy thử thách, gian nan; đầy sự phấn đấu, lòng nhân từ và hồng ân.

Từ tình yêu thương bao la của mẹ

Sinh ra trong gia đình giàu có ở giáo xứ Cầu Rầm (Vinh, Nghệ An), chàng trai Trần Văn An ngày ấy rất khôi ngô và hào hoa.

17 tuổi, Trần Văn An bắt đầu con đường ăn chơi, sa đọa. Học hết cấp 3, cha mẹ cho theo nghề kim hoàn, Trần Văn An trở nên giàu có nhờ buôn bán vàng và đồ cổ. Nhưng chẳng mấy chốc, anh tiêu sạch tiền và sa vào cờ bạc, rượu chè, ma túy.

Hết tiền, Trần Văn An quay sang ăn cắp tiền của gia đình và nhiều người, tham gia băng nhóm xã hội đen, đánh lộn, ăn cắp và hút chích để rồi sa chân vào vòng lao lý, bắt đầu những tháng ngày tù tội khổ đau.

Từ một thanh niên có tương lai tốt đẹp, thành người ăn chơi sa đọa rồi một tù nhân, Trần Văn An còn bị thêm cú sốc khi người yêu “sang ngang”. Tuyệt vọng đến tận cùng, được tha về, anh vẫn chứng nào tật nấy, ngựa theo đường cũ, chẳng bao lâu lại dính vào nghiện ngập.

Chúng tôi hỏi cơ duyên nào khiến Trần Văn An quyết tâm từ bỏ con đường nghiện ngập và trở nên công chính, linh mục trả lời, rằng từ tình thương bao la của mẹ lay động lòng trời.

Khi đang lén lút hút thuốc phiện tại nhà, Trần Văn An bị mẹ phát hiện. Ngước mắt nhìn người mẹ yêu dấu khổ đau, sốc đến tận cùng, anh như bị sét đánh. Từ nội tâm như bật lên tiếng nói, thúc giục anh trở về với mẹ, phải sống tốt để tạ ơn mẹ. Cũng từ đó, trong anh có một quyết tâm lớn là làm lại cuộc đời, anh chạy đến Thánh Địa La Vang (Quảng Trị) nguyện cầu với Mẹ Maria, cầu nguyện Chúa cho anh đủ sức vượt qua cám dỗ của ma túy.

Năm 1992, chính bố ruột gửi Trần Văn An đến ở cùng một cha xứ. Hai năm sau, Trần Văn An gia nhập Đan Viện Thiên An và trở thành Đan sĩ dòng Biển Đức của đạo Thiên Chúa Giáo. Kể từ đó, Trần Văn An dành cả cuộc đời linh mục, đan sĩ của mình để cầu nguyện, giúp đỡ, chia sẻ và mang niềm hy vọng cho biết bao nhiêu người lầm lỡ muốn trở về con đường thiện. Vị linh mục nói: “Chúa đã yêu thương tôi và cứu chữa tôi. Vì thế tôi cố gắng làm một việc gì đó hữu ích cho người nghèo, bệnh nhân và người tội lỗi”.

Tôi hỏi: viết rõ quá khứ như vậy liệu có gì phiền không? Linh mục cười, nói rằng đây là sự thật và khi nói về sự thật cuộc đời mình thì mình đang hòa giải với chính mình đã; mình thấy thanh thản và cũng là để cảm tạ những ơn lành Chúa ban cho mình.

Hơn nữa nếu sự thật này mà chia sẻ được với bao thanh niên lỡ lầm cùng cảnh ngộ với thời trai trẻ của mình thì nên nói, vì câu chuyện này thêm sức mạnh, thêm niềm tin và hy vọng cho họ.

Dự án phát huy sức mạnh nội tâm…

Có một thanh niên tên Q, quê ở Hà Tĩnh, là người đã sống ngoài vòng pháp luật hơn 10 năm chỉ vì trong một bữa tiệc lời qua tiếng lại, dùng dao đâm chết bạn đồng hương rồi bỏ trốn. Người thanh niên này đã đến nhờ linh mục Trần Văn An giúp. Trước thái độ ăn năn của Q, linh mục đã chia sẻ, giúp đỡ, hướng dẫn Q tĩnh tâm, thống hối để nhận ra lỗi lầm của mình và khuyên Q ra đầu thú để nhận được khoan hồng của pháp luật.

Trong bức thư gửi Linh Mục Trần An, Q tâm sự “Thưa Cha, con cám ơn Cha nhiều lắm, nhờ Cha mà giờ đây con sắp được vào tù. Con cảm thấy bình an hạnh phúc lắm, bởi tuy thân xác con ở tù nhưng lương tâm con lại được tự do giải phóng”

Còn rất nhiều, rất nhiều người khác nữa từ thanh niên đến người lớn tuổi, từ người công giáo đến người ngoài công giáo đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm của Linh mục Trần An.

Thấy phương pháp dưỡng tâm, hướng dẫn người nghiện ma túy tĩnh tâm bằng cầu nguyện để tìm ra ý nghĩa đích thực của sự sống, của cuộc đời mình có kết quả rất tốt, tôi hỏi Linh mục Trần An sao không nhân rộng ra. Linh mục cho biết đã vận động được một số bà con giúp đỡ và đang xin chính quyền các cấp cho phép mở “Ngôi nhà tĩnh tâm, hướng thiện”.

Đây là dự án từ thiện về giáo dục hướng thiện, giúp đỡ, dạy nghề cho người nghiện ma túy, giúp họ tìm ra sức mạnh nội tâm để chiến thắng ma túy.

LÊ THÀNH