Bài 2 – Giới thiệu sách “Small is Beautiful”

Bài 2  –  Giới  thiệu  sách  “Small  is  Beautiful”

Tác  giả  : E F Schumacher

( xuất bản lần đầu : Năm 1973)

Đòan Thanh Liêm.

Như đã có dịp trình bày nơi bài 1 trước đây, cuốn sách “Small is Beautiful” đã được tờ New York Times xếp vào lọai “100 cuốn sách có ảnh hưởng nhất” kể từ sau thế chiến hai ( the most influential books). Và sau 30 năm kể từ khi ra mắt độc giả, thì đã lưu hành được tới trên một triệu cuốn riêng về ấn bản tiếng Anh; đó là chưa kể đến các bản dịch ra nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới. Tác giả Schumacher là một kinh tế gia đã từng làm việc lâu năm trong ngành quản lý về than đá tại Anh quốc, đặc biệt trong lãnh vực thống kê, nên ông đã đưa ra những số liệu khá vững chắc và khả tín để minh họa cho lý luận của mình. Xuyên suốt qua gần 300 trang sách, tác giả đã lần lượt trình bày suy nghĩ và tìm kiếm của mình trong suốt 40 năm vừa học tập, làm việc, trao đổi và nghiên cứu của mình về những vấn đề căn bản của nhân sinh trên phạm vi tòan cầu. Người đọc có thể thấy tác giả đã gửi gấm vào tác phẩm tất cả tài năng trí tuệ và tấm lòng tha thiết nóng bỏng đối với cuộc sống của con người, mà phần đông đang là nạn nhân khốn khổ của cái đường lối sai lầm vì coi nhẹ giá trị đạo đức nhân bản và nhân ái của giới điều hành guồng máy kinh tế tại chính các quốc gia tiền tiến trong thế giới hiện đại. Có thể coi cuốn sách là “lời cảnh báo” về mối nguy cơ trầm trọng đang đe dọa cuộc sống của nhân lọai ngày nay, và đồng thời tác giả cũng khơi mào cho việc tìm kiếm một lối thóat khả dĩ cho con người, đặc biệt là cho hàng tỉ con người kém may mắn (underpriviledged) trong các quốc gia được liệt kê vào lọai “ đang phát triển” ( developing countries)

Nhan đề chính của cuốn sách là “Small is Beautiful” lại được kèm theo câu phụ diễn cho thêm rõ ý nghĩa nữa : “ Economics as if People Mattered”, xin tạm dịch là “Kinh tế học Dân Vi Quý”. Và riêng trong ấn bản năm 1999, thì lại còn kèm theo nhiều bình luận của các thức giả đương thời được in bên lề các trang sách nữa. Bài giới thiệu này chủ yếu dựa vào ấn bản năm 1999, nhân kỷ niệm 25 năm ngày ra mắt ấn bản đầu tiên năm 1973.

Sách được trình bày thành 4 phần trong 19 chương như sau  :

Phần 1  :  Thế giới hịên đại      (Chương 1-5)

Phần 2  :  Tài nguyên               (Chương 6-10)

Phần 3  :  Thế giới thứ ba         (Chương 11-14)

Phần 4  :  Tổ chức và Sở hữu   (Chương  15-19).

Nói chung thì sau trên 30 năm, các luận đề do Schumacher nêu ra trong cuốn sách vẫn còn giữ được tính cách thực tiễn khách quan và được coi như những gợi ý rất sâu sắc cho sự thảo luận và tìm kiếm của giới hàn lâm, cũng như của công chúng có sự quan tâm đến vấn đề sinh tử của con người trong bối cảnh văn hóa xã hội của thế kỷ XXI hiện nay.     Nhằm trình bày sáng sủa, gọn gàng tư tưởng của tác giả, người viết xin được tóm gọn trong mấy luận điểm chính yếu được lựa chọn như sau đây :

1/  Hai triệu ngôi làng trong thế giới thứ ba  :  Làm sao mà phát triển?

Schumacher đưa ra con số hai triệu ngôi làng trong thế giới thứ ba mà gồm các quốc gia đang phát triển, với bình quân mỗi làng có 1000 người. Như vậy là trong 2 triệu ngôi làng, thì có đến 2000 triệu người (2 tỉ), tức là tương đương với dân số ở mức nghèo túng trên thế giới vào thập niên 1960 lúc tác giả viết cuốn sách này. Tình trạng sinh sống của người dân tại các vùng quê như ở Ấn độ đã được Schumacher rất lưu tâm quan sát, tìm hiểu và cố gắng đưa ra một phương thức kiến hiệu và hợp lý, hợp tình nhất để gây ra được một “khí thế phát triển” (development mood) thật là sinh động tại hạ tầng cơ sở các địa phương đó.

Từ sau thế chiến 2, các quốc gia Âu Mỹ giàu có đã đề ra các chương trình viện trợ khi thì đa phương thông qua Liên Hiệp Quốc, khi thì song phương nhằm giúp đỡ các nước nghèo thóat được cảnh bần hàn khốn khổ. Nhưng Schumacher đã chỉ ra là hầu hết cái lối viện trợ kiểu này không đem lại kết quả bao nhiêu, bởi lẽ là những chuyên gia viện trợ đã không nắm bắt được tâm lý và hòan cảnh phức tạp của đa số quần chúng nông dân vừa ít học, vừa bị giới trung gian khai thác lợi dụng. Và hơn nữa, các kỹ thuật áp dụng lại không thích hợp với hòan cảnh văn hóa xã hội và tâm linh truyền thống tại miền nông thôn địa phương. Vì thế mà Schumacher đã mạnh dạn đưa ra những đường hướng quyết liệt là : “ Viện trợ tốt nhất là thứ viện trợ trí tuệ (Intellectual aid), viện trợ kỹ năng hữu ích (gift of useful knowledge), chứ không phải là quà tặng vật chất. “ Lối viện trợ như vậy mới làm cho người nhận sớm trở thành tự lập và không còn bị lệ thuộc vào nguồn cung cấp mãi của thứ “con bò sữa” như vẫn thường xảy ra. Phương thức này vừa ít tốn phí, mà vừa kích thích được cái mầm mống tự cường, tự túc vẫn có sẵn trong tiềm thức của lớp người dân vốn có lòng tự trọng, tự tin ở khả năng của bản thân mình. Đây mới đích thực là cách thức hay nhất để thực hiện được chủ trương “Giúp dân để người dân có thể tự giúp bản thân họ” ( Helping the people to help themselves).

Muốn đảy mạnh phong trào như vậy, thì phải lôi cuốn được các tổ chức thiện nguyện phi-chánh phủ (non-governmental voluntary agencies) ở cả hai phía quốc gia bên viện trợ cũng như bên nhận lãnh (donor/recipient countries); chứ không thể hòan tòan do hai bên chánh phủ độc quyền đứng ra hành động bao biện như từ bao lâu nay. Phương thức này, nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì là : “Phải vận động Xã hội Dân sự từ cả hai nước cùng dấn thân nhập cuộc vào tiến trình phát triển và xây dựng tòan diện và điều hòa này” (total and harmonized development). Nhờ vậy mà cả một tập thể cộng đồng như được kích thích gây men ngay trong nội tâm sâu kín của mình (Mass fermentation and mobilization), để tạo ra được một thứ “năng động nhóm” (group dynamics) nhằm tiến hành được một sự phát triển bền vững lâu dài tại địa phương (self-sustaining community development).

Xin trích nguyên văn một đọan cuối của “ Chương 13 : Two million villages ” như sau :  “Phát triển kinh tế chỉ có thể thành công nếu nó được tiến hành như một phong trào quần chúng rộng rãi dấn thân vào công cuộc tái thiết (a broad, popular movement of reconstruction), tập trung chủ yếu vào việc tận dụng sự hăng say phấn khởi, sự tài trí và sức lao động của tất cả mọi người trong công đồng…Sự thành công chỉ có thể đạt tới là do quá trình phát triển bao gồm cả trình độ giáo dục, tính tổ chức và cả tính kỷ luật của tòan thể các thành viên trong cộng đồng. Thiếu một yếu tố nào kể trên, thì chỉ là gặt hái sự thất bại mà thôi “ ( trang 171).

2/   Đi tìm lọai kỹ thuật thích hợp nhất (Appropriate Technology AT)

Với tinh thần thực dụng, Schumacher chủ trương cần phải phát triển lọai “kỹ thuật trung gian” để thích hợp với hòan cảnh kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển. Ông dành hẳn Chương 12 cho đề tài này với nhan đề như sau :   “ Social and Economic Problems Calling For The Development Of Intermediate Technology ” (Những Vấn Đề Xã Hội và Kinh Tế Đòi Hỏi Phải Phát Triển Lọai Kỹ Thuật Trung Gian). Tác giả viện dẫn hai lý do chính yếu sau đây  :  Thứ nhất là kỹ thuật quá tân tiến thì lại tốn phí, nên các nước nghèo không thể áp dụng phổ biến rộng rãi khắp nơi được. Thứ hai là trình độ văn hóa kỹ thuật của dân chúng miền quê không thể dễ dàng thích nghi với cái kỹ thuật quá tinh vi, phức tạp do các nước phát triển đề xuất ra. Do đó mà cần phải tìm kiếm cho ra được lọai “kỹ thuật thích hợp” mà thường cũng được gọi là “kỹ thuật trung gian” (Intermediate Technology), tức là thứ kỹ thuật đứng giữa lọai kỹ thuật lạc hậu cổ truyền  (mà rất rẻ tiền) với kỹ thuật hiện đại (mà rất là đắt tiền).

Tác giả lại có kinh nghiệm thực tiễn về chủ trương này, khi ông cùng với một số bạn hữu thành lập hẳn một Nhóm riêng biệt để nghiên cứu và thử nghiệm lọai kỹ thuật này tại Luân Đôn vào năm 1965 gọi là “The Intermediate Technology Development Group” ( ITDG). Cụ thể như : Nếu dùng kỹ thuật cao cấp như máy gặt liên hợp (combine harvester), thì phải tốn phí hết 70,000 dollar cho một người làm việc (workplace); như vậy thì các nước nghèo khó mà có thể tạo ra đủ công ăn việc làm cho cả triệu người được. Nhưng nếu sử dụng lọai kỹ thuật trung gian chỉ tốn kém có 700 dollar cho một người lao động, thì với số tiền 70,000 nói trên ta có thể tạo ra việc làm cho cả 1000 người. Và rõ ràng đây là thứ kỹ thuật thích hợp nhất cho các nước nghèo của thế giới thứ ba vậy. Cho đến nay ITDG đã phát triển và phổ biến khá rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới, cả ở khu vực tiền tiến cũng như khu vực đang phát triển.

Cũng vì nhằm tạo ra thật nhiều công ăn việc làm ổn định hầu đáp ứng nhu cầu rất lớn cho nhiều khu vực nông thôn và các thị trấn nhỏ bé, mà việc nghiên cứu kỹ thuật trung gian này phải được thực hiện trong quy mô của một miền bao gồm nhiều cộng đồng nông thôn và đô thị nhỏ, chứ không thể làm theo cái lối khép kín, hạn hẹp trong môi trường quá hạn chế được. Do đó Schumacher đã khẳng định rằng “ Nếu mục tiêu của sự phát triển là giúp đỡ cho những người cần được giúp đỡ nhất, thì “ Mỗi một Miền hay Quận hạt trong một quốc gia phải có riêng một chương trình phát triển cơ hữu của mình.” Cụ thể như tại nướcThụy sĩ chỉ có chưa đày 6 triệu dân số, mà họ lại chia ra thành 20 quận hạt (cantons), mà mỗi đơn vị lại là một quận hạt phát triển riêng thích hợp với điều kiện đặc thù của mình (development district). Và chính nhờ vào sự “Phân quyền” (Decentralisation) như vậy, mà cả quốc gia này luôn giữ được sự phát triển điều hòa, ổn định trong một nền dân chủ mà mọi người dân đều có cơ hội tham gia vào công việc điều hành của cộng đồng nơi mình sinh sống (Participatory Democracy).

3/  Vấn đề Cạn kiệt Tài nguyên Thiên nhiên ( Depletion of Natural Resources)

Là người làm việc lâu năm trong ngành than đá, nên Schumacher rất chú trọng đến tình trạng sự dụng bừa bãi phí phạm về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt trong các nước văn minh tiền tiến Âu Mỹ. Cụ thể là về dầu khí, than đá và nhất là rừng cây. Bằng những con số thống kê chính xác, tác giả đã nêu lên các sự thao túng, lạm dụng và ích kỷ của các nước giàu có trong việc xài hoang phí các tài nguyên thiên nhiên. Schumacher phân biệt rất rõ rệt hai lọai tài nguyên : lọai tái tạo được và lọai không tái tạo được (renewable/non-renewable resources). Ông còn chỉ rõ ra là :  Thiên nhiên luôn luôn hào phóng trong việc cung cấp cho con người những tài nguyên dồi dào phong phú, để mà khai thác đáp ứng nhu cầu sinh họat của nhân lọai. Nhưng thật  đáng buồn là con người trong mấy thế kỷ gần đây đã dùng khoa học kỹ thuật để mà khai phá quá mức đến độ tàn phá thiên nhiên một cách vô tội vạ, tạo ra cảnh cạn kiệt mau chóng các tài nguyên thiên nhiên (rapid depletion/exhaustion), tạo ra một sự mất quân bình giữa con người với thiên nhiên, cũng như giữa hiện tại với tương lai, và cả giữa con người với con người nữa. Ông còn nói rõ là : Phải coi thiên nhiên như một “ nguồn vốn” (Capital) và nhờ biết khai thác khôn khéo, chừng mực đối với thiên nhiên mà con người kiếm ra được các “ lợi tức” (Income). Và như vậy, thì chỉ được quyền sử dụng lợi tức trong việc thanh thỏa các nhu cầu chính đáng của mình; chứ không được tiêu xài vào cái nguồn vốn chỉ có giới hạn nhất định nào đó mà thôi. Schumacher đã rất nghiêm khắc phê phán cái sự kiêu căng, tham lam quá độ và nhất là cái thái độ bạo hành của con người đối với thiên nhiên, cũng như giữa con người đối với nhau nữa. Ông đề cao chủ trương “Bất bạo động, Bất hại “ (Non-violence, Ahimsa) của thánh Gandhi cũng như của Đức Phật, mà ông có dịp khảo sát tại Ấn Độ và Miến Điện. Những suy ngẫm này ông đã ghi rõ ràng trong Chương 4 nhan đề là  : “Buddhist Economics” ( Kinh tế học Phật giáo) mà chúng tôi sẽ dịch nguyên văn ra Việt ngữ được trình bày với đày đủ chi tiết trong một bài sau.

Cũng trong dòng chảy suy nghĩ đó mà Schumacher đã dành hẳn một Chương 9 với nhan đề : “ Nuclear Energy – Salvation or Damnation ?” (Năng lượng Hạt nhân – Sự Cứu Rỗi hay là Án Phạt?) để bàn về cái lợi hay cái hại của năng lượng hạt nhân. Tác giả kiên quyết chống lại việc sử dụng lọai máy phát điện nguyên tử vì lý do chất thải của lọai máy này chứa nhiều chất phóng xạ rất nguy hiểm lâu dài cho nhiều thế hệ sau này. Và may thay, do các biến cố “rò rỉ tại nhà máy điện hạt nhân Three Miles Island” ở Mỹ và nhất là tai nạn thảm khốc Chernobyl ở Liên Xô, mà việc xây dựng bừa bãi các nhà máy hạt nhân này mới bị kìm hãm lại. Rõ rệt là Schumacher là một vị tiền phong đóng góp rất lớn cho phong trào bảo vệ môi sinh trên khắp thế giới từ mấy chục năm gần đây.

4/   Phải Định Hướng lại cho Khoa Học và Kỹ Thuật ( The Re – Orientation of Science and Technology).

Hơn ai hết, Schumacher là người luôn luôn cảnh giác về tính kiêu căng ngạo mạn và ngoan cố của giới khoa học ngày nay, nhất là trong ngành kinh tế học là lãnh vực họat động chuyên môn suốt cả cuộc đời của ông. Bàng bạc trong cuốn sách này, ta thấy tác giả luôn đề cao sự khiêm tốn, tinh thần nhân ái và nhân bản trong việc đề ra đường lối họat động cụ thể mà thiết thực, nhằm vào việc “Cải thiện thế giới” (World Improvement). Ta có thể thấy lời cảnh giác này đã có từ mấy trăm năm trước qua nhà hiền triết Rabelais ở Pháp mà dịch ra tiếng Anh là : “ Science without conscience is the ruin of the soul” (Khoa học mà không có lương tâm thì chỉ là sự suy đồi của tâm hồn).

Tác giả đề cao tinh thần bao dung, đơn sơ, hòa ái của thánh Gandhi và nhất là của Phật Tổ, mà ông rất say mê nghiên cứu học hỏi trong thời gian làm việc ở Ấn Độ và Miến Điện. Nếu ta chú ý đến môi trường tôn giáo mà ông vẫn sinh họat tại nước Đức cũng như ở nước Anh, nhất là khi về già ông đã gia nhập đạo công giáo nữa, thì ta lại càng khâm phục cái thái độ thành tâm cầu thị, khiêm nhu và quý trọng của ông đối với Phật giáo và Thánh Gandhi ở Á châu. Ông đặc biệt đem thêm khía cạnh phẩm chất (qualitative aspects) và đạo đức (ethics) vào trong môn Kinh tế học là môn học mà các chuyên viên kinh tế thường chỉ chú trọng đến khía cạnh định lượng mà thôi (quantification). Tác giả luôn nhắc nhủ các nhà khoa học là phải tìm kiếm sự minh triết (wisdom) vốn đã ăn rễ sâu trong truyền thống đạo đức văn hóa trong các xã hội phương đông, mà thường bị người phương tây vì quá say mê và kiêu hãnh với tiến bộ khoa học, kỹ thuật vất chất nên đã xem thường. Vì thế ông mới gọi đó là môn “Siêu kinh tế học” (Meta-Economics).

Nói vắn tắt lại, các luận đề Schumacher đưa ra trong cuốn sách “Small is Beautiful” này hiện vẫn còn được thảo luận, khai thác rộng rãi trên tòan thế giới. Lọat bài viết ngắn ngủi này chỉ nhằm giới thiệu sơ lược về tư tưởng độc đáo, can đảm, mà lại rất táo bạo dứt khóat của Fritz Schumacher. Cuốn sách này là đúc kết kinh nghiệm họat động và suy nghĩ tìm kiếm trong suốt cuộc đời của tác giả, với tấm lòng tha thiết phục vụ cho nhân quần xã hội, đặc biệt đối với lớp đa số quần chúng kém may mắn nhất trên thế giới ngày nay. Bạn đọc có thể tham khảo thêm trên internet, để có số liệu cập nhật hóa rất đày đủ và phong phú về các đề tài mà Schumacher đã gợi ra trong cuốn sách thời danh này.

Người viết mong ước giới trẻ Việt nam, ở trong cũng như ở ngòai đất nước, để tâm theo dõi sự phát triển của lọai tư tưởng đày tính nhân bản và nhân ái tương tự như thế này, mà hiện đang có sức rất thuyết phục, quyến rũ cho cao trào tranh đấu bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền và cả bảo vệ môi sinh đang dâng cao khắp thế giới ngày nay trong thế kỷ XXI. Và cũng mong được sự tiếp tay trong việc đào sâu và phổ biến trào lưu tư tưởng tiến bộ này từ nơi các bậc thức giả trong những tổ chức chuyên về văn hóa khoa học, cụ thể như : Viện Việt Học, Lê Văn Duyệt Foundation, Hội Khoa Học Kỹ Thuật, Hội Chuyên Gia Việt nam, Các Viện Nghiên Cứu thuộc các Tôn Giáo Việt nam v.v…

California, Mùa Phật Đản Kỷ Sửu 2009

Đòan Thanh Liêm

( Bài 3  :  Kinh Tế Học Phật Giáo – Buddhist Economics)

(bản dịch tòan bộ Chương 4)

Nhỏ bé thì mới đẹp đẽ .

Nhỏ bé thì mới đẹp đẽ .

( Small is beautiful )

Đòan Thanh Liêm

is beautiful”, đó là nhan đề của một cuốn sách xuất bản năm 1973. Tác giả là một kinh tế gia đã từng làm việc lâu năm tại Cơ quan quản lý về ngành than đá của nước Anh (National Coal Board NCB), tên là E F Schumacher. Ngay khi ra mắt công chúng, cuốn sách đã gây được tiếng vang lớn khắp thế giới, và cho đến nay sau trên 30 năm thì đã lưu hành được đến trên một triệu đơn vị, đó là chưa kể các ấn bản được dich ra nhiều thứ tiếng khác nữa.

Vào năm 1973 đó, tôi chỉ mới được đọc có một bài giới thiệu về cuốn sách này, trong đó có câu nguyên văn như sau khiến tôi nhớ mãi : “Small is beautiful, Simple is beautiful, Non-violent is beautiful too”. Mãi đến năm 1979-80, thì cụ Nguyễn Hiến Lê mới được ngưới cháu làm ở Liên Hiệp Quốc tại Geneva về thăm và mang cho bản dịch tiếng Pháp mà vẫn để nguyên nhan đề bằng tiếng Anh theo như nguyên tác, chứ lại không dịch ra tiếng Pháp : “Small is beautiful”. Cụ Nguyễn xem xong và cho tôi mượn đọc cuốn sách thật là hiếm mà có được ở Việt nam vào thời gian đó. Không những tôi đã say mê đọc, mà còn chuyển cho một vài người bạn thân thiết khác cùng đọc nữa. Rồi tôi lại có dịp đến trao đổi với cụ Nguyễn về nội dung cuốn sách này; nhờ vậy mà tôi vỡ lẽ ra được nhiều điều mới lạ mà tác giả đã gợi ra cho người đọc nào có sự chú tâm và đồng cảm với quan điểm của mình.

Đáng chú ý nhất là trong cuốn sách có một chương dài chừng 10 trang nhan đề là “Buddhist Economics” (Kinh tế học Phật giáo). Tác giả Schumacher viết rất gọn gàng khúc chiết, diễn giải một cái nhìn rất khác lạ đối với công chúng ở các nước Âu Mỹ.

Từ mấy tháng nay trước sự hỏang lọan cực kỳ rối ren đen tối phát sinh từ cuộc khủng hỏang kinh tế tài chánh của nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới, tôi đã tìm đọc lại cuốn sách này nơi ấn bản năm 1999 kỷ niệm 25 năm ngày xuất bản đầu tiên năm 1973 như đã ghi ở trên. Và với thêm nhiều tài liệu được cập nhật hóa liên quan đến tác giả và tác phẩm, tôi bèn nảy ra ý nghĩ là phải trình bày với chi tiết thật sáng sủa, mà gọn gàng về tư tưởng của tác giả Schumacher với các bạn đọc người Việt nam chúng ta.

Để cho vấn đề trình bày được thêm mạch lạc sáng tỏ, người viết xin chia ra thành 3 phần được diễn trình trong 3 bài như sau :

Bài 1/  Thân thế và sự nghiệp tác giả E F Schumacher

Bài 2/  Giới thiệu cuốn sách “Small is beautiful”

Bài 3/   Kinh tế học Phật giáo (dịch nguyên văn từ chương “Buddhist Economics”)

Nhân tiện người viết cũng xin ghi lời tưởng nhớ với niềm ngưỡng mộ chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đối với cụ Nguyễn Hiến Lê, là một học giả đã góp phần rất lớn lao trong công trình xây dựng văn hóa nước nhà, dưới chế độ tự do ở miền Nam Việt nam hồi trước năm 1975. Cụ sinh năm 1912 (suýt soát với tuổi của E F Schumacher) ở Hanoi, và đã từ trần vào năm 1984 ở Saigon. Và năm 2009 này là kỷ niệm 25 năm kể từ ngày Cụ từ giã chúng ta.

Bài 1  —   Ernst  Friedrich  Schumacher  (1911 – 1977)

Thân thế và Sự nghiệp

1/  Sơ Lược Tiểu sử

E F Schumacher sinh tại thành phố Bonn, nước Đức năm 1911 (cùng năm xảy ra cuộc Cách Mạng năm Tân Hợi ở Trung quốc, lật đổ vương triều nhà Mãn Thanh). Thân phụ là Giáo sư Hermann Schumacher chuyên dậy về môn Kinh tế học tại nhiều trường Đại học ở Đức, kể cả tại thủ đô Berlin vào hồi đầu thế kỷ XX. Thân mẫu là Bà Edith Zitelmann, một tài năng về tóan học. Trong chỗ thân mật E F thường được gọi là Fritz. Với cha mẹ như vậy, nên người ta không ai ngạc nhiên về sự thông minh xuất chúng của Fritz là một học sinh luôn luôn đứng vào hàng đầu trong các lớp học. Lại nữa, Fritz còn được thụ giáo với các bậc đại sư nổi danh khắp thế giới như Joseph Schumpeter gốc Áo quốc, như John Maynard Keynes bên Anh quốc v.v…

Là một sinh viên xuất sắc, nên Fritz đã được học bổng Rhodes Scholar để theo học tại Đại học Oxford hồi đầu thập niên 1930, và lại được tiếp tục theo học tại Mỹ trong ngành kinh tế tài chánh. Sau thời gian ngắn làm việc tại Đức, Fritz không thể chấp nhận đường lối độc tài phát xít của Hitler, nên đã sang làm việc bên Anh quốc ít lâu trước khi thế chiến thứ hai xảy ra năm 1939. Lúc đầu khi mới nổ ra cuộc chiến, vì là công dân Đức nên Fritz cũng bị đối xử rất ngặt nghèo như là kẻ thù địch và bị xếp vào lọai người bị cô lập  trong một trại tập trung rất khắc nghiệt. Nhưng sau ít lâu, thì cũng được các bạn hữu giải thóat ra khỏi tình trạng quản chế này và được trao phó cho công viêc thích hợp với khả năng chuyên môn của một kinh tế gia.

Chiến tranh chấm dứt, Fritz nhờ đã có quốc tịch Anh, nên được phái sang Đức với nhiệm vụ làm cố vấn kinh tế cho phái bộ Anh đặc trách về vấn đề bình định và tái thiết trong khu vực thuộc quyền quản lý của quân đội nước Anh tại Đức. Vì được chứng kiến tận mắt những tàn phá mất mát của bà con ruột thịt với mình, nên Fritz đã ngày đêm miệt mài tìm cách xây dựng lại hệ thống quản lý và phân phối ngành năng lượng, chủ yếu là than đá vốn là huyết mạch của sự phục hồi kỹ nghệ tại nước Đức, cũng như tại tòan bộ các nước thuộc miền Tây Âu châu. Sau đó ông trở về lại nước Anh và nhận chức vụ cố vấn kinh tế cho cơ quan National Coal Board (NCB), đây là công việc ông làm trong nhiều năm nhất (gần 20 năm) cho đến khi về hưu vào năm 1970.

Về đời sống gia đình, Fritz  đầu tiên cưới bà vợ người Đức là Anna Maria Petersen vào năm 1936. Anna Maria thường được gọi là Muschi trong chỗ thân mật gia đình và bạn hữu. Hai vợ chồng rất gắn bó với nhau và đã trải qua những năm khốn khó giữa thời chiến tranh bên nước Anh. Họ có với nhau 5 người con. Nhưng không may, Muschi bị bệnh ung thư và mất sớm vào năm 1960, lúc chưa đày 50 tuổi. Sau đó, thì Fritz tục huyền với bà Vreni Rosenberger, người Thụy sĩ. Cuộc hôn nhân thứ hai này đem lại cho Fritz thêm 3 người con nữa. Bà Vreni là người chăm sóc tận tình cho Fritz vào thời cuối đời, đặc biệt là cho lũ con riêng của Fritz mà còn rất nhỏ tuổi, khi người mẹ của chúng là bà Muschi qua đời. Và rốt cuộc, chính Fritz Schumacher cũng đã kiệt sức vì làm việc quá nhiều, và đã qua đời trên chuyến đi diễn thuyết tại Thụy sĩ vào năm 1977 lúc mới có 66 tuổi.

Chi tiết về cuộc đời và họat động của Fritz Schumacher đã được người con gái lớn là Barbara Schumacher Wood ghi lại khá đày đủ trong cuốn tiểu sử xuất bản năm 1984, với nhan đề là  :   “ E F Schumacher , His Life and Thought “. Nhờ tham khảo cuốn sách này, mà người viết có thể cống hiến cho bạn đọc những chi tiết lý thú.

2/  Hành trình tư tưởng của Fritz Schumacher.

Có thể nói Fritz là một nhân vật xuất chúng cả trong hành động cụ thể, cũng như trong công cuộc tìm kiếm giải pháp tốt đẹp có tầm vóc tòan cầu trước những khó khăn bế tắc của thế giới hiện đại. Như đã trình bày ở phần trên, thông qua việc học hỏi và làm việc tại các quốc gia tiền tiến như Đức, Anh và Mỹ trong hơn 60 năm, ông đã được tiếp cận với các luồng tư tưởng, với các nhân vật ngoại hạng, cũng như tham gia vào các hoạt động ở tầm mức cao nhất trên thế giới. Và cùng với một trí tuệ thông minh vượt trội và sức làm việc cần mẫn, say sưa miêt mài trong nhiều năm, ông đã đạt tới tình trạng “ngộ ra được’ một đường lối phải noi theo để góp phần xây dựng tốt đẹp nhất cho thời đại ngày nay. Ông đã đi khắp năm châu, bốn biển, nhất là Phi châu, châu Mỹ la tinh , Ấn độ, Miến điện để nhận diện được sự phức tạp của hòan cảnh sinh họat văn hóa xã hội và cả mặt tâm linh của nhiều sắc dân với truyền thống lịch sử rất khác biệt với nhau.

Lúc còn trẻ, vì hăng say làm việc và nghiên cứu với tinh thần lạc quan khoa học, ông như người vô thần, không chú tâm gì đến khía cạnh tâm linh của con người. Nhưng sau này, nhờ quan sát tại chỗ ở nhiều quốc gia trên thế giới, ông đã chú trọng đến ảnh hưởng của tôn giáo trong các nền văn hóa. Đặc biệt ông rất khâm phục chủ trương “Bất bạo động” của Thánh Gandhi bên Ấn độ và lối sống thanh thóat của người Phật tử tại Miến điện. Và đến cuối đời, thì ông gia nhập đạo công giáo.

Bởi vậy mà suy nghĩ của Schumacher càng thêm chín mùi hơn với khía cạnh nhân bản và nhân ái, vượt thóat được thái độ kênh kiệu, tự cao tự đại và tự mãn thường thấy nơi những người quá say mê với thành tựu khoa học kỹ thuật, cũng như về kinh tế của các nước Âu Mỹ. Càng tìm hiểu nơi các nền văn hóa cổ truyền bên ngoài thế giới Tây phương, ông càng có thái độ khiêm tốn, phục thiện và mở rộng tâm hồn để đón nhận những luồng tư tưởng khác lạ mà lại rất phong phú của nhân lọai. Có thể nói Schumacher luôn luôn nhất quán trong việc đề cao khía cạnh đạo đức nhân bản trong lề lối tổ chức sinh họat kinh tế xã hội cho con người trong thế giới ngày nay. Ông luôn nhắc nhủ, cảnh giác cái thái độ tự phụ của các nhà lãnh đạo các cường quốc chỉ biết đến khoa học, đến năng suất kinh tế thương mại, mà sao lãng vấn đề lương tâm và trách nhiệm liên đới của các quốc gia là thành viên trong cộng đồng nhân lọai.

Cụ thể Schumacher phê phán nhà bác học Einstein rằng : Vì ông ta quá mức đề cao thuyết tương đối (Relativity), thì đâm ra chối bỏ cái tiêu chuẩn đạo đức vốn có giá trị tuyệt đối. Cũng vậy, lý thuyết của Freud coi rằng con người hành động là do sự ẩn ức của sinh lý bị dồn ép, thì không còn phải chịu trách nhiệm gì về việc làm xằng bậy của mình nữa. Như vây là sự vô trách nhiệm. Schumacher cũng phê phán Karl Marx về lý thuyết định mệnh lịch sử, thì con người cũng không còn chịu trách nhiệm cá nhân của riêng bản thân nữa. Ông cũng cực lực lên án chủ trương gieo rắc hận thù của người macxít, vì đó là nguyên nhân của các vụ tàn sát kinh hòang trong thế giới cộng sản. Ta sẽ có dịp xem xét chi tiết hơn về tư tưởng của Schumacher khi đọc tác phẩm chính yếu “Small is beautiful” là đề tài sẽ được trình bày trong bài sau.

3/  Ảnh hưởng của tư tưởng Schumacher

Báo New York Times đã xếp cuốn “Small is beautiful” là một trong 100 cuốn sách có ảnh hưởng nhất trên thế giới (the most influential books) kể từ sau thế chiến 2. Tác giả đã được mời đi diễn thuyết tại nhiều nơi trên thế giới và được nhiều vị nguyên thủ quốc gia tham khảo ý kiến, trong đó có cả Tổng Thống Jimmy Carter của nước Mỹ. Tại nhiều nước, đặc biệt là ở Anh và Mỹ, các thân hữu ái mộ ông đã lần hồi thành lập “Hiệp hội E F Schumacher” (E F Schumacher Society) nhằm nghiên cứu, khai triển và phổ biến tư tưởng của ông. Và còn rất nhiều các tổ chức và các nhóm khác đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng của ông, mà điển hình như “ Institute for Community Economics”, “Council on Economic Priorities”, “Friends of the Earth”, “Greenpeace”, “Worldwatch Institute”, “Soil Remineralization Network”, “Global Warming Network” v.v…

Ta có thể lược kê ra các đề tài được Schumacher nêu ra ngay từ thập niên 1960 và hiện nay vào thế kỷ XXI vẫn còn tính cách thời sự cấp bách, mà được quần chúng cũng như giới trí thức hàn lâm rất quan tâm.  Điển hình một số các đề tài đó như sau  :

  • Phê phán các hệ thống tổ chức quá mức (overorganised systems) làm phá họai tinh thần con người, cũng như cả hành tinh trái đất.
  • Đề cao sự quan trọng của “mức thang nhân sinh” (human scale) trong việc tổ chức sinh họat kinh tế xã hội.
  • Ý niệm về “kỹ thuật với bộ mặt nhân bản” (technology with human face), về “kỹ thuật thích hợp” (appropriate technology) cho từng quốc gia, có tính cách đơn giản, bất bạo động và có thể kiểm sóat được (controllable).
  • Ưu tư về sự mau cạn kiệt (rapid depletion) các tài nguyên thiên nhiên, khiến đưa tới sự phá hủy môi sinh.Cần cảnh giác về việc sử dụng quá mức các lọai tài nguyên không thể tái tạo (non-renewable resources) như than đá, dầu khí, gas…
  • Sự quan trọng của việc phục hồi lại cái hệ thống giá trị về một lối sống tốt đẹp, một xã hội an hòa (good life, good society) thay vì cứ để bị mê hoặc bởi các lọai lợi ích ngắn hạn nhất thời.
  • Sự cần thiết phải trở về với “Bốn Nhân Đức Nền Tảng” (Four Cardinal Virtues), đó là : Sự Khôn ngoan, Công lý, Dũng cảm và Tiết chế ( tiếng latin : Prudentia, Justitia, Fortitudo, Temperantia)  …

Đại khái các đề tài này đã luôn luôn được đưa ra thảo luận trong các cuộc hôi thảo, các buổi nói chuyện trao đổi giữa nhiều nhóm, nhất là giới sinh viên Đại học, các tổ chức tôn giáo… Và các lọai ý kiến xuất phát từ các cuộc gặp gỡ này hiện vẫn được chuyển tải thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là trên internet.

Sức thu hút của tư tưởng Schumacher đối với nhiều người, đó là do sự chính xác của lý luận và phân tích tình hình xã hội của ông được thể hiện rõ ràng qua sự kiểm chứng đối chiếu với thực tiễn sinh động tại nhiều nơi trên thế giới ngày nay. Cụ thể như : Các nhà máy phát điện với kích thước quá lớn đã lần hồi bị thay thế bởi các đơn vị nhỏ bé hơn, bởi lẽ các nhà máy với quy mô vừa phải thì mới có hiệu quả chắc chắn, vũng bền hơn. Cũng như các nhà máy điện nguyên tử không còn được xây dựng ào ạt sau các vụ rì rỏ tại “Three Miles Island” ở Mỹ và nhất là sau tai nạn thảm khốc Chernobyl ở Liên Xô vào thập niên 1980, sau khi Schumacher đã qua đời năm 1977.

Nhân tiện cũng nên ghi nhận chủ trương của tác giả “Small is beautiful” cũng có nhiều nét tương đồng với quan điểm của nhà tư tưởng đương thời và cũng nổi danh khác, đó là Karl Popper gốc từ Áo quốc (1905-1994), là một vị giáo sư lâu năm của Đại học London School of Economics cũng ở nước Anh. Đó là chủ trương “Piecemeal Social Engineering” ( “Xây dụng xã hội từng mảnh một “, như đã được trình bày khá chi tiết trong tác phẩm nổi danh của ông với nhan đề là : “The Open Society and Its enemies “), mà nhà tỉ phú George Soros là một môn đệ hiện đang theo đuổi áp dụng thông qua tổ chức “Open Society Institute OSI” do ông sáng lập, có trụ sở chính tại New York, và chuyên chú về công cuộc phục hồi tại các nước Đông Âu trong giai đọan hậu cộng sản từ 20 năm nay. Người viết mong sẽ có dịp trình bày chi tiết hơn về cặp đại sư Karl Popper và môn sinh George Soros này trong một dịp khác, cũng như đã viết về vị đại sư cũng rất nổi danh khác của nước Pháp là Raymond Aron (1905-1983) vào đầu năm 2008 vừa qua./

California, Tháng Tư 2009

Đòan Thanh Liêm

( Bài 2   : Giới thiệu tác phẩm “Small is beautiful”). (tiêp theo)

NGƯỜI THỢ ĐIÊU KHẮC

NGƯỜI THỢ ĐIÊU KHẮC

Ông sống tận cuối làng, cô đơn và khó tính.  Không giao du qua lại với ai.  Ngày lại ngày, có việc thì cặm cụi đục đẽo, không việc thì lúi húi chăm sóc miếng vườn nhỏ, trồng dăm bụi sắn, vài luống rau và ít bụi hoa.  Người trong làng thỉnh thoảng ghé đến nhưng thấy bản tính ông ghẻ lạnh nên cũng chẳng ai muốn chơi.  Nguồn thu nhập chính của ông là khắc tượng gỗ.  Danh tiếng ông khá lẫy lừng , nhiều ngôi chùa ở những nơi xa tìm ông để đặt hàng.  Từ những bức tượng Phật Thích Ca uy nghi, to lớn cho đến những pho tượng chỉ bằng nắm tay, ông đều nhận cả.

Một ngày kia có vị Linh Mục đến đặt hàng làm ông ngỡ ngàng.  Đây là lần đầu tiên trong đời điêu khắc của ông có một “ông Cha” giao tiếp với ông, thứ đến là loại hàng này ông chưa từng bao giờ thử qua!

Ông Cha này rất điềm đạm và bình dân, cho ông một cảm giác gần gũi, thân thiện.  Hàng đặt là một tượng Thánh Giá cao tới hai mét rưỡi và chiều ngang một mét chín, nằm trên Thánh Giá này là tượng Chúa Giê-Su cao một mét bảy.

–    Nhưng thưa ông, Chúa Giê-Su là ai, tôi không biết rõ, làm sao tôi có thể khắc đúng như ông đòi hỏi?

Vị Linh Mục thoáng ngẩn người, ông mau chóng lục chiếc cặp đang mang theo người, lấy ra một bức ảnh chịu nạn đưa cho người thợ, ông này cầm lấy ngắm nghía với cặp mắt nhà nghề, giọng đầy phân vân:

–       Thú thật với ông, tôi chưa từng khắc tượng… Chúa!  Từ trước đến nay tôi chỉ khắc tượng Phật, tượng Thần.  Đối với Chúa, tôi cảm thấy xa lạ lắm.  Ông có cái gì về Chúa nữa không để tôi nghiên cứu thêm, chứ bức ảnh này tôi e chưa đủ để giúp tôi có thể lột tả được cái Thần.  Ông biết đấy, tôi đặt cao lương tâm nghề nghiệp…

Vị Linh Mục nhìn ông thợ điêu khắc đầy thiện cảm, ông trao cho người thợ một cuốn sách:

–       Đây là cuốn Kinh Thánh của Đạo chúng tôi, hy vọng ông sẽ biết đầy đủ về Ngài.

***********************

Suốt cả tháng trời, ông thợ miệt mài đọc kỹ cuốn Thánh Kinh và ngắm nghía bức ảnh chịu nạn. Không giống vẻ oai nghiêm của các tượng Thần ông từng khắc, cũng không có vẻ an nhiên tự tại của tượng Phật với những đường nét bệ vệ, tròn trĩnh.  Tượng Chúa là những lồi lõm của một người gầy gầy, với những thương tích khắp người, một người trần truồng để lộ ra những xương sườn và cái bụng lép kẹp, nhất là gương mặt hốc hác, đau đớn của người chịu khổ hình.  Một gương mặt đang trong tư thế ngước lên mà ánh mắt vừa chịu đựng lại vừa khẩn khoản, đầy tin tưởng và hiền lành, không thấy có chút nào của sự oán trách, thù hận!

Ông cứ vừa nghiền ngẫm vừa dò dẫm chạm khắc, ngày làm đêm nghiên cứu.  Ngay cả trong giấc mơ ông cũng thấy gương mặt Người Chịu Nạn bê bết mồ hôi và máu, những thớ thịt co giật trong cơn đau đớn, đôi môi khô nứt tím tái hẳn đi, hai cánh mũi phập phồng trong cơn khó thở!

Ngày qua ngày, ông làm việc miệt mài nhưng rất chậm.  Đôi chân xương xẩu xếp chồng lên nhau của Người Chịu Nạn, bị đóng dính vào Thập Giá tương đối dễ khắc.  Lồng ngực bức tượng nhô cao hiển lộ toàn bộ xương sườn như đang cố hớp lấy không khí khiến cho phần bụng thót lại làm ông thấy khó khắc hơn!  Ngay cả hai bàn tay với những ngón gầy guộc co quắp khiến những sợi gân căng trên cổ tay cũng khiến ông hình dung được sự đau đớn của Người Chịu Nạn!  Hình như không có vị Giáo Chủ của Đạo nào lại khốn khổ như vị này!  Hầu hết các vị đều được vinh quang ngay khi tại thế, Đạo của các vị ấy cũng được truyền bá dễ dàng chứ không bị bách hại như Đạo này!

Mỗi nhát đục ông đều đắn đo cẩn thận.  Độ khó của bức tượng kích thích ông mãnh liệt.  Ông say mê làm việc như chưa bao giờ ông say mê đến thế!  Thỉnh thoảng, ông dừng tay, giở Kinh Thánh ra nghiền ngẫm về Con Người Trên Thánh Giá.  Cứ như trong sách ghi chép lại thì Con Người này có lẽ là Chúa thật rồi!  Ông ta làm phép lạ mà chẳng tốn một tí hơi sức nào cả!  Chỉ một Lời, thế là thành sự!  Như thể ông ta là chủ tể của vũ trụ, là Ông Trời vậy!

Hình như các vị Giáo chủ khác không làm phép lạ nào thì phải?  Các Ngài chỉ dạy dỗ thôi, mà ông này thì dạy dỗ như kẻ có quyền thật sự!  Cái điệp khúc “ Phần Ta, Ta bảo các ngươi…” cứ lặp lại mãi.  Mà những Lời dạy bảo của Người mới cao đẹp, mới thánh thiện làm sao!

Mỗi ngày qua, tác phẩm dần lộ hình, thì trong lòng ông thợ lại càng xốn xang, khắc khoải.  Có một điều gì đó làm ông băn khoăn.  Ông thường hay bỏ dở công việc để đi thăm một người trong làng bị đau ốm, có khi ông nghỉ nguyên một buổi để đi đưa đám một người chết chẳng liên hệ gì với ông! Những đồng tiền làm ra được ông cất kỹ, nay cũng cạn dần theo những lần ông âm thầm đến nhà này, nhà nọ.  Dân làng cũng thấy được sự thay đổi này, họ xầm xì bàn tán đủ điều về ông, có người còn độc miệng cho rằng ông đốc chết (*), nhưng nhìn chung họ dần có cảm tình với ông.

Giai đoạn khó khăn nhất cuối cùng cũng đến: Đó là gương mặt Người Chịu Nạn.  Ông đã bỏ nguyên hai ngày để đọc kỹ lại cuộc khổ nạn của Chúa Giê-Su trong cả bốn quyển Tin Mừng.  So sánh, đối chiếu cả bốn quyển để tìm ra những điểm chung, điểm riêng, những nét đặc trưng khả dĩ giúp ông hình dung ra sự khốc liệt của cuộc hành hình mà Chúa Giê-Su phải chịu.  Ông mường tượng ra những cơn đau khiến gương mặt co giật.  Răng nghiến lại?  Ừ, có thể nào răng nghiến lại khi cơn đau cùng cực không?  Miệng có bị méo đi không?  Còn mắt?  Mắt nhắm nghiền hay trợn trừng hoặc lạc thần vì quá sức chịu đựng?  Mồ hôi và máu thì dĩ nhiên rồi!  Một gương mặt đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn.  Tâm hồn dĩ nhiên đau đớn lắm khi Người thốt lên: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?” mà tâm hồn này cũng tin tưởng và bình an vì Người đã kêu lên: “Con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”  Một gương mặt tội nhân mà sáng chói sự thánh thiện khi Người nguyện rằng: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”  Một gương mặt hài hòa bao nhiêu là trạng thái mà ông phải cô đọng lại!

Từng nhát đục ông gọt đẽo trong hồn ông, tượng hình dần trên thân gỗ.  Gương mặt Chúa Giê-Su đau đớn với đôi mắt mở lớn đang ngước lên trời trong tâm tình phó thác vâng phục.  Phải rồi, Người đã vâng phục cho đến chết và chết trên Thập Giá đang khi Người uy quyền phép tắc đến thế!  Ai làm gì được Người nếu không phải chính Người tự nguyện chết thay cho nhân loại?  Gương mặt Chúa Giê-Su thánh thiện và khả ái làm ông hài lòng mặc dù mấy hôm nay một cơn đau cứ nhoi nhói trong ngực ông.

Khi ông dừng nhát đục cuối cùng thì ánh sáng cuối ngày cũng vừa lịm tắt.  Ông vui sướng cố dựng Thánh Giá gỗ nặng nề lên cho dựa vào tường rồi mệt mỏi lê bước vào giường.  Đặt mình nằm xuống, ông thiếp đi rất nhanh, không hề mộng mị.

***********************

Tiếng gà gáy sáng làm ông choàng tỉnh giấc, toàn thân khoan khoái sau một giấc ngủ dài làm ông có cảm giác trở lại thuở đôi mươi.  Bên ngoài cửa sổ trời vẫn còn tối nhưng nơi cửa ra vào ánh sáng lại huy hoàng làm ông ngạc nhiên.  Ông chợt nhớ ra chiều qua mình đã ngủ như chết, không tắm rửa, không ăn uống và không cả đóng cửa!

Ông bước xuống giường đi ra cửa và bất chợt khựng lại vì trong sân đang chói loà toàn ánh sáng, một thứ ánh sáng mà ông chưa từng thấy, chính ánh sáng này đã chiếu sáng cửa lớn nhà ông.  Toàn thân ông thấm đẫm thứ ánh sáng huyền diệu này.  Một niềm hạnh phúc ngọt ngào dâng ngập hồn ông, trong mơ hồ ông nhận ra thân thể mình bỗng nhẹ tênh, ánh sáng đưa ông bay lên cao, lên cao mãi…

***********************

Phải đến hai ngày sau dân làng mới phát giác ra ông đã chết dưới chân cây Thánh Giá mà ông vừa hoàn thành, trong tư thế nửa ngồi nửa quỳ, mặt ngước lên và tay ôm chặt chân tượng Thánh Giá.

Sưu tầm

Làm Báo, Làm Dáng & Làm Đĩ

Làm Báo, Làm Dáng & Làm Đĩ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Không phải ngẫu nhiên mà lực lượng báo chí nước ta đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những đóng góp to lớn của báo chí cả nước cũng như của Hội Nhà báo Việt Nam.

T.B.T Nguyễn Phú Trọng (09/08/2015)

Mấy tháng trước, có đận, báo chí trong nước đồng loạt và khẳng khái lên tiếng bênh vực một người dân ở Sài Gòn vì tấm biển quảng cáo quán ăn của ông ta bị nhân viên Phường I tịch thu mà “không hề có văn bản, không có ý kiến từ cơ quan chức năng có thẩm quyền.” Đầu tháng này, báo giới lại đồng tình lên tiếng chỉ trích việc “thi hành pháp luật cứng ngắc” của công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội) khi họ tịch thu bình trà đá miễn phí dành cho người nghèo do người dân khu phố đặt dưới một gốc cây.”

Thành quả: cả tấm biển quảng cáo và thùng nước đều đã được trả lại cho khổ chủ. Không những thế, ông Nguyễn Quang Hiếu, Chủ Tịch UBND quận Hoàng Mai còn “đánh giá công an phường Thịnh Liệt thu thùng trà miễn phí của người dân là hơi thái quá, cần rút kinh nghiệm.”

Chưa hết, Luật sư Nguyễn Văn Hậu ( Phó Chủ Tịch Hội Luật Gia TPHCM) cũng cho rằng “hành động tịch thu bình trà đá miễn phí cho người nghèo là vô tâm và đụng chạm tới những giá trị nhân văn đang ngày càng ít trong xã hội, nên lập tức gặp phải phản ứng dữ dội.”

Ảnh: vnexpress

Những phản ứng “dữ dội” kể trên khiến tôi thốt nhớ đến một câu danh ngôn quen thuộc (“Tội lỗi lớn nhất của chúng ta là im lặng trước cái ác và cái xấu.”) và không nén được một tiếng thở dài. Báo giới ở Việt Nam – rõ ràng – chỉ ồn ào trước những cái xấu cùng cái ác nho nhỏ, ở phạm vi phường xã mà thôi. Còn những tội ác tầy trời khác thì họ nhất loạt … làm thinh!

Xin đơn cử vài thí dụ:

“Tối 10-9-1975, ‘tin chiến thắng’ liên tục được báo về ‘Đại bản doanh’ của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập… Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả ‘kho’ kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm ‘7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày’ ở Thủ Đức…

Trong buổi giao ban của Thường vụ Trung ương Cục vào lúc 7 giờ tối ngày 10-9- 1975, tại Dinh Độc Lập, với sự có mặt của ông Phạm Hùng, bí thư Trung ương Cục, ông Nguyễn Văn Trân, ủy viên thường vụ, cùng các lãnh đạo Quân quản như Nguyễn Võ Danh, Phan Văn Đáng…, ông Mai Chí Thọ cho rằng các đoàn, các đội chỉ mới bắt được đối tượng, mới nắm được tài sản nổi chứ chưa lấy hết tài sản chìm.”

(Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Xin xem thêm vài con số nữa về tài sản (cả nổi lẫn chìm) của đám nạn nhân thuộc bên bại cuộc:

  • “Những gì mà Cách mạng lấy được của ‘nhà giàu’ trên toàn miền Nam được liệt kê: ‘Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt’ (Sđd, trang 80-81).
  • Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị ‘đánh’ ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ ‘tư sản thương nghiệp’, 13.923 hộ ‘trung thương’. Những tháng sau đó có thêm 835 ‘con phe’, 3.300 ‘tiểu thương ba ngành hàng’, 4.600 ‘tiểu thương và trung thương chợ trời’ bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.” (Sđd, trang 90).

Những “chiến thắng” và “chiến lợi phẩm” tương tự cũng đã được ghi nhận, ngay sau khi… “Cách Mạng cướp được chính quyền,”  ở miền Bắc Việt Nam:

“Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các   nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước… Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, 1955-1957, nền kinh tế miền Bắc phát triển ngoạn mục, chủ yếu nhờ vào lực lượng tư nhân: Công nghiệp tư bản tư doanh tăng 230%; cá thể, tiểu chủ, tăng 220,2%. Tư bản tư doanh và tiểu chủ, cá thể tạo ra một lượng sản phẩm chiếm 73,7% tổng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc.

Nhưng ‘Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh’ bắt đầu ở miền Bắc vào tháng 9-1957 đã gần như triệt tiêu hoàn toàn kinh tế tư bản tư nhân, tiểu chủ và cá thể bằng cách tước đoạt dưới các hình thức ‘tập thể hoá’ hoặc buộc các nhà tư sản phải đưa cơ sở kinh doanh của họ cho Nhà nước với cái gọi là công tư hợp doanh.

Chỉ hai năm sau cải tạo công thương nghiệp tư doanh, ở miền Bắc, tài sản của các nhà tư sản teo dần trong khi lực lượng quốc doanh bắt đầu chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Văn kiện Đảng ghi ngắn gọn: ‘Đến cuối năm 1960, 100% hộ tư sản công nghiệp và 97,2% hộ tư sản thương nghiệp được cải tạo.’ Con số đó đủ để nói lên chính sách đối với tư nhân của chế độ miền Bắc.” (Sđd, tập II, trang 204 – 207).

Nói tóm lại là tài sản của người dân, ở cả hai miền Nam/Bắc, đều đã bị “tước đoạt” một cách trắng trợn trong suốt “tiến trình cách mạng” qua một loạt những trận “đánh” được mệnh danh là Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Tạo Xã Hội Chủ Nghĩa, Tập Thể Hoá, Đổi Tiền …

Tuy “cách mạng” đã thành công nhưng cái “tiến trình” này chưa biết bao giờ mới chấm dứt. Đảng và Nhà Nước vẫn thản nhiên cướp đoạt, và vẫn tiếp tục khiến cho hàng trăm ngàn gia đình người dân phải lâm vào cảnh vong gia thất thổ với chủ trương “đất đai là sở hữu của toàn dân.”

VOA nghe được vào hôm 13 tháng 8 năm 2015 phát đi một bản tin (“Cô Bé 14 Tuổi Đi Tìm Công Lý Cho Ba Mẹ Và Anh Trai”) buồn bã:

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An. Ảnh và chú thích: VOA

Một bé gái mất nhà, có cả cha mẹ và anh trai rơi vào vòng lao lý vì chống lại lực lượng thu hồi đất mà em cho là bất công, nói em chỉ mong trở lại cuộc sống bình thường và đang làm tất cả những gì có thể để gia đình được đoàn tụ.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Hơn một chục người bị bắt, trong đó có ba mẹ của em Vy, và 4 tháng sau, mới đây, ngày 6/8, anh trai của em là Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, đã bị bắt theo “lệnh truy nã”.

Vy kể với VOA Việt Ngữ: “Con cảm thấy mình giống như là bước vào con đường cùng không có lối thoát. Con tưởng cuộc đời con chấm hết rồi. Không còn cha mẹ, không còn nhà cửa. Tinh thần của con rất là suy sụp.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn. Ảnh từ Dân Luận

Chính sách thu hồi đất đai hiện nay đã  đẩy bao nhiêu triệu người “vào con đường cùng không có lối thoát” như thế ? Tuy thế, báo giới ở đất nước này chỉ “phản ứng dữ dội” khi bất công xẩy ra ở cấp phường xã, và chỉ liên quan đến những tài sản nho nhỏ (như tấm biển quảng cáo, hay thùng nước đá) của người dân mà thôi.

Vậy mà cũng có Hội Nhà Báo Việt Nam, với cả chục lần Đại Hội. Đó là hội của những người làm dáng, chứ không phải là làm báo. Dù vậy, không ít qúi ông và bà phóng viên và ký giả của TTXVN vẫn chưa bao giờ dám làm dáng cả, họ chỉ chuyên làm đĩ (whorespondent) mà thôi.

Dân chủ hóa sẽ bớt đút lót tham nhũng

Dân chủ hóa sẽ bớt đút lót tham nhũng

Nam Nguyên, RFA
2015-08-18

Sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp thể hiện tình trạng nền kinh tế. Việt Nam được các chuyên gia cho rằng nếu bớt được tình trạng nhũng nhiễu thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên và nâng cao năng lực cạnh tranh cho họ.

Nhiêu khê sinh nhũng nhiễu

Có thể nói nạn hối lộ, đút lót là đầu cuối của thể chế, khi thể chế thiếu công khai minh bạch, thủ tục hành chính nhiêu khê thì đẻ ra các chi phí bôi trơn.

Các chuyên gia kinh tế nhiều lần nêu ra vấn đề, làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam khi mà kết quả điều tra cho thấy, để kiếm được 1 đồng lợi nhuận thì doanh nghiệp phải sử dụng 1 đồng đút lót bôi trơn. Điều này được TS Lê Đăng Doanh nêu ra trong Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2015 tổ chức ở Vinh hồi tháng 4 vừa qua. Gần đây ngày 8/8/2015 tại cuộc hội thảo ở Đà Nẵng, chuyên gia Phạm Chi Lan cũng đã lập lại điều này.

“ Trước đây mức độ tham nhũng nhũng nhiễu được coi là thông thường là 30%.  Sau đó được nâng lên thậm chí có lúc tới 50%.
TS Phạm Chí Dũng, TP.HCM”

Trao đổi với chúng tôi, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long từ Hà Nội nhận định:

“Một đồng lợi nhuận phải bỏ ra 1,02 đồng chi phí  bôi trơn. Tất cả những hệ lụy, những mặt trái, mặt tiêu cực này xã hội đều đã nhìn thấy và chính phủ cũng tỏ quyết tâm giải quyết vấn đề này. Nhưng thực tế giải quyết được đến đâu thì phải chờ xem, có biến lời nói thành hành động có kiên quyết hay không.”

Có vẻ như tình trạng kinh tế tụt hậu của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á khác bắt nguồn từ nhiều vấn đề, như không thực sự có kinh tế thị trường, tài nguyên nguồn lực quốc gia được ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là chính đất đai. Tuy vậy các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Việt Nam nói chung không phát triển lên được, do tình trạng tham nhũng hối lộ trầm kha và là bi kịch của đất nước.

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập một tổ chức tự phát không phụ thuộc chính quyền, nhận định:

“Trước đây tôi chỉ nghe mức độ tham nhũng nhũng nhiễu được coi là thông thường là 30%. Tỷ lệ này thường được áp dụng trong xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước và được coi là bình thường, có nghĩa là cứ 100 đồng thì phải cắt ra 30 đồng để coi là hoa hồng, lại quả, hối lộ cho một số quan chức. Sau đó tỷ lệ 30% đó được nâng lên thậm chí có lúc tới 50% và đáng chú ý là tỷ lệ này chừng mực nào đó lại được áp dụng vào trong lãnh vực tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA.”

Đút lót, hối lộ: Chuyện thường ngày ở huyện

Đút lót hối lộ trở thành một chuyện thường tình, không một doanh nghiệp nào ở Việt Nam lại không từng sử dụng phí bôi trơn. Đút lót từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn vì mọi thủ tục quá rườm rà và để công việc có thể chạy được doanh nghiệp phải chấp nhận đút lót.

Có những chuyện không thể nào hiểu nổi, một thí dụ nhỏ là một doanh nghiệp xuất khẩu muốn xuất khẩu 1 container hàng ra nước ngoài, chủ doanh nghiệp đã lên danh mục phí bôi trơn tới từng chi tiết.

Ngay cả đi thuê container để vô hàng cũng phải hối lộ cho nhân viên phụ trách ở cảng để không phải chờ đợi, được giao container tốt, rồi hải quan kiểm hóa, kết thúc hồ sơ thông quan… mỗi khâu đều có phí bôi trơn thì công việc mới chạy.

Tại Hội thảo Đà Nẵng ngày 8/8/2015, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn kết quả điều tra đáng tin cậy đã nói, ở Việt Nam trung bình cứ 1 đồng lợi nhuận thì doanh nghiệp phải mất 1,02 đồng bôi trơn. Giả dụ nếu bớt tham nhũng được 50% thì doanh nghiệp được tăng lợi nhuận 50%. Báo chí trích lời bà Phạm Chi Lan nói rằng, đó là lý do doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhỏ đi so với trước.

“ Bài toán này Việt Nam đang xử lý và đang giải quyết, nhưng xử lý đến đâu và giải quyết có hiệu quả hay không thì phụ thuộc vào sự quyết tâm, quyết liệt và sự nghiêm minh của pháp luật và của nhà cầm quyền.
TS Ngô Trí Long, Hà Nội”

Cần phải dân chủ hóa

Trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định, điểm chính là vấn đề cải cách đổi mới thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách bộ máy hành chính, cơ cấu đội ngũ cán bộ và những thủ tục hành chính. Hiện nay do thủ tục hành chính phức tạp gây ảnh hưởng môi trường đầu tư, vì vậy đã làm cho những chi phí bôi trơn hay, phí hay lệ phí tăng lên, những mặt đó là tiêu cực.

Trong hai năm 2014 và 2015, trọng tâm của chính phủ trong thời gian này là cải thiện môi trường đầu tư. Năm 2014 cố gắng bằng ASEAN-6 và 2015 cố gắng cải thiện môi trường đầu tư bằng ASEAN-4, tức nhóm 4 nước phát triển nhất của ASEAN. Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhấn mạnh:

“Chính phủ đưa ra những biện pháp hết sức cụ thể nhưng thực tế triển khai và kết quả thực hiện cũng chưa là bao, cần phải giải quyết sao cho có hiệu quả hơn. Hay nói cách khác là lời nói và hành động phải đi đôi với nhau và có sự kiểm soát, giám sát một cách chặt chẽ và phải có chế tài thực sự nghiêm minh xử lý những vấn đề còn nhũng nhiễu gây ra những chuyện không tốt đối với hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đây là một trong những biện pháp rất tốt để giải quyết vấn đề vấn nạn tham nhũng hiện nay. Bài toán này Việt Nam đang xử lý và đang giải quyết, nhưng xử lý đến đâu và giải quyết có hiệu quả hay không thì phụ thuộc vào sự quyết tâm, quyết liệt và sự nghiêm minh của pháp luật và của nhà cầm quyền Việt Nam.”

Một chuyên gia Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) ông  Olin McGill từng nhận định là thu nhập đầu người của Việt Nam đáng lẽ có thể tăng gấp 5 lần. Nhưng Việt Nam không đạt được điều này là vì điều hành không hiệu quả. Theo lời ông McGill, thủ tục xuất nhập khẩu ở Việt Nam không thông thoáng, với lượng thời gian kéo dài 21 ngày như hiện nay, ước tính Việt Nam đang thất thoát khoảng 15% tổng kim ngạch thương mại hằng năm.

Ví dụ nhỏ của ông McGill đủ làm mọi người giật mình. Nếu môi trường kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện, thì tất nhiên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Môi trường kinh doanh tốt thường được thể hiện ở những nước có nền dân chủ pháp trị. Xem ra con đường cải tổ ở Việt Nam vẫn còn dài dằng dặc.

Lá thư hai mươi năm và mô hình không muốn phát triển

Lá thư hai mươi năm và mô hình không muốn phát triển

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-17

08172015-20y-lett-an-not-will-to-develop-model.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

File photo

Bức thư hai mươi năm trước

Một số báo xuất bản tại Việt nam cho đăng tải bức thư của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Bộ chính trị đảng cộng sản Việt nam 20 năm trước đây. Trong bức thư này ông Kiệt đề nghị đảng cộng sản nên nhìn nhận tình hình thế giới lúc ấy khác đi với thời chiến tranh lạnh, tức là không theo quan điểm cổ điển của những người cộng sản rằng thế giới này chia thành hai phe tư bản và xã hội chủ nghĩa.

Một nội dung quan trọng khác mà ông Kiệt gửi đến các đồng chí của ông đang nắm giữ quyền lực là không nên duy trì sự ưu đãi cho nền kinh tế phi thị trường.

Tuy nhiên tờ báo không viết thêm về số phận chính trị của ông Kiệt sau khi gửi bức thư này.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh viết trên trang Diễn Đàn của nhóm trí thức tại Pháp về bước ngoặt của cuộc đời ông Kiệt sau bức thư đó. Ông Kiệt đã bị các đồng chí phê phán kịch liệt, đã phải từ chức Thủ tướng. Ngoài ra một số người liên quan đến bức thư, trong đó có nhà bất đồng chính kiến Hà Sĩ Phu bị bắt và kết án trong cái mà ông Lê Đăng Doanh gọi là một làn sóng đàn áp và khủng bố.

Trong bức thư được viết cách nay gần một thế hệ, ông Kiệt còn kêu gọi việc thực thi dân chủ trong đảng của ông cũng như trong xã hội.

Blogger Trần Minh Khôi nhận định về bức thư này:

Nếu những điều ông Kiệt đề nghị trong lá thư gởi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hai mươi năm trước được thực hiện thì đất nước Việt Nam ngày nay đã tốt đẹp hơn rất nhiều. Và điều tốt đẹp nhất là Đảng Cộng sản đã không còn giữ độc quyền cai trị. Đối với những lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tương lai đất nước chưa bao giờ quan trọng bằng sự tồn vong của Đảng. Điều này đúng hai mươi năm trước và vẫn đúng lúc này.

Nhận xét của Trần Minh Khôi không biết có giống với ý muốn của ông cố Thủ tướng gửi gắm trong bức thư hay không, vì ngoài những điều ông Kiệt đề nghị về sự kỷ luật, về việc dân chủ hóa đảng của ông, người ta không thấy đề cập đến sự thay đổi thể chế chính trị, mà chỉ có chuyện cải cách kinh tế, người ta cũng không thấy ông đề cập đến ý thức hệ Mác Lê nin, mà trong đó vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản là điều không thể bàn cãi.

“ Nếu những điều ông Kiệt đề nghị trong lá thư gởi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hai mươi năm trước được thực hiện thì đất nước Việt Nam ngày nay đã tốt đẹp hơn rất nhiều. Và điều tốt đẹp nhất là Đảng Cộng sản đã không còn giữ độc quyền cai trị

Blogger Trần Minh Khôi”

20 năm sau bức thư của ông Kiệt, giới trí thức Việt nam công khai lên tiếng chỉ trích chủ nghĩa Mác Lê Nin. Một trong những người đó là Giáo sư Nguyễn Đình Cống, ông cho rằng bản chất của chủ nghĩa này là một sự ngụy biện, và nếu đeo đuổi nó, người ta sẽ chịu những hậu quả tai hại:

Một con người sống bằng dối trá và lừa đảo sẽ đến lúc bị mọi người thấy rõ và xa lánh. Một học thuyết dựa chủ yếu vào ngụy biện sớm muộn cũng bị phát hiện và tẩy chay. Một chính quyền phải dùng đến ngụy biện trong hành xử sẽ mất lòng tin của dân, mất lòng tin của các nước. Dù cho người ta có đón tiếp đại diện của bạn một cách trọng thị, có ký kết với bạn hiệp ước về quan hệ đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược thì ngoài những cái bắt tay chào hỏi xã giao, trong lòng họ vẫn canh cánh một tinh thần cảnh giác là đang quan hệ với một người dối trá đáng khinh bỉ.

Ông Nguyễn Đình Cống có ý muốn nói đến những mối quan hệ ngoại giao nồng ấm lên trong thời gian gần đây giữa nước Việt nam cộng sản và các quốc gia phương Tây, về nguyên tắc là những kẻ đối đầu ý thức hệ với đảng cộng sản Việt nam.

Tác giả Vũ Ngọc Yên viết trên trang blog Bauxite Việt nam:

Trong thời gian qua dư luận rất kinh ngạc khi thấy giới lãnh đạo Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam tích cực mở rộng hợp tác với Mỹ và Âu châu trên mọi bình diện. Dư luận đánh giá các hoạt động này chỉ là những tính toán chiến lược tìm ngõ thoát cho chế độ độc đảng trước những áp lực nội và ngoại hầu có thể tiếp tục trụ được.

Một người bán hàng rong trên phố đầy cờ đảng ở TPHCM

Một người bán hàng rong trên phố đầy cờ đảng ở TPHCM

Nói chung, Đảng Cộng sản hy vọng qua các Hiệp định thương mại, sẽ tạo được niềm tin ở quốc tế và tính chính danh cầm quyền vốn đã không tồn tại từ nhiều thập niên qua.

Còn trang Bauxite Việt nam bình luận về việc bầu cử trong chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo từ trước đến nay như sau:

Đảng nói rất hay về dân chủ. Nhưng đồng thời Đảng bao giờ cũng cố gắng tối đa để siết chặt “dân chủ” trong bàn tay sắt của mình. “Đảng cử dân bầu” là một trong những biện pháp để làm điều đó. Nói cho cùng, có chế độ toàn trị nào mà không sợ dân chủ thực chất? Xóa “Đảng cử dân bầu” là đặt Đảng vào sự thử thách thực sự, buộc Đảng phải lo lắng đến phản ứng của người dân. Duy trì “Đảng cử dân bầu” thì yên chí lớn: tất cả những vị trí lãnh đạo đều một tay Đảng sắp xếp. Quyền lực ở đấy mà quyền lợi cũng ở đấy.

Lời bình của Bauxite Việt nam có ý nói rằng cũng có chuyện bầu cử ở Việt nam nhưng chỉ do đảng cộng sản dàn dựng mà thôi, qua câu nói đảng cử dân bầu đầy mỉa mai.

Bản chất của chế độ và mô hình không muốn phát triển

Blogger Nguyễn Vũ Bình viết bài Bản chất và Hiện tượng.

Trong bài này ông cho rằng có những ý kiến biện minh cho những điều không tốt trong xã hội Việt nam hiện nay chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Những ý kiến này nói rằng bản chất của chế độ cộng sản hiện nay ở Việt nam vẫn là tốt đẹp.

Nguyễn Vũ Bình phản bác điều này. Ông cho rằng nếu liên tục có những điều tệ hại xảy ra thì không thể nói là bản chất của chế độ là tốt đẹp được. Ông dẫn chứng là từ lúc đảng cộng sản Việt nam thống trị nền chính trị Việt nam cho đến nay, liên tục có những điều tệ hại xảy ra, đó là: Cải cách ruộng đất, Đàn áp nhân văn giai phẩm, Thảm sát Mậu thân, Cải tạo tư sản tại miền Nam.

Hãy nghe cây bút Nguyễn Đình Ấm mô tả cảnh tượng tàn phá văn hóa ở quê ông:

Từ sau cải cách ruộng đất chính quyền phát động phong trào phá đình chùa. Vào các buổi tối, thanh thiếu niên đốt đuốc tuần hành rầm rập hô đả đảo địa chủ rồi ban ngay đi phá đình, chùa, miếu. Những pho tượng cổ sơn son thiếp vàng cớ lớn tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay bị xà beng bật lên khênh vứt xuống sông Lô, các tượng gỗ mít nhẹ hơn bị mang về bổ củi đun, mùi sơn khét lẹt.

“ Đảng nói rất hay về dân chủ. Nhưng đồng thời Đảng bao giờ cũng cố gắng tối đa để siết chặt “dân chủ” trong bàn tay sắt của mình. “Đảng cử dân bầu” là một trong những biện pháp để làm điều đó. Nói cho cùng, có chế độ toàn trị nào mà không sợ dân chủ thực chất?

Lời bình của Bauxite VN”

Một điều quan trọng mà các blogger nhận xét về những hành động của đảng cộng sản từ khi lên cầm quyền đến nay là tất cả những sai lầm đó đều được thực hiện nhân danh danh Nhân dân. Điều mà Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho là một sự ngụy biện nhân danh số đông. Ngoài ra ông còn cho rằng để thực hiện các chính sách của mình từ trước đến nay đảng cộng sản thường đưa ra những hy vọng, và ông gọi họ là những người buôn bán hy vọng. Và điều mà ông ngạc nhiên là vẫn có người tin vào những món hàng hy vọng đó.

Điều Giáo sư Tuấn ngạc nhiên cũng là điều một tác giả trên trang blog Triết học đường phố đặt ra là sau bao nhiêu tệ hại của sự độc tài, tại sao đảng cộng sản vẫn nắm quyền? Tác giả tự trả lời rằng đảng cộng sản cầm quyền đã nắm hai lĩnh vực cần thiết để cho người ta không thắc mắc về quyền lực của họ, đó là giáo dục và báo chí. Ngoài ra tác giả này còn đưa ra một điều quan trọng nữa mà theo đó những người cộng sản đặt nền móng chế độ của mình, đó là gieo rắc sợ hãi trong toàn xã hội.

Trong một tinh thần xã hội như vậy, mô hình kinh tế Việt nam vẫn tiếp tục được khẳng định là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với các đại công ty quốc doanh làm động lực, một mô hình được Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm gọi là của những người cộng sản thực thi chủ nghĩa tư bản.

Nói về mô hình này, bà Phạm Chi Lan trích dẫn lời nhận định của một nhà quan sát từ Ngân hàng thế giới, rằng mô hình hiện tại của Việt nam không phải là của một quốc gia kém phát triển, cũng không phải của một quốc gia đang phát triển, càng không phải đã phát triển, mà đó là một mô hình Không chịu phát triển.

Tác giả Võ Xuân Sơn nói rằng ông và nhiều người Việt nam khác không muốn mô hình đó:

Chúng tôi, người dân Việt nam, đâu có ai muốn cái mô hình “đặc biệt nhất thế giới”, mô hình không chịu phát triển. Nhưng họ, những kẻ không muốn đất nước này phát triển, những kẻ chỉ muốn trục lợi cá nhân, làm giàu cho cá nhân mình, cho gia đình mình bằng cách ăn cắp tiền của dân, đục khoét ngân sách, vắt cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm mất khả năng phát triển của cả nền kinh tế nước nhà, chỉ có những kẻ đó là muốn duy trì cái mô hình quái gở như vậy mà thôi.

Và trong những ngày tháng tám có nhiều kỷ niệm lịch sử không chỉ của Việt nam mà của cả thế giới, người Việt nam không khỏi chạnh lòng so sánh đất nước mình với các quốc gia khác.

Ông Nguyễn Văn Đực Phó giám đốc một công ty địa ốc nhìn sang Singapore, đảo quốc nhỏ bé vừa kỷ niệm 50 năm ngày độc lập, xuất ý làm một bài thơ ngắn đầy mỉa mai:

Năm mưoi Quốc Khánh nước Sing
Từ hòn đảo nhỏ mà : lên đỉnh Rồng
Bảy mưoi Quốc Khánh nước RỒNG
Từ đất nước lớn mà : không có gì ….
Quý hơn độc lập tự do

Người khác thì nhìn sang Nhật bản, đất nước chịu thảm họa nguyên tử cách đây 75 năm:

Hơn 40 năm qua từ ngày đất nước thống nhất, thế hệ ông cha làm được gì vẻ vang cho đất nước? Chỉ có thể kể ra nhiều việc làm xấu, làm nhục, làm cạn kiệt nguồn lực đất nước. Nước Nhật bại chiến bị tàn phá bởi bom nguyên tử, sau 40 năm trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Nước ta chiến thắng oanh liệt nhưng sau hơn 40 năm vẫn là nước nghèo, ngửa tay xin vay tiền giá rẻ của thế giới. Kết quả ấy, thế hệ nào phải gánh chịu trách nhiệm?

Le lói ánh sáng cuối đường hầm?

Có phải tất cả đều là một màu đen?

Dự án 1400 tỉ đồng xây dựng quảng trường cùng tượng ông Hồ Chí Minh tại tỉnh Sơn La bị nhiều chỉ trích đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu phải báo cáo.

Người ta cho rằng nhà cầm quyền đã phải để ý đến dư luận xã hội, đến một quyền lực mà nhà văn Bùi Minh Quốc gọi là quyền lực thứ hai, quyền lực truyền thông.

Ông Quốc đặt tên quyền tự do ngôn luận trong xã hội hiện tại của Việt nam là quyền lực thứ hai với lý do là xã hội này hiện nay vẫn chưa có tam quyền phân lập như các quốc gia phát triển bình thường, trong đó tự do ngôn luận là đệ tứ quyền. Ông nhận xét về cộng đồng những người Việt nam sử dụng mạng xã hội để thực hiện quyền lực thứ hai đó là từ chổ chỉ phát triển tự phát, những người Việt nam đã dùng mạng xã hội ngày càng có trách nhiệm hơn.

Quyền lực từ mạng xã hội đã góp phần làm cho nhà cầm quyền xem xét lại quyết định 1400 tỉ đồng mất lòng dân.

Từ đó, blogger Kami nhận định rằng đã có một xu hướng đa nguyên đáng mừng trong xã hội Việt nam. Điều làm le lói tia hy vọng bên cạnh thảm trạng mô hình Không muốn phát triển mà nhiều blogger nói đến trong tháng tám này.

Đừng trách người ta đối xử tệ

Đừng trách người ta đối xử tệ

Người Việt

Lê Diễn Đức

Chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo ra một lực lượng khổng lồ những con người khốn khổ, luôn muốn vươn ra ngoài để thoát cảnh cùng cực, cứu mình và gia đình trước khi “cứu quốc!”

Trong thập niên 90, sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, tất cả các nước trong khối Liên Xô cũ gánh chịu một nền kinh tế suy kiệt, hàng hóa tiêu dùng thiếu thốn nghiêm trọng. Người Việt sang đây đã xây dựng nên những chợ trời nổi tiếng, cung cấp hàng, đặc biệt là quần áo, giày dép giá rẻ. Những người có vốn nhập hàng từ Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan… về bán, một vốn bốn lời. Từ quần áo jeans đến quần lót “bà bô,” đều bán chạy như tôm tươi và lãi suất cao. Từ khoảng năm 2000, hàng Trung Quốc chiếm ưu thế cạnh tranh hơn do giá cả thấp.

Đất lành chim đậu, cơ hội kiếm tiền và thoát nghèo đã tạo nên một làn sóng di dân từ các tỉnh miền Bắc sang Nga và các nước Đông Âu. Thoạt đầu, nghiên cứu sinh, sinh viên du học, hoặc những người thuộc diện “hợp tác lao động” ở lại, tìm cách lôi kéo người trong gia đình, họ hàng qua. Sau này hình thành những đương dây chuyển người. Họ được lo thị thực du lịch qua Nga, sang tới Nga số thì ở lại luôn, sống bất hợp pháp; số thì từ Nga đi tàu hỏa về phía biên giới phía Tây và lội bộ băng rừng vượt sang Tiệp và Ba Lan. Một số tiếp tục vượt biên qua Đức xin vào trại tị nạn. Thời gian này, Ba Lan, Tiệp chưa gia nhập Liên Minh Châu Âu, đường biên giới còn lỏng lẻo là điều kiện tốt cho những băng nhóm chuyển người. Có những cuộc hành trình gian nan, phải nằm dài ở Moscow chờ ngày ra đi, rồi bị kẹt trong rừng, hoặc qua tới Ba Lan hay Tiệp thì bị cảnh sát bắt giam. Có trường hợp cô gái bị ép làm tình với bọn cầm đầu nhóm đưa người, khi gặp được người thân thì cười ra nước mắt, bụng vác bầu mà không biết cha của đứa bé là ai!

Trong giai đoạn này Nga và Ba Lan là điểm hội tụ lớn nhất của người Việt. Vào năm 2000, ước tính cả Ba Lan có khoảng 60-70 ngàn người Việt, trong đó đến hai phần ba số người không có giấy tờ cư trú hợp pháp.

Nhu cầu ở lại hợp pháp ngày càng cao gắn với công chuyện làm ăn, vì thế người ta chi tiền lo giấy tờ bằng mọi giá, trong bối cảnh tồn tại vấn nạn hối lộ cho quan chức công quyền. Lấy vợ, lấy chồng giả, khai man dưới tuổi 18 để ăn theo cha mẹ… trở nên phổ biến. Lắm người sau khi cưới, được cấp thị thực cư trú ba tháng, nhưng không xin gia hạn được tiếp nên “bỏ” luôn vợ hoặc chồng. Một thời gian sau, khi “chạy” được thị thực nhân đạo, phải đi tìm trở lại để hợp thức hóa. Trăm chuyện trần ai!

Đã có lần tôi cùng một cô gái lội tuyết giữa mùa đông đi gõ cửa từng nhà trong một làng quê để dò thông tin của người “chồng” cũ của cô vì cô ta không nhớ rõ anh chàng ấy ở đâu! Những người chồng Ba Lan đa phần là dân ít học, nghiện rượu, thất nghiệp, nên khi biết được cô gái Việt Nam cần thì mè nheo, vòi vĩnh tiền, nhưng cũng có người tử tế. Trong những năm ấy, ở vùng Slupsk có đến hơn 30 cặp chồng vợ Ba lan-Việt Nam! Câu chuyện bị báo chí phát hiện và làm rùm beng.

Dịch vụ làm giấy tờ cư trú nở rộ! Kèm theo nó là nạn giả mạo giấy tờ, từ hộ chiếu mới đến các loại khác từ tòa đại sứ, giấy chứng nhận đã ly dị, giấy khai sinh giả gửi từ Việt Nam qua. Có những phần tử dính tội phạm hình sự từ Bulgaria hay Đức chạy qua Ba Lan, sẵn sàng chi tiền đổi tên họ với hộ chiếu mới. Nhân viên phụ trách lãnh sự của tòa đại sứ được mùa. Người ta nói ông H., một viên chức lãnh sự tại Ba Lan, đã kiếm không dưới một triệu đô trong nhiệm kỳ của mình.

Người Việt kiếm những đồng tiền đầu tiên của mình bằng đủ thứ mánh mung như buôn lậu dược phẩm, đồng hồ điện tử, lao động chui, trấn lột, khai man thu nhập, chuyển người lậu, hàng hóa nhập về giảm giá trị hóa đơn và hối lộ hải quan để trốn thuế, chuyển tiền mặt không qua hệ thống ngân hàng, buôn bán hóa đơn VAT (giá trị gia tăng) giả, v.v.. Không ít vụ bị bắt.

Trong bài thơ “Chợ Đời” của tôi viết có đoạn:
… Giữa cái chợ đời cạnh tranh khốc liệt

Người ta bán buôn mọi tình cảm con người

Quan chức bán chữ ký

Cảnh sát, quan tòa bán cán cân công lý

Nhân viên thuế vụ bán nguồn thu ngân

Vì quốc tịch, định cư người ta mua vợ, mua chồng

Mua họ, đổi tên để trẻ thơ thành con kẻ khác

Sự thật trớ trêu không thể nào tin được

Người ta mua cả cha cho đứa con chưa kịp ra đời

Khung giá hình thành, dịch vụ lên ngôi!
Vì thế báo chí truyền thông Ba Lan không dưới một lần nói đến người Việt như là một thế giới ngầm, khép kín. Xin thị thực vào Ba Lan cực kỳ khó khăn.

Trong mắt nhà chức trách đây là một cộng đồng chăm chỉ nhưng chẳng mang lại lợi ích gì đang kể cho xã hội Ba Lan, nhưng là hang ổ của tội phạm. Cầm hộ chiếu Việt Nam đi qua cửa biên phòng Ba Lan hay Nga luôn có cảm giảm lo lắng vì con mắt thiếu thiện cảm và đầy ngờ vực của biên phòng. Hành lý của người Việt rất dễ bị lật tung lên khám xét. Phải là người đi lại nhiều như tôi mới ngấm đau nỗi nhục này.

Từ khi Ba Lan đã gia nhập Liên Minh Châu Âu năm 2005, công chuyện làm ăn kiếm sống của người Việt khó khăn hơn, mọi thứ dần dần đi vào trật tự, quy củ, nhưng người Việt xin thị thực vào Ba Lan vẫn khó hơn cả xin đi Mỹ, Đức, Pháp…

Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á và từ hơn chục năm nay, người Việt được qua các nước trong khối Asean du lịch ngắn ngày không cần thị thực nhập cảnh. Trong cao trào lấy chồng và hợp tác lao động, người Việt qua lại Nhật, Đài Loan hay Hàn Quốc khá đông đảo.

Tôi không biết các loại tội phạm hình sự như ở Ba Lan hoặc Đông Âu có tái diễn trong các nước Châu Á này hay không, nhưng một tệ nạn khác nổi bật làm mất mặt người Việt, đó là nghề mại dâm và ăn cắp vặt.

Bản tin của BBC tiếng Việt ngày 18 tháng 7 năm 2013 viết:

“Việt Nam là nước có con số đông phụ nữ kiếm sống bằng nghề bán thân xác trong nhóm phụ nữ nước ngoài làm nghề này ở Malaysia vào năm ngoái, hãng thông tấn Bernama của Malaysia đưa tin. Kết quả thống kê này dựa trên con số 3,456 người Việt Nam trong tổng số 12,434 phụ nữ nước ngoài hành nghề mại dâm bị bắt giữ ở Malaysia vào năm ngoái. Theo cảnh sát sở tại, con số gần 1/3 phụ nữ bị bắt giữ là người Việt Nam cho thấy các phụ nữ đến từ quốc gia này ‘đang chiếm lĩnh ngành kinh doanh thân xác tại Malaysia,’ hãng tin Malaysia đưa tin hôm 16/7.”

Nhiều đường dây bán dâm có người Việt tham gia đã bị phát giác, khiến giới chức Singapore đau đầu” là tiêu đề của tờ Giaothông.vn. Trong khi đó, tờ Straits Times của Singapore cho biết hoạt động của gái mại dâm người Việt tại Singapore đã trở nên rầm rộ và tai tiếng ngay từ những năm 2003-2004, khi nhiều cô gái tìm tới các quán rượu tại khu vực Joo Chiat chào mời khách.

Bài “Rúng động những vụ ăn cắp của người Việt tại Nhật Bản” trên tờ Đời sống và Pháp luật ngày 9 tháng 3 năm 2014 viết:

“Theo cơ quan cảnh sát quốc gia của Nhật, số người Việt bị bắt vì ăn cắp đồ siêu thị ngày càng tăng cao, chiếm tới 40% những vụ người nước ngoài ăn cắp tại đây. Riêng trong tháng một đầu năm nay, quận Fukuoka đã bắt 5 nhóm trộm cắp người Việt.”

Tình trạng người Việt ăn cắp ở Nhật đã trở thành hiện tượng thường xuyên đến mức báo chí, truyền hình Nhật phải đưa tin. Người Nhật treo cả những tấm áp phích nơi công cộng cảnh báo người Việt ăn cắp.

Rồi người Việt ăn cắp hàng cũng được báo chi nói đến ở Thái Lan, Đức, Thụy Điển và gần đây là Thụy Sĩ

Cộng đồng người Việt sang làm ăn, sinh sống ở Nga và Đông Âu hầu hết là người miền Bắc, cũng như người Việt qua Malaysia, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc.. chủ yếu sau năm 2000, là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là những “con người mới” của “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ!”

Điều này trái ngược với cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản. Họ liều chết ra đi tìm tự do, sang xứ người với hai bàn tay trắng, thế hệ người Việt đầu tiên đã phải lao động cật lực, làm những công việc phổ thông nặng nề, dành dụm để tạo tương lai cho con em họ. Thế hệ thứ hai đã nhập vào dòng chính của nước sở tại, thành đạt trong mọi lãnh vực nghiên cứu, khoa học, kỹ thuật, chính trị. Tất nhiên, nơi nào cũng có tội phạm nhưng số người phạm pháp này chỉ là những cá nhân đơn lẻ không gây tai tiếng cho cả cộng đồng, là nơi mà lá phiếu của họ có tầm quan trọng trong các cuộc bầu cử ở địa phương.

Mới đây Singapore đã không cho hàng chục cô gái Việt nhập cảnh tại sân bay, thậm chí có cô còn viết trên Facebook là bị đối xử như súc vật, âu cũng không lấy gì làm lạ. Sang nước người ta mà bê nguyên cái thứ văn hóa lưu manh “xã hội chủ nghĩa” qua thì đừng trách người ta đối xử tệ.

Người đời có câu “Tiên trách kỷ hậu trách nhân,” là vậy!

Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

VietTuSaiGon

RFA

Trong một lần cà phê và trò chuyện ở Sài Gòn, nhà thơ Khúc Duy có kể cho tôi nghe một câu chuyện mà anh đọc được: Có một anh chàng vốn rất lương thiện, chỉ biết lo làm ăn và tìm cách hoàn thiện bản thân với cái nhìn cuộc đời rất xanh và lạc quan. Đùng một cái, anh ta bị vu khống, rồi bị ghép án oan, bị kết tội mười năm tù. Anh bắt đầu ngày tháng hoang mang và bi kịch của mình. Anh bắt đầu nguyền rủa cuốc sống trong những ngày ngồi tù.

Và rồi đùng một cái, mới ba năm, anh được thả ra, được minh oan, được đền bù danh dự và thiệt hại với một số tiền tương đối lớn. Anh bắt đầu thực hiện việc trả thù cuộc đời, anh đặt câu hỏi: “Kẻ nào đã đẩy ta vào tù?”. Và anh bỏ suốt quãng đời còn lại, gần bốn mươi năm cùng với số tiền có được nhờ đền bù danh dự để tìm kẻ đã hại anh. Nhưng anh vẫn không tìm ra được kẻ thù.

Đến ngày cuối cùng trong cuộc đời của anh, trên giường bệnh, anh gọi một người hàng xóm thân quen lại để thủ thỉ, anh nói rằng: “Tiếc quá, tôi đặt sai câu hỏi rồi! Giá như lúc đó tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi được ra tù?’ thì tôi chỉ mất có ba năm trong tù, đằng này tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi bị vào tù?’ nên suốt cuộc đời còn lại của tôi chưa bao giờ hết ngục tù. Tiếc thật!”.

Câu chuyện ngụ ý rằng cuộc đời này sẽ ra sao và sẽ đi đến đâu là do cách anh đặt câu hỏi về nó, với nó. Nếu anh đặt một câu hỏi thông minh, tử tế thì phần trả lời thông minh, tử tế phía sau sẽ là phần cuộc đời và số phận của anh. Cuộc đời tốt hay xấu tuy thuộc vào cách anh đặt câu hỏi và giải quyết với nó.

Không hiểu vì sao mấy ngày nay, sau khi đọc bản tin về việc cảnh sát Singapore đối xử tệ với những phụ nữ Việt Nam trong vấn đề nhập cảnh vào nước họ, rồi liên tưởng đến những tấm bảng ghi bằng tiếng Việt đại ý người Việt Nam phải ăn hết món mình đã gắp trong tiệc buffet và không được trộm cắp, xả rác bừa bãi… Chung qui là người viết nội dung này không mấy thiện cảm nếu không muốn nói là e dè, tránh trớ người Việt như một thứ dịch hủi nào đó. Phải công tâm để nhìn thẳng vào vấn đề mà nói như vậy!

Tự dưng, tôi lại nhớ đến câu chuyện kể trong một buổi cà phê của nhà thơ Khúc Duy, cách đây chừng 15 năm thì phải! Câu chuyện này mặc dù không liên quan gì mấy đến chuyện người Việt bị đối xử tệ ở nước ngoài nhưng nó khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều về cách đặt câu hỏi về số phận riêng chung cũng như định vị danh phận người Việt chúng ta trước thế giới bao la rộng lớn này. Phải chăng chúng ta đã đặt sai câu hỏi về thế giới và chúng ta đã giải quyết sai câu hỏi về lịch sử cũng như thân phận dân tộc để đi đến cái kết của ngày hôm nay?

Rất có thể điều đó đã xảy ra, chúng ta đã đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi bị sai. Dân tộc chúng ta có bề dày lịch sử chiến tranh cũng giống như nước Nhật, nhưng người Nhật, chính phủ Nhật đã biết đặt câu hỏi về tương lai của họ và biết nhìn nhận sự thất bại, sự nghèo nàn của quốc gia để cho con cháu của họ trả lời câu hỏi này bằng hiện tại quật cường. Và Hàn Quốc, Singapore hay nhiều nước khác cũng vậy, họ biết cách đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi trong tiến trình vận động của thế giới.

Họ không như chúng ta, tự ma mị mình bằng “rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú”, bằng “người Việt Nam anh hùng, thông minh và giỏi giang” và bằng nhiều mỹ từ khác để nói về người Việt. Kết cục của sự ma mị này chính là chúng ta tự đánh lừa mình, đánh lừa tương lai của cả một dân tộc, quốc gia. Thay vì chúng ta nhìn vào sự lạc hậu của mình, hỏi vì sao chúng ta lạc hậu để mà nỗ lực học hỏi các nước tiến bộ, chúng ta lại xem mình là người thông minh, là “đỉnh cao trí tuệ”. Và kết cục của nó là một thứ đỉnh cao của tội ác và lòng dối trá.

Thay vì chúng ta thấy mình nghèo, được “điểm nhãn” cho cái nghèo hiện hình để mà xua nó bay đi bằng kiếm pháp dân chủ, tiến bộ, chúng ta lại khư khư ôm thứ lý luận mù mờ và tự dối lừa mình để dẫn đến hệ quả là nhiều thế hệ giỏi trộm cắp, toa rập nhưng rất dở làm kinh tế. Bằng chứng của việc này là nếu như không dựa vào thế lực đảng, không tàn phá tài nguyên, môi trường và không tùng xẻo quĩ đất để thổi phòng cái bong bóng bất động sản, liệu Việt Nam có được mấy tay nhà giàu và có được mấy kẻ nổi tiếng giàu có, “đại gia” như hiện tại?

Và tư duy lười biếng, hưởng thụ, trộm cắp, mánh khóe vặt, toa rập, đội trên đạp dưới đã đẩy chúng ta đến chỗ không sản xuất được một con ốc cho nên hình nhưng có những ông chủ có thể chơi ngông bằng cách đổi cả một khoản tiền tương đương với tài sản lớn của một người dân nước giàu có chỉ để đổi một con ốc. Cách chơi ngông này chỉ cho thấy chúng ta đã mất hết khả năng hoạch toán kinh tế và lương tri chúng ta cũng đã bị hỏng đến độ phung phí mồ hôi, xương máu và nỗi khổ của người khác một cách vô tư. Bởi chúng ta chưa bao giờ đủ sâu sắc để nhìn thấy mồ hôi và nước mắt của người khác dính trên đồng tiền mình đang cầm trên tay. Cũng như chúng ta chưa bao giờ đủ tự trọng để nhận ra là sự giàu có của chúng ta có nguồn gốc ăn cắp thiên nhiên, ăn cắp của nhân dân và ăn cắp của tổ tiên.

Chúng ta quen với việc ăn cắp giống như người thiểu số quen với đường rừng và ngư dân quen với tôm cá. Chính vì vậy, chúng ta tự đẩy căn tính dân tộc đến chỗ ăn cắp và lười biếng, cầu toàn và hèn nhát. Bởi khi sự ăn cắp thành bản chất, chúng ta rất dễ dàng ăn cắp bất cứ nơi đâu và ăn cắp bất cứ thứ gì bắt mắt… Cho đến lúc bị bắt, chúng ta vẫn cứ kêu trời vì nghĩ mình oan, mình không biết nên mới ăn cắp! Và sau khi chúng ta bị vạch tội ăn cắp, thay vì ăn năn, hối cãi, phản tỉnh, chúng ta vẫn xem như không có gì xảy ra và tiếp tục đứng lên đảm nhận những công việc mẫu mực, chúng ta tự xem mình là gương mẫu!

Mãi cho đến khi thế giới nhìn chúng ta như một thứ man di mọi rợ. Chúng ta lại trách tại sao thế giới chúng quanh đối đãi tệ với người Việt? Trong khi đó, câu hỏi xác đáng cần đặt ra là: Chúng ta đã sống như thế nào mà thế giới phải e dè, kinh hãi và coi thường chúng ta đến vậy?

Câu chuyện những phụ nữ Việt Nam, những cô gái Việt Nam sang Singapore bị hất hủi, bị đối xử tệ lại khiến chúng ta chỉ biết trách người khác tệ nhưng chúng ta cũng chẳng tỏ ra thương tình hay chia sẻ với các phụ nữ bị xử tệ. Trong khi đó, có bao giờ chúng ta tự hỏi chúng ta đã làm gì, đã mang đến đất nước văn minh này loại gió gì mà chúng ta bị ngăn chặn như một trận gió độc? Và tại sao những phụ nữ Việt Nam lại chọn con đường bán dâm ở nước ngoài mặc dù đây là con đường nguy hiểm và tủi nhục?

Câu hỏi này không chỉ riêng người dân tự hỏi, và người dân cũng không bao giờ tự hỏi và tự trả lời nổi những câu hỏi như thế này. Mà nhà cầm quyền phải có trách nhiệm đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi kịp thời trước khi chúng ta bị tuột xuống hố sâu, trước khi các chính khách của nước văn minh phải bụm mũi trước các nguyên thủ Việt Nam!

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-17

08172015-politi-pris-for-buis.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch "Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

RFA files

Vào đầu tháng tám năm nay, tin từ gia đình của người nữ tù nhân chính trị Tạ Phong Tần cho biết là cơ quan công an Việt nam đã tiếp xúc với bà với lề đề nghị bà làm đơn xin đi Hoa Kỳ để được trả tự do. Tin này cùng với những thông tin về đợt đặc xá sắp tới nhân ngày quốc khánh Việt nam 2/9, làm nhiều người hy vọng là sẽ có một số tù nhân chính trị được thả trước thời hạn.

Hy Vọng

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị nhận xét những diễn biến xung quanh đợt đặc xá nhân ngày 2/9 năm nay:

Ngày hôm 15 vừa rồi thì ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch hội đồng đặc xá trung ương đã ngồi cùng với một ban liên ngành gồm Bộ công an, Tòa án tối cao, Mặt trận Tổ quốc, và Bộ tư pháp. Thì theo luật về đặc xá thì các cơ quan này họ sẽ tư vấn cho hội đồng đặc xá trung ương những trường hợp đặc xá đặc biệt. Ở đây chúng ta hiểu những trường hợp đặc xá đặc biệt là họ không có căn cứ trên tiêu chuẩn nào cả. Tức là có thể người đó không có nhận tội, không chịu cải tại, hay cái việc mà họ đánh giá hạnh kiểm, lao động trong trại là kém.

Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt.”

Tuy nhiên theo ghi nhận của anh Nguyễn Anh Tuấn, thành viên của tổ chức dân sự Voice thì chuyện đặc xá đặc biệt đã từng được truyền thông chính thống trong nước đề cập đến. Đó là vào năm 2013 khi ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm Hoa Kỳ.

Xung quanh chuyện có thả tù nhân chính trị vào ngày 2/9 tới đây hay không, Luật sư Nguyễn Văn Đài đề cập đến chuyện Bộ chính trị, cơ quan quyền lực nhất Việt nam đã họp vào lúc ông Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đang ở Hawaii để đàm phán về Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương:

Những cái chuyện này từ xưa đến nay rất hiếm khi xảy ra, bởi vì khi Bộ chính trị đã họp, để ủy thác một vị Bộ trưởng việc đàm phán với Hoa Kỳ, thì chắc chắn nó liên quan đặc biệt đến những vấn đề chính trị, những vấn đề nhân quyền.”

“ Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt

Luật sư Nguyễn Văn Đài”

Theo ông Đài thì ông hy vọng là sắp tới đây các tù nhân chính trị như bà Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang, ông Phạm Minh Vũ,… và một số người nữa sẽ được trả tự do.

Nhà báo Trương Duy Nhất, cũng là một người tù chính trị vừa được trả tự do trong năm nay cũng hy vọng là những người như ông Đài đề cập cùng với ông Trần Huỳnh Duy Thức sẽ được trả tự do. Ông nhận xét rằng trong chuyến thăm Việt nam vừa qua, ông John Kerry Ngoại trưởng Mỹ có lên tiếng về vấn đề nhân quyền, và vì thế ông Nhất rất hy vọng là người nữ tù chính trị Tạ Phong Tần sẽ được trả tự do.

“Khi Ngoại trưởng Hoa kỳ đã nêu tên thì những sức ép, những động thái đối với chính phủ Việt nam tất nhiên có đủ sức mạnh để chị Tần có thể đi.”

Nhưng một cựu tù chính trị khác là ông Nguyễn Tiến Trung lại có một nhận định tương đối khác:

“Theo Trung thì sẽ có một số trường hợp tù nhân chính trị được thả. Nhưng mà một số người được quốc tế chú ý đặc biệt như chị Tạ Phong Tần, hay anh Trần Huỳnh Duy Thức thì sẽ khó khăn hơn nhiều tại vì nhà nước Việt nam muốn các anh chị ấy ra nước ngoài chứ không phải ở trong nước, cho nên là nếu các anh chị ấy không muốn rời Việt nam thì Trung nghĩ là khó được đặc xá trong đợt này.”

Nhà báo Trương Duy Nhất lại cho rằng điều đó không thành vấn đề, ông chứng minh bằng trường hợp người tù chính trị Nguyễn Văn Hải Điếu Cày, một người bạn tù của ông được trả tự do sang Hoa Kỳ:

“Trước khi anh Hải Điếu cày đi thì Bộ công an họ cử một đoàn vào làm việc cũng theo như cái kiểu họ làm việc với chị Tạ Phong Tần bây giờ. Họ bảo anh ấy làm một cái đơn xin ra tù trước thời hạn, nhưng mà đời nào anh ấy làm! Rồi cuối cùng anh ấy cũng đi.”

Vô hiệu hóa và đổi chác

Trong lịch sử tù chính trị ở Việt nam trong vài chục năm trở lại đây đã có nhiều trường hợp người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay để đi ra nước ngoài, như ông Đoàn Viết Hoạt, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải,… Nói về việc này, anh Nguyễn Anh Tuấn tự đặt mình vào vị trí của nhà cầm quyền Việt nam:

“Mình cứ tưởng tượng mình là nhà nước thì mình sẽ chọn ai. Thứ nhất trong bối cảnh hiện nay sẽ chọn những người nào mà phía Mỹ gia tăng áp lực. Những người đó có thể là Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, hoặc Anh Ba Sàm, tức là các trường hợp phía Mỹ người ta gia tăng áp lực nhiều. Một phương án nữa, ưu tiên của họ nữa là sẽ chọn những người mà họ tin rằng sau khi ra tù thì sẽ không còn tranh đấu gì được nhiều, ví dụ như hồi năm ngoái, trường hợp Đinh Đăng Định, khi đó đang bệnh tật, thì họ nghĩ rằng cho ra tù thì không sớm thì muộn cũng qua đời thôi, không thể đóng góp gì được nhiều nữa.”

“ Trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thỏa ước giữa Việt nam và Mỹ

nhà báo Trương Duy Nhất”

Ông Nguyễn Tiến Trung cũng chia sẻ quan điểm này khi nói về những người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay quốc tế:

“Theo Trung thì có lẽ họ sợ những người đó có một sự ảnh hưởng lớn trong xã hội, hay họ sợ những người có thể trở thành lãnh tụ của phong trào dân chủ, nên không thể để trong nước mà phải trục xuất ra nước ngoài.”

Trở lại vấn đề công luận lâu nay nói rằng chính quyền Việt nam đổi chác số phận những người tù chính trị để lấy những quyền lợi thương mại, ngoại giao, nhà báo Trương Duy Nhất có nhận xét:

“Cái đó có đúng hay không thì phải hỏi các quan chức chính phủ, tôi không thể trả lời cái điều đó được. Nhưng mà sự việc nó xảy ra là như thế này: từ xưa đến giờ, một số nhân vật, một số vụ án nổi cộm, có hiệu ứng, ví dụ như trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thõa ước giữa Việt nam và Mỹ!”

Chính quyền Việt nam chưa bao giờ công nhận chuyện đổi chác như vậy. Tuy nhiên trong bộ luật về đặc xá hiện hành, được ra đời vào năm 2007, có điều số 21 về những trường hợp đặc xá đặc biệt, điều này nói rằng những trường hợp đặc xá đặc biệt là để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước.

Như vậy những lời bình luận về việc nhà nước Việt nam đổi tù chính trị lấy lợi ích ngoại giao bấy lâu nay không phải là không có cơ sở.

Trả lời chúng tôi rằng liệu khi nào thì chuyện này sẽ chấm dứt, Luật sư Nguyễn Văn Đài trả lời:

Việc này không phụ thuộc vào chính quyền cộng sản Việt nam, cũng không phụ thuộc vào Hoa kỳ. Mà việc này kết thúc khi nào là phụ thuộc vào nội tại phong trào dân chủ Việt nam. Khi phong trào dân chủ Việt nam tự mình đứng lên, đủ sức mạnh gây áp lực chính phủ Việt nam không được bắt người một cách tùy tiện, không chà đạp công lý và Hiến pháp nữa, thì lúc đó mới chấm dứt. Còn nếu như chúng ta, phong trào dân chủ Việt nam còn rất là yếu, phải trông chờ vào sức ép của Mỹ, EU hay là các nước khác thì chuyện mặc cả này sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.”

Còn người cựu tù nhân chính trị trẻ tuổi Nguyễn Tiến Trung thì nói rằng nếu việc độc quyền cai trị của đảng cộng sản Việt nam vẫn còn tiếp tục thì việc đổi chắc đó sẽ không chấm dứt.

3 x 8 = 23.

3 x 8 = 23.

Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.
Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải.
Anh bước đến hỏi, mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.
Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”
Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói:
“Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.
Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”
Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”
Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”
Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.
Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói:
“Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”
Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ.
Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.
Đối với lời phân xét của Khổng Tử, Nhan Uyên biểu hiện là tuân theo, nhưng trong tâm lại không phục.
Anh cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học…
Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.
Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu:
“Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.
Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.
Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to.
Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa.
Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”…
Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng.
Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia.
Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”
Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.
Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.
Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói:
“Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”
Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”
Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”
Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói ba nhân tám bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói ba nhân tám bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”
Nhan Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa:“Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”
Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ.
Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm:
“Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”
Cũng như vậy, Đôi khi bạn tranh đấu giành được điều bạn cho là lẽ phải, Nhưng điều mất đi có lẽ còn quan trọng hơn;
Luôn luôn phân rõ sự tình nặng nhẹ”.
Đừng gắng sức tranh giành, rồi sau hối hận không kịp!
Rất nhiều chuyện không cần tranh giành,
Lùi một bước biển rộng trời cao.
Hơn thua với khách hàng, thắng ấy cũng là thua (khi sản phẩm mới cần đổi mẫu, bạn sẽ biết)
Hơn thua với ông chủ, thắng ấy cũng là thua (cuối năm lúc đánh giá thành tích, bạn sẽ biết)
Hơn thua với người già, thắng ấy cũng là thua (người ta không để ý tới bạn đâu, bạn vẫn phải tự mình làm thôi)
Hơn thua với bằng hữu, thắng ấy cũng là thua (làm không tốt sẽ mất đi một người bạn)
Lá trà nhờ nước sôi mới có thể tỏa ra mùi hương thơm ngát,
Sinh mệnh vượt qua bao trắc trở, mới để lại tiếng thơm cho đời…
Hiểu được điều đó sẽ luôn luôn cảm ơn cuộc đời… vậy là hạnh phúc nhất đấy.
Giáo dục là một vấn đề vô cùng trọng yếu!
Bất luận điều gì chưa rõ, hãy cùng nhau bàn bạc giải quyết.
Nếu không, sai một niệm có thể sẽ hỏng một đời…
S.T.

LÊN TRỜI CÙNG MẸ

LÊN TRỜI CÙNG MẸ

Kh 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab; Tv 44, 10bc. 11. 12ab. 16; 1 Cr 15, 20-26; Lc 1, 39-56

Trở về với tuổi thơ tôi vẫn nhớ cái trò chơi “thiên đàng hỏa ngục”. Chơi cái trò con nít này, tôi và lũ bạn đọc cái câu này :

Thiên đàng hỏa ngục hai bên

Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn

Đêm nằm nhớ chúa nhớ cha

Đọc kinh cầu nguyện giỗ cha linh hồn

Linh hồn phải nhớ linh hồn…

Đến khi gần chết được lên thiên đàng!

Câu vè đó như muốn nói lên trong tâm thức của con người sau khi chết là có thiên đàng và hỏa ngục. Giản đơn là khôn thì “khi gần chết” đã được lên thiên đàng rồi.

Thiên đàng, hình ảnh được sách Khải Huyền kể lại : Đền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con. Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một con rồng đỏ khổng lồ, có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu, đội bảy triều thiên. Đuôi nó kéo đi một phần ba tinh tú trên trời mà ném xuống đất. Con rồng đứng trước mặt người nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh con ra, thì nuốt lấy đứa trẻ. Bà sinh được một con trai, Đấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân: Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người. Còn Bà thì trốn lên rừng vắng, ở đó Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi. Và tôi nghe có tiếng lớn trên trời phán rằng: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Đức Kitô của Người đã được thực hiện”.

Hình ảnh người phụ nữ mà sách Khải Huyền nói đến đó chính là hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Thiên Chúa đã dọn sẵn hay như đặc ân mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ đó là : “Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi”.

Nơi Bà ở chính là Thiên Đàng. Và rồi Thiên Đàng đó được Chúa Giêsu trong hành trình rao giảng của mình đã nhắc đến.

Thiên Đàng vĩnh cửu đó được Chúa Giêsu gợi lên với hình ảnh rất dễ thương là như thửa ruộng có chứa viên ngọc quý, Thiên Đàng phải đi vào bằng cửa hẹp … hay nói một cách dễ thương như một tiệc cưới cho dễ hiểu. Tiệc Cưới Nước Trời, tiệc cưới Con Chiên đó được Chúa Giêsu cũng nhắc đến nhiều qua hình ảnh người mời tiệc, qua hình ảnh của anh chàng không mặc cái áo dự tiệc cưới … và có lẽ gần gụi nhất, dễ nhớ nhất đó chính là 10 cô trinh nữ trong câu chuyện chờ chàng rể đến.

10 cô trong câu chuyện rất dễ thương đó muốn nhắc nhớ mỗi người chúng ta là tỉnh thức, là khôn ngoan, là chờ đợi … Dĩ nhiên khi có đầy đủ dầu để thắp đèn thì khi chàng rể đến thì vào dự tiệc cưới Con Chiên.

Đức Maria, có thể nói rằng một trinh nữ khôn hơn các trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn 10 trinh nữ nữa. Đơn giản và dễ hiểu và dễ thấy nhất đó chính là sự khôn ngoan lựa chọn cho mình một cung cách sống, lựa chọn cho mình một thái độ sống.

Dù là Mẹ của Đấng Cứu Độ trần gian nhưng Mẹ rất tỉnh để nhận ra đó là ơn huệ của Thiên Chúa dành cho Mẹ chứ không phải có cái ơn đó rồi Mẹ huênh hoang, mẹ cao ngạo. Từ lời nói đến thái độ sống, ta nhận nơi Mẹ sự khiêm nhu tột đỉnh.

Biết chị mình có thai sắp đến ngày sinh nở nhưng rồi Maria vượt khó để chia sẻ niềm vui Tin Mừng với gia đình người chị họ. Thái độ khiêm nhường, yêu thương mà ta bắt gặp rõ nét nhất đó chính là lời công bố của Mẹ :  “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời”.

Lời kinh của Mẹ xem ra đơn giản, nhẹ nhàng nhưng thật sự để sống như những gì Mẹ nói, Mẹ dạy không phải là chuyện đơn giản.

Không đơn giản bởi lẽ quá giản đơn là con người vẫn thường cậy vào sức mình đang có, cậy vào những gì mình có như tiền tài, vật chất, quyền lực … Mẹ không như người đời nghĩ và tưởng : “Vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ”.

Tuyệt vời ! Tuyệt vời trong lối khiêm hạ, cách khiêm hạ của Mẹ. Chính khi Mẹ khiêm hạ, Mẹ để cho mình ra trống rỗng để Thiên Chúa lấp đầy, Thiên Chúa quan phòng cho đời Mẹ là Mẹ an tâm.

Thử hỏi cuộc đời của ta, bao lần ta nói ta khiêm nhường, ta khiêm hạ đó nhưng thực tế của cuộc sống, ta có mở lòng ra, ta có “khoét” cái con người cố hữu của ta, con người tự cao tự đại của ta để Thiên Chúa lấp đầy trong ta hay không ?

Bài học khiêm hạ vẫn là bài học khó cho mỗi người chúng ta. Chỉ có khiêm hạ và đặt cuộc đời mình vào lòng bàn tay của Thiên Chúa thì ta mới được hưởng cái phúc Thiên Đàng mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ.

Nhiều khi trong cuộc sống, ta khôn theo kiểu người đời chứ không phải khôn ngoan theo kiểu con cái Thiên Chúa. Khôn theo kiểu con cái Thiên Chúa không phải như khôn theo kiểu người đời.

Cuộc đời của con người, như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói như chỉ là quán trọ. Mà thật là như thế bởi lẽ con người của chúng ta dù có kéo dài cỡ nào đi chăng nữa nhưng đến khi Thiên Chúa khép cuộc đời của chúng ta lại thì chúng ta cũng đành phải chấp nhận hay đón nhận thực tế xem ra phũ phàng của phận người.

Cả đời ky cóp, chắt chiu của cải vật chất nhưng khi nhắm mắt không được lên trời như Mẹ thì quả là quá uổng và luống công vô ích.

Con người rồi cũng phải đến ngưỡng cửa của cái chết nhưng với người Kitô hữu thì chết nhưng rồi sẽ sống lại để hưởng tôn nhan Chúa là Thiên Đàng như Đức Mẹ được Thiên Chúa cho hưởng. Thánh Phaolô vừa nhắc nhớ chúng ta : Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Đức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế.

Mỗi người, rồi cũng theo thứ tự của mình là cũng sẽ phải chết nhưng chuyện quan trọng là chúng ta có một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay chúng ta có được một chỗ trong Thiên Đàng hay không mới là chuyện quan trọng.

Khổ một nỗi là nhiều khi phù phiếm trần gian, bả phù hoa của thế gian làm cho lòng ta trở ra khôn theo kiểu thế gian là ta cứ bám víu vào thế gian mà quên đi quê hương của ta ở trên Trời, ở Thiên Đàng. Và như vậy, ta lại phải xin Chúa cho ta ơn để ta nhận ra Thiên Đàng mà ta phải theo đuổi, cùng đích của đời ta.

Và, muốn vào Thiên Đàng, muốn lên trời cùng Mẹ. Muốn hưởng hồn và xác lên Trời như Đức Mẹ thì không có cách nào khác, con đường nào khác là khiêm hạ đặt đời mình trong bàn tay Thiên Chúa như Mẹ. Xin cho ta luôn luôn mặc lấy con người khiêm hạ như Mẹ Maria để sau này chúng ta cùng được Mẹ hưởng Thiên Đàng như Chúa hứa.

Tác giả: Huệ Minh

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

VietTuSaiGon

RFA

Thảm sát cả gia đình, va chạm xe với nhau, chưa biết đúng sai đã xông vào đánh người, khi có người can thì chạy vào nhà người khác rút dao ra cắt cổ người đụng xe đến chết, chỉ vì dành nhau mấy tấc đất đã vác rựa chém chết cả nhà… Đó là những hành xử của kẻ cố sát. Còn với những nạn nhân của bất công, họ đã làm gì? Có người dùng bình gas chế thành bom để chống lại cưỡng quyền, cũng có người cởi áo quần để thể hiện bất bình, thậm chí, mới đây, có người đã tự thiêu để chống bất công do nhà cầm quyền địa phương gây ra. Tất cả đều có kết cục đau lòng.

Và đứng trên góc độ thần kinh học để nhìn các trường hợp trên, hầu hết đều có lựa chọn không bình thường, có khuynh hướng bạo động. Hay nói cách khác, nếu người ta không bạo động với bên ngoài thì cũng bạo động với chính bản thân của họ. Tại sao người ta lại chọn cách này?

Trước tiên, nói về bạo động, bạo lực, những trường hợp giết người man rợ đều có xuất phát điểm từ tính ham bạo động, bạo lực và khi tính bạo lực, bạo động đẩy lên đến cao trào thì mọi chuyện đều có thể xảy ra, lúc đó kẻ bạo động không còn lường được mức độ tàn ác của hành vi mình tạo ra nữa.

Trường hợp tự thiêu, tự hành hạ thân xác để bày tỏ bất bình với nhà cầm quyền, ở đây không có bạo động với xã hội nhưng lại bạo động với chính bản thân, đẩy bản thân đến chỗ chết chóc. Bằng chứng là anh Phạm Thành Sơn ở thành phố Đà Nẵng đã chết và người phụ nữ vừa tự thiêu ở Quảng Ngãi cũng đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Tính mạng mất đi hoặc bị tàn tật suốt đời nhưng mục đích đấu tranh vẫn không đạt được, bất công vẫn cứ bất công.

Nhưng tại sao biết bất công người ta vẫn cứ bạo động với bản thân. Và tại sao con người Việt Nam ngày càng trở nên bạo động, manh động? Cả hai câu hỏi này cần được lý giải trên ba phương diện: Giáo dục; Chế độ chính trị và; Năng lượng cho cơ thể.

Ở khía cạnh thứ nhất, với nền giáo dục một chiều, lấy vật chất làm nền tảng đã mau chóng đẩy môi trường giáo dục Việt Nam đến chỗ thực dụng, bẩn thỉu, vô nhân đạo và dã man. Một môi trường mà ở đó con người được đào tạo không phải để thành một con người tiến bộ, có đầy đủ nhân cách mà là cái lò luyện thi, cái lò để sản xuất ra những con người bất chấp, sẵn sàng đạp lên mọi thứ để đạt mục đích vật chất. Hệ quả của quá trình giáo dục này là sau bốn mươi năm được gọi là “thống nhất đất nước”, thanh niên Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung trở nên man rợ hơn, bạo lực hơn và máu lạnh hơn.

Nhưng đó cũng chưa phải là vấn đề căn cốt, chính nền chính trị độc tài với định hướng một chiều của giới chóp bu chính trị đã mau chóng đẩy Việt Nam đến chỗ lạc hậu. Con người, ngoài nguy cơ có thể bị bần cùng ra, còn có một cơ hội đạp lên đồng loại, tùng xẻo tài nguyên và bán đứng người anh em để tồn tại, phát triển, để được gia nhập vào một nhóm lợi ích nào đó. Nếu không được như thế, con người sẽ mau chóng bị đạp từ chỗ không có quyền lực đến chỗ bị lợi dụng, bị bán rẻ, bị đàn áp, bị bức hại, bị chà đạp và cướp trắng.

Và ở cả hai trạng thái, chà đạp người khác và bị chà đạp, thái độ lựa chọn của cả hai sẽ là thô bạo, bất chấp đạo đức và lấy bạo lực, bạo động làm kim chỉ nam. Ở phía chà đạp người khác để đạt mục đích, nếu không dùng bạo lực hành động thì người ta cũng dùng bạo lực tư tưởng thông qua âm mưu, thông qua thủ đoạn bạo lực để triệt tiêu đối phương. Đáp lại, khi con người bị đàn áp, chà đạp lâu ngày cũng sẽ tuyệt vọng, mất thiện chí với đời sống và chọn bạo lực, bạo động như một thứ cứu cánh để tự làm nổ tung khối uất hận của bản thân.

Việc người ta chọn hành động tự thiêu, chọn làm bom tự sát hoặc cho nổ tung tất cả không những cho thấy tính bạo lực của kẻ thua thế đã tăng cao mà hành vi bạo động của họ còn chứng minh rằng họ đã tuyệt vọng tột cùng, họ không còn tin vào hệ thống cầm quyền đang cai trị bên trên họ nữa. Bởi lẽ, đúng với trình tự xã hội, nếu còn niềm tin, họ sẽ đi kiện, sẽ đưa ra trước công lý, công luận những bất công mình đang gánh chịu. Nghiệt nỗi, tòa án làm theo chỉ đạo của đảng, công an phục vụ đảng, báo chí do đảng đào tạo và phục vụ đảng, mọi thứ đều của đảng. Một khi đảng đụng chạm đến thì kiện được ai? Trông vào ai nữa? Con người không chọn bạo lực, bạo động đáp trả thì cũng chỉ còn nước ra thân ăn mày.

Mà ở đây, không có đảng cụ thể nào đứng ra cướp của dân, chỉ có những đảng viên, những quan chức trực thuộc đảng cướp của dân, gây bất công với dân. Đảng luôn bảo rằng chủ trương đường lối của đảng là đúng, chỉ có những sai lầm nhỏ sẽ điều chỉnh, do một số đảng viên chưa thấu đáo… Cách chối tội này cùng với hệ thống thuộc cấp ngày càng liều lĩnh, manh động và bạo lực của đảng cầm quyền đã đẩy nhân dân đến chỗ phản ứng manh động, bạo động. Đây là một hệ quả tất yếu!

Bên cạnh đó, nguồn lương thực, thực phẩm đầy rẫy độc tố có xuất xứ Trung Quốc tuồn vào Việt Nam cộng với công nghiệp rượu bia phát triển cũng là một phần nguyên nhân khiến cho lý trí con người trở nên căng thẳng, manh động. Chỉ có Việt Nam mới có thể có chuyện một ông thợ hồ, sau khi đóng mọi khoản thuế thông qua VAT cho mọi thứ ông ta mua mỗi ngày, chiều đến, ông ta tiếp tục lao vào quán nhậu để đóng một khoản thuế rất cao, vì thuế rượu bia và thuốc là là loại thuế ở nhóm chạm trần. Nhưng ông ta lại lựa chọn cách này.

Chỉ có Việt Nam mới có ba khoản thuế trong ngày, thuế xanh diễn ra vào buổi sáng, do các doanh nghiệp đóng, thuế đỏ diễn ra buổi trưa, trên bàn ăn sang trọng, trong những cú áp phe của giới chức, mafia đỏ và buổi chiều mới có khoản thuế vàng vọt của những người bần khổ tự lao vào quán nhậu mà đóng. Chuyện này chỉ có ở Việt Nam, tin là vậy!

Và, khi đời sống khốn khổ trùng vây, cựa đâu cũng bị áp bức, bất công, bóc lột ở đó thì bạo lực, bạo động và man rợ sẽ là môi trường mạnh nhất cho con người phát triển. Kẻ áp bức dùng bạo lực của kẻ mạnh, người bị áp bức dùng bạo lực để chống đối. Cuối cùng, đất nước cứ theo đà bạo lực mà đi tới. Đó là hệ quả của độc đảng, toàn trị và vô đạo đức. Không thể nói khác đi được!