Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6 Sài gòn: Những chuyện mà ít người nói đến

Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6 Sài gòn: Những chuyện mà ít người nói đến

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

(Bài 3)

*     *     *

Trường Trung học Cộng đồng Quận 6 là một trường rất nhỏ, chỉ bắt đầu khai giảng lớp học đầu tiên vào cuối năm 1968 trong căn nhà tiền chế đơn sơ với vài ba phòng học. Rồi sau năm 1975 chẳng bao lâu, thì trường lại bị cho giải thể và học sinh được phân tán đi các trường khác. Vì thế mà ngày nay, ngọai trừ một số rất nhỏ cựu học sinh đã từng theo học tại trường, thì ít có ai còn biết đến sự hiện hữu của cơ sở giáo dục này nữa.

Là một người có tham gia trong việc vận động thành lập của trường, tôi xin ghi lại một số chuyện ngộ nghĩnh xung quanh cái ngôi trường nhỏ bé vừa “sinh sau đẻ muộn” – mà lại cũng “yểu mệnh vắn số” này. Xin lần lượt trình bày câu chuyện qua mấy mục như sau.

I – Lai lịch về cơ sở vật chất của ngôi trường.

Vào  năm 1966,  ông Mai Như Mạnh Quận trưởng Quận 6 có sáng kiến mời một số nhà doanh nghiệp tại địa phương cùng họp lại với nhau để thiết lập một cơ sở nhằm trưng bày và quảng cáo cho những sản phẩm công kỹ nghệ được sản xuất trong quận. Ông nói : “Trước đây, tôi có dịp đi tham quan tại Đài Loan và Nhật Bản, tôi thấy nơi nào họ cũng có những trung tâm trưng bày sản phẩm kỹ nghệ như thế…” Ý kiến này được nhiều người hoan nghênh và đưa đến việc cấp tốc xây dựng một ngôi nhà tiền chế trên khu đất trống nằm sát cạnh bến xe Chợ Lớn mới ở góc đường Phạm Đình Hổ và Trương Tấn Bửu.

Nhằm lôi cuốn giới tiêu thụ đến quan sát tại phòng trưng bày này, ban tổ chức dự định khai trương cơ sở vào dịp Tết Đinh Mùi đầu năm 1967 kèm theo với một số gian hàng bán hàng hóa thông dụng và đồ ăn, nước uống v.v…Tất cả các gian hàng này được dựng lên bên cạnh phòng trưng bày sản phẩm và được gọi với cái tên chung là Khu Chợ Tết. Và vì cái danh xưng “Chợ Tết” này, mà sóng gió nổi lên dữ dội từ một phiên họp của Hội Đồng Đô Thành ở trung tâm Sài gòn. Các nghị viên tới tấp phản đối chuyện tổ chức “Chợ Tết”, họ coi đây là một thứ “Hội Chợ” (Foire) nhằm kiếm tiền bỏ túi cho cá nhân. Đó là một thứ việc làm “bất hợp pháp” vì không có giấp phép đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền v.v…

Cuối cùng, thì Bác sĩ Văn Văn Của là Đô trưởng vẫn đến khu Chợ Tết để cắt băng khánh thành – như vậy là đã mặc nhiên coi là việc này không có chi là trái luật và để bà con cứ tiếp tục vui chơi nhân dịp đón xuân mới.

Tuy vậy, do có sự chỉ trích của các nghị viên thành phố như đã nói ở trên, mà sau đó giới chủ nhân các công ty xí nghiệp ở địa phương – mà phần đông là người gốc Hoa – đâm ra chán nản không còn thiết tha gì với chuyện tiến hành hòan tất trung tâm trưng bày sản phẩm công kỹ nghệ nữa. Vì thế mà trong suốt năm 1967, khu nhà tiền chế rộng tới 5 gian với sườn sắt, mái và vách đều được che bằng tôle vẫn còn để im lìm trống vắng không được sử dụng vào việc gì nữa cả.

Mãi đến khi chiến cuộc mở rộng hồi Tết Mậu Thân năm 1968, thì bà con các nơi có chiến trận mới đổ xô vào lánh nạn tại khu nhà tiến chế này. Và từ đó mà nơi đây đã biến thành một trại tạm cư cho các nạn nhân chiến cuộc phải bỏ nhà cửa ở các khu vực kế cận trong suốt hai đợt tấn công liên tục của bộ đội cộng sản xuất phát từ tỉnh Long An vào thành phố.

Sau khi chiến sự lắng đọng, bà con lại kéo nhau trở về nhà mình và trả lại khu nhà tiền chế lại cho chính quyền địa phương. Nhờ thế mà Chương trình Phát triển chúng tôi mới nghĩ đến chuyện sử dụng khu nhà đó để làm trường sở cho Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6. Thành ra, khu nhà này tuy không còn được sử dụng cho mục tiêu kinh tế thương mại như dự trù lúc ban đầu nữa, thì nay lại được biến thành một cơ sở giáo dục. Đó cũng là một cách phục vụ lợi ích chính đáng của cộng đồng địa phương mà thôi.

2 – Chuyện vận động xin phép mở trường với Bộ Giáo Dục.

Dân số trong quận 6 vào năm 1967 có đến trên 250.000 người. Vì thế mà vào năm 1970, chính quyền phải thiết lập thêm một đơn vị mới nữa là quận 11 bằng cách chia bớt lãnh thổ của quận 6 sang cho quận mới này. Dân số quá đông như vậy, nên cần phải mở thêm trường học, đặc biệt là trường trung học cho các học sinh trong quận. Đó là mối quan tâm nóng bỏng của các phụ huynh mà chúng tôi không thể nào xem nhẹ được.

Với kinh nghiệm thu thập được từ chuyện vận động thành công để thành lập được trường trung học cộng đồng ở quận 8 từ mấy năm trước – nên lần này anh chị em trong chương trình phát triển chúng tôi cũng lại hướng dẫn đại diện phụ huynh học sinh mang thư thỉnh nguyện đến trình bày với các giới chức có thẩm quyền tại Bộ Giáo Dục để xin được phép mở trường ở quận 6. Chúng tôi còn phải nhờ đến các vị Nghị sĩ, Dân biểu và cả đến giới truyền thông báo chí để họ cùng lên tiếng kêu gọi tiếp tay với các phụ huynh tại quận 6 để xin cấp trên cho thiết lập trường trung học trong quận.

Mà nhờ đã có sẵn cơ sở vật chất là khu nhà tiền chế cộng với một số bàn ghế mới đóng sẵn, nên ban vận động (gồm đại diện các phụ huynh và đại diện chương trình phát triển) mới dễ thuyết phục được cấp lãnh đạo ở Bộ Giáo Dục thỏa thuận cấp giấy phép cho trường được thành lập. Chúng tôi phải cam kết với Bộ Giáo Dục rằng : Địa phương chúng tôi chịu trách nhiệm hòan tòan về việc xây dựng nhà cửa và trang bị bàn ghế cho tòan bộ các lớp của trường.  Đổi lại về phần mình, thì Bộ Giáo Dục chỉ phải cử các thầy cô giáo đến trường để lo việc giảng dậy mà thôi.

Và cuối cùng, nhờ sự thúc đảy đặc biệt nhiệt tình của Giáo sư Lê Thanh Minh Châu lúc đó giữ chức vụ Phụ Tá Bộ Trưởng Giáo Dục đặc trách về kế hoạch, mà trường trung học cộng đồng quận 6 được giấy phép thành lập và bắt đầu khai giảng mấy lớp học đầu tiên kể từ niên khóa 1968 – 69.

Giáo sư Nguyễn Đức Tuyên được bổ nhiệm là vị Hiệu trưởng tiên khởi của trường. Với kinh nghiệm lâu năm trong ngành giáo dục, Hiệu trưởng Tuyên đã kiên trì cùng với tập thể các thầy cô giáo thiết lập được một nền nếp trật tự ngăn nắp cho ngôi trường mới mẻ và khiêm tốn này. Và với quy chế công lập, nên học sinh không phải đóng học phí như ở các trường tư thục. Mà phụ huynh chỉ phải góp một lệ phí là một số tiền rất nhỏ – để dùng vào việc bảo trì trường lớp, tân trang sửa chữa bàn ghế mà thôi.

Sau mấy năm, thì giáo sư Tuyên lại thuyên chuyển đi nơi khác và giáo sư Võ Văn Bé được bổ nhiệm vào chức vụ Hiệu trưởng thay thế giáo sư Tuyên. Và giáo sư Bé tiếp tục giữ nhiệm vụ này trong ít lâu sau năm 1975 trước khi xin nghỉ việc ra khỏi ngành giáo chức để tham gia vào ngành chế biến hóa chất.

Vì đây chỉ là một trung học đệ nhất cấp – tức là chỉ dậy có 4 lớp từ lớp 6 đến lớp 9 – nên học sinh học hết lớp 9 ở trường này, thì phải chuyển lên học tiếp lớp 10 ở một trung học đệ nhị cấp mà cụ thể ở quận 6 là trường Mạc Đĩnh Chi cũng là một trường công lập.

3 – Mối liên hệ của Trung Học Cộng Đồng với Chương Trình Phát Triển.

Mới gần đây, có một em cựu học sinh của trường Lương Văn Can tức Trung Học Cộng Đồng Quận 8 có hỏi tôi đại khái như thế này: “Em là dân ở quận 8, hồi trước năm 1975 em theo học ở trường Lương Văn Can, mà vì còn nhỏ tuổi em cũng không biết gì về mối liên hệ của trường đó với chương trình phát triển quận 8 ra sao. Xin thày vui lòng giải thích cho em với…”

Tôi đã giải thích cho em đại lược như thế này: “Chương trình Phát triển chúng tôi họat động trong cả 3 quận 6,7 và 8 trong 6 năm từ năm 1965 đến năm 1971. Bắt đầu ở quận 8 trước nhất từ năm 1965, sau đó kể từ năm 1966 thì nới rộng phạm vi họat động sang quận 6 và 7. Chúng tôi chủ trương phát triển về mọi mặt như chỉnh trang gia cư, cải thiện môi trường, chăm sóc y tế -ưu tiên cho bà con tại các khu xóm ngõ bình dân lao động. Và đặc biệt là mở mang giáo dục cả về phổ thông cũng như về huấn nghệ v.v…

Riêng về 2 trường trung học cộng đồng ở quận 6 và quận 8, thì chương trình chúng tôi góp nhiều công sức để vận động xin Bộ Giáo Dục cho phép thành lập và chúng tôi yểm trợ trong việc xây cất trường sở cũng như trang bị bàn ghế lúc ban đầu. Nhưng khi cơ sở trường học đã hòan tất và các giáo sư do Bộ Giáo Dục cử về bắt đầu giảng dậy ở trường, thì chương trình chúng tôi đã hòan tất trách nhiệm trong việc vận động rồi. Và từ lúc đó trở đi, chúng tôi không thể can dự vào sự điều hành của nhà trường nữa.”

Nghe tôi giải thích như thế, em hiểu ngay và nói với tôi như thế này: “Có thể ví như chương trình là một công ty xây dựng, sau khi xây xong ngôi nhà rồi, thì công ty trao căn nhà đó cho sở hữu chủ để họ tòan quyền sử dụng – mà nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì đó là phương thức “Chìa Khóa Trao Tay.

Nhân tiện, tôi cũng xin nhắc lại là vào hồi thập niên 1960, thì thủ tục xây dựng một trường học mới đòi hỏi Bộ Giáo Dục phải tham khảo trước với Bộ Tài Chánh để xem đã có ngân sách dành riêng cho ngôi trường đó chưa. Do đó mà Bộ Giáo Dục không thể dễ dàng tùy tiện để mở thêm trường mới được. Vì biết rõ tình trạng bế tắc bị động như vậy của Bộ Giáo Dục, nên chương trình chúng tôi dựa vào “cái thế chủ động của quần chúng nhân dân” mà phát động “Đi Bước Trước” – tức là địa phương quận 6 và 8 chúng tôi tự nguyện đứng ra xây cất trường sở và đóng bàn ghế sẵn trước.Và Bộ chỉ có mỗi một việc là cử giáo sư về dậy học mà thôi.

Và đó là nguyên do chính yếu của sự thành công trong việc thuyết phục được giới lãnh đạo của Bộ Giáo Dục chấp thuận cho thành lập Trung Học Cộng Đồng Quận 8 từ năm 1966 và Trung Học Công Đồng Quận 6 từ năm 1968.

4 – Để tạm kết thúc.

Vì chưa được thông tin đày đủ về sinh họat của các cựu học sinh Trung học Cộng đồng Quận 6, nên tôi hy vọng các bạn trẻ này sẽ bổ túc cho bài viết bằng những tư liệu và hình ảnh liên hệ đến “trường xưa, bạn cũ” – để giúp cho bà con độc giả hiểu biết thấu đáo hơn về một cơ sở giáo dục của địa phương quận 6 mà đã xuất hiện cách nay trên 47 năm rồi. Mong lắm thay.

San Jose California, Tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn” Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

1052670_562697663776915_300149667-622.jpg

Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka
Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính. Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam. Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó. Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

1177319793-400.jpg

Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào. Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình. Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn. Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka: Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm: Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka: Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm: Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka: Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới. Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm: Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka: Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm: Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka: Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều. Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm: Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka: Tôi rất thích ông Khái Hưng. Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm: Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka: Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm: Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka: Tôi thấy họ không chú ý đâu. Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm: Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka: Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm: Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka: Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm: Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Câu chuyện về tính lương thiện

Câu chuyện về tính lương thiện

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Người ta định nghĩa “lương thiện” là tốt lành, không vi phạm đạo đức, pháp luật. Các phát biểu về lương thiện, có lời của nhà văn Nhất Linh: “Muốn cho người ta dễ có lòng thiện thì làm thế nào cho người ta khỏi nghèo khổ.” Một nhân vật khác là E. Rueys thì cho rằng: “Khi giàu làm người lương thiện không gì dễ bằng, khi nghèo nàn làm được người lương thiện mới khó!” Nói như vậy có khác chi cho rằng phần đông người nghèo ít lương thiện hơn người giàu có.

Người ta căn cứ vào chuyện một cô người Mexico đến dọn dẹp nhà cửa cho một người chủ Việt Nam đã lấy trộm một cái nhẫn kim cương mà người chủ quên bỏ đầu giường, hay chuyện những đứa trẻ đi lượm bao ny-lông ngày trước ở quê nhà đánh cắp một đôi dép hay vơ một cái áo đang phơi trên cây sào. Nhưng cũng không phải vậy, mà trong xã hội này người ta cho rằng kẻ nghèo hèn đều đi ăn cắp và người giàu, có một cuộc sống tốt lành, kiểu nói “bần cùng sinh đạo tặc.” Ðó chính là lý do những chính trị gia như Lý Quang Diệu của Singapore, để cải tạo xã hội, phải làm cho dân chúng được cơm no, áo ấm, ai cũng giàu có.

Chúa Jesus thì nói: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Thiên Chúa (Mt. 19,24).” Người ta có thể hiểu câu nói này theo cách: Người giàu khó là một người lương thiện.

Hiện nay, nạn cướp giật điện thoại cầm tay xẩy ra thường ngày ở Việt Nam, thì một người bán vé số nghèo nàn, lượm được một cái “iPhone 6 plus” đem giao lại cho người mất, trong khi hàng triệu cán bộ lợi dụng chức, quyền, là những người giàu, dựa vào đảng, lương vài trăm đô la nhưng có nhà, xe, đất hàng triệu đô la, nhờ sự thiếu lương thiện, nói rõ là bất lương: “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!”

Một chị bán ve chai nhặt được số tiền 5 triệu Yen ($4,200) lập tức có những kẻ kém lương thiện, đến làm phiền, có người hăm dọa đòi anh chị chia số tiền nhặt được. Một phụ nữ đến nhận vơ đó là tiền của chồng bà đang lao động ở Nhật, gửi về cho mình, bà cất giấu trong thùng loa cũ rồi quên. Một người khác đem sổ đỏ “dỏm” đến cầm.

Một ông giám đốc ở Hà Nội khuyến khích sự lương thiện của người bán ve chai, đề nghị chị đem trả số tiền này lại cho chính phủ Nhật, vì giấy bạc này do Nhật in ra, là thuộc quyền sở hữu của chính phủ Nhật! Theo ông này, phải trả lại tiền cho nước Nhật để “nâng cao hình ảnh thân thiện, nhân văn của người Việt Nam đối với đất nước Nhật nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung.” Trong khi bao nhiêu đứa cướp giật, ăn cắp, buôn lậu làm xấu mặt Việt Nam ở đất nước Nhật, thì ông quan chức này đề nghị chị bán ve chai, hy sinh, dùng tính lương thiện của mình để cứu vãn cái mặt Việt Nam. Mặc dầu ông có hứa là sẽ vận động thiên hạ gây quỹ, đóng góp lại cho chị, nhưng đó là chuyện “cái mồi in bóng dưới nước.”

Hy vọng các quan chức Việt Nam từ đây về sau, ai cũng có lòng lương thiện cho dân đỡ khổ, nhưng xúi người khác lương thiện có lẽ dễ hơn chính mình phải lương thiện.

Chúng ta dạy trẻ em phải lương thiện trong khi, hơn 20 con heo đất của học sinh tại Trà Vinh để giúp học sinh nghèo bị người lớn ngành giáo dục “rút ruột” 20 triệu đồng. Chúng ta dạy trẻ sống công chính trong khi chúng ta có những “tên” hiệu trưởng như Sầm Ðức Xương sống bằng nghề “ma cô.”

Trong một xã hội như hiện nay, dạy cho con lương thiện, có nghĩa là đưa con vào con đường chết đói, vì đời này: “Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”

Nói về nghề lương thiện, không biết ở Việt Nam người ta sắp xếp cao thấp thế nào về mức độ lương thiện qua các ngành nghề. Tuy nhiên, tạm thời chúng ta hãy cho nghề lương thiện nhất là nghề bán ve chai, có muốn bất lương cũng khó lòng. Và nghề nào là nghề phi đạo đức nhất? Cứ nhìn tài sản của đám viên chức chính phủ và Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, hoàn toàn không tương xứng với số lương bổng hàng tháng, chúng ta sẽ thấy rõ bọn sâu mọt chuyên đục khoét ngân khoản, tài nguyên đất nước và bóc lột “nhân dân” đến mức nào.

Viện Gallup ở Mỹ không thăm dò tính lương thiện qua giai cấp giàu nghèo mà qua nghề nghiệp. Ðứng đầu lương thiện nhất là ngành y, nhưng bác sĩ y khoa lại được xếp sau y tá, dược sĩ và bác sĩ thú y.

Ðược xếp đồng hạng sau đó là kỹ sư, giảng viên và linh mục (tỉ lệ tin cậy đều là 58%). Ít lương thiện hơn là cảnh sát và chuyên gia tâm lý.

Tệ hơn hết, người Mỹ cho rằng nghề bán xe hơi (car saleman) là nghề khó tin nhất, chung chiếu với nghề bán xe hơi là nghề quảng cáo, nghề bảo hiểm y tế và nhân viên bán bảo hiểm (tỉ lệ tin cậy từ 13% đến 12%). Các chính trị gia cũng được xếp hạng thiếu lương thiện như tỉ lệ tin cậy đối với các dân biểu chỉ có 14%, thượng nghị sĩ là 15%. Ðiều này có lẽ dân chúng thấy rõ hơn vào các mùa bầu cử.

Còn nghề ký giả thì không thấy cuộc thăm dò của Gallup nhắc đến.

“Nhà báo nói láo ăn tiền,” là một câu nói khá hàm hồ và ác cảm của ai đó đối với nghề báo. Phải chăng đó là loại nhà báo chuyên tường thuật các đại hội đảng hay tổng kết thi đua “sống và làm việc theo gương Hồ Chủ Tịch.” Thật tình, nguyên tác của nghề báo là viết sự thật, dù ở đâu, do đó đây cũng là một nghề “dễ chết” nhất. Ở Việt Nam hiện nay đã có bao nhiêu nhà báo vì nói sự thật, đã bị cho thôi việc, cầm tù hay bị ám hại.

Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả cho biết, trên thế giới, chỉ tính từ năm 1992 cho đến 2011 đã có khoảng 850 ký giả bị giết, nhiều nhất là vì lý do chính trị, chiến tranh, tham nhũng, nhân quyền và tội phạm, trong đó, 39% bị giết trong khi hành nghề vì lý do chính trị. Riêng tại Mỹ và Canada kể từ năm 1976, có ít nhất 15 vụ ký giả bị giết khi đang làm công việc của mình, trong số 15 người này có năm người gốc Việt. Những ký giả này không phải là nhà báo nói láo, mà nói quá thật theo quan điểm của mình, những sự thật làm mất lòng người khác.

Nhưng nghề “viết” cho phép kèm theo chữ “lách.” Và cũng nên thông cảm rằng, đôi khi không dám viết sự thật, không phải là vì thiếu lương thiện.

Chí Phèo đã từng lớn tiếng trước mặt Bá Kiến: “Tao muốn làm người lương thiện!” “Không được! Ai cho tao lương thiện?”

Ðôi khi làm người lương thiện không dễ!

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH

Hôm ấy đạo sư có việc ở làng quê hẻo lánh và đưa đệ tử đi theo. Cả hai đều cuốc bộ. Dọc đường, đạo sư bảo đệ tử tạm nghỉ chân dưới một tàn cây xanh um, như cái dù lớn che nắng trưa chói chang. Cách đó xa xa là một dòng suối nhỏ chắn ngang. Đạo sư bảo : “ Thầy khát. Nhờ con lấy dùm thầy chút nước. “

Đệ tử mau mắn xách vò, thoăn thoắt bước tới con suối. Đến nơi, anh tần ngần nhìn dòng nước, rồi nhìn sang bên bờ kia. Bắt gặp một đàn bò còn ướt lông, hiểu ra cớ sự, anh quay lại gặp sư phụ, bộc bạch : “Thưa thầy, người ta mới vừa dắt bò qua suối. Nước bị quậy lên đục ngầu nên con không dám…”

Đạo sư ôn tồn : “ Được con. Vậy mình chờ một chút”.

Khoảng mười lăm phút sau, đạo sư bảo : “Lấy nước đi con!”

Đệ tử sốt sắng xách vò trở lại bờ suối. Anh thấy nước bớt đục hơn, nhưng vẫn chưa thể dùng được. Lập tức quay về chỗ sư phụ, anh áy náy nói :
“Thưa thầy, cũng chưa uống được đâu ạ.”

Đạo sư mỉm cười : “Không sao, con. Mình chờ thêm một chút nữa.”

Rồi ngài xếp bằng, hai bàn tay để lên lòng, sửa dáng cho thẳng lưng, lim dim đôi mắt, yên lặng dưỡng thân dưới bóng râm của tàn cây.

Khoảng nửa giờ sau, đệ tử ấy trở lại bờ suối. Bây giờ nước đã trong veo, có thể nhìn thấu lớp sỏi dưới đáy. Anh rón rén bước xuống để khỏi khấy động, và cố lựa chỗ tốt nhất để múc đầy vò nước mát mang về dâng thầy.

Đạo sư đón lấy cái vò, nhìn vào rồi bảo “Con xem. Làm thế nào con có được chỗ nước trong trẻo, mát ngọt này. Thật ra con chẳng làm gì cả. Con chỉ cần kiên nhẫn đợi cho cặn cáu có đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Tâm con cũng thế. Khi tâm con nổi sóng, điên đảo, con đừng toan tính cách này cách kia để cố dẹp yên nó. Con hãy cho nó đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Nên khi con giận ai, con đừng thèm nghĩ tới họ nữa, đừng ráng tranh cãi hơn thua. Con hãy hướng tư tưởng con sang việc khác. Tốt nhất là con làm thinh, giả mù, giả điếc và kiếm một chỗ mà ngồi thở đều đặn, nhẹ nhàng. Con chỉ tập trung vào hơi thở mà thôi.”

Đệ tử đáp: “Thưa thầy, nhưng thường đang lúc tâm trạng bất bình thì con lại không nhớ được cách để thoát ra !”

Đạo sư gật đầu : “Phải đó con. Thế nên chỉ sau khi phạm sai lầm xong rồi thì mình mới biết là mình sai lầm. Nhưng như thế vẫn còn khá hơn là không nhận ra sai lầm mình vừa mắc phải. Mỗi một trạng huống trong đời tu của con là một bài thi khảo sát trình độ tiến hóa tâm linh của con. Nhưng khi con ở vào trạng huống đó, thì con không hề nhớ là mình đang được thi, đang được thử thách. Đến khi kịp nhớ ra thì con đã thua mất rồi, thi rớt rồi !”

Dũ Lan Lê Anh Dũng

HÃY BỚT NHỎ NHEN, XẢO TRÁ ĐI!

HÃY BỚT NHỎ NHEN, XẢO TRÁ ĐI!

Nguyễn Thanh Giang

5-9-2015

Lướt web hôm nay thấy có ba chuyện buồn …cười:

1) Ngày 1 tháng 9 vừa qua người ta đến gắn huy hiệu 75 tuổi Đảng cho cụ Nguyến Trọng Vĩnh. Cụ đáp từ: “Tôi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Những đảng viên cộng sản như tôi hồi đó là đối tượng khủng bố, ruồng bắt của Nhà nước thực dân Pháp. Tuổi Đảng của tôi năm nay là 76 chứ không phải là 75. Việc trao tặng này lẽ ra phải thực hiện từ năm ngoái chứ không phải để sang năm nay …”.

Đại tá Nguyến Đăng Quang kể lại như sau: Sau khi Chi bộ 14 (nơi cụ Vĩnh sinh hoạt) biết cụ Vĩnh bị gây khó khăn trong việc nhận Huy hiệu 75 năm, Chi bộ đã họp 2 buổi để bàn và ra Nghị quyết về việc này. Cả 2 lần Nghị quyết đều có sự tán thành 100% của số đảng viên chi bộ có mặt (Chi bộ 14 có trên 80 đảng viên thì có gần 40 đảng viên là Giáo sư, Tiến sỹ và cán bộ trung cao cấp đã nghỉ hưu). Tất cả đều nhất trí kiến nghị lên Đảng bộ Phường, Đảng bộ Quận và Đảng bộ Thành phố phải trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho lão đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh.

Chi bộ 14 sau đó bị Đảng ủy cấp trên phê phán là vô nguyên tắc vì đã đưa kiến nghị vượt cấp! Nhưng chính họ không hiểu hoặc đã cố tình vi phạm quy định của Đảng là phải trả lời bằng văn bản các kiến nghị của cấp dưới, song họ cố ý lờ đi, buộc Chi bộ 14 phải gửi lên cấp trên tiếp theo, và Chi bộ 14 dự kiến sẽ gửi tiếp kiến nghị này lên Trung ương Đảng nếu Thành ủy Hà Nội cố tình không trao Huy hiệu 75 năm cho lão đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh!

Câu chuyện này chứng tỏ có những chi bộ đã “diễn biến” tốt, trong khi cấp trên nói chung còn rất lú. Thế mà người ta luôn luôn nói: Cấp trên của Đảng bao giờ cũng sáng suốt, chỉ ở dưới thực hiện sai. Chủ nghĩa Mác Lenin rất tuyệt vời, Liên Xô sụp đổ là do làm không đúng.

2) Cũng sáng 1 tháng 9 có cuộc đối đáp giữa anh Phạm Lê Vương Các với lãnh đạo trường Đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội như sau:

“Thầy hỏi: ‘Em có biết cô Y bên Cục An ninh không’? Tôi trả lời rằng biết vì tôi đã làm việc với cô Y mấy lần.

Rồi Thầy cho biết, bên Tổng Cục an ninh có báo cáo về trường hợp của tôi rồi Thầy nói thẳng thừng: “Em nên nghỉ học ở trường này đi, rút lại hồ sơ và kiếm trường khác mà học”.

Tôi choáng váng mặt mày, tim đập thình thịch, 2 hàm răng bắt đầu run lên và va vào nhau, lỗ tai bắt đầu nóng lên… Tôi im lặng nhìn đăm chiêu ra ngoài cánh cửa, phải mất 2 đến 3 phút sau tôi mới lấy lại bình tĩnh và hỏi: “Thầy cho em biết lý do?”

Thầy nói: “Trường này đào tạo đa ngành, nên đào tạo ngành Luật không tốt bằng mấy trường khác đào tạo chuyên về Luật. Em nên kiếm những trường chuyên về Luật, học ở đó thì sẽ tốt cho em hơn”.

Tôi thở dài… sau một lúc im lặng suy nghĩ tôi đã trả lời rằng: “Em sẽ không rút hồ sơ và sẽ tiếp tục học ở trường này. Vì em đã nhập học được một tuần rồi, nên không thể thay đổi lựa chọn được nữa, vì đã quá muộn.”

Thầy trả lời lại là chưa muộn đâu, bây giờ vẫn còn có thể được, nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định của mình.

Thầy bắt đầu hơi lớn tiếng và đi thẳng vào vấn đề: “Ai cũng có lý tưởng của riêng mình, em có lý tưởng tự do dân chủ, còn chúng tôi có lý tưởng Cộng sản. Trường này do những người Cộng sản lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị Cộng Sản này.”

Tôi cũng lớn tiếng trả lời: “Khi dự tuyển vào trường này em không thấy chỗ nào giới thiệu trường này là do những người Cộng Sản lập ra, mà trường này là trường Dân lập. Em cũng không quan tâm và không cần biết trường này do Cộng Sản hay Tư Bản lập ra.. Và em cũng nói cho thầy biết, chức năng cao cả của giáo dục không phải là để đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị. Mà là đào tạo ra những con người tự do trước chế độ chính trị”.

Thầy: “Nếu không đào tạo ra những con người của chế dộ chính trị thì cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị. Giáo dục của Anh, Pháp, Mỹ cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị của nó, và giáo dục cũng Việt Nam cũng vậy”.

Tôi: “Giáo dục của họ sinh viên được tự do lựa chọn tư tưởng. Còn các trường đại học ở Việt Nam thì không. Vì các trường đại học của họ được tự trị mà thế lực chính trị không thể can thiệp được, ít nhất về mặt tự do nghiên cứu, học thuật. Còn ở Việt Nam thì không. Thầy xem tất cả trường đại học nào ở Việt Nam mà không có chi bộ Đảng Cộng Sản trong đó không, cho dù đó là trường Dân lập? Và điều đó có cần thiết không?”

Thầy trả lời là cần thiết, và còn cho biết, không chỉ trong các trường đại học có chi bộ Đảng mà còn có cả An ninh để quản lý và theo dõi sinh viên nữa, nên không phù hợp cho tôi theo học trường này.

Một lúc sau Thầy nhẹ giọng: “Tôi biết em đi học Luật để làm gì. Dù An ninh không ép nhà trường phải cho em thôi học vì nhà trường cũng có sự độc lập riêng. Nhưng An ninh đã thông báo về trường, thì nhà trường phải…”.

Tôi hỏi lại: “Giả sử an ninh gây sức ép để trường buộc em thôi học thì nhà trường căn cứ vào đâu để ra quyết định buộc em thôi học?”

Không đợi Thầy trả lời, tôi nói tiếp: “Em nói cho Thầy biết, nhà trường chỉ có thể buộc em thôi học khi em có những hành vi vi phạm phạm luật qua một bản án xét xử của Tòa án. Cơ quan An ninh không có chức năng xét xử mà họ chỉ là cơ quan điều tra. Họ điều tra và báo cáo như thế nào là việc của họ, nhà trường đừng để họ làm thay công việc của Tòa án và xem họ như là Tòa án” ”.

Thật là đĩnh đạc, thông minh và bản lĩnh. Đúng là hậu sinh khả úy, là mầm mống tốt để xây dựng xã hội dân chủ. Nếu Phạm Lê Vương Các bị đuổi học đề nghị các nhà nước dân chủ cho em được tỵ nạn chính trị và bà con ta hãy chung tay tạo điều kiện để em hoàn thành được chương trình đại học luật.

3) Nhà văn Nguyễn Đông Thức viết trên Facebook hôm 2/9: “Báo Tuổi Trẻ có mời tôi viết một bài trong cuốn ‘Chuyện nghề – Chuyện người’, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập. Trong phần liệt kê các tên tuổi văn chương sau 1975 xuất hiện từ những ngày đầu trên Tuổi Trẻ, tôi nhắc hàng loạt tên, trong đó có nhà thơ Đỗ Trung Quân, tác giả của những bài thơ ‘Quê hương, Phượng hồng, Những bông hoa trên tuyến lửa’… Ông cũng đã có hơn 12 năm làm phóng viên Tuổi Trẻ …Nhưng khi in sách, cái tên Đỗ Trung Quân trong bài viết của tôi đã… biến mất”.

Chắc không có chỉ thị cụ thể từ cấp trên để giải quyết riêng trường hợp này nhưng vì chủ trương của Đảng đã ngấm vào máu, khoét vào đầu các công bộc nên họ rắp tâm biến mình thành kẻ xảo trá, ty tiện sẵn sàng vứt bỏ lương tâm, bất chấp sự thật và công lý một cách thật bỉ ổi.

Từ lâu, tôi đã chứng nghiệm điều này. Tôi đã có bằng Tiến sỹ từ 1982, luận án của tôi có trong lưu trữ Thư viện Quốc gia, công trình nghiên cứu của tôi đã được tổ chức CCOP của Liên Hợp Quốc mời trình bầy tại một Hội thảo Quốc tế năm 1982, nhưng trong cuốn “Tiến sỹ Việt Nam hiện đại” do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành tháng 9 năm 2004 người ta cố tình bỏ sót tên tôi. Tập thơ “Những Mẩu Quặng Dọc Đường” của tôi do Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành năm 2014 bị Cục Xuất bản bắt thu hồi. Không phải vì Thơ ở trong tập có vấn đề mà cấp trên bắt phải vứt bỏ các bài bình thơ in trong đó. Những bài bình luận này là của những tác giả nổi tiếng: nhà thơ Thanh Thảo, phó Chủ tịch Hội đồng Thơ Việt Nam, nhà thơ Định Hải, nhà thơ Ngô Văn Phú …. Các bài bình đều không mắc tội gì, kể cả tội “sai lập trường” của Đảng, ngoại trừ cái tội khen thơ và tư chất con người Nguyễn Thanh Giang.

Trời ơi, biết bao giờ xã hội ta mới thoát ra được khỏi cái vũng nhầy nhụa của xảo trá, ty tiện hỡi cái đảng của giai cấp công nhân này!

Hà Nội 4 tháng 9 năm 2015

Nguyễn Thanh Giang

Mobi: 0984 724 165

Việt Nam 40 mươi năm chưa qua khỏi cánh đồng?

Việt Nam 40 mươi năm chưa qua khỏi cánh đồng?

TuanVietNam

Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang

5-9-2015

Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Lời tựa bài này là niềm tự hào và cũng là nỗi buồn nặng trĩu tâm tư của người viết vì đã có đủ thời gian nếm trải. Tự hào là vì ông cha ta khôn ngoan mở mang bờ cõi về phương Nam, để lại cho con cháu làm chủ cánh đồng lúa nước rộng lớn và tốt thuộc hàng đầu Đông Nam Á. Còn nỗi buồn hay nói đúng ra là lời tự thán là ta đi 40 năm mà chưa thoát ra khỏi “cánh đồng nông nghiệp” và vẫn là nước nghèo, đang phát triển!

Tư duy tầm thế kỷ 19-20

Cách đây ít lâu, tôi đọc báo Tuổi Trẻ, Lao Động, Người Lao động…thấy đăng phát biểu của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý…về tình hình kinh tế đất nước nói chung, nông nghiệp nói riêng thấy gần đúng với… sự thật.  Gần đúng vì theo tôi, là một người gần như suốt cuộc đời “bám” sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân, tôi thấy bức tranh nông nghiệp nông thôn còn không ít  gam xám.

Như Chủ nhiệm Ủy ban An ninh quốc phòng Nguyễn Kim Khoa nói “Chúng ta cứ vẽ bức tranh đẹp quá mà thực ra QH hay nhà nước đều cần bức tranh tả chân”. “Muốn đánh giá đúng tình hình phải xuống nông thôn xem đồng bào sống thế nào” – như ông vừa mới đi xuống 17 tỉnh, ba quân khu mới trở về.

Việc Đoàn thanh niên cách đây ít lâu đi bán “giải cứu” dưa hấu, hành tím cho dân là câu chuyện thật rất nhân văn nhưng cũng đượm u buồn. Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư nói: “Các nước tái cơ cấu cao, còn ta thì chậm, cho nên 06 tháng cuối năm 2.015 gặp nhiều thách thức, khó duy trì mức 6,5%  nếu không có giải pháp đột phá”. Vậy mà hàng ngày đọc báo nghe đài, thấy hội nghị nào từ các Bộ xuống tỉnh, huyện, xã cũng nói “tái cơ cấu” rất hay, bây giờ vậy là sao? Chính phủ và các Bộ đang “bàn chuyện giải cứu nông sản” thì giải cứu sao đây?

Bởi đây là vấn đề tích tụ dài lâu từ cơ chế quản lý chứ không phải do một cá nhân nào, cho dù là những người đứng đầu của hệ thống chính trị đất nước tài ba lỗi lạc đi nữa.

10 năm (1975-1985) ta phải “dò đường”, đi trên ruộng nhà mà đói là do chúng ta luẩn quẩn chưa thoát ra khỏi tư duy bao cấp. 30 năm đổi mới, cả nước đi trên hai chân mà ta tự hào là “tam nông”, nghĩa là nông dân làm nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đây là đường lối xuyên suốt qua tất cả các kỳ đại hội và trong các báo cáo về kinh tế xã hội bao giờ cũng bắt đầu từ “sản xuất nông  nghiệp”.

Từng thời kỳ, nhất là những kế hoạch 05 năm sau đổi mới, chọn nông nghiệp làm đột phá vì nông nghiệp luôn luôn là nền tảng kinh tế. Nhưng điều đáng nói, nó hình thành cái nếp tư duy bất biến “nông nghiệp” theo truyền thống “trọng nông”. Giai cấp thì coi trọng cố nông- bần nông, kinh tế thì hạn điền và hộ sản xuất, văn hóa thì làng xã, hành chính là hộ khẩu, nhân tài – cán bộ là huyết thống… Nghĩa là tư duy và cách làm vẫn ở tầm thế kỷ 19 – 20.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là “đến năm 2020 nước ta phải trở thành nước có thu nhập trung bình và cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Chỉ còn 05 năm nữa thôi, nhưng hiện nay ta chỉ mới đạt 2.000 USD/ người, trong khi những nước đạt 5.000 USD/ người, các nhà kinh tế vẫn cho là chưa thoát cái “bẫy thu nhập trung bình”.

Công nghiệp ô-tô, ta đã bỏ qua chiếc La Dalat những năm trước 1975 và chiếc Mê-Công những năm 1990 đã tự sản xuất để đi làm thợ lắp ráp cho Toyota, Hyundai… Ngay như công tác xóa đói giảm nghèo sau 30 năm thừa gạo, dư cá mà vẫn còn chương trình “xóa đói giảm nghèo” và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn cao. Nhất là ở ngay vựa lúa- cá Đồng bằng Cửu Long mà chỉ sánh bằng với Tây Nguyên.

Và năm nào cũng vậy, kể cả 2014 vừa rồi tuy không có thiên tai lớn như các năm trước nhà nước vẫn phải cứu đói cả vạn tấn gạo cho các tỉnh miền ngoài. Ông Ksor Phước còn chỉ cách thống kê: “Các đồng chí thử lấy lượng gạo Thủ tướng quyết định cứu đói hàng năm chia ra xem bao nhiêu hộ đang trong tình trạng phải chờ cứu”.

Dân là gốc

ĐBSCL là vựa lúa của cả nước. Ảnh: SGGP

Cái gì cũng có giới hạn: Ở lâu trong tối dễ mờ mắt, trong ánh sáng chói lâu cũng dễ bị lòa mắt. Từ thiếu đói vụt cái VN ta xuất khẩu gạo, rồi cá tra, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều… đều vào loại tốp đầu thế giới. Việc đầu tư xây dựng điện đường trường trạm, nhà ở mái ngói mái bằng, xe máy, ô tô… cho đến đầu những năm 2.000 đem lại sự đổi đời thấy rõ. Chúng ta có quyền tự hào về sự đổi thay diện mạo cuộc sống đó.

Tự hào là chính đáng, nhưng tự hào mà quên mất những khiếm khuyết của cơ chế quản lý, cùng những bất cập, non kém của ngành nông nghiệp nên mới dẫn đến không ít hệ lụy. Ông Lý Quang Diệu ngay ngày đầu lập quốc đã thấy viễn cảnh không xa Hồng Công sẽ về Trung Quốc nên âm thầm xây dựng Singapore thay vị trí ấy của Hồng Công.

Ông thành công, nhưng ông cũng thấy trước vai trò trung chuyển các dịch vụ tài chính, hàng hải của Singapore sắp giảm, ông chuyển qua thu hút giáo dục, y tế… Những chuyến đi sau khi thôi chức Thủ tướng, cho đến trước khi qua đời không lâu ông vẫn còn làm việc này cho đảo quốc. Đó là tấm gương có tầm nhìn xa và không thỏa mãn thành quả.

Muốn tái cơ cấu kinh tế, trước hết phải tái cấu trúc mô hình hệ thống quản trị trên tinh thần dân chủ, lấy “dân là gốc”.

Nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan có lần đã nói, đại ý: “Suy thoái kinh tế thế giới thì đâu cũng bị ảnh hưởng, nhưng tại sao Lào và Campuchia không khó khăn như ta”.

Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Còn nguyên nhân kinh tế trực tiếp là do con đường huyết mạch xuyên Việt (QL 1A) chưa xong và cảng cho cánh đồng “vựa lúa” chưa có cho tàu một vạn tấn thì làm sao cả nước thoát nghèo? Người viết đã kinh qua từ xã đến tỉnh suốt 40 năm làm nông nghiệp và sống với nông dân để viết ra ra những lời tâm huyết này.

CON BẢO THẦY LÀ AI?

CON BẢO THẦY LÀ AI?

(Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (8, 27-35) thuộc Chúa Nhật 24 thường niên B)

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Hôm ấy, “Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Ngài hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai? ” Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó” (Mc 8, 27-28).

Như thế, người Do-thái đương thời không biết đích xác Chúa Giê-su là ai. Họ tưởng Ngài chính là Gio-an Tẩy Giả bị Hê-rô-đê trảm quyết nay sống lại. Có kẻ thì tưởng lầm Ngài là ngôn sứ Ê-li-a xưa kia được đưa lên trời nay lại giáng lâm. Kẻ khác thì cho rằng Ngài là một ngôn sứ nào đó.

Sau khi nghe các môn đệ cho biết dư luận quần chúng về mình, Chúa Giê-su quay sang hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? ” Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô” (Mc 8, 29).

Thế là ngoài Phê-rô, dường như chẳng ai biết được chân tướng của Chúa Giê-su. Phê-rô quả có phúc lớn vì được biết căn tính của Thầy mình.

Hôm nay, Chúa Giê-su cũng đặt lại câu hỏi nầy với mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta bày tỏ nhận định của ta về Ngài: “Về phần con, Thầy là ai đối với con?”
Thầy là Thẩm Phán khắt khe

Khi câu hỏi nầy được đặt ra với một nhóm thanh niên đang ngồi tận ngoài cổng nhà thờ sáng Chúa nhật, vừa hút thuốc vừa dự lễ, thì họ trả lời qua khói thuốc: “Đối với chúng tôi, Chúa Giê-su là một vị Thẩm Phán khắt khe, hay bắt bẻ những người phạm luật. Dù chẳng yêu mến gì Chúa Giê-su, nhưng vì sợ bị khép vào tội bỏ lễ chúa nhật, nên chúng tôi miễn cưỡng đến ngồi đây dự lễ.”

Thầy là một vị Thần Tài

Khi câu hỏi nầy được nêu ra với một số doanh nhân tất bật với việc làm ăn buôn bán, thì họ trả lời rằng: “Đối với chúng tôi, Chúa Giê-su là một ông Thần Tài. Dù chẳng yêu mến gì ổng, nhưng chúng tôi biết đối xử sòng phẳng với ổng. Nếu ổng phù hộ chúng tôi ăn nên làm ra, thì chúng tôi còn đặt ổng lên bàn thờ, có nhang đèn hoa trái hẳn hoi. Nếu ổng không giúp chúng tôi phát đạt, chúng tôi mời ổng đi chỗ khác.”

Thầy là tấm phao cứu hộ

Khi câu hỏi nầy được nêu lên với một nhóm người khác đang theo đuổi lạc thú, họ đáp: “Chúa Giê-su là ai ư? Thật tình chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến. Có lẽ khi nào chúng tôi già yếu, lâm bệnh nguy kịch, hoặc gặp gian nan khốn đốn trong cuộc đời, chúng tôi sẽ tìm đến với Ngài… Vâng, lúc đó, chúng tôi sẽ cần đến Ngài như những người đi biển gặp nạn cần đến tấm phao!”

Thế là đối với một số người, Thiên Chúa chỉ là vị Thẩm Phán khắt khe, một Thần Tài xa lạ hay đơn giản chỉ là một tấm phao cứu sinh hay là một nô bộc phục dịch con người. Đúng như lời Chúa Giê-su: “Dân nầy tôn kính Ta ngoài môi miệng còn lòng chúng thì quá xa cách Ta.” (Mc 7,6)

Thiên Chúa đau buồn biết bao khi đoàn con yêu dấu của Ngài nhận định về Ngài như thế.

Khi thấy dân chúng chẳng hiểu căn tính của mình, ngay cả các môn đệ cũng chẳng biết Đấng Ki-tô là ai, Chúa Giê-su liền bày tỏ cho họ biết Ngài chính là Đức Ki-tô, nhưng không phải là một “Đức Ki-tô vinh thắng” chinh phục các lân bang và báo thù cho dân riêng của Chúa như người Do-thái mong đợi, nhưng là một “Đức Ki-tô nhẫn nhục” hiến mạng sống mình chết thay cho muôn dân. Ngài tỏ cho môn đệ biết: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31).

Ước gì, đừng có ai trong chúng ta xem Chúa là thẩm phán khắt khe để rồi đến với Chúa vì sợ hình phạt chứ không vì lòng yêu mến; thờ Chúa như Thần Tài để xin ân huệ mà thiếu lòng yêu mến; xem Chúa như tấm phao và chỉ tìm đến Chúa khi gặp gian nan nguy khốn.

Dostoyevsky, văn hào vĩ đại nhất của nước Nga vào thế kỷ 19, đã tôn Đức Giê-su làm Thần Tượng của mình và đã tuyên xưng:

“Đối với tôi, không có gì đẹp đẽ, sâu  xa, dễ mến, hợp lý và hoàn hảo cho bằng Đức Ki-tô, và hơn thế nữa, dù có ai chứng minh với tôi rằng Đức Ki-tô ở ngoài chân lý, thì tôi không ngần ngại chọn ở lại với Đức Ki-tô hơn là chiều theo chân lý” ( Thư gửi bà Von Vizine ).

Lạy Chúa Giê-su,

Nếu hôm nay Chúa đến và hỏi: Về phần con, con bảo Thầy là ai, thì con xin thưa:

Chúa là Đấng đã nộp mình chịu chết để đền tội cho con. Chúa đã hy sinh đời mình cho con được sống. Chúa là Đấng yêu thương con hết lòng hết sức trên hết mọi sự.

Vì thế, con xin chọn Chúa làm Thần Tượng của đời con. Con xin dành chỗ nhất cho Chúa trong trái tim con.

Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-09-04

Thất nghiệp và nghèo đói làm gia tăng đội ngũ cửu vạn Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

cuu-van-622.jpg

Cửu vạn đợi hàng để chở – Với mỗi kg hàng kéo thuê thế này họ sẽ được trả hai ngàn đồng.

RFA PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Nạn buôn lậu không phải mới có; nhưng vấn đề mà chúng tôi muốn nói ở đây là đội ngũ cửu vạn đã gia tăng một cách bất thường bởi nạn thất nghiệp và nghèo đói. Điều này dẫn đến tình trạng cửu vạn liều lĩnh, chấp nhận mọi nguy hiểm để kiếm đủ tiền mua gạo mỗi ngày. Đây cũng là cơ hội để dân buôn lậu hoành hành, chèn ép cửu vạn và chấp nhận mất hàng nếu bị bắt vì lấy số nhiều làm lãi. Có thể nói rằng biên giới Việt – Lào ở Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị là cái ổ buôn lậu lớn hiện nay.

Mất mùa và thất nghiệp

Những trận gió Lào gay gắt cùng lổn ngổn các công trình xây dựng mọc lên từ những đám ruộng đã đẩy người nông dân lùi dần vào thất nghiệp và chán chường. Nếu như các công trình xây dựng, các dự án đã dần cắt nhỏ, thu hẹp đám ruộng của người nông dân thì gió Lào cùng cái nóng như thiêu như đốt, khô hạn đã làm cho người nông dân hoàn toàn tuyệt vọng trên đám ruộng của họ. Họ buộc phải chọn tha phương cầu thực hoặc lây lất giữa quê nhà.

Người được cấp hai sào lận. Bây giờ người ta dồn điền đổi thửa, mình còn ruộng ít hơn. Gió Lào mình cũng ít sợ so với nước lụt, sợ không phơi được lúa. Nhưng gió Lào cũng ghê lắm, gió mà không mang hơi nước, cây cối khô hết…
-Chị Hồ Thị Lùng

Chọn công việc nặng nhọc, nguy hiểm như khuân vác hàng lậu, còn gọi là cửu vạn cũng là một phương cách cứu đói của các nông dân mất ruộng hoặc mất mùa. Đặc biệt là các nông dân, thợ rừng đồng bào thiểu số Vân Kiều, Pa Kô. Chị Hồ Thị Lùng, dân tộc Vân Kiều, hiện trú ở Hướng Nghiệp, Hướng Hóa, chia sẻ: “Người được cấp hai sào lận. Bây giờ người ta dồn điền đổi thửa, mình còn ruộng ít hơn. Gió Lào mình cũng ít sợ so với nước lụt, sợ không phơi được lúa. Nhưng gió Lào cũng ghê lắm, gió mà không mang hơi nước, cây cối khô hết…”

Theo chị Lùng, hiện nay, số lượng người đồng bào thiểu số tham gia làm cửu vạn, bốc hàng thuê cho các chủ buôn lậu tại Khe Sanh, Hướng Hóa có thể lên đến hàng ngàn người. Họ không đồng loạt làm việc mà luân phiên theo thứ tự trong tuần. Bởi quá nhiều cửu vạn nhưng có ít chủ buôn lậu nên các chủ buôn chia làm ba phiên để cửu vạn khỏi bị thiệt thòi.

Nghĩa là trong một tuần có sáu ngày, bỏ ngày đầu tuần vì đây là ngày công an biên phòng và bộ đội biên phòng giao ban, họ sẽ làm việc gắt gao. Những ngày khác, cứ mỗi nhóm được làm việc hai ngày, sau đó đến nhóm khác, ba nhóm chia nhau làm việc trong sáu ngày. Mỗi ngày, nếu bốc vác cật lực người ta sẽ kiếm được từ 150 ngàn đồng đến 200 ngàn đồng. Đối với nông dân nghèo, quen chịu khổ, hai trăm ngàn đồng là một con số mơ ước. Chính vì vậy không ai bỏ qua cơ hội này.

cuu-van-400.jpg

Ngày càng nhiều người dân nơi đây làm cửu vạn thồ hàng lậu vì mất mùa dẫn đến đói, nghèo. RFA PHOTO.

Như vậy, nếu chia đều trong một tháng, mỗi cửu vạn sẽ kiếm được một triệu sáu trăm ngàn đồng nếu siêng làm việc và mọi chuyện suông sẻ. Thời gian còn lại, người ta sẽ đi hái măng rừng hoặc kiếm củi rừng để bán thêm. Tính ra thu nhập cao hơn rất nhiều so với việc bám đám ruộng khô cằn mà không biết cuối mùa sẽ ra sao.

Trường hợp không may mắn, nếu như bị bắt hàng, mất hàng do bỏ chạy, chủ hàng sẽ trừ tiền để đền hàng, thường thì chủ hàng chịu 50% và cửu vạn chịu 50% giá trị gùi hàng. Nếu mất hàng, có khi tiền khuân vác cả tháng chỉ đủ để bù vào gùi hàng. Chính vì vậy mà bằng mọi giá, cửu vạn phải băng rừng, luồn lách để mang hàng về đúng điểm tập kết. Bởi mỗi ký lô hàng khuân vác chỉ được trả từ hai ngàn đồng đến ba ngàn đồng. Trung bình, một người siêng năng, khỏe mạnh, mỗi ngày phải gùi đủ một trăm ký lô hàng lậu băng rừng về đến điểm tập kết thì kiếm được hai trăm ngàn đồng.

Với một phụ nữ quen làm việc trong rừng, quen vác củi và chịu đựng mưa nắng, chị Lùng nói rằng mỗi lần gùi, chị có thể gùi được từ bốn chục đến năm chục ký lô hàng. Thường là hàng điện tử hoặc các loại nhu yếu phẩm, nếu là thuốc lá thì không thể gùi được khối lượng như vậy vì hàng nhẹ, kềnh càng, mỗi lần gùi có thể hai chục hoặc ba chục ký lô. Nhưng bù vào, hàng thuốc lá lậu được trả đến bốn ngàn đồng trên mỗi ký nên dân cửu vạn rất ưa được khuân vác thuốc lá.

Khối lượng hàng lậu khổng lồ

Một cửu vạn khác tên Hồ Văn Tính, người dân tộc Pa kô, chia sẻ thêm: “Gió Lào thì từ tháng tháng Ba đến tháng Sáu, nó làm khô hết ruộng nương, rừng rẫy. Bữa nay bắt đầu mùa mưa rồi đây. Năm nay thì mưa cũng mưa bình thường chứ chưa mưa lụt to như mấy năm đâu, bởi mùa mưa mới bắt đầu…”

Gió Lào thì từ tháng tháng Ba đến tháng Sáu, nó làm khô hết ruộng nương, rừng rẫy. Bữa nay bắt đầu mùa mưa rồi đây. Năm nay thì mưa cũng mưa bình thường chứ chưa mưa lụt to như mấy năm đâu, bởi mùa mưa mới bắt đầu…
-Ông Hồ Văn Tính

Theo ông Tính, nếu tính khối lượng hàng hóa mỗi ngày tuồn qua đường rừng, xuyên về Việt Nam có thể lên đến hàng chục tấn, thậm chí vài chục tấn. Bởi lấy số lượng cửu vạn nhân với số lượng hàng hóa của anh ta/chị ta khuân vác được thì sẽ biết ngay lượng hàng lậu đi vào Việt Nam mỗi ngày.

Ông Tĩnh cho biết thêm là hàng hóa tuy từ bên Lào tuồn sang Việt Nam nhưng lại có gốc gác Trung Quốc là chủ yếu. Hầu hết hàng hóa Trung Quốc sản xuất tại một số điểm bí mật ở các vùng thôn quê tại Lào đều được đưa sang Việt Nam theo cửa khẩu Quảng Trị. Nghĩa là không như trước đây, hàng hóa Trung Quốc sản xuất tại Trung Quốc. Hiện tại, một số đầu nậu, nhà sản xuất hàng lậu của Trung Quốc sang Lào thuê mặt bằng, thuê nhân công để sản xuất một số mặt hàng như trứng gà, vỏ lốp xe, bàn ủi, linh kiện điện tử và đặc biệt là đồ chơi trẻ em.

Trong dịp Tết Trung Thu này thì người ta sản xuất bánh Trung Thu và đồ chơi trẻ em nhiều nhất. Ngày nào cửu vạn cũng chuyển sang Việt Nam từ vài tấn đến hàng chục tấn bánh Trung Thu do các chủ người Trung Quốc sản xuất tại đất Lào. Và số lượng đồ chơi trẻ em được chuyển sang Việt Nam thì nhiều vô kể, không thể kiểm soát được.

Theo ông Tính, hầu hết hàng hóa Trung Quốc không có nhãn mác, không có xuất xứ rõ ràng đều có địa điểm sản xuất tại đất Lào, khác xa với người ta tưởng là Trung Quốc sản xuất các loại hàng này tại Trung Quốc. Đương nhiên không loại trừ số lượng hàng hóa khổng lồ từ Trung Quốc cũng không có nhãn mác tuồn sang Việt Nam. Nhưng hiện tại, có vẻ như hàng hóa Trung Quốc sản xuất trên đất Lào, không có nhãn mác chảy sang Việt Nam theo đường hàng lậu đang phát triển cao, khó mà kiểm soát được số lượng cũng như mức độ nguy hiểm của nó.

Và cũng theo ông Tính, hầu hết nông dân nghèo khổ ở các huyện trong tỉnh Quảng Trị đều đổ xô về Hướng Hóa để làm cửu vạn chứ không riêng gì các nông dân của các tộc người thiểu số hoặc các nông dân bị mất đất mới tham gia công việc này mà hầu hết những người có thu nhập thấp đều tìm đến làm cửu vạn. Bởi nghề khuân vác, cửu vạn như một lối thoát của nạn thất nghiệp, mất đất và mất mùa tại đây. Cái nghèo đã đưa chân người nông dân đến với công việc này!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Một xã hội ổn định với những khối ung thư tiềm ẩn

Một xã hội ổn định với những khối ung thư tiềm ẩn

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-03

09032015-cover-up-instability.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Những người dân oan có mặt tại Hà Nội bắt đầu xuống đường diễu hành biểu tình lớn, kéo vào trung tâm TP Hà Nội với sự tham gia của gần 1000 người phản đối bản án của bà Cấn Thị Thêu.(tháng 11, 2014)

Những người dân oan có mặt tại Hà Nội bắt đầu xuống đường diễu hành biểu tình lớn, kéo vào trung tâm TP Hà Nội với sự tham gia của gần 1000 người phản đối bản án của bà Cấn Thị Thêu.(tháng 11, 2014)

File photo

Chính quyền Hà Nội luôn cho rằng xã hội Việt Nam hiện đang rất ổn định, đặc biệt mỗi khi xảy ra những bất ổn ở những nước trong khu vực như đánh bom, biểu tình quần chúng…

Thực chất có đúng thế không hay đang có rất nhiều mầm mống bất ổn trong nước?

Những vụ ‘chém giết’

Vào mấy tháng gần đây truyền thông trong nước loan tin một số vụ thảm sát được mô tà là ‘kinh hoàng’ như vụ giết chết 6 người trong một gia đình tại Bình Phước; rồi vụ cả 4 người trong một nhà bị giết giữa rừng ở Nghệ An, chuyện thảm sát ở Khe Sanh, Quảng Trị; rồi ở huyện Chư Prong tỉnh Gia Lai mới hôm ngày 23 tháng 8, hung thủ dùng dao chém chết 4 người và làm bị thương 3 người…

Dân tiếp tục kêu oan

Hiện nay tại Hà Nội nhiều người dân từ các địa phương khắp nơi trên cả nước thường xuyên tập trung với những biểu ngữ kêu oan về những hành xử của chính quyền địa phương đối với họ trong nhiều năm qua.

Một cựu tù nhân bị bắt và bỏ tù khi quay lại cảnh cưỡng chế trái luật của cơ quan chức năng, bà Cấn Thị Thêu, cho biết lý do vì sao họ phải liên tục đến các cơ quan công quyền trung ương tại Hà Nội để khiếu kiện:

“ Họ cướp hết đất của chúng tôi, chúng tôi đi kiếu kiện 7 năm trời theo đúng chính sách, pháp luật của nhà nước; nhưng họ cứ ‘dưới đùn lên, trên đùn xuống’ không giải quyết cho chúng tôi. Chúng tôi không còn cách nào nữa: đòi một ngày không được, chúng tôi phải đòi hai ngày, 1 tháng không được, phải đòi 2 tháng… Chúng tôi sẽ tiếp tục đi đòi cho đến khi nào họ trả lại quyền lợi cho chúng tôi, chúng tôi mới dừng đấu tranh.

Họ cướp hết đất của chúng tôi, chúng tôi đi kiếu kiện 7 năm trời theo đúng chính sách, pháp luật của nhà nước; nhưng họ cứ ‘dưới đùn lên, trên đùn xuống’ không giải quyết cho chúng tôi

bà Cấn Thị Thêu

Chúng tôi nghĩ họ thể hiện bản chất ăn cướp của họ: cướp hết đất của chúng tôi, đẩy chúng tôi vào cảnh nghèo đói, cùng quẩn; này họ cho rằng chúng tôi đi như thế là mất cảnh quan đô thị, mất vệ sinh. Điều đó theo tôi cho thấy họ không suy nghĩ gì đến người dân chúng tôi cả, họ chĩ lo vơ vét cho đầy túi tham của họ, bỏ mặc người dân sống đói nghèo, lay lắt! Đó là điều mà chúng tôi căm thù, lên án họ.

Chúng tôi mong muốn những bà con trong và ngoài nước cùng chúng tôi lên án những hành vi, hành động phi pháp của nhà nước Việt Nam gây ra tội ác, đẩy chúng tôi đến cảnh phải khổ thế này: bị tù oan sai, bị đánh đập, bị mất hết tư liệu sản xuất. Chúng tôi mong muốn tất cả bà con giúp đỡ nhân dân chúng tôi.”

Nhiều lần cơ quan chức năng các địa phương đã đến tại thủ đô đưa người dân về lại quê quán của họ. Cơ quan chức năng cho rằng người dân đi khiếu kiện là gây mất vẻ mỹ quan của thành phố, gây bất ổn xã hội. Tuy nhiên ngày càng có nhiều người vì bị đối xử bất công, vụ việc của họ không được giải quyết theo đúng pháp luật của chính quyền Hà Nội đưa ra nên họ cho rằng chính hành xử của cơ quan công quyền mới là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn trong xã hội.

Người dân biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải cũng bị đánh đập bắt bớ

Người dân biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm lãnh hải cũng bị đánh đập bắt bớ

Nhận định thực tế

Ông Vũ Văn Luân, tổng thư ký Liên chi hội Nuôi trồng thủy sàn Nước lợ huyện Tiên Lãng, người được cựu tù nhân Đoàn Văn Vươn ủy quyền đứng đơn một số vụ kiện khi ông này đang ở trong tù, đưa ra nhận định về nguyên nhân dẫn đến những bất ổn tại Việt Nam như sau:

“Theo như Mác nói, một xã hội phát triển phải có những yếu tố: dân chủ và phân chia quyền lực. Dân chủ để phản biện và phân chia quyền lực để giám sát. Nhưng xã hội Việt Nam không học theo Mác nên sự độc quyền cực lớn: độc quyền nhà nước và tham nhũng. Việt Nam đang rơi vào 2 cái ‘bẫy’ này.

Tôi khẳng định nếu không có báo chí tư nhân thì không có tiếng nói phản biện của người dân trong xã hội này. Nếu không có tiếng nói phản biện thì không thể nào tìm được một hình ảnh và một gương lãnh đạo tốt cho xã hội.”

Còn theo cựu tù nhân lương tâm, mục sư Nguyễn Trung Tôn ở Thanh Hóa, thì sự ổn định hiện nay ở Việt Nam chỉ là giả tạo:

Khi nói đến bất ổn xã hội có thể bằng cách đánh giá này, đánh giá kia; nó không chỉ thể hiện trên bề nổi mà có thể là những tảng băng ngầm, như những khối ung thư tiềm ẩn trong lòng xã hội

mục sư Nguyễn Trung Tôn

“ Khi nói đến bất ổn xã hội có thể bằng cách đánh giá này, đánh giá kia; nó không chỉ thể hiện trên bề nổi mà có thể là những tảng băng ngầm, như những khối ung thư tiềm ẩn trong lòng xã hội. Ví dụ như khi người dân đến ủy ban nhân dân xã, công an xã để làm việc, trong tâm thức, suy nghĩ của họ luôn ẩn chứa sự sợ hãi vì công quyền Việt Nam nhiều khi làm việc không căn cứ trên cơ sở pháp luật. Vừa dùng luật pháp vừa dùng luật rừng; khi nào không dùng được luật pháp, họ sử dụng đầu gấu, luật rừng để ép người dân phải đồng thuận, chấp nhận vào một số điều họ không đồng ý.

Đó là sự bất ổn xã hội trầm trọng, nó như một khối ung thư, một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Không phải là nổ bom chỗ này, bắn giết người chỗ kia mà cho là bất ổn mà khi ý thức của người dân đầy đủ thì họ khắc phục được những hậu quả đó, xã hội vẫn phát triển và người dân vẫn bảo đảm được những quyền lợi chính đáng của họ.

Còn ở Việt Nam, tuy rằng họ dùng tất cả mọi biện pháp để trấn áp không để những vụ việc xảy ra trên mặt bề nổi, nhưng lại âm thầm cho phép sự ra tay của xã hội đen làm cho bất ổn xảy ra âm thầm, ngấm ngầm và triệt tiêu đi tinh thần, ý chí của người dân; làm cho người dân trở nên những người luôn mang trong mình sự sợ hãi. Thậm chí triệt tiêu đi ý thức tranh đấu làm cho người ta trở nên nhu nhược.

Đó là sự bất ổn có thể giết chết cả một thế hệ, một dân tộc trong tương lai.”

Một người từ Quảng Nam, mục sư Lưu Văn Kiều, cũng có nhận định về tình hình hiện nay ở Việt Nam:

“ Thực ra đây là sự im lặng trước cơn bão. Khi gặp những người nông dân ‘dốt chữ’ mới nghe họ nói, nghe họ phản ứng như thế nào về chính quyền, về đảng cộng sản, về cuộc sống hiện tại thì mới thấu được tình hình. Nên như tôi nói đây là sự yên lặng trước cơn bão. Chắc chắn sẽ bùng phát. Đã là một lò thuốc súng rồi thì vấn đề chỉ cần có một ngòi nổ. Theo tôi nghĩ phải có một phong trào, bắt đầu từ tự phát. Sự tự phát không làm được gì nhưng nó khích lệ tinh thần của một số con người, một số sự kiện mà khi có sự kiện xãy ra rồi thì với ‘điểm nóng’ đó vô tình những sự kiện trước đó khích lệ cho họ và sẽ có một ngòi nổ lớn.”

Nhiều người trong nước thừa nhận họ rất bất an trong tình hình hiện nay. Tất cả mọi thành phần đều là đối tượng của những mối đe dọa hiện diện tại nhiều nơi; trong khi đó chính quyền luôn nhắc rằng ‘đa nguyên, đa đảng’ và dân chủ như những quốc gia khác là ‘quá trớn’; như thế sẽ dẫn đến những vụ đánh bom, phá hoại chứ không ‘bình lặng’ như ở Việt Nam.

Series “NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT”

Series “NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT”

“Người về tiên cảnh hồn thanh thản,

Kẻ ở dương gian, dạ ngậm ngùi”.

Bạn có người thân mới qua đời?  Hoặc sắp qua đời?  Bạn thấy đau khổ và thương nhớ họ?  Bạn muốn biết có “đời sau” chăng và đời sống ấy ra sao?  Mời bạn xem một số các video clips mà Hội Hồng Ân mới chuyển ngữ từ những chứng từ của một số người “Từ Cõi Chết Trở Về”.  Họ thấy gì?  Nghe gì? Gặp được ai… ở đó?

Những người “chết đi sống lại” hay còn được gọi là “cận tử” là những người đã chạm mặt với Tử Thần, có nhiều người bác sĩ đã phải bó tay và tuyên bố họ đã chết, nhưng họ đã “sống lại” khiến cho mọi người kinh ngạc. Họ gồm đủ mọi lớp người, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, tuổi tác, chủng tộc, …

Và điều quan trọng hơn cả là sau khi được “chết đi, sống lại”, các người này đều đã thay đổi cách sống của họ.  Họ trở nên tốt hơn, yêu thương gia đình và người chung quanh hơn. Họ đều cảm nhận mình có một sứ mạng mới để làm trong cuộc đời này trước khi được bước sang cuộc song đời sau.  Vì thế, những “Người về từ cõi chết” này đã luôn tìm cơ hội để nói cho mọi người biết đâu là ưu tiên trong cuộc sống và  việc chuẩn bị đời này thế nào để bước vào đời sau trong hạnh phúc.  Nhiều người đi khắp nơi thuyết trình về sứ mạng mới này của họ, cũng như được nhiều đài Tivi phỏng vấn và đóng thành phim tài liệu.

LƯU Ý:

Các trải nghiệm cận tử này không phải là những gì buộc chúng ta phải tin, vì nó chỉ là những cảm nghiệm riêng tư của các cá nhân. Hội Hồng Ân hoàn toàn tin và tuân phục các giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.  Các đoạn phim được trình bày là nhằm giúp cho chúng ta tin rẳng có đời sau và thanh thản bước vào cái chết như KinhTiền Tụng trong Thánh Lễ Cầu Hồn: “Đời song con người thay đổi chứ không mất đi”, và Chúa phán: “Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống”, “Chúa là Tình Yêu”, “Chúa là Ánh Sáng”…

Hội Hồng Ân mong sao cho mỗi người chúng ta biết sống và biết yêu thương nhau hơn trong cuộc hành trình về quê trời.  Hay tin tưởng vào Chúa và Lòng Thương Xót Chúa. Sau cuộc đời này, chúng ta bước vào cuộc sống với Thiên Chúa, nên không có gì phải sợ hãi khi bước qua ngưỡng cửa
đó.

Và sau hết, Hội Hồng Ân xin mượn lời 1 “Người về từ cõi chết” chia sẻ như sau: “Tất cả mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là thật. Chúa yêu thương mỗi người và mọi người chúng ta và luôn ở bên ta, dự phần vào cuộc đời của mỗi chúng ta.  Tình yêu đó là tất cả. Nếu chúng ta thực sự đón nhận điều đó, nó sẽ thay đổi tất cả. Nó thay đổi cách bạn nhìn từng khoảnh khắc trong ngày. Chân lý về sự sống sau cái chết làm thay đổi sâu sắc cái cách mà bạn đón nhận từng khoảnh khắc trong cuộc đời mình.” (Dr. Mary Neal, Người chết hụt khi bơi thuyền)

Video #1: NGHIÊN CỨU VỀ TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA DR. JEFFREY LONG (15 phút)

(Đây là clip tổng quát nhất, cho ta khái niệm chung về những gì các người “chết đi, sống lại” được trải nghiệm – nên xem đầu tiên, trước khi xem các clips khác)

Bác sĩ Jeffrey Long, chuyên môn về Xạ Trị Ung Thư, đã đối diện với nhiều bệnh nhân mà các bác sĩ đã bó tay, tưởng rằng họ đã chết, nhưng rồi họ đã sống lại.  Vì thế, ông đã bắt đầu nghiên cứu về những trải nghiệm cận tử của hơn 1,300 trường hợp, và nhận ra sự thống nhất về những chi
tiết của các trải nghiệm, không phân biệt quốc gia, văn hoá, tôn giáo, nghề nghiệp, tuổi tác…

https://www.youtube.com/watch?v=wEWfXl2gCCA

Video #2a & #2b: 90 PHÚT TRÊN THIÊN ĐÀNG (2 tập; 11
phút mỗi tập)

Mục Sư Don Piper bị xe vận tải 18 bánh chạy ngược chiều đụng trong một ngày mưa to.  Các nhân viên cấp cứu đã đến khám nghiệm, và thấy rằng ông đã chết.  Nhưng 90 phút sau, chuyện bất ngờ đã xẩy ra…

https://www.youtube.com/watch?v=blW9kYd2e2w

https://www.youtube.com/watch?v=XfOalmOko3Q

Video #3: TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA CHÁU BÉ CHẾT ĐUỐI (6 phút)

Cháu bé Kristle Merzlock 7 tuổi, chết đuối và được cứu sống;
và khi đang mê man, cháu vẫn “nhìn” thấy được những gì đang xẩy ra trong phòng cấp cứu và đã mô tả lại sau đó, khiến bác sĩ phải hết sức kinh ngạc…

https://www.youtube.com/watch?v=fMY8a8Taopw

Video #4: CẬU BÉ 3 TUỔI VÀ NHỮNG HÌNH ẢNH Ở THIÊN ĐÀNG (7 phút)

Chết hụt vì bị bể ruột dư, cậu bé Colton Burpo, 3 tuổi, đã có cơ hội được lên Thiên Đàng, gặp Chúa Giêsu, gặp người chị gái mà cậu chưa hề biết mặt và chưa hề được
nghe kể (mẹ cậu bị xẩy thai).  Cậu còn thấy ông nội ra đón, được nghe ông kể chuyện ngày xưa… làm cha mẹ của bé hết sức kinh ngạc!

https://www.youtube.com/watch?v=AFKNiE1pJVA

Video #5: BÁC SĨ NỔI TIẾNG VỀ TIM, LLOY RUDY, KỂ VỀ VÀI TRƯỜNG HỢP “CHẾT ĐI SỐNG LẠI” (13 phút)

Bệnh viện là nơi phải chứng kiến những cảnh thương tâm nhất khi con người phải đối diện với tử thần, nhưng cũng là nơi có những trường hợp “bất hường” mà các bác sĩ không thể nào giải thích được; ví dụ như trường hợp mà bác sĩ Rudy kể lại, là bác sĩ đoàn phải bó tay và tuyên bố người bệnh đã chết trên bàn mổ, nhưng rồi anh đã sống lại và kể về những gì đã nghe, đã thấy khi các bác sĩ cho rằng anh đã chết…

https://www.youtube.com/watch?v=ksanwMAEKWE

Video #6: BƯỚC THANG LÊN THIÊN ĐÀNG (4 phút)

Deerinda Lowe bị xe vận tải 18 bánh đụng phải. Chân tay cô đều bị gẫy và còn bị nội thương nghiêm trọng.  Các bác sĩ không hy vọng cô có thể qua khỏi…

https://www.youtube.com/watch?v=9eOZsqjVG7k

Video #7: VIẾNG
THĂM THIÊN ĐÀNG CỦA DR. MARY NEAL
(8 phút)

Bác sĩ Mary Neal là chuyên gia phẫu thuật chỉnh hình, đã bị chết đuối trong lần đi nghỉ hè cùng chồng tại Chile. Cô bị chìm dưới nước khoảng 15 đến 25 phút, rồi được cứu sống.  Cô đã được các thiên sứ vui mừng ra chào đón và đưa đến gặp Chúa. Cô đã rất hạnh phúc ở đây và muốn ở lại, nhưng Chúa cho biết là cô có sứ vụ khác trong cuộc sống…

https://www.youtube.com/watch?v=_mNGG66i4jU

Video #8: TIẾNG GỌI CẢNH TỈNH TỪ ĐỊA NGỤC (5 phút)

Sau khi tốt nghiệp Trung Học, anh Carl Knighton nhập ngũ
và lấy vợ.  Cả 2 việc đều thất bại.  Hôn nhân tan vỡ.  Anh đào ngũ và bắt đầu sa đà vào ma túy.  Trong 1 lần hút
Cocaine, uống rượu và dung thêm vài loại ma tuý khác, anh đã chạm mặt với tử thần và rơi vào Hoả Ngục…

https://www.youtube.com/watch?v=FNvToi7rMoc

Video #9: TRẢI NGHIỆM CẬN TỬ CỦA BÁC SĨ PHẪU THUẬT ÓC, DR. EBEN ALEXANDER (8 phút)

Bác sĩ Eben Alexander, với 20 năm chuyên môn về mổ óc, là người của Khoa học và Y học, lại đã phải đối mặt với tử thần vì chứng bệnh về … óc: viêm màng não cấp tính.
Khi các bác sĩ phải bó tay thì hồn của ông đã bước vào Thiên Đàng, một thế giới kỳ diệu.  Và kinh ngạc hơn nữa, vì ông gặp được người em gái đã qua đời ra chào đón, người mà ông chưa từng biết mặt…

https://www.youtube.com/watch?v=CuRckswncO4

Video #10: BÉ GÁI 13 TUỔI CHẾT VÌ SÉT ĐÁNH (12 phút)

Cô bé Jennifer, 13 tuổi, bị sét đánh trúng trong một ngày
mưa gió bão bùng, khiến tim cô ngừng đập. Cô đã được đến 1 nơi mà cô mô tả là rất bình an và rất đẹp…

https://www.youtube.com/watch?v=mQMN4P5cB0E

Nếu muốn coi lần lượt cả 10 videos, xin bấm vào playlist này:

https://www.youtube.com/playlist?list=PLSEAe_FeuB6UiiacLc3OO86KMko3Ep5ka

“Chúa trồng con ở đâu, con nở  hoa ở đó”

“Bloom where God plants you”

St.Francis de Sales

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Đêm xuống dần, giọt sương rơi trên áo anh,

“Đêm xuống dần, giọt sương rơi trên áo anh,”

con phố dài, bàn chân anh qua lặng lẽ.

Thương nhớ người, tình yêu kia đâu dễ quên,

để trái tim xót xa cô đơn từng đêm.”
(Nhật Huy – Như Giấc Mơ Qua)

(2 Phêrô 3: 14-15)

Lại phải thú thật với bạn đạo và bạn đọc khắp nơi, rằng: tác giả viết nhạc bản này, đối với bạn đạo thật “là lạ”. Lạ, cả tên tuổi lẫn ý/lời của giòng nhạc, ông còn hát, như sau:

“Em với người dìu nhau đi qua con phố quen,

đâu biết rằng mình anh trông theo lặng lẽ.

Xin dối lòng để anh quên đi bóng em,

dù trái tim vẫn kêu tên em từng đêm.
Ngày n ào mình hẹn ước đắm đuối thiết tha,

mà người tình một phút đã thấy quá xa.”

(Nhật Huy – bđd)

Có lần bần-đạo đây kể lại lời vị thày dạy từng bảo: “Bà Maria Magđalêna là một nữ thừa-tác-viên năng-nổ thời của Chúa, chứ không là cô gái điếm-đàng như thánh Grêgôriô Cả giảng ở nhà thờ đâu…” thì anh bạn nghe rồi, bèn phán rằng: “Ngài là Giáo-hoàng lại được Giáo-hội phong thánh thì phải đúng hơn ông thày của bạn chứ!” 

Nhiều năm sau, bần-đạo lại khám-phá ra rằng: hồi đầu thiên-niên-kỷ thứ 3, giới khảo-cổ đã khám-phá cuốn “Tin Mừng theo thánh Maria Magđalêna”, bèn cứ “cấu bụng” mà tự nhủ: Giáo-hoàng đúng hay nhà khảo-cổ đúng đây?

Nay, đọc được ý của đấng bậc vị vọng ở chốn “chóp bu” vẫn nhắc nhở người nghe/học dạy Giáo-lý Gia-đình mỗi Thứ Tư hàng tuần, như sau:

“Thật vậy, tiếng vãn than thường được nghe thấy nhất của Kitô hữu liên-quan đến thời-gian đó là: “Tôi cần phải cầu nguyện hơn nữa…Tôi muốn làm thế nhưng tôi thường không có giờ!!!!”. Chúng ta luôn nghe như vậy.

Niềm tiếc xót này thật chân thành, vì tâm can con người luôn tìm đến nguyện cầu, dù trong vô thức; và nếu không có giờ cầu-nguyện thì họ thấy bồn-chồn khắc-khoải. Tuy nhiên, để có giờ cầu-nguyện, cũng cần vun trồng nơi tâm-hồn một tình yêu “nồng nàn” đối với Thiên Chúa đầy cảm mến.

Chúng ta hãy tự hỏi mình một vấn đề rất đơn giản. Cần phải tin vào Thiên Chúa với tất cả tâm can của mình; cần phải hy vọng rằng Ngài sẽ giúp chúng ta trong những cơn khốn khó; cần phải cảm thấy có nhiệm vụ cảm tạ Ngài. Tất cả những điều ấy đều tốt lành. Thế nhưng chúng ta cũng có yêu mến Chúa của ta không?

Ý nghĩ về Thiên Chúa có tác động chúng ta không, có làm ta bàng hoàng không, trở nên dịu dàng không? Chúng ta nghĩ đến việc công-thức-hóa Giới Luật trọng đại là thứ luật bao gồm mọi luật khác, đó là “Các người phải kính mến Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng hết linh hồn và hết sức ngươi” (Đệ Nhị Luật 6:5; Mathêu 22:37).

Công-thức này sử-dụng ngôn-từ mạnh mẽ của tình yêu, hướng về Thiên Chúa. Đó, tinh-thần cầu-nguyện trước hết là ở chỗ này. Và nếu nó ở chỗ này thì nó liên tục ở đó và không bao giờ rời bỏ đó. Ta có thể nghĩ về Thiên Chúa như Đấng âu yếm ôm lấy ta trong cuộc đời chứ không phải thứ gì khác không? Một niềm âu yếm mà không gì, kể cả chết chóc, có thể tách biệt chúng ta ra khỏi nó?”

Hay ta chỉ nghĩ về Ngài như là một Hữu-Thể cao cả, như Đấng Uy Quyền làm được mọi sự, như Vị Thẩm Phán kiểm-soát mọi hành động? Dĩ nhiên, tất cả điều này đều đúng; thế nhưng, chỉ khi nào Thiên Chúa là cảm xúc của mọi cảm xúc nơi ta thì ý nghĩ về những điều ấy mới trọn vẹn ý nghĩa.

Bấy giờ, ta thấy sung sướng, đồng thời cũng bị bối rối, vì Ngài nghĩ đến ta và nhất là Ngài yêu thương ta! Điều ấy không là những gì gây ấn tượng sao? Không ấn tượng sao, khi Thiên Chúa chăm sóc ta bằng mối tình của Người Cha? Thật là đẹp! Ngài có thể tỏ mình ra như là một Hữu Thể Tối Thượng, ban bố các Giới Luật của Ngài và chờ đợi thành quả.

Trái lại, Thiên Chúa đã và đang thực hiện một cách bất tận còn hơn như thế nữa. Ngài hỗ trợ ta trên con đường sự sống. Ngài bảo vệ, yêu thương chúng ta….” (xem Bài giáo lý Gia đình của Đức Phanxicô giảng hôm thứ Tư 27/8/15 do Cao Tấn Tĩnh chuyển dịch, www.vuisongtrenđời.com 28/8/15)

Xa lạ và khác-biệt, còn thấy cả trong nhận-định về lập-trường tư-tưởng hoặc lối sống, luôn có câu “đúng/sai”, ở trong đó. Chuyện đúng/sai, về động-thái nguyện-cầu, là chuyện của đấng bậc làm chủ giáo-hội. Đúng/sai về động thái, lại kéo theo chuyện đúng/sai về lập-trường tư-tưởng và lời lẽ của Giáo hoàng. Đó, còn là câu hỏi từ đấng bậc khác, trong dân gian, rất như sau:

“Qua nghiên-cứu, chúng ta thấy có nội-dung và lý-do chính nơi tâm-can cũng như hành-xử của những người cực-đoan.

Chuyện “tréo cẳng ngỗng” hoặc hỗ-trợ đầu tiên cho hành-xử đầy bao-lực là lời cam-kết mạnh-mẽ chấp-thuận các hành-động bạo-tàn vẫn bảo rằng: “Giả như bạo-tàn/bạo-lực không giải-quyết được vấn-đề này khác, là do bởi họ không đủ bạo-lực cần có”. Hoặc, “Con cháu của kẻ thù chúng nó giống như rắn rết, cần phải dẫm bẹp trước khi chúng phát-triển”

Chuyện thứ hai là lòng hận-thù nay mang mặc những hai hình-thức: một, chĩa thẳng vào ‘phương Tây’ hiện rõ nơi cam-kết như thể bảo: ‘khủng bố theo cách hình-thức tra-tấn dã-man và hành-quyết mà không cần toà xử được nhiều nước Tây phương đã và đang áp-dụng hằng ngày. Lối diễn-tả hận-thù khác nữa lại là niềm tin chung chung nghĩ rằng thế-giới ngày nay đang trở nên đốn-mạt cùng cực.

Và, nội dung cuối cùng của sự việc này, là: lấy cớ để bào-chữa. Dù ta có rất nhiều kiểu để tạo cớ làm điều này khác, đặc-trưng thông thường của nhiều người lại vẫn là việc biện-minh cho đầu óc thiển-cận, đầy ác-ý lẫn bạo-tàn của mình. Ở một số trường hợpcó người lại còn viện vào Thượng-Đế hoặc Thiên-Chúa trong lúc có khi chỉ là hành-động của một kẻ tin thực tình ở sự việc, chứ không là hành-động mang tính khủng-bố/bạo-lực chút nào hết.

Tâm-địa của đám người cực-đoan được định-hình trong các điều-tra/nghiên-cứu phần đông là ở dân chúng nói chung, chứ không phải nơi những người sử-dụng bạo-lực. Nói chung, thì: tâm-bệnh vẫn không là yếu-tố tạo nguyên-nhân trong các vụ khủng-bố dù cho đó có thể là những dấu-hiệu của sự cố có thể thấy được ở vài trường-hợp.

Là cá-thể, ta vẫn có tâm-trạng hoặc lập-trường khác-biệt đến độ ta có quyền đồng-thuận hay không với cam-kết ấy. Nói chung thì, sự khác-biệt ở nhiều dạng-thức khác nhau vẫn được định-hình nơi hành-xử của nhiều nhóm/phái rất khác nhau. (X. Lazar Stankov, The Making of a Militant Extremist, Australian Catholic University Insight 14: Mùa Đông 2015, tr. 4-5)

Lập trường của vị giáo-sư thần-học ở Đại-học Công-giáo Sydney, thì như thế. Thế nhưng, sự khác-biệt thấy rõ hơn cả là lập-trường/hành-xử của Đức Phanxicô lâu nay từng tỏ lộ. Nay đề-nghị bạn đề nghị tôi, truớc khi nghe thử một bài nhận-định về sự khác-mà-không-biệt của vị Giáo Chủ  năng-nổ xem thế nào, ta trở lại với nhạc-bản ở trên mà hát thêm, rằng:

“Em như giấc mơ đi qua đời ta,

rồi từng đêm gây nên bão tố.
Người về lòng còn nhớ

những phút đã qua,

đời làm mình lạc lối

giữa những xót xa.

Em như cánh chim

đi qua đời ta

rồi về vui với người xa lạ.”

(Nhật Huy – bđd)

“Vui với người xa lạ”, còn là động-thái cùng quan-điểm của vị chủ-chăn cả một giáo-hội, được đấng bậc nọ ở nước Bỉ, có nhận-xét như sau:

“Đức Gian 23, là đấng bậc chủ-quản Giáo-hội mở ra Công đồng Vatican 2 lại đã nhấn-mạnh vào thuốc viên “từ bi” để chữa trị mọi bệnh. Trong khi đó, Đức Phanxicô lại có lập-trường biệt-lập cả về Niềm Vui Tin Mừng lẫn Nỗi Mừng của Từ Bi…

Lâu nay đức đương kim Giáo chủ tạo được sự hỗ-trợ ở văn-bản thần học giải-phóng có từ các vị chủ-quản ở Argentina ngang qua các thần-học-gia như Juan Carlos Scanone, Lucio Gera và Rafael Tello; và nhất là từ tài-liệu cuối xuất tự buổi họp Hội Đồng Giám-mục Châu Mỹ La-tinh tại Aparecida, nơi ngài là người tường-trình và cũng là đồng tác-giả.

Mới đây, nhiều vị trong Giáo-hội lại đã chê-trách quan-điểm của Bộ Trưởng Bộ Tín Lý/Giáo điều, tức Hồng y Muller. Vị này từng bảo: Đức Hồng Y Bergoglio (nay là Giáo hoàng Phanxicô) không là giáo-sư thần-học và cũng chẳng suy-tư theo kiểu có cấu-trúc hẳn-hòi như một thần-học-gia. Hồng y Muller khi ấy còn cho biết: Bộ Giáo Lý Đức Tin nay có trọng trách tác-tạo hiệp-nhất niềm-tin có cấu-trúc. Cũng từ đó, Hồng Y Muller lại chứng-tỏ điều này: quyền-bính do Hồng Y Ottaviani (tức Giáo Hoàng Piô 12) vào tháng ngày trước khi có Vaticăng 2. Và từ đó, Toà thánh lại đã tạo được uy-quyền vượt bực, hết mức.

Đức Phaolô Đệ Lục sau đó mới giảm thiểu quyền này một cách đáng kể và thay đổi tên gọi của Bộ này từ Thánh Bộ Bí Tích Tối Cao thành một bộ khác. Rồi đến 1988 qua Hiến chế Pastor Bonus, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị lại tái-tạo uy-lực và quyền-hạn của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin. Đức Bênêđíchtô 16 lại củng cố Bộ này, ít nhất là bổ-nhiệm Đức Hồng Y làm đầu thánh bộ này. Đức Hồng Y Burke thuộc Toàn Án tối cao Rota từng gọi Giáo hội hiện nay là con thuyền không người lái vì thiếu cấu-trúc. Hồng Y Muller và Burke đã cho phép báo La Croix phỏng-vấn về vấn-đề này.

Điều đáng nói ở đây, là có giả-định rằng: việc trình-bày niềm tin liên-kết rất cấu-trúc rất cần-thiết cho sự lành mạnh và hiệu-năng của Giáo-hội. Sự đoàn-kết có cấu-trúc đã thành-hình trong một thời-gian rất lâu chiếu theo các ý-niệm có với một châu Âu cằn cỗi, từ chủ-thuyết DesCartes và triết-lý của người Đức.

Trong lần bàn cãi về thần-học giải-phóng của Châu Mỹ La-tinh, Hồng y Muller đã theo con đường này. Nền thần-học ấy nhìn trước tiên vào toàn-bộ thực-tế sống-động của dân Chúa và sau đó vào những gì được Tin Mừng nói về các tình-trạng thực-tế như thế. Thần-học ấy chào đón mọi tầm-nhìn hướng về chân trời này. Cảnh-trí đầu tiên để ra cho thực-tế sống của dân ở đây chính là gia-đình. Và, Hồng Y Muller là một trong các học-giả kinh-điển từng chú-ý nhiều về thần-học giải-phóng. Nhưng, nếu gọi đó là có được uy-lực quyền-bính để giải-định công việc của Giáo-hoàng, thì ngài đã vượt quá lằn ranh đỏ, rồi…

Việc bố-trí đặt để điều này cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trải qua nhiều thập-niên trước, là sự tranh-luận/cãi vã ở Châu Mỹ La-tinh giữa phe Mácxít và tầm nhìn của Peron khi ấy. Phe này chủ -trương đặt ưu-tiên cho một nhóm người riêng biệt hoặc giai-cấp ở xã-hội. Trong khi đó, phe kia lại nhấn mạnh đến chuyện ưu-tiên cho người dân với tư-cách là chúng-dân, vượt ngoài mọi chống-chọi giữa các giai-cấp với nhau. Và phe nhóm này quả là rất mạnh ở Argentina. Vì thế nên, tầm nhìn của Đức Phanxicô về từ-bi coi như lòng hỷ xả đối với và ở trong cũng như từ toàn-thể dân Chúa. Tuy nhiên, phe theo Péron khi ấy lại cứ coi dân Chúa là dân tốt nhất được họ phục-vụ vì khi ấy họ tự coi mình như tập-đoàn quân-sự kiểm-soát có hại cho người nghèo….

Tại Thượng Hội Đồng Giám mục Rôma năm 2014, không vị nào đề-cập đến hôn-nhân đồng tính, mà chỉ nói về chuyện làm sao giúp các gia-đình có con trai hay con gái là người đồng tính, thôi. Đây là trạng-huống trước đây chưa từng xẩy ra, nhưng các giáo-sĩ ngồi toà cáo-giải lại hay gặp. Nhưng, vấn-đề là: làm sao đồng-hành cùng với những người như thế, mới là khó.

Không lúc nào lại thấy tín-lý/giáo-điều về hôn-nhân được sờ đến. Vấn đề thật ra lại là những gì ta có thể làm cho những người đã ly-dị rồi nay tái-giá cách sao đây? Ta mở rộng cánh cửa nào đây? Những người như thế đâu có bị vạ tuyệt thông đâu, nhưng trên thực-tế, theo giáo-luật hiện hành, thì họ không thể là vú/bõ đỡ đầu khi rửa tội, không thể đọc sách thánh ở nhà thờ, trao Mình Chúa hoặc giảng-dạy giáo-lý/sách phần, vv được. Nói cách khác, họ cũng là thứ người bị vạ tuyệt-thông không chính-thức mà thôi.

Cuối cùng thì, câu hỏi đặt ra cho ta là: làm sao mở rộng vòng tay nhiều hơn nữa theo nghĩa những hành-xử, luật-đạo và giá-trị được…?

Đó chính là vấn đề, của đổi thay, khác-biệt vào thời này.” (xem Lm Armand Veilleux, The Theology of Francis, Scourmont Website, 24/5 2015, hoặc Lm Kevin O;Shea CSsR, A Tale of Two Synods, about some ethics and politics of Human Love, Workshop at Australian Catholic University, Strathfield Sydney 22/8/2015).

Nói cho cùng, thì có khác-biệt thế nào đi nữa, cũng hãy sống mà xử sự với mọi người như bậc thánh-hiền khi xưa vẫn khuyên rằng:

“Anh em phải cố gắng sao cho Ngài thấy anh em tinh tuyền,

không chi đáng trách và sống bình an.

Và anh em hãy biết rằng

Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn

chính là để anh em được cứu độ,

như ông Phaolô,

người anh em thân mến của chúng ta,

đã viết cho anh em,

theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông.”

(2 Phêrô 3: 14-15)

Nói thêm điều nữa, để nói rằng: ơn “khôn ngoan” như bậc thánh-hiền nói ở trên, đâu phải chỉ mỗi đấng bậc ở chốn chóp bu mới có; mà cả các đấng/các cụ xưa nay thường bày tỏ, như một tỏ-bày của ai đó ở bên dưới, như sau:

Hãy sống là chính mình như một cây cổ thụ!!! Bởi, cuộc sống sẽ không còn ý nghĩa nếu chúng ta cứ luôn sợ hãi, cân nhắc đắn đo giữa sự cho với nhận và không dám mạo hiểm trước những gì cần mạo hiểm.

Ngày nọ, một cậu bé đứng tựa vào gốc cây to xù xì, thì thầm hỏi:

-Thần cây ơi! Thần cây hãy chỉ cho con cách nào làm ba mẹ vui lòng mà con vẫn được là chính con?

Thần cây đáp:

-Con hãy nhìn ta đây. Cả một đời ta phơi mình trong nắng gió, biết bao lần phải oằn người trong giông bão nhưng ta vẫn là ta, vẫn là thân cây tỏa bóng mát cho mọi người. Qua hôm sau, một người đàn ông tìm đến cây than thở:

– Cây ơi, tôi là một người đàn ông bất tài vô dụng. Bao năm trôi qua rồi mà tôi vẫn chỉ là một anh nhân viên quèn, không thăng tiến được. Tôi không thể lo cho vợ con mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi thật sự đã thất bại, tôi chán bản thân mình lắm rồi.

-Anh hay nhìn tôi mà xem, Cây lên tiếng chia sẻ: “Tôi chấp nhận tự thay đổi để thích nghi với mọi điều kiện. Vào mùa xuân, tôi khoác lên mình chiếc áo xanh tươi, đâm chồi nở hoa rực rỡ. Nhưng khi mùa đông lạnh giá kéo về thì tôi ủ rũ, xám xịt với những cành cây khẳng khiu. Đến hè, tôi lại vươn vai tỏa bóng mát sum suê. Và như anh thấy đấy, dù có thay đổi thế nào thì tôi vẫn là tôi, là gốc cây đứng bên vệ đường chứng kiến bao thăng trầm của cuộc sống.

Đến một ngày, có cô gái đau khổ vì tình yêu chạy tới ôm thân cây òa khóc nức nở:

-Cây ơi! Người yêu của tôi đã rời xa tôi rồi. Tôi cảm thấy mất mát thật nhiều và đau khổ lắm. Giờ đây, có lẽ tôi không thể yêu thương ai khác được nữa.

Cây nhìn cô gái đầy thương cảm, dịu dàng nói:

-Cô hãy ngước lên và nhìn tôi đi. Nào là chim chóc, sâu bọ, gõ kiến, nào là rong rêu, dây leo, cây tầm gửi bám đầy trên người tôi. Hằng ngày, chúng lấy đi của tôi biết bao nguồn nhựa sống. Nhiều khi, tôi tưởng như không còn sức chịu đựng thêm được nữa. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua đi. Tôi vẫn là tôi, hiên ngang cho đi và dám hy sinh những gì mình có.” (Trích truyện kể trên mạng vi-tính rất nhiều nhiều)

Và, lời bàn cuối của người kể về sự khác-biệt/khổ-sở, khó giảng-giải, lại như sau:

“Chúng ta cũng giống như cây kia vậy, phải luôn thay đổi sao cho có thể thích ứng với từng giai đoạn của cuộc sống. Hãy hướng đến những điều lớn lao nhưng cũng đừng nên quá tuyệt vọng khi sự việc diễn ra không như những gì bạn mong đợi. Hãy sống mỗi ngày theo cách trọn vẹn nhất của bạn. Hãy để lòng dịu lại và lắng nghe con tim mách bảo, dũng cảm đối diện với khó khăn, thách thức.”

Không cần biết người kể đây là con-trai hay con-gái, nhưng hãy biết rằng lời bàn của người kể bao giờ cũng hay, cũng tuyệt như bao giờ. Vì chỉ là lời bàn chân-chất chứ đâu có ai đòi người kể xác-minh lời bàn của mình bằng kinh-nghiệm bản thân đâu bao giờ chứ.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta lại sẽ hát lên lời ca ý nhạc trích ở trên, lần nữa rằng:

Em như giấc mơ đi qua đời ta,

rồi từng đêm gây nên bão tố.
Người về lòng còn nhớ

những phút đã qua,

đời làm mình lạc lối

giữa những xót xa.

Em như cánh chim

đi qua đời ta

rồi về vui với người xa lạ.”

(Nhật Huy – bđd)

Thế đó, là đôi ba tâm-tình nhân ngày buồn ở đâu đó, cũng khác hẳn “một-ngày-như-mọi-ngày” trong đời của tôi, của bạn, của mọi người. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những khác biệt

Khi kể lại cho nhau nghe

chuyện khác-biệt

trong chốn dân-gian, người phàm

rất hết biết.

Để cho hoa gió thì thào,

“Để cho hoa gió thì thào,

Để cho mây nước nôn-nao.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Khi xưa hoa gió vẫn thì thào, hôm nay mây nước đã còn nôn-nao, nhộn-nhạo ơn cứu độ, bằng nhiều cách.

Ơn cứu-độ nối-kết ta lại với nhau. Hội Thừa Sai Công Giáo hợp-tác với nhiều cộng-đồng ở khắp nơi trên thế giới, để làm công việc nối kết hợp tác ấy. Hiện nay, có đến 160 cộng-đồng quốc gia, kể cả Úc, đang cùng với Hội hoạt động trong lãnh vực này.

Sơ Barbara Tippolay đang hoạt động và chung sống với cộng đồng của sơ tại đảo nhỏ Tiwi, phiá Bắc Darwin. Sau nhiều năm phục vụ mọi người ở Papua New Guinea, sơ Barbara đến với anh chị em trong cộng đồng mà sơ chung sống, để chữa lành.

Từ thuở nhỏ, Sơ Barbara được nuôi dưỡng giáo dục với Hội Thừa Sai Garden Point ở Đảo Melville. Ở tuổi khôn lớn, Sơ đảm trách trông coi các em nhỏ tại hội Thừa Sai. Sau đó, Sơ sống và làm việc theo tư cách nhà giáo ở Papua New Guinea rất nhiều năm. Sơ được đề bạt trở thành Mẹ Bề Trên Tổng Quyền cho Dòng mình, các Nữ Tì của  Chúa.

Nay, Sơ Barbara hoạt động để thăng tiến các chị em phụ nữ sống ở Đảo Tiwi, Bắc Darwin. Sơ coi sóc Trung Tâm dành cho Phụ nữ và khuyến khích các phụ nữ trong vùng biết san sẻ tài năng sáng tạo Chúa ban cho mình.

Các chị em cùng làm việc với nhau cho dự án dệt sợi và sẻ san cho nhau các truyện kể về đời sống gia đình, về khổ đau và hy vọng. Các chị em phụ nữ đã mở lòng mình nói cho Sơ nghe biết chuyện dài sử-hạnh mà họ đều biết rằng cả Sơ nữa cũng nối-kết ràng-buộc với họ trong cơn đau buồn và đem đến cho họ niềm an vui, được chữa lành.

Sơ Barbara và các nữ tu cùng dòng thường trải rộng địa bàn tìm tài nguyên, vật liệu. Nhằm hỗ trợ cho công việc mình làm, các chị em phải gây quỹ bằng cách làm bánh bán cho người trong vùng. Đồng thời, ra ngoài thực-hiện công-cuộc thừa-sai, vẫn là một thử-thách. Cùng lúc đó, còn phải đối phó với các vấn đề thực tiễn như tự tử, là những việc thêm vào với sức người.

Khi được hỏi động lực nào gìn giữ các chị lại với nhau, Sơ barbara trả lời:

“Thì cũng vẫn là niềm tin nơi Chúa. Tất cả mọi chuyện, không có gì là dễ dãi hết. Một khi có đủ niềm tin nơi Chúa, ta cứ việc thực hiện công việc hàng ngày, chỉ biết thế. Và, rồi lời cầu của cộng đoàn sẽ tạo thêm cho ta sức mạnh, mà tiến bước.”

Chính ngang qua nguyện cầu và sự hỗ trợ của mọi người, các nữ tu vẫn ràng buộc với nhau. Và như thế, cũng đủ để các chị tiếp tục xúc tiến công tác được gửi gắm.

Các nữ tu vẫn làm công việc cố vấn, cùng chung nguyện cầu và hỗ trợ hết mọi người, ở trong vùng. Sơ barbara có nói:

“Chúng tôi không hiện diện nơi đây để làm việc thay cho mọi người, nhưng là hướng dẫn họ.”

Hội Thừa Sai Công Giáo cũng hỗ trợ Sơ Barbara và công việc của Sơ qua Quỹ Thừa Sai Quốc Nội của Úc. Khoảng chừng một phần ba số tiền mà Quỹ này quyên góp được ngang qua công tác từ thiện thực hiện với các cộng đoàn dân Chúa kể cả Quỹ Thừa Sai Quốc Nội nhằm giúp đỡ các vị thừa sai đang hoạt động tại các giáo phận ở vùng sâu vùng xa, như Darwin, Úc.

Nút bần làm nắp đóng chai rượu và công việc phụ chế rượu làm bằng tay, là những sản phẩm được bán ra là để gây quỹ giúp đỡ Hội Thừa Sai Công Giáo. Sao ta chỉ ngồi đó, mà vui hưởng nhâm nhi ba sợi với thịt ngon?

Sao không ra tay giúp đỡ Các Hội thừa Sai cùng lúc làm việc từ-thiện đồng thời vui hưởng hoa quả của trái đất? Nếu ai trong anh chị em muốn mua thưởng thức hoặc giúp đỡ Hội, xin liên lạc với WineAid hoặc tiếp xúc với cơ-quan từ thiện, để giúp đỡ hết mọi người.

Trong tinh-thần giùm giúp với đùm bọc, tưởng cũng nên ngâm lại lời thơ chan chứa, rằng:

“Để cho hoa gió thì thào,

Để cho mây nước nôn nao.

Quên câu thương njhớ rồi sao?

Em ơi thế nghĩa là sao?

Khi hương thơm kề lỗ miệng

Khi tình mới chạm vào nhau?

(Hàn Mặc Tử – Bắt chước)

Tình chạm nhau”, không chỉ vào khi “hương thơm kề lỗ miệng”.  Mà, cả vào lúc đôi ta hay mọi người đều chung vui trong giùm giúp lẫn đùm bọc trong tinh-thần yêu-thương rất cứu-độ gửi đến mỗi người và mọi người, chốn dân-gian, phàm trần đầy nhiệt huyết.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 8: 27-35)

Một hôm, Đức Giê-su và các môn đệ của Người đi tới các làng xã vùng Xêdarê Philípphê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ:

Người ta nói Thầy là ai?

Các ông đáp:

Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó.”

Người lại hỏi các ông:

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Ông Phêrô trả lời:

Thầy là Đấng Kitô.

Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.

Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại. Người nói rõ điều đó, không úp mở. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. Nhưng khi Đức Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô:

Xatan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng với các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”