Thì hai đứa còn đâu cơ hội nữa,

“Thì hai đứa còn đâu cơ hội nữa,”

“Tình đã đến trong những ngày nhuộm đỏ,

trong những ngày Thượng đế phải ra đi,

Trong những ngày giá-trị của lương-tri,

được thẩm-định bằng tín-điều duy vật!”.

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Với nhà thơ, thoì như thế. Như những gì người đời vẫn nghĩ suy. Với nhà Đạo qua Tin Mừng thánh Gioan, thì lại khác. Trình-thuật nay vẫn kể dân con đồ đệ nghe Chúa nói chuyện và dẫn-giải , thường có thái độ rối như tơ lòng, nhiều giây nhợ.

Thật tình, họ ít khi hiểu rõ được ý nghĩa thâm sâu, Lời Chúa nói. Thái độ của họ, giống như cặp tình nhân nọ, đã ghé thăm vùng đầy tuyết ở Seattle, trong hai tuần. Để tỏ bày sự thân tình trìu mến, họ gọi nhau bằng vợ bằng chồng, thật gần gũi. Họ còn lên kế hoạch men theo Nam tuyến, đi xuống phía Florida, để có thêm chút ánh sáng mặt trời. Người chồng, ngưng mọi công việc từ ngày hôm trước, đã trực chỉ về hướng biển bờ Miami, nơi đó sẽ gặp vợ, ngày hôm sau.

Cả hai người, đều trông mong sẽ có được thời gian ở bên nhau, thật hấp dẫn để vui hưởng ánh nắng mặt trời, chói sáng. Nhưng không may, có một chuyện ngoài ý muốn xảy đến ngay ở cửa lên tầu, người chồng được bảo: có lẽ anh phải chờ qua đêm, vì món rượu mạnh đặc biệt.

Anh tìm cách khiếu nại lên vị thủ trưởng ở đó, nhưng vô hiệu. Vừa kịp đến khách sạn, vào hôm sau, anh bèn khám phá ra rằng Biển Miami vừa xảy ra cơn sóng mang giòng nước nóng, và thời tiết hôm ấy lên cao đến độ không thể chịu đựng được, ngược hẳn thời tiết quá lạnh, ở Seattle. người tiếp tân ở quầy cho hay, vợ anh sẽ kịp đến, như dự định.

Anh nóng lòng chờ đợi đến mức độ phải chay bay biến xuống khu vực hồ bơi, để lấy lại hơi mát cần có, và vội vàng anh gửi cho vợ, một điện thư. Thư diện của anh lại được chuyển đến nhà phu nhân của vị giảng thuyết có người chồng già vừa qua đời, chỉ một ngày trước đó. Khi vị phu nhân mở điện thư ra đọc, thoáng chốc bà nhìn vào màn hình nhỏ, bất chợt kêu lên một tiếng thất thanh, rồi gục đầu tắt thở, ngay tại chỗ.

Gia đình chạy vội vào phòng xem cớ sự, tức thì bắt gặp bức điện thư ngắn gọn từng chữ, mồn một ghi rõ trên màn hình, những giòng chảy:

“Gửi người vợ thân yêu nhất của anh, ra đi hôm qua như em biết đấy, vừa kịp đến mới xong phần khám xét. Đôi chút hiểu lầm ở ngang cửa. Khiếu nại bị bác bỏ. Vừa được xác nhận em sẽ đến đây vào ngày mai. Chồng yêu quý của em. Chú thích: Mọi sự không như chúng mình nghĩ. Em sẽ rất đỗi ngạc nhiên về sức nóng, ở dưới này.”

Theo sau việc phát thức ăn cho hơn 5000 người, dân chúng cứ tưởng rằng: khi Chúa nói Ngài là Bánh Sự Sống, tức là Ngài có ý nói đến nguồn cung cấp thức ăn cho buổi hôm sau. Nếu việc này quả đúng là sự thật, thì có lẽ phải ghi trên vòng quay số, đôi ba giòng chữ có nghĩa tương tự như khi người diễn trò sử dụng từ ngữ “quán cà phê Công Giáo”

Tuy thế, Đức giêsu chỉ muốn dẫn người nghe đến sự thể chính Ngài làm cho mọi người dịu mọi cơn đói. Vì khi ấy, ta sẽ chẳng bao giờ còn đói hoặc khát, nữa.

Đói, là chuyện rất quan trọng. Nó đòi ta phải thường xuyên chú ý đến. Đói thể xác, cho thấy ta cần được nuôi dưỡng. Ta cần có nước trong người. Cần luyện tập và ngủ nghỉ. Ta từng học cách thức đọc ra được các dấu hiệu của thể xác. Nếu cứ tảng lờ, ta sẽ chết. Ta cũng có cơn đói cảm xúc. Vào lúc đó, ta cần được yêu thương. Chấp nhận. Có đôi tai biết lắng nghe. Nếu cứ giả lơ giả tảng những dấu hiệu này, tâm thần ta sẽ trở nên tệ hại hơn. Và, chất lượng cuộc sống nơi ta, sẽ mai một.

Tuy là thế, Đức giêsu cũng cảnh giác ta về cơn đói thần thiêng. Đây chính là nhu cầu ta cần có đối với Ngài. Cần có mục tiêu  và ý nghĩa. Cần cho niềm tin. Cho Tình yêu. Hy vọng. Nếu cứ tảng lờ cơn đói này, ta sẽ để luột mất tầm nhìn về nơi ta xuất phát. Về lý do, tại sao ta hiện diện ở đây. Và về điểm đích, ta đi tới.

Chương 6 Tin Mừng thánh Gioan tiếp tục được diễn nghĩa, qua đó cho thấy Đức Giêsu càng diễn tả thật rõ nét hơn, về vai trò Ngài đến. Ngài đến, để làm cho người được no đầy. Kẻ khát, có đủ nước uống.

Và khi Ngài gỡ rối bòng bong cho dân chúng, họ lại cảm thấy như bị chạm nọc. Đức Giêsu, là Bánh Sự Sống. Ngài quan tâm nhiều đến chúng ta. Quan tâm trong việc giải những cơn đói lòng thể xác, xúc cảm và thần thiêng của ta, ở thế gian này. Giải cơn đói, theo cung cách thoáng nhìn thấy sự sống sẽ đến nơi Ngài. Ở sự sống ấy, mọi kẻ đói khát sẽ được tràn đầy, không thèm muốn.

Cầu mong sao Tiệc Thánh này chuẩn bị chúng ta cho ngày giờ khi việc ta ra đi khỏi thế giới gian trần sẽ trờ tới.

Cầu mong sao khi ấy, sẽ không có chuyện chộn rộn nơi cửa ngõ. Lúc đó, chẳng cần gì phải khiếu nại.

Cầu mong sao, ta được hiệp thông nối kết với những người mà ta hằng yêu mến. Để ta được sưởi ấm nơi tình thương yêu của Chúa. Để Ngài chỉ định chỗ ngồi nơi Bàn tiệc Vĩnh cửu, Ngài dọn cho ta. Bởi, nơi Tiệc ấy, không còn người đói kẻ khát, về mọi thứ.

Cảm-nghiệm điều ghi đậm nét như thế, ta ngâm tiếp lời thơ đời trắng trợn nhiều tình tiết, như:

“Có những điều ta muôn hôn em, rồi khóc,

Mùa bình-an nào chờ-đợi uyên-ương?”

(Nguyễn Tất Nhiên – Uyên Ương)

Uyên ương tình người, nhiều lúc cũng hơi khác. Khác, cả vào khi ta được dẫn-giải rất nhiều lần. Tình nhà Đạo, còn khác nhiều lời thơ đời. Khác, cả hình-thức lẫn nội-dung như nhiều người vẫn cảm-nghiệm trong đau thương, sầu buồn. Nhưng vẫn một lòng tìm đến với Đức Chúa để Ngài dẫn-giải ý-nghĩa của mọi sự-kiện diễn ra ở đời. Với con người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 14-25)

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Caphácnaum tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giêsu trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

Đức Giêsu đáp:”Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” Họ liền nói:“Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giêsu bảo họ:”Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

MUA ĐÂU RA BÁNH CHO NHỮNG NGƯỜI NÀY ĂN

MUA ĐÂU RA BÁNH CHO NHỮNG NGƯỜI NÀY ĂN

Một toán du khách đi thăm dấu vết của trại Đa-sô (Dachau), một trại giam nổi tiếng của phát xít Đức thời Hitler.  Người hướng dẫn khách du lịch hôm đó là một cựu tù nhân của Đa-sô xưa, ông đã bị nhốt lâu năm và may mắn thoát chết.  Hôm đó là Chúa nhật, nhiều toán khách du lịch đến thăm di tích lịch sử này.  Khắp nơi vương vãi những rác rưởi lẫn với đồ ăn thức uống.  Gặp một mẩu bánh mì nằm bên lề đường, người hướng dẫn toán du lịch nhào tới lượm lên, ông nói giọng run run: “Một mẩu bánh mì!  Tôi không thể chịu được khi thấy một mẩu bánh mì bị bỏ phí.  Mấy năm thoi thóp trong tù, đối với tôi mẩu bánh mì đồng nghĩa với sự sống.  Nó là ranh giới giữa sống và chết”.

Trong các bản năng Chúa trao ban cho con người, có lẽ bản năng sinh tồn là tha thiết nhất.  Bất cứ ai đã có lần bị xâu xé trong cơn đói thì sẽ ghi nhớ suốt đời.  Chắc Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm trong bốn mươi ngày đêm ăn chay nơi sa mạc, nên người rất cảm thương những người bị đói.  Đám dân lũ lượt đi theo Chúa vào sa mạc, có những người vì tin tưởng muốn nghe lời Chúa, nhưng cũng có người chỉ vì tò mò, vui chân theo bạn bè, họ cứ đi mà không nghĩ đến ăn uống.  Giờ này, Chúa biết họ đói bụng, và Chúa nghĩ phải kiếm gì cho họ ăn.  Và có lẽ qua niềm cảm thông với tình cảnh đói khát của con người như vậy, Chúa đã nghĩ tới việc lập Bí Tích Thánh Thể.  Qua Bí Tích này, Chúa ở lại gần gũi với nhân loại hơn.  Đồng thời cũng là để thỏa mãn phần nào sự đói khát tâm linh của tín hữu.  Từ lương thực no đủ cho thân xác, con người nghĩ về Chúa như một nhu cầu thiết yếu của linh hồn mình.  Chúa đã mở rộng cõi lòng và cái nhìn của ta để ta dễ tiếp nhận mầu nhiệm Thánh Thể bằng một phép lạ vĩ đại: Bánh hóa nhiều.  Chúa làm cho 5 ổ bánh hóa nhiều để nuôi 5 ngàn người, cốt cho chúng ta nhớ tới Chúa là bánh thật, bánh trường sinh, là lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta.  Sự đói khát Chúa khó cảm thấy, nhưng cũng gây mệt mỏi cho con người như đói cơm bánh vậy.

Tại sao Chúa phải hỏi Philipphê về việc mua bánh?  Ngài có thể phán một lời là có ngay nhiều bánh nhiều cá.  Tuy nhiên Chúa muốn thực hiện một phép lạ với sự cộng tác của Tông đồ và thiện chí của một em bé.  Đó cũng là một qui luật tự nhiên mà Chúa hằng tôn trọng: do lòng tin mà có phép lạ.  Chúng ta còn nhớ phép lạ trong tiệc cưới Cana.  Chúa có thể từ không mà làm ra rượu, nhưng Chúa đã đợi người ta đổ nước lã đầy các chum.  Những người giúp việc đang mệt mỏi mà phải đi múc nước từ giếng sâu, cũng là một cố gắng, có thể nói được là một hành động biểu lộ đức tin.

Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã ban lời Chúa và Thánh Thể làm lương thực nuôi sống linh hồn chúng con.  Xin giúp chúng con hiểu và tin những mầu nhiệm Chúa muốn mạc khải cho chúng con.  Chúng con xin tạ ơn Ngài.

Noel Quesson

Tướng Thanh về nước, thật không?

Tướng Thanh về nước, thật không?

Trung Điền

Các báo chí Việt Nam hôm 25 tháng 7, đã đồng loạt loan tin Tướng Phùng Quang Thanh từ Paris trở về Việt Nam sau 1 tháng điều trị ung thư phổi, trên một chuyến bay của hãng hàng không Vietnam Airlines.

Điều đáng nói là trong hàng trăm tờ báo, trang điện tử loan tin, chỉ có báo Tuổi Trẻ đăng một tấm hình duy nhất do phóng viên Việt Dũng nào đó chụp được với lời tường thuật: “Đại tướng Phùng Quang Thanh mặc complet màu xám nhạt, bước xuống cầu thang máy bay, tươi cười bắt tay nhiều người ra đón và lên xe hướng về phía Hà Nội”.

Báo Người Lao Động cho biết là sáng 25/7 có rất đông phóng viên tụ tập ở sảnh chờ của nhà ga T2 để đón ông Thanh nhưng ông Thanh đã không xuất hiện.

Trong khi đó Báo Dân Trí thì phỏng vấn lãnh đạo “Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài” với tường thuật: “Máy bay chở Đại tướng đỗ ở vị trí gần nhất để thuận lợi cho việc di chuyển xuống mặt đất. Sau đó, Đại tướng Phùng Quang Thanh được đón vào nhà khách VIP và được phục vụ theo tiêu chuẩn ưu tiên dành cho khách cấp cao”.

Báo Dân Trí còn cho biết là từ nhà khách VIP, xe hơi đón Tướng Thanh đưa về nhà riêng tại phố Vĩnh Phúc, Ba Đình và sau đó ôngThanh đã đến trụ sở Bộ Quốc phòng, gặp gỡ các tướng lĩnh và nhân viên làm việc tại đây.

Báo Tiền Phong thì phỏng vấn Trung Tướng Vũ Văn Hiển, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương cho biết là trên đường từ sân bay về, Tướng Thanh đã nói chuyện với hai ông Nguyễn Phú Trọng và Lê Khả Phiêu.

Tướng Hiển còn cho biết là từ Thứ Hai ngày 27/7, Tướng Thanh bắt đầu làm việc lại, và sẽ làm trưởng đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tới viếng lăng Hồ chí Minh, nhân dịp kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ.

Tối cùng ngày, nếu không bận chỉ đạo những công việc đột xuất, Tướng Thanh sẽ tham dự chương trình giao lưu nghệ thuật “Khát vọng đoàn tụ”, được tổ chức tại hội trường Bộ Quốc phòng và được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình quốc gia và kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam.

Nếu chỉ đọc lướt qua những tường thuật của các báo trong nước, ông Phùng Quang Thanh đã trở về bình an, bình thường… Nhưng đi sâu vào những chi tiết tường trình và hình ảnh, sự đón tiếp Tướng Thanh lại làm lộ ra những nghi vấn sau đây:

Thứ nhất là không có phóng viên nào được gặp trực tiếp hay thấy tận mặt Tướng Phùng Quang Thanh trở về ngay tại Phi trường Nội bài. Tất cả những tường thuật đều chỉ là ghi chép lại những lời kể từ một số cán bộ lãnh đạo sân bay hay từ quân ủy Trung ương, dù ông đang là trung tâm của nhiều tin đồn liên quan tới sinh mạng của chính ông – một bộ trưởng quốc phòng.

Nếu quả thật khỏe mạnh, tại sao ông Thanh không trực tiếp xuất hiện trên hệ thống truyền thông, truyền thanh mà phải để cho Tướng Vũ Văn Hiển truyền đạt câu mà báo Tiền Phong ghi như sau: “Bộ trưởng gửi lời cám ơn tất cả các cơ quan, anh em, bạn bè đã có sự thăm hỏi, động viên trong quá trình Bộ trưởng điều trị bệnh tại Cộng hòa Pháp”.

Thứ hai là rất đông phóng viên túc trực tại Phi trường Nội Bài, kể cả tại nhà riêng của Tướng Thanh ở phố Vĩnh Phúc, Ba Đình nhưng không có bất cứ tấm hình nào chụp Tướng Thanh một cách rõ ràng, với sắc diện hồng hào, khoẻ mạnh như Tướng Hiển cho biết. Ngoại trừ tấm ảnh duy nhất chụp từ rất xa của Việt Dũng, phóng viên báo Tuổi Trẻ, được đăng tải, không có một tấm ảnh nào khác ghi nhận lại khoảnh khắc đón Tướng Thanh ở phi trường. Khiến dư luận lại đặt thêm nghi vấn là liệu tấm hình này có thật không hay là “photoshop”, hay một hình nộm đóng vai ông tướng?

Nếu như vì lý do nào đó không cho phóng viên chụp hình, Bộ quốc phòng CSVN cũng nên cho phổ biến một số hình ảnh đón tiếp Tướng Thanh tại phòng VIP ở phi trường hay tại Bộ quốc phòng để xóa đi những nghi vấn về sự sống chết của Tướng Thanh – đã nở rộ từ cuối tháng 6 vừa qua, khi có tin đồn ông sang Pháp chữa bệnh. Nhưng không, họ đã không làm chuyện này, hay đúng ra là đã “không làm được chuyện này”. Giải đáp về số phận của Tướng Thanh lại càng trở nên rõ rệt hơn đối với dư luận qua “chuyến về nước” của ông ta trên mặt báo đảng.

Rõ ràng, càng lên tiếng giải thích thì chế độ CSVN lại càng tạo thêm nhiều nghi vấn về một ông tướng trùm quân đội thần phục Bắc Triều, đột nhiên biến dạng, trong lúc lãnh đạo CSVN xoay trục về phía Hoa Kỳ với chuyến viếng thăm Washington D.C. của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Phải chăng, lãnh đạo CSVN chưa tìm ra một lời giải thích thỏa đáng về “sự ra đi” của Tướng Thanh cách nay một tháng nên đã phải cố dựng lên những kịch bản phải nói là “rất tồi” để đánh lừa chính họ rằng vấn đề của Tướng Thanh vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát.

Thứ Hai ngày 27/7, Tướng Thanh sẽ dẫn một phái đoàn quân ủy vào viếng lăng họ Hồ. Nhiều phần cuộc thăm viếng này cũng sẽ loan tải trên các báo với sự dẫn đầu “bí mật” của Phùng đại tướng, nhưng sẽ không có bất cứ hình ảnh nào về Tướng Thanh hoặc chỉ… có tấm hình mờ mờ, ảo ảo.

Có lẽ lãnh đạo CSVN sẽ tiếp tục trò chơi này cho đến Hội nghị lần thứ 11 Trung ương đảng dự trù khai mạc vào tháng 8 tới đây chăng. Chờ xem!

Trung Điền
Ngày 25/7/2015

Sự nhục mạ uy danh đại tướng!

Sự nhục mạ uy danh đại tướng!

Người Buôn Gió

25-07-2015

Sau nhiều lần đồn đoán của dư luận và cải chính thông tin từ báo chí về tính mạng của đại tướng Phùng Quang Thanh. Ngày 25/7.2015 báo chí Việt Nam đưa tin đại tướng Phùng Quang Thanh về nước.

Nhưng không hề có tấm ảnh hay vài giây clip ngắn ngủi nào để chứng minh được đó là đại tướng Phùng Quang Thanh thật sự. Tất cả tấm hình chỉ là chiếc xe , duy nhất một tấm hinh chụp từ xa nói một người mặc vét xám là ông Thanh. Tuy nhiên tấm hình mờ đến nỗi không ai dám khẳng định là ông Thanh. Chưa kể những chi tiết như mái tóc chải ngược bên thông thường hay tư thế chân đứng rất khó hiểu.

Bây giờ xét theo luồng dư luận ông Phùng Quang Thanh còn sống và khoẻ mạnh.

Nếu vậy tại sao không đưa ra bằng chứng rõ ràng cho luồng  dư luận khỏi nghi ngờ, bán tán ông đã chết ?

Người ta bảo không việc gì phải giải thích với những ai nghi ngờ thiếu thiện chí.?

Chẳng phải từ khi tin ông Thanh chết ở bên Pháp đến giờ, bao lần tướng lĩnh như tướng Thước, tướng Tuấn và các chuyên gia y tế cao cấp như ông Khải phải lên báo giải thích đó sao.? Thậm chí là đến Bộ Ngoại Giao cũng phải lên tiếng đính chính đó sao.?

Ông Thanh còn sống và khoẻ manh, tin vẫn cứ đồn ông chết. Một người bình thường thôi, như bà Châm ở Hải Dương tin đồn bà ấy chết, lập tức có clip đưa ra bà vẫn sống và đang nói. Ai trong trường hợp bị đồn như thế họ cũng sẽ tìm cách chứng minh đưa ra những bằng chứng xác thực không thể chối cãi. Trừ những trường hợp trốn nợ thì họ có thể ỡm ờ.

Ông Thanh còn sống, dư luận đồn ông chết. Ông mang thân là một đại tướng, bộ trưởng quốc phòng, uỷ viên BCT. Cái uy danh của ông rất lớn, bởi lớn thế mới thu hút được tin đồn.

Thế nhưng báo chí có vẻ không thiện chí trong việc làm sáng tỏ cho ông, kiểu đưa tin như tôi gọi nói với thư ký, hoặc tấm hình cái xe càng khiến dư luận rối mù, xôn xao bàn tán hơn.

Chả lẽ mang uy danh đại tướng ra để làm trò vờn thông tin. Úp mở để dư luận đồn đoán sai, rồi mới trưng bằng cớ thật ra là ông còn sống đây. Các thế lực thù địch, đài báo, bọn lâu nhâu bloger, facebook chỉ là đồn sai trái, không căn cứ, đừng tin vào chúng. Hãy tin vào báo chí cách mạng.

Làm thế không đáng chút nào, uy danh của một đại tướng không thể đem ra làm trò nghi binh để chiến thắng trong một trận chiến truyền thông lãng nhách như vậy. Lấy uy danh đại tướng ra để vờn như vậy là nhục mạ uy danh ấy. Không coi con người ấy, vị trí ấy ra gì. Mới sử dụng vào mục đích thấp hèn để đánh lừa, gài bẫy dư luận.

Các tờ báo ” chính thống ” như Quân đội nhân dân, công an nhân dân, nhân dân, trang chính phủ họ đứng ngoài cuộc. Tờ báo quân đội nhân dân không hề đăng một tin nào về ông Thanh suốt trong những ngày dư luận đồn đại.

Những tờ báo hạng hai như Vietnamnet, dantri, thanhnien…thì tới tấp đưa những tin mơ hồ, thiếu chứng cứ liên tục. Đưa như thể câu lượng đọc chứ không phải là muốn bảo vệ uy tín của ông Phùng Quang Thanh.

Nếu ông Phùng Quang Thanh còn sống, còn đường đường là đại tướng bộ trưởng quốc phòng, còn là uỷ viên BCT…liệu ông có chấp nhận mình là một con bài để báo chí cách mạng dùng lập lờ nhằm đánh một cú đau vào những đồn đoán hay không.?

Giả sử ông chấp nhận làm vật nghi binh, chỉ để làm cái trò lật mặt dư luận trong lần này thôi, chả đáng tí nào. Đại tướng mà đồng loã để làm trò như vậy còn gì là đại tướng. Không ai đi đùa với tin đồn mình chết, kể cả người bình thường, vì họ còn bố mẹ , anh em, họ hàng nữa.  Anh chấp nhận đùa thế với dư luận, nhưng thân nhân của anh họ có chấp nhận hay không.?

Giờ thì thử xác định ông Thanh còn sống và khoẻ mạnh. Chắc hẳn sau cú làm bẽ bàng dư luận. Người ta còn thấy thương hại cho ông vì đã mang danh đại tướng ra để làm trò ú tim.

Các tờ báo đưa tin ông Thanh còn sống, đi làm việc chỗ này , chỗ kia mà không đưa ra bằng chứng xác thực đánh tan nghi ngờ của dư luận, chính là những tờ báo đang mang uy tín, danh giá của một lãnh đạo cao cấp ra làm trò dền dứ , câu nhử dư luận.

Như thế là đang xúc phạm, sỉ nhục và lăng mạ một đại tướng.

Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’

Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-26

07262015-heavy-hand-mesu-by-authomk-hr-stau.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trong ngày tuyệt thực của phong trào ‘We Are One’ (Chúng Ta là Một)

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trong ngày tuyệt thực của phong trào ‘We Are One’ (Chúng Ta là Một)

Courtesy Danlambao

Những nhà hoạt động vì quyền con người tại Việt Nam cho biết họ phải đối diện với những biện pháp sách nhiễu, thậm chí hành hung, bỏ tù của chính quyền. Thế nhưng càng bị trấn áp bao nhiêu họ lại càng kiên định và mạnh mẽ hơn trên con đường đã chọn.

Hành động phi pháp

Tình trạng ngăn chặn, sách nhiễu và hành hung đối với những người công khai lên tiếng đấu tranh cho mọi quyền căn bản của con người tại Việt Nam diễn ra mới nhất là vào ngày 25 tháng 7 khi nhiều người trong nước hưởng ứng ngày tổng tuyệt thực kêu gọi trả tự do cho những tù nhân lương tâm trong nước.

Lực lượng an ninh tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa cưỡng bức về đồn công an một cách thô bạo là những nhà hoạt động đến tại công viên bãi biển trên đường Trần Phú để tọa kháng- tuyệt thực theo như thông báo từ trước.

Anh Phạm Văn Hải, một trong số những người bị đưa về đồn công an phường Lộc Thọ sớm nhất kể lại sự việc đối với bản thân anh và những hành vi của lực lượng chức năng mà anh này cho là vi phạm nhân quyền:

” Hôm qua thực sự tôi mới thấy công an đánh dã man thật. Trước đây tôi có nghe anh em bị đánh nhưng chưa nhìn thấy bao giờ hết. Họ như những con thú điên: họ đánh, đá bất kể là phụ nữ, đàn ông gì, họ đánh như vậy

Chị Trương Hoàng Anh”

“ Tôi vẫn yêu cầu phải trả tự do cho tôi sớm chứ tôi không muốn ngồi ở đó. Tuyệt thực là quyền của tôi và tôi muốn tuyệt thực ở ngoài kia chứ không phải ở đây. Thế nhưng họ nhất quyết không trả tự do và những lần tôi đi toilet họ đều đi theo và đứng ngoài cửa. Họ vi phạm đến quyền cá nhân của mình một cách rất nghiêm trọng.”

Chị Trương Hoàngh Anh, một trong nhóm tại Nha Trang bị cưỡng bức phải về đồn và bị hành hung cùng với ba người bạn khác là Nguyễn Phi Tâm, Võ Trường Thiện và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trình bày lại sự việc xảy ra vào sáng ngày 25 tháng 7 khi họ ra công viên bãi biển đường Trần Phú để tọa kháng- tuyệt thực:

“Khi đến, tôi thấy công an, an ninh, dân phòng rồi cả công an giao thông dàn quân ra bao vây hết khu đó rồi. Bốn người không làm gì hết chỉ ngồi trên bãi có chỗ lối đi ở công viên, ngồi chơi chứ không làm gì. Đến hơn 9 giờ, tức 9 giờ bắt đầu tuyệt thực, thì họ ập lại họ đánh, họ gây sự lôi từng người ra đánh. Họ lột áo màu trắng đồng phục ra.

Hôm qua thực sự tôi mới thấy công an đánh dã man thật. Trước đây tôi có nghe anh em bị đánh nhưng chưa nhìn thấy bao giờ hết. Họ như những con thú điên: họ đánh, đá bất kể là phụ nữ, đàn ông gì, họ đánh như vậy!”

Blog Revolt Media đưa tin nhóm tuyệt thực ở Nha Trang bị tấn công và bắt bớ

Blog Revolt Media đưa tin nhóm tuyệt thực ở Nha Trang bị tấn công và bắt bớ

Chuyện thực nhà tù

Vào sáng ngày hôm qua, một tù nhân lương tâm mãn án sau 15 tháng tù về tội bị buộc  là ‘chống người thi hành công vụ’, bà Cấn Thị Thêu. Ngay sau khi ra tù bà cũng cho biết lại tình cảnh của bản thân bà và một số tù nhân lương tâm nữ bị giam tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa như sau:

“Họ giam chúng tôi vào một khu biệt lập, phải qua 4 tầng cửa sắt mới vào được nơi ở của chúng tôi. Họ xây tường rất cao, cửa sắt nhỏ, không có quạt nên rất ảnh hưởng đến sức khỏe. Đối với bản thân tôi từ khi bị bắt, bị đánh cho đến nay ngày nào cũng ‘thổ’ ra máu tươi; nhưng tôi báo với họ thì họ nói chắc do trở trời.

Giam chúng tôi sau bốn tầng cửa sắt không cho giao tiếp với ai, khi gọi điện thoại thì họ cấm không cho thông báo tình hình sức khỏe của chúng tôi ở trong tù. Nơi giam chúng tôi rất bí, không có không khí để thở. “

Biện pháp mua chuộc

Anh Phạm Văn Hải cho biết ngày 25 tháng 7 anh công khai tham gia tuyệt thực để hưởng ứng kêu gọi trả tự do cho những tù nhân lương tâm tại Việt Nam, và khi bị bắt về công an phường Lộc Thọ, trong khi anh tuyệt thực, có nhân viên đến dụ anh ăn:

“ Họ đặt camera và có người đến bảo đến giờ này nên ăn gì. Tôi từ chối tất cả và nói việc tôi tuyệt thực để thứ nhất đòi lại tự do cho những tù nhân lương tâm đang bị giam, mất quyền tự do và tôi tuyệt thực kiên quyết không ăn gì!”

Đối với trường hợp bà Cấn Thị Thêu kiên quyết đấu tranh đòi lại đất đai- tư liệu sản xuất cho gia đình và người dân Dương Nội, trong thời gian bị bắt giam bà cũng bị mua chuộc từ bỏ cuộc đấu tranh. Bà cho biết:

” Tôi nghĩ rằng khi họ gây ra quá nhiều tội ác: đàn áp, đánh đập chúng tôi thì chính họ mới thúc đẩy lòng căm thù và ngọn lửa đấu tranh để người dân vùng lên chống lại họ

Bà Cấn Thị Thêu”

“Khi tôi bị bắt, nhiều ngày suốt bao tháng trời họ thương thuyết với tôi rất nhiều: họ bảo ‘giúp’ họ thì sẽ giải quyết riêng cho gia đình tôi, họ có thể cho gia đình tôi vài chục tỷ đến cả trăm tỷ để không tham gia cuộc đấu tranh nữa. Nhưng tôi nói thẳng với họ tôi không thể phản bội lại nhân dân chúng tôi, không bao giờ tôi phản bội lại lý tưởng đấu tranh của tôi. Vì không thuyết phục được tôi nên họ mới đưa tôi ra tòa và lập phiên tòa để xét xử tôi. “

Không thể cản ngăn

Những người bị tù tội như bà Cấn Thị Thêu hay bị hành hung, sách nhiễu như chị Trương Hoàng Anh ở Nha Trang đều cho rằng chính hành động nặng tay của các lực lượng chức năng lâu nay khiến họ nhận thấy rõ bản chất tàn ác và củng cố thêm quyết tâm đấu tranh cho chính nghĩa, cho quyền con người.

Chị Trương Hoàng Anh vào ngày 26 tháng 7 phát biểu:

“Những người như tôi không thể khuất phục bằng vũ lực được và tôi tin tưởng bạn bè tôi cũng không bao giờ để vũ lực khuất phục.  Chắc chắn tôi và bạn bè tôi sẽ có những hành động hợp pháp, đúng pháp luật, đúng với lương tâm của mình để ủng hộ những tù nhân lương tâm và để ủng hộ nền dân chủ của Việt Nam thay đổi chứ không thể để như thế này được: vi phạm nhân quyền quá trắng trợn. Hôm qua người dân chứng kiến rất đông. Tất nhiên khi về họ sẽ suy nghĩ tại sao xảy ra những chuyện như vậy và họ sẽ biết. Dần dần người ta sẽ hiểu thôi!”

Bà Cấn Thị Thêu ngay sau khi ra tù cũng khẳng định:

“Đối với tôi từ khi bị bắt, cho đến khi ra tòa lúc họ cho tôi nói lời cuối cùng thì tôi thề còn hơi thở cuối cùng nào tôi sẽ đấu tranh đòi lại tài sản, đất đai của gia đình tôi và của nhân dân chúng tôi. Tôi quyết tâm đấu tranh để chống lại quân cướp đất đến cùng

Tôi nghĩ rằng khi họ gây ra quá nhiều tội ác: đàn áp, đánh đập chúng tôi thì chính họ mới thúc đẩy lòng căm thù và ngọn lửa đấu tranh để người dân vùng lên chống lại họ.

Tôi nghĩ rằng nhân dân chúng tôi với sự quyết tâm, với hiện tại chúng tôi không còn gì để sống thì nhân dân chúng tôi phải như nước vỡ bờ vùng lên để đòi lại những gì mà chúng tôi đã mất.”

Tuyên giáo Hà Nội luôn nhắc đến câu ‘ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh’; và thực tế này đang diễn ra ngày càng một rõ hơn tại Việt Nam hiện nay.

Anh đã về!

Anh đã về!

canhco

Ồ! anh ấy đã về. Về với nhân dân về với vòng tay nồng ấm của đồng đội, gia đình.

Anh về trong tiếng chào mừng êm ái của người thương yêu anh, những người cứ canh cánh về sinh mạng của anh, một sinh mạng quan yếu của đất nước trong thời điểm cần một người lãnh đạo sáng suốt và mạnh mẽ như anh, nhắm quân thù mà bắn, nhắm là cờ của chúng mà giật mà hạ thủ trên vùng trời quê hương….

Anh đã về, mà lạ, những lời lẽ bình thường mà bất cứ một lãnh đạo cao cấp nào cũng được dùng tới khi xuất…viện, chỉ có anh là hoàn toàn không, hoàn toàn im ắng, hoàn toàn bưng bít như ngày anh…nhập viện.

Sao thế? Anh không xứng đáng ư? Anh không về để tiếp tục là người cầm ngọn cờ đầu của Đảng của Quân đội nhân dân ư? Anh bệnh hoạn và yếu ớt nên để anh nghỉ dưỡng ư? Có Đảng mới biết điều bí mật to lớn này. Chỉ có Đảng mới đủ sáng suốt quyết định số phận của anh. Tiếp tục làm người bảo vệ đến cùng tình hữu nghị sáng ngời hay phải rút lui vào bóng tối cho một trào lưu khác hành động. Trào lưu mà vài tuần lễ trước anh không hề tưởng tượng ra chứ nói chi là sẵn sàng đối mặt.

Anh về trên chuyến bay do Mỹ chế tạo, Boeing 777. Anh ngồi hay nằm trong khoang hành khách chỉ có đội bay mới biết, hành khách chung chuyến không biết. Họ vô tình hay vô ý quá trước một nhân vật cực kỳ ăn khách hiện nay. Không ai trong chuyến bay có được một điện thoại smart phone để ghi lại hình ảnh lịch sử mà truyền thông trong và ngoài nước chăm chú trông chờ. Anh còn yếu nên có lẽ đồng đội thương yêu quá đỗi không nỡ để anh bị làm phiền. Anh về, vì vậy không ai thấy, không ai nghe.

Báo chí loan tin là đủ để yên lòng nhân dân. Báo chí lúc nào chẳng thế họ được sinh ra để làm tròn bổn phận đưa những nguồn tin trung thực từ Đảng. Họ là một tầng lớp được đào tạo bài bản, được học tập tới nơi tới chốn vai trò của người truyền thông Xã hội chủ nghĩa, vì vậy việc loan tin anh về hoàn toàn đúng đắn bởi họ cẩn trọng đến từng chi tiết.

Anh về, không ai đón thì thôi, anh không buồn hay không hề thắc mắc. Anh biết khi đã chọn con đường như thế thì trước sau cũng gặp kết cục này. Những kẻ khác cũng thế có hơn gì nhau. Anh chỉ là nạn nhân của một âm mưu vĩ đại mà chiếc áo thái thú anh mặc để đóng tròn vở kịch mà Đảng giao phó rốt cuộc chỉ một mình anh chịu hậu quả.

Anh chịu tiếng dữ như kẻ phản bội dân tộc. Anh bị cho là cánh tay của Nam trung hải cài cắm vào nội bộ Đảng. Oan cho anh, một người chỉ lo làm sao đừng để bị bọn phương Bắc tấn công, nỗi lo của anh có khi diễn tả hơi thô ráp khiến người dân hiểu lầm. Đáng lẽ anh phải được Đảng tạo cơ hội  thanh minh những điều anh nói phát xuất từ cái tâm lo lắng cho toàn dân trước họa Trung Quốc. Ngược lại Đảng cố tình làm cho việc anh đi chữa bệnh như là bí mật quốc gia khiến bọn báo chí phương Tây bu lại làm phóng sự sới tung cả lên những gì mà anh và gia đình muốn giữ.

Hôm nay anh về nhà, anh sẽ được gia đình lo lắng cho phần còn lại của anh sau một thời gian tuy ngắn nhưng đầy phong ba nơi xứ người. Anh thở phào trút hết phiền muộn và sẵn sàng cho một cuộc sống mới, ôn lại những tháng ngày tại vị với biết bao niềm luyến tiếc.

Và anh hiểu ra rằng cuộc đời con người ta là ngắn ngủi không đủ để nói một câu trần tình sự thật tận đáy lòng huống chi những điều to tát khác. Anh sẽ cố tranh thủ mà nói cho được những gì mà Đảng không muốn anh nói, bất kể đó là cái lương tâm hiếm hoi mà một Bộ trưởng quốc phòng có được.

Anh buồn và anh im lặng suy nghĩ mình cần phải làm gì trong thời gian tới. À, chắc chắn phải khác với người đồng chí đoản mệnh của anh. Anh phải khác đồng chí ấy. Cho dù là một lãnh chúa miền Trung cũng không thề nào bằng được anh. Anh không hề là lãnh chúa nhưng lịch sử đã trao trách nhiệm nặng nề cho anh: ngăn chặn một cuộc chiến tranh thấy trước bằng sự hy sinh tăm tiếng của mình, cúi đầu chịu nhục cho một lũ đầu hoạt đầu chính trị có cơ hội ăn trên ngồi trốc trên cái ngai vàng rất rộng ấy.

Anh về trong ánh mắt căng cứng của nhân dân nhưng tiếc thay không ai gặp anh được để anh có cơ hội nói một câu thôi, “Tôi khỏe rồi, đồng chí đồng bào ơi”.

Thì thôi anh không nói nhưng nhân dân đều hiểu. Vậy nhé anh Thanh, người chịu lằm điều thị phi trong cái hỗn mang thời cuộc. Hãy gắn bó với gia đình, chỉ có gia đình mới đủ yêu thương để che chở cho anh trước búa rìu dư luận. Tuy không yêu anh đủ để chúc anh mạnh khỏe nhưng nhiều người cũng thành tâm cầu cho anh được thanh thản với thời gian còn lại.

Còn thanh thản cách nào thì tùy vào các đồng chí của anh. Họ đã vượt ra khỏi thượng đế và do đó họ chính họ là người định đoạt cho số phận của anh. Đừng buồn, anh Thanh và những anh khác nhé.

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Khi đọc bản tin hai du khách người Việt bị bắt vì ăn cắp ở mấy đôi kính mát ở Zurich, Thụy Sĩ tôi rất buồn. Ðã đi tính ăn cắp tại sao hai cháu không làm ăn “quy mô lớn xã hội chủ nghĩa” mà lại đi ăn cắp vặt như vậy? Về Hà Nội, “phấn đấu vào đoàn,” rồi “phấn đấu vào đảng” để làm những vố lớn có hơn không? Nếu sau này không được như Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, thì ít nhất cũng theo gót được Nguyễn Xuân Sơn chứ?

Sau Nhật Bản, Thái Lan, Ðài Loan, từ nay lại thêm Thụy Sĩ là nơi người ta phải cảnh giác khi thấy du khách người Việt Nam. Sỉ nhục cho cả dân tộc! Nhưng nghĩ cho cùng, không phải mấy cá nhân phạm pháp gây ra mối nhục này; họ cũng là nạn nhân. Chính phạm là một chế độ ăn cắp từ trên xuống dưới, lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ!

Khi trở về Hà Nội, chắc hai cháu đã nghe tin Nguyễn Xuân Sơn. Mấy bữa trước còn chễm trệ trên ghế chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam), giờ Sơn đang bị truy tố về tội “làm mất” 800 tỷ đồng (tương đương 36 triệu Mỹ kim) của công ty dầu khí, khi còn làm tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ðại Dương (OceanBank).

Nguyễn Xuân Sơn đã làm trong ngành dầu khí từ 30 năm. Ông trở thành tổng giám đốc OceanBank sau khi PetroVietnam góp số vốn lớn vào ngân hàng này, có lúc chiếm hai phần ba vốn góp. Một công ty dầu khí lại đi khai thác ngân hàng, cũng như một công ty hàng hải Vinashin đi làm khách sạn, mua địa ốc, vân vân. Ðó là chính sách kinh tế quốc doanh của Nguyễn Tấn Dũng: Chúng mày làm cái gì ra tiền thì cứ làm! Trong một năm từ 2008 khi Nguyễn Xuân Sơn nhậm chức, số nợ xấu của OceanBank tăng gấp 9 lần, lên hơn 100 tỷ đồng! Ðến năm 2012 thì vọt thành 700 tỷ. Nợ xấu là những món tiền ngân hàng cho vay nhưng khó đòi lại được, để lâu “cứt trâu hóa bùn.”

Thế thì 100 tỷ đồng năm trước, 700 tỷ đồng bạc năm sau, chúng chạy đi đâu cả? Chắc chắn nó vào túi những thằng đứng vay cũng như những thằng cho vay! Cái đứa chấp thuận cho vay còn phải “đóng hụi chết” cho những đứa ngồi trên đầu nó nữa, chứ không ai cho ngồi vào những cái ghế béo bở!

Nhưng mà các đồng tiền ấy nguyên thủy chúng ở đâu mà ra? Như trong vụ này, họ lấy tiền của PetroVietnam đưa qua cho OceanBank. Mà PetroVietnam kiếm được tiền nhờ bán dầu của nước Việt Nam, của dân Việt Nam. Ðồng tiền của dân chạy sang một ngân hàng của nhà nước, rồi từ đó chạy qua túi những đứa đứng vay tiền và cho vay tiền! Những người “phấn đấu vào đảng” nới có cơ hội hóa phép cho các đồng tiền chạy lòng vòng, cuối cùng biến chúng lọt vô túi mình một cách dễ dàng như vậy! Ngân hàng chỉ là cái dây chuyền đem tiền của dân vào túi bọn tham nhũng! Hàng ngàn tỷ đồng tiền mất tích! Mà 90 triệu người Việt Nam không ai thấy gì cả, cho tới khi chúng nó đánh lẫn nhau! Ðó là phép lạ kinh tế thị trường theo định hướng ăn cắp!

Nguyễn Xuân Sơn đã trở về PetroVietnam khi nợ xấu mới lên tới 700 tỷ, rồi leo lên đến chức chủ tịch, chứng tỏ cán bộ tài chánh này đã được cấp trên tán thưởng và tin cậy. Nhưng với những món nợ không đòi lại được cao ngất nghểu thì tất nhiên sau khi Sơn chạy rồi, OceanBank chỉ còn đường xuống dốc. Từ cuối năm ngoái, những người kế nghiệp ông ta ở ngân hàng là Hà Văn Thắm và Nguyễn Minh Thu đã bị bắt, bị truy tố. Mới đây, ngân hàng trung ương gọi là Ngân hàng Nhà nước báo tin đã mua lại tất cả vốn và nợ của OceanBank với giá 0, số không, zero đồng! Tức là tất cả số vốn do PetroVietnam góp vô đó tan thành mưa bụi, thành mây khói. Ðây không phải là lần đầu có chuyện này mây mưa như vậy. Năm tháng trước, Ngân hàng Nhà nước mới “mua lại” Ngân hàng Xây dựng với giá cũng zero đồng – chủ tịch cũ Phạm Công Danh với tổng giám đốc Phan Thành Mai đã bị bắt vào năm ngoái!

Ðọc những tin tức trên, chúng tôi tội nghiệp hai cô chú bị bắt ở Zurich, hay những người ăn trộm chó bị bắt ở Ðài Loan, những cô tiếp viên phi hành xinh đẹp bị cùm ở Nhật Bản! Toàn là những món trộm cắp lặt vặt, không bao giờ tiến lên chủ nghĩa xã hội được! Mà bọn họ tất cả đều là nạn nhân, vì họ chỉ nhiễm độc thói sống bằng cách ăn cắp, thăng quan tiến chức nhờ ăn cắp, trong một xã hội mà bọn cầm đầu từ trên xuống dưới đứa nào cũng phải ăn cắp!

Nhắc lại: Phải ăn cắp! Vì không ăn cắp thì không sống được trong hệ thống “đạo kiếp trị” (kleptocracy) đó. Một người cháu sống ở Hà Nội đã giải thích cho tôi tại sao đường sá ở Việt Nam mới làm năm trước năm sau đã hư: “Khổ lắm bác ơi; nước mình nó khác nước Mỹ! Nếu bác làm đường mà cả mười năm không chỗ nào hư hỏng thì chúng nó làm thế nào kiếm ăn được? Không đứa nào nó cho bác trúng thầu đâu! Mỗi năm chúng nó phải kiếm một món về đường sá, một món về trường học, một món nhờ chỗ này, nhờ chỗ khác chớ?”

Ai cũng biết Hồ Chí Minh không phải là tác giả câu “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân.” Nhưng chế độ cộng sản do ông lập ra ở nước ta đã đẻ thêm được một kế mới, Quản Trọng đời xưa không thể nào bịa ra được: “Niên niên chi kế mạc như tu lộ!” Thế là “Người người ăn cắp, ngành ngành ăn cắp,…” Nền văn hóa ăn cắp xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ bản này: Nhìn lên trên thấy đứa nào cũng ăn cắp, những người lương thiện tự hỏi: Tại sao mình “ngu” mãi để cho cái chúng nó thèm thuồng? Thèm từ đôi kính mát Gu gu Chi chi chi đó!

HÃY CHO HỌ ĂN

HÃY CHO HỌ ĂN

AM. TRẦN BÌNH AN

Trích EPHATA 651

Vào một đêm nọ, có một người đàn ông đến nhà chúng tôi và nói: “Có một gia đình với tám đứa con. Họ đã chẳng có gì ăn suốt mấy ngày nay.” Tôi đem theo môt ít thức ăn và ra đi. Khi tôi đến gia đình đó, tôi thấy khuôn mặt của những đứa bé méo xệch đi vì đói. Không có một nỗi buồn đau nào trên những gương mặt ấy, chỉ có vết hằn sâu của sự đói khát. Tôi đưa gạo cho người mẹ. Bà chia túi gạo ra làm hai, rồi đi ra ngoài, mang theo một nửa. Khi trở lại, tôi hỏi: “Chị đi đâu vậy ?” Bà bình thản trả lời: “Sang những người hàng xóm của tôi, họ cũng đang đói !” Tôi không ngạc nhiên vì bà đã san sẻ số gạo ấy, vì quả thực những người nghèo rất hào phóng. Tôi chỉ ngạc nhiên là bà ấy biết họ đang đói. Vì một lẽ tự nhiên, khi chúng ta chịu đựng một nỗi thống khổ nào đó, chúng ta có xu hướng quá tập trung vào bản thân mình, đến nỗi chẳng có thời gian cho người khác.

Cách đây một thời gian, tôi đã có một chuyến đi đến Ethiopia. Các chị em chúng tôi đã làm việc ở đó suốt mùa hạn kinh khủng năm ấy. Khi sắp rời đi, tôi nhận thấy có rất nhiều trẻ em vây quanh mình. Mỗi em đều cầm trên tay một thứ gì đó, nói: “Hãy đem thứ này về cho các em ! Hãy đem thứ này về cho các em !” Chúng có nhiều món quà muốn gửi đến người nghèo của chúng tôi. Rồi một đứa bé, vốn dĩ lần đầu tiên trong đời có được một thỏi sôcôla, đã đến bên tôi nói: “Con không muốn ăn nó, Mẹ hãy đem nó về cho các bạn.” Đứa bé ấy đã cho thật nhiều, vì miếng kẹo ấy là tất cả những gì quý giá mà em có.

Một bữa nọ, tôi nhận được mười lăm đôla từ tay một người đàn ông đã bị bại liệt trong hai mươi năm. Căn bệnh quái ác đã khiến ông chỉ còn dùng được tay phải của mình. Bầu bạn duy nhất của ông là thuốc lá. Ông nói với tôi: “Tôi đã ngưng hút thuốc lá một tuần nay. Tôi gửi cho Mẹ số tiền mà tôi tiết kiệm được nhờ không mua thuốc.” Đó hẳn phải là một hy sinh vô bờ bến của ông ta. Tôi mua bánh mì bằng tiền của ông, đem cho những người đang đói. Thế là cả người cho và người nhận đều có được niềm vui.

Trao tặng là chia sẻ. Tôi không muốn bạn cho tôi thứ mà bạn đã bỏ đi, mà cho đi thứ bạn muốn, thứ bạn cần. Tôi muốn bạn cho đi bản thân mình. Tình yêu mà bạn đặt vào sự ban tặng là điều quan trọng nhất. Cơ hội chia sẻ tình yêu của chúng ta với người khác chính là một món quà của Chúa. ( Bích Nga, Ngọc Sáu, Hoa Phượng, Mẹ Têrêsa, Trên Cả Tình Yêu ).

Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay thuật lại Đức Giêsu làm phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người đàn ông ăn no dư thừa, chưa kể phụ nữ và trẻ em, còn dư mười hai thúng. Đôi bờ đói no của nhân loại hôm nay vẫn còn xa cách vời vợi hơn bao giờ. Nên năm chiếc bánh và hai con cá của cậu bé dâng hiến hẳn âm thầm gửi đến Kitô hữu nhiều thông điệp sâu xa thấm thía.

Chiếc bánh thứ nhất: Yêu thương

Vừa gặp lại các Tông Đồ trở về sau một hành trình Đi Gieo, Đức Giêsu vui mừng thân thương nhắc nhở các ông vào nơi thanh vắng nghỉ ngơi. Nhưng thấy đám người đông lũ lượt tìm đến, thì Người chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” ( Mc 6, 34 ). Tình yêu tha nhân, lòng thương xót của Đức Giêsu, vô cùng mãnh liệt, ưu tiên trổi vượt, lấn át và vô hiệu hóa những chương trình, dự tính, ý muốn riêng tư của ngay chính Người.

Chiếc bánh thứ hai: Trách nhiệm

Đức Giêsu hăng say giảng dạy dân chúng cho đến nhá nhem tối mới tạm ngừng. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn ?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm” ( Ga 6, 5 ). Thánh Maccô ghi lại chi tiết khá minh bạch: Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm, làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi” ( Mc 6, 35-37 ).

Tuy câu nói của Đức Giêsu qua hai Thánh ghi chép Tin Mừng có khác nhau về hình thức, nhưng cùng chung một ý tưởng. Đó là thay vì để các môn đệ tránh né bổn phận chăm sóc cộng đoàn, thì Đức Giêsu trao trách nhiệm chính thức cho các ông phải quan tâm giải quyết những nhu cầu chính đáng, cấp bách của cộng đoàn, không thể vịn cớ gì lạnh lùng lảng tránh, từ chối.

Chiếc bánh thứ ba: Quảng đại

“Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người” ( Ga 6, 9 ). Đây là điều Đức Giêsu đang trông chờ ngay từ đầu vụ việc. Tuy Chúa quyền năng vô song, tác tạo và biến hóa mọi sự, nhưng Chúa luôn đòi hỏi, cần có sự đồng điệu, hợp tác, dâng hiến của con người, vì Người tôn trọng sự tự do, không ép buộc bất cứ ai.

Cậu bé rộng rãi, quảng đại, nhân ái, đã không ích kỷ giữ bánh và cá cho riêng mình, mà với cả tấm lòng thành, hoàn toàn dâng hiến tất cả, chia sẻ, cho đi mọi sự cho Chúa. Người luôn chờ đợi một tấm lòng hiến dâng trọn vẹn như thế. “Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu” ( Hs 6, 6 ). Chính Đức Giêsu cũng tái xác nhận: “Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” ( Mt 9, 13 ).

“Kitô giáo là cho đi”. Chúng ta phải cho đi, dù phải đến mức đau đớn nhất. Để trở thành một tình yêu thương thật, thì tình yêu thương phải có cái giá của nó. Đối với Chúa Giêsu, cái giá đó là tình yêu chúng ta. Ngay cả Thiên Chúa cũng có cái giá của tình yêu: Ngài đã trao ban con một Ngài cho chúng ta” ( Mẹ Têrêsa Calcutta ).

Chiếc bánh thứ tư: Nhân hậu

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích” ( Ga 6, 11 ). Từ năm chiếc bánh và hai con cá dâng hiến của cậu bé, Đức Giêsu đã biến ra nhiều cho cả vạn người ăn dư thừa. Sự cho đi dẫu nhỏ bé, chẳng đáng kể, lại được tình yêu hồi đáp bằng đại lượng kỳ diệu. Lòng nhân hậu của Chúa khôn lường vô cùng. Người tiếp tục chạnh lòng thương dân chúng đói khát, làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều thêm lần thứ hai ( x. Mc 8, 1-10 ). Bởi vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta” ( Tv 103, 8-10 ).

Đức Giêsu giảng dạy và hóa bánh ra nhiều nuôi dân chúng hôm nay, là dấu chỉ Người sẽ còn tận tình chiêu đãi dân chúng bữa tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể sau này. Các Tông Đồ sau khi tham dự sứ mạng rao giảng, cũng được Đức Giêsu trao phó công việc chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên.

Chiếc bánh thứ năm: Công bình

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích.” Không phân biệt nam nữ, già trẻ, giầu nghèo, chức tước, địa vị, Đức Giêsu phân phát bánh và cá tùy theo nhu cầu mỗi người. Hết thảy đều no đầy phúc đức. Hồng ân Thiên Chúa luôn phổ quát, công bình và phong phú cho mọi người, như hạt giống gieo vãi, như mưa sa, nắng ấm. Bởi vì “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” ( Mt 5, 45 ).

Con cá thứ nhất: Thanh bần

Trong tinh thần nghẻo khó, thanh bần, Đức Giêsu không muốn hoang phí bỏ đi bánh và cá dư thừa, vì còn bao kẻ đói khát đang còn mong chờ được trao tặng lương thực. “Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.” Tần tiện, tiết kiệm để chia sẻ với người cơ nhỡ, cũng như trân trọng dành dụm của ngọc thực để tích cốc phòng cơ, đó chính là một khía cạnh của đức thanh bần.

“Đừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng” ( Đường Hy Vọng, số 412 ).

Con cá thứ hai: Thiên ​Quốc

“Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian”. Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình” ( Ga 6, 15 ). Hưởng phúc lợi tràn trề, được chữa bệnh, được cho ăn no nê, dân chúng hăm hở muốn tôn vinh Đức Giêsu làm hoàng đế, vì thấy Người đúng là Đấng Messia mà họ hằng mong đợi, sẽ giải thoát dân Do Thái khỏi ách đô hộ của Rôma. Đó cũng là cơn cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu trong hoang mạc, quyền lực thế gian.

Lúc này, Đức Giêsu nhìn thấy rõ tà tâm trong lòng dân chúng háo lợi, thực dụng, chỉ muốn người lãnh đạo cung phụng cho họ, theo ý muốn thấp hèn của họ mà thôi. “Các ông đi tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” ( Ga 6, 26 ). Trong khi Nước Chúa đâu lệ thuộc vào thế gian phù phiếm, mau biến đổi và hư nát. Bơi chưng, “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc Trong Thánh Thần” ( Rm 14, 17 ).

“Với năm cái bánh và hai con cá của em bé, Chúa đã làm phép lạ nuôi năm ngàn người. Chúa vẫn toàn năng, nhưng Chúa yêu thương thiện chí của con” ( Đường Hy Vọng, số 824 ).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường thiếu lòng quảng đại, không dám cho đi những gì chúng con đang có, chỉ vì sợ mất mát, thua thiệt, chì vì thiếu Tình Yêu, thiếu niềm tin và thiếu lòng cậy trông vào Chúa Quan Phòng. Xin Chúa mở lòng trí chúng con, thấu hiểu ý nghĩa cao trọng của phép lạ hóa bánh ra nhiều, để chúng con sẵn sàng cho đi mọi sự, kể cả bản thân, với tình yêu tha thiết chân tình, như cậu bé dâng hiến tất cả bánh và cá cho Chúa dưỡng nuôi tha nhân.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã dâng hiến trọn đời cho Chúa, xin cầu bầu, dạy bảo, hướng dẫn chúng con noi theo Mẹ, hiến dâng lên Chúa tất cả mọi sự, từ thân xác, tâm hồn đến linh hồn, để có thể phục vụ hữu ích cho tha nhân. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt (thực hiện)
LTS: Tiến sĩ Alan Phan là một tên tuổi quen thuộc trong giới kinh doanh, với 43 năm kinh nghiệm về đầu tư vào thị trường Trung Quốc, Hồng Kông và cả Việt Nam. Ông hiện là sáng lập viên của Alan Phan Associates (APA) có trụ sở tại California và Hồng Kông, chuyên tư vấn chiến lược kinh doanh toàn cầu cho các công ty đa quốc. Là tác giả của 11 cuốn sách về kinh tế, xã hội của những thị trường mới nổi, Tiến sĩ Alan Phan còn là một cây bút quen thuộc với nhiều bài phân tích sâu sắc, với thương hiệu “góc nhìn Alan” được nhiều người biết đến. Nhân dịp sắp đến buổi ra mắt hai cuốn sách mới “Doanh Nhân Việt Trong Thế Trận Kinh Tế Toàn Cầu” và “42 Năm Làm Ăn Tại Mỹ Và Trung Quốc -Ấn Bản Usa,” vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, 25 tháng Bảy, 2015, tại hội trường nhật báo Người Việt,  ông dành cho ký giả Hà Giang cuộc phỏng vấn dưới đây:

Hà Giang (NV): Vừa là một người cầm bút, một nhà đầu tư, một giáo sư dậy về kinh doanh, ông tự tả về mình như thế nào?

Alan Phan: Thực tình thì cũng không có gì nhiều để tả. Tôi 70 tuổi, thì đương nhiên là có nhiều trải nghiệm, sống qua bao nhiêu những tình huống, khác hơn là những thế hệ trẻ hơn. Nhưng tôi là con người rất là bình thường: đi học, làm việc, sống cho gia đình, bạn bè, vui chơi. Cũng hưởng thụ nhiều, cũng đau khổ nhiều khi làm ăn. Nhưng nói tóm lại thì cũng là một đời rất là bình thường, không có cái gì đặc biệt. Tôi rất bình an với những gì mình đã có, đă mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xẩy ra rồi, thế thôi.

Tiến sĩ Alan Phan trong buổi phỏng vấn với ký giả Hà Giang, nhật báo Người Việt (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

NV: Ông có thể nói sơ về Alan Phan Associates có trụ sở tại California và Hồng Kông?

Alan Phan: Tôi làm việc bên Hồng Kông cũng khoảng 14, 15 năm, làm một cái quỹ đầu tư do tôi và ba anh bạn khác, người Trung Quốc và người Hồng Kông sáng lập. Chúng tôi đầu tư vào những công ty nhỏ và đem họ lên sàn chứng khoán, mà mình đồng thời cũng là một nhà đầu tư có lợi trong cái dịch vụ đó. Quỹ đầu tư đó hiện giờ vẫn được những người bạn tôi tiếp tục điều hành, thực tình thì là thế hệ sau của những người bạn tôi. Cách đây hai năm, tôi về lại Mỹ, có thể nói là tìm một cuộc đời an lành khác. Nhiều người bạn vẫn đưa công việc tới cho Alan Phan Associates do tôi và khoảng chừng sáu người chuyên gia tư vấn độc lập. Chúng tôi giúp họ tạo ra chiến lược toàn cầu, giúp họ làm những cái M & A (Merger and acquisition), tức thâu tóm và sát nhập vào những công ty bên Mỹ. Thay vì bỏ sức bỏ tiền lập những công ty ở đây, tôi luôn luôn tôi khuyên họ là lợi dụng những công ty có sẵn thị trường ở đây, có sẵn tên thương hiệu, có sẵn những sản phẩm đặc thù, và mình sát nhập vào với công ty của mình bên Trung Quốc hay bên Việt Nam, thì tương đối chặng đường nó dễ hơn, nhanh hơn, thì đó là chiến lược (M&A) toàn cầu mà tôi luôn luôn chủ trương và cổ võ.

NV: Qua 70 năm thăng trầm của cuộc sống, nếu được làm lại, thì ông sẽ giữ phần nào và thay đổi phần nào? Ông có điều gì hối tiếc không ?

Alan Phan: Thật tình thì tôi ít khi suy nghĩ về quá khứ, những chuyện gì nó qua thì nên để cho nó qua luôn. Có những chuyện mình rất là tự hào, rất là vui thú, thì nhìn lại ở cái điểm khác có thể nó không vui thú, không tự hào như mình nghĩ. Hay là những chuyện ngày xưa mình xấu hổ, mình thua thiệt, thì bây giờ nhìn lại nó lại là cái bài học hay. Thành ra thật tình tôi không quan tâm lắm về chuyện quá khứ. Mình sống thì bây giờ đã hơn bảy mươi năm thì cũng trải qua nhiều, từ đỉnh hạnh phúc đến đáy đau khổ, ông trời đã định như vậy rồi, bây giờ mình ngồi nghĩ là nên giữ cái này, vứt cái này, thì với tôi không cần thiết.

Dĩ nhiên có những cái hối tiếc lặt vặt, nhưng mà rồi mình quên đi. Thực tình theo tôi nghĩ những người mà gọi là thành công, không phải thành công lớn như Warren Buffet hay Bill Gates, mà thành công bình bình như tôi, thì khi về già có nhiều thất vọng mang theo, những điều mà mình chưa thực hiện được. Có khá nhiều hối tiếc, đáng lẽ mình nên làm như này, nên làm như thế kia và thêm một cái nữa là thích khuyên bảo như là để lại một cái di sản gì đó cho thế hệ sau. Nhưng với tôi điều quan trọng là mình sống thực với mình, mình không làm hại ai, không chơi xấu ai, tất cả rất là fair play, theo Mỹ nói. Tất cả những cuộc chơi gì mình vào, lúc mình bước ra ngửng cao đầu, dù thắng dù thua, đó là quan trọng.

NV: Hai nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có những điểm gì tương đồng và dị biệt? Liệu rồi kinh tế Trung Quốc có sụp đổ vì thị trường chứng khoán đang bị thụt giá của họ không?

Alan Phan: Chính sách kinh tế của những nhà nước độc tài rất giống nhau, đó không phải là những nền kinh tế thực sự thị trường. Về việc thị trường chứng khoán đang tuột dốc tại Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc sẽ có những biện pháp chống đỡ, có thể sẽ kéo dài năm mười năm. Tại Việt Nam cũng vậy, lúc trước tôi cũng gây nhiều tranh cãi về vấn đề bất động sản tại Việt Nam, tôi cho rằng cứ để cho những dự án này chết, rồi sẽ có nguồn đầu tư khác và sẽ làm lại, nhưng với chính quyền thì họ không thích như vậy. Thà rằng hy sinh kinh tế để giữ cho xã hội ổn định, luôn luôn là phương châm của Trung Quốc và của Việt Nam. Thành ra thị trường chứng khoán của Trung Quốc nó cũng giống như thị trường bất động sản tại Việt Nam, đáng lẽ thì nó phải chết, nhưng chính phủ họ cứ nhất định nuôi. Họ cứ chống đỡ cho càng lâu càng tốt, hy vọng 10 năm sau đó sẽ có phép lạ hay có gì thay đổi, hay những thế hệ sau sẽ giải quyết, phải giải quyết bằng một cách nào đó.

Về dị biệt thì có hai điểm. Thứ nhất là kích cỡ. Trung Quốc, kinh tế của nó phải nói là lớn gấp 15 lần Việt Nam, và nó đi trước Việt Nam khoảng 12, 13 năm, thành ra Việt Nam nghĩa là đang copy những gì Trung Quốc đã làm và đôi khi đã thất bại rồi, nhưng mà mình vẫn cứ làm thế. Và thị trường mình nó nhỏ, không thể phát huy được. Điểm yếu thứ hai là doanh nhân và con người. Tôi đã làm việc với doanh nhân Trung Quốc lẫn Việt Nam thì tôi thấy người Trung Quốc họ chịu khó hơn người Việt Nam nhiều, họ tiết kiệm nhiều hơn, họ cần cù hơn, và họ thủ đoạn hơn, dù là Việt Nam rất là mánh mung không kém ai về mặt thủ đoạn, nhưng để lấy lời ngay lập tức. Người Trung Quốc họ thâm hiểm hơn, họ nghĩ xa hơn, dài hơn, Việt Nam mình so với Trung Quốc thì “mì ăn liền” hơn, còn Trung Quốc thì nó biết nấu nướng, và nó biết đợi.

NV: Ông có lời khuyên gì cho người muốn mang tiền về Việt Nam đầu tư?

Alan Phan: Thật ra thì tôi không dám khuyên, nhưng có hai điều cần yếu quan trọng để thành công ở Việt Nam. Thứ nhất là phải có quan hệ, phải có người chống lưng đỡ đầu thì mới đi xa được. Thứ hai là phải có một sự kiên nhẫn, quan hệ với người Việt Nam mà muốn cho sâu đậm, cũng phải mất vài ba năm, chứ không phải đi vào làm ào một cái mà được, người ta chưa tin mình. Muốn có sự tin cậy cũng phải mất vài ba năm. Sau đó thì là chuyện hên xui may rủi, nếu quan hệ đúng với người đang lên, có quyền lực chính trị quan trọng, thì tiền sẽ vào như nước. Còn đi nhằm một cái ông đang đi xuống, thì có thể bị tù tội dễ như chơi, đó là chuyện rất bình thường ở Việt Nam. Cái thằng đấy mình đang tính là mấy năm nữa nó lên, mà đùng một cái nó qua bên Tây chữa bệnh, hay nó bị ám sát thì điều đó phiền lắm (cười.)

NV: Điều gì khiến ông bắt đầu sự nghiệp viết lách, cho ra đời nhiều bài viết rất được ưa chuộng, và thương hiệu nổi tiếng “góc nhìn Alan?”

Alan Phan: Khi còn ở bên Trung Quốc thì cuối tuần tôi có đi dạy, dạy những lớp MBA cho executives. Dạy thì phải soạn bài, nên tôi bắt đầu viết lách từ đó, nhưng cũng không viết nhiều. Đến năm 2007 thì tôi về Việt Nam thường xuyên hơn. Lúc đó mấy anh bạn, anh Trần Trọng Thức, báo Doanh Nhân, anh Tuấn ở Vietnamnet, họ nhờ tôi viết về Trung Quốc. Bài đầu tiên tôi viết là cái chuyện về  “Con voi Trung Quốc,” khi viết xong lại tạo ra được một luồng sóng thích thú. Thì người viết giống như người nghiện, có một chút thuốc vô rồi lại say, lại viết tiếp tục. Giờ thì lớn tuổi rồi, viết cũng là một lối tiêu khiển, ngày xưa khi mình còn trẻ thì mình lông nhông ngoài đường, bây giờ thì ăn uống cũng sợ, sức khỏe cũng lo, thành ra mình không đi ra ngoài tiệc tùng, ăn uống chơi khuya nhiều nữa. Ở nhà không có gì thì viết đại cho rồi.

NV: Ông có thể kể lại vài kỷ niệm vui, lý thú khi làm việc ở Việt Nam?

Alan Phan: Ở Việt Nam thì luôn luôn nó đi cập với hai vấn đề.  Thứ nhất là mình sẽ có rất nhiều bạn, vì thứ nhất là mình có tiền mà thứ hai là họ có thì giờ, cho nên bất cứ lúc nào, mình không kêu họ thì họ kêu mình, cho nên luôn luôn bao quanh bởi bạn bè, gia đình, muốn hay không muốn, tương đối khá vui. Đi chơi biển, đi chơi núi, tất cả đều dễ dàng hơn ở Mỹ. Ở Mỹ mà muốn tập trung được ba, bốn người đi, mà có thì giờ đi chung với nhau thì là cả một sự xếp đặt. Còn ở Việt Nam thì rất dễ, nếu hứng, thì chỉ 5 phút sau là lên đường thôi. Nghĩa là niềm vui nó tự phát, nhưng đồng thời nó cũng có nhiều cái bực, đi ra xa lộ một tí là tai nạn này, tai nạn kia, rồi ô nhiễm, rồi khói bụi, rồi người này người kia, rồi môi trường hỗn loạn, đôi khi mình muốn bình an cũng không được. Đôi khi mình muốn muốn góc lặng nào đó để đừng ai quấy rầy mà kiếm cũng không ra. Trong khi ở Mỹ thì mình có muốn quấy rầy người ta, người ta cũng không muốn. Đó là cái khác biệt giữa  hai văn hóa và môi trường. Với lại người Việt Nam thì sống rất là open, nhà hàng xóm biết nhau, biết đủ thứ, và ai cũng nhẩy xổm vào. Cái câu hỏi mà tôi được hỏi nhiều nhất là ‘anh có bao nhiêu tiền? Hồi trước anh làm gì, làm gì?’ họ muốn biết tất cả mọi điều về đời mình. Trong khi người Mỹ thì người ta tôn trọng cái riêng tư của mình. Nó hơi khác một tí, nhưng rồi mình ở đâu rồi cũng điều chỉnh được. Vấn đề là mình muốn điều gì.

NV: Đã sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới, tại sao cuối cùng ông lại về Mỹ, mà không nghỉ hưu ở Việt Nam, chẳng hạn?

Alan Phan: Thực tình thì có nhiều tiền thì ở đâu nó cũng vui cả, Việt Nam hay Trung Quốc, hay Mỹ hay là Monaco hay là bất cứ chỗ nào. Thành ra cái yếu tố quan trọng là yếu tố có nhiều tiền. Thực tình trong một lựa chọn của con người, ngoài vấn đề tiền bạc còn vấn đề môi trường sống, còn vấn đề bạn bè, gia đình, còn vấn đề mà mình không muốn phải đối diện hàng ngày, nó cũng đôi khi làm mình bức xúc. Mình muốn tâm mình được an bình hơn. Lúc trẻ thì những điều này không quan trọng lắm, mình thích stress, thích áp lực, thích tất cả những chuyện thử thách, nhưng mà đến khi già rồi thì những áp lực thử thách, những khó khăn phải đương đầu thì mình muốn giảm thiểu tối đa. Tôi nghĩ môi trường Mỹ nó giúp cho tôi được điều đó. Với tôi đó là lý do quan trọng.

NV: Cảm ơn tiến sĩ Alan Phan đã thì giờ cho cuộc phỏng vấn, và chúc ông nhiều thành công trong buổi ra mắt sách vào 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 25 tháng Bảy này, tại hội trường nhật báo Người Việt.

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Nhớ ơn Tổng Thống Ronald Reagan!

H.O.!

General John W. Vessey, Jr. – The 10th Chairman of the Joint Chiefs of Staff

năm 1997.

Tôi hân hạnh được đọc bức thư của Tướng John W. VESSY, người đã thừa ũy nhiệm Tổng Thống Reagan qua Hà Nội năm 1987 – 1988 để thương lượng và ký kết các điều khoản liên quan toàn thể những “Tù Cải Tạo” ra khỏi trại giam và lần lượt định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình H.O. bắt đầu từ 1990.

Nguyên văn thư nói trên được gởi cho ông Nguyễn Xuân Huấn, Chủ Tịch Hội CTNCT Minnesota, ngày 1-9-1997; trong thư có đoạn viết rõ như sau:

“…Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tôi được Tổng Thống giao phó là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Nam Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là trại cải tạo. Tôi được quyền bảo đảm với chính phủ Hà Nội rằng Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và tiếp đón những người tù cải tạo cùng gia đình sang Mỹ.

Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không có hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “Chiến Dịch Nhân Đạo” (Humanitarian operations – gọi tắt là H.O.).

Do đó danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt Mỹ xữ dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị đang sinh sống trên đất Mỹ” “Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh, tất cả những ai thuộc diện H.O. dều là những anh hùng thật sự của thời đại nầy.”

Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota năm 1997. Trích nguyên văn bằng Anh ngữ:

“…When the President Regan called me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, reeducation camps. I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed “humanitarian operations”. Consequently, the term “HO” has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.
To me, the term “HO” is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within that context of the term are among the true heroes of our time…”

Từ khi những H.O. và gia đình được định cư trên đất nước tự do, từng năm tháng làm việc miệt mài, bắt nhịp cầu cho con cháu vượt qua khó khăn, học hành thành đạt, trở thành những nhân tố có ích cho tương lai… thì các H.O. cựu tù đã già; người nào cũng trên sáu, bảy, tám chục tuổi… Có rất nhiều anh H.O. đã ra đi vì những bệnh trạng mang theo từ các trại tù sương lam chướng khí. Nhưng họ cũng ngậm cười nơi chín suối vì đã đưa được vợ con thấy ánh sáng tự do, thoát gông xiềng áp bức. Những ai được định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O. là những người tù cô đơn, không thân nhân bảo lảnh, không có khả năng vượt thoát khỏi bức tường ô nhục của người CSVN.

Kỷ niệm 25 năm riêng cho những “Con Bà Phước” mang danh H.O. là điều đáng làm. Những Cựu Tù Chính Trị đang định cư trên khắp thế giới, không ở trong “CHƯƠNG TRÌNH H.O.” nên khuyến khích và HỔ TRỢ, THAM DỰ, ĐÓNG GÓP vào ngày họp mặt do Anh Chị Em H.O. tổ chức. Mùa Thanksgiving 2015, đúng 25 năm người tù H.O thay da đổi thịt. Chúng tôi sẽ thành khẩn cám ơn nhân dân, chính phủ Hoa Kỳ và những cá nhân có công trong việc hình thành chương trình H.O. một chương trình đã cứu hàng trăm ngàn người TÙ CÔ ĐƠN và gia đình, để họ có điều kiện làm lại cuộc đời mới ấm no, tự do và hạnh phúc trên quê hương thứ hai nầy!

Xin cảm ơn nước Hoa Kỳ – xin cảm ơn mọi người!

letamanh

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại quê tôi

Chuyện xưa chuyện nay (Bài 3)

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại quê tôi

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

Làng tôi hồi trước năm 1945 được gọi là xã Cát xuyên, thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Dân số hồi đó vào khoảng 500 người sinh sống trong chừng 80-90 nóc gia. Bà con phần lớn là nông dân mỗi năm cày cấy hai vụ luá, gọi là vụ chiêm gặt hái vào giữa năm, và vụ muà thu hoạch vào cuối năm. Còn một số ít, thì sinh sống bằng nghề làm bánh và chế biến đồ ăn để bán cho khách hàng trong các phiên họp tại Chợ Cát là một loại “chợ phiên” họp định kỳ mỗi tháng 6 phiên vào các ngày mồng 1,6,11,16,21,26 mỗi tháng theo Âm lịch.

Vụ muà vào cuối năm 1944 bị “mất đến 70-80%”, nên thu hoạch rất kém, vì toàn là loại luá lép thôi. Do đó mà gây nên nạn đói kém vào mấy tháng đầu năm Ất Dậu 1945. Tính ra trong làng tôi phải có đến trên 150 người  (tức là khoảng 30% dân số) bị chết đói trong năm đó. Trong số nạn nhân này có rất đông bà con và bạn hữu cuả tôi. Điển hình là chính ông chú út, em ruột cuả cha tôi là chú Thiêm, thì chú ấy phải bỏ nhà đi kiếm ăn mà bị chết mất xác ở đâu, chẳng một ai trong gia đình còn biết được tin tức về chú ấy nưã. Nhiều gia đình chết hết, nên căn nhà với khu vườn cuả họ trở thành hoang phế tiêu điều, trông thấy mà phát sợ luôn.

Tôi nhớ rất rõ chuyện này, vì vào muà hè năm 1945 đó tôi chăn dắt con trâu cho nó đi gặm cỏ trong các khu vườn tại những “thổ hoang” này, thì tôi chứng kiến tận mắt cái cảnh hoang tàn đìu hiu cuả những căn nhà sập xệ vô chủ đó. Và dĩ nhiên là tôi rất buồn vì đã mất đi bao nhiêu bà con đã từng sát cánh chung sống với mình, mà đã bị chết oan uổng trong cái đại nạn đó.

Trong nhà tôi, thì các anh chị lớn đều phải ăn cơm “độn với cám hay với khoai”. Mỗi ngày cha tôi cho thổi thêm ít cơm, rồi đem nắm lại thành những cục nhỏ để ông tận tay mang đến cho mấy bà con là những cụ già trong làng. Sau naỳ, vì còn ít gạo, thì ông cho nấu cháo và đi kêu mấy con cháu các cụ đó mang chén bát đến lấy về cho các cụ.

Điều khó khăn nưã là tại khu chợ Cát, thường mỗi buổi sáng sớm lại có một số người chết đói nằm ở góc chợ. Đó là những người ở xa đến xin ăn, mà vì đói lạnh quá nên đã tắt hơi thở, không có bà con họ hàng biết mà đến nhận xác để đem đi chôn cất. Vì thế mà cha tôi phải kiếm thêm một người trai trẻ còn khoẻ mạnh để phụ với ông đem những xác chết vô thưà nhận này đi chôn ở nghiã trang cuả làng. Ông tự nguyện làm việc này, theo như lời khuyên bảo làm việc bác ái trong một câu kinh cuả đạo công giáo là :”Chôn xác kẻ chết”. Vì việc từ thiện bác ái như vậy, nên sau này Giáo hội Công giáo mới tặng cho ông một “sắc phong” khen ngợi công lao giúp đỡ bà con trong cơn hoạn nạn khốn khổ thời ấy. Và chính cái gương làm việc từ thiện nhân đạo đó cuả ông cụ đã ảnh hưởng sâu xa đến suốt cuộc đời dấn thân phục vụ xã hội sau này cuả tôi vậy đó.

Sau năm 1975, bà con ở ngoài Bắc có vào thăm gia đình tôi ở Saigon, thì có người còn nhắc lại cái “công đức” cuả cha mẹ tôi đã cưú giúp cha mẹ họ lúc đó. Họ còn nói là” bây giờ các anh chị làm ăn học hành tiến bộ thành đạt, đó là nhờ ở phúc đức cuả ông bà xưa để lại “.

Con số thống kê cho biết là có tới 2 triệu người bị thiệt mạng trong nạn đói khủng khiếp này. Và nếu đối chiếu với dân số của đồng bằng sông Hồng hồi đó là khoảng 6 triệu người, thì số người chết đã tới hơn 30% trên tổng số dân trong khu vực, tỉ lệ này cũng tương đương với con số ước lượng tại làng Cát xuyên của tôi.

Bàn qua về nguyên nhân của nạn đói này, thì vì lý do chính trị, nhiều người cứ đổ hết trách nhiệm cho Quân đội Nhật bản đã gây ra cảnh đói kém này, vì họ đã bắt dân phải “phá bỏ ruộng cấy lúa đi, để lấy đất trông đay bố cho nhu cầu quân sự của họ. Rồi họ lại còn tích trữ số lượng thật lớn lúa gạo vào trong kho quân lương của họ. Điều đó không sai, nhưng đây không phải là căn nguyên duy nhất đã gây ra nạn đói. Mà phải kể đến 2 nguyên nhân khác nữa, đó là : 1/ Nạn mất mùa cuối năm 1944 (mất đến 80% như đã ghi ở trên); 2/ Vì lý do chiến tranh, đường giao thông từ Nam ra Bắc bị máy bay đồng minh oanh tạc tàn phá nặng nề, nên số gạo thặng dư ứ đọng khổng lồ ở miền Nam hồi đó (vì không thể xuất cảng được) đã không thể chuyên chở ra ngoài Bắc bằng tàu biển hay xe lửa. Tôi nghĩ 2 lý do này mới thực sự là nguyên nhân chính đã gây ra cái nạn đói kinh hòang đó.

Bây giờ sau mấy chục năm, chúng ta có thể công tâm mà phân định sự việc, chứ không nên giữ thiên kiến quá đáng về phía này, phía khác. Mà vì bản thân mình không phải là một sử gia, nên tôi cũng không dám lạm bàn chi tiết về vấn đề có tầm mức lớn lao này.

Nạn đói tai hại khủng khiếp này đã khiến cho toàn thể khối nông dân ở miền Bắc rất căm thù giận ghét đối với thực dân Pháp và quân phiệt Nhật là những thủ phạm chính yếu đã gây ra  tình trạng đau thương bi đát đó. Vì thế mà vào tháng 8 năm 1945 đó, quần chúng nhân dân đã nhất loạt hăng say hưởng ứng phong trào đòi độc lập do Việt minh khởi xướng, mà họ gọi là “Cách mạng Muà Thu”. Chỉ sau đó mấy năm, khi Việt minh phát động chính sách độc tài chuyên chế với thủ đoạn sắt máu tàn bạo nham hiểm, thì người dân mới lần hồi vỡ lẽ ra. Nhưng đến lúc đó, thì đã quá trễ mất rồi!

Vào năm 2002 gần đây, nhân gặp mấy sinh viên người Nhật tại một Đại học ở Virginia, tôi có hỏi họ xem là họ có biết gì về nạn đói tại Việt nam năm 1945 khi quân đội Nhật chiếm đóng và cai trị ở đó không? Tất cả đều lắc đầu và nói rằng : “Chúng tôi không hề được biết gì về nạn đói này. Và không hề thấy sách báo nào ở Nhật viết về trách nhiệm của quân đội Nhật trong chuyện này…” Tôi bèn nói cho họ biết là : Gia đình và bà con chúng tôi đã là nạn nhân khốn khổ của nạn đói kinh hoàng. Mà quân đội Nhật bản phải có phần trách nhiệm về số 2 triệu nạn nhân đã thiệt mạng, họ đều là bà con đồng bào ruột thịt cuả chúng tôi. Đó là điều suốt đời không bao giờ mà tôi lại quên được. Nghe tôi nói vậy, mấy bạn người Nhật đều tỏ ra vẻ đăm chiêu buồn bã. Có một bạn nói lại với tôi : “ We are very sorry for such an horrible thing!” (Chúng tôi rất ân hận về sự việc khủng khiếp như thế đó!)

Năm 2010 này là năm thứ 65 kể từ ngày nạn đói năm Ất dậu tàn phá toàn thể miền quê tôi tại vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc nước ta. Tôi không thể nào mà quên được cái chết đau đớn, oan ức cuả chú Thiêm và cuả rất nhiều bà con bạn hưũ khác trong cái làng Cát xuyên nhỏ bé cuả tôi. Và tôi cũng thông cảm với các nạn nhân khác đày dãy trên thế giới ngày nay đang bị nạn đói dằn vật vì thiên tai, cũng như vì chiến tranh bạo lực, vì nạn bóc lột cướp phá do chính con người gây ra nưã./

California, cuốí năm Kỷ sưủ 2009

Đoàn Thanh Liêm

THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ

THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ

Thánh Giacôbê, quê quán tại Bethsaida, là con ông Giêbêđê và là anh em với thánh Gioan.  Ngài là một trong ba Tông đồ, ngoài những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa, còn được phúc chứng kiến sự kiện biến hình trên núi Tabor và thảm cảnh trong vườn Cây Dầu.  Lòng nhiệt thành của hai anh em đã khiến Chúa đặt cho cái tên là ‘Con Sấm Sét’.

Thánh Giacôbê đã tiến hành công cuộc tông đồ tại Giuđêa và Samaria.  Theo truyền tụng, thánh nhân đã đến rao giảng Phúc Âm tại Tây Ban Nha.  Khi trở lại Palestine vào năm 44, ngài đã trở thành vị Tông Đồ đầu tiên được phúc tử vì đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa.  Thi hài thánh nhân được cải về Santiago de Compostela bên Tây Ban Nha, và nơi đây đã trở thành một trong những nơi hành hương nổi tiếng thời Trung Cổ, và là một đền thánh đức tin cho toàn thể Châu Âu.

Uống chén của Chúa

Khi đang đi dọc theo bờ biển Galilê, Chúa Giêsu nhìn thấy Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đang vá lưới, Người đã gọi họ, và đặt cho tên là Boannerges, nghĩa là “con của sấm sét”.

Mọi sự bắt đầu khi một số ngư phủ trên biển hồ Tibêria được Chúa Giêsu thành Nagiarét mời gọi theo Người.  Họ đã đáp lời mời gọi của Chúa Giêsu, đi theo, và sống với Người gần ba năm trời. Họ đã chia sẻ đời sống thường nhật của Chúa Giêsu, làm chứng nhân cho những lời cầu nguyện, cũng như lòng nhân lành và quyền năng của Người dành cho các tội nhân và những người đau khổ.  Họ chăm chú lắng nghe lời Chúa, những lời họ chưa từng bao giờ được nghe.

Suốt ba năm chung sống với Chúa, các Tông Đồ cảm nghiệm một thực tại rồi ra sẽ chiếm đoạt họ mãi mãi, đó là cuộc sống với Chúa Giêsu.  Đó là một kinh nghiệm phá vỡ nếp sống trước kia của họ; họ phải từ bỏ mọi sự – gia đình, nghề nghiệp, và tài sản của họ – để đi theo Người.  Tóm lại, họ đã được dẫn vào một con đường sống hoàn toàn mới mẻ.

Một ngày nọ, Chúa Giêsu mời gọi Giacôbê đi theo Người.  Giacôbê là anh của Gioan, và là con của bà Salômê, một phụ nữ đã dùng tài sản để giúp Chúa Giêsu và sau cùng cũng có mặt trên núi Canvê.  Giacôbê đã biết Chúa Giêsu trước khi được Chúa gọi.  Cùng với Phêrô và em trai mình, Giacôbê được Chúa Giêsu yêu thương cách riêng.  Ngài là một trong ba vị được chứng kiến biến cố Biến Hình trên núi Tabor.  Ngài cũng có mặt khi Chúa cho con gái ông Giairô sống lại, và là một trong ba Tông Đồ cùng đi với Chúa Giêsu vào vườn Cây Dầu lúc khởi đầu cuộc Thương khó.

Phúc Âm ngày lễ thánh Giacôbê kể cho chúng ta một biến cố lạ lùng trong đời Ngài.  Chúa Giêsu loan báo về cuộc Khổ nạn và cái chết sắp đến của Người: “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp vào tay các trưởng tế và ký lục, họ sẽ kết án tử và giao nộp Người cho dân ngoại chế nhạo, chúng sẽ đánh đòn và đóng đinh Người vào thập giá.  Nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại”. Chúa cảm thấy cần chia sẻ những tâm tình sâu lắng nhất đang chất chứa trong lòng cho các môn đệ. Khi ấy, bà mẹ của các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Chúa Giêsu, và bà bái lạy và kêu xin Người một điều: Bà xin Chúa dành cho các con của bà hai chỗ ưu tiên trong nước vinh quang của Người sắp đến.  Chúa Giêsu quay sang hai anh em và hỏi họ có thể chia sẻ số phận với Người không. Chúa đề nghị họ hãy uống chung chén của Người.  Thời xưa, việc trao chén mình cho ai uống là một dấu chỉ của tình thân hữu.  Các vị liền đáp: “Thưa được!”  Những lời ấy nói lên một tấm lòng thuần thục và quảng đại.  Những lời ấy phản ánh thái độ của mọi người trẻ và của mọi tín hữu thành tâm, nhất là của những ai sẵn sàng làm tông đồ để loan báo Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã chấp nhận lời đáp quảng đại ấy và phán bảo: ‘Chén của Ta, các con cũng sẽ uống”, các con sẽ chia sẻ những đau khổ của Ta, các con sẽ hoàn tất cuộc Khổ nạn của Ta nơi thân xác các con.  Không bao lâu sau đó, vào năm 44, Giacôbê đã bị xử trảm tử vì đạo.  Còn Gioan đã chịu bách hại đủ kiểu trong cuộc đời trường thọ của Ngài.

Kể từ khi Chúa Kitô cứu chuộc chúng ta trên thập giá, tất cả đau khổ của các tín hữu là cùng uống chén của Chúa Kitô qua việc chia sẻ cuộc Thương khó, Tử nạn, và Phục sinh của Người.  Nhờ đau khổ, một cách nào đó, chúng ta hoàn tất cuộc Khổ nạn của Chúa, và kéo dài trong thời gian với những hoa trái của công cuộc ấy.  Những đau khổ nhân loại chỉ mang ý nghĩa cứu độ khi được liên kết mật thiết với sự khổ nhục Chúa Giêsu đã chịu.  Với lòng nhân lành, Chúa đã cho chúng ta chia sẻ chén đắng của Người.  Trước những khó khăn, bệnh tật hoặc đau khổ của chúng ta, Chúa Giêsu cũng nêu lên một câu hỏi: “Con có thể uống chén của Ta không?”  Nếu hợp nhất với Chúa, chúng ta sẽ tích cực đáp lại và chịu đựng tất cả những gian khổ về phương diện nhân loại vì danh Người.  Trong sự hợp nhất với Chúa Kitô, ngay cả những đau đớn và thất bại của chúng ta cũng sẽ biến thành niềm vui và bình an.  Cuộc cách mạng vĩ đại của Kitô giáo chính là việc đã biến đau khổ thành đau khổ hiệu quả, biến một điều xấu thành một điều tốt.  Chúng ta đã tước thứ vũ khí này của ma quỉ, và với thứ vũ khí này, chúng ta có thể đạt được sự sống vĩnh cửu.

Đừng chán nản trước những khuyết điểm bản thân – Hãy tìm sức mạnh nơi Chúa

Từ lúc Giacôbê bày tỏ những tham vọng không được cao thượng của Ngài cho đến khi được chịu tử vì đạo là một cuộc biến chuyển nội tâm lâu dài.  Sự nhiệt thành của Ngài trước kia chống lại những người Samaria không muốn tiếp đón Chúa Giêsu – dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem – nhưng về sau đã biến nên lòng nhiệt thành vì các linh hồn.  Từng bước một, tuy không làm mất cá tính hăng hái, nhưng Giacôbê biết rằng nhiệt tâm vì quyền lợi Thiên Chúa không thể dính dáng đến bạo lực hoặc chua chát. Chỉ có vinh quang Thiên Chúa là khát vọng duy nhất xứng đáng mà thôi.  Thánh Clêmentê thành Alexandria kể lại khi vị tông đồ nước Tây Ban Nha được điệu ra trước tòa xử, thần thái của ngài liêm chính đến độ kẻ tố cáo ngài sau đó đã đến xin ngài tha lỗi.  Thánh Giacôbê suy tư… và sau đó ôm hôn kẻ tố cáo mình, và nói: “Anh hãy bình an”.  Hai người sau đó cùng được lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Khi suy niệm về cuộc đời thánh Giacôbê tông đồ, chúng ta được lợi rất nhiều khi nhìn thấy những khuyết điểm của Thánh nhân cũng như của các Tông đồ khác.  Các Ngài không can trường, không khôn ngoan, mà cũng chẳng đơn sơ.  Chúng ta thấy các ngài đôi khi rất ham hố, hay tranh cãi, và thiếu đức tin.  Tuy nhiên, thánh Giacôbê là vị Tông đồ đầu tiên được tử đạo.  Như thế, hiển nhiên là sự phù trợ của Thiên Chúa cũng có thể thực hiện những phép lạ nơi chúng ta.  Ngày nay trên thiên quốc, thánh Giacôbê ắt phải tri ân Thiên Chúa rất nhiều vì đã hướng dẫn ngài trên con đường khác với con đường ngài đã mơ tưởng trước đó.  Thiên Chúa là Đấng tốt lành, vô cùng khôn ngoan, và đầy yêu thương vượt quá trí tưởng của chúng ta.  Trong nhiều trường hợp, Người không ban cho chúng ta những điều chúng ta xin, nhưng đó lại là điều thích hợp và lợi ích nhất cho chúng ta.

Theo các trình thuật Phúc Âm, như các Tông đồ, Giacôbê cũng có những khuyết điểm rõ ràng và không thể chối cãi.  Tuy nhiên, bên cạnh những khiếm khuyết ấy, thánh nhân cũng có một tâm hồn và một con tim vĩ đại.  Chúa Giêsu lúc nào cũng nhẫn nại với Ngài cũng như với các Tông đồ khác. Thầy Chí Thánh cho các ngài thời gian để hấp thụ những bài học mà Người đã dùng sự khôn ngoan và tình thương để truyền dạy cho họ.  Thánh Gioan Kim khẩu viết: “Chúng ta hãy xét Chúa đặt câu hỏi tương tự như một lời mời gọi và một lời kích lệ như thế nào.  Chúa không nói: ‘Ngươi có thể chịu thất bại được không? Ngươi có dám chịu đổ máu không?’ nhưng Chúa lại hỏi: ‘Ngươi có thể uống…’ Để khích lệ họ, Chúa còn thêm: ‘… chén Ta sẽ uống hay không?’  Tưởng nghĩ đến việc uống chính chén của Chúa đã đưa các Tông đồ đến sự đáp ứng quảng đại hơn.  Chúa Giêsu gọi cuộc Khổ nạn của Người là ‘phép rửa’ để nhấn mạnh những đau khổ của Người sẽ là nguyên nhân cho cuộc thanh tẩy toàn thế giới.”

Chúa cũng đang mời gọi chúng ta.  Ước chi chúng ta đừng đầu hàng sự chán nản khi những khuyết điểm và yếu đuối của chúng ta trở nên rõ rệt.  Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu để xin phù giúp, Người sẽ ban cho chúng ta ơn can đảm để tiếp tục trung thành dấn bước, bởi vì Chúa luôn nhẫn nại và cho chúng ta thời giờ cần thiết để cải thiện.

Sưu tầm