Việt Nam Qua Ống Kính. Phần 7: Vất vả kiếm sống
httpv://www.youtube.com/watch?v=bXkKl26YWsY#t=31

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Sưu tầm – Bình Luận-Sự Kiện
httpv://www.youtube.com/watch?v=bXkKl26YWsY#t=31
NGUỒN GỐC TÊN SÀI GÒN
Trần Văn Giang
Lời mở đầu :
Sài gòn là thành phố lớn nhất Việt Nam, nằm cạnh sông Sài gòn ở tọa độ 110°45′ Bắc, 106°40′ Đông (hay là 10.75, 106.667); và cách Hà nội 1760 cây số về phía Nam.
Trước khi “bị” người Việt chiếm ngụ vào thế kỷ 16, Sài gòn có tên là “Prey Nokor,” là một hải cảng chính của Cam Bốt. Sài gòn từng là thủ đô của chính quyền thực dân Pháp ở Đông dương, và sau đó cũng là thủ đô của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975. Sau năm 1975, Sài gòn được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh (?)

Tên nguyên thủy theo tiếng Khmer
Tên nguyên thủy của Sài gon là “Prey Nokor” và là lãnh thổ của người Khmer (Cam bốt). Theo tiếng Phạn (Sankrit nagara), Prey Nokor có nghĩa là “thành phố rừng” (Prey = rừng; Nokor = đất, thành phố). Ngày nay nhiều người Khmer ở Cam bốt và cả dân sắc tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu long nhiều khi vẫn còn gọi Sài gòn là Prey Nokor.
Sài gòn tên nguyên thủy theo tiếng Việt
Ngay sau khi người Việt ồ ạt đến mở mang và định cư tại Prey Nokor, thành phố này đã được người Việt gọi là “Sài gòn.” Có rất nhiều gỉa thuyết, tranh luận về nguồn gốc tên thành phố bằng chữ Việt (Sài gòn). Các tranh luận về lịch sử của danh từ “Sài gòn”sẽ được bàn thêm ở phần dười dây.
Trước khi thực dân Pháp đến Việt Nam, triều đình Huế dùng tên chính thức của Sài gòn là “Gia định.” Năm 1862, người Pháp bỏ chữ “Gia định” và thay vào đó bằng chữ “Sài gòn.”
Trên sử liệu (có lưu lại trên qua bản viết, in), người Việt đọc và viết chữ “Sài gòn” thành 2 chữ và 2 âm rõ rệt; tuy nhiên Pháp (và người tây phương) đã “tây phương hóa” 2 chữ “Sài gòn” thành một chữ “Saigon” để cho họ dễ đọc và dễ viết.
Sài gòn theo quan điểm Việt Nam – Trung Hoa
Có người cho rằng chữ “Sài” được mượn từ tiếng Trung hoa (Tiếng Quan thọai đọc là “Chái”) có nghĩa là “củi, cành cây – firewood, twigs…)” còn chữ “Gòn” (tiếng Quan thọai đọc là “Gùn”) có nghĩa là “cọc, cây gậy – stick, pole, boles…) Chữ “Gùn” bị chuyển hóa dần thành ra “Gòn” tương tự như “bông gòn – cotton stick, cotton plant.”
Có người lại cho rằng tên “Sài gòn” phát nguyên từ các cây bông gòn người Khmer trồng chung quanh Prey Nokor mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rất nhiều ở quanh vùng Cây mai, Trương Vĩnh Ký…
Có một điểm lạ lùng là người Hoa sống ở Việt Nam cũng như ờ Trung quốc không dùng tên gọi “Sài gòn” (tiếng Quảng đông đọc là “Chaai-Gwan; tiếng Quan thọai đọc là “CháiGùn”) để gọi “Sài gòn” (mặc dù, như đã nói ở trên, nhiều sử liệu có ghi là người Việt mượn tiếng Trung hoa để đặt tên cho Sài gòn). Chính người Hoa lại gọi “Sài gòn” là “Sai-Gung” (tiếng Quảng đông) và “XĩGòng” (tiếng Quan thọai).
Sài gòn theo quan điểm của người Khmer
Có một số tài liệu của Cam bốt cho là chữ “Saigon” chuyển hóa từ “Sai Con;” Và Chữ “Sai Con” đã chuyển hóa từ tiếng 2 chữ Khmer “Prey Kor” có nghĩa là “Rừng cây Kapok” (prey = rừng; kor = cây kapok). Nên để ý và đừng lầm lẫn chữ “Prey Nokor” và “Prey Ko” (Ko = rừng cây kapok; Nokor – thành phố, đất).
Quan điểm của người Khmer ẩn tàng một ý có mục đích thuyết phục là họ đã có mặt ở đó (Sài gòn) trước khi người Việt đến định cư; tuy nhiên quan điểm này không gỉai thích được là tại sao chữ Khmer “prey” lại đổi thành chữ “Sài.” Bởi vì, hiển nhiên, cách đọc của hai chữ này hòan tòan khác biệt với nhau!
Sài gòn theo quan điểm của người Quảng đông
Một gỉa thuyết đưa ra bởi học gỉa Vương Hồng Sển, một người Việt gốc Hoa ở Sài gòn, là nguồn gốc từ tiếng Quảng đông của danh từ “Sài gòn” lấy từ chữ “Chợ lớn” mà người Quảng đông đọc là “Tai-Ngon” có nghĩa là “bến tầu, cảng” (?)
Tên hiện nay của Sài gòn
Sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản (30 tháng 4 năm 1975), chính quyền CS đổi tên thành phố Sài gòn là Thành Phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) (?) Tuy nhiên, đa số người dân Sài gòn vẫn gọi tên thành phố với cái tên quen thuộc cũ: “Sài gòn.” Ngòai ra, hiện nay, tên “Sài gòn / Saigon” còn được dùng rất nhiều trong sách vở; được dùng cho các tên tựa sách, được dùng đặt tên cho các công ty thương mại.
Lịch sử đất (lãnh thổ) Sài gòn
Khởi đầu Sài gòn chỉ là một làng đánh cá rất nhỏ của người Khmer. Người Khmer đã sống ở đó nhiều thế kỷ trước khi có người Việt đặt chân đến mở mang và định cư. Người Khmer dùng “Prey Nokor” như một hải cảng thuộc về vương quốc Cam bốt.
Năm 1623, vua Chey Chetta II (1618-1628) của Cam bốt đã cho phép những người Việt chạy lánh nạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” đến tạm trú và định cư quanh vùng Prey Nokor. Từ sau khi đó, có rất nhiều đợt di cư rất lớn của người Việt đến vùng Prey Nokor mà vương quốc Cam bốt không đủ mạnh để ngăn chặn họ. Dần dà, Prey Nokor bị biến thành đất đai của người Việt; và sau cùng “Prey Nokor” biến thành “Sài gòn!”
Năm 1698, triều đình Huế (Chúa Minh – Nguyễn Phúc Chu) sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào trấn nhậm vùng đất Sài Gòn-Gia Định. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam. Nguyễn Hữu Cảnh tách vùng đất Sài Gòn-Gia Định (và sau đó là vùng đồng bằng sông Cửu long) ra khỏi vương quốc Cam bốt. Cam bốt vì quá yếu nên không có một kháng cự nào. Nguyễn Hữu Cảnh được xem như những người đi tiên phong trong giai đọan bành trướng lãnh thổ của Việt nam về phía nam và tây nam.
Năm 1859, thành phố Sài gòn bị người Pháp chiếm đóng lần đầu tiên. Cũng bắt đầu từ giai đọan thực dân, người Pháp đã xây dựng nhiều cơ sở, dinh thự theo cấu trúc của văn minh tây phương. Vì vậy Sài gòn còn được gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông,” (the Pearl of the Far East) và “Tiểu Paris” (Little Paris).
Năm 1954, quân Pháp bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ và họ rút lui khỏi Việt Nam. Từ trước đó (năm 1950), thay vì công nhận chính quyền CS, người Pháp ngầm ủng hộ Bảo Đại lập chính phủ và chọn Sài gòn là thủ đô. Kể từ năm 1950 Sài gòn và vùng Chợ lớn (nơi có số rất đông người Hoa tập trung) được gộp chung lại thành một đơn vị hành chánh gọi là “Đô thành Sài gòn.”
Sau khi Việt Nam chính thức được chia làm 2: Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa). Sài gòn là thủ đô của miền nam Việt Nam dưới chính phủ Ngô Đình Diệm.
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, thành phố Sài gòn đặt dưới sự kiểm sóat của CS Bắc Việt.
Năm 1976, sau khi thống nhất quốc gia Viêt Nam xong, CS đổi tên chính thể của nước Việt Nam là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” và đổi tên thành phố Sài gòn thành Thành Phố Hồ Chí Minh. Thực ra, sau 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Sài gòn (và Chợ lớn), tỉnh Gia định và 2 quận ở ngọai ô Sài gòn (thuộc 2 tỉnh khác nhau nằm sát Sài gòn) đã được gộp chung lại thành TP HCM. TP HCM rộng 809 dặm vuông (hay là 2,095 cây số vuông) trải dài từ Củ chi (cách biên giới Việt Miên 20 Km) cho đến Cần giờ gần biển Nam Hải. Khỏang cách từ điểm cực bắc (Phú Mỹ Hưng, quận Củ chi) cho đến điểm cực nam (Long Hoa, quận Cần giờ) là 120 cây số; và từ điểm cực đông (Long bình, quận 9) đến điểm cực tây (Bình chánh, Quận Bình chánh) là 46 cây số. Mặc dù TP HCM là tên gọi chính thức trên giấy tờ hành chánh, nhưng đại đa số người dân sống ở Sài gòn vẫn gọi thành phố qua cái tên quen thuộc là Sài gòn. Chữ “Sài gòn” còn thấy trên bảng hiệu của các cửa tiệm thương mại, ngay cả tại Hà nội, thí dụ như “Saigon thời trang,” “Kiểu Sài gòn…” bởi vì người Việt trong nước hiện nay nghĩ về chữ “Sài gòn” như là một cái gì tượng trưng cho “văn minh, thời thượng…”
Ngày hôm nay, trung tâm thành phố Sài gòn vẫn còn vẻ giữ tráng lệ với các đại lộ có những hàng cây xanh rợp bóng, thanh lịch, với nhiều dinh thự cơ sở có di tích lịch sử được xây dựng từ thời các đời vua Nguyễn, thời thực dân và thời VNCH như Đồn Cây mai (do danh tướng Nguyễn tri Phương xây dựng), nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập (tên mới là dinh Thống Nhất!)…
Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-06-10

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội
Trường hợp xe của người dân bị cảnh sát giao thông thổi phạt, sau đó tạm giữ xe và mang về bãi xe của nhà nước bỏ mặc nắng mưa, xe nhanh chóng xuống cấp, khi bị thu là xe tốt, khi lấy ra là chiếc xe không thể xài được đang làm nhức nhối người dân.
Chuyện này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm đã thành một căn bệnh trầm kha của ngành công an giao thông nói riêng và các ban ngành trực thuộc nhà nước nói chung. Trong thời gian gần đây, tình trạng xe bị tạm giam một thời gian trở thành khối sắt vụn đang làm nhức nhối người dân thủ đô Hà Nội.
Bãi tạm giữ xe cũng là nơi “luộc xe”
Một người tên Thành, sống ở quận Hà Đông, Hà Nội, chia sẻ: “Quá trình xử phạt phải có đầy đủ các thứ, như nơi cất giữ xe. Như việc bắt giữ xe máy là nhằm mục đích buộc anh mang tiền đến nộp phạt. Trái với mục tiêu xử phạt. Cũng như nhà tù là để chặn đứng hành vi của anh chứ không phải để hành hạ. Một khi anh hành hạ người tù cũng như hành hạ chiếc xe trong bãi tạm giữ như vậy thì không còn gì để bàn!”.
Theo ông Thành, trước đây hai tháng, con gái ông bị công an giao thông thổi phạt ở đầu cầu Thắng Long, sông Hồng và bị giữ xe vì lý do không mang theo bằng lái mặc dù cô gái này đã có bằng lái xe gắn máy, có đội mũ bảo hiểm và có giấy tờ xe hẳn hoi. Sau khi kiểm soát một số thứ trong xe, họ kết luận còi xe không đạt tiêu chuẩn, đèn xi-nhan không đạt tiêu chuẩn, mũ bảo hiểm cũng không đạt tiêu chuẩn và mẫu mã xe có sự thay đổi vì có dán thêm decal hình con chim phượng hoàng. Mức phạt lên đến hai triệu năm trăm ngàn đồng.
Vì thất nghiệp, gia đình cũng không mấy thoải mái về tài chính nên con gái ông Thành phải chấp nhận để xe trong bãi tạm giữ của công an, đợi nhận lương hằng tháng, tích lũy đủ mới nộp phạt và mang xe về. Không bàn về chuyện kiểm tra, thổi phạt vô cớ của cảnh sát giao thông khi con gái ông không hề phạm lỗi trong lúc tham gia giao thông, ông Thành muốn nhấn mạnh về tình trạng chiếc xe sau khi lấy ra khỏi bãi tạm giữ của công an.
Theo mô tả của hai cha con ông Thành thì không thể nào gọi đây là bãi tạm giữ xe được mà phải nói chính xác nơi hàng ngàn chiếc xe của dân đang bị phơi mưa phơi nắng để mục dần theo thời gian và là một cái bãi rác thải công nghiệp. Nghĩa là không riêng gì xe máy mà bất kì thứ gì bỏ vào đây đều có thể mục nát bởi cây cỏ um tùm, dộ ẩm cao, không có mái che, kẽm gai và dây leo quấn khắp nơi, xe cộ bỏ chồng chất, đùn ép nhau trong bãi khiến cho lớp vỏ sơn bên ngoài nhanh chóng bị bong tróc, hệ thống dây điện, ống dẫn xăng gặp nhiệt độ cao cũng nhanh chóng thoái hóa, chảy nhựa, làm cho xăng và dầu nhớt chảy ra loang lổ trên mặt đất.

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam
Nói không may, chỉ cần ai đó vô tình để rơi tàn thuốc vào đây hoặc dây điện chập tạo ra tia lửa sẽ lập tức biến bãi xe thành một đám cháy để từ đó lan tỏa khu vực lân cận. Nhìn bãi tạm giữ xe của công an chẳng khác nào bãi rác công nghiệp. Đó là chưa muốn nhắc đến trò luộc xe của nhiều viên công an.
Trò luộc xe này diễn ra không mấy kín đáo nhưng chẳng ai dám nói gì. Một chiếc xe mới toanh với mọi phụ tùng đều chính hãng, khi vào bãi giữ xe, chỉ trong vòng nửa ngày sau, những phụ tùng chính hàng bị tháo mở, thay vào đó là những thứ phụ tùng lô, khi lấy ra, chiếc xe chạy èo ọp, cà rịch cà tàng chẳng giống thứ gì. Và bất kì người nào bị tạm giữ xe cũng vấp phải kinh nghiệm đáng sợ này.
Ông Thành đặt câu hỏi: Vì sao xe ở trong bãi cùa ngành công an mà lại để bị luộc? Ai có thể vào trong khuôn viên quản lý của công an để luộc xe của dân? Liệu công an giao thông và những viên công an có liên quan đến bãi tạm giữ xe này có liên đới, có toa rập với nhau để luộc xe của dân?
Đương nhiên là câu hỏi của ông Thành không có ai trả lời được ngoài các quan chức ngành công an, trong đó, ông Trần Đại Quang Bộ trưởng Bộ Công an và ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vân tải phải là những người có trách nhiệm trả lời với dân bằng mọi giá.
Luật lệ chồng chéo
Một cựu cảnh sát giao thông không muốn nêu tên, đang sống ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, chia sẻ: “Khi làm việc với công an giao thông thì người dân mình nên tự đề nghị họ viết thông tin về tình trạng chiếc xe vào biên bản, giấy tờ để sau này có cơ sở để làm việc với họ. Vì dù mình muốn hay không thì công an cũng nắm quyền trong tay về pháp luật. Cái mà mình có thể trông đợi đó là yêu cầu của người dân về việc minh bạch hơn trong mọi thứ, cần có thông tin rõ ràng, chiếc xe đó ở tình trạng như thế nào để sau này có bằng chứng mà đối chiếu. Luật mình quá chồng chéo…”.
Theo ông này, sở dĩ có chuyện bắt xe, nhốt xe vô tội vạ của công an giao thông, biến một chiếc xe đang đi trở thành chiếc xe hỏng hóc, phá hoại tài sản của dân như vậy là do luật pháp chồng chèo, tham nhũng và chiếm dụng đất vẫn là ung nhọt gây nhức nhối xã hội.
Ở khía cạnh tham nhũng thì miễn bàn, lợi dụng vào sự sơ hở của luật giao thông và người dân thiếu hiểu biết về pháp luật bởi mỗi năm có hàng ngàn văn bản dưới luật ra đời chẳng đâu vào đâu. Ngành công an nói chung và công an giao thông nói riêng đã hù dọa người đi đường để ăn đút lót, nhét tay hoặc làm những phiếu phạt sai luật để thu giữ xe, tạo ra nguồn thu.
Nếu như được nhét tiền hối lộ thì bản thân viên công an giao thông đứng đường sẽ có tiền tươi, trường hợp giam xe, chủ xe nộp tiền vào kho bạc, thì viên công an giao thông sẽ có tiền khác thông qua chuyện luộc phụ tùng xe của dân. Vì chỉ có hai khoản này mới bù lỗ cho số tiền đút lót cho cấp trên khi vào ngành hoặc mua chỗ đứng đường.
Và chuyện giam xe trong bãi là một chỉ tiêu bắt buộc, phải có một số lượng xe nhất định bị giam nhằm đảm bảo khoản thu cho ngân sách ngành và giữ bãi. Trong trường hợp ngược lại, nếu lâu ngày không có xe trong bãi, bãi sẽ bị nhà nước trưng thu để mở rộng xây dựng, bán cho các dự án. Chính vì vậy, chất đầy xe trong bãi, nằm chồng chất với nhau mặc cho mưa dầm nắng cháy, mặc cho chiếc xe rệu rã, hoen gỉ là cách tốt nhất để giữ bãi đất trống cho ngành, cho cơ quan.
Vô hình trung, những chiếc xe phương tiện làm ăn của người dân lại thực hiện đến hai chức năng: Bổ sung ngân sách ngành và ngân sách nhà nước; Làm phương tiện giữ bãi cho cơ quan công an để đến khi cần thiết, họ sẽ biến bãi đất này thành những chung cư hoặc một loại văn phòng nào đó có tính hợp lệ.
Ông cựu cảnh sát giao thông này đưa ra kết luận: Một khi tham nhũng và vô trách nhiệm còn hoành hành thì người dân mãi mãi là những con cá trên thớt!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
Khá mệt vì sức khỏe hạn chế, bạn bè vẫn cố gắng ngồi bên nhau để nhâm nhi ly cà phê sáng. Ngồi với nhau vẫn là những câu chuyện tình đời, có khi là câu chuyện về những mảnh đời bất hạnh và có khi có cả những câu chuyện Tin Mừng.
Hôm nay, anh em lại chia sẻ với nhau về trang Tin Mừng. Tin Mừng hôm nay thật sự quá quen thuộc với mỗi người Kitô hữu. Từ bé, tôi cũng đã nghe đoạn Tin Mừng hôm nay : Bản Hiến Chương Nước Trời. Bảng Hiến Chương Nước Trời hay còn gọi là Tám Mối Thật.
Rất giản đơn để có thể hiểu, Chúa đi thẳng vào vấn đề chứ không phải quanh co theo kiểu cách thế gian thường dùng.
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
Rất dễ hiểu để nhận ra rằng cái phúc mà Chúa nói cho con người đó chính là cái phúc của Nước Thiên Chúa chứ không phải như phúc của con người.
Chia tay anh em về nhà, trên chiếc võng trong phòng đu đưa qua lại, hình ảnh về trang Tin Mừng cũng như những chia sẻ của anh em về cái phúc Nước Trời lại trở lại với tôi trong suy nghĩ rất đời thường.
Chính bản thân tôi, đã hơn một lần hay nói cách khác là đã quá nhiều lần chạy theo cái phúc của thế gian. Vẫn cứ tưởng chừng rằng những lời khen, những lời ca tụng của người đời sẽ làm mình vinh quang, hạnh phúc … thế nhưng, tất cả những lời khen ấy, những cái phúc theo kiểu thế gian mà người ta dành cho nhau vẫn chỉ ở chót lưỡi đầu môi.
Nhiều lần, như một con thiêu thân, tôi cũng đã quên mình để bay vào những cuộc vui. Tưởng chừng những cuộc vui ấy nó sẽ mang lại cho mình sự bình an. Nhưng có lẽ ngược lại, cuộc vui tàn và tôi lại trở về nhà trong căn phòng cô đơn. Chợt nhận ra chỉ còn mình tôi và Chúa và chỉ còn mình Chúa với tôi chứ không còn ai khác.
Bộc bạch của nhạc sĩ Đức Huy cũng thấm thía : “Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi … Rồi cuộc vui tàn, một mình bước đi. Nhiều lần tôi về, nhiều lần ướt mi … Tình Yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng được ơn cứu rỗi …”
Đức Huy đã nói lên chân đích của cuộc đời, rồi cuộc vui nào cũng tàn cả. Những cuộc vui ngay cả với những bậc vị vọng trong Xã Hội cũng như Giáo Hội rồi cũng qua đi. Sau bức phông hào nhoáng của cuộc đời vương giả đó lại là một cuộc đời thật của mình.
Giật mình soi mình trước mặt Chúa và đáy lòng mình, tôi nhận ra rằng chỗ hào nhoáng, chỗ quyền quý cao sang không phải là của mình, đó là chỗ của những người khác. Chỗ của tôi là chỗ của những người khuyết tật, những phận đời kém may mắn, những mảnh đời gặp đầy rủi ro.
Nhìn lại mình, phận mình cũng thế ! gặp nhiều rủi ro nhưng may mắn hơn một số anh chị em tật nguyền đó là nhờ ơn Chúa mà tôi có được ngày hôm nay.
Giật mình tỉnh ra mới thấy được chỗ đứng của mình đó chính là chỗ đứng của những người nghèo khổ bất hạnh. Đứng về phía họ, ở bên họ và ở với họ có lẽ là hạnh phúc hơn với những nơi hào nhoáng sang trọng.
Chia sẻ với những nơi hào nhoáng đó cũng có gì khác hơn là góp phần đánh bóng tên tuổi cho những người hào nhoáng. Chia sẻ với những người nghèo, những nơi lặng thầm không ai biết nhưng có lẽ tình cảm đậm sâu hơn.
Giữa sự chọn lựa để đánh bóng tên tuổi cho người khác hay xoa dịu vết thương lòng cho người nghèo đây ? Thôi thì đứng về phía người nghèo để ít ra cũng được hưởng cái mối phúc quan trọng nhất mà Chúa mời gọi mỗi người chúng ta.
Không phải sống nghèo nhưng phải mang trong mình cái tâm hồn nghèo thật sự để rồi có Chúa đong đầy, có Nước Trời làm gia nghiệp.
Con người, ai cũng thế, có những lần mình chìm trong cái tôi của mình, mình chìm trong cái danh vọng của mình để quên đi căn tính đời mình, quên đi Nước Trời chính là nơi mà mình đi tìm.
Vẫn mang trong mình phần con nhiều hơn phần người, vẫn mang trong mình cái tôi quá lớn để vẫn đi tìm những cái phúc của trần gian. Chỉ có Phúc Nước Trời mới là phúc vĩnh cửu mà thôi.
Lạy Chúa, xin cho con vượt qua cuộc vui của thế gian sống tâm hồn nghèo khó thật sự và sống với người nghèo thật sự để con được hưởng Nước Trời như Chúa đã hứa.
Mic Thanh Châu
Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.
10.06.2015
Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.
Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.
May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.
May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.
May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.
Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”. Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.
Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”.
Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”
Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.
Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.
THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
“Chỉ có Tình Yêu mới đáp đền Tình Yêu” – Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
Trong một cuộc phỏng vấn, Mẹ Têrêsa Calculta đã phát biểu như sau:
Trong 20 năm phục vụ người nghèo, càng lúc tôi càng ý thức rằng: Cô đơn là căn bệnh khủng khiếp nhất của con người. Ngày nay, người ta đã tìm ra được thuốc chữa bệnh phong cùi. Bệnh nào cũng có thể có thuốc để chữa. Nhưng nếu người ta không biết chìa bàn tay ra để phục vụ và không có được một quả tim biết yêu thương thì con người sẽ không bao giờ chữa lành được căn bệnh khủng khiếp này.
Ai cũng đã hơn một lần hiểu được thế nào là cô đơn: một đứa bé rời gấu áo mẹ để cắp sách đến trường, một người ngoại quốc đặt chân đến một xứ sở xa lạ, một người bệnh nằm liệt giường lâu năm, một người tàn tật bị hạn chế trong các quan hệ với người khác v.v… Có lẽ không ai thoát khỏi sự cô đơn.
Chính Chúa Giêsu cũng cảm nghiệm sâu sắc niềm đau ấy. Mang lấy thân phận con người, chia sẻ khổ đau với con người, Ngài cũng không thoát khỏi cô đơn. Nỗi niềm ấy đã dâng cao trong nhiều giờ phút cuối đời Ngài khi bị treo lơ lửng trên không, làm trò cười cho những người xung quanh, Chúa Giêsu lại còn cảm thấy như bị chính Chúa Cha bỏ rơi. Ngài đã đi đến tận cùng sự cô đơn của con người. Nhưng cũng chính trong những giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta chân lý tối hậu của Kitô giáo. Chân lý đó là “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Qua thái độ tin phục và tín thác, Chúa Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta thấy rằng: Chỉ trong Thiên Chúa Tình Yêu, con người mới tìm gặp được bản thân và thắng vượt được sự cô đơn.
***********************
Qúy vị và các bạn thân mến,
Hôm nay lễ Trái Tim Chúa Giêsu. Năm 1698 – Tám năm sau ngày Thánh nữ Magarita Maria Alacoque, một nữ tu thuộc Dòng Thăm Viếng tại Pháp quốc qua đời, người ta khám phá được một tập sách có tựa đề: Tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu. Tập sách đã khơi dậy những tâm tình sốt sắng của nhiều người Pháp đương thời đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Năm 1765, theo nhu cầu của hàng giáo sĩ, Giáo Hội tại pháp đã cho thiết lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Điều đáng ghi nhận là lễ này được phát sinh vào thời kỳ được mệnh danh là Thế kỷ của Ánh sáng. Ánh sáng mà các triết gia của thế kỷ 18 đề cao chính là ánh sáng của khoa học và lý trí. Nhiều người nhân danh lý trí để bác bỏ mọi tình cảm đạo đức và ngay cả niềm tin. Do đó, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là một nhắc nhở cho con người thời đại về Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu vượt qua mọi lý giải của khoa học và lý trí của con người. Triết gia Pascal đã nói như sau: “Chính trái tim cảm nhận được Thiên Chúa, chứ không phải lý trí.” Đức tin là thế đó! Thiên Chúa cho anh trái tim chứ không phải lý trí để cảm nhận được Ngài. Phép lạ của Con Một Thiên Chúa chính là trở thành người anh em của chúng ta, với một trái tim nhạy cảm đối với nỗi khổ đau của chúng ta. Sự mới mẻ mà Chúa Kitô đã mang đến cho nhân loại là đã tỏ bày cho chúng ta một Thiên Chúa với một trái tim biết đập bằng những nhịp đập của trái tim con người.
Đó là tất cả lý do tại sao Giáo Hội không ngần ngại khẳng định trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng rằng: “Vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của con người cũng chính là vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của Giáo Hội.” Giáo Hội chỉ có thể trung thành với Chúa bằng cách chia sẻ hoàn toàn cuộc sống của con người mà thôi. Chỉ bằng một sự cảm thông và chia sẻ như thế, Giáo Hội mới có thể tỏ bày Trái Tim của Chúa Giêsu, hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa. Trái Tim của Chúa Giêsu là một trái tim biết rung lên những nhịp của lắng nghe và cảm thông.
Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta chờ đợi và nhận biết gương mặt của Thiên Chúa trong mỗi người anh em chúng ta, nhất là những người mà khổ đau làm cho biến dạng.
Với một trái tim ấy, Ngài cho chúng ta hiểu được rằng: Chính Thiên Chúa là Tình Yêu.
Với trái tim ấy, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đáp trả lại Tình yêu của Thiên Chúa bằng chính Tình yêu của chúng ta dành cho người anh em.
Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng và phó thác vào Tình yêu vô biên của Thiên Chúa.
***********************
Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, Ngài đã cho chúng con một quả tim mới, một Thần khí mới, xin dạy
con biết yêu như Ngài đã yêu để đền đáp lại tình yêu mà trái tim Ngài đã dành cho con.
Sưu tầm
(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
“Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết, nhưng tôi muốn con tôi được sống”. Đó là lời của bà Suzanna sau khi được cứu trong trận động đất ở Armêni vào tháng 12/1987. Trong số hàng ngàn người bị vùi lấp dưới đống gạch, có hai mẹ con bà Suzanna may mắn còn sống sót. Cô con gái bốn tuổi đòi uống nước. Tìm đâu ra nước khi hai mẹ con không có lối ra? Tình mẫu tử đã gợi lên cho bà một ý nghĩa táo bạo, đó là rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút. Đứa bé đã đỡ khát nhờ máu người mẹ. Nó đã sống cho đến khi cả hai mẹ con được cứu.
Câu truyện trên giúp chúng ta hiểu phần nào bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đã chết để chúng ta được sống. Ngài chấp nhận chịu đổ máu qua cái chết thập giá và Ngài lấy Thịt Máu Ngài làm lương thực nuôi sống chúng ta.
Chính trong bối cảnh lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể, bí tích của Giao Ước mới: Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ, đó là cử chỉ thuộc nghi thức bữa tiệc Vượt Qua (x.Xh 12,26-27). Nhưng lời mời gọi: “Các con hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy”, Chúa Giêsu đã biến đổi ý nghĩa của cử chỉ thuộc lễ Vượt Qua cũ, và làm cho nó trở thành cử chỉ của riêng Ngài. Cả lời Chúa phán trên chén rượu cũng vậy: “Này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Lời này đã gợi lại Giao Ước Sinai, nhưng ở đây giao ước không còn được niêm ấn bởi máu chiên bò, mà là máu của chính Con Một Thiên Chúa, máu có hiệu lực thanh tẩy tội lỗi (Bđ. 2)
Hơn nữa, nếu trong lễ Vượt Qua, người ta cùng ăn thịt con chiên chịu sát tế, thì cử chỉ Chúa Giêsu bẻ bánh, trao cho, ám chỉ thân xác Chúa bị xâu xé, hiến cho người khác, và lời nói: “Máu Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người…” lại càng làm nổi bật ý nghĩa hy tế của lễ Vượt Qua mới, tức là Bàn Tiệc Thánh Thể. Nói cách khác, dưới hình thức bánh rượu, Chúa Giêsu đã thể hiện trước, đã cảm nếm trước cuộc vượt qua của chính Ngài, tức là cuộc khổ nạn và Phục Sinh sẽ xảy ra hôm sau. Ngài biến cái chết thành hy lễ cứu độ đem là sự sống, thành quà tặng và lương thực siêu nhiên cho tất cả những ai tin vào Ngài. Nhờ đó, các môn đệ Chúa Giêsu khi ăn bữa tiệc này, đã được dự phần vào Giao Ước mới, được hiệp thông với Ngài trong biến cố chết và sống lại, được cùng với Ngài đi từ cõi chết vào cõi sống muôn đời. Và cũng từ đó, qua muôn thế hệ, mỗi lần cử hành Thánh Thể, một mặt Giáo Hội tái diễn và hiện tại hoá cuộc hiến tế của Chúa Giêsu để nhớ đến Ngài; mặt khác, Giáo Hội lại hướng về tương lai, hướng tới ngày Chúa đến t
rong vinh quang để đưa chúng ta vào dự bàn tiệc Nước Trời, bàn tiệc viên mãn đã được khơi mào từ Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay.
Theo lời Chúa truyền dạy: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24b), mỗi ngày và đặc biệt trong ngày Chúa Nhật, Giáo Hội cử hành Thánh Thể để nhắc con cái mình nhớ đến tình yêu của Đấng đã hiến mạng sống vì nhân loại, Đấng ấy vẫn đang hiện diện để trao ban cho nhân loại bánh sự sống là chính Mình Máu Ngài. Vì thế, khi tham dự Thánh Lễ, tôi không hiện diện như khán giả xem một vở kịch, cũng không phải chỉ nhớ đến một kỷ niệm trong quá khứ không liên hệ gì đến cuộc sống thực tế, nhưng là hiệp thông sự sống với Chúa Kitô, là chia sẻ hy tế thập giá của Ngài và cùng với Ngài tôi hiến dâng thân mình làm lễ tế sống động đẹp lòng Thiên Chúa (x. Rm 12,1). Do đó, khi tham dự Thánh Lễ, tôi không lập đi lập lại những cử chỉ, những động tác theo thói quen, nhưng tôi hiến dâng cho Chúa niềm vui nỗi buồn, những lo âu và hy vọng, những tâm tư thao thức của tôi. Nói chung là tất cả những gì đan dệt nên cuộc sông đời thường đều có thể trở thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa, những hy lễ như dấu chỉ tình yêu của tôi nhằm đáp
trả Đấng đã yêu thương đến nỗi hiến ban chính Con Một yêu dấu cho tôi.
Mặt khác, Thánh Thể không chỉ tạo mối tương quan ân tình giữa Chúa và cá nhân tôi, nhưng còn mờ rộng, bao trùm mọi người. Thật vậy, bí tích Thánh Thể đã được Chúa Giêsu thiết lập trong bầu khí thân tình của một bữa ăn từ giã. Tấm bánh Chúa Giêsu đã cầm và phân chia cho các môn đệ chính là bánh của bữa ăn hằng ngày nơi Ngài sống. Chén rượu cũng vậy, và bánh ấy, rượu ấy, đã được biến đổi thành Mình Máu Ngài. Do đó mầu nhiệm Thánh Thể còn là mầu nhiệm chia sẻ, chia sẻ để mọi người cùng ăn cùng uống trong tình huynh đệ, và chính việc chia sẻ này đã được Chúa Giêsu dùng như dấu chỉ các môn đệ làm để nhớ đến Ngài: Hai môn đệ đi Emmau đã nhân ra Đấng Phục Sinh và chính lúc Ngài “cầm lấy bánh chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho hai ông…” (Lc 24,30-31).
Ý thức chia sẻ đòi buộc mỗi người chúng ta không được đóng khung nhưng buổi cử hành Thánh Thể bên trong nhà thờ, nhưng phải sống mầu nhiệm Thánh Thể, mầu nhiẹm yêu thương ngay trong cuộc đời mỗi ngày. Chúng ta cũng không thể cử hành Thánh Thể một cách trung thực, nếu chúng ta sống dững dưng ích kỷ, bưng tai bịt mắt trước nhưng anh em đói khát khốn cùng, đòi khát cơm bánh vật chất, nhất là đói khát công lý và tình thương.
Giờ đây, chúng ta sắp cùng nhau chia sẻ Bàn Tiệc Thánh Thể, chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô, Đấng đã hiến cả cuộc đời mình nên của lễ tình yêu. Xin Chúa giúp chúng ta, một khi đã hiệp thông với Ngài, thì cũng biết thông hiệp với anh em bằng cuộc sống yêu thương phục vụ, Có như thế, Bàn Tiệc Thánh Thể sẽ trở nên điểm hẹn diệu kỳ, nơi đây chúng ta được nối kết với Chúa Kitô, thông chia cùng một sự sống với Ngài. Nơi đây, chúng ta nối kết với mọi người anh em, để cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng, yêu thương, đang lúc chờ đợi Bàn Tiệc hạnh phúc vĩnh cửu trong vinh quang Nước Trời.
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

Sau chiến thắng của U23 Việt Nam, trong sự phấn khích cao độ, hàng nghìn người hâm mộ Hà Nội đã xuống đường tỏ nỗi vui mừng ngày 3 tháng 6, 2015
Có những dịp đông đảo người Việt tràn ra đường để bày tỏ cảm xúc hay ý kiến riêng được chính quyền để diễn ra một cách tự do, thoải mái. Trong khi đó có những nhóm người dân tập trung lại bị cơ quan chức năng thẳng tay giải tán.
Tại sao lại có tình trạng như thế?
Đám đông tự do ăn mừng thắng lợi bóng đá!
Nhiều ngưởi hâm mộ bóng đá Việt Nam tại Hà Nội và Sài Gòn vào tối ngày 2 tháng 6 vừa qua lại được dịp đổ xô xuống đường với cờ xí, băng rôn, giải đeo trên đầu … để ăn mừng thắng lợi của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam 5-1 trước đội Malaysia trong trận tranh chiếc vé vào vòng bán kết Sea Games 28.
Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ để người hâm mộ được dịp bày tỏ sự sung sướng tột độ về chiến thắng mà những cầu thủ đội nhà đem đến cho họ. Đối với nhiều người đó cũng là một niềm ‘tự hào dân tộc’ vì thành tích vẻ vang trước đội mang ‘màu cờ, sắc áo’ của một quốc gia khác.
Thực lực đội nhà!
Để có được chiến thắng làm nức lòng người, nhiều nước đã phải đầu tư lâu dài cho các thế hệ cầu thủ từ khi còn nhỏ. Tiếp đó trong suốt quá trình đào tạo cho đến khi được tuyển chọn để đi thi đấu, ngân sách quốc gia cũng phải được chi ra cho việc rèn luyện, bồi dưỡng, thuê huấn luyện viên… với mục tiêu giành chức vô địch trước nước khác để mang vinh quang về cho nước nhà.
Một thành viên của CLB bóng đá No-U FC tại Hà Nội, anh Lã Việt Dũng nói về thắng lợi mà đội U23 Việt Nam đạt được vừa qua:
“Tôi thấy thắng lợi cũa đội U23 Việt Nam không phải đùng một cái họ thắng mà là một quá trình. Tất nhiên nó xuất phát từ việc đào tạo cầu thủ trẻ của Việt Nam, đặc biệt là Hoàng Anh Gia Lai, Học viện Hoàng Anh Gia Lai họ cũng đào tạo ra được một lứa cầu thủ bài bản. Nhưng theo tôi thấy về vấn đề chuyên môn thuần túy thì đó vẫn chưa là bền vững. Bởi vì Việt Nam còn đang trong vùng trũng của Đông Nam Á, mà Đông Nam Á còn là vùng trũng của thế giới nữa. Cho nên chiến thắng đối với đối thủ trong vùng chưa là gì cả so với thế giới. Thứ hai về phát triển của bóng đá Việt Nam thì chúng tôi chưa thấy có ‘chiều sâu và chiều rộng’ vì những đội bóng, doanh nghiệp làm được như Hoàng Anh- Gia Lai rất ít.
” Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ “
Theo tôi nghĩ vấn đề ở đây là kinh tế Việt Nam chưa được phát triển; và bản thân các doanh nghiệp tư nhân chưa có điều kiện để đầu tư vào bóng đá.
Các môn thể thao khác còn tệ hơn bóng đá. Mặc dù Sea Games đang diễn ra, có thể Việt Nam giành được khá nhiều huy chương vàng. Ngoại trừ bơi lội và những môn điền kinh cơ bản ra ( mà không được nhiều lắm) thì những môn như bi sắt, đấu kiếm không phải là những môn thể thao mang tính cơ bản của người Việt Nam. Nền thể thao Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều. Đó chưa phải gì là thành công cả!”

Cuộc biểu tình phản đối chính quyền TP Hà Nội chặt hạ 6.700 cây hồi tháng 4 vừa qua đã nhanh chóng bị công an đàn áp dã man
Cùng chia xẻ ý kiến của anh Lã Việt Dũng, nhiều người Việt Nam cũng thừa nhận việc chạm đến chiếc cúp vàng bóng đá trong khu vực vẫn còn là niềm mơ ước của họ. Có lúc tưởng chừng gần chạm vào lại bị vuột mất!
Trong lần tham gia Sea Games 28 do Singapore đăng cai năm nay, Việt Nam cũng chỉ đặt mục tiêu lọt vào nhóm các nước đứng đầu như trình bày của ông Hoàng Vĩnh Giang, phó chủ tịch Ủy ban Olympic Châu Á đồng thời là phó chủ tịch thường trực Ủy ban Olympyc Việt Nam sau đây:
“Việt Nam căn cứ vào khả năng của mình ở những môn trọng điểm đầu tư. Người ta tổ chức 36 môn, Việt Nam chỉ tham gia 26 môn thôi và mục tiêu cũng chỉ đạt tốp đầu!”
Sách lược khi cấm, khi thả!
Theo nhiều người thì việc bày tỏ vui mừng trước thắng lợi của đội bóng đá nước nhà như một niềm tự hào dân tộc thì không có gì là qúa đáng và đây là tình cảm tự nhiên của con người. Dân chúng những nước khác cũng hành xử tương tự khi đội đại diện cho quốc gia họ giành được những thành tích thể thao trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, theo những người luôn đau đáu với tình hình đất nước hiện nay tại Việt Nam, còn có những ưu tiên khác cần phải để cho dân chúng bày tỏ ý kiến một cách công khai như phải cùng nhau xuống đường để lên tiếng phản đối Trung Quốc có những hành động ức hiếp Việt Nam. Một nhà hoạt động tại Việt Nam, anh Nguyễn Lân Thắng bày tỏ ý kiến về thắng lợi của đội tuyển U23 Việt Nam và đưa ra nhận định về hành xử của chính quyền trước việc để cho người hâm mộ bóng đá được thoải mái có những hành vi bộc phát ăn mừng chiến thắng; trong khi lại mạnh tay đối với những nhóm tập trung lên tiếng vì bất công xã hội, vì đât nước lâm nguy:
“ Trước hết tôi cũng thấy rất vui khi đội tuyển bóng đá Việt Nam có một chiến thắng giòn giã trước Malaysia. Nhưng nhìn xa hơn một chút, những chiến thắng này chỉ trong lĩnh vực thể thao; cái điều mà theo tôi nghĩ người dân Việt Nam cần hơn là chiến thắng trong cuộc sống, chiến thắng trong lao động, trong chính những điều cần thiết hơn rất nhiều ở trong cuộc sống.
” Tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt
anh Nguyễn Lân Thắng”
Thế còn việc Nhà nước để cho những hoạt động ăn mừng chiến thắng, rồi đổ ra đường, rồi chạy xe cả đêm… Vấn đề đó ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn vậy: tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt.”
Anh Lã Việt Dũng cũng có ý kiến về điểm này:
“Không những Nhà nước cho những hoạt động như vậy, mà họ còn mong và chờ những cơ hội như vậy để họ cải thiện hình ảnh. Ví dụ như trận bóng đá giữa Việt Nam và Malaysia vừa rồi tôi thấy có cả ca sĩ Phương Thanh rồi hoa hậu, á hậu được họ tài trợ sang. Những ai theo dõi bóng đá Việt Nam gần đây thì thấy có những câu lạc bộ cổ động viên mà tôi có cảm giác như là dư luận viên để đánh bóng thành công nhất thời của thể thao Việt Nam để người dân họ có thể quên đi những cái bất cập xã hội khác. Và cũng rất logic khi có một sự kiện chiến thắng thể thao như vậy, thì chính quyền bật đèn xanh, cổ vũ mọi người ăn mừng làm như Việt Nam ta đây cũng rất là giỏi, cũng rất yêu nước; trong khi những sự việc xảy ra mà những người có tâm tư, có quan tâm đến tình hình đất nước hơn một chút họ rất lo lắng như tình hình về Biển Đông, tình hình về kinh tế- chính trị- xã hội thì chính quyền Việt Nam lờ đi và thậm chí ngăn cản người dân bày tỏ ý kiến.”
Thực tế vào năm ngoái cho thấy ngay cả trong lúc tình hình căng thẳng giàn khoan 981 của Trung Quốc được ngang nhiên cho hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; có những cuộc biểu tình ‘phản đối’ được cơ quan chức năng tổ chức trong trụ sở cơ quan, trong khi đó những cuộc tuần hành của người dân đã bị ngăn trở và cuối cùng bị dẹp.
KHIÊM CUNG
(Giáo dục thời VNCH)
Mạnh Kim
Mở đầu: “Xin được mạn phép…”
Kết thúc:”Có điều gì sai sót, xin niệm tình thứ lỗi.”
Tôi vẫn tin, một cách cực đoan, rằng chỉ có nền giáo dục tử tế mới có những con người tử tế và biết cách khiêm cung, biết cách giới hạn lòng tự tôn và biết cách kiểm soát bản thân trước những lời khen. Chẳng có gì nhanh chóng đẩy chúng ta xuống vực bằng cách thỏa mãn sự vuốt ve lẫn sự tự vuốt ve. Giới học giả trước 1975 tại miền Nam gần như chẳng ai phách lối coi mình là cái rốn của vũ trụ, kể cả triết gia cực ngông Phạm Công Thiện.
Sự khiêm cung thể hiện ở ngay trong tác phẩm họ soạn hoặc dịch. Trong “Nam Hoa Kinh” (Tủ sách Tân Việt xuất bản, 1962), dịch giả – cụ Nhượng Tống – viết lời mở đầu: “… Tôi mong các bạn sẽ phân-tích và được chịu những lời dạy-bảo cao-minh. Tài học tôi có lẽ chưa đủ hiểu hết phần cao-siêu trong học-thuyết Trang và chưa đủ quyền nói đến những chuyện mà phạm-vi là “vô cực”…
Trong “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam” (NXB Hiện Tại, 1959), Linh mục Mậu Hải viết lời giới thiệu cho tác giả-Linh mục Nguyễn Hồng: “… Nhưng trí một người có hạn, óc cá nhân có mức nên tác giả cũng như kẻ cầm bút viết mấy lời này vẫn thành thực thầm ước được nghe lời chỉ giáo của chư độc giả bốn phương”. Và trong “Việt Nam Văn học Sử yếu” (Trung tâm Học liệu, Bộ giáo dục VNCH, 1968), cụ Dương Quảng Hàm viết: “…. Quyển sách này còn có nhiều chỗ thiếu-thốn sơ-lược, sau này cần phải bổ-khuyết hoặc giải-thích thêm…, ngõ-hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm-rạp, thì thật là hân-hạnh cho chúng tôi lắm”.
Mà không phải trong giới nghiên cứu học thuật mới có sự khiêm cung. Trong khoa học cũng tương tự. Có thể thấy điều này trong giới khoa học thuộc cộng đồng Việt kiều. Chúng ta đã nghe nói đến kỹ sư Đinh Trường Hân (đoạt giải môi sinh của Nhà Trắng năm 2006, được tạp chí Public Works chọn là một trong 50 nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ năm 2006); từng nghe nói đến bà Lê Duy Loan (kỹ sư Texas Instruments-TI; với hàng chục bằng sáng chế; trở thành phụ nữ đầu tiên và là gương mặt châu Á đầu tiên được bầu làm viện sĩ TI – chức danh trước đó chỉ được trao cho bốn gương mặt nam trong lịch sử TI); từng nghe nói đến bà Dương Nguyệt Ánh (tổng giám đốc Phòng khoa học-kỹ thuật thuộc Trung tâm chiến sự Hải quân Hoa Kỳ, người thiết kế bom cực mạnh chuyên phá hầm bêtông); từng nghe nói đến ông Trung Dũng (tiến sĩ khoa học máy tính Đại học Boston; cử nhân toán và khoa học máy tính Đại học Massachusetts; từng xuất hiện trên các tạp chí Forbes, Financial Times, Wall Street Journal, San Francisco Chronicle cũng như trong quyển The American Dream của nhà báo kỳ cựu Dan Rather)… Chúng ta đã nghe về tài năng của họ. Điều chúng ta chưa nghe đến là thái độ vung vẩy ngạo mạn lố bịch của họ. Có lẽ điều đó không bao giờ xảy ra.
Gần đây, trong chương trình “Tôi Là Người Việt Nam”, cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên cũng kể đến trường hợp ông Trịnh Tiến Trinh, người dù từng được giải “NASA’s Inventor of The Year 1992″ nhưng vẫn thấy… “mắc cỡ” khi được ông Nguyễn Ngọc Ngạn dùng từ “khoa học gia” gọi mình. Hoặc chuyện ông Đinh Xuân Anh Tuấn (bác sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu). Khi được ông Ngạn hỏi: “Ông vừa là một bác sĩ, vừa là một nhà giáo vậy ông muốn tôi xưng bác sĩ hay giáo sư?”. Ông Tuấn trả lời: “Thưa anh Ngạn, tôi chỉ là một bác sĩ khi đứng trước bệnh nhân và một giáo sư khi đứng trước học trò, còn ở đây anh cứ gọi bằng tên thường được rồi”.
Khiêm cung. Tại sao họ lại khiêm cung? Họ hẳn hiểu rằng chẳng ai có thể toàn bích và sự hiểu biết dù mênh mông của họ vẫn luôn có những giới hạn nhất định… Cá nhân tôi vẫn tin rằng, một cách cực đoan, chỉ có một nền giáo dục tử tế mới sinh ra những con người tài năng và khiêm cung.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Xem thêm:
– Lời Phật dạy “Hãy thắng người hơn mình bằng đức tánh khiêm cung.”
– Đức Khiêm Cung của người tu học
Chúa nói : HẪY BẮT CHƯỚC TA HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG TRONG LO`NG .
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.
Máu cần thiết cho sự sống. Thiếu máu nhiều bệnh nhân sẽ khó sống. Hiến máu đã cứu được nhiều người thoát chết. Hiến máu là tặng ban sự sống. Đó là hình ảnh cuộc hiến mình của Đức Kitô trên thập giá. Trong bữa tiệc ly, Đức Kitô cho biết Người sẽ đổ máu ra để cứu thế giới khi Người cầm chén rượu và nói: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống. Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”. Máu để cứu sống, máu để thiết lập giao ước, máu để tha tội, tất cả những ý nghĩa này đã được tiên báo trong Cựu ước.
Máu để cứu sống được diễn tả bằng hình ảnh con Chiên Vượt Qua. Để cứu dân Do Thái ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, Chúa truyền cho người Do Thái giết một con chiên còn trong sạch, lấy máu bôi lên cửa. Đêm hôm ấy, thiên thần Chúa đến trừng phạt người Ai Cập, nhà nào có máu chiên bôi trên cửa sẽ được cứu thoát. Để tưởng niệm việc được cứu sống và được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, từ đó, hằng năm vào đúng ngày ấy, người Do Thái vẫn giữ tập tục giết chiên mừng lễ. Lễ đó gọi là lễ Vượt Qua. Con chiên bị giết gọi là con chiên Vượt qua. Khi hiến mình đúng vào dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu trở thành Chiên Vượt Qua mới. Máu Người đổ ra cứu linh hồn ta khỏi nô lệ tội lỗi và khỏi chết. Các thánh Giáo phụ cắt nghĩa rằng: Miệng ta là cửa linh hồn. Người rước Mình Máu Thánh Chúa vào miệng cũng như bôi máu chiên lên cửa nhà, sẽ được cứu sống và được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi.
Máu giao ước được diễn tả qua nghi lễ ông Môsê cử hành dưới chân núi Sinai. Bài đọc thứ nhất hôm nay thuật lại: “Ông Môsê sai các thanh niên trong dân Israel tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa. Ông lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: Tất cả những gì Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và sẽ tuân theo. Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rảy trên dân và nói: Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em”. Đó là giao ước cũ hay là Cựu ước.
Tại Việt Nam cũng như tại các nước Á Đông có tục “uống máu ăn thề”. Khi muốn giao kết với nhau, mỗi người lấy một chút máu của mình hòa chung vào một chén rượu. Sau đó mọi người chia nhau cạn chén. Việc uống máu ăn thề nói lên sự đồng tâm nhất trí. Những người cùng uống chung chén rượu pha máu trở nên ruột thịt với nhau, cùng sống cùng chết với nhau. Đức Giêsu đổ máu ra để lập một giao ước mới giữa loài người với Thiên Chúa. Máu Đức Giêsu giao hòa con người với Thiên Chúa và con người với nhau. Máu giao ước đó làm cho con người trở thành con cái ruột thịt của Thiên Chúa và trở nên anh em ruột thịt với nhau. Đó là máu giao ước.
Máu để tha tội được dùng nhiều trong Cựu ước. Khi dâng lễ đền tội, người ta cũng xả thịt một con vật dâng cho Thiên Chúa. Thày cả lấy máu con vật vảy lên tội nhân để ban ơn tha tội. Khi ta rước Mình Máu Thánh Chúa, ta cũng được tha tội vì Máu Chúa không vảy lên thân xác, nhưng vảy vào linh hồn ta.
Những ý nghĩa mà máu súc vật trong Cựu ước tượng trưng nay được hoàn thành viên mãn trong Máu Đức Kitô.
Nhân loại đang rên xiết trong ách nô lệ đã được Người giải thoát. Nhân loại đang xa lìa Thiên Chúa và bất hòa với nhau đã được Người giao hòa thành một gia đình thương yêu thuận hòa, sống chết có nhau. Nhân loại đang sống trong tội lỗi được Máu Người tẩy sạch mọi vết nhơ.
Chúng ta được ân phúc dường ấy là nhờ Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Dòng Máu Người đổ ra đến đâu đem lại sự sống đến đấy. Dòng Máu Người lan tới đâu thì ban ơn tha tội đến đấy.
Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy cảm tạ tình yêu vô biên của Người đã hiến mình, đổ máu để cứu chuộc ta.
Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy đáp lại tình yêu của Người bằng cách siêng năng đến lãnh nhận và siêng năng đến thờ lạy Đức Giêsu ngự trong phép Thánh Thể.
Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy noi gương Người, biết quên mình, hiến thân phục vụ đồng loại.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Bạn có tham dự Thánh lễ và chịu lễ sốt sắng không?
2) Mỗi khi chịu lễ, bạn có cảm nghiệm được Đức Giêsu ngự trong bạn không?
3) Yêu mến Chúa trong phép Thánh Thể, bạn có muốn nên giống Người, biết hiến thân phục vụ đồng loại không?
4) Trong Kinh Thánh, máu có những ý nghĩa nào?
TÂM SỰ VỚI NGƯỜI Y SĨ
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Trích ” Đặc san Giáo Sĩ Việt Nam” số 250
Trong lịch sử nền y học Việt Nam từ xưa cho tới nay, có rất nhiều vị lương y đã làm rạng rỡ danh dự nghề nghiệp với các khả năng, kiến thức và lòng yêu nghề của mình.
Đã có biết bao nhiêu y sĩ tận tụy cứu chữa làm nhẹ cơn đau đớn bệnh hoạn của bà con dù với phương tiện thiếu thốn, hoàn cảnh hiểm nghèo. Họ phục vụ với cả một tấm lòng nhân ái, trân trọng tình cảm giữa con người với con người. Cho nên đã có câu ví trong dân gian là người lương y tốt bụng như người mẹ hiền. Con cái còn tấm bé, không tự lực tự tồn được, cho nên đều trông cậy ở mẹ cha, nhất là phụ thuộc vào thiên chức nuôi con của người mẹ.
Người bệnh cũng vậy. Trong cơn đau bệnh, họ hoàn toàn bất lực, vì không hiểu gì về bệnh, vì bối rối lo sợ, sợ chết. Với họ, người y sĩ như cái phao cứu mạng. Họ giao phó tính mạng của mình cho người y sĩ. Y sĩ tận tâm, hiểu nỗi đau của người bệnh thì mang toàn sức toàn tài cứu chữa, cơn đau của họ mau thuyên giảm. Gặp phải người y sĩ xấu, thì họ chịu đựng đau đớn lâu hơn, trầm trọng hơn, đôi khi còn bị khai thác, lạm dụng.
Cho nên, mỗi khi “có bệnh thì vái tứ phương”, tìm thầy chữa trị, nhiều khi chúng tôi nhận được rất nhiều từ tâm của y giới thì cũng không ít trường hợp, chúng tôi cảm thấy buồn buồn đối với các vị tự coi là “lương y” mà rất ít lương tâm.
Và cũng vì lẽ đó, nên có những tâm sự, những ước vọng như sau, gửi người y sĩ.
1- Trước hết là khi khám chữa, xin hãy nhìn con người chúng tôi một cách toàn diện chứ không chỉ để ý tới triệu chứng, dấu hiệu rồi đau đâu chữa đó. Vì một dấu hiệu, triệu chứng sẽ hành hạ cả con người chúng tôi mà không khoanh vòng, tập trung vào một góc. Cổ nhân có câu nói “nhìn cả rừng chứ không chỉ nhìn một cây”, để ước lượng chuyện gì đã và đang xảy ra, hậu quả sẽ như thế nào nếu không có phương pháp đối phó hữu hiệu.
2- Xin quý vị hãy dành cho sự kể lể bệnh tình của chúng tôi một sự chú tâm. Khi đau ốm, bệnh hoạn thì lời nói của chúng tôi nó cũng không mạch lạc, rõ ràng, đôi khi lại cà kê dê ngỗng, nói năng lung tung, lạc đề. Chúng tôi biết là đối với quý vị, “thì giờ là vàng bạc”, bệnh nhân chờ phòng ngoài quá đông, bảo hiểm giới hạn, cho nên mỗi bệnh nhân chúng tôi mà được quý vị dành cho từ 5 tới 10 phút là cùng. Với khoảng thời gian này, vừa để nghe y sử vừa để khám rồi ghi ghi chép chép, biên toa thì cũng quá ngắn ngủi đấy. Cho nên xin hãy kiên nhẫn lắng nghe. Chúng tôi nhớ rằng “VĂN” là một trong bốn chiêu thức căn bản mà các nhà y học vẫn áp dụng khi khám bệnh. Đó là “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”. Nhìn sắc diện người bệnh, nghe và ước lượng âm thanh khi bệnh nhân nói bệnh tình, hỏi chi tiết về bệnh và bắt mạch”. Những lời kể này nhiều khi cũng giúp quý vị dễ dàng chẩn đoán bệnh.
3- Chúng tôi rất “I tờ” ít hiểu biết về bệnh tật, y lý, nên xin hãy vui lòng giải thích cho chúng tôi một cách nhẹ nhàng cởi mở, với các ngôn từ bình dân, dễ hiểu.
4- Nhấn mạnh cho chúng tôi những điểm quan hệ của bệnh trạng để chúng tôi nhớ và dễ bề chăm lo, thuốc thang. Thiết nghĩ sự chữa trị của quý vị sẽ công hiệu hơn, nếu chúng tôi cũng biết đau ra sao, diễn tiến bệnh thế nào. Để biết so sánh kết quả điều trị rồi “báo cáo” với quý vị chứ.
5- Chúng tôi cần sự hướng dẫn chi tiết một chút về cách dùng thuốc cũng như về ẩm thực ăn uống trong thời gian đau ốm. Vì chúng tôi được biết thuốc và thức ăn cũng có tương khắc, chẳng chịu cùng nhau chung đường chung lối, tiếp tay nhau giúp đỡ người bệnh.
6. Xin hãy mang tất cả tài năng, kiến thức, kỹ thuật cao để chữa trị cho chúng tôi. Chúng tôi cũng biết là y khoa học ngày nay rất tiến bộ, “rừng y” thì mênh mông, quý vị “thông kim bác cổ”, nhưng chúng tôi chỉ xin được hưởng kiến thức thực tế áp dụng thích hợp trong trường hợp riêng của chúng tôi để rút ngắn thời gian hành xác do bệnh. Và hãy chỉ thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho việc chẩn đoán, theo dõi điều trị chứ không làm quá nhiều để thỏa mãn tò mò, thêm lợi nhuận hoặc để tránh vi phạm luật lệ hành nghề, đôi co kiện tụng
7- Nhân vô thập toàn, kinh nghiệm chuyên môn mỗi y sĩ nhiều ít khác nhau, nếu thấy cần tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp về bệnh tình của chúng tôi, xin hãy làm ngay chứ không chần chừ, trì hoãn, nuôi giữ bệnh. Vì các bậc thầy ngành y đều nói, chẩn đoán sớm, điều trị ngay, bệnh mau lành. Vả lại, “Cứu bệnh như cứu hỏa” ấy mà.
8- Có bệnh là có âu lo, sợ sệt và ai mà chẳng sợ đau ốm, chết chóc. Xin hãy làm giảm thiểu tâm trạng bất an của chúng tôi với thái độ tự tin mà không kiêu căng, nhẹ nhàng mà không hời hợt. Xin hãy “Thấy người đau, giống mình đau, phương nào cứu đặng, mau mau trị lành”(1), mà thông cảm với hoàn cảnh chúng tôi. Vì người y sĩ là nơi để bệnh nhân gửi gắm tính mệnh.
9- Nghề y là nghề cao quý, có những quy luật y đức. Xin hãy hiểu rõ và áp dụng các quy luật nghề nghiệp, cần phải làm gì, không được làm gì để “cứu nhân độ thế” và cũng để tích tụ “âm đức” cho con cháu. Cổ nhân có nói “Ba đời làm nghề y, về sau có người làm khanh tướng”, chẳng là điều nên theo hay sao!
10- Dân gian cũng như y giới đều nói “nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”. Xin hãy dành cho chúng tôi mấy thang thuốc bổ tinh thần này mỗi khi khám chữa tư vấn, để làm dịu niềm đau đang tàn phá cơ thể chúng tôi.
11- Xin hãy bớt lạnh lùng gắt gỏng, vô cảm trước sự ngớ ngẩn đòi hỏi cầu thiện của chúng tôi, vì chúng tôi chỉ quá ám ảnh về bệnh tình, mong sao chóng khỏi, cho nên đôi khi có những cử chỉ hành động vụng dại, thất thố.
12- Có người nói sự khác biệt giữa y sĩ với bệnh nhân là họ có công học tập để có bằng cấp y khoa, có kiến thức y học, trong khi chúng tôi cũng có những kiến thức chuyên môn khác mà họ không có. Cho nên xin hãy nhẹ nhàng, khiêm nhượng với nhau. Có ý kiến cho rằng, lòng sốt sắng, nhiệt tình, tài năng, kiến thức cao, kỹ thuật tốt là những đức tính không thể để phí phạm qua sự bất cẩn của người y sĩ cũng như qua sự coi thường của người khác, để tránh thiệt hại cho cả đôi bên. Vả lại, “Lời nói chẳng mất tiền mua”, mà chúng tôi lại còn thanh toán y phí đầy đủ sau khi khám trị bệnh.
13- Bệnh nhân có người giầu, kẻ nghèo, có người cao sang “lãnh đạo” thì cũng có người làm việc tùy tiện chân tay. Xin hãy đối xử bình đẳng, đừng “Chỗ giàu trân trọng, chỗ nghèo đảo điên” (2) để rồi “ nhất bên trọng, nhất bên khinh” và “Đủ tiền đủ vị, thiếu tiền hốt vơ” (3).
Và còn nhiều tâm sự khác nữa, nhưng “giấy ngắn, tình dài”, xin tạm biệt ở con số 13.
Nhiều người cho số 13 là xui xẻo, là không tốt. Tâm sự chẳng ai thèm đọc thèm nghe mà có khi còn mang họa vào thân. Thôi thì có họa cũng đành gánh chịu, nhưng tự trấn an là ít ra cũng thổ lộ được đôi điều mà nhiều “đồng bệnh tương lân” muốn nói ra. Và cũng có ý mong rẳng người y sĩ chẳng nên “đổi nhân thuật thành chước lừa dối, thay lòng nhân đức ra lòng bán buôn, khiến người sống trách móc, người chết oán hờn” (4).
Vả lại, đây là chúng tôi thầm kín tâm sự như vậy mà thôi, chứ thành văn bộc lộ ra ngoài là do người ký tên dưới đây “chủ xướng”, xin cứ y ta mà “trăm dâu đổ đầu tằm”, trách móc.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
“Làm sao, giết được người trong mộng”,
Để trả thù duyên kiếp, phũ phàng.”
(Phạm Duy – Giết Người Trong Mộng)
(Lc 12: 51-53)
Trần Ngọc Mười Hai
Ối giào! Giời ạ! Giết gì mà giết lắm thế? Giết được cả người trong mộng nữa sao? Mà sao lại chỉ giết người bội thề, u mê, quên tình nghĩa phu thê, như thế? Giết nhiều, rủi lỡ tay giết cả người “trong mộng đã đi về”, hoặc “đã hiện về” như “loài bướm đong đưa”, dễ sợ chưa?
Thật ra thì, có chém giết như thế, kể cũng tệ. Bởi, nếu suốt ngày hát hò rồi kêu lên “Giết người đi!”, “Giết người đi!” tức là: cứ giết và giết, để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” thì, ôi thôi lại thi-ca với âm nhạc!
Hết nhiều nhất, là khi có bé em vừa hát câu trên xong, lại thêm ca-từ lê thê như để bảo: “Đêm qua em mơ gặp… chú/bác” gì đó, say mơ đến độ thấy cả râu/tóc bạc phơ của chú/của bác, nên không còn muốn “giết người trong mộng” nữa, thế có chết không!
Thôi thì, bạn và tôi, ta có hát đi hát lại đến chán chê mê mỏi cũng chỉ có mỗi câu những giết là giết, mà thôi. Có mơ đi mơ lại toàn người này người nọ rồi gọi là chú/bác cuối cùng cũng lại than vãn, hát thêm rằng:
“Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn hiện về?
Nhưng người ơi! Nhưng người ơi!
Sao người trong mộng vẫn say mê?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Sao tình trong mộng vẫn ê chề?
Ơi người ơi! Ơi người ơi !
Sao mình trong mộng vẫn ngu si?
Ơi người ơi! Ơi người ơi!
Thôi đành thôi, thôi đành thôi
Giết người trong mộng mơ…”
(Phạm Duy – bđd)
Vâng! Vấn đề lâu nay đặt ra với người đời, chỉ có thế. Giết người trong mộng hay giữ người trong mộng, vẫn cứ là thơ/văn cho hợp vận, chứ làm gì có ai đòi giết nhiều quá sức vậy chứ? Vâng. Phiếm luận chuyện Đạo/đời, đôi lúc cũng để giết, nhưng không phải “người trong mộng”, mà là thời gian, ấy chết là ngôn-từ với ngôn-ngữ, rất vô-tích-sự.
Nhưng “thời gian”, sao gọi được là vô-tích-sự? Dù, bàn dân thiên hạ cứ mừng đi mừng lại các kỷ-niệm những giết và giết đầy chết chóc cả vào hôm nay, như báo/đài vẫn tường-thuật.
Báo đài nhà Đạo hôm nay, chỉ muốn tường-thuật chuyện chết chóc tuy không giết người trong mộng, bên trong hay bên ngoài nhà Đạo. Nhưng, những chuyện thần học, tu-đức lẫn tin tức, cũng không thoát. Ví-dụ ư? Thì, đây: vừa qua có báo/đài nọ đã cả gan loan tin tức…mình bảo rằng Đức Giáo Tông Công-giáo nói ta cũng có thể chấp-nhận giải-pháp “dĩ độc trị độc”, để tránh chiến-tranh, bạo-lực (?) vv…
Người loan tin trích-dẫn chuyện này ở đâu không biết, chỉ biết là: ở Úc người ta đã trích câu nói về chiến tranh, giết chóc hoặc bạo loạn, từ đấng bậc vị-vọng chốn chóp bu Giáo hội Công giáo như sau:
“Tôi kêu gọi mọi bên, mọi phía đang dính dự hãy chấm-dứt vòng quay xoắn ốc đầy ghét ghen/bạo-lực để có can-đảm mà đưa ra quyết-định hoà-giải hầu đi đến hoà-bình. Xây-dựng hoà-bình thật rất khó, nhưng sống mà không có hoà-bình lại chỉ là sống trong dằn-vặt, khổ đau mà thôi.” (Đức Giáo Hoàng đã có kêu gọi khi một số đồng bào bị tấn-kích tại hội-đường Do-thái ở Giêrusalem tháng 11/2014, The Australian Catholics Hè 2015 tr. 4)
Nói về chiến tranh, lại phải nói cả về hoà bình nữa mới được. Nói về hoà bình, lại cũng nên nói đến những chuyện kể mang tính vui tươi, bổ ích, tích cực dễ nghe và dễ sống với đời hơn, thế mới phải. Bần đạo đây, có anh bạn đang sống ở đảo quốc phương xa vẫn nhất quyết không nghe và không đọc báo/đài truyền-thanh/truyền-hình suốt ngày nói toàn chuyện giết người hoặc chết chóc, mà thôi. Đổi lại, anh kể cho bần đạo câu chuyện bên dưới tạo niềm vui hưng-phấn mà sống:
“Truyện rằng:
Hôm ấy, có người mù nọ thèm món Vịt quay bèn quyết định đến tiệm mì, kêu:
-Cho ngộ một con dzịt quay Pắc Kinh à!
Anh bồi bưng vịt ra, và người mù sờ con vịt hít một hơi rồi nói:
-Ồ! Cái lầy là con dzịt quay Thượng Hải, đó nị.
Anh bồi bèn mang vào bếp yêu cầu làm con vịt khác. Nhưng mang con nào ra, cũng bị cho là không phải, lúc thì khách bảo: cái lày là dzịt Quảng Đông, cái kia Hải Nàm. Đến con thứ tư, ông mới bảo đây đúng chánh-hiệu là nó đó. Nhà bếp nghe vậy rất ư khâm phục. Chợt có người từ trong bếp ra, bèn hỏi khách:
-Thưa khách xộp! Sao ông lại có thế biết đích xác vịt nào là vịt Bắc Kinh vậy?
-Đơn giản thôi. Ngộ chỉ cần rờ cái phao-câu của nó rồi ngộ hít một hơi là biết ngay hà!
Anh phụ bếp quá xúc động bèn mếu máo nói:
-Thưa ông! Tôi đây mồ côi cha mẹ từ hồi chiến tranh/loạn lạc, không biết mình sinh ra từ phương nào, Bắc Kinh hay Thượng Hải, có thể nào ông đoán giùm tôi được không?
-Ồ, cái lày thì ngộ không có làm lược à!. Sờ phao-câu con dzịt thì lược, chứ lụng chạm cái con người nị thì ngộ không có dám, à. Lỡ pậy, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, thì sao?”
Truyện kể đây, cốt chỉ để minh-hoạ một chuyện, rằng: ở đời, nhiều người chẳng sợ gì chuyện “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Cũng chẳng ngần ngại mọi thứ, nên cứ hay lẫn lộn người với vật, hoặc người này với người khác, rồi làm chuyện xằng bậy, gây chiến.
Chiến hay hoà, có thể không do người đời làm chuyện xằng bậy, nhưng cứ hay lầm lẫn những điều mà người mình gọi nôm na, là “cầm nhầm”. Đạo Chúa, cũng có trường hợp không nghiêm-trọng, nhưng cũng là ngộ-nhận được đấng bậc ở Melbourne, Úc Châu trình bày như sau:
“Mặc dầu, lâu nay “Kinh Hoà Bình” được gán ép cho thánh Phanxicô thành Assisi là tác-giả, nhưng thật ra kinh này được viết cách đây không lâu lắm chỉ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà thôi.
Cụ thể hơn, thì “Kinh Hoà Bình”, lần đầu được phổ biến trên tập-san tu-đức gọn nhỏ viết bằng tiếng Pháp vào năm 1912, như lời cầu dùng trong thánh-lễ, suốt thời gian đó. Kịp đến năm 1915, có nhóm người Công-giáo Pháp thấy kinh này quá hay bèn kính gửi lên Đức Giáo Hoàng lúc ấy là Đức Bênêđíchtô XV những muốn chấm-dứt cuộc đại-chiến thế-giới từng tàn-phát cả châu Âu. Và, Đức Giáo Hoàng truyền cho in bản kinh này trên các báo của toà thánh ở Rôma. Và rồi, sau đó nhật-báo Pháp La Croix cũng xin được phép phổ-biến rộng hơn như kinh nguyện-cầu bình-an hầu chiến-tranh mau chấm-dứt.
Ở Hoa Kỳ cũng vào thời đó, có nhiều người thấy kinh này hay và thích hợp nên đã gán cho thánh Phanxicô thành Assisi làm tác-giả, và rồi phân-phát rộng-rãi trên bìa cứng suốt Đệ Nhị Thế Chiến và những năm sau, nguyện cầu cho hoà-bình ở khắp nơi.
Bản kinh được dịch tiếng Anh thành nhiều văn-bản khác nhau cũng vì một mục-đích. Bản-văn được biết nhiều và ưa-chuộng nhất ở xứ này lại được tác-giả là Johann Sebastian von Tempelhoff, một tu-sĩ Dòng Phanxicô ở Nam Phi đã phổ nhạc thành ca-vịnh phổ-biến khắp chốn. Chính Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng có công đưa bản kinh này vào các lời nguyện-cầu buổi sáng cho các chị em Dòng Truyền Giáo Bác Ái, do Mẹ thành-lập. Mẹ còn khiến cho cộng-đoàn đọc kinh này ở Oslo vào buổi Mẹ nhận giải Nobel Hoà Bình, năm 1979.
Thật sự, cũng chẳng ai biết rõ tại sao Kinh này lại được gán cho thánh Phanxicô hết. Thế nhưng, tính giản-dị của lời kinh cùng với lòng nhiệt thành nóng-bỏng và sự độ lượng nơi ý-tưởng cũng như điều được nhấn mạnh vào các yếu-tố cuộc sống đã làm dội vang tinh-thần khó-nghèo bình-dị của thánh Phanxicô, rất trọn vẹn.
Lời kinh đây, mời gọi mọi người chúng ta hãy xa lánh động-thái tiêu-cực trong cuộc sống, vốn dĩ gây ảnh-hưởng lân mối quan-hệ giữa con người và Thiên-Chúa và với nhau, như các đặc-thù gây hại, tương-tự như: tính nóng giận, hờn ghen, nghi-kỵ và sự tăm-tối. Kinh này còn khuyến-khích ta ra đi mà thực-hiện hoà-bình cùng thứ tha, tin tưởng và hy vọng, mãi muôn đời.” (X. Lm Andrew Hamilton sj, Channelling God’s peace, The Australian Catholics Hè 2015, tr. 9)
Nói như người đấng bậc nhà Đạo, là nói thế. Tức, chỉ nói đến yêu thương, an bình và giùm giúp. Còn, như nghệ sĩ lại cứ hát mãi ca-từ những giết và giết, nay hồi tâm thay vào đó bằng những câu ca rằng:
“Làm sao giữ được người trong mộng?
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng?
Hay giữ người trong mộng?
Giết người trong mộng?
Hay giữ người mộng mơ?”
(Phạm Duy – bđd)
Có nói nhiều và hát không thiếu những lời dữ tợn/hiền dịu cũng chỉ để diễn-tả tình-trạng thực-tế của cuộc đời đầy nhiễu nhương. Đời nhiễu nhương, nhưng không có nghĩa tệ-bạc như một số người thường hiểu lầm khi nghe Đấng Thánh Nhân Hiền những bảo rằng:
“Anh em tưởng là Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?
Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.
Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau,
ba chống lại hai, hai chống lại ba.
Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái,
con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.”
(Lc 12: 51-53)
Xem như thế, thì đời người là một chuỗi ngày gồm toàn những hiểu lầm, ngộ nhận làm sai. Thế nên, lại có đấng bậc thày dạy khác, nay muốn minh-xác để bạn và tôi, ta hiểu rõ ý-nghĩa thần-học của Kinh thánh rất như sau:
“Mỗi khi các nhà chú-giải trích-dẫn đoạn này, thường bảo rằng: gia-đình rồi sẽ chia rẽ nhau tựa hồ tình-trạng của một số người tin vào Đức Giêsu, còn những người khác lại khước-từ không tin vào Ngài, chút nào.
Theo tôi, vấn-đề ở đây không liên-quan đến niềm tin của ai hết, mà là quyền uy/sức mạnh của gia-đình thôi. Cũng nên để ý đến điều được nói ở dụ-ngôn về sự phân-cách giữa các thế-hệ. Đức Giêsu vẽ lên hình ảnh tiêu-biểu, về gia-đình Địa Trung Hải có 5 thành-viên, là: cha mẹ, con gái còn son sẻ, con trai đã có gia đình và vợ anh, tất cả đều chung sống dưới một mái nhà. Đức Giêsu nói: Ngài sẽ chia-cách những người như thế khiến họ sống riêng rẽ. Việc Ngài chỉ-trích, là sự sắp xếp sức mạnh/quyền-uy của gia-đình có bậc mẹ cha đầy uy-lực trên con trai, con gái và dâu con họ.
Thật ra thì, truyện này cũng giúp ta hiểu được những câu truyện kể và lời nói Đức Giêsu từng dạy-dỗ về cuộc sống gia-đình. Gia-đình, là xã-hội thu nhỏ. Là khung-cảnh trong đó ta học được khuôn-mẫu tình thương, ghen ghét, việc giùm-giúp và cả cách xách-nhiễu nhau nữa. Không phải gia-đình nào cũng đều có cảnh sống ấm-cúng và dung-dưỡng nhau theo kiểu Norman Rockwell. Bởi, đời sống gia-đình dính-dự vào quyền-bính, nên cũng dính đến chuyện lạm-dụng quyền-lực nữa. Và, đó là quan-điểm/lập-trường mà Đức Giêsu muốn đả-phá.
Nhóm/hội lý-tưởng của Ngài, trái hẳn sắp xếp xã-hội thông-thường của nhân loại. Nhóm/hội Ngài thiết-lập rất cởi-mở và ai cũng có thể tiếp-cận nhau dưới trướng của Ngài. Ở Vương Quốc Nước Trời, không có chuyện lạm-dụng quyền-lực. Tất cả, được đón chào vui vẻ. Mọi người đều ngang bằng nhau và giống nhau theo ý-định và mục-đích do Chúa muốn.
Xã-hội dân-chủ vào thế-kỷ đương-đại, ta cũng không bị rút khỏi khuôn-mẫu thế-giới quyền-uy của Đức Giêsu. Ta từng biết thế nào là lạm-dụng quyền-uy thế-lực trong đời sống gia-đình. Thành-ngữ “bạo-lực trong gia-đình” ta từng nghe đi nghe lại nhiều lần hơn các thế-hệ trước. Nay, ta biết rằng lạm-dụng lớn thường ẩn nấp bên dưới mặt ngoài thấy êm ả.
Thành thử, dù có ở vào thế-kỷ thứ nhất hoặc 20, 21 này, việc Đức Giêsu chỉ-trích vẫn có đôi điều để nói, là: không có cơ-cấu gia-đình nào trở thành tuyệt-đối hết. Mọi cấu-trúc hiện-tỏ cho con người là để dung-dưỡng nhau, mà sống thôi. Đời sống gia-đình, giống như cuộc sống nhân-loại, đều nằm trong phạm-vi dưới Vương Quốc Nước Trời, do Chúa phản-biện. Đời sống gia-đình, giống các hình-thức khác nơi sự liên-đới với con người. Nó hiện-hữu vì mục-đích công-bằng và tình-thương, thôi.” (x. Cựu linh-mục John Dominic Crossan & mục-sư Richard Watts, Who is Jesus,Westminster John Knox Press 1996 tr.47)
Nói cho cùng và hiểu cho thấu các sự việc của con người trong đời, cũng nên nói và hiểu qua thơ-văn nhè nhẹ có truyện kể ở đời, để cho vui. Truyện kể hôm nay có giòng chảy những bảo rằng:
“Có hai con chim gáy rất thân với nhau. Hết tha thẩn xuống đồng lượm từng hạt lúa, chúng lại bay lên ngọn tre râm ran tiếng gù. Cứ tha hồ mà dồn dập, mà khoan thai có khi nhẹ nhàng như lời tình tự. Bỗng chẳng may một anh bị con người bẫy được đem về nuôi. Anh kia liền đi tìm bạn mới.
Mặc dù được chăm sóc chu đáo, nhưng bị giam hãm trong lồng phần thì nhớ da diết cánh đồng quê, phần thì nhớ bạn, chim cất lên những tiếng ai oán não nùng. Nghe tiếng than của bạn, anh chim gáy ở ngoài cũng tìm đến thăm. Thấy bạn mình được ở trong chiếc lồng son, có thức ăn nước uống đầy đủ, anh ta ganh tị bảo:
– Tưởng khổ cực lắm, hoá ra phúc đức ông cha bảy đời để lại mới có được kẻ nâng niu chiều chuộng còn than vãn nỗi gì.
Anh chim trong lồng nghẹn ngào không thốt nên lời.
Thấy thế anh chim ở ngoài nảy ra ý định: Mình muốn vào đó, nhưng có cả hai thì thức ăn sẽ ít đi, chi bằng tìm kế cho nó bay ra để ta vào tha hồ mà chén. Nghĩ vậy anh ta liền dùng lời ngon ngọt dụ dỗ:
– Muốn thoát thân thì nhịn ăn, giả vờ chết. Chủ sẽ bắt ra xem thử, lúc ấy nhanh chân mà tẩu thoát.
Quả thật bằng cách đó anh chim nọ được vùng vẫy nơi trời cao và say sưa cất giọng trầm bổng. Còn anh chim ở ngoài lại cứ quanh quẩn bên chiếc lồng, tất nhiên được vào trong dễ dàng.
Được no nê nhưng anh ta mới nhận ra sự cô độc, tù túng. Từ đó, chim càng lười biếng không cất nổi tiếng gáy. Người chủ thấy thế cũng chẳng còn săm soi, chăm sóc như ngày xưa nữa. Nhiều hôm phải nhịn đói, nước mắt lưng tròng, thân hình tiều tụy trông mà tội nghiệp, anh ta liền dở chiêu cũ nhưng có ai mà dại nữa. Lúc này, anh chim gáy nọ mới nhận ra rằng sống mà chỉ vì miếng ăn thì đó chỉ là kiếp sống thừa”.(truyện do St gửi)
À thì ra, mọi chuyện xảy ra trên đời không vừa ý, cũng chỉ do hiểu sai , hiểu lầm hoặc hiểu không tới nơi tới chốn căn-nguyên/cội rễ của nó.
Ở nhà Đạo cũng thế, có những chuyện và những việc cần điều-nghiên/học hỏi cho kỹ, mới tránh khỏi những sai sót, ngộ nhận cũng tương tự. Và, Đức Giáo Tông Phanxicô có lần cũng minh-định những chuyện như thế, trong sống Đạo rất thực-thụ:
“Ngày nay, sứ điệp của Giáo Hội cũng là sứ điệp của hành trình thẳng thắn, con đường can đảm theo tinh thần Kitô. Như Kinh Thánh đã nói: hai môn đệ đơn sơ, ít học, đã có can đảm. Lời để dịch từ can đảm, chính là thẳng thắn, nói tự do, không sợ nói sự thật.”
Đức Thánh Cha cũng giải thích:
Chính sự can đảm loan báo như thế, là điều phân biệt chúng ta với những kẻ chiêu dụ tín đồ. Chúng ta không quảng cáo để thu thập thêm những người gia nhập hội tinh thần của chúng ta. Điều mà Kitô hữu làm, chính là loan báo một cách can đảm, loan báo Chúa Giêsu Kitô nhờ Thánh Linh. Chính Thánh Linh ban sức mạnh cho những người đơn sơ, ít học, như Phêrô và Gioan, sức mạnh can đảm loan báo Chúa Kitô cho đến chứng tá cuối cùng, là cuộc tử đạo.” (Tin Vatican 13.4.2015, G. Trần Đức Anh OP dịch)
Tóm lại, có nói và hát về chiến-tranh, giết chóc hoặc mơ mộng nhiều như truyền-thông báo đài gì đi nữa, cũng chỉ nên hát và nói những câu cuối để còn quyết tâm thực-hiện chuyện để đời, là đem hy-vọng và bình an đến với mọi người.
Quyết thế rồi, ta không còn ngại-ngần gì mà không hát những câu ca thời-thượng một dạo như sau:
“Làm sao giữ được người trong mộng?
Để được tình yêu, dẫu bẽ bàng.”
(Phạm Duy – bđd)
“Giữ được người trong mộng” hay trong cuộc đời rất thực tế, cũng chỉ để “được tình yêu, dẫu bẽ bàng”. Chính đó là thông-điệp của nghệ-sĩ già từng gửi đến người đời, bấy lâu nay.
Trần Ngọc Mười Hai
Không có gì để đời, nhưng vẫn muốn hợp
với người nghệ-sĩ nói lên được điều đó
với mọi người.