LÊN TRỜI CÙNG MẸ

LÊN TRỜI CÙNG MẸ

Kh 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab; Tv 44, 10bc. 11. 12ab. 16; 1 Cr 15, 20-26; Lc 1, 39-56

Trở về với tuổi thơ tôi vẫn nhớ cái trò chơi “thiên đàng hỏa ngục”. Chơi cái trò con nít này, tôi và lũ bạn đọc cái câu này :

Thiên đàng hỏa ngục hai bên

Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn

Đêm nằm nhớ chúa nhớ cha

Đọc kinh cầu nguyện giỗ cha linh hồn

Linh hồn phải nhớ linh hồn…

Đến khi gần chết được lên thiên đàng!

Câu vè đó như muốn nói lên trong tâm thức của con người sau khi chết là có thiên đàng và hỏa ngục. Giản đơn là khôn thì “khi gần chết” đã được lên thiên đàng rồi.

Thiên đàng, hình ảnh được sách Khải Huyền kể lại : Đền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con. Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một con rồng đỏ khổng lồ, có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu, đội bảy triều thiên. Đuôi nó kéo đi một phần ba tinh tú trên trời mà ném xuống đất. Con rồng đứng trước mặt người nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh con ra, thì nuốt lấy đứa trẻ. Bà sinh được một con trai, Đấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân: Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người. Còn Bà thì trốn lên rừng vắng, ở đó Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi. Và tôi nghe có tiếng lớn trên trời phán rằng: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Đức Kitô của Người đã được thực hiện”.

Hình ảnh người phụ nữ mà sách Khải Huyền nói đến đó chính là hình ảnh của Đức Trinh Nữ Maria. Thiên Chúa đã dọn sẵn hay như đặc ân mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ đó là : “Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi”.

Nơi Bà ở chính là Thiên Đàng. Và rồi Thiên Đàng đó được Chúa Giêsu trong hành trình rao giảng của mình đã nhắc đến.

Thiên Đàng vĩnh cửu đó được Chúa Giêsu gợi lên với hình ảnh rất dễ thương là như thửa ruộng có chứa viên ngọc quý, Thiên Đàng phải đi vào bằng cửa hẹp … hay nói một cách dễ thương như một tiệc cưới cho dễ hiểu. Tiệc Cưới Nước Trời, tiệc cưới Con Chiên đó được Chúa Giêsu cũng nhắc đến nhiều qua hình ảnh người mời tiệc, qua hình ảnh của anh chàng không mặc cái áo dự tiệc cưới … và có lẽ gần gụi nhất, dễ nhớ nhất đó chính là 10 cô trinh nữ trong câu chuyện chờ chàng rể đến.

10 cô trong câu chuyện rất dễ thương đó muốn nhắc nhớ mỗi người chúng ta là tỉnh thức, là khôn ngoan, là chờ đợi … Dĩ nhiên khi có đầy đủ dầu để thắp đèn thì khi chàng rể đến thì vào dự tiệc cưới Con Chiên.

Đức Maria, có thể nói rằng một trinh nữ khôn hơn các trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn 10 trinh nữ nữa. Đơn giản và dễ hiểu và dễ thấy nhất đó chính là sự khôn ngoan lựa chọn cho mình một cung cách sống, lựa chọn cho mình một thái độ sống.

Dù là Mẹ của Đấng Cứu Độ trần gian nhưng Mẹ rất tỉnh để nhận ra đó là ơn huệ của Thiên Chúa dành cho Mẹ chứ không phải có cái ơn đó rồi Mẹ huênh hoang, mẹ cao ngạo. Từ lời nói đến thái độ sống, ta nhận nơi Mẹ sự khiêm nhu tột đỉnh.

Biết chị mình có thai sắp đến ngày sinh nở nhưng rồi Maria vượt khó để chia sẻ niềm vui Tin Mừng với gia đình người chị họ. Thái độ khiêm nhường, yêu thương mà ta bắt gặp rõ nét nhất đó chính là lời công bố của Mẹ :  “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời”.

Lời kinh của Mẹ xem ra đơn giản, nhẹ nhàng nhưng thật sự để sống như những gì Mẹ nói, Mẹ dạy không phải là chuyện đơn giản.

Không đơn giản bởi lẽ quá giản đơn là con người vẫn thường cậy vào sức mình đang có, cậy vào những gì mình có như tiền tài, vật chất, quyền lực … Mẹ không như người đời nghĩ và tưởng : “Vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ”.

Tuyệt vời ! Tuyệt vời trong lối khiêm hạ, cách khiêm hạ của Mẹ. Chính khi Mẹ khiêm hạ, Mẹ để cho mình ra trống rỗng để Thiên Chúa lấp đầy, Thiên Chúa quan phòng cho đời Mẹ là Mẹ an tâm.

Thử hỏi cuộc đời của ta, bao lần ta nói ta khiêm nhường, ta khiêm hạ đó nhưng thực tế của cuộc sống, ta có mở lòng ra, ta có “khoét” cái con người cố hữu của ta, con người tự cao tự đại của ta để Thiên Chúa lấp đầy trong ta hay không ?

Bài học khiêm hạ vẫn là bài học khó cho mỗi người chúng ta. Chỉ có khiêm hạ và đặt cuộc đời mình vào lòng bàn tay của Thiên Chúa thì ta mới được hưởng cái phúc Thiên Đàng mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ.

Nhiều khi trong cuộc sống, ta khôn theo kiểu người đời chứ không phải khôn ngoan theo kiểu con cái Thiên Chúa. Khôn theo kiểu con cái Thiên Chúa không phải như khôn theo kiểu người đời.

Cuộc đời của con người, như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói như chỉ là quán trọ. Mà thật là như thế bởi lẽ con người của chúng ta dù có kéo dài cỡ nào đi chăng nữa nhưng đến khi Thiên Chúa khép cuộc đời của chúng ta lại thì chúng ta cũng đành phải chấp nhận hay đón nhận thực tế xem ra phũ phàng của phận người.

Cả đời ky cóp, chắt chiu của cải vật chất nhưng khi nhắm mắt không được lên trời như Mẹ thì quả là quá uổng và luống công vô ích.

Con người rồi cũng phải đến ngưỡng cửa của cái chết nhưng với người Kitô hữu thì chết nhưng rồi sẽ sống lại để hưởng tôn nhan Chúa là Thiên Đàng như Đức Mẹ được Thiên Chúa cho hưởng. Thánh Phaolô vừa nhắc nhớ chúng ta : Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Đức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế.

Mỗi người, rồi cũng theo thứ tự của mình là cũng sẽ phải chết nhưng chuyện quan trọng là chúng ta có một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa hay chúng ta có được một chỗ trong Thiên Đàng hay không mới là chuyện quan trọng.

Khổ một nỗi là nhiều khi phù phiếm trần gian, bả phù hoa của thế gian làm cho lòng ta trở ra khôn theo kiểu thế gian là ta cứ bám víu vào thế gian mà quên đi quê hương của ta ở trên Trời, ở Thiên Đàng. Và như vậy, ta lại phải xin Chúa cho ta ơn để ta nhận ra Thiên Đàng mà ta phải theo đuổi, cùng đích của đời ta.

Và, muốn vào Thiên Đàng, muốn lên trời cùng Mẹ. Muốn hưởng hồn và xác lên Trời như Đức Mẹ thì không có cách nào khác, con đường nào khác là khiêm hạ đặt đời mình trong bàn tay Thiên Chúa như Mẹ. Xin cho ta luôn luôn mặc lấy con người khiêm hạ như Mẹ Maria để sau này chúng ta cùng được Mẹ hưởng Thiên Đàng như Chúa hứa.

Tác giả: Huệ Minh

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

Vì sao chúng ta cứ thích bạo động?

VietTuSaiGon

RFA

Thảm sát cả gia đình, va chạm xe với nhau, chưa biết đúng sai đã xông vào đánh người, khi có người can thì chạy vào nhà người khác rút dao ra cắt cổ người đụng xe đến chết, chỉ vì dành nhau mấy tấc đất đã vác rựa chém chết cả nhà… Đó là những hành xử của kẻ cố sát. Còn với những nạn nhân của bất công, họ đã làm gì? Có người dùng bình gas chế thành bom để chống lại cưỡng quyền, cũng có người cởi áo quần để thể hiện bất bình, thậm chí, mới đây, có người đã tự thiêu để chống bất công do nhà cầm quyền địa phương gây ra. Tất cả đều có kết cục đau lòng.

Và đứng trên góc độ thần kinh học để nhìn các trường hợp trên, hầu hết đều có lựa chọn không bình thường, có khuynh hướng bạo động. Hay nói cách khác, nếu người ta không bạo động với bên ngoài thì cũng bạo động với chính bản thân của họ. Tại sao người ta lại chọn cách này?

Trước tiên, nói về bạo động, bạo lực, những trường hợp giết người man rợ đều có xuất phát điểm từ tính ham bạo động, bạo lực và khi tính bạo lực, bạo động đẩy lên đến cao trào thì mọi chuyện đều có thể xảy ra, lúc đó kẻ bạo động không còn lường được mức độ tàn ác của hành vi mình tạo ra nữa.

Trường hợp tự thiêu, tự hành hạ thân xác để bày tỏ bất bình với nhà cầm quyền, ở đây không có bạo động với xã hội nhưng lại bạo động với chính bản thân, đẩy bản thân đến chỗ chết chóc. Bằng chứng là anh Phạm Thành Sơn ở thành phố Đà Nẵng đã chết và người phụ nữ vừa tự thiêu ở Quảng Ngãi cũng đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Tính mạng mất đi hoặc bị tàn tật suốt đời nhưng mục đích đấu tranh vẫn không đạt được, bất công vẫn cứ bất công.

Nhưng tại sao biết bất công người ta vẫn cứ bạo động với bản thân. Và tại sao con người Việt Nam ngày càng trở nên bạo động, manh động? Cả hai câu hỏi này cần được lý giải trên ba phương diện: Giáo dục; Chế độ chính trị và; Năng lượng cho cơ thể.

Ở khía cạnh thứ nhất, với nền giáo dục một chiều, lấy vật chất làm nền tảng đã mau chóng đẩy môi trường giáo dục Việt Nam đến chỗ thực dụng, bẩn thỉu, vô nhân đạo và dã man. Một môi trường mà ở đó con người được đào tạo không phải để thành một con người tiến bộ, có đầy đủ nhân cách mà là cái lò luyện thi, cái lò để sản xuất ra những con người bất chấp, sẵn sàng đạp lên mọi thứ để đạt mục đích vật chất. Hệ quả của quá trình giáo dục này là sau bốn mươi năm được gọi là “thống nhất đất nước”, thanh niên Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung trở nên man rợ hơn, bạo lực hơn và máu lạnh hơn.

Nhưng đó cũng chưa phải là vấn đề căn cốt, chính nền chính trị độc tài với định hướng một chiều của giới chóp bu chính trị đã mau chóng đẩy Việt Nam đến chỗ lạc hậu. Con người, ngoài nguy cơ có thể bị bần cùng ra, còn có một cơ hội đạp lên đồng loại, tùng xẻo tài nguyên và bán đứng người anh em để tồn tại, phát triển, để được gia nhập vào một nhóm lợi ích nào đó. Nếu không được như thế, con người sẽ mau chóng bị đạp từ chỗ không có quyền lực đến chỗ bị lợi dụng, bị bán rẻ, bị đàn áp, bị bức hại, bị chà đạp và cướp trắng.

Và ở cả hai trạng thái, chà đạp người khác và bị chà đạp, thái độ lựa chọn của cả hai sẽ là thô bạo, bất chấp đạo đức và lấy bạo lực, bạo động làm kim chỉ nam. Ở phía chà đạp người khác để đạt mục đích, nếu không dùng bạo lực hành động thì người ta cũng dùng bạo lực tư tưởng thông qua âm mưu, thông qua thủ đoạn bạo lực để triệt tiêu đối phương. Đáp lại, khi con người bị đàn áp, chà đạp lâu ngày cũng sẽ tuyệt vọng, mất thiện chí với đời sống và chọn bạo lực, bạo động như một thứ cứu cánh để tự làm nổ tung khối uất hận của bản thân.

Việc người ta chọn hành động tự thiêu, chọn làm bom tự sát hoặc cho nổ tung tất cả không những cho thấy tính bạo lực của kẻ thua thế đã tăng cao mà hành vi bạo động của họ còn chứng minh rằng họ đã tuyệt vọng tột cùng, họ không còn tin vào hệ thống cầm quyền đang cai trị bên trên họ nữa. Bởi lẽ, đúng với trình tự xã hội, nếu còn niềm tin, họ sẽ đi kiện, sẽ đưa ra trước công lý, công luận những bất công mình đang gánh chịu. Nghiệt nỗi, tòa án làm theo chỉ đạo của đảng, công an phục vụ đảng, báo chí do đảng đào tạo và phục vụ đảng, mọi thứ đều của đảng. Một khi đảng đụng chạm đến thì kiện được ai? Trông vào ai nữa? Con người không chọn bạo lực, bạo động đáp trả thì cũng chỉ còn nước ra thân ăn mày.

Mà ở đây, không có đảng cụ thể nào đứng ra cướp của dân, chỉ có những đảng viên, những quan chức trực thuộc đảng cướp của dân, gây bất công với dân. Đảng luôn bảo rằng chủ trương đường lối của đảng là đúng, chỉ có những sai lầm nhỏ sẽ điều chỉnh, do một số đảng viên chưa thấu đáo… Cách chối tội này cùng với hệ thống thuộc cấp ngày càng liều lĩnh, manh động và bạo lực của đảng cầm quyền đã đẩy nhân dân đến chỗ phản ứng manh động, bạo động. Đây là một hệ quả tất yếu!

Bên cạnh đó, nguồn lương thực, thực phẩm đầy rẫy độc tố có xuất xứ Trung Quốc tuồn vào Việt Nam cộng với công nghiệp rượu bia phát triển cũng là một phần nguyên nhân khiến cho lý trí con người trở nên căng thẳng, manh động. Chỉ có Việt Nam mới có thể có chuyện một ông thợ hồ, sau khi đóng mọi khoản thuế thông qua VAT cho mọi thứ ông ta mua mỗi ngày, chiều đến, ông ta tiếp tục lao vào quán nhậu để đóng một khoản thuế rất cao, vì thuế rượu bia và thuốc là là loại thuế ở nhóm chạm trần. Nhưng ông ta lại lựa chọn cách này.

Chỉ có Việt Nam mới có ba khoản thuế trong ngày, thuế xanh diễn ra vào buổi sáng, do các doanh nghiệp đóng, thuế đỏ diễn ra buổi trưa, trên bàn ăn sang trọng, trong những cú áp phe của giới chức, mafia đỏ và buổi chiều mới có khoản thuế vàng vọt của những người bần khổ tự lao vào quán nhậu mà đóng. Chuyện này chỉ có ở Việt Nam, tin là vậy!

Và, khi đời sống khốn khổ trùng vây, cựa đâu cũng bị áp bức, bất công, bóc lột ở đó thì bạo lực, bạo động và man rợ sẽ là môi trường mạnh nhất cho con người phát triển. Kẻ áp bức dùng bạo lực của kẻ mạnh, người bị áp bức dùng bạo lực để chống đối. Cuối cùng, đất nước cứ theo đà bạo lực mà đi tới. Đó là hệ quả của độc đảng, toàn trị và vô đạo đức. Không thể nói khác đi được!

 

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Năm 1999, việc Trần Trường treo ảnh Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng trong tiệm băng nhạc của y đã đưa đến một cuộc biểu tình phản đối dữ dội của những người tỵ nạn Cộng Sản tại Nam California kéo dài 52 ngày đêm ròng rã. Trần Trường nghĩ rằng hành động của y đáng để cho Việt Cộng mang ơn, nhưng sự thật đây là một chuyện trắc nghiệm, gây hậu quả không ai lường trước được và lòng căm thù Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản bộc phát, dâng cao.

Tượng Lenin ở Kiev, Ukraine, bị kéo đổ hôm 8 Tháng Mười Hai, 2013.
(Hình: Anatoli Boiko/AFP/Getty Images)

Vào đầu Tháng Tám năm nay, chính quyền tỉnh Sơn La vừa tuyên bố sẽ xây tượng đài Hồ Chí Minh 1,400 tỷ tại đây. Chuyện chưa biết sẽ ra sao, nhưng từ ngày Sơn La có quyết định này, cả nước, và đồng bào hải ngoại không ngớt lên tiếng chê bai, chửi rủa hết lời. Hình ảnh xấu xa của Hồ Chí Minh và bọn cầm quyền vô lại, lại được đưa ra làm mục tiêu cho quần chúng ném đá, trát bùn. Phải chăng đây cũng là một lần trắc nghiệm nữa về hình ảnh của “Bác?”

Bọn bồi bút và ngay cả “chính Bác”(CB) vẫn thường tranh nhau viết về cuộc đời thanh liêm, đơn giản của “Bác.” Tiêu biểu nhất là chuyện “đôi dép râu.”

Trong thời gian kháng chiến, mà sau ngày trở về Hà Nội, “Bác” vẫn đi đôi dép cao su đã mòn vẹt, “bảo vệ” đề nghị với “Bác” mua một đôi dép mới để thay, nhưng “Bác” gạt đi cho là lãng phí! Anh em “bảo vệ” liền tráo một đôi dép khác, không mới để “Bác” khó nhận ra, nhưng còn tươm tất. Nhưng cuối cùng “Bác” cũng biết, và nằng nặc đòi bảo vệ trả lại đôi dép cũ cho “Bác!”

Trong thư gửi Báo Vệ Quốc Quân vào Tháng Ba, 1947, “Bác” có câu: “Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim sợi chỉ của dân; khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ; mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường.”

Chuyện này, đám con cháu “Bác” chuyên làm ngược lại.

Trong di chúc trước khi “bước sang từ trần,” “Bác” đã dặn phải thiêu xác và rải tro đi khắp nước, tuy nhiên chúng nó không chịu thiêu “Bác” mà rình rang xây lăng mộ như các bậc vua chúa thời xưa. Số tiền tốn kém cho lăng này không bao giờ được tiết lộ, nhưng chỉ việc phải nhờ chuyên viên ướp xác Liên Xô, lăng chống được bom đạn, địa chấn, được xây dựng bằng đủ các thứ gỗ, đá, cây trồng quý giá vận chuyển từ khắp các địa phương trong nước, trong lúc còn chiến tranh thì tổn phí phải nói là không nhỏ.

Xây lăng xong, Bắc Việt phải nghĩ đến việc bảo vệ lăng.

Để bảo vệ lăng “Bác” một đơn vị quân đội được đặt tên là Đoàn 969 với quân số của một sư đoàn (10,000 người) do nhân dân đóng thuế nuôi, chỉ dùng cho mỗi việc bảo vệ một các xác khô. Bảo vệ là đúng, vì chúng ta còn nhớ, vào ngày 3 Tháng Hai, 2014, bốn thành viên của Pháp Luân Công đã mang búa tạ vào để đập bể lăng “Bác.”

Về chuyện “không động đến cái kim sợi chỉ của dân; …mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường” như lời “Bác” dạy thì chúng không thèm “động đến cái kim sợi chỉ của dân” nhưng tham ô, cướp đất, đuổi nhà, làm giàu trên chuyện tham ô, hối lộ khiến cho đảng càng ngày càng giàu mà dân mỗi năm mỗi đói.

Câu kinh nhật tụng của bọn tham ô vận dụng để xây tượng “Bác” là “nhằm đáp ứng nguyện vọng và tình cảm” của đồng bào các dân tộc, trong khi thật sự nguyện vọng của đồng bào xứ này là cầu cho có bữa cơm no, có trường cho trẻ em học đàng hoàng và đến trường khỏi đu dây “biệt kích!” Trong khi nguyện vọng của chính quyền là muốn có thêm tiền bỏ túi.

Chúng ta khó tưởng tượng ra là hiện nay trên cả nước đã có 134 tượng đài “Bác” xây dựng trong khuôn viên trụ sở cơ quan, đơn vị, trong đó có tới 45 tượng “Bác” với bộ đội Biên Phòng và “Bác” đứng ngồi tại các quảng trường là 31 cái.

Như vậy cũng chưa đủ, hiện nay chúng còn muốn xây thêm 58 tượng đài “Bác” nữa, theo đề nghị ở các tỉnh đủ loại như “Bác” đứng vẫy tay chào, “Bác” ngồi đọc sách, “Bác” với các cháu thiếu nhi, “Bác” với đồng bào dân tộc… Đại khái là sẽ có tượng đài “Bác” với thanh niên xung phong ở tỉnh Bắc Kạn; tượng “Bác” với nông dân ở Thái Bình; tượng “Bác” và bố “Bác” tại Bình Định… Các tỉnh được hưởng “xái” xây tượng đài là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Điện Biên, Hải Phòng, Hải Dương, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.

Ngay tại Tòa Đô Chánh cũ ở Sài Gòn trước đây đã xây tượng “Bác” ngồi đọc sách, có lẽ ngồi lâu sợ “Bác” đau lưng, không tiếc tiền của dân, Cộng Sản đập đi và thay vào đó là bức tượng “Bác” đứng, lại khánh thành tưng bừng, có các em chân dài múa may trước mặt “Bác.” Các tỉnh tranh nhau để được xây tượng “Bác.” Bắc Ninh nói: “Tỉnh có vinh dự đón Bác 18 lần, vậy mà chưa có tượng đài nào!” Hải Phòng cũng khiếu nại muốn dựng tượng Bác vì “Bác” đã chín lần về thăm Hải Phòng. Như vậy rồi đây, tượng “Bác” sẽ lềnh khênh, ra ngõ là “gặp anh… hồ!”

Sẽ có tượng “Bác” ở làng Sen, nơi Bác sinh ra; ở Pắc Bó nơi “Bác” tắm suối và gặp mẹ của Nông Đức Mạnh; ở số 66 Hàng Bông Nhuộm, nơi xảy ra mối tình “Bác” với Nông Thị Xuân; ở Phan Thiết, nơi “Bác” đi qua, ở bến Nhà Rồng nơi “Bác” lên tàu… Ôi làm sao kể xiết những dấu chân của “Bác” để lại!

Việt Nam sẽ điên đầu với những tượng đài!

Với chủ trương tôn sùng cá nhân, tượng đài các quốc gia Cộng Sản mọc lên như nấm sau cơn mưa. Từ Lenin, Stalin, cho đến Mao Trạch Đông, cha con nhà họ Kim II-sung, Kim Jong-il, và Hồ Chí Minh. Cũng theo thứ tự như thế, lần lượt các chế độ Cộng Sản tàn lụi trên trái đất, sẽ chôn vùi theo các tượng đài.

Những năm gần đây, thế giới đã muốn xóa bỏ dấu tích của quá khứ Cộng Sản. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ một thời gian, hàng ngàn người tụ tập ở quảng trường Dushanbe (thủ đô của Tajikistan), kéo sập tượng Lenin. Năm 1994, chính quyền Hungary đã quyết định hạ tượng Karl Marx ở khuôn viên đại học Corvinus, và ở khắp nơi các tượng đài Lenin, Stalin đều đã bị phá bỏ.

Cuối năm 2012, Mông Cổ đã cho dỡ bỏ bức tượng Lenin cuối cùng khỏi thủ đô Ulan-Bator. Tháng Tám, 2013, tượng Lenin ở Kiev đã bị giật sập, khởi đầu từ đó, tượng của Lenin trở thành mục tiêu phá bỏ tại các thành phố Ukraina khác như Zhytomyr, Boyarka, Slavuta, Bila Tserkva, Khmelnitsky và Bila Tservka.

Trong khi ở Việt Nam, ông Lenin của nước Nga vẫn còn đứng ở vườn hoa nước mình!

Ngày nay Stalingrad đã trở lại với Volgograd, Leningrad đã trả lại cái tên cũ là Saint Petersburg.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày trở lại tên Sài Gòn là lúc dân chúng Việt Nam “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” chúng ta kéo nhau đi đập nát những tượng đài…

Nỗi nhục của tượng đài không phải là lúc bị lật đổ, mà cả những lúc được dựng lên trong nỗi ta oán của quần chúng. Đó cũng là một lối tiêu xài hoang phí của đám cầm quyền trên nỗi lầm than, cơ cực của những người dân sống chung quanh tượng đài.

Sài Gòn và Hà Nội

Sài Gòn và Hà Nội

Tạp ghi Huy Phương

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn.

Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Sài Gòn ngày nay. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh, “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ, “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra, cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội. Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.
– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.
– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”
Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.
– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”
– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.
– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau gần 40 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “bác” mà ở Hà… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.
– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.
– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội và Sài Gòn sẽ mãi mãi khác nhau. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian.

Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

FB Nhân Thế Hoàng

Qua khẩu hiệu “Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no” được treo trước cổng một cơ quan nhà nước cho chúng ta thấy điều gì?

Từ khẩu hiệu trên nếu đem so sánh với thực tế, chúng ta có thể kết luận là: “thấy zậy mà không phải zậy à nghe.”

Giờ thử phân tích xem vì sao lại đưa ra kết luận trên nhé:

1. Nếu đảng là hạnh phúc thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt hiện nay lại cảm thấy không hạnh phúc đến vậy. Với phần đông dân số sống trong nghèo khó, thu nhập không đủ cho chi tiêu hàng ngày thì hạnh phúc cái nỗi gì; chưa kể đến thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm, thuế phí chồng chất, đường xá thì ổ gà, ổ voi…vv…Vậy lấy gì để khẳng định là hạnh phúc như khẩu hiệu mà đảng đưa ra đây?

2. Nếu Đảng là văn minh, thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt lại thiếu văn minh đến vậy? Đi đến đâu thì trộm cắp, làm gái đến đó, thảm sát diễn ra như cơm bữa; cướp, giết, hiếp thì lộng hành như chốn không người, vượt đèn đỏ, xã rác, khạc nhổ nơi công cộng đã ăn sâu vào số đông dân số…vv…. Vậy như thế nào gọi là văn minh?

3. Nếu đảng là dân chủ thì sao mở miệng nói trái ý đảng đều bị quy vào thành phần suy thoái hoặc phản động? Tại sao dân không được chọn người dẫn dắt mình mà toàn là “đảng cử dân bầu”? Tại sao dân không có quyền lập hội nhóm, biểu tình…vv…. Vậy như thế nào gọi là dân chủ?

4. Nếu Đảng là hoà bình thì tại sao dưới sự dẫn dắt của đảng, ngư dân lúc ra biển toàn bị “tàu lạ” cướp phá, Hoàng-Trường Sa thì địch nó xây cả căn cứ quân sự trên đó, rồi thác bản giốc, ải nam quan giờ ở đâu? Vậy có phải cam chịu để họ cướp phá, muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ của mình được gọi là hoà bình?

5. Nếu Đảng là ấm no thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng Việt Nam giờ như một cái trại từ thiện khổng lồ đến vậy? Trẻ em miền núi phải bắt chuột để bữa ăn có thịt, dân đau ốm nằm chờ chết vì không tiền đi viện; trẻ em, người già đi bán vé số, ăn xin đầy đường, người dân phải bán cả nội tạng để cải thiện cuộc sống…vv….
Vậy ấm no mà đảng hứa mang lại cho dân sao những điều trên vẫn còn nhiều vô kể?
…………………

Một số người sẽ nguỵ biện rằng những trường hợp trên nước nào cũng có, rằng chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, rằng sao toàn nhìn vào những điều tiêu cực để phán xét….nhưng bạn có công nhận rằng những điều kể trên nó hiếm xảy ra ở các nước văn minh (nơi không hề có khẩu hiệu như kiểu trên), trong khi ở nước ta thì nó hiện hữu đầy rẫy từ thành thị cho đến tận nông thôn, nhìn đâu cũng thấy tiếng kêu ai oán khắp nơi.

Có lẽ đảng nên đưa ra khẩu hiệu cho dễ hiểu rằng “các thành viên của đảng luôn được hưởng những điều trên” thì nó đúng hơn là dành cho dân. Người cộng sản làm cách mạng không phải là để đem lại hạnh phúc cho người dân, họ làm cách mạng để người dân mang lại hạnh phúc cho họ là khẩu hiệu đúng nhất hiện nay mọi người à!

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

Mấy năm gần đây, tôi đã có dịp viết nhiều bài về các mặt sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng này tại một quận ven đô Sài gòn hồi giữa thập niên 1960. Nay nhân kỷ niệm 50 năm ngày khởi sự Chương Trình Phát Triển Quận 8 vào trung tuần tháng Tám năm 1965, tôi xin ghi ra một số suy nghĩ đúc kết được gói ghém trong mấy mục ngắn gọn như sau đây:

1 – Vào năm 1965, quận 8 là một địa phương có nhiều khu nhà ổ chuột, có nơi nhà ở xen kẽ với những ngôi mộ vô thừa nhận. Dân Sài gòn thường biết đến các địa danh như Lò Heo, Trại Tế Bần, Sở Rác mà đều có chung một tên là Chánh Hưng. Vì tình hình mất an ninh ở nông thôn, nên bà con kéo về tá túc rất đông ở vùng ven biên đô thị tiếp giáp với các huyện Cần Đước, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Có thể nói quận 8 lúc đó là một khu vực kém phát triển nhất của thành phố Sài gòn (the most depressed area). Đó là lý do tại sao anh chị em chúng tôi đã quyết định đến nơi đây và khởi sự một chương trình cải tiến xã hội từ năm 1965.

Và qua năm 1966, thì chương trình lại nới rộng địa bàn họat động qua hai quận 6 và 7 lân cận – với tổng số dân trong 3 quận là khỏang 500,000 người.

2 – Tính chất căn bản của Chương trình này là sự hợp tác giữa chánh quyền nhà nước và giới thanh niên tự nguyện đến phục vụ bà con tại địa phương.  Hồi đó, lớp bạn trẻ chúng tôi đều ở vào lứa tuổi từ 20 tới 30 – có người còn là học sinh trung học, có người là sinh viên đại học và một số huynh trưởng đã tốt nghiệp đại học.

Thọat đầu, anh chị em đầu đàn họp lại chung với nhau để cùng sọan thảo ra được một bản Dự án lấy tên là “Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn” (CTPT.Q8). Dự án này được đệ trình lên văn phòng cấp trên và được vị Thủ Tướng Chánh Phủ lúc đó là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp thuận và giao cho Bộ Thanh Niên và Tòa Đô Chánh Sài gòn là hai cơ quan đứng ra bảo trợ và giám sát mọi họat động của Chương Trình.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đây là một dự án của Xã hội Dân sự mà được chánh quyền nhà nước chấp thuận và theo dõi yểm trợ.

3 – Sau gần 6 năm họat động, chương trình đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp về nhiều mặt qua hàng trăm những dự án công tác lớn, nhỏ nhằm cải thiện môi trường sống nơi các xóm hẻm tối tăm lầy lội, chỉnh trang tái thiết gia cư – đặc biệt sau vụ tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 – mở mang giáo dục phổ thông, tổ chức những lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…

Mấu chốt của sự thành công này là do nơi các anh chị em cán bộ tự nguyện của chương trình đã gây được sự tin tưởng tín nhiệm và phấn khởi của số đông quần chúng nhân dân tại địa phương – để họ cùng hăng say tham gia “kẻ góp của, người góp công” vào vô vàn vô số những dự án cụ thể và thiết thực nhằm xây dựng cuộc sống mới tiện nghi thỏai mái cho tập thể cộng đồng sở tại.

Với phương thức hòa đồng vào trong môi trường quần chúng địa phương – qua lối sống “Tam Cùng” tức là Cùng Ăn, Cùng Ở, Cùng Làm với bà con tại chỗ – mà anh chị em cán bộ đã gây được mối thiện cảm của người dân – để rồi từ đó mà tiếp tục nhận lãnh thêm được những sáng kiến tích cực trong việc cải tiến dân sinh sao cho thật phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương xóm ngõ.

4 – Về mặt nhân sự tham gia chương trình, thì vì tính chất hòan tòan tự nguyện, nên các thành viên tham gia công tác tùy theo hòan cảnh thuận tiện cho cá nhân từng người một. Do đó, mà có người chỉ nhập cuộc với chương trình trong thời gian ngắn một vài tháng, có người thì tham gia lâu dài hơn và có người thì sinh họat bền bỉ với chương trình trong suốt 6 năm ròng rã. Đó là thành phần cán bộ tự nguyện cơ hữu của chương trình.

Còn thành phần các thân hữu do các đòan thể, tổ chức bạn gửi đến tham gia trong từng công tác ngắn hạn một vài ngày, thì rất đông đảo – có thể lên đến con số cả ngàn người trong 6 năm họat động của chương trình.

Nhưng thành phần chủ chốt vẫn là đại bộ phận đông đảo hàng ngàn, hàng vạn đồng bào địa phương – vì chính khối quần chúng này mới là chủ thể của mọi dự án công tác được gọi là “Phát Triển Cộng Đồng”. Đó là hàng nhiều trăm những dự án công tác mà do sáng kiến và nỗ lực của tòan thể dân chúng nơi cộng đồng sở tại góp phần vào việc cải thiện cuộc sống của mỗi thành viên trong chính cộng đồng đó vậy.

5 – Về mặt yểm trợ vật chất cũng như tinh thần, thì có thể liệt kê như sau:

A – Từ phía chánh quyền nhà nước.

Ngòai việc biệt phái một số nhỏ nhân viên công chức cho chương trình, thì chánh quyền còn cấp phát hai đợt ngân khỏan, tổng cộng là 30 triệu đồng. Cấp lãnh đạo là vị Bộ Trưởng Thanh Niên và nhất là vị Đô Trưởng Sài gòn đã luôn luôn khích lệ và yểm trợ tinh thần cho các anh chị em cán bộ tự nguyện chúng tôi.

B – Từ phía cơ quan Viện Trợ Mỹ USAID.

Qua sự giới thiệu của chánh quyền, cơ quan USAID đã cung cấp khá dồi dào cho chương trình phát triển chúng tôi các vật liệu xây dựng cơ bản như ciment, sắt và tôle. Nhờ vậy, mà chương trình mới có thể thực hiện được nhiều công trình xây dựng và tái thiết lên đến nhiều ngàn đơn vị gia cư, hai trường trung học và hàng trăm dự án chỉnh trang xóm ngõ v.v… trong cả ba quận 6,7 và 8 Sài gòn. Ngòai ra USAID còn trích ngân khỏan 10 triệu đồng vào giai đọan chót của chương trình trong các năm 1970 -71.

C – Từ phía các cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế.

Chương trình còn nhận được sự yểm trợ lin tinh về dụng cụ thiết bị đặc biệt cho các lớp dậy nghề như máy may, máy thêu đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, TV v.v… từ nhiều cơ quan tư nhân quốc tế – điển hình như CARE, Catholic Relief Service, Vietnam Christian Service, Asian Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM, IVS v.v…

6 – Để tóm kết lại.

Kể từ ngày khởi sự CTPT Q8 vào năm 1965 đến nay là năm 2015, thì đã có biết bao nhiêu anh chị em trong số hàng trăm thiện nguyện viên – cũng như biết bao nhiêu thân hào nhân sĩ, các vị tôn trưởng cùng rất đông đồng bào địa phương trong cả 3 quận 6,7 và 8 đã rũ áo ra đi về miền miên viễn. Số người quá vãng quá nhiều, tôi không thể nào liệt kê ra đây cho hết được.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm này (1965 – 2015), tôi xin ghi lời thương tiếc chân thành đến tất cả quý vị cùng quý anh chị. Và xin cầu chúc quý vị cùng anh chị luôn được thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng.

Và tôi cũng xin gửi lời tri ân nồng thắm đến tất cả các ân nhân và cơ quan nhân đạo đã tận tình hỗ trợ cho chương trình phát triển chúng tôi trong thời gian chiến tranh vẫn còn tàn phá khốc liệt vào những năm xa xưa đó.

Và cuối cùng, tôi cũng cầu mong cho thế hệ hậu duệ của quý vị tôn trưởng, thân hào nhân sĩ ở địa phương cũng như của các anh chị em thiện nguyện viên sẽ giữ mãi được cái ngọn lửa thiêng liêng của lòng nhân ái nơi cha bác của mình – để mà tiếp tục công cuộc phục vụ nhân quần xã hội trong hòan cảnh hiện tại trên quê hương đất nước thân yêu ngàn đời của mình vậy.

Westminster California, Ngày 15 Tháng 8 Năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

 

“Cầu quan”, tượng đài và sự vô trách nhiệm”

“Cầu quan”, tượng đài và sự vô trách nhiệm”

Kim Dung

Từ câu chuyện “cầu quan” đến xây các tượng đài, tưởng là “vì dân” nhưng ở một góc độ khác, thực ra, là ự vô trách nhiệm với giang sơn, xã tắc, vào lúc vận mệnh quốc gia nhiều thách thức!

Cái cây cầu treo có tên Khe Tây, vừa được khánh thành, nằm ở xóm 06, xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) có lẽ bỗng ngơ ngác không hiểu sao mình trở thành nổi tiếng và “quý tộc” vậy? Bởi nhiều người dân ở vùng miền núi rừng heo hút này gọi đó là “cầu quan”

Từ cầu dân thành “cầu quan”

Gọi là “cầu quan” bởi khởi đầu, đó là “cầu dân”, nằm trong Đề án xây dựng 186 chiếc cầu treo dân sinh ở 28 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên của Bộ Giao thông Vận tải.

Ý nghĩa nhân sinh nằm ngay trong cái tên gọi- cầu treo dân sinh. Vậy mà khi về với xã Sơn Thọ, nó biến thành “cầu quan”.

“Cầu quan” bởi lẽ ra phải phục vụ cho 42 hộ dân như trong đề án, thì thực chất khi khánh thành xong, cầu chỉ phục vụ mỗi… hai hộ dân. Gía trị đầu tư chiếc cầu treo này không nhỏ- khoảng 3,5 tỉ đồng, mà oái oăm, là theo nhận định của p/v (TPO, ngày 06/8) cầu treo dân sinh được xây dựng ngay gần chiếc cầu liên thôn kiên cố (có tên là cầu Gãy)- đi thẳng vào ngõ nhà ông Chủ tịch xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh).

Khỏi phải nói cây cầu treo bỗng bị… treo lơ lửng trong sự quan sát, dòm ngó và bàn luận ồn ào của báo chí, các trang mạng XH ra sao. Bởi sự hiện diện của nó là sự lãng phí, bất công đã đành. Nó còn chứa đựng cả sự quan liêu, dối trá, vô trách nhiệm của những vị cán bộ… có trách nhiệm các cấp, xung quanh cây cầu này.

Ngay lập tức, hình thành nên hai bên cây cầu treo là sự đối đáp, phản biện lẫn nhau giữa “hai phe”. Một bên là Tổng cục Đường bộ VN, cơ quan chịu trách nhiệm về cây cầu, một bên là dư luận báo chí. Khẳng định và hoài nghi. Thanh minh và mổ xẻ. Tự khen và chê trách. Hệt “hát đối” quan họ Bắc Ninh. Vui phết!

Phía bảo vệ vị trí cây cầu, ở đây là ông Phạm Quang Vinh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ VN khẳng định, không có chuyện xây cầu treo cho hai hộ dân, báo chí phản ánh chưa đúng thực tế. Theo ông này, vị trí xây dựng cầu treo Khe Tây là để phục vụ việc đi lại, sản xuất của cụm dân cư sinh sống nằm bên sườn núi Khe Tây thuộc thôn 06 của xã Sơn Thọ. Đặc biệt, lưu lượng người qua lại khoảng 500 lượt/ngày đêm, theo biên bản làm việc ngày 1/11/2014 giữa đơn vị Tư vấn thiết kế với đại diện chính quyền địa phương (báo Giao thông, ngày 08/8).

Cũng ngay lập tức nhiều tờ báo như Tiền Phong, VietNamNet, Bảo vệ Pháp luật có phóng viên về tận nơi chiếc cầu là nơi hò hẹn của … đôi bên để tận mắt nhìn, tận tai nghe. Và những nhìn nhận của báo chí lại khác hẳn.

H1

Cán bộ địa chính xã Sơn Thọ dùng dao phát rừng để tìm người dân…qua cầu treo Khe Tây (Nguồn: VNN)

Báo VietNamNet, ngày 12/8 đã đăng khá nhiều bức ảnh và thông tin để khẳng định, muốn đi qua cầu treo dân sinh Khe Tây, người dân phải đi đường rừng hơn 01km, vượt qua 02 cái khe. Trong khi, chỉ cần đi theo con đường bê tông rộng rãi chừng 500m là đến cầu Gãy (cách cầu treo chừng 200m). Vì thế, dù đã đưa vào sử dụng 02 tháng nay nhưng chẳng mấy ai qua cầu. Đường dẫn tới cầu treo chỉ hợp cho những ai muốn có sở thích “trèo đèo lội suối” (?). Đặc biệt nhất, trong số hơn 20 hộ dân mang tiếng được “hưởng lợi” từ việc xây dựng cầu treo, nhiều người bất ngờ và không biết chuyện xây cầu để phục vụ họ!

Hãy nghe những người dân thuộc diện “qua cầu” nói những lời không thể gió bay. Ông Nguyễn Văn Hoàn: Lâu nay gia đình tôi đi qua cầu Gãy. Việc xây cầu treo, chúng tôi không biết“- ông khẳng định trước mặt lãnh đạo Sở GTVT, Ban QLDA, UBND xã và các phóng viên. Rồi, không nhẽ 19 hộ dân ở đây vượt 02 cái khe, leo lên rừng để ra cầu treo của ông Chủ tịch chọn điểm xây dựng?

Chả lẽ cây cầu treo và ông Chủ tịch xã khôn lỏi cũng vẫn thích đánh đố “tinh thần vượt khó” của người dân nghèo khổ?

Bà vợ ông Nguyễn Hữu Hòa, cũng thuộc đối tượng “qua cầu”: Khi xây cầu xong mới biết cầu làm vào nhà lãnh đạo xã, người dân không hề được cán bộ giới thiệu hoặc ký tá gì liên quan đến cái cầu treo này.

Còn báo Tiền Phong, ngày 11/8 gọi thẳng tên vụ việc là “sự gian dối trắng trợn”, khi cho biết, con đường đất được đào men theo núi hơn 200m từ nhà ông Chủ tịch xã Sơn Thọ đi vào núi là để “che mắt” các đoàn kiểm tra.

Đựơc biết mới đây, Phó TT Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ GTVT khẩn trương kiểm tra, rà soát lại dự án, báo cáo TTCP trước ngày 20/8 tới.

Chưa biết việc điều tra kết luận của ngành chủ quản sẽ ra sao. Cho dù là biện hộ, cây cầu bắc cho tương lai, cho mô hình nông thôn mới của 42 hộ dân sẽ sinh nở nay mai (dự kiến), nhưng những thông tin chưa đầy đủ trên báo chí đã phác thảo sự quan liêu, nói dối và cả vô trách nhiệm của cán bộ các cấp từ Tổng cục Đường bộ VN, đến Ban QLDA xung quanh một cây cầu treo vô tội. Liệu ở đây giữa ông Chủ tịch xã và Ban QLDA cây cầu có sự “thống nhất” nào không?

Quan liêu, bởi trong báo cáo tổng cục này chỉ “dựa theo” biên bản làm việc của đại diện chính quyền địa phương, mà khẳng định lưu lượng tới 500 lượt người/ ngày đêm. Chính quyền địa phương ở đây, cuối cùng, lại vẫn là ông Chủ tịch xã, hộ gia đình được thụ hưởng cây cầu Khe Tây. Từ sự quan liêu đến dối trá hóa ra chỉ mỏng manh như một tờ giấy làm…. biên bản.

Nhưng sự quan liêu khi phải cọ sát với thực tiễn mới làm tóe loe những điều hài hước. Theo VietNamNet, ngày 13/8, bản thân ông Phạm Quang Vinh, Phó TCT Tổng cục Đường bộ, thừa nhận với báo chí, dù trực tiếp vào khảo sát hiện trường hai lần nhưng ‘chỉ thẩm định vị trí đặt mố cầu; không tham gia thẩm định về mặt kinh tế – xã hội’.

Còn ông Bùi Đức Đại, Phó GĐ sở GTVT Hà Tĩnh khi dẫn đầu một đoàn kiểm tra, đã không thể đi hết con đường mà theo giới thiệu của ông Nguyễn Đình Dũng, Phó CT xã Sơn Thọ là ‘người dân thường xuyên đi để ra cầu treo”. Bởi, nếu đi con đường ấy, phải vượt qua nhiều đồi núi và 02 khe suối.

Dối trá, bởi ông Giám đốc Ban QLDA 3 (Tổng cục Đường bộ VN) còn phản pháo báo chí một cách không biết ngượng khi khẳng định bằng một thông tin nhào nặn, rằng “tất cả đều có giấy tờ và chứng nhận của từng hộ dân”. Cũng theo VietNamNet ngày 13/8 mới đây, trong bản danh sách có 42 hộ dân được hưởng lợi từ cầu treo dân sinh Khe Tây được UBND xã Sơn Thọ gửi cho Tổng cục Đường bộ VN lại được lập vào ngày… 31/7/2015. Tức là sau khi chiếc cầu đã xong (tháng 6/2015), báo chí đã đưa tin, phản ánh. Và 42 chữ ký này nét bút rất giống nhau (?)

Vô trách nhiệm, bởi theo sự thú nhận của ông Phó CT UBND huyện Vũ Quang, nếu nói tính cấp bách thì chỗ này phải thừa nhận là chưa. Tiền đề xuất, nếu huyện đầu tư, câu chuyện hoàn toàn khác. Họ giúp thì mình nhận.

Hóa ra, chỉ vì là tiền “chùa” nên có quyền… nói dối và lãng phí?

Cầu treo Khe Tây chỉ là một trong số hàng trăm cây cầu dân sinh đã và sẽ được xây dựng. Với kiểu làm việc quan liêu, dối trá và vô trách nhiệm này, nay mai, sẽ còn bao nhiều cây “cầu quan” ra đời?

Làm suy yếu vận mệnh quốc gia?

Trước đó, có một tỉnh miền núi cao đặc biệt khó khăn cũng đã trở nên nổi tiếng trong cả nước, vì độ “chơi sang”, gây ra luồng dư chấn XH rộng lớn, nhiều phê phán hơn ủng hộ, nhiều hoài nghi hơn chia sẻ, kéo dài đến tận giờ. Đó là tỉnh miền núi cao Sơn La.

Không gọi là “chơi sang” sao được khi tỉnh này tung ra chủ trương xây cái gọi là cụm công trình quảng trường- tượng đài với một con số khủng– 1400 tỷ đồng.

Xây tượng đài là việc của nhiều quốc gia vẫn thường làm. Để tôn vinh công lao dựng nước, giữ nước của những con người vĩ đại. Với những quốc gia văn minh, phát triển, tượng đài lãnh tụ được tạc tài hoa như những công trình nghệ thuật, lấp lánh tính thẩm mỹ, mỹ thuật, trở thành những địa danh văn hóa, thực sự thu hút khách du lịch năm châu bốn biển, thành niềm kiêu hãnh của quốc gia đó. Các tượng đài trở thành vĩnh cửu với thời gian, góp vào nền tảng văn hóa xứ sở, thành niềm tự hào của nghệ thuật điêu khắc, phản chiếu tư duy và tầng nền văn hóa quốc gia.

H1

Bốn vị Tổng thống Hoa Kỳ được tạc tượng trên núi Rushmore, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln (Trong Khu tưởng niệm Quốc gia). Nguồn: Kênh 14.vn

Vấn đề là trình độ điêu khắc, kiến trúc, cách làm và hoàn cảnh XH phát triển ra sao, có tương đồng hay không, có vì dân hay không?

Nếu so với những tiêu chí đó thì Sơn La là một tỉnh miền núi cao khó khăn vào loại nhất nhì khu vực Tây bắc. Theo Tuần Việt Nam, ngày 07/8, toàn tỉnh có 11 huyện và 01 thành phố thì có tới 05/62 huyện nghèo nhất nước. Tính đến hết năm 2013, còn gần 69.000 hộ nghèo, chiếm 27% tổng số hộ; hơn 30.000 hộ cận nghèo, chiếm gần 12% tổng số hộ. Năm 2014 có hơn 31.000 hộ với hơn 141.000 nhân khẩu thiếu đói. Nếu đối chiếu con số tiền tỷ sẽ được đầu tư để xây quảng trường tượng đài với con số dân thiếu đói, thì sự “chơi sang” có gì đó không phải đạo.

Người viết bài này từng lên công tác Sơn La, điều tra về GD vùng Tây bắc, nên quá hiểu cái nghèo, cái cực của trẻ em, người dân miền núi cao này ra sao. Thật có lý khi ông Tráng A Pao- nguyên CT Hội đồng Dân tộc Quốc hội khi trả lời báo Dân trí, ngày 05/8 cho rằng, nếu làm tượng đài to quá sẽ lãng phí và không hợp với lòng Bác vì đồng bào dân tộc còn rất nghèo khổ. Không phải cứ xây tượng đài thật lớn là thể hiện lòng tôn kính. Vì nhiều nơi, nhiều vùng Bác Hồ chưa đặt chân đến, nhưng tại sao nhân dân, đồng bào vẫn luôn nghĩ, nhớ về Bác?

Nói cho cùng, tượng đài được tạc vào tâm thức của người dân mới là vĩnh cửu, cho dù mọi biến thiên của trời đất, mọi ấm lạnh, nắng mưa lịch sử.

Sự ồn ào của XH không chỉ vì Sơn La còn quá nghèo, tiêu tiền lại vung tay quá trán, mà còn ở chỗ này, dư luận XH hoài nghi về tính thẩm mỹ của những tượng đài xây nhan nhản ở các địa phương từ trước đến nay.

Với một nền kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, tạc tượng thực chất còn quá mỏng, nghèo nàn, ít bản sắc dân tộc, các tượng đài ở nước Việt từ xưa đến nay mang nặng tính chất tượng đài cổ động, cho mục đích chính trị, tuyên truyền vận động, nên rất ít tính nghệ thuật, thẩm mỹ. Do nghèo nàn về sức tưởng tượng, cảm hứng sáng tạo trong nghệ thuật điêu khắc, hầu hết các tượng đài như cùng đúc… một lò, rập khuôn cứng nhắc, khiến người xem chẳng mấy xúc động, thấm thía về vẻ đẹp cùng linh hồn tượng đài.

H1

Tượng đài cụ Hồ ở Cần Thơ. Nguồn tiin.vn

Chưa nói đến sự vô lương tâm của những kẻ rút ruột, ăn cắp khiến tượng đài lớn và được mong đợi như tượng đài Điện Biên Phủ, trở nên “đau nhức” trong con mắt người xem. Chính vì thế cái giá hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng thực chất sẽ còn “đắt” hơn nữa, nếu so với chất lượng công trình, điêu khắc, chất lượng nghệ thuật.

Mặt khác, nếu nói xuất phát từ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân thì xét cho công bằng, từ trước đến nay chưa có địa phương nào, kể cả Sơn La, đưa ra được kết quả điều tra mang tính XH học về nguyện vọng, nhân dân cần có tượng đài- một tiêu chí tối thiểu, thể hiện mục đích “vì dân”. Không thể chỉ dựa vào câu nói chung chung của một vài vị quan chức đại diện là… xong om!

Nói điều này, bởi ở các quốc gia văn minh có nền quản trị công khai minh bạch, thì việc “vì dân” nó rất cụ thể, sinh động, và rạch ròi.
Bởi họ rất ý thức không có nhân dân lấy đâu ra dân tộc? Lấy đâu ra những sự hy sinh vô hạn gìn giữ chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước?

Tỷ như ở Thụy Sĩ, Hội đồng t/p Bern đã phải làm một cuộc trưng cầu dân ý xem dân có đồng tình xây dựng quảng trưởng t/p không? Chỉ khi 62% dân t/p OK, chính quyền mới xắn tay vào cuộc (Tuần Việt Nam, ngày 07/8)

Tỷ như ở nước Mỹ, từ tượng đài George Washington, vị tổng thống đầu tiên, cho đến nhà tưởng niệm Abraham Lincoln và Thomas Jefferson, một tổng thống nổi danh trong nội chiến, một tổng thống viết Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, cho đến tượng đài Martin Luther King, người hoạt động nhân quyền, cho đến khu tưởng niệm vị tổng thống ngồi xe lăn Franklin Delano Roosevelt… tất cả đều do tiền của tư nhân, của người dân tự nguyện đóng góp. Nhà nước chỉ cấp cho đất và giấy phép xây dựng, mà không hề dùng tới ngân sách, vì đó là tiền thuế của người dân Mỹ (Tuần Việt Nam, ngày 11/8)

Nhưng ngay cả khi các tiêu chí về điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc đáp ứng yêu cầu, thì một điều kiện cốt yếu nhất là tượng đài đó có tương đồng với hoàn cảnh kinh tế XH không? Và có tạo nên sức mạnh hay góp phần làm suy yếu nội lực quốc gia? Câu chuyện của nước Nhật Bản vào thế kỷ xa xưa (15-17) với những tham vọng xây dựng tượng đài, chùa chiền lộng lẫy, nguy nga, đã làm cạn kiệt nguồn lực đáng lẽ phải dành cho củng cố lực lượng phòng vệ, khoan thư sức dân và đầu tư cho nguồn nhân lực, liệu có là bài học đáng “giật mình”.

Và nếu đặt chủ trương quảng trường- tượng đài khủng của Sơn La hàng nghìn tỷ đồng, tiếp theo đó, là 58 địa phương cũng đang rậm rịch theo con đường mòn ấy của Sơn La, trong lúc nợ công tính theo đầu người, tỷ lệ bội chi đều cao hơn cùng thời điểm năm trước. Trong lúc ngân khố quốc gia khó khăn, Bộ Tài chính vừa đề xuất vay Ngân hàng Nhà nước 30000 tỷ đồng để bù đắp cho việc bội chi ngân sách. Trong lúc Biển Đông, biên giới luôn đứng trước những thách thức về chủ quyền đất nước…, thì việc tốn hàng trăm, nghìn tỷ đồng xây đủ kiểu tượng đài “cổ động” liệu có làm cho các quan chức các địa phương “động lòng” điều gì không?

Từ câu chuyện “cầu quan” đến xây các tượng đài, tưởng là “vì dân” nhưng ở một góc độ khác, thực ra, là sự vô trách nhiệm với giang sơn, xã tắc, vào lúc vận mệnh quốc gia nhiều thách thức!

. TẠI SAO NGHÈO?

. TẠI SAO NGHÈO?

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam. Ảnh: VEF

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam. Ảnh: VEF

Ông Phó Thủ tướng có đưa ra một câu hỏi rất hay: “Cần đặt câu hỏi, tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo. Bây giờ phải làm gì?”

Thực ra thì tôi không hiểu ẩn ý của câu hỏi cho lắm khi ông Phó Thủ tướng dưa ra cái vế “chúng ta tốt” ở câu hỏi này. Nhằm đáp lại lời kêu gọi góp sức xây dựng đất nước, tôi xin review lại vài câu chuyện nhỏ được báo chí đăng tải, nhằm góp một chút nhỏ làm sáng tỏ câu hỏi của Phó Thủ tướng.

Về làm ăn, chúng ta có kỉ lục 13 lần vỡ ống nước Sông Đà: Vỡ ống nước sông Đà lần thứ 13: Chỉ biết chờ may rủi !

Về khả năng thể hiện bộ mặt đất nước, chúng ta có ngôi Nhà Việt nam đại diện với bộ mặt nhếch nhác ở Expo Millano: Nhà Việt Nam tại Expo Milano nhếch nhác giá 3 triệu USD

Về ăn cắp và lừa đảo, chúng ta có ở mọi chỗ, mọi nơi, mọi qui mô, cấp bậc, từ con gà vài chục ngàn đồng cho tới ngàn tỉ đồng, từ trong nước ra đến nước ngoài:

Vụ ‘gà đi lạc’ vào nhà quan xã: Danh sách cán bộ ‘ăn chặn’

Hướng dẫn viên kể chuyện khách Việt ăn cắp ở Thụy Sĩ

Bộ Công an họp báo vụ cán bộ Vinashin tham ô 18,6 triệu USD

Chiêu thức lừa 4.000 tỷ đồng của Huỳnh Thị Huyền Như

Quy mô tham nhũng ngày càng lớn

Về mặt đầu tư, chính sách ưu tiên xây dựng những tượng đài hoành tráng trong khi còn quá, quá nhiều người nghèo khổ (chuyện này chắc không cần dẫn ra), và nợ công đang ở mức báo động.

Tại sao nghèo?

Vấn đề an toàn điện ở VN

Vấn đề an toàn điện ở VN

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

Vấn đề an toàn điện ở VNPhần âm thanh Tải xuống âm thanh

800.jpg

Dây điện chằng chịt ở Saigon

RFA photo

Có thể nói rằng điện là thứ năng lượng vô cùng quan trọng đối với con người trong hiện tại. Mọi hoạt động, sinh hoạt của con người đều cần sự hỗ trợ của điện và điện đóng vai trò khởi động cổ máy xã hội mỗi ngày. Nhưng, với Việt Nam, đặc biệt là với người dân Sài Gòn, từ dây điện cho đến cách tính tiền điện và bắc đồng hồ điện, cầu dao tổng ngoài trụ chẳng khác nào cái bẫy lửa đối với mọi nhà. Người dân Sài Gòn luôn sống trong nỗi lo thấp thỏm về cháy nổ do điện gây ra.

Coi đồng tiền lớn hơn mạng người

Một cư dân tên Lạc ở quận Tân Bình, Sài Gòn, bày tỏ bức xúc: “Sợ nhất là mấy trụ điện cao thế, mấy hộp điện đó. Ở trên trời khi mưa gió thì có thể có những tai nạn từ trên trời rơi xuống, có thể là dây nó rơi trúng người mình chẳng hạn. Ở dưới đất thì có những đường cống, nhiều khi họ làm rồi họ mở nắp cống, trời mưa, nhiều người bước chân ra rồi rơi xuống cống luôn, bao nhiêu trường hợp vậy rồi. Ở Việt Nam thì ngay cả thợ điện cũng không biết an toàn điện luôn, nhiều khi họ trèo lên, không có mũ bảo hộ, không có bảo hộ, cứ vậy trèo à. Ở những thành phố lớn đông dân như Sài Gòn thì nó tùm lum à. Đó là lỗi hệ thống rồi, giờ muốn chỉnh thì phải chỉnh lại từ gốc luôn, chứ cắt đầu này ráp đầu kia thì cũng y chang vậy à.”

Theo ông Lạc, vấn đề dây điện đan chằng chịt khắp thành phố có thể nói đã trở nên phổ dụng và không có gì đáng ngạc nhiên. Mà cũng không riêng gì Sài Gòn mới có, hầu như mọi thành phố, mọi ngõ quê đều có thể bắt gặp hình ảnh dây điện chằng chịt, điều này giống như một biểu tượng của ngành điện lực Việt Nam, nơi nào có dây chằng chịt, nhằng nhịt, nơi đó có điện lực Việt Nam.

Nhưng thành phố Sài Gòn vẫn cho cảm giác đặc biệt hơn, một thứ cảm giác vừa bất an vừa rất thú vị mà chỉ có những ai thần kinh đủ mạnh hoặc vượt quá ngưỡng bình thường như say rượu, tâm thần và cảm giác bị chai lì mới có thể bắt gặp được trạng thái này. Ông lạc nói rằng đôi lần ông say rượu và nhìn thấy Sài Gòn là một thành phố lãng mạn chim lồng cá chậu, mỗi người dân trở thành một con chim nhỏ bay tung tăng dưới chiếc lồng bằng dây điện và mỗi sợi dây điện trở thành một sợi dây lưới che chở cuộc đời người dân Sài Gòn.

“ Thì nó chằng chịt sẵn rồi, chuyện lớn khủng khiếp mà không lo, lo cái mớ dây điện chằng chịt làm chi. Một cái mớ dây điện còn chẳng chịt trong trí tuệ con người mà không giải quyết được.
– Ông Minh, Sài Gòn “

Đó là cảm giác khi say rượu, lúc tỉnh táo, ông Lạc nói rằng mỗi sáng bước ra đường, nếu chỉ nhìn từng đoàn xe máy, xe hơi ngược xuôi không thôi thì còn đỡ. Nếu ngồi lại chỗ nào đó, nhìn ngang thì xe cộ vù vù, nhìn lên thì dây điện như mạng nhện, cảm giác ngột ngạt và xa lạ kéo đến, nếu thần kinh không đủ mạnh sẽ dẫn đến stress. Và Sài Gòn, nếu tính ra cho một đời người, những thứ lặp đi lặp lại trong một ngày kiếm cơm sẽ là kẹt xe, nhìn thấy dây điện đan lưới và ngập nước vào mùa mưa.

Đáng sợ nhất là thành phố này có lưu lượng xe cộ, người đi lại quá đông đúc, trong khi đó, nạn kẹt xe và ngập nước là thường xuyên mà dây điện lại quá chằng chịt, thật là đáng sợ. Chỉ cần một cú chập điện, hở điện đâu đó vào mùa mưa thì khó mà lường được hậu quả của nó. Vào mùa nắng thì nếu có sự cố về điện, sẽ dẫn đến cháy nổ.

Trong khi đó, những hộp đồng hồ điện và cầu dao tổng lại gắn ngoài trụ điện, gắn khá cao, gọi là để chống trộm hoặc tránh tình trạng khách hàng gian lận tiền điện. Nhưng trong tình trạng có chập mạch, hở dây, người dân muốn ngắt cầu dao điện thì vô cùng khó, phải gọi đến những thợ điện khu vực, có khi vài giờ đồng hồ sau họ mới có mặt. Không có nhân viên nhà đèn thường trực cũng như không có đường dây nóng cho việc này. Mà nếu có số điện thoại nóng thì khi xảy ra sự cố, gọi điện thứ bảy, thứ hai số điện thoại nóng mới trả lời và có khi chủ nhật tuần sau mới có người đến xử lý. Đợi người đến xử lý thì mọi thứ đã thành tro.

Ông Lạc bức xúc kết luận rằng nhà nước quá coi thường mạng dân, vì ngành điện lực do nhà nước quản lý, nếu nhà nước không coi thường mạng dân thì phải thiết kế làm sao để người dân dễ bề xử lý nhất khi có sự cố. Đằng này chỉ vì sợi người dân ăn gian tiền điện, chỉnh gian đồng hồ hay mà tập trung toàn bộ đồng hồ và cầu dao tổng ngoài trụ, mỗi khi có sự cố, người dân rơi vào thế bị động. Những vụ hỏa hạn do điện gây ra ở Sài Gòn trong nhiều năm trở lại đây là một bằng chứng đau đớn cho việc coi đồng lãi hằng tháng cao hơn sinh mạng người dân.

Và việc này là do nhà nước. Nếu nhà nước không coi thường mạng dân thì ngành điện sẽ không bao giờ lộm thuộm, tệ hại như hiện nay.

Mối nguy đầu mùa mưa

Một người dân Sài Gòn khác tên Minh, tỏ ra lo lắng:“Thì nó chằng chịt sẵn rồi, chuyện lớn khủng khiếp mà không lo, lo cái mớ dây điện chằng chịt làm chi. Một cái mớ dây điện còn chẳng chịt trong trí tuệ con người mà không giải quyết được.”

400.jpg

Cầu dao tổng gắn trên cột điện. RFA photo

Theo ông Minh, tình trạng dây điện chằng chịt ở Sài Gòn là tình trạng không thể cứu vãng được nữa. Vì cách tổ chức và bố trí điện hết sức manh mún, trong đó tham nhũng, móc ruột quá nhiều nên chất lượng dây điện thấp, tải lực cũng thấp, chính vì vậy mỗi khi có một hộ kinh doanh mới thì nhà đèn buộc phải kéo một đường dây mới đi kèm với đường dây cũ. Cứ như vậy, dây mới và dây cũ đi với nhau, kết thành chùm dưới những tán cây, nếu có sự cố điện va chập thì những cành cây sẽ trở thành mồi lửa, những búi dây nhanh chóng thành bó đuốc thần tốc mang lửa đền nhà dân.

Và một khi dây điện đã chằng chịt đến độ thành mạng lưới bao phủ khắp thành phố, vấn đề an toàn điện sẽ trả về số không. Hiện tại, mạng lưới dây điện cũng như cách bố trí dây điện, cầu dao điện trên cao hoặc dưới lòng đất tại thành phố Sài Gòn sẽ trở thành cái bẫy giết chết hàng ngàn người trong phút chốc khi mùa mưa tới.

“Ở Việt Nam thì ngay cả thợ điện cũng không biết an toàn điện luôn, nhiều khi họ trèo lên, không có mũ bảo hộ, không có bảo hộ, cứ vậy trèo à.
– Ông Lạc, Sài Gòn”

Ông Minh lắc đầu nói rằng cũng may Sài Gòn là thành phố ít bị bão, chỉ có mưa và ngập lụt. Nhưng cả mưa và ngập lụt sẽ trở nên nguy hiểm vô cùng khi có một đường dây điện nào đó hở mối hoặc hỏng vỏ. Lúc đó, cả con đường ngập nước sẽ thành một dòng sông điện chôn sống đoàn người mắc kẹt trong đó.

Vả lại, người ta phân bổ dây điện đi luồn dưới cây xanh là chuyện hết sức ngô nghê, khôi hài mà có lẽ chỉ có Việt Nam mới có. Hơn nữa Việt Nam là nước có nhiều thiên tai, gió bão, không hiểu sao ngành điện lại tư duy ra được một kiểu bố trí dây điện nằm lẫn trong cây xanh. Trong khi đó, để tránh được tình trạng này thì không cần phải học cho cao, chỉ cần một người xóa mù chữ cũng có thể vẽ được bản thiết kế tránh dây điện móc vào cây xanh.

Với mức nguy hiểm và bất an như hiện tại, cộng thêm giá tiền điện mỗi ngày một tăng nhanh đến độ ngộp thở. Người dân chỉ còn mong vào một ngày nào đó ngành điện không còn độc quyền nhà nước. Và tư nhân sẽ đứng ra kinh doanh điện, cạnh tranh lành mạnh. Chỉ có như vậy người dân mới có thể yên tâm mà sống. Ông Minh đưa ra kết luận này trước khi kết thúc câu chuyện về điện.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

 

Vì Sao Dân Nhật Không “Ăn Cắp” ?

Vì sao không có “hôi của” ở Nhật Bản?

Theo Ngọn Hải Đăng

hoi cua Nhat Ban

Nhà phân tích Ed West đặt câu hỏi trên tờ Telegraph: “Tại sao không có hôi của (ăn cắp) ở Nhật Bản?”. Trang web tìm kiếm Google cho thấy có 2.770.000 người đã đặt ra vấn đề tương tự như ông West. (Ảnh: goldenjipangu.com)

Lúc gian khó mới tỏ lòng người, lấy lửa thử vàng, vàng vẫn còn nguyên vẹn. Khi trận động đất sóng thần năm 2011 xảy ra, người Nhật Bản đã cho tất cả các dân tộc trên thế giới một bài học sâu sắc về đạo đức và những chuẩn tắc làm người.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới mỗi khi có thiên tai đến là người ta lại chứng kiến những cảnh rối ren, hỗn loạn, cướp giật, hôi của tràn lan. “Nhưng ở xứ sở mặt trời mọc thì lại khác. Nơi ấy, hàng vạn người đã mất hết nhà cửa, và thậm chí mất hết người thân…vậy mà họ vẫn lặng lẽ xếp hàng nhận từng nắm cơm trắng, cuộn mình trong những chiếc chăn mỏng thành hàng, thành lối trong chỗ trú nạn. Không hỗn loạn, không tranh cướp, không một ai tích trữ, không một ai kêu than. Có chăng chỉ là những dòng nước mắt lặng lẽ như lặn vào sâu thẳm

Cảnh tượng truyền thông thế giới ghi nhận không phải là cảnh tượng hỗn loạn, cướp giật, hôi của, mà là cảnh đoàn người trật tự xếp hàng chờ hàng cứu trợ. Dù khi tới phiên mình có thể lương thực đã hết nhưng họ vẫn kiên nhẫn xếp hàng. Nhiều câu chuyện kể lại có nhiều người đã nhường khẩu phần của mình cho người khó khăn hơn.

Tại một cửa hàng khác đã tan hoang vì động đất, người ta thấy một máy ATM và nhiều thùng lương thực bên trong vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù xung quanh không có ai bảo vệ.

Tờ Telegraph ghi nhận: Hàng hóa dù rất khan hiếm, lương thức thiếu thốn, như không hề có tình trạng đầu cơ tăng giá bán – các siêu thị giảm giá 20% và các chủ máy bán nước tự động phát không nước uống cho mọi người – tất cả cùng đoàn kết để tồn tại.

Du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản chia sẻ: “Không thấy cảnh cướp bóc, chen lấn, xô đẩy nơi mua thức ăn hay trong ga điện ngầm đang tắc nghẽn. Mọi người xử sự rất bình tĩnh dù ai cũng đều căng thẳng và lo lắng. Giá cả thị trường Nhật Bản cũng không nhân dịp này mà tăng.”

Anh Hà Minh Thành một người Việt ở Nhật Bản đã gửi mail kể một câu chuyện như sau: “Tối hôm qua em được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó để phân phát thực phẩm cho các người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng em chú ý đến một đứa nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc ao thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà nó lại xếp hàng cuối cùng, em sợ đến phiên của nó thì chắc chẳng còn thức ăn. Nên mới lại hỏi thăm. Nó kể nó đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của nó làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường nó nhìn thấy chiếc xe và cha nó bị nước cuốn trôi, 100% khả năng chắc là chết rồi. Hỏi mẹ nó đâu, nó nói nhà nó nằm ngay bờ biển, mẹ và em của nó chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe em hỏi đến thân nhân. Nhìn thấy nó lạnh em mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người nó. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của em bị rơi ra ngoài, em nhặt lên đưa cho nó và nói: “Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói.”

Thằng bé nhận túi lương khô của em, khom người cảm ơn. Em tưởng nó sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, nó ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng. Ngạc nhiên vô cùng, em hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nỏ trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

Em nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác khóc để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy em một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh.”

Câu chuyện này được rất nhiều báo chí trong nước đăng tải, gây xúc động mạnh mẽ, xem đây là điều huyền hoặc diễn ra tại Nhật Bản.

Một câu chuyện khác đăng trên blog của cô gái lấy tên Shopia. Chuyện kể về bạn của Sophia, cùng với mẹ và đứa em trai 2 tuổi bị mắc kẹt trong cơn sóng thần và đang tìm mọi cách để trèo lên ban công tòa nhà gần nhất. “Họ không ngừng kêu cứu, và một người đàn ông đã nhìn thấy họ từ ban công căn nhà phía sau. Rồi người đàn ông đó ngay lập tức nhảy khỏi ban công xuống nước, giúp bạn tôi, mẹ cô ấy và cậu em trai trèo lên ban công vào căn nhà. Nước lúc đấy càng ngày càng mạnh, không thể đứng vững được nữa. Trong hoàn cảnh đó, người mẹ đã kiên quyết để hai đứa con mình lên trước rồi người đàn ông xa lạ đứng dưới đỡ bà lên. Khi chỉ còn người đàn ông ở bên dưới, và người mẹ đang nắm chặt tay ân nhân để kéo lên, “bất chợt một chiếc ô tô (trong hàng trăm chiếc) bị nước cuốn tràn tới đúng hướng người đàn ông đó. Mọi người ở bên trên gào thét, nhưng rồi đột nhiên, người đàn ông ấy giật khỏi tay mẹ bạn tôi, để bà ấy không bị kéo theo xuống nước. Chiếc ô tô đâm vào ông ấy và cuốn ông hất đi.”

Trước đó, họ là những con người hoàn toàn xa lạ, có gia đình riêng, có cuộc sống riêng… nhưng khi thảm họa bất ngờ ập đến, đứng trước những lựa chọn giữa sự sống và cái chết, họ có thể chấp nhận tặng cả cuộc sống cho nhau. Những câu chuyện ấy ngày nay tưởng chừng chỉ có trong trí tưởng tượng thì lại xảy ra ở Nhật Bản.

Truyền thông thế giới đều ngả mũ thán phục kỳ tích Nhật Bản

Ông Ed West viết trên tờ Telegraph: “Tinh thần đoàn kết của người Nhật thật mạnh mẽ. Sức mạnh của xã hội Nhật Bản có lẽ gây ấn tượng còn hơn cả sức mạnh công nghệ của họ.”

Còn tổng biên tập báo Bangkok Post Pichai Chuensuksawadi không thể tin được đã phải thốt lên:“Chẳng phải đã bao nhiêu lần chúng ta thấy cảnh hôi của, cướp giật và bạo lực sau một thảm họa thiên nhiên đó sao?”

Nhà phân tích Ed West đặt câu hỏi trên tờ Telegraph: “Tại sao không có hôi của ở Nhật Bản?”.Trang web tìm kiếm Google cho thấy có 2.770.000 người đã đặt ra vấn đề tương tự như ông West.

Giáo sư Gregory Pflugfelder chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại học Columbia (Mỹ), nhận định: “Hôi của (ăn cắp) đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắc rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ nào để mô tả chính xác hành động này.”

Điều gì tạo nên kỳ tích Nhật Bản?

Sau trận động đất gây sóng thần ở Nhật Bản, thế giới lao vào tìm hiểu xem điều gì đã tạo nên kỳ tích ở Nhật Bản, và họ đã tìm được câu trả lời: Đó là đức tin và giáo dục đạo đức.

Đức tin

Đa số người Nhật theo Thần Giáo, Phật Giáo. Ngoài ra Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín của Nho giáo (do Khổng Tử đề xướng). Với những ai sống ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần thì khi nói đến “đức tin” họ chỉ phì cười, đơn giản bởi vì họ không còn tin nữa, mà không nghĩ rằng bản thân mình đã bị học thuyết vô thần tẩy não cắt đứt mất mối liên hệ với cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, đến mức không còn hiểu tin để làm gì.

Còn tại các nước khác như Nhật Bản thì “đức tin” đó là tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người. Người Nhật đã sử dụng “đức tin” của mình khi đối mặt tất cả những vấn đề trong cuộc sống, kể cả những tình huống hiểm nguy nhất.

Một dân tộc không có “đức tin”, lại còn bị ảnh hưởng của học thuyết đấu tranh thay cho văn hóa cổ truyền dân tộc, thì con người sẽ đấu tranh với nhau, người với người xem nhau như thù địch, bằng mặt không bằng lòng, không thể đoàn kết.

Một dân tộc có “đức tin” thì dân tộc đó vẫn còn có chuẩn mực đạo đức, nếu một dân tộc không còn “đức tin” thì càng ngày càng sa đọa, đạo đức tụt trên dốc lớn.

Giáo dục lấy đạo đức là cốt lõi

Nhật Bản trở thành một nước có nền giáo dục tiên tiến là nhờ thực hiện tiêu chí “con người = đạo đức”, đề cao tính tự lập và tinh thần kỷ luật.

Tư tưởng của người Nhật vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Tinh thần kế thừa và phát triển văn hóa cổ truyềnlà một trong những mục tiêu chủ yếu nhất trong giáo dục, đạo đức là cốt lõi là điều mà một học sinh phải biết đến đầu tiên.

Giáo dục Nhật Bản vận hành theo nguyên lý “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”.

Phương châm của người Nhật là: “Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng công dân có thể mài giũa nhân cách bản thân…”

Trẻ em Nhật Bản ngay từ mẫu giáo đã được giáo dục những quy tắc ứng xử căn bản. Trẻ em được dạy khi gặp tình huống nào phải xin lỗi hay cảm ơn, và áp dụng ngay trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế mà trẻ em đã biết những gì tốt đẹp nên làm, và những gì không nên làm từ rất sớm.

Trẻ cũng được thực hành thói quen giúp đỡ người khác như phục vụ đồ ăn cho các bạn.

Khi học tiểu học, trẻ em được giáo dục nhân cách và tính sáng tạo, ứng xử văn minh.

Sach-dao-duc-2

Không nên làm những điều xấu như chơi xấu bạn, ăn cắp, vẽ bậy… Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Sach-dao-duc-3

Luôn quan tâm giúp đỡ người xung quanh. Ảnh Nguyễn Thị Thu – kilala

Sách giáo khoa môn đạo đức là rất quan trọng, các giáo viên luôn nhắc nhở học sinh rằng “Bất kỳ ở đâu, bất kỳ khi nào, bao nhiêu lần đi nữa các em hãy giở cuốn sách đạo đức, để suy nghĩ xem trong cuộc sống điều gì là quan trọng nhất đối với chúng ta, và hãy phát huy nó trong đời sống của bản thân mình.”

Lên cấp 2 trẻ được học cách ứng xử với những lời phê bình, tôn trọng người khác và tôn trọng sự thật.

Đạo đức là môn học bắt buộc và được chú trọng, nhưng lại không có giáo trình thống nhất, điều này giúp giáo viên linh động sáng tạo được các bài giảng riêng phù hợp với học sinh. Trong đó văn hóa cổ truyền của dân tộc luôn là kho tàng quý giá được các giáo viên vận dụng vào các bài giảng và thực hành.

Học sinh sớm học các tình huống ứng xử khác nhau, mỗi tình huống đều vận dụng đạo đức để xác định mình nên hành xử thế nào cho đúng.

Hiệu quả có được từ giáo dục đạo đức

Do được giáo dục đạo đức từ nhỏ rất kỹ về lý thuyết, đặc biệt về thực hành, liên hệ thực tiễn, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa, học sinh được thực hành hành vi đạo đức ở mọi lĩnh vực nên hành vi đạo đức được hình thành ở mọi học sinh.

Không có hiện tượng quay cóp, ăn cắp, bạo lực học đường. Học sinh thể hiện tình yêu thương, kính trọng thầy cô, tình thân ái với bạn bè đúng mức. Các hành vi vi phạm đạo đức của học sinh là ít và cá biệt chứ không nổi cộm.

Ở ngoài xã hội, học sinh Nhật luôn là người ứng xử có văn hóa. Người Việt Nam hay nước ngoài đến Nhật Bản có thể thấy có nhiều cây ăn trái chín trĩu quả, hay những cây hoa cảnh khoe sắc hấp dẫn ở công viên, ở hai bên đường đi. Nhưng không hề có ai có suy nghĩ hái những bông hoa hay trái cây đó cả.

“Đức tin” và giáo dục đạo đức đã tạo nên một kỳ tích Nhật Bản, một kỳ tích mà bất kỳ một nhà giáo dục hay một nhà lãnh đạo nào trên thế giới cũng đều ngưỡng mộ và mong muốn.

Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 46 kể từ ngày thành lập

(1965 – 2011)

Đòan Thanh Liêm

Trong mấy năm gần đây, tôi đã viết nhiều bài về họat động của các bạn thanh niên sinh viên trong khuôn khổ sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7 và 8 Saigon vào hồi cuối thập niên 1960. Bài mới nhất viết hồi tháng Tám năm 2010 có nhan đề là : “Làm Men trong Bột”. Và kỹ sư Võ Long Triều, trong cuốn 1 Bộ Hồi ký của ông phổ biến trong năm 2010, cũng đã viết nhiều về chương trình này rồi.

Nhưng vì có một số bạn đọc thắc mắc muốn biết thêm chi tiết về giai đọan kết thúc của chương trình này, nên tôi thấy cần phải trình bày thêm về giai đọan cuối của chương trình, mà chưa được đề cập với chi tiết khả dĩ trong các tài liệu đã được phổ biến trước đây. Để giúp những bạn đọc chưa có dịp đọc các bài viết đó, tôi xin ghi vắn tắt lại những nét chính yếu của chương trình này, trước khi viết về giai đọan kết thúc của nó vào năm 1971.

I – Đại cương về sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7,8 Saigon khởi sự từ tháng 8 năm 1965.

Vào hồi tháng 6/1965, một số bạn trẻ chúng tôi cỡ tuổi 25 -30 họp bàn với nhau để thành lập một chương trình họat động tại quân 8 Saigon. Anh em sọan thảo một tài liệu về dự án phát triển tại địa phương quận này, và đem đệ trình nơi văn phòng của vị Thủ tướng Chánh phủ lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu với danh xưng là “Chủ tịch Ủy Ban Hành phápTrung ương”.

Tướng Kỳ chấp thuận dự án này, và quyết định như sau :

A – Bổ nhiệm hai sĩ quan biệt phái là các Anh Hồ ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh làm Quận trưởng và Phụ tá Quận trưởng Quận 8 Saigon.

B –  Đặt Chương trình Phát triển Quận 8 dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh niên và Tòa Đô chánh Saigon. Lúc đó Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng là Ủy viên Thanh niên điều khiển Bộ Thanh niên, và Bác sĩ Văn Văn Của là Đô trưởng Saigon

C –  Cấp ngân khỏan 10,000,000 VN$ (10 triệu) trích từ Ngân sách quốc gia để làm quỹ hoạt động của chương trình.

Như vậy là chỉ có hai người trong Nhóm chúng tôi giữ nhiệm vụ về hành chánh của Nhà nước, còn tất cả đều là các thiện nguyện viên. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì đây là một sự hợp tác của Xã hội Dân sự với chánh quyền Nhà nước ở tại địa phương Quận 8 Saigon. Vì thế Ban Quản lý Chương trình có được sự độc lập tự trị, mà không bị ràng buộc chi phối theo quy chế của một cơ sở hành chánh thông thường. Bác sĩ Hồ Văn Minh và tôi Đòan Thanh Liêm giữ nhiệm vụ làm Quản lý và Phụ tá Quản lý của chương trình này.

Thế là vào trung tuần tháng 8, anh chị em chúng tôi khởi sự “ra quân” tại 5 Phường thuộc Quận 8 nằm bên kia cầu chữ Y, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, dọc theo mấy con kinh Tàu Hủ, Ụ Cây, kinh Đôi phiá nam của Chợ Lớn.

Công tác chính yếu của Chương trình là vận động quần chúng các khóm hẻm tham gia vào các dự án cải tiến dân sinh, cụ thể như khai thông ngập lụt, sửa đường trong các ngõ hẻm, tu sửa nhà vệ sinh công cộng, đặc biệt là chỉnh trang nhà cửa ở các khu ổ chuột, mở thêm các lớp học, các lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…Vai trò của các thiện nguyện viên là làm chất men, chất xúc tác nhằm khơi động quần chúng ý thức rõ ràng về các nhu cầu thiết thực của cộng đồng lối xóm (felt needs) và rồi cùng nhau góp công sức và vật liệu vào các công trình cải thiện môi trường tại địa phương, cũng như phát triển về giáo dục, về y tế, về sinh họat tương thân tương trợ lẫn nhau trong các thành viên của cộng đồng địa phương.

Qua năm 1966, chương trình lại mở rộng địa bàn họat động thêm nữa sang các quận 6 và 7, nâng tổng số dân mà chương trình nhằm phục vụ trong cả 3 quận lên đến gần 500,000 người. Chương trình lại được cấp thêm ngân khỏan 20 triệu đồng cũng trích từ Ngân sách quốc gia. Về vật liệu xây dựng như sắt, ciment và tôle, thì chúng tôi được cơ quan USAID cung ứng cho khá đày đủ theo nhu cầu của các dự án tái thiết và phát triển cộng đồng.

Còn các dụng cụ trang bị cho lớp dậy nghề như máy may, máy đan, máy đánh chữ, máy động cơ v.v…, thì chúng tôi đi xin nơi các cơ quan xã hội quốc tế có trụ sở ở Saigon.

Tính ra trong 6 năm họat động (1965 – 1971), chương trình đã cùng với đồng bào địa phương thực hiện được rất nhiều công tác cải tiến dân sinh, điển hình như sửa sang cả trăm ngõ hẻm lầy lội, tái thiết đến 8,000 đơn vị gia cư trong 20 khu vực bị tàn phá trong các cuộc tấn công năm Mậu Thân 1968… Đặc biệt là thành lập được 2 trường Trung học Cộng đồng tại quận 6 và 8, mà vào niên khóa 1974 -75, tổng số học sinh trong 2 trường này đã lên đến 3,000 em.

II – Chương trình được lệnh phải đóng cửa vào tháng 4 năm 1971.

Như đã trình bày ở trên, đây là một chương trình họat động xã hội, chủ yếu là để phục vụ tầng lớp đồng bào thiếu may mắn tại khu vực ven đô, mà phần đông là dân tỵ nạn từ các vùng mất an ninh ở miền quê phải đổ xô về thành phố. Chương trình không hề chịu ảnh hưởng của một nhóm chính trị hay tôn giáo nào, mà chỉ do các bạn trẻ cỡ tuổi 20-30 cùng hợp lại với nhau trong những công tác cụ thể, thiết thực sát cánh với bà con ở địa phương. Đặc biệt là kể từ cuối năm 1968 trở đi, thì anh chị em rất bận rộn với công việc chỉnh trang tái thiết tại 20 khu vực bị tàn phá nặng nề nhất trong cả 3 quận, với tổng số nhà phải xây cất lại lên đến 8,000 đơn vị.

Thế nhưng, do có sự mâu thuẫn căng thẳng giữa hai vị lãnh đạo quốc gia là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, mà chương trình chúng tôi nhận được lệnh của phía Tướng Thiệu là phải chấm dứt họat động kể từ tháng 4 năm 1971.

Nguyên do dẫn đến việc này là vào tháng 9 năm 1971 đó, sẽ có cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống, mà cả hai Tướng Thiệu và Kỳ đều tranh đua với nhau để mỗi bên đứng ra lập một liên danh riêng biệt. Và cả hai phía đều ráo riết tổ chức việc vận động để dành phần thắng cử về cho mình, nên đã sử dụng mọi đòn phép chính trị mua chuộc sự ủng hộ khắp nơi, chỗ này chỗ nọ.

Vì như đã ghi ở trên, chương trình phát triển này lúc khởi sự vào năm 1965 là do Tướng Kỳ với thẩm quyền là Thủ tướng đã chấp thuận cho chúng tôi họat động và còn cấp ngân khỏan điều hành nữa. Nên phía Tướng Thiệu lúc đó lại có thành kiến cứ coi chương trình này là của riêng Tướng Kỳ, hay cũng ngả về phe phái của Tướng Kỳ, và từ đó mà đưa đến việc ra lệnh cho chương trình phải chấm dứt họat động. Thời đó, Tổng thống Thiệu đã nắm hết quyền hành trong tay mình, và Phó Tổng thống Kỳ chỉ còn giữ tính cách tượng trưng về nghi lễ, không có thực quyền như lúc giữ vai trò của một vị Thủ tướng như thời kỳ 1965 – 67 nữa.

Trước chỉ thị của chánh quyền như vậy, Ban Điều hành của chương trình phát triển chúng tôi đâu có thể làm gì khác, ngòai việc phải tuân theo mà thôi. Cơ quan chính quyền trước đây cho phép họat động, bây giờ rút lại cái giấy phép đó, thì đó là thuộc phạm vi quyền hạn của nhà nước, mình chỉ là một nhóm thiện nguyện viên tư nhân thì làm sao mà cưỡng lại được?

III –  Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa Lễ Bế mạc Chương trình Phát triển.

Và, theo đúng chỉ thị của cấp trên, anh chị em chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ khá long trọng vào thượng tuần tháng 4 năm 1971, với số tham dự gồm đông đủ các thân hào nhân sĩ địa phương cả 3 quận và rất nhiều giới chức quan khách – để tuyên bố kết thúc sự họat động của chương trình phát triển mà đã khởi sự từ năm 1965. Chúng tôi mời Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đến chủ tỏa Lễ Bế mạc này, vì dầu sao lúc đó Ông cũng là nhân vật lãnh đạo đứng hàng thứ hai của quốc gia, chỉ đứng sau vị Tổng thống mà thôi. Lại nữa vào năm 1965, chính Tướng Kỳ với cương vị là Thủ tướng chánh phủ đã cho phép chương trình họat động, nay đến lúc kết thúc, thì cũng nên mời Phó Tổng thống đến tham dự và chủ tọa buổi lễ, đó là điều cũng hợp lý, phải đạo và sòng phẳng vậy thôi. Lúc đó thì có một người bạn phê một câu bằng tiếng Pháp rằng : “Commencé par Kỳ, terminé aussi par Kỳ “ (Khởi sự bởi Kỳ, thì cũng kết thúc bởi Kỳ).

Sau buổi lễ này, chương trình trao lại các cơ sở, xe cộ, vật dụng và hồ sơ giấy tờ cho Tòa Đô chính Saigon Và chúng tôi chia tay nhau một cách êm thắm nhẹ nhàng, người nào cũng còn giữ lại được những kỷ niệm đẹp đẽ trong suốt nhiều năm tháng sát cánh bên nhau trong bao nhiêu công tác phát triển cộng đồng cùng hợp chung với bà con trong các khu xóm trong cả 3 quận. Ai nấy, mỗi người trở về lại với nghề nghiệp và cương vị riêng của mình.

Có điều đáng ghi nhớ là cho đến nay, sau 40 năm chia tay nhau, anh chị em chúng tôi vẫn tiếp tục còn gắn bó mật thiết với nhau trong tinh thần anh chị em ruột thịt một nhà, vì tất cả đều cùng theo đuổi một lý tưởng nhân ái là phục vụ đồng bào, nhất là các nạn nhân chiến cuộc hồi đó.

Hai trường Trung học ở quận 6 và 8 thì vẫn tiếp tục họat động bình thường, không hề bị ảnh hưởng của việc đóng cửa chương trình này. Lại nữa, trong hàng ngũ chúng tôi, thì có 2 người được bầu làm Dân biểu Hạ Nghị Viện, đó là các anh Hồ Văn Minh và Hồ Ngọc Nhuận. Và 3 người được bầu làm Nghị viên Hội đồng Đô thành Saigon, đó là các anh Mai Như Mạnh, Dương Văn Long và Lê Xuân Tảng. Hai người được bầu vào làm Ủy viên Hội đồng Văn hóa Giáo dục, đó là các Hiệu trưởng Võ Văn Bé và Uông Đại Bằng.

Và quan trọng nhất là hàng ngàn các cựu học sinh xuất thân từ 2 trường Trung học quận 6 và quận 8, nay đã vào lớp tuổi 50 – 57, thì các em vẫn nối tiếp cái tinh thần hy sinh phục vụ xã hội tại địa phương trong tầm tay với của mình. Đó là niềm hy vọng và an ủi cho tất cả anh chị em chúng tôi vậy.

Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng thương tiếc đến với các bạn đã ra đi, điển hình như các anh Trần Kim Hoa, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Bá Cậy, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Phan, Đặng Kỳ Trân, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu An… Các bạn này đã cùng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong suốt thời gian công tác tại các địa phương quận 6,7 và 8 Saigon giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa kinh hòang thuở ấy.  Xin cầu chúc các bạn luôn thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng. R.I.P./

California, Trung tuần tháng Tám năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Làm Men trong Bột

Làm  Men  trong  Bột

(Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 45 Ngày Thành Lập Chương Trình Phát Triển Quận 8 Saigon 1965-2010)

Đòan Thanh Liêm

Tháng 8 năm 1965, giữa lúc chiến tranh bắt đầu leo thang dữ dội tại nhiều nơi trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam, thì một nhóm anh chị em trẻ cỡ tuổi 18 đến 30 chúng tôi hợp chung lại với nhau, để khởi xướng một chương trình xây dựng cụ thể tại một địa phương còn kém phát triển ở Saigon. Đó là một chuơng trình phát triển cộng đồng có danh hiệu là : “Chuơng Trình Phát Triển Quận 8 Saigon”.

Đây là một chương trình họat động có tính cách tự nguyện của giới thanh niên, sinh viên và học sinh, mà được sự chấp thuận và yểm trợ của cơ quan nhà nuớc, cụ thể là Tòa Đô chánh Saigon và Bộ Thanh niên.  Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đó là sự hợp tác của một thành phần thuộc lãnh vực Xã hội Dân sự với cơ quan Nhà nước, để cùng theo đuổi việc cải tiến dân sinh tại một khu vực ven biên thành phố thủ đô, nơi có nhiều đồng bào phải rời bỏ miền quê mất an ninh , để về tá túc tại những khu nhà ổ chuột, thiếu thốn mọi tiện nghi vật chất như đường xá, điện, nước và mọi dịch vụ công cộng thông dụng nhất của một đô thị bình thường.

Vì là một chương trình thí điểm của giới trẻ, vốn chỉ có lòng hăng say nhiệt thành muốn đóng góp công sức vào việc cải tiến xã hội một cách thiết thực cụ thể, nhưng tất cả lại chưa hề có kinh nghiệm họat động trong một môi trường với đông đảo quần chúng xa lạ, như ở một địa phương tương đối hẻo lành này. Vì thế, phải mất một thời gian dò giẫm, thử nghiệm, rồi các bạn mới tìm ra được phương cách thích hợp trong công tác vận động bà con ở địa phương cùng tham gia vào công cuộc xây dựng tại hạ tầng cơ sở, nơi mà người dân đang phải sinh sống trong các điều kiện hết sức khó khăn chật vật.

Công tác đầu tiên mà các bạn trẻ này làm để “ra mắt trình diện với đồng bào ở địa phương”, đó là việc hòan thành được một ngôi trường với 5 phòng học tương đối rộng rãi khang trang, tại phường Hưng Phú gần với khu Lò Heo Chánh Hưng. Ngôi trường này được xây cất gấp rút trong vòng 2 tuần lễ với vật liệu nhẹ, cột bằng gỗ, tường bằng ván dăm bào aerolith và mái lợp tôn, nhằm đáp ứng với việc “giải tỏa các lớp học ban trưa nóng bức”, bởi lẽ hồi đó trường ốc rất thiếu thốn, nên  nhiều nơi đã phải mở thêm các suất học từ 11 giờ sáng đến 2 giờ trưa, nhằm dậy thêm được một số học sinh. Công tác đầu tay này đã gây được sự phấn khởi của giáo chức, và nhất là của đông đảo phụ huynh học sinh tại địa phương, với hậu quả là các thân hào nhân sĩ, giới lãnh đạo tôn giáo đã bắt đầu tìm hiểu và có sự tin tưởng, thông cảm với nhóm thanh niên thiện nguyện từ các nơi xa mà đến góp phần vào công việc xây dựng tại khu vực, vốn xưa kia là lãnh địa của quân đội Bình Xuyên vào hồi đầu thập niên 1950.

Và rồi nhờ sự thông cảm và hợp tác của các bậc tôn trưởng tại địa phương như vậy, mà Chương trình Phát triển đã lần hồi lôi cuốn được đông đảo bà con cùng quy tụ lại với nhau, để thực hiện những công việc xây dựng tích cực, cụ thể như khai thông tình trạng ngập lụt, sửa sang các đường hẻm, cải thiện các nhà vệ sinh công cộng v.v… Qua những dự án hợp tác đại loại như thế, mà bà con lối xóm có dịp quen biết lẫn nhau và gắn bó thân thương với nhau, mỗi ngày một bền chặt, khắng khít hơn. Và các thiện nguyện viên từ nơi xa đến cũng gây dựng được sự tin tưởng, và thiện cảm của quần chúng nhân dân trong cộng đồng địa phương. Đó chính là mấu chốt của sự thành công trong việc “Gây được sự hưởng ứng tự nguyện của chính đồng bào là đối tượng phục vụ của Chương trình Phát triển ở Quận 8” vậy.

Sau trên một năm hoạt động, Chương trình Phát triển này lại được chánh quyền chấp thuận cho khuếch trương  thêm, kể từ năm 1966, sang các quận 6 và 7 lân cận, để phục vụ cho khối dân số tổng cộng trong cả 3 quận lên đến 500,000 người. Từ những công tác cải thiện môi trường với quy mô đơn sơ nhỏ bé, trong các khu xóm lầy lội, chật hẹp, tối tăm, Chương trình đã tiến tới việc thực hiện được những công trình chỉnh trang gia cư khá rộng lớn, điển hình như khu chỉnh trang xóm nghĩa địa thuộc liên khóm 14 &15 thuộc khu Xóm Đầm ở phường Hưng Phú Quận 8, với trên 130 căn nhà được phân phối trong 7 lô gồm các căn nhà sát vách với nhau. Rồi đến khu định cư Nam Hải dành riêng cho đồng bào tỵ nạn từ Phước Long chạy về, với  con số trên 300 căn nhà xây cất trên  khu bãi đổ rác Chánh Hưng của thành phố v.v…

Và nhất là công trình chỉnh trang tái thiết đến gần 20 khu vực nhà cửa bị tàn phá trong mấy đợt tấn công của quân đội công sản trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968, tổng cộng lên tới gần 8,000 đơn vị gia cư trong cả ba quận 6, 7 và 8 Saigon. Điển hình như tại khu tái thiết ở phường Cầu Tre-Bình Thới thuộc Quận 6, thì có đến 1,200 đơn vị gia cư được xây cất lại.

Tất cả các khu chỉnh trang này đều được thực hiện theo phương thức “Phát triển Cộng đồng”, tức là người dân địa phương đóng vai trò chủ động chính yếu vừa góp công, vừa góp của, để thực hiện việc xây dựng lại nhà cửa cho chính mình. Cán bộ của Chương trình Phát triển chỉ đóng vai trò tổ chức cho bà con hội họp bàn thảo và quyết định với nhau trong việc phân phối căn nhà cho từng gia chủ. Và rồi hướng dẫn kỹ thuật cho việc xây cất theo họa đồ thiết kế đã được các chuyên viên kỹ sư phác họa sẵn.

Chứ đó không phải là những công trình xây cất thuần túy do Nhà nước thực hiện từ đầu đến cuối, như tại các khu cư xá của Tổng Nha Kiến Thiết, hay của  Khu Gia cư Liêm giá cuộc của Tòa Đô chánh Saigon.

Có hai công trình với quy mô và ảnh hưởng lâu bền nhất, đó là việc thành lập được Trường Trung học Cộng Đồng ở quận 8, rồi cả ở quận 6, với tổng số học sinh lên tới 3000 em vào niên khóa 1974-75. Chương trình Phát triển đã kêu gọi được sự hợp tác rất hăng say của giới phụ huynh và các thân hào nhân sĩ địa phương, để thực hiện được công cuộc phát triển giáo dục mà cho đến ngày nay, sau trên 40 năm  thì vẫn tiếp tục được duy trì để phục vụ cho các thế hệ trẻ mỗi ngày một thêm đông đảo. Các em học sinh lớp đầu tiên nhập học vào năm 1966 lúc đó ở tuổi 13-14, thì năm 2010 này đã ở vào lứa tuổi 57 – 58, với nhiều em đã lên tới chức ông nội, bà ngoại cả rồi.. Và đặc biệt các cựu học sinh này vẫn còn gắn bó thân thương với nhau trong tổ chức Hội Ái Hữu Cựu Học sinh với Ngày Họp Truyền Thống của trường xưa vào tháng 12 mỗi năm..

Ngoài ra, Chương trình còn yểm trợ rất nhiều lớp Dậy nghề do các Chùa và Nhà thờ ở địa phương tổ chức và điều hành, cụ thể như tại Chùa Huê Lâm ở quận 6, Chùa Bình Đông , Nhà thờ Rạch Cát ở quận 7, Nhà thờ Bình An ở quận 8 v.v…Về y tế, Chương trình còn tổ chức cả một xe Y tế lưu động để lo khám bệnh và cấp phát thuốc cho bệnh nhân tại một số khóm hẻm ở quá xa với trạm y tế.

Về thành phần nhân sự, thì tất cả đều tham gia họat động trong khuôn khổ chương trình với tinh thần tự nguyện. Có em là học sinh dưới 20 tuổi, còn đang theo học tại các trường trung học. Có em là sinh viên cấp đại học. Và cũng có những bạn lớn tuổi hơn, nhưng phần đông đều vào lứa tuổi trên dưới 30. Những người làm việc thường xuyên, thì được hưởng một số trợ cấp sinh họat tối thiểu, chứ không phải là một thứ lương bổng nào theo quy chế của cơ quan nhà nước. Các bạn trẻ này vốn đã từng được đào tạo trong các tổ chức thanh thiếu niên, như tại Phong trào Hướng Đạo, Sinh viên Phật tử, Sinh viên Công giáo, Thanh niên Thiện chí, Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội v.v… Đó là những nhân sự cơ hữu công tác thường xuyên, mà tỗng số chỉ có vào khỏang từ 30 đến 40 người. Còn số thiện nguyện viên lâu lâu đến hợp tác trong một dự án ngắn hạn, mà cần thêm nhiều lao động vào một vài ngày nghỉ cuối tuần, thì có thể kể đến con số hàng ngàn người, số này do các đòan thể hiệp hội bạn hướng dẫn đến để tăng cường cho nhân số cơ hữu vốn luôn ít ỏi của chương trình phát triển.

Về phương tiện tài chánh và vật liệu, thì chương trình được chánh quyền cấp cho một số ngân khỏan trong 2 đợt đầu từ năm 1965 đến 1969, tổng cộng là 30 triệu đồng, trích từ ngân sách quốc gia, và trong đợt cuối vào năm 1970 thêm được 10 triệu nữa, trích từ ngân sách ngọai viện. Còn các vật liệu xây dựng chính yếu là sắt, tôle và ciment, thì do Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID cung ứng cho khá đày đủ. Ngòai ra, chương trình cũng còn được sự trợ giúp về dụng cụ huấn nghệ như máy may, máy đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, sửa máy nổ , về thuốc men và một số vật dụng linh tinh khác…từ các tổ chức từ thiện quốc tế như CARE, Catholic Relief Service, Asian Christian Service, Vietnam Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM…Các dụng cụ này được sử dụng vào việc trang bị cho các trung tâm dậy nghề, do các tổ chức tôn giáo ở địa phương trực tiếp điều hành.

*            *           *

Đẻ tóm lược lại, ta có thể ghi nhận vài nét chính yếu như sau đây :

1 / Trong suốt quá trình hoạt động sôi nổi từ những năm 1965 trở đi, các anh chị em thiện nguyện viên này luôn ý thức được vai trò chủ yếu của mình là : “Vận động quần chúng tự nguyện tham gia vào các công trình cải tiến dân sinh” tại chính địa phương của họ. Đây đích thực là vai trò “làm chất men, chất súc tác” được vùi vào trong môi trường của quần chúng nhân dân, nhằm gây được một “tác dụng dây chuyền”, theo lối “vết dầu loang”, để mỗi ngày một phát triển rộng thêm mãi ra. Thành ra lớp người cán bộ tự nguyện như vậy chính là một thứ tác nhân có khả năng góp phần khơi động được thành cả một “Phong trào quần chúng tham gia vào công cuộc phát triển xã hội ngay tại hạ tầng cơ sở, nơi địa phương của chính họ” (Mass Fermentation/Mobilisation at the grassroots). Một anh bạn đã phát biểu tóm gọn vai trò của anh chị em thiện nguyên viên một cách thật chính xác là : “Những người vận động cho công cuộc phát triển toàn diện và điều hòa” (animateurs de de’veloppement total et harmonise’) tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời đó vậy.

2 / Nếu cần phải đánh giá chung về Chương trình Phát triển này đã hoạt động liên tục trong 6 năm, từ 1965 đến 1971, thì ta có thể nói rằng : “Đây mới chỉ là một lọai hình họat động tiêu biểu trong số đông những Mảnh Nhỏ Cố Gắng của cả một Phong trào Thanh Thiếu niên lúc đó, nhằm góp phần vào công cuộc Xây dựng Xã hội tại miền Nam Việt nam thời kỳ trước năm 1975”. Và theo như lối mô tả của Giáo sư Karl Popper thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE = London School of Economics) trong cuốn sách thời danh xuất bản từ năm 1945 của ông, với nhan đề là : “The Open Society & its enemies”, thì đây chính là một cách thể hiện cái phương thức : “Piecemeal Social Engineering”, tức là  “Xây dựng Xã hội từng Mảnh một” vậy.

3 / Và cuối cùng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 45 ngày thành lập Chương trình Phát triển Cộng đồng này, người viết xin được bày tỏ lòng thương tiếc và quý mến sâu sắc đối với một số bạn và thân hữu đã lìa trần trong mấy năm gần đây, cụ thể điển hình như các bạn Đặng Kỳ Trân, Trần Kim Hoa, Luơng Bá Cậy, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Văn Tròn, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Thạch… Và các thân hữu như Nguyễn Hữu An, Trần Hữu Hải,Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến…

Tuy các bạn đã đi xa, nhưng cái kỷ niệm thân thương gắn bó keo sơn ấy của tất cả tập thể anh chị em chúng ta, trong bao nhiêu ngày tháng miệt mài say mê với công tác xã hội sát cánh cùng với đồng bào tại các quận 6,7, 8 Saigon những năm xưa, giữa cuộc chiến tranh khói lửa mịt mù tàn bạo lúc đó, thì không bao giờ lại có thể phai mờ quên lãng đi được./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm